1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

luận án tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề ở quận hoàn kiếm (truyền thống và biến đổi) (tt)

27 445 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 571,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu Luận án tập trung nghiên cứu tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề ở quận Hoàn Kiếm trong truyền thống và biến đổi hiện nay thông qua các cơ sở thờ cúng cộng đồng, các hộ gi

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại

Học viện Khoa học Xã hội

Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS Nguyễn Văn Minh

2 PGS.TS Nguyễn Thị Song Hà

Phản biện 1: GS.TS HOÀNG NAM

Phản biện 2: PGS.TS LÂM BÁ NAM

Phản biện 3: PGS.TS NGÔ VĂN DOANH

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện họp tại Học viện Khoa học Xã hội vào hồi …giờ … phút, ngày … tháng… năm…

Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:

- Thư viện Quốc Gia

- Thư viện Học viện Khoa học Xã hội

Trang 3

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ

1 Nguyễn Thị Thanh (2016), Thờ cúng tổ nghề (nghiên cứu trường

hợp quận Hoàn Kiếm, Hà Nội), Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 4

(154), 2016

2 Nguyễn Thị Thanh (2016), Tín ngưỡng tổ nghề trong đời sống

người Việt ở Hà Nội, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, số 385 (7/2016)

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Quận Hoàn Kiếm của Thủ đô Hà Nội là trung tâm văn hóa, kinh

tế, thương mại của kinh thành Thăng Long xưa Từ thời Lý-Trần khu vực này đã hình thành các phường chuyên làm nghề thủ công truyền thống Đến thời Lê, hình thành khu gọi là 36 phố phường Thợ thủ công vùng ven đô tụ hội về đây, lập lên những phố nghề chuyên sản xuất, bán các mặt hàng thủ công, hình thành những phố “Hàng” Để tri ân tổ nghề, các phường thợ xây dựng những ngôi đình thờ vọng các tổ nghề với mong muốn cho nghề ngày càng phát triển

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 Mục đích nghiên cứu

Luận án tập trung nghiên cứu tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề ở quận Hoàn Kiếm trong truyền thống và biến đổi hiện nay thông qua các cơ sở thờ cúng cộng đồng, các hộ gia đình làm nghề thủ công để làm rõ vai trò và ảnh hưởng của tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề trong đời sống của cư dân thành thị và những người làm nghề thủ công truyền thống nhằm cung cấp hệ thống tư liệu khoa học và luận cứ thực tiễn để tham khảo xây dựng và thực hiện chính sách bảo tồn, phát huy các giá trị của thờ cúng tổ nghề trong phát triển đô thị hiện nay ở quận Hoàn Kiểm nói riêng và ở nước ta nói chung

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Luận án tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn

về tổ nghề, tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề; khảo sát thực trạng các di tích thờ tổ nghề trong quận Hoàn Kiếm hiện nay, kết với những nguồn tư liệu lịch sử, bi ký…, góp phần phục dựng bức tranh thờ cúng tổ nghề xưa và nay

Trang 5

- Kết quả nghiên cứu của luận án là những cứ liệu quan trọng giúp các nhà quản lý văn hóa của thủ đô trong việc cân nhắc lợi ích giữa phát triển kinh tế với giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc, gợi mở cho những nghiên cứu tiếp theo trong phạm vi rộng

và bao quát hơn về loại hình tín ngưỡng này, đề xuất các biện pháp, giải pháp nhằm thực hiện chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa, lịch sử, nghệ thuật của tín ngưỡng thờ cúng các tổ nghề ở quận Hoàn Kiếm một cách hợp lý

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính của luận án là tín ngưỡng thờ cúng

tổ các nghề của người dân diễn ra trong các cơ sở thờ cúng cộng đồng (đình, đền, miếu…), tại hộ gia đình đang làm nghề thủ công hoặc buôn bán các mặt hàng thủ công trên địa bàn quận Hoàn Kiếm hiện nay

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Về không gian: tín ngưỡng thờ cúng các tổ nghề diễn ra tại những cơ sở thờ cúng chung và các hộ gia đình ở quận Hoàn Kiếm

Về thời gian: luận án xác định “truyền thống” là giai đoạn từ năm

1954 trở về trước và “biến đổi” là từ thời điểm đó đến hiện tại

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

Luận án được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hóa

và chính sách phát triển văn hóa, chính sách đối với tôn giáo và tín ngưỡng

Luận án sử dụng các pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên đa ngành, như: Tổng hợp và kế thừa các tài liệu đã có; phương pháp

Trang 6

điền dã dân tộc học (gồm các kỹ năng như: quan sát, quan sát tham

dự, phỏng vấn sâu,…); phương pháp thống kê và phân tích tổng hợp hợp kết hợp

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

Luận án cung cấp cho ngành Nhân học và các khoa học liên quan nguồn tư liệu mới; nhận diện về những đặc điểm của tín ngưỡng thờ cúng các tổ nghề ở quận Hoàn Kiếm trước năm 1954 và những biến đổi hiện nay Luận án cũng góp phần đánh giá mối quan hệ giữa đời sống kinh tế, chính trị và văn hóa liên quan đến hoạt động sản xuất của người Việt trước đây và biến đổi hiện nay

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Ý nghĩa lý luận: Luận án được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận

của một số lý thuyết của ngành nhân học, như: thuyết giao lưu và tiếp biến văn hóa, thuyết nghi lễ và chức năng của nghi lễ cùng với đó là những quan điểm của Đảng và Nhà nước ta cũng như của thủ đô Hà Nội về văn hóa và phát triển

Ý nghĩa thực tiễn: Luận án cung cấp những luận cứ khoa học góp

phần phục vụ công tác xây dựng và thực hiện chính sách nhằm bảo tồn và phát huy giá trị của tín ngưỡng thờ tổ nghề trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô Hà Nội hiện nay và đề xuất một

số khuyến nghị, giải pháp cho các năm tiếp theo

7 Cơ cấu của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận

Trang 7

Chương 3: Biến đổi của tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề từ năm 1954 đến nay

Chương 4: Vai trò, giá trị của tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề của người Việt ở quận Hoàn Kiếm, Hà Nội và một số vấn đề đặt ra

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ

SỞ LÝ THUYẾT VÀ KHÁI QUÁT VỀ QUẬN HOÀN KIẾM 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu của các học giả nước ngoài

Thăng Long – Hà Nội là trung tâm chính trị - kinh tế - văn hoá của cả nước trong hơn 1000 năm, vì vậy từ rất sớm, rất nhiều người nước ngoài đã đến đây làm ăn, buôn bán, họ có những ghi chép về

Thăng Long dưới nhiều góc độ khác nhau, tiêu biểu như: “Thăng

Long thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX qua tư liệu người nước ngoài” do

Chu Xuân Giao chủ biên (2010), “Một chuyến đi đến Đàng Ngoài

năm 1688” của William Dampier (2011), “Tổng tập văn hiến Thăng Long – Hà Nội” do Vũ Khiêu chủ biên (2010), trong đó, phần 28

(phần cuối cùng) có tiêu đề Thăng Long – Hà Nội qua con mắt người

nước ngoài, “Histoire de Hanoi” (Lịch sử Hà Nội) sang tiếng Việt

của Phillippe Papin…

1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu của các học giả trong nước 1.2.1 Những nghiên cứu về nghề thủ công truyền thống

Nghiên cứu về nghề thủ công ở nước ta mới chỉ xuất hiện trong vòng mấy chục năm nay Một số công trình tiêu biểu và có giá trị

như: “Truyện các ngành nghề” của nhóm tác giả Phong Châu - Nguyễn Quang Vinh – Nghiêm Đa Văn (1997); “Nghề đẹp quê

hương” của nhóm tác giả Trần Lê Văn - Ngọc Vũ…(1977); “Đường phố Hà Nội” của Nguyễn Vinh Phúc - Trần Huy Bá (1979); “Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam” của Bùi Văn Vượng (1998);

Trang 8

“Làng nghề, phố nghề Thăng Long – Hà Nội” của Trần Quốc Vượng

- Đỗ Thị Hảo (2010); “Di tích lịch sử văn hóa trong khu phố cổ và

xung quanh Hồ Hoàn Kiếm” của Ban Kỷ niệm quốc gia 1000 năm

Thăng Long kết hợp với Uỷ ban Nhân dân quận Hoàn Kiếm (2002);

“Tìm hiểu di sản văn hoá dân gian Hà Nội” của nhóm nghiên cứu Lê Văn Lan, Nguyễn Vinh Phúc, Đỗ Thị Hảo (2002); “Hà Nội như tôi

hiểu” của Trần Quốc Vượng (2005); Tổng tập văn hiến Thăng Long – Hà Nội do Vũ Khiêu (chủ biên – 2010) v.v…

1.2.2 Những nghiên cứu về tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề và biến đổi thờ cúng tổ nghề

Từ thập kỷ 90 của thế kỷ XX, một số công trình nghiên cứu về

tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề được công bố, như: “Lược truyện thần

tổ các ngành nghề” của Vũ Ngọc Khánh (1991); “Thăng Long – Hà Nội thế kỷ XVII- XVIII-XIX - một thành trị trung đại Việt Nam” của

Nguyễn Thừa Hỷ (1993); “Các vị tổ ngành nghề Việt Nam” của Lê Minh Quốc (1998); “Nghề thủ công truyền thống Việt Nam và các vị

tổ nghề” của Đỗ Thị Hảo (2000); “Các Thành hoàng và tín ngưỡng Thăng Long- Hà Nội”của Nguyễn Vinh Phúc – Nguyễn Duy Hinh

(2010); “Danh nhân Việt Nam, Các vị cụ tổ ngành nghề Việt Nam” của Thu Huyền – Ái Phương (2011); “Hà Nội phố phường xưa” của Hoàng Đạo (2010); “Tín ngưỡng trong sinh hoạt văn hóa dân gian”

của Hội văn nghệ dân gian Việt Nam và Ngô Đức Thịnh (2012) V.v…

Ngoài những công trình đã xuất bản trên, tại Thư viện Viện Thông tin khoa học xã hội và Ban quản lý di tích Hà Nội hiện còn lưu giữ một số thần tích, thần sắc và hồ sơ tư liệu từ năm 1984 khi đánh giá thực trạng về các di tích thờ cúng tổ nghề ở quận Hoàn

Trang 9

Kiếm Đây là những tư liệu bổ trợ hữu ích cho tác giả hoàn thành luận án của mình

1.3 Cơ sở lý thuyết

- Luận án sử dụng một số khái niệm cơ bản, như: khái niệm “Tín ngưỡng”, khái niệm “tổ nghề”, “tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề”, khái niệm “truyền thống”, “biến đổi”, khái niệm “khu phố cổ Hà Nội”

- Luận án dử dụng các lý thuyết chuyên ngành dân tộc học, đó là: Lý thuyết giao lưu tiếp biến văn hóa (Acculturation), Thuyết chức năng cùng các quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về văn hóa và phát triển văn hóa.v.v…

1.4 Khái quát về quận Hoàn Kiếm

Quận Hoàn Kiếm hiện nay là một trong 12 quận nội thành của

thành phố Hà Nội, diện tích 5,287km2 gồm 18 phường với số dân 204.100 người1

Ngay từ thời Lý – Trần, khu vực phố cổ Hà Nội (tức quận Hoàn Kiếm hiện nay) đã là nơi phố xá sầm uất, tập trung nhiều nghề thủ công nổi tiếng Từ thế kỷ XV, chia làm 36 phường, hình thành các phường chuyên nghề và chuyên mặt hàng Từ thế kỷ XVII-XVIII và nửa đầu thế kỷ XIX, đã có hàng hoạt các cuộc di cư lớn của những thợ thủ công từ các vùng lân cận về đây thành các làng và lập nên các làng nghề/phố nghề Điểm nổi bật về văn hóa của Hoàn Kiếm là khu phố cổ Hà Nội, đó chính là những công trình kiến trúc nhà ở hình ống mang đặc trưng của quần thể kiến trúc đô thị, vừa sản xuất hàng hóa, vừa là nơi ở, sinh hoạt của dân Tưởng nhớ đến các tổ nghề, mỗi phường nghề đã mua đất xây dựng những ngôi đình, đền, miếu để thờ vọng tổ nghề của làng mình, như: đình Hoa Lộc Thị của dân làng

1 Theo số liệu thống kê của Ủy ban nhân dân quận Hoàn Kiếm, ngày 31/12/2015

Trang 10

Đan Loan thờ tổ nghề nhuộm, đình Kim Ngân và đình Trương Thị của dân Châu Khê thờ tổ nghề kim hoàn, đình Trúc Lâm và đình Hài Tượng của dân làng Chắm thờ tổ nghề giày da, đình Tú Thị của dân làng Quất Động thờ tổ nghề thêu,…

Tiểu kết chương 1

Luận án dựa trên một số khái niệm cơ bản là: tín ngưỡng, tổ nghề, tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề, truyền thống, biến đổi; áp dụng một số luận

điểm của lý thuyết Giao lưu tiếp biến văn hóa, Thuyết chức năng của nghi

lễ và các phương pháp chủ đạo là điền dã dân tộc học với các công cụ

quan sát tham dự, phỏng vấn sâu các nghi thức tế lễ ở các di tích tích tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề và tại gia đình

Hoàn Kiếm là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của Thăng Long – Hà Nội suốt hơn nghìn năm Với vị thế tự nhiên thuận lợi, ngay từ thời Lý-Trần, Hoàn Kiếm đã có những phường nghề chuyên làm nghề thủ công cung cấp hàng hóa phục vụ cho triều đình Các thế

kỷ tiếp theo, các cuộc di dân lớn vào Thăng Long mang theo các nghề thủ công truyền thống và lập lên những phố nghề Sau này, mỗi phường nghề mua đất dựng cơ sở thờ cúng chung và rước long ngai, bài vị từ quê cũ ra Thăng Long để thờ vọng tổ nghề cầu mong cho công việc sản xuất, làm ăn được phát đạt, hanh thông

Chương 2: TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG TỔ NGHỀ TRƯỚC

NĂM 1954 2.1 Thờ cúng tổ nghề kim hoàn

Hiện chưa rõ nghề kim hoàn xuất hiện từ bao giờ, nhưng qua các làng truyền thống làm nghề này được sử sách ghi chép lại như: làng Châu Khê (Hải Dương), làng Đồng Xâm (Thái Bình), làng Kiêu Kỵ, làng Định Công (Hà Nội) thì nghề kim hoàn ở nước ta ra đời cách

Trang 11

ngày nay khoảng trên dưới 500 năm Từ xưa, mỗi địa phương làm nghề kim hoàn lại suy tôn một vị tổ nghề riêng, như: làng Định Công, Thanh Trì, Hà Nội suy tôn tổ nghề là 3 anh em Trần Hòa, Trần Điện, Trần Điền; làng Châu Khê lại thờ ông Lưu Xuân; làng Đồng Xâm, Thái Bình thờ Nguyễn Kim Lâu; vùng đất Thuận Quảng thờ Cao

Đình Độ; thợ kim hoàn thành phố Hồ Chí Minh thờ bà Lệ Châu;

Khi đến phố Hàng Bạc, quận Hoàn Kiếm làm nghề, vì mỗi nơi thờ một vị tổ nghề riêng là người Việt Nam, nên để thích ứng với sinh hoạt mới, những người thợ kim hoàn phố Hàng Bạc đã quyết định thờ vị tổ nghề mới là Hoàng đế Hiên Viên – ông tổ bách nghề theo huyền thoại cổ Trung Hoa

* Cơ sở thờ cúng: Khi lên Thăng Long lập nghiệp, dân làng Châu Khê đã xây dựng hai ngôi đình Kim Ngân và Trương Thị để thờ tổ nghề

và cầu mong cho nghề ngày càng phát triển

- Đình Kim Ngân (tên nôm là đình Dưới): được xây dựng vào khoảng

trước đời Cảnh Thịnh thứ 2 (1794), sau này được sửa chữa vào năm Gia Long thứ 15 (1816), Minh Mệnh thứ 10 (1829), Tự Đức thứ 30 (1887), Thành Thái Nhâm Dần (1902), Duy Tân thứ 2 (1908), Khải Định thứ 8 (1923) và năm 1951 Ngôi đình tọa lạc ngay mặt phố Hàng Bạc, gồm các công trình: nghi môn, sân, tiền tế, ống muống và hậu cung Trong đình, trên các gian đều có treo những bức cửa võng, hoành phi, câu đối và các

đồ thờ tự

* Đình Trương Thị (tên Nôm là đình Trên): cũng do dân Châu Khê

mua đất xây dựng lên, nhưng trước đình Kim Ngân khoảng 2 năm Đến năm Gia Long thứ 15 (1816) được trùng tu lại, gồm: cổng vào và khu kiến trúc chính được kết cấu 3 tòa: đại bái, ống muống, hậu cung Trong đình chạm khắc nhiều đề tài hoa văn truyền thống

Trang 12

Từ xưa, người dân phố Hàng Bạc có hai kì lễ chính là vào mùa xuân

từ ngày mùng 1 đến ngày 12 tháng 2 và mùa thu từ ngày mùng 1 đến ngày

12 tháng 8 Sau này số ngày tế lễ được rút ngắn lại, mùa xuân từ ngày mùng 1 đến ngày mùng 5 tháng 2 và mùa thu từ ngày mùng 1 đến mùng 5 tháng 8 Lễ vật dâng cúng gồm: lợn, xôi, trầu cau và rượu Đặc biệt, xưa kia, ngoài các đồ cúng lễ trên, phải có thoi bạc đặt lên ban thờ biểu hiện đặc trưng của mỗi nghề Những người tham dự gồm tất cả bà con trong phố Hàng Bạc và đại diện dân làng Châu Khê được mời lên dự Ngoài hai kỳ lễ chính trong năm, vào những ngày rằm, mùng 1 hàng tháng, thay mặt cho phường nghề, cai trưởng sắm sanh lễ vật làm lễ tổ nghề mong Ngài phù hộ cho công việc làm ăn của thợ kim hoàn được may mắn

2.2 Thờ cúng tổ nghề nhuộm

Tương truyền, nghề nhuộm ở nước ta được hình thành rất sớm từ vùng quê Đan Loan, Hải Dương Khoảng vào thời Lê, những thợ nhuộm ở Đan Loan di cư ra phố Hàng Đào làm nghề nhuộm, họ xây dựng ngôi đình Hoa Lộc thị tại 90A phố Hàng Đào để thờ vọng tổ nghề nhuộm là Triệu Xương Hàng năm, tại đình Hoa Lộc thị tổ chức 2

kỳ tế lễ “xuân thu nhị kỳ” (tính theo âm lịch) Lễ tế xuân vào dịp tháng giêng, tháng 2; lễ tế thu vào tháng 8, tháng 9 Ngoài hai kỳ lễ trên, trong năm còn có lễ Thượng điền, lễ Hạ điền và lễ vào ngày 30 tết và các ngày tuần tiết, sóc vọng (ngày rằm, mùng 1 hàng tháng) Lễ vật cho hai kỳ lễ này gồm thịt lợn, thịt trâu hoặc bò, xôi trắng, trầu cau, rượu, mũ áo, tiền vàng, trà nước, hoa quả Những người muốn tham giả phải đóng góp tiền mới được vào tế lễ Ngoài hai kỳ lễ chính, vào những ngày rằm, mùng 1 hàng tháng, người đăng cai phải chuẩn bị lễ vật

và thay mặt phường nghề làm lễ cúng tổ nghề tại đình chung để

Trang 13

cầu mong tổ nghề phù hộ cho công việc sản xuất, kinh doanh của phường nghề phát đạt, thuận lợi

2.3 Tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề thêu

Cho đến nay không ai biết được nghề thêu ở nước ta hình thành

từ bao giờ Tương truyền rằng, đầu thế kỷ XVII, Lê Công Hành đã cải tiến nghề thêu tay lên một bước mới Và cũng từ đó, ông được suy tôn làm tổ nghề thêu lọng của Việt Nam Thế kỷ XIX, những người dân Quất Động di cư ra phố Yên Thái, quận Hoàn Kiếm lập nghiệp, họ xây dựng ngôi đình Tú Thị ở số 2A, phố Yên Thái để thờ vọng tổ nghề thêu là Lê Công Hành Đình được làm kiểu chữ “nhị” gồm 3 gian tiền tế, 3 gian hậu cung, tất cả đều làm bằng gỗ Bên trong treo nhiều câu đối, hoành phi, ngai, lọng đều làm bằng đồ thêu mang đặc trưng của phường nghề

Xưa kia, phường thợ thêu tổ chức cúng 3 kỳ lễ trong một năm, đó

là lễ tế xuân thu nhị kỳ (ngày mùng 6, 7 tháng 2, mùng 6, 7 tháng 8),

lễ giỗ tổ ngày mùng 3-4 tháng 6 Lễ vật dâng cúng cho 3 kỳ lễ này là:

“hôm trước dùng lễ tam sinh, hôm sau dùng lễ nguyên sinh, có xôi và

thanh bông, hoa quả, vàng hương, trầu cau, rượu” Riêng lễ giỗ tổ các lễ

vật phải hoàn toàn làm bằng đồ thêu để tỏ lòng cung kính lên tổ nghề Ngoài những kỳ lễ chính, vào các ngày tuần rằm, mùng 1 hàng tháng, người đăng cai thay mặt phường nghề sắm lễ dâng cúng Các gia đình trong phố cũng có lễ dâng ngài nhăm cầu mong làm ăn may mắn trong một năm

2.4 Tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề giày da

Nghề giày da ở nước ta hình thành cách đây khoảng trên 500 năm, ở Tam Lâm (Phong Lâm, Văn Lâm và Trúc Lâm, tục gọi là làng Chắm (Trắm), thuộc tổng Phan Xá, huyện Tứ Kỳ,tỉnh Hải Dương đã rất phát đạt

Tổ nghề giày da nước ta được suy tôn là tiến sĩ Nguyễn Thời Trung, do

Ngày đăng: 05/05/2017, 17:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w