Cùng với những di tích lịch sử - văn hóa nói trên, còn có một hệ thống văn bia, thần tích, sắc phong, câu đối, tư liệu lịch sử và dân gian… ghi chép về thân thế, sự nghiệp, công trạng củ
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ THANH
TỔ NGHỀ Ở QUẬN HOÀN KIẾM (TRUYỀN THỐNG VÀ BIẾN ĐỔI)
Chuyên ngành: Nhân học
Mã số : 62 31 03 02 LUẬN ÁN TIẾN SĨ NHÂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1 PGS.TS Nguyễn Văn Minh
2 PGS.TS Nguyễn Thị Song Hà
Hà Nội, 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả, số liệu trong luận án là kết quả điều tra thực địa và thu thập tư liệu của tác giả luận án
Nghiên cứu sinh
Nguyễn Thị Thanh
Trang 3- Gia đình, bạn bè đồng nghiệp đã chia sẻ, khích lệ tôi trong thời gian thực hiện luận án;
- Tập thể giáo viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Văn Minh, PGS.TS Nguyễn Thị Song Hà đã tư vấn, định hướng khoa học, đóng góp trực tiếp vào các nội dung nghiên cứu để tôi hoàn thành luận án này
Xin trận trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 05 tháng 5 năm 2017
Nghiên cứu sinh
Nguyễn Thị Thanh
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ……… 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KHÁI QUÁT VỀ QUẬN HOÀN KIẾM, HÀ NỘI ……… 10
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu của các học giả nước ngoài……… 10
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước……… … 14
1.3 Cơ sở lý thuyết ……… … 27
1.4 Khái quát về quận Hoàn Kiếm, Hà Nội ……… 37
Tiểu kết chương 1……….….… 43
Chương 2: TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG TỔ NGHỀ TRƯỚC NĂM 1954 ………… 45
2.1 Thờ cúng tổ nghề kim hoàn ……… 45
2.2 Thờ cúng tổ nghề nhuộm ……… 55
2.3 Tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề thêu ……… 60
2.4 Tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề giày da ……… 66
2.5 Tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề sơn ……… 70
2.6 Tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề làm quạt ……… 75
2.7 Tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề rèn ……….… 78
2.8 Tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề tiện ……… 82
2.9 Tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề cổ yếm ……… 85
Tiểu kết chương 2 ……… 89
Chương 3: BIẾN ĐỔI TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG TỔ NGHỀ TỪ NĂM 1954 ĐẾN NAY ……….…
91 3.1 Biến đổi và xu hướng biến đổi của tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề ………… 91
3.2 Nguyên nhân của sự biến đối……… ………… 114
Tiểu kết chương 3 ……… 116
Chương 4 VAI TRÒ, GIÁ TRỊ CỦA TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG TỔ NGHỀ CỦA NGƯỜI VIỆT Ở QUẬN HOÀN KIẾM, HÀ NỘI VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA ……… 119
4.1 Vai trò của tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề trong đời sống người Việt ở Quận Hoàn Kiếm xưa và nay ……… 119
4.2 Giá trị về lịch sử, văn hóa, nghệ thuật dân tộc ……… ……… 130
4.3 Một số vấn đề đặt ra cần quan tâm nghiên cứu, giải quyết……… 132
4.4 Một số khuyến nghị và giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị của tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề trong bối cảnh hiện nay ……… 136
Tiểu kết chương 4 ……… 144
KẾT LUẬN 146
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……….…… 149
PHỤ LỤC ……… 157
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
NCS: Nghiên cứu sinh Nxb: Nhà xuất bản PGS: Phó giáo sư PVS: Phỏng vấn sâu TS: Tiến sĩ
UBND: Ủy ban nhân dân
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề của người Việt xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử Đây là một trong những truyền thống tốt đẹp thể hiện lòng tri ân, biết ơn các vị sáng lập, mở mang tri thức ngành nghề và chăm lo đời sống cho con người, cộng đồng Thờ cúng tổ nghề có nhiều hình thức và mức độ khác nhau, như: lập bàn thờ tại gia đình, nhưng phổ biến hơn cả vẫn là các phường nghề, làng nghề lập đình, miếu, đền
để thờ các vị tổ nghề của phường, làng mình, trong đó nhiều vị tổ nghề còn được tôn làm Thành hoàng làng
Thờ cúng tổ nghề ở nước ta xuất phát từ nguyện vọng của nhân dân làm nghề muốn biểu dương, ca ngợi những thành quả lao động Đồng thời cũng là biểu hiện cao đẹp của truyền thống “tôn sư trọng đạo”, “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ người trồng cây” để ghi nhớ công ơn của những người tiên phong, sáng lập ra ngành nghề, đem lại lợi ích cho con người, cộng đồng
Quận Hoàn Kiếm của Thủ đô Hà Nội là trung tâm kinh tế, thương mại của kinh thành Thăng Long xưa, khu đô thị tập trung dân cư hoạt động tiểu thủ công nghiệp và buôn bán giao thương nhộn nhịp, hình thành những phố nghề đặc trưng, mang nét truyền thống riêng biệt của cư dân thành thị, kinh kỳ [50] Từ thời Lý – Trần, khu Phố Cổ đã trở thành nơi phố sá tấp nập, đông vui với các phường làm nghề thủ công truyền thống Trải qua các thế kỷ XVI-XVII-XVIII, hình thành những phố nghề mang tính chuyên biệt Đặc biệt, từ thế kỷ XIX, khi nhà Nguyễn rời kinh đô vào Huế, thì Thăng Long – Hà Nội trở thành nơi đô hội của bốn phương với nhiều đợt di cư của thợ thủ công từ các vùng lân cận về đây, quần tụ thành những làng và lập nên các làng nghề/phố nghề chuyên sản xuất, buôn bán và cố kết thành những phường hội theo nghề Để tưởng nhớ những người đã truyền dạy nghề, các gia đình làm nghề họp bàn tổ chức mua đất, xây dựng những ngôi đình, đền riêng thờ vọng tổ nghề của mình và đặt ra các điều lệ qui định chặt chẽ về sự cố kết
Trang 7cộng đồng trong việc duy trì các cơ sở thờ tự, thực hành những nghi thức thờ cúng chung đảm bảo cho nghề phát triển
Trong quá trình phát triển của lịch sử, đến nay trong khu vực quận Hoàn Kiếm,
Hà Nội vẫn còn lưu giữ được những di tích và hoạt động tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề, như: đình Tú Thị thờ tổ nghề thêu, đình Hoa Lộc thờ tổ nghề Nhuộm, đình Kim Ngân và đình Trương Thị thờ tổ nghề Kim Hoàn, đình Trúc Lâm và đình Hài Tượng thờ tổ nghề giày da, đình Hà Vĩ thờ tổ nghề Sơn, đình Hàng Quạt thờ tổ nghề làm quạt, đình Lò Rèn thờ tổ nghề rèn sắt, đình Nhị Khê thờ tổ nghề tiện, đình Đồng Lạc thờ tổ nghể cổ yếm, Cùng với những di tích lịch sử - văn hóa nói trên, còn có một hệ thống văn bia, thần tích, sắc phong, câu đối, tư liệu lịch sử và dân gian… ghi chép về thân thế, sự nghiệp, công trạng của tổ nghề, các tục lệ, ngày tuần tiết, sóc vọng, các nghi lễ thờ cúng liên quan đến tổ nghề, qua đó phản ánh quá trình phát triển của nghề nói riêng và đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa của một bộ phận người dân Thăng Long qua các thời kỳ lịch sử
Theo thời gian, do nhiều yếu tố tác động, tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề ở quận Hoàn Kiếm đã có nhiều biến đổi, phản ánh sự phát triển của lịch sử và sự đổi thay
về kinh tế - xã hội trong truyền thống và hiện đại Do đó, nghiên cứu vấn đề này, góp phần hiểu biết sâu sắc hơn về đời sống kinh tế - xã hội của người Việt xưa và nay, nhất là về văn hóa tâm linh và những vấn đề quan hệ kinh tế, xã hội, môi trường tự nhiên trong lao động sản xuất
Từ những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề ở quận
Hoàn Kiếm (truyền thống và biến đổi)” để làm luận án tiến sĩ ngành Nhân học
Mục tiêu chính là để tìm hiểu một cách tương đối toàn diện, có hệ thống và chuyên sâu về tín ngưỡng thờ cúng liên quan đến nghề nghiệp của cư dân người Việt ở quận Hoàn Kiếm - trung tâm Thăng Long xưa và Hà Nội hiện nay
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề ở quận Hoàn Kiếm trong truyền thống và biến đổi hiện nay Trên cơ sở khảo cứu tín ngưỡng thờ cúng
Trang 8tổ nghề thông qua các cơ sở thờ cúng cộng đồng, ở các hộ gia đình làm nghề thủ công, các hộ kinh doanh sản phẩm thủ công tại các phố nghề trước đây và hiện nay
để làm rõ vai trò và ảnh hưởng của nó trong đời sống cư dân thành thị nói chung, thợ thủ công làm nghề và buôn bán các sản phẩm của nghề nói riêng để thấy được
sự tác động của tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề đối với đời sống tâm linh người Việt trong xã hội truyền thống và những biến đổi của nó trong giai đoạn hiện nay Luận
án cung cấp hệ thống tư liệu khoa học và luận cứ thực tiễn để tham khảo xây dựng
và thực hiện chính sách bảo tồn, phát huy các giá trị của thờ cúng tổ nghề trong phát triển đô thị hiện nay ở quận Hoàn Kiểm nói riêng và ở nước ta nói chung
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận án quan tâm tìm hiểu quá trình hình thành và phát triển của tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề ở quận Hoàn Kiếm từ trước đến nay, trong đó: Tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn về tổ nghề, tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề, nhất
là nguồn gốc của loại hình tín ngưỡng này trong đời sống văn hóa tâm linh của những người thợ thủ công và hộ buôn bán các sản phẩm thủ công; khảo sát thực trạng các di tích thờ tổ nghề trong quận Hoàn Kiếm hiện nay, kết hợp nghiên cứu thực tế với những nguồn tư liệu lịch sử, bi ký, truyền thuyết dân gian, hồi cố lịch sử qua các thông tín viên Qua đó góp phần phục dựng bức tranh thờ cúng tổ nghề xưa
và nay, giúp các nhà hoạch định chính sách xây dựng những chương trình, mục tiêu
cụ thể trong việc bảo tồn và phát huy giá trị của tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề trong mối đa dạng của tín ngưỡng Thăng Long – Hà Nội, bảo tồn và phát huy những di tích thờ cúng tổ nghề nhằm việc giáo dục đạo lý truyền thống “uống nước nhớ nguồn” cho các thế hệ, xây dựng đời sống văn hóa tinh thần lành mạnh, giữ gìn bản sắc dân tộc, kế thừa và phát huy tinh hoa văn hóa có chọn lọc, đáp ứng nhiệm vụ mới trong giai đoạn hiện nay nhằm xây dựng một thủ đô văn minh, thanh lịch, giàu bản sắc văn hóa, lịch sử
Kết quả nghiên cứu của luận án là những cứ liệu quan trọng giúp các nhà quản
lý văn hóa của thủ đô có cái nhìn toàn diện trong việc cân nhắc lợi ích giữa phát triển kinh tế với giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc và gợi mở cho
Trang 9những nghiên cứu tiếp theo trong phạm vi rộng và bao quát hơn về loại hình tín ngưỡng này Qua đó góp phần xây dựng những chính sách phát triển văn hóa phù hợp với đặc điểm tình hình đô thị, đề xuất các biện pháp, giải pháp nhằm thực hiện chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa, lịch sử, nghệ thuật của tín ngưỡng thờ cúng các tổ nghề ở quận Hoàn Kiếm phù hợp với đặc điểm kinh tế - xã hội hiện nay của quận Hoàn Kiếm nói riêng và Thủ đô Hà Nội nói chung
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của luận án là tín ngưỡng thờ cúng tổ các nghề của người dân diễn ra trong các cơ sở thờ cúng cộng đồng (đình, đền, miếu…), tại
hộ gia đình đang làm nghề thủ công hoặc buôn bán các mặt hàng thủ công trên địa bàn quận Hoàn Kiếm hiện nay Trong đó, chú ý đến các quan niệm và thực hành thờ cúng của người dân ở các di tích hay gia đình, cửa hàng kinh doanh trước đây và hiện nay
3.2 Phạm vi nghiên cứu
3.2.1 Giới hạn về không gian: Phạm vi nghiên cứu của đề tài là tín ngưỡng
thờ cúng các tổ nghề diễn ra tại những di tích lịch sử - văn hóa, các hộ gia đình, cửa hàng kinh doanh ở quận Hoàn Kiếm Đây là địa bàn tập trung nhiều ngành nghề từ những vùng xung quanh tụ cư về Thăng Long lập nghiệp, làm ăn và lập ra từng phường hội chung một nghề cũng như những đình, đền, miếu được mỗi phường nghề xây dựng rồi rước bài vị từ quê nhà ra Thăng Long để thờ vọng các vị tổ sư
3.2.2 Giới hạn về thời gian: Nghiên cứu tín ngưỡng thờ tổ nghề thông qua các
tư liệu lịch sử, văn hóa dân gian, các công trình nghiên cứu của học giả trong và ngoài nước, các báo cáo khoa học,… Đặc biệt là qua những di tích và văn bia hiện đang tồn tại trong các di tích thờ tổ nghề, thực trạng hoạt động đang diễn ra hiện nay ở các di tích đó và trong gia đình những người làm nghề Do vậy, luận án xác định “truyền thống” là giai đoạn từ năm 1954 trở về trước và “biến đổi” là từ thời điểm đó đến hiện tại Sở dĩ như vậy là vì, những di tích thờ cúng tổ nghề ở quận Hoàn Kiếm thường có lịch sử xây dựng, tồn tại khá lâu đời gắn liền với quá trình di cư ở các
Trang 10thế kỷ XVI – XVII –XVIII - XIX Loại hình tín ngưỡng này ra đời gắn liền đời sống tâm linh của tầng lớp thợ thủ công từ nông thôn ra thành phố lập nghiệp, hành nghề Hơn nữa, hiện tại trong các di tích thờ tổ nghề còn lưu giữ được nhiều tư liệu liên quan đến việc thờ cúng tổ nghề: đó là bi ký, hoành phi, câu đối, ngai thờ, bài vị, văn tế, văn khấn, các biểu tượng thờ cúng và hoạt động tín ngưỡng qua những ngày tuần tiết, sóc vọng, kỵ nhật có từ năm 1954 trở về trước Từ năm 1954 đến nay, khi các nghề thủ công mai một dần, nhất là trong cơ chế thị trường hiện nay thì nhu cầu văn hóa tâm linh của bộ phận thợ thủ công cũng có sự thay đổi, cộng thêm vào đó là sự khó khăn
về chỗ ở, một số di tích thờ cúng tổ nghề đã bị lấn chiếm để làm nơi sinh hoạt Do
đó, sự tồn tại của một số tổ nghề chỉ còn trong tâm thức dân gian, trong các tài liệu lịch sử địa phương, tản mạn trong các công trình nghiên cứu của các học giả trong
và ngoài nước Nhưng phần lớn các di tích vẫn tồn tại, không chỉ là nơi tưởng nhớ
vị tổ nghề của một nghề/một làng nào đó mà đã trở thành những địa chỉ sinh hoạt văn hóa chung của cộng đồng dân cư
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Phương pháp luận
Luận án được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hóa và chính sách phát triển văn hóa, chính sách đối với tôn giáo và tín ngưỡng Đặc biệt, luận án bám sát đến các quan điểm biện chứng, khách quan, toàn diện, lịch sử cụ thể để triển khai các ý tưởng nghiên cứu
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận án này, chúng tôi xác định sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
4.2.1 Tổng hợp và kế thừa các tài liệu đã có
Phương pháp này bao gồm việc đọc và xử lý các nguồn tài liệu về địa bàn và
đối tượng nghiên cứu, đó là các sách chuyên khảo, bài tạp chí, luận án, luận văn, các báo cáo chuyên đề tại những hội nghị, hội thảo khoa học; báo cáo tư liệu và các
Trang 11nguồn tư liệu lịch sử như: bia ký, thần tích, thần phả, sắc phong…; và báo cáo kết quả của các chương trình, đề án, dự án do các cơ quan trung ương và địa phương thực hiện và thu thập và xử lý các số liệu thống kê, thông tin thứ cấp từ những nguồn khác nhau Đối với mỗi nghề, NCS đã xử lý các nguồn tư liệu viết về tổ nghề
để chắt lọc thông tin từ các công trình nghiên cứu của các học giả viết về nghề thủ công, các vị tổ nghề, các hội thảo, bi ký, thần tích, gia phả, các báo cáo tư liệu của
cơ quan chuyên môn (Sở văn hóa Thể thao và Du lịch Hà Nội) để làm rõ những vấn
đề đặt ra Đồng thời đánh giá vai trò của thờ cúng tổ nghề trong đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa tinh thần của các phường nghề thủ công quận Hoàn Kiếm trước năm
1954 thông qua các trích dẫn từ những bi ký, điều lệ, thần tích thần sắc…
4.2.2 Tiến hành điền dã dân tộc học tại các điểm nghiên cứu được lựa chọn
để thu thập tư liệu
Luận án tập trung khảo sát tại 9 di tích thờ cúng tổ nghề ở quận Hoàn Kiếm,
đó là đình Hoa Lộc Thị, đình Đồng Lạc (phường Hàng Đào), đình Kim Ngân, đình Trương Thị (phường Hàng Bạc), đình Trúc Lâm, đình Nhị Khê (phường Hàng Trống), đình Hà Vĩ, đình Tú Thị, đình Hàng Quạt (phường Hàng Gai), đình Lò Rèn (phường Hàng Bồ) và những phố nghề (Phố Hàng Đào, phố Hàng Bạc, Phố Hàng Hòm, phố Hàng Quạt, phố Yên Thái, phố Tô Tịch, phố Lò Rèn) và những hộ gia đình làm nghề thủ công có liên quan đến tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề Tại thực địa NCS sử dụng các phương pháp chính của Dân tộc học/Nhân học là: quan sát và quan sát tham dự, phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm với đại diện của người dân, những hộ kinh doanh và các cơ sở thờ cúng tổ nghề Trong 3 năm (2013- 2016), NCS đã tiến hành điền dã 16 cuộc điền dã và tham dự vào các kỳ lễ chính của mỗi
di tích (tháng 2, tháng 8 âm lịch – lễ tế xuân thu nhị kỳ), 17 cuộc phỏng vấn sâu các thành viên trong ban quản di các di tích thờ tổ nghề, các hộ gia đình đang làm nghề thủ công cùng một số đại điện của chính quyền sở tại để tìm hiểu về nguyện vọng của họ đối với việc duy trì, phát huy giá trị của tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề Ngoài
ra, NCS còn tham dự nghi lễ vào các ngày rằm, mùng 1 hàng tháng để quan sát cách thức người dân thực hành nghi lễ cầu cúng Đây là phương pháp chuyên ngành chủ
yếu được áp dụng trong quá trình điền dã dân tộc học, nhằm thu thập được những
Trang 12thông tin đầy đủ, đa chiều, có giá trị và mang tính chân thực Các phương pháp này được NCS vận dụng vào luận án thể thấy được sự biến đổi của tín ngưỡng thờ cúng
tổ nghề từ sau năm 1954 đến nay, cụ thể như sau:
- Quan sát: Mục đích nhằm hình dung được cảnh quan, điều kiện tự nhiên, đặc
điểm cư trú, hệ thống sản xuất, buôn bán, lối sống sinh hoạt nhằm thu thập những thông tin ban đầu về đối tượng nghiên cứu để xác định chính xác hơn các mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu, đồng thời bao quát được các nội dung nghiên cứu cơ bản, trên
cơ sở đó góp phần nhận biết và chọn lọc các thông tin khác nhau trong quá trình nghiên cứu thực địa
- Quan sát tham dự: Với mục đích trải nghiệm bối cảnh nghiên cứu thông qua
các kinh nghiệm trực tiếp của cá nhân tại thực địa như quan sát tham dự những ngày tuần tiết, sóc vọng, tế lễ xuân thu nhị kỳ trong năm của các di tích thờ cúng tổ nghề; quan sát tham dự vào các hoạt động của cộng đồng cư dân làm nghề thủ công thông qua các ngày giỗ tổ, lễ trình nghề, các ngày rằm mùng một hàng tháng, Thông qua phương pháp này có thể chứng kiến được cách thực hành nghi lễ thờ cúng diễn ra một cách chân thực nhất, đồng thời thiết lập được mối quan hệ thân thiết với cộng đồng và đối tượng nghiên cứu giúp cho việc thu thập những thông tin cần thiết liên quan đến hoạt động thờ cúng các tổ nghề cụ thể
- Phỏng vấn sâu: Là kỹ năng quan trọng được sử dụng để thu thập các thông
tin cơ bản nhất Với đối tượng nghiên cứu là những hình thức thờ cúng tổ nghề cụ thể, đề tài lựa chọn các đối tượng phỏng vấn sâu gồm đại diện các lứa tuổi, giới tính, người có uy tín trong cộng đồng (thủ từ, thủ nhang, thủ đền, người cao tuổi), thợ thủ công của các nghề, các hộ buôn bán và kinh doanh của từng nghề, cán bộ văn hoá phường, quận, Nội dung các cuộc phỏng vấn sâu này được chuẩn bị sẵn bằng một bộ câu hỏi mở phù hợp với nội dung và đối tượng nghiên cứu của đề tài Phương pháp này được áp dụng để làm rõ sự biến đổi và xây dựng những khuyến nghị, giải pháp trước mắt và lâu dài để bảo tồn và phát huy giá trị của tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề trong bối cảnh hiện nay
4.2.3 Phương pháp thống kê và phân tích tổng hợp
Trên cơ sở thống kê các di tích và nguồn tài liệu, luận án tiến hành phân tích tổng hợp kết hợp với so sánh đồng đại, lịch đại giữa các nguồn tư liệu, giữa các
Trang 13nghề và các cơ sở thờ cúng tổ nghề để hoàn thành luận án Phương pháp này được
áp dụng chủ yếu khi bàn về sự biến đổi của tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề, từ các nghi lễ thờ cúng, lễ vật, số ngày lễ trong năm, qui mô của các cơ sở thờ cúng so với trước kia, quá trình quản lý các cơ sở thờ cúng,… Đây là phương pháp được vận dụng trong suốt quá trình thực hiện luận án
Cùng các phương pháp chính nêu trên, đề tài còn sử dụng các phương pháp bổ trợ khác như: chụp ảnh, đo vẽ để thu thập tư liệu
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên về tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề ở quận Hoàn Kiếm được thực hiện một cách tương đối toàn diện có hệ thống theo dòng lịch sử, đặc biệt là phần biến đổi hiện nay dưới góc nhìn nhân học Nếu trước kia đã có nhiều công trình dưới góc nhìn văn hóa, lịch sử, văn học dân gian quan tâm đến thờ cúng tổ nghề ở Hoàn Kiếm, nhưng về cơ bản chỉ dừng lại ở việc giới thiệu một vài di tích, hoặc
mô tả quá trình sản xuất của một nghề nào đó, thì luận này đã đi sâu khảo sát nghiên cứu tương đối tổng thể và bước đầu có so sánh về sự biến đổi trong xã hội truyền thống và hiện đại Vì vậy, luận án góp phần vào việc:
- Cung cấp cho ngành Nhân học nguồn tư liệu mới; nhận diện về những đặc điểm của tín ngưỡng thờ cúng các tổ nghề ở quận Hoàn Kiếm trước năm 1954 và những biến đổi hiện nay; phân tích nguyên nhân của sự biến đổi cùng với sự vận động của các yếu tố xã hội tác động đến tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề Từ đó dựng lại bức tranh thờ cúng các tổ nghề của người Việt ở quận Hoàn Kiếm xưa và nay
- Góp phần đánh giá mối quan hệ giữa đời sống kinh tế, chính trị và văn hóa liên quan đến hoạt động sản xuất của người Việt ở quận Hoàn Kiếm, Hà Nội trước đây và biến đổi hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Luận án là công trình nghiên cứu tương đối chuyên sâu, toàn diện và có hệ thống đầu tiên về tín ngưỡng thờ cúng các tổ nghề trên địa bàn quận Hoàn Kiếm,
Hà Nội trước năm 1954 và biến đổi hiện nay Vì vậy, luận án có một số đóng góp
về lý luận và thực tiễn sau:
Trang 14Ý nghĩa lý luận: Luận án được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của một số lý
thuyết của ngành nhân học, như: thuyết giao lưu và tiếp biến văn hóa, thuyết nghi lễ
và chức năng của nghi lễ Cùng với đó là những quan điểm của Đảng và Nhà nước
ta cũng như của thủ đô Hà Nội về văn hóa và phát triển, giải quyết sự hài hòa giữa phát triển kinh tế với bảo tồn giá trị di sản văn hóa Do đó, kết quả luận án góp phần
bổ sung làm rõ cho các lý thuyết chuyên ngành nói trên trong đặc thù của quận Hoàn Kiếm cũng như các quan điểm, chủ trương, đường lối phát triển văn hóa và con người Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, hội nhập hiện nay theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI của Đảng ta
Ý nghĩa thực tiễn:
Thứ nhất, cung cấp những luận cứ khoa học góp phần phục vụ công tác xây
dựng và thực hiện chính sách phù hợp nhằm bảo tồn và phát huy giá trị của tín ngưỡng thờ tổ nghề trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô Hà Nội hiện nay
Thứ hai, đề xuất một số kiến nghị khoa học nhằm góp phần bảo tồn, phát huy
những giá trị của tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề trong tiến trình xây dựng thủ đô văn minh, giàu truyền thống văn hóa – lịch sử, hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa - xã hội hiện nay ở quận Hoàn Kiếm
7 Cơ cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận án gồm 4 chương sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và khái quát về quận Hoàn Kiếm, Hà Nội
Chương 2: Tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề trước năm 1954
Chương 3: Biến đổi của tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề từ năm 1954 đến nay
Chương 4: Vai trò, giá trị của tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề của người Việt ở quận Hoàn Kiếm, Hà Nội và một số vấn đề đặt ra
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ
KHÁI QUÁT VỀ QUẬN HOÀN KIẾM, HÀ NỘI
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu của các học giả nước ngoài
Thăng Long – Hà Nội là trung tâm chính trị - kinh tế - văn hoá của cả nước trong gần 1000 năm Trong thời gian ấy, Thăng Long đã chứng kiến nhiều sự đổi thay của lịch sử dân tộc Đặc biệt, từ sau thế kỷ XVII, với sự phát triển của kinh tế hàng hoá, diện mạo của Thăng Long đã thay đổi Cùng với sự thu hẹp quy mô của khu hoàng thành về phía đông đã tạo điều kiện cho sự phát triển mạnh mẽ của yếu
tố “thị” ở khu vực này, diện mạo của một đô thị có phần biến đổi, khu xung quanh phía đông trở thành khu buôn bán, giao thương sầm uất, tạo dấu ấn đặc biệt của đô thị trung đại thời kỳ này Khác với các thế kỷ trước, từ thế kỷ XVII trở đi, người nước ngoài vào Thăng Long làm ăn, buôn bán khá nhộn nhịp Những người đến Thăng Long thời kỳ này bao gồm một số thương nhân là người Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Anh, Pháp, Trung Quốc, Cũng có khi là những giáo sĩ phương Tây đến truyền đạo hoặc nhà du hành đến khám phá vùng đất Kẻ Chợ Những ghi chép của
họ khá tỷ mỷ kèm theo những lời bình luận thú vị xuất hiện ngày một nhiều Song, phần lớn những ghi chép của họ trong hai thế kỷ (từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX) chủ yếu phản ánh về chiến tranh giữa Vua Lê và Chúa Trịnh, sau này là Đàng trong
và Đàng ngoài qua góc quan sát của mỗi người Trong số tài liệu viết về tổ nghề ở nước ta nói chung và Thăng Long - Kẻ Chợ của người nước ngoài có một số nghiên cứu đáng chú ý
Trong dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, một số công trình của người nước ngoài viết về Thăng Long – Hà Nội đã được dịch sang tiếng Việt Trong
đó, tác phẩm có giá trị sử học, văn hoá học được độc giả đánh giá cao là “Thăng Long thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX qua tư liệu người nước ngoài” do Chu Xuân Giao
chủ biên (2010) Cuốn sách dày 499 trang, gồm tập hợp sưu tập tư liệu về Thăng Long – Kẻ Chợ - Hà Nội của những người nước ngoài từng có dịp trực tiếp đến đây
Trang 16Đáng lưu ý là phần 3 của cuốn sách đã đề cập đến đời sống tinh thần của của đất
“Kẻ Chợ” thể hiện qua sự quan tâm của các tác giả đến Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo, Thiên Chúa giáo, tín ngưỡng dân gian (thờ cúng tổ tiên, thờ Thành hoàng, thờ mẫu, thờ thần, thờ tổ sư…), nghi lễ vòng đời, thờ cúng, giỗ chạp, bói toán, vàng mã, hội hè, giáo dục khoa cử, cách ứng xử trong giao tiếp của người Tràng An, Trong
đó, Alexandre de Rhodes đã nhận xét về việc thờ “Tiên sư, Tổ sư” như sau: “ Trong tất cả những dị đoan thông dụng nhất và họ khó vứt bỏ, đó là sự tin các thần trong nhà gọi là Tiên sư, nghĩa là những người thầy cũ Vì không nhà nào mà ở ngay cửa
ra vào không có một bàn thờ nhỏ kính Tiên sư Hằng ngày, họ cúng tế thắp hương nhang tốt xấu tùy theo gia cảnh, sáng khi thức dậy và chiều trước khi đi ngủ, họ đều cúng lễ Cũng vậy những người làm nghề thủ công, thầy lang, ngành văn hay ngành
võ cùng đều khấn vái xin các thần phù hộ Nhờ các tiên sư mà họ có công ăn việc làm và sự khôn khéo trong ngành nghề hay chức vụ Ngay cả đến kẻ trộm cướp cũng có thần bảo hộ, họ cũng tôn thờ các tiên sư của họ…” [40, tr 347]
Như vậy, bằng con mắt quan sát trực quan và suy luận logic, việc thờ cúng tổ nghề/tổ sư của cư dân ở Thăng Long – Hà Nội ở thế kỷ thứ 17 đã thấm sâu vào tâm khảm của những người thợ thủ công và có lẽ ban đầu xuất phát từ việc thờ chính ở trong nhà (thờ tại gia) của những người thợ làm nghề Sau này, do kinh tế hàng hóa phát triển, những người làm nghề cần có nhu cầu cố kết cộng đồng nên đã mua những khu đất để xây dựng các ngôi đền để thờ Tổ nghề chung
Trong dòng chảy viết về Thăng Long – Hà Nội, tác phẩm “Một chuyến đi đến Đàng Ngoài năm 1688” của William Dampier (2011), khi ông đến “Kẻ Chợ” và quan sát khá tỷ mỷ một số nghề thủ công truyền thống của Thăng Long: “Có nhiều người làm các nghề khác nhau như: thợ rèn, thợ mộc, thợ xẻ thợ đóng đồ đạc, thợ tiện, thợ dệt, thợ may, thợ gốm, thợ sơn…và nhiều nghề khác nữa…” [105, tr 85]
Bên cạnh đó, tác giả đã miêu tả khá chi tiết về kinh tế Đàng Ngoài, quan hệ của con người Đàng Ngoài với các thuyền buôn ngoại quốc, đặc biệt là một số sản phẩm
truyền thống của Thăng Long – Hà Nội: “Những đồ sơn người ta làm ở đây không thua bất kỳ một loại sơn mài nào khác, ngoài trừ hàng Nhật Bản vốn được coi như
Trang 17là tốt nhất thế giới” [105, tr 85] Những nhận định mang tính khách quan, chân
thực này đã là những tư liệu quí giúp chúng ta đánh giá sự phát triển của các nghề thủ công ở Thăng Long – Hà Nội thế kỷ XVII trong khi những ghi chép từ các nguồn chính sử lại quá khan hiếm
Một công trình khác trong kho tàng di sản văn hoá Thăng Long – Hà Nội là
cuốn “Tổng tập văn hiến Thăng Long – Hà Nội” do Vũ Khiêu chủ biên (2010) Bộ sách gồm 4 tập, trong đó tập 4, phần 28 (phần cuối cùng) có tiêu đề Thăng Long – Hà Nội qua con mắt người nước ngoài Đây là phần sưu tầm các tư liệu tản mạn của người nước ngoài viết về Thăng Long – Hà Nội Nếu so với cuốn Thăng Long – Hà Nội từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX qua tư liệu người nước ngoài thì công trình này đã
được bổ sung thêm giai đoạn từ năm 1954 đến nay của nhiều nhà nghiên cứu và bè bạn bốn phương đến Hà Nội Đây là những tư liệu được công bố lần đầu tiên trong các công trình viết về Thăng Long – Hà Nội qua con mắt của người nước ngoài Philippe Papin là cựu học sinh khoa Sử, trường Đại học Sư phạm Saint-Cloud, từng là thành viên của Viện Viễn Đông Bác Cổ, ông đã sống tại Hà Nội từ năm
1991 đến năm 2004, đã bỏ nhiều thời gian nghiên cứu về Hà Nội Năm 2010, Mạc
Thu Hương đã dịch cuốn sách của ông “Histoire de Hanoi” (Lịch sử Hà Nội) sang tiếng Việt Cuốn sách gồm 390 trang, chia làm 5 phần Tại phần III, mục “Từ Thăng Long đến Kẻ Chợ”, tác giả đã phân tích, lý giải sự vận động của một kinh đô bị chia
cắt bởi quyền lực (Vua Lê - Chúa Trịnh) lại là sự hưng khởi của các nghề thủ công dân gian Những đợt di cư tự do của dân vùng lân cận vào Thăng Long từ thế kỷ XVII-XVIII và đầu XIX khi nhà Nguyễn rời đô vào Huế đã tạo điều kiện cho thợ thủ công và các ngành nghề có đất phát triển hình thành lên các phố với những mặt hàng riêng mang tính chất chuyên nghiệp, trở thành đặc trưng của phần “thị” thời
kỳ này Những người thợ từ các vùng quê về Thăng Long làm nghề lập những phố nghề và mang theo tín ngưỡng của họ ra thành phố Đặc trưng tín ngưỡng của khu
36 phố phường là tín ngưỡng “thờ vọng” Tác giả nhận xét: “Trong sự khác biệt về nghề nghiệp ngày càng tăng tạo nên một xã hội đô thị thực sự ở Hà Nội thì sự pha trộn giữa các cộng đồng dân cư khiến cho tín ngưỡng trở thành một yếu tố chung”
Trang 18[61, tr.170-171] Ông đi đến nhận định: “tất cả những phường ở Hà Nội đều đã từng có một ngôi đình thờ cúng Thành hoàng một công trình tiêu biểu của nông thôn Việt Nam Ngược lại, đình ở trong khu phố buôn bán chỉ là “vọng từ” là một đền thờ phụ phụ thuộc vào đền chính tại quê gốc của những người di cư Ví dụ đền phố Hàng Bạc đặt dưới sự bảo lãnh của làng Châu Khê, nhưng rồi sợi dây được nới lỏng dần và “vọng từ” trở thành đình độc lập” [61, tr 171]
Cũng tác phẩm trên cho rằng, trước sự cộng cư của nhiều phường hội từ nhiều nơi đến nhưng có chung một nghề trên một địa danh, nên tín ngưỡng thờ cúng cũng
thay đổi cho phù hợp với hoàn cảnh: “Ban đầu dân phố Hàng Bạc thờ Lưu Xuân Tín, người khởi xướng quá trình di dân vào thế kỷ XV Ông được thờ cả ở Châu Khê
và phố Hàng Bạc Nhưng dần các tập tục tín ngưỡng thay đổi” [61, tr 173] Đến
thế kỷ XVIII, khi một số làng làm vàng bạc ở Đồng Xâm, Định Công cũng ra phố Hàng Bạc làm nghề, thì những người thợ thủ công lại thờ chung một vị thần kim hoàn là Hiên Viên – Bách nghệ tổ sư để phù hợp với lối sống và mối quan tâm hằng ngày của họ
Có thể nói, đây là cuốn sách có giá trị tham khảo cho những người làm công tác nghiên cứu lịch sử, văn hóa, dân tộc học, văn hóa dân gian, Những ý kiến của tác giả lập luận đều dựa trên nền tảng lịch sử và hoàn cảnh cụ thể của thời kỳ lịch
sử Tuy nhiên, dưới con mắt của một người ngoại quốc, nhiều nhận định của tác giả còn mang tính chất suy đoán, cảm nhận ban đầu, nhất là khi đánh giá về sự thay đổi tập tục tín ngưỡng của thợ thủ công, tác giả chỉ lấy một ví dụ ở phố Hàng Bạc để đi
đến nhận xét: “Làng quê cũ vẫn là chuẩn mực để họ noi theo nhưng cuộc sống tự do chốn thị thành khiến họ xa dần những lễ nghi tôn giáo”; “đất đai ngày càng khan hiếm, những người di cư phải tạo ra một hệ thống kinh tế phù hợp với cảnh một chốn hai quê của họ Các ngành nghề mang tính chuyên môn hóa và dân di cư chọn thờ những vị thần phù hợp hơn với cuộc sống mới” [61, tr 174] Thực tế cho thấy,
trường hợp như dân phố Hàng Bạc rất ít gặp trong khu phố cổ, bởi hầu như các làng nghề ở những phố khác vẫn giữ nguyên những tập tục và tín ngưỡng nơi bản quán
Trang 191.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước
1.2.1 Những nghiên cứu về nghề thủ công truyền thống
Nghề thủ công truyền thống là một bộ phận quan trọng, một trong những nhân
tố cấu thành văn minh – văn hóa Việt Nam Trong suốt tiến trình lịch sử dân tộc, nó luôn bị chi phối bởi nhiều yếu tố như chính trị, kinh tế, xã hội… Lịch sử phát triển văn hóa cũng như lịch sử phát triển kinh tế nước nhà luôn gắn liền với lịch sử phát triển của nghề thủ công truyền thống bởi những sản phẩn thủ công mỹ nghệ không chỉ là những vật phẩm văn hóa hay vật phẩm kinh tế thuần túy phục vụ cho sinh hoạt thường ngày mà nó chính là những tác phẩm nghệ thuật biểu trưng cho trình độ văn hóa, xã hội, mức độ phát triển kinh tế và bản sắc dân tộc
Tuy có lịch sử phát triển tới hàng nghìn năm, song nghiên cứu về nghề thủ công ở nước ta mới chỉ xuất hiện trong vòng mấy chục năm nay Sớm hơn cả là nhóm tác giả Phong Châu - Nguyễn Quang Vinh – Nghiêm Đa Văn cho xuất bản
cuốn “Truyện các ngành nghề” vào năm 1997 Cuốn sách giới thiệu 21 nghề thủ
công truyền thống tiêu biểu của nước ta thông qua những mẩu chuyện sinh động mang tính gợi mở về các làng nghề và các vị tổ nghề Nhóm tác giả đã sưu tầm, chắt lọc qua điều tra điền dã, qua các nguồn tư liệu lịch sử để nói lên nguồn gốc ra đời, con đường phát triển và cách thức làm ăn của mỗi nghề Ngoài những tài liệu có tính xác thực, các tác giả còn sưu tầm những truyền thuyết liên quan đến sự ra đời của một số nghề hoặc về các vị tổ nghề (tổ sư) biểu hiện truyền thống ghi nhớ công
ơn của các bậc tiền bối
Đây là một trong những số ít công trình đề cập đến các nghề thủ công truyền thống ở thời điểm đó, từ khâu sản xuất đến sản phẩm, các tác giả còn rất tinh tế khi đưa những mẩu chuyện về một số nghề, nhằm ca ngợi tổ nghề như những người anh hùng “khai sáng” nghề nghiệp, khơi dậy truyền thống “uống nước nhớ nguồn” “tôn
sư trọng đạo” của dân tộc Sự tích về các vị tổ nghề đều được dân gian xây dựng trên cái lõi của lịch sử và chính cái huyền thoại mang dáng dấp lịch sử ấy lại sống mãi trong tâm thức những người thợ thủ công, phản ánh tâm tư, tình cảm, lòng biết
ơn, sự kính trọng của họ đối với những vị tổ sư đã truyền nghề Cuốn sách có giá trị
Trang 20đặc biệt cho việc tham khảo khi nghiên cứu về các làng nghề thủ công truyền thống
và các vị tổ nghề
Cùng năm này, nhóm tác giả Trần Lê Văn - Ngọc Vũ - Bùi Thiện - Phạm Ngọc Chiểu - Hà Văn Sảm - Tạ Phong Châu - Nguyễn Vinh Phúc phối hợp với Ty Văn
hóa Thông tin Hà Sơn Bình cho ra mắt cuốn “Nghề đẹp quê hương, giới thiệu một
số ngành nghề mỹ nghệ nổi tiếng trong tỉnh Hà Sơn Bình cũ Phương pháp sưu tầm
các nguồn tư liệu về cơ bản cũng giống như Truyện các ngành nghề Một số nghề
tiêu biểu được giới thiệu, như: nghề dệt lụa gấm ở Cổ Đô, Ba Vì; La Khê, Vạn Phúc; nghề thêu Quất Động; nghề khảm trai Chuyên Mỹ, Phú Xuyên; nghề Tiện Nhị Khê; nghề sơn Bình Vọng, Thường Tín; nghề làm lược sừng Thụy Ứng Mỗi nghề được nhóm tác giả giới thiệu về các công đoạn sản xuất, sản phẩm đặc trưng
và đi sâu tìm hiểu các tổ nghề,… Tuy vậy, do nhiều hạn chế về nguồn tư liệu, nên cuốn sách mới tập hợp giới thiệu khái quát về các nghề, chưa đi sâu nghiên cứu về phong tục thờ cúng các tổ nghề, các hình thức tôn vinh, những ngày lễ tưởng niệm
và sự biến đổi của nghề
Hai tác giả Nguyễn Vinh Phúc và Trần Huy Bá sau một thời gian dài sưu tầm
nhiều nguồn tư liệu khác nhau đã cho ra đời cuốn “Đường phố Hà Nội” (1979)
Cuốn sách giới thiệu chi tiết từng đường phố, từ quá trình hình thành tên phố, nguồn gốc, sự thay đổi tên gọi theo từng thời kỳ Đặc biệt mỗi tên đường, tên phố tác giả đều giới thiệu tiểu sử danh nhân, lai lịch sự kiện lịch sử, đặc điểm dân cư, tên địa danh cũ rồi đối chiếu với những tên làng cổ, những nghề thủ công truyền thống, các
di tích lịch sử văn hóa như: đình, đền, chùa, miếu,… Đặc biệt, trong những di tích thờ tổ nghề thuộc khu phố cổ Hà Nội, tác giả đã tìm về nguồn gốc dân cư, thời điểm
di cư lên Hà Nội, nghề thủ công đặc trưng của từng vùng, những vị thần/tổ nghề được thờ, các nghi lễ và những ngày sóc vọng, tuần tiết trong năm
Có thể nói, ở thời điểm đó, cuốn sách này đã giúp ích rất thiết thực cho những người làm công tác bảo tồn bảo tàng và làm nguồn tư liệu tham khảo rất quí cho những công trình nghiên cứu sau này về Hà Nội Bởi các tác giả đã tổng hợp được nhiều nguồn tư liệu khác nhau: chính sử, tư liệu điền dã, địa bạ, sắc phong, tư liệu
Trang 21văn hóa dân gian Chính sự tồn tại của những di tích thờ cúng tổ nghề hiện nay đã tạo nên bản sắc văn hóa đa dạng, phong phú giữa yếu tố tín ngưỡng nông nghiệp/nông dân và tín ngưỡng thị dân/nghề thủ công, một sắc thái riêng của đô thị Thăng Long – Hà Nội so với các đô thị cổ khác ở nước ta thời phong kiến
Năm (1998), Bùi Văn Vượng cho xuất bản công trình “Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam” đã gây được sự chú ý của những ai quan tâm đến lĩnh vực
làng nghề Cuốn sách dày 505 trang chính văn, giới thiệu 15 làng nghề nổi tiếng trên cả nước Riêng trong khu phố cổ Hà Nội, đã đề cập đến các nghề: đúc đồng, rèn, thêu ren,… Tuy nhiên, tác giả mới chú trọng giới thiệu, mô tả từng công đoạn,
kỹ thuật sản xuất của một số nghề và giới thiệu lai lịch, sự tích, công trạng của một
số tổ nghề… mà chưa đi sâu vào bản chất của tín ngưỡng thờ cúng các tổ nghề trong truyền thống và hiện đại cũng như chưa đánh giá vai trò, ảnh hưởng của tín ngưỡng này trong đời sống của những thợ thủ công, nhất là trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh
Bước sang đầu thế kỷ XXI, xuất hiện ngày một nhiều các nghiên cứu về nghề
thủ công và các vị tổ nghề Trong đó, đáng chú ý có “Làng nghề - phố nghề Thăng Long – Hà Nội” của Trần Quốc Vượng - Đỗ Thị Hảo (2000) và được tái bản năm
2010 Cuốn sách ra đời trong dịp kỷ niệm 990 năm Thăng Long – Hà Nội, nhằm đáp ứng như cầu cấp thiết của thực tiễn trong việc tìm hiểu diện mạo, lịch sử các nghề thủ công truyền thống, những hình thức thực hành nghề, các làng nghề, phố nghề nổi tiếng, qua đó khẳng định truyền thống, tinh hoa nghề của thủ đô và tìm giải pháp nghiên cứu, bảo tồn phát huy giá trị Sách gồm 370 trang, gồm 4 chương, trong đó chương III và chương IV đề cập đến những phố nghề tại quận Hoàn Kiếm, những mẩu chuyện về các vị tổ nghề đang được thờ phụng hiện nay Phần phụ lục
đã giới thiệu một số văn bia ghi chép về các vị tổ nghề Đặc biệt, với nền tảng kiến thức, sự hiểu biết, kinh nghiệm và qua khảo sát thực tiễn của các tác giả, cuốn sách
đã đưa đến cho độc giả bức tranh tổng quát về làng nghề, phố nghề của Thăng Long – Hà Nội từ quá khứ đến hiện tại Với 62 vị Tổ nghề được giới thiệu cùng hệ thống văn bia, các bài văn tế được công bố là nguồn tài liệu có giá trị khẳng định vị thế
Trang 22của các vị Tổ nghề đối với nhóm xã hội nghề nghiệp của Thăng Long – Hà Nội qua từng thời kỳ lịch sử
Nhằm tuyên truyền giá trị của khu Phố Cổ đến mọi tầng lớp nhân thủ đô Hà Nội, năm 2002, Ban Kỷ niệm quốc gia 1000 năm Thăng Long kết hợp với Uỷ ban
Nhân dân quận Hoàn Kiếm cho xuất bản công trình “Di tích lịch sử văn hóa trong khu phố cổ và xung quanh Hồ Hoàn Kiếm” đã nhận được sự tham gia của các nhà
nghiên cứu lịch sử, văn hoá, Hà Nội học và đông đảo cán bộ làm công tác Bảo tồn Bảo tàng của Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch Hà Nội Công trình giới thiệu về lịch
sử khu phố cổ Hà Nội qua các tư liệu chính sử, dân gian về không gian văn hóa Hồ Gươm cùng những công trình kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu và những di tích lịch sử găn với phố nghề như nghề kim hoàn ở phố Hàng Bạc, nghề tơ lụa phố Hàng Đào, nghề sơn với ngôi đình Hà Vĩ, đền Đông Hương với nghề làm tranh Hàng Trống, đình Tú Thị và nghề thêu, đình Lò Rèn và nghề rèn truyền thống, đình Hoa Lộc với nghề nhuộm, đình Trúc Lâm với tổ nghề làm giày da,… Đây là những tinh hoa văn hóa vật thể và phi vật thể hiện còn tồn tại trong khu phố cổ Hà Nội và xung quanh
hồ Hoàn Kiếm Đặc biệt, một số bài viết về những di tích thờ cúng tổ nghề, lai lịch,
sự tích về tổ nghề cũng như mô tác các công đoạn, cách thức sản xuất các sản phẩm thủ công truyền thống trong khu Phố cổ Hà Nội xưa và nay Cuốn sách đã cung cấp nhiều thông tin khoa học tin cậy qua các nguồn tài liệu được sưu tầm, nghiên cứu, chú giải Đây là những bài viết mang tính giới thiệu, quảng bá các phố nghề ở Hà Nội là nguồn tư liệu tham khảo cho những ai muốn tìm hiểu về khu 36 phố phường
Sau cuốn “Hà Nội ngàn xưa” viết chung với Vũ Tuấn Sán (1979), “Làng nghề phố nghề Thăng Long – Hà Nội” viết chung với Đỗ Thị Hảo (2000), năm 2002
cùng với Hội Văn nghệ dân gian Hà Nội, nhóm nghiên cứu Lê Văn Lan, Nguyễn
Vinh Phúc, Đỗ Thị Hảo công bố nghiên cứu “Tìm hiểu di sản văn hoá dân gian Hà Nội” đã khảo sát thực trạng 14 nghề hiện còn trong khu Phố Cổ Hà Nội Năm 2005, Trần Quốc Vượng xuất bản công trình “Hà Nội như tôi hiểu” Với các tác phẩm
này, Thăng Long – Hà Nội được biết đến thông qua các thư tịch cổ, qua điều tra trên các lĩnh vực lịch sử, văn hóa, chính trị, kinh tế của thủ đô ngàn năm tuổi hội tụ
Trang 23và lan tỏa Đặc biệt, phần tổng luận về nghề thủ công của Thăng Long (Kẻ chợ), công trình đã đề cập đến 14 nghề thủ công của Hà Nội (kế thừa từ công trình nghiên cứu với Hội văn nghệ dân gian Hà Nội năm 2002) như: nghề sơn, nghề chạm khắc
gỗ, nghề tiện gỗ, nghề làm quạt, nghề đúc đồng, nghề dệt, nghề thêu ren, nghề kim hoàn, nghề giấy, nghề quạt, nghề nhuộm,… Đồng thời tác giả đề cập đến một số tổ nghề được thờ trong các di tích, thực trạng và giải pháp nhằm bảo tồn, phát huy giá trị của các di tích thờ tổ nghề
1.2.2 Những nghiên cứu về tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề và biến đổi của tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề
1.2.2.1 Các sách chuyên khảo nghiên cứu về tổ nghề và thờ cúng tổ nghề
Vào thập kỷ 90 của thế kỷ XX, việc nghiên cứu các vị tổ nghề ở trong nước được giới khoa học quan tâm hơn, một số công trình được các học giả trong nước
công bố, như: “Lược truyện thần tổ các ngành nghề” của Vũ Ngọc Khánh (1991),
gồm 168 trang, chia thành 3 phần Phần 1 đề cập đến 50 vị tổ sư các nghề qua kho tàng huyền thoại và truyền thuyết, như: Đức Thánh Tản Viên dạy dân trồng lúa, làm
ra lửa, săn bắn, đánh cá; Mẹ Âu Cơ – bà tổ nghề nông tang ở nước ta cùng các bà
mẹ lúa như Yang Xri, Yang Kol, nữ thần Pei Rap, Hmall H’ngo, Dẻ Linh Dé Lúa, Thiên Tiên Mái lúa; Ông Sần Nông, nàng Dương Ngọc – bà chúa Khoai lang; thần Nga Áp - tổ nghề nuôi vịt; Lang Liêu - bánh chưng bánh dày; Ông Đùng, Ông Hồng
- nghề rèn; Khổng Lồ - nghề đúc đồng; Thần Đồng Cổ, bà chúa Chuốt – chúa Sành (nghề gốm); công chúa Thiều Hoa - nghề dệt; nữ thần Mộc là Lỗ Ban - Lỗ Bốc;… Phần 2 giới thiệu 89 tổ nghề được thờ phụng hoặc tôn vinh là: tổ nghề Rèn, tổ nghề đúc đồng, tổ nghề gốm, tổ nghề dệt, tổ nghề thêu và làm lọng, tổ nghề kim hoàn, tổ nghề tiện, tổ nghề mộc, tổ nghề dệt chiếu, tổ nghề đồ da, tổ nghề làm lược, tổ nghề giấy, tổ nghề thuốc nam, tổ nghề khảm trai, tổ nghề sơn, tổ nghề tuồng chèo, tổ nghề ca trù,… Phần 3 đề cập đến một số nhân vật được cho là những tổ nghề được ghi trong sử sách và một số tư liệu liên quan đến những ngày giỗ và tục lệ của các vùng quê thờ tổ nghề
Trang 24Nguyễn Thừa Hỷ là một người có nhiều năm nghiên cứu về Thăng Long – Hà
Nội Trong các công trình đã xuất bản của ông, đáng chú ý là cuốn “Thăng Long –
Hà Nội thế kỷ XVII- XVIII-XIX - một thành trị trung đại Việt Nam” (1993) Tác
phẩm đã nghiên cứu Thăng Long – Hà Nội trên các mặt kinh tế - xã hội của một thành thị thời trung đại ở Việt Nam qua nhiều nguồn tư liệu, phần đáng chú ý so với những công trình khác là tác giả sử dụng khá nhiều tài liệu của những người nước ngoài đã đến và viết về Thăng Long ở thế kỷ XVII-XVIII-XIX Sách dày 372 trang, gồm 5 chương, trong đó chương 2 và chương 3 đề cập đến yếu tố kết cấu kinh tế - xã hội – công thương nghiệp của Thăng Long – Hà Nội đã dẫn đến các cuộc di dân hàng loạt của những thợ thủ công vùng lân cận về Thăng Long thế kỷ XVIII-XIX để hình thành các nghề dệt, nghề nhuộm, nghề thêu, nghề đúc đồng và làm vàng bạc, nghề giấy, gốm sành sứ, nghề nhuộm, tiện, sơn, khảm xà cừ, nghề da, nghề khắc ván in, nghề làm quạt, nghề làm mây tre,… Trong mỗi nghề, tác giả đã cố gắng kết hợp nhiều nguồn tài liệu: chính sử, thư tịch cổ, văn hóa dân gian, thần tích, sắc phong, bi
ký và điền dã tại các di tích để ghi chép thực tế của người nước ngoài khi đến Thăng Long Ngoài việc phân tích, lý giải nguồn gốc nghề, quá trình di cư, qui trình sản xuất, các phố bán hàng đặc trưng của từng nghề, chất lượng sản phẩm, tác giả đều tìm
về tổ nghề qua từng di tích thờ cúng đang hiện hữu, qua tư liệu hồi cố hoặc nhân chứng lịch sử để chứng minh sự tồn tại của mỗi nghề suốt thời trung đại
Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu về kinh tế - xã hội của Thăng Long – Hà Nội một cách khá toàn diện Đáng chú ý là tác giả đã đề cập đến các làng nghề, phố nghề thủ công truyền thống - một đặc trưng của kinh tế đô thị thời trung đại Tuy sự giới thiệu về các tổ nghề chỉ mang tính chất bổ trợ cho phần kinh tế dân gian thị dân
ở những giai đoạn lịch sử nhất định, nhưng tác giả đã sưu tầm, chắt lọc các nguồn tư liệu xác thực để thuyết trình về đặc điểm kinh tế - xã hội của một đô thị thời trung đại với tư cách là thành thị tiêu biểu ở Việt Nam
Năm 1998, tác giả Lê Minh Quốc cho xuất bản công trình “Các vị tổ ngành nghề Việt Nam” đã đề cập đến 20 vị tổ nghề, như: nghề làm giấy, nghề thêu, nghề
dệt, nghề đúc đồng, nghề gốm, nghề mộc, nghề kim hoàn, nghề hát xẩm, nghề ca
Trang 25trù, nghề dệt chiếu, nghề sơn, nghề khắc bản in, nghề khảm trai,… Với cách viết theo lối kể truyện kết hợp với những tư liệu lịch sử, văn học dân gian, mỗi vị tổ nghề được thể hiện rất sinh động, thậm chí cùng một nghề lại có các vị tổ nghề ở những địa phương khác nhau, các nơi đang thờ phụng cùng những bài văn cúng tế trong những ngày giỗ tổ nghề Với lối viết kể chuyện nhẹ nhàng, dễ hiểu, có minh chứng bằng hình ảnh sinh động, cuốn sách đã đáp ứng được như cầu nghiên cứu, tìm hiểu về tổ nghề, đặc biệt là cho thế hệ thanh thiếu niên
Đỗ Thị Hảo (2000) xuất bản công trình “Nghề thủ công truyền thống Việt Nam
và các vị tổ nghề” trình bày về những làng nghề nổi tiếng và những vị tổ nghề được
thờ phụng, như: nghề đúc đồng, nghề gò đồng, nghề gốm, nghề dệt, nghề thêu, nghè rèn, nghề kim hoàn, nghề tiện, nghề mộc, nghề da, nghề đan thuyền thúng, nghề tạc tượng, nghề sơn vẽ,… Đặc biệt, phần phụ lục, tác giả giới thiệu một số bài văn tế nghề sơn, nghề đúc đồng qua một số văn bia tại các di tích thờ tổ nghề,… Vai trò của những làng nghề thủ công trong kinh tế cộng đồng, đặc biệt là đối với Thăng Long – Hà Nội, đồng thời giới thiệu các vị tổ nghề đang thờ trong các di tích lịch sử trên cả nước và trên địa bàn quận Hoàn Kiếm Việc thờ phụng các vị tổ nghề có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tôn vinh những người có công truyền dạy nghề cho dân làng, thể hiện lòng tri ân, sự biết ơn đối với các bậc tổ sư trong đời sống văn hóa tinh thần của thợ thủ công
Trong dịp chuẩn bị kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, nhiều công trình mới viết về Thăng Long – Hà Nội được công bố nhằm cung cấp cho bạn đọc cái nhìn toàn diện về thủ đô nghìn năm văn hiến trên tất cả các lĩnh vực Trong những
công trình đó, phải kể đến “Các Thành hoàng và tín ngưỡng Thăng Long – Hà Nội”
của Nguyễn Vinh Phúc – Nguyễn Duy Hinh (2010) Tác phẩm gồm 7 chương, 393 trang đề cập đến những vị Thành hoàng được thờ trong khu vực nội thành Hà Nội (tương đương với huyện Thọ Xương và Vĩnh Thuận xưa) thông qua 135 cuốn thần tích, ngọc phả, phả lục, thần phả Các tác giả đã lược kê tiểu sử, thân thế, sự nghiệp của các vị Thành hoàng làng, phân loại thành 110 vị Thành hoàng trong khu vực nội thành (đặc biệt là khu 36 phố phường - quận Hoàn Kiếm hiện nay) để chọn lọc được
Trang 2617 vị thành hoàng là nhân vật lịch sử và tổ nghề Các tổ nghề được đề cập đến trong quận Hoàn Kiếm là: tổ nghề tiện, tổ nghề thêu, tổ nghề giày dép (3 người), tổ nghề
cổ yếm, tổ nghề nhuộm, tổ nghề sơn, tổ nghề vàng bạc, tổ nghề rèn, tổ nghề thiếc, tổ nghề gương,…
Công trình này đã khẳng định rõ: tín ngưỡng thờ tổ nghề ở Thăng Long – Hà Nội khá đậm nét, đây là đặc trưng có một không hai của các đô thị Việt Nam trong truyền thống Hầu như các ngôi đình thờ tổ nghề ở đây đều do dân các tỉnh khi di cư
ra kinh thành làm ăn tự nguyện đóng góp xây dựng để thờ “vọng” các vị Thành hoàng/tổ nghề nơi quê nhà, tín ngưỡng này đã tạo ra hình thức tín ngưỡng “thị dân”
Các tác giả đã nhận xét: “Không phải bất cứ tổ nghề nào cũng trở thành Thành hoàng ở Hà Nội, nhưng dân Hà Nội đều đến các đình, đền thờ tổ nghề cúng lễ như Thành hoàng bản địa Như vậy thờ tổ nghề đã được đề cao ngang hàng với Thành hoàng, Đó là dấu hiệu đa tố tín ngưỡng thị dân” [63, tr 112]
Một công trình được nhận giải thưởng sách vàng nhân dịp kỷ niệm 1000 năm
Thăng Long – Hà Nội là “Tổng tập văn hiến Thăng Long – Hà Nội”, do Vũ Khiêu
chủ biên (2010), với dung lượng hơn 10.000 trang, gồm 4 tập, trong đó có phần 28
với tựa đề: “Khéo tay trăm nghề đất Kẻ Chợ” và phần cuối cùng của cuốn sách:
“Thăng Long – Hà Nội qua con mắt người nước ngoài” Về cơ bản cuốn sách là sự
kế thừa của các công trình viết về nghề thủ công truyền thống và tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề từ trước Tuy nhiên, đây là bộ Bách khoa thư về Hà Nội phản ánh đầy
đủ các mặt của thủ đô 1000 năm tuổi trên các mặt kinh tế, chính trị, xã hội, y tế, giáo dục, văn hóa, tôn giáo - tín ngưỡng, con người Mặc dù còn nhiều hạn chế, nhưng cuốn sách có giá trị tham khảo thiết thực cho những ai muốn tìm hiểu về Thăng Long – Hà Nội trong suốt tiến trình lịch sử dân tộc
Nghiên cứu về các tổ nghề trong những năm gần đây tiếp tục là đề tài hấp dẫn đối với giới khoa học xã hội, mặc dù cách tiếp cận có khác nhau và sản phẩm có thể chỉ là những công trình khiêm tốn hơn dịp Đại lễ Hà Nội nghìn năm văn hiến
Trong đó, đáng chú ý có tác phẩm “Danh nhân Việt Nam, Các vị cụ tổ ngành nghề Việt Nam” do hai tác giả Thu Huyền – Ái Phương (2011) sưu tầm, biên soạn Nội
Trang 27dung đã tập hợp các vị tổ nghề trong cả nước trên cơ sở sưu tầm từ các công trình nghiên cứu, các bài viết đã đăng tải
Hoàng Đạo Thúy là người có nhiều công trình nghiên cứu về Thăng Long –
Hà Nội, với cách viết chân thực, súc tích, lập luận chặt chẽ Ông viết “Hà Nội phố phường xưa” năm 1947, sau đó viết lại vào năm 1991 và năm 2010 được tái bản
Cuốn sách là những trang tài liệu quí về diện mạo những phố phường Hà Nội xưa,
những tục lệ của người từ nông thôn ra Hà Nội lập nghiệp: “Các bà làm nghề từ các tỉnh vào Hà Nội, cố nhiên ít khi đi nhiều người một lúc Bắt đầu một gia đình ra thăm thú, rồi khi đã có việc làm, ở yên chỗ thì đưa người làng ra Các nghề nhuộm Hàng Đào, hàng thịt trâu, lò rèn, cô đào, lò sũ cho đến đúc đồng đều đến Hà Nội như thế Sau cái đơn vị thứ nhất là “nhà” là đến đơn vị thứ hai là “làng” nên người
ta nhớ ngay đến tính quê hương bản quán, tập hợp nhau ngày làng vào đám tế lễ Rồi khi công việc khấm khá lập một “vọng từ” Hàng năm đến nhà “đăng cai” để
lễ “tiên sư”, là người đầu tiên dạy nghề” [ 86, tr 190]
Năm 2012, Hội văn nghệ dân gian Việt Nam và Ngô Đức Thịnh xuất bản công
trình “Tín ngưỡng trong sinh hoạt văn hóa dân gian” gồm 591 trang Kết quả đã
góp phần tăng cường nhận thức về bản chất và các sắc thái đa dạng trong đời sống tâm linh của người nông dân Việt nam thể hiện qua các hình thái tín ngưỡng: thờ cúng tổ tiên, thờ Thành hoàng, thờ mẫu, tín ngưỡng nghề nghiệp thờ tổ nghề… của người Việt Công trình góp phần giúp cho việc nhận thức và chế định các chính sách đối với tôn giáo, tín ngưỡng cũng như bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa hiện nay Trong các hình thái tín ngưỡng, thờ cúng tổ nghề được đề cập một cách rõ nét bằng cách nhận diện đây là tín ngưỡng dân gian đã in sâu trong các làng nghề, họ thờ tổ nghề với sự kính trọng, biết ơn
Công trình này đã đáp ứng được nhu cầu tìm hiểu về tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề trong văn hóa dân gian của người Việt hiện nay Đây là hình thái tín ngưỡng của một nhóm cộng động nghề nghiệp có chung hình thức tín ngưỡng Từ việc lý giải nguồn gốc, ý nghĩa của việc thờ cúng tổ nghề cũng như giúp cho việc định hướng các chính sách trong việc bảo tồn, phát huy di sản văn hóa một cách bền
Trang 28vững Nếu như các công trình nghiên cứu khác chỉ đề cập đến sự tích, lai lịch các vị
tổ nghề, các công đoạn sản xuất và sản phẩm của các nghề, thì công trình này đã xác định từng phạm trù có tính khoa học, từ việc lý giải sự tồn tại của loại hình tín ngưỡng này trong kho tàng chung của người Việt, sau đó đi sâu bóc tách tìm bản chất thật sự của nó, từ các nghi lễ, tuần tiết, sóc vọng để tìm ý nghĩa của nó trong đời sống tâm linh dân gian Suy cho cùng tín ngưỡng thờ tổ nghề ra đời đáp ứng sự biểu biết về nguồn gốc đất nước, nguồn gốc gia đình, họ hàng, để từ đó biểu hiện lòng biết ơn và quan trọng là việc nhắc nhở các thế hệ sau luôn nhớ về cội nguồn dân tộc Các vị tổ sư luôn có vai trò quan trọng với đất nước vầ cộng đồng cư dân làng xã
1.2.2.2 Các báo cáo tư liệu về tổ nghề và di tích thờ cúng tổ nghề
Ngay từ những thập niên đầu của thế kỷ XX, do yêu cầu thực hiện nhiệm vụ sưu tầm kho tàng di sản văn hoá dân gian truyền thống trên toàn cõi Việt Nam, Viện Viễn Đông Bác Cổ đã tiến hành kê khai thần tích, thần sắc tại tất cả các làng xã trên phạm vi toàn quốc Đợt điều tra kê khai lớn nhất là năm 1938 Hầu hết các bản kê khai thần tích được lập trong thời gian này dưới dạng cải lương hương chính (một nửa chữ quốc ngữ, một nửa chữ Hán) được thống nhất trong một mẫu khê khai trong toàn quốc Tại Thư viện Viện Thông tin khoa học xã hội hiện còn lưu giữ một
số thần tích, thần sắc về các di tích thờ cúng tổ nghề trong khu vực quận Hoàn Kiếm, như:
- Thần tích thần sắc ngõ Hàng Hành, thôn Tả Khánh, tổng Thuận Mỹ, huyện Thọ Xương, phủ Hoài Đức, Hà Nội: Đây là bản khai thần tích thần sắc của dân Nhị
Khê vọng đình ở số 11 ngõ Hàng Hành (vốn thuộc tổng Cổ Hiền, huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông) được lập năm 1938 kê khai vị thần được thờ
ở đình Nhị Khê là Bản nghệ tiên thánh sư là Đoàn Tài Ông mất vào ngày 25 tháng
10 và từ đó dân Nhị Khê lấy ngày đó làm ngày kỵ Sau này, dân làng Nhị Khê chuyển ra thôn Tả Khánh lập thành làng đã góp tiền mua đất xây một ngôi đình thờ vọng ngài Bản khê khai cũng kê những vật thờ, đồ cúng tế, cũng như những qui định trong các ngày tuần tiết, sóc vọng, kỵ nhật hàng năm
Trang 29- Thần tích thần sắc phố Hàng Mành, Hà Nội: Theo bản khai thì đình Tú Thị
thờ tổ nghề thêu (cũng là tổ nghề võng lọng) Lê Công Hành, Ngài được thờ ở rất nhiều nơi vừa là Thành hoàng vừa làm tổ nghề Việc thờ Ngài có thể thờ ở đình, đền nhưng cũng có thể thờ ở nhà thông qua biểu tượng thờ là lập bài vị, ngai thờ Các ngày tuần tiết trong năm cúng tế theo xuân thu nhị kỳ Ngày kỵ nhật là ngày mùng 4 tháng 6
- Thần tích thần sắc phố Hàng Đào, làng Đồng Lạc, Hà Nội: Thần tích cho
biết ở số 38 phố Hàng Đào có một ngôi đình Quyến Yếm, sau đổi thành đình Đồng Lạc thờ tổ nghề cổ yếm là bà Nguyễn Thị Diệu Duyên - vợ ông thủ khoa quê ở Đại Áng, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông (nay là Hà Nội) Bà sống dưới thời Lê Thần Tông, là người đã tậu đất xây đình Bà là người sáng lập ra nghề làm cổ yếm và dạy những người trong chợ làm nghề để bán cho phụ nữ Khi bà mất, dân làng nhớ công
ơn lập bài vị ở bên trái đình và tôn bà làm Yếm thị Tiên sư cùng với 3 vị thành hoàng thờ trong đình là Bạch Mã, Cao Sơn, Linh Lang
- Thần tích thần sắc phố Hàng Hòm, làng Hà Vĩ, Hà Nội cho biết: ngôi đình
Hà Vĩ thờ tổ nghề sơn là Trần Lư, ông người làng Hà Vĩ, tổng Tín yên, huyện Thượng Phúc, tỉnh Hà Đông Ông sinh ngày mùng 8 tháng 8, mất ngày mùng 8 tháng 9 Ngoài thờ tổ nghề sơn, tại đây còn phối thờ các vị khác là Bố Cái Đại vương, Sỹ vương, Bá Lang đại tướng, Bình Thiện cư sĩ và mẫu Thoải
- Thần tích thần sắc phố Hàng Hành, làng Trúc Lâm, Hà Nội cho biết: tại đình
Trúc Lâm, phố Hàng Hành thờ 3 vị tổ nghề giày da là Phạm Thuần Chính, Nguyễn Đức Chính và Phạm Sĩ Bân, họ là những người có công truyền dạy nghề cho các làng Văn Lâm, Trúc Lâm, Phong Lâm (tên nôm là làng Chắm) Khi ra Hà Nội làm
ăn, họ đã xây dựng ngôi đình Trúc Lâm để thờ vọng 3 vị tổ nghề và thực hiện các nghi thức thờ cúng như ở quê cũ
- Thần tích thần sắc phố Changeurs, làng Kim Ngân Trương Thị, Hà Nội cho
biết: hai ngôi đình đều do dân Châu Khê xây dựng lên để thờ tổ nghề vàng bạc là Hoàng đế Hiên Viên Đình Kim Ngân (tên Nôm là đình Dưới), đình Trương Thị
Trang 30(tên Nôm là đình Trên) Theo qui định, hai kỳ lễ xuân thu nhị kỳ hàng năm hai ngôi đình này phải luân phiên sắm sửa lễ vật mang sang cúng lễ tổ nghề
- Thần tích thần sắc phố Hàng Quạt, làng Xuân Yên, tổng Thuận Mỹ, huyện Thọ Xương, Hà Nội Theo bản khai thì đình Hàng Quạt còn gọi là đình Xuân Phiến
“Xuân Phiến thị” thờ Đào Hương Công, hiệu là Quang Giám tiên sinh làm tổ nghề quạt Ngài sinh ngày 29 tháng 2, mất ngày 12 tháng Giêng
- Thần tích thần sắc làng Đan Loan, tổng Hòa Loan, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương thờ tổ nghề nhuộm là Triệu Xương Sau này ra Thăng Long, dân làng
Đan Loan đã cùng nhau mua đất, dựng ngôi đình Hoa Lộc thị để thờ vọng ngài thể hiện lòng tri ân, tôn kính
Các bản khai thần tích thần sắc tuy chỉ mang tính liệt kê theo một mô tuýp chung Song, đây là những tư liệu giúp ích cho NCS trong quá trình thực hiện luận
án, đặc biệt là phần đối chiếu, so sánh về cách thức thờ cúng, lễ vật, các ngày lễ chính, thành phần tham gia thực hành nghi lễ cũng như những qui định về việc kiêng kỵ trong mỗi kỳ tế lễ trước đây so với hiện nay
Ngoài những thần tích, thần sắc được kê khai theo yêu cầu của Viện Viễn Đông Bác Cổ Sau này, với nhiệm vụ tham mưu cho UBND thành phố Hà Nội về việc bảo tồn, phát huy hệ thống di sản văn hoá của thủ đô Hà Nội, từ năm 1984, Ban quản lý Di tích Danh thắng (thuộc Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch Hà Nội) đã phối hợp với Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Trường Đại học Văn hoá Hà Nội tiến hành tổng điều tra, khảo sát toàn bộ di tích lịch sử văn hoá trên địa bàn 4 quận nội thành (Hoàn Kiếm, Đống Đa, Ba Đình, Hai Bà Trưng) Riêng quận Hoàn Kiếm, thời điểm năm 1984, số lượng di tích thờ cúng tổ nghề vẫn còn lại đáng kể, trong đó phải kể đến các di tích: đình Tú Thị, số 2A ngõ Yên Thái, phường Hàng Gai và đình
Vũ Du, số 42 Hàng Da, phường Hàng Trống đều thờ vọng tổ nghề thêu lọng Lê Công Hành; đình Kim Ngân (42 Hàng Bạc), đình Trương Thị (50 Hàng Bạc) thờ tổ nghề kim hoàn Hoàng đế Hiên Viên; đình Hà Vĩ, số 11 phố Hàng Hòm; đình Thuận
Mỹ, số 74 Hàng Quạt, phường Hàng Gai thờ vọng tổ nghề sơn vẽ là Trần Lư; đình
Lò Rèn, số 1 phố Lò Rèn (của dân Hòe Thị, Xuân Phương, Từ Liêm) và ngôi đình
Trang 31Lò Rèn ở 33 Lò Sũ (của dân Đa Hội, Từ Sơn, Bắc Ninh) thờ vọng ông tổ nghề rèn sắt là Lư Cao Sơn cùng Phạm Nguyệt Thánh sư, Nguyệt Nga Thánh sư, Tả Hầu Thánh Sư, Nguyễn Cẩn Thánh sư, Tý Cung Thánh sư, Đỗ Sắc thánh sư; đình Trúc Lâm, số 40 Hàng Trống và đình Hàng Giày (16, ngõ Hài Tượng) thờ vọng tổ sư nghề giày da là Nguyễn Thời Trung cùng 3 người nữa là Phạm Thuần Chánh, Phạm Đức Chính và Nguyễn Sỹ Bân; đình Hoa Lộc Thị, số 90A, phố Hàng Đào thờ vọng
tổ nghề nhuộm; đình Hàng Quạt (còn gọi đình Thuận Mỹ) thờ vọng tổ nghề quạt là
họ Đào; đình Hàng Thiếc (còn gọi là đình Đông Thành, đình Đông Thổ), số 2 phố Hàng Nón thờ vọng tổ nghề thiếc là Bạch Tích liên thánh tiên sư (các bậc tổ sư nghề thiếc) cùng Nguyễn Hữu Độ - Kinh lược sứ Bắc Kỳ; đình Nhị Khê, số 11 phố Hàng Hành, thờ vọng tổ nghề tiện Đoàn Tài; đình Phúc Hậu, số 2 phố Hàng Bông, phường Hàng Gai, thờ vọng tổ nghề tráng gương là Trần Nhuận Đình;
Có thể thấy, các tư liệu lịch sử trên đã cung cấp những thông tin về các di tích thờ cúng tổ nghề trước đây và hiện nay làm cơ sở giúp NCS có thể so sánh, đối chiếu quá trình vận hành của các cơ sở thờ cúng tổ nghề Do chỉ dừng lại ở tính chất của dạng báo cáo tư liệu nên nặng về mô tả ở dạng sưu tầm tài liệu, kê khai di tích
Nhìn chung: Tổng quan tình hình nghiên cứu về nghề thủ công và tín ngưỡng
thờ cúng tổ nghề cho thấy, ngay từ rất sớm, người nước ngoài đã rất quan tâm đến những sản phẩm thủ công của Thăng Long – Hà Nội Họ quan sát, đánh giá chất lượng sản phẩm một cách khách quan đã khẳng định sự thịnh vượng của khu vực 36 phố phường xưa cũng như việc khâm phục sự tài năng, khéo léo của thợ thủ công Việt Nam Còn ở trong nước, nghiên cứu về thủ công của Thăng Long – Hà Nội ở giai đoạn đầu cũng khá khiêm tốn và ít ỏi, kết quả nghiên cứu còn mang nặng tính liệt kê, khảo sát hiện trạng, mô tả qui trình sản xuất, nguyên liệu, sản phẩm của các làng nghề là chủ yếu, chưa tách bạch giữa nghiên cứu làng nghề thủ công truyền thống và tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề Kết quả nghiên cứu dù mục đích khác nhau, nhưng các công trình nghiên cứu trên chủ yếu là sự kế thừa của những nghiên cứu trước, ít có những phát hiện mới Một số công trình nghiên cứu chưa thực sự tách bạch giữa làng nghề và thờ cúng tổ nghề, thường mang tính lồng ghép phần lịch sử
Trang 32làng nghề, phố nghề, cung cấp thông tin về địa danh lịch sử, mô tả các công đoạn sản xuất hơn là đi sâu nghiên cứu các vấn đề về thờ cúng tổ nghề
Những nghiên cứu về tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề và biến đổi của nó trong một vài thập kỷ gần đây xuất hiện nhiều hơn, song phần lớn lại mang nặng yếu tố giới thiệu về lai lịch, sự tích của các vị tổ nghề (Vũ Ngọc Khánh, Đỗ Thị Hảo, Lê Minh Quốc…) chưa có nhiều công trình viết về biến đổi thờ cúng tổ nghề trong môi trường đô thị (ở quận Hoàn Kiếm – Hà Nội), hoặc có nhưng là sự lồng ghép với các tôn giáo, tín ngưỡng khác Cách tiếp cận cũng thường dừng lại ở những nhận xét trực quan, liệt kê, mô tả là chủ yếu Riêng phần biến đổi thì chỉ có một vài học giả
đề cập đến (Nguyễn Duy Hinh, Ngô Đức Thịnh…) Các học giả này đã có những đánh giá, lý giải nguyên nhân từ sự thay đổi môi trường sống, thay đổi cấu trúc xã hội đã kéo theo sự thay đổi của các phong tục, tập quán, trong đó có hình thức tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề trong môi trường đô thị cũng như việc phân loại, đánh giá bản chất, nguồn gốc, nhận dạng sự biến đổi của tín ngưỡng cùng những tác động và vai trò của loại hình tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề trong đời sống xã hội xưa và nay Đây là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho những nhà nghiên cứu trong nước ở những giai đoạn sau này và cho luận án tiến sĩ của tác giả
Kết quả của các nghiên cứu nói trên là những tài liệu tham khảo rất hữu ích cho tác giả trong quá trình nghiên cứu luận án Cho đến nay, chưa có nghiên cứu chuyên sâu và toàn diện về tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề ở quận Hoàn Kiếm, Hà Nội (truyền thống và biến đổi) dưới góc nhìn nhân học Thực tế này là minh chứng cho sự cần thiết tiếp tục nghiên cứu về lĩnh vực quan trọng này dưới cách tiếp cận của ngành Dân tộc học/Nhân học nói chung và phục vụ công tác chuyên môn, nghiệp vụ của NCS đang thực hiện
1.3 Cơ sở lý thuyết
1.3.1 Một số khái niệm cơ bản
- Tín ngưỡng: Thuật ngữ tín ngưỡng xuất hiện từ thời Đường trong Kinh Hoa Nghiêm: “Nhân thiên đẳng loại đồng tín ngưỡng”1 [46] Trước đó đã có các khái
niệm Tín, Ngưỡng, nhưng chưa có khái niệm tín ngưỡng Tín ngưỡng chỉ sự tin
1 Từ điển Từ Nguyên (dẫn theo giáo sư Nguyễn Duy Hinh)
Trang 33tưởng kính trọng Tam Bảo (Phật giáo) Cho nên khi nói đến tín ngưỡng là nói đến tình cảm tôn giáo, tức là sự kính trọng là kinh sợ đối với hiện tượng chưa nhận thức được mà cảm thụ được Đó là sản phẩm tinh thần con người với tư cách Người sản xuất văn hoá, là một bộ phận của văn hoá tinh thần Tín ngưỡng chỉ đề cập đến tình cảm không đề cập đến hành vi tôn giáo
Ở phương Tây, người ta ít dùng thuật ngữ tín ngưỡng, mà hay sử dụng khái
niệm tôn giáo bình dân (popular religion) có nghĩa là hiểu tôn giáo theo lối bình
dân, tức là theo tập quán, theo dư luận hoặc bị cuốn hút vào các nghi lễ, chứ không theo lối chính thống chủ yếu xuất phát từ việc nghiên cứu giáo lý, suy tư rồi giác ngộ mà theo Trong công trình nổi tiếng Văn hóa nguyên thủy, Tylor (2000) cho rằng: Cần đặc biệt chú ý là các tín ngưỡng và tập quán khác nhau đều có những nền tảng vững chắc trong thuyết vật linh nguyên thủy, như thể chúng đã thực sự mọc lên
từ đó Trong thuyết vật linh phức tạp, chúng trở thành sản phẩm của sự ngu dốt hơn
là của nhà triết học và tồn tại như những tàn tích của cái cũ hơn là những sản phẩm của đời sau, khi chuyển từ sức sống đầy đủ sang trạng thái tàn tích [92] Malinowski trong công trình “Ma thuật, khoa học và tôn giáo” cho rằng: tín ngưỡng ra đời khi
mà cuộc sống của con người có nhiều sự trở ngại và bất trắc Còn theo Tokarev
(1994) không bao giờ phủ định sự tồn tại của những mối liên hệ nguồn gốc giữa các tín ngưỡng Và Bất kỳ một tín ngưỡng nào đã bắt rễ vững chắc cũng đều tồn tại trong nhân dân rất lâu bền, thậm chí tồn tại ngay cả lúc những điều kiện sản sinh
ra nó đã thay đổi [70]
Những ý kiến trên cho thấy, ở phương Tây, các nhà nghiên cứu thường dùng khái niệm tôn giáo bao hàm cả các tôn giáo có hệ thống và tổ chức, tôn giáo dân gian và tôn giáo nguyên thủy Do vậy, theo họ, tín ngưỡng là bộ phận quan trọng của tôn giáo, nằm trong khái niệm tôn giáo, là cơ sở hình thành tôn giáo Các hình thức tín ngưỡng mang đặc thù theo từng không gian văn hóa, chủ thể văn hóa cũng như thời gian văn hóa khác nhau nhưng vẫn là biểu hiện niềm tin vào cái thiêng, sự ngưỡng mộ và sùng bái của con người Do vậy, tín ngưỡng là một hiện tượng văn hóa mang tính lịch sử, một phạm trù lịch sử
Trang 34Ở nước ta, trong Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, phần những qui định chung, tín ngưỡng được hiểu như sau: “Tín ngưỡng là niềm tin của con người được thể hiện thông qua những lễ nghi gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại
sự bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng Hoạt động tín ngưỡng là hoạt động thờ cúng tổ tiên, các biểu tượng linh thiêng; tưởng niệm và tôn vinh người có công với đất nước, với cộng đồng; các lễ nghi dân gian tiêu biểu cho những giá trị lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội.” [65]
Đặng Nghiêm Vạn cho rằng, thuật ngữ tín ngưỡng có thể hiểu theo hai nghĩa Khi nói tự do tín ngưỡng, chúng ta có thể hiểu đó là tự do về ý thức hay tự do về tín ngưỡng tôn giáo Nếu hiểu tín ngưỡng là ý thức thì tín ngưỡng bao trùm trên tôn giáo, là một bộ phận chủ yếu nhất cấu thành tôn giáo Không có tín ngưỡng sẽ không có tôn giáo [97, tr 71]
Theo giải thích của Đào Duy Anh, tín ngưỡng là lòng ngưỡng mộ, mê tín đối với một tôn giáo hoặc một chủ nghĩa [1] Trong khi Ngô Đức Thịnh đưa ra quan
điểm rõ ràng hơn: “Tín ngưỡng được hiểu là niềm tin của con người vào cái gì đó thiêng liêng, cao cả, siêu nhiên, hay nói gọn lại là niềm tin, ngưỡng vọng vào “cái thiêng”, đối lập với cái “trần tục”, hiện hữu mà ta có thể sờ mó, quan sát được Có nhiều loại niềm tin, nhưng ở đây là niềm tin của tín ngưỡng là niềm tin vào “cái thiêng” Do vậy, niềm tin vào cái thiêng thuộc về bản chất của con người, nó là nhân tố cơ bản tạo nên đời sống tâm linh của con người, cũng như giống đời sống vật chất, đời sống xã hội tinh thần, tư tưởng, đời sống tình cảm ” [48, tr 16]
Trần Ngọc Thêm cho rằng, tín ngưỡng được đặt trong văn hóa tổ chức đời sống cá nhân, tín ngưỡng cũng là một hình thức tổ chức đời sống cá nhân rất quan
trọng, ông nhấn mạnh: “Ở xã hội Việt Nam cổ truyền, các tín ngưỡng dân gian chưa chuyển được thành tôn giáo theo đúng nghĩa của nó - mới có những mầm mống của những tôn giáo như thế - đó là Ông Bà, đạo Mẫu Phải đợi khi các tôn giáo thế giới như Phật, Đạo, Kitô giáo… đã được du nhập và đến thời điểm giao lưu với phương Tây, các tôn giáo dân tộc như: Cao Đài, Hòa Hảo mới xuất hiện” [76, tr 262]
Trang 35Nguyễn Hữu Thông cho rằng “Dù hiểu trên góc độ nào, tín ngưỡng - tôn giáo vẫn là một hình thái ý thức xã hội, cũng là một nhu cầu của xã hội Và một khi những nhu cầu ấy chưa được những hình thái khác của ý thức xã hội hoàn toàn thỏa mãn thì đối với một số tầng lớp xã hội, tín ngưỡng - tôn giáo vẫn là nguồn gốc của giá trị đạo đức, niềm an ủi, sự nâng đỡ về tâm lý” [77, tr.12]
Từ những quan điểm nêu trên có thể hiểu: Tín ngưỡng là hệ thống những niềm tin
và cách thức biểu lộ đức tin của con người đối với những hiện tượng tự nhiên hay xã hội, nhân vật lịch sử hay huyền thoại có liên quan đến cuộc sống của họ nhằm cầu mong sự che chở, giúp đỡ từ những đối tượng siêu hình mà người ta thờ phụng
- Tổ nghề: Ngô Đức Thịnh cho rằng, nếu theo đúng nghĩa đen, Bách Nghệ tổ
sư là vị tôn sư thần tổ của hàng trăm nghề Nghề đây là chỉ vào những nghề thủ công, nghề của những người thợ Song thực ra, trong cảm quan tín ngưỡng chung của người Việt, trong tất cả các ngành đều có tổ nghề Những ông thầy đã truyền dạy cho họ cái tài năng về nghề nào đó Và như vậy, họ đều dành tình cảm thiêng liêng cho các đấng, các bậc tiên hiền ấy là tâm lý chung của mọi người lao động Việt Nam Từ lòng biết ơn, sự kính mộ, tiến đến sự ngưỡng mộ và sự tôn thờ là một bước không dài Quan niệm tín ngưỡng về Bách nghệ tổ sư đã ra đời trong hoàn
cảnh ấy Trong luận án này, khi tiếp cận khái niệm “tổ nghề”, chúng tôi hoàn toàn
thống nhất với ý kiến mà Ngô Đức Thịnh đã đưa ra
- Tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề: Là hệ thống những niềm tin và cách thức biểu
lộ đức tin của cộng đồng những người cùng nghề nghiệp, thường là nghề thủ công Trong một làng hay một khu phố, thành phố đối với một nhân vật có thật hoặc huyền thoại có liên quan đến cuộc sống của họ nhằm cầu mong sự che chở, giúp đỡ
từ những đối tượng siêu hình mà người ta thờ phụng và nó đã trở thành một phong
tục của người Việt “Việc phụng và tôn vinh tổ nghề là một phong tục, cùng với tục thờ cúng tổ tiên ở nước ta Cúng tổ tiên là chuyện của một gia đình, một dòng họ, nhằm tôn vinh con người có thực… nhưng thờ cúng tổ nghề lại là chuyện của một cộng đồng, một địa phương, nó liên quan đến tín ngưỡng dân gian là điều không phải bàn cãi” [53, tr 9-10] Thờ cúng tổ sư một ngành nghề (người thực hay nhân
Trang 36vật huyền thoại) là để khẳng định, tôn vinh ngành nghề ấy Thờ cúng tổ nghề, người
ta cầu mong cho công việc được suôn sẻ, buôn may bán đắt hoặc lúc đi xa tránh được mọi sự rủi ro Sau khi công việc có kết quả, người ta làm lễ tạ ơn
Như vậy, hiểu tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề là một phong tục xuất phát từ tục thờ cúng tổ tiên của người Việt Nam, được duy trì và truyền từ đời này qua đời khác bằng hệ thống những đức tin vào sự che chở của một đấng tối cao mà họ tôn làm tổ sư/tổ nghề Qua đó thể hiện lòng biết ơn, sự ngưỡng mộ và cầu mong những điều tốt đẹp trong cuộc sống nghề nghiệp của họ
Truyền thống: Theo tiếng latinh là traditio (hành vi lưu truyền), đó là sự lưu truyền những sự kiện lịch sử, văn hoá, đạo đức, niềm tin, phong tục tập quán, thói quen, những thuyết tôn giáo, những truyền thuyết, từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng con đường truyền khẩu và không có bằng cớ chính thức và thành văn Trong
Từ điển Bách khoa thư, khái niệm truyền thống là những thói quen tốt đẹp được lưu
giữ từ đời này qua đời khác, thế hệ này tới thế sau mà không thay đổi Truyền thống
là đức tính, tập quán, tư tưởng, lối sống, những giá trị văn hóa lâu đời được gìn giữ
và lưu truyền, có giá trị tích cực và được mọi người tôn trọng, lưu giữ, kế thừa và phát huy Như vậy, truyền thống là những cái từng hiện hữu trong đời sống lịch sử, văn hoá, tôn giáo, tín ngưỡng, là một hệ thống những giá trị về ý thức xã hội, được gìn giữ, bảo lưu, duy trì từ thế hệ này qua thế hệ khác và nó thường mang tính bảo
thủ, ít thay đổi Quan điểm của Nguyễn Trọng Chuẩn cho rằng: "Theo nghĩa tổng quát nhất, truyền thống - đó là những yếu tố của di tồn văn hóa, xã hội thể hiện trong chuẩn mực hành vi, tư tưởng, phong tục, tập quán, thói quen, lối sống và cách ứng xử của một cộng đồng người được hình thành trong lịch sử và đã trở nên ổn định, được truyền từ đời này sang đời khác và được lưu giữ lâu dài" [75] Còn Trần Văn Đoàn thì nhận định: "Bản chất biện chứng của truyền thống là những cái gì còn lưu lại cho chúng ta, nhưng không còn nguyên vẹn như cũ nữa mà đã được
"phủ nhận" một cách biện chứng và đồng thời đã được "thăng hoa" [75] Đương thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng từng dạy: "Khôi phục vốn cổ thì chỉ nên khôi phục cái gì tốt, còn cái gì không tốt thì nên loại dần ra" [75] Theo các quan điểm trên thì
Trang 37truyền thống là sự kế thừa di sản xã hội có giá trị, đó chính là những đức tính hay những phong tục kéo dài nhiều thế hệ, nhiều thời kỳ lịch sử và hiện có nhiều tác dụng, tác dụng đó có thể tích cực, cũng có thể tiêu cực Tuy nhiên, khi nói đến giá trị truyền thống, người ta thường nghĩ đến yếu tố tích cực hơn là yếu tố tiêu cực, bởi qua thời gian nó đã được phủ nhận một cách biện chứng để tích hợp thêm các yếu tố hòa vào thế giới mới Bản chất của truyền thống không chỉ là di tồn của quá khứ mà
nó là nhịp cầu để kết nối những giá trị mới để hoàn thiện hơn Như vậy, nền văn hóa gọi là truyền thống nó phải phản ánh được thành tựu con người tích hợp được trong quá trình lao động, sản xuất, sinh hoạt và những tập tục tốt đẹp như là một sự hiện
thân của trí tuệ, tiêu biểu cho bản sắc dân tộc, nó được coi như những “hằng số văn hóa” Tuy nhiên, giá trị truyền thống cũng biến đổi chứ không hoàn toàn bất biến
Sự biến đối đó diễn ra nhanh hay chậm là tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó, quan trọng nhất là điều kiện kinh tế, xã hội Chính vì vậy mà giátrị văn hóa truyền thống dân tộc không phải là cái có sẵn từ khi dân tộc hình thành mà nó được các thế hệ nối tiếp nhau làm nên.Các giá trị này biến đổi tùy điều kiện tác động đến nó
- Biến đổi: Theo Từ điển tiếng Anh, biến đổi (change) nghĩa là sự thay đổi,
thay thế cái cũ thành cái mới, không hoàn toàn giống với bản gốc Còn Từ điển Tiếng Việt thì giải nghĩa: biến đổi có nghĩa là biến hoá, thay đổi Như vậy, nói một cách thông thường, biến đổi chính là sự thay đổi hoặc thay thế làm cho sự việc tiến triển theo hướng mới, khác hoàn toàn với cái cũ (truyền thống) Từ ý nghĩa trên cặp phạm trù truyền thống và biến đổi chính là sự thay thế, làm khác đi so với ban đầu trong một sự vật, một phong tục, một nền văn hoá, một hiện tượng hoặc một hình thái tín ngưỡng Nhà nghiên cứu văn hóa Nguyễn Từ Chi đã từng nhận xét về sự
biến đổi trong văn hóa Việt Nam: “Có thể nói rằng, không chỉ bây giờ mà trong lịch
sử, văn hóa Việt Nam đã luôn thay đổi và nhiều khi thay đổi rất nhanh là khác, bởi bản thân văn hóa có tính động… Các ẩn tàng văn hóa như giá trị, quan niệm, đức tin, thói quen, phong tục, cấm kỵ… theo thời gian và trong sự tương tác với các nền văn hóa khác, ở mức độ khác nhau, luôn thay đổi theo hướng chối bỏ và tiếp nhận, loại trừ và sáng tạo nhằm duy trì sự tồn tại, gia tăng sự phát triển và bảo toàn tính
Trang 38bản sắc của nền văn hóa đó” [34] Biến đổi của tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề là sự thay đổi niềm tin và thực hành nghi lễ đối với các đấng thần linh hoặc những nhân vật có công trong việc mở mang, phát triển các ngành nghề, sự thay đổi về nhận thức xã hội, thay đổi về không gian thờ tự, thay đổi về nghề nghiệp,về phương thức sản xuất, về sự thích ứng với môi trường đô thị cũng như các điều kiện xã hội khác dẫn đến biến đổi.v.v…
- Khu phố cổ Hà Nội: Là tên gọi mang tính ước lệ chỉ khu 36 phố phường
được nằm ở ngoài hoàng thành Thăng Long Khu vực này được hình thành từ thời
Lý, phát triển mạnh vào thời Lê và các thế kỷ sau đó Đây là khu đô thị tập trung dân cư hoạt động tiểu thủ công nghiệp và buôn bán giao thương, hình thành lên những phố nghề đặc trưng, phố buôn bán chuyên một mặt hàng Ngày nay, khu phố
cổ chiếm gần hết diện tích của quận Hoàn Kiếm Vì vậy, nói đến Hoàn Kiếm là người ta nghĩ tới “khu phố cổ Hà Nội” hay “Khu 36 phố phường”
Theo quyết định số 70 BXD/KT-QH ngày 30 tháng 3 năm 1995 của Bộ Xây dựng, khu Phố cổ Hà nội có phạm vi được xác định: phía Bắc là phố Hàng Đậu; phía Tây là phố Phùng Hưng; phía Nam là các phố Hàng Bông, Hàng Gai, Cầu
Gỗ và Hàng Thùng; phía Đông đường Trần Quang Khải và đường Trần Nhật Duật với tổng diện tích khoảng 100 ha, có 76 tuyến phố thuộc 10 phường: phường Hàng Đào, Hàng Bạc, Hàng Buồm, Hàng Bồ, Hàng Bông, Hàng Gai, Hàng Mã, Đồng Xuân, Cửa Đông, Lý Thái Tổ Khu phố cổ Hà Nội ngày nay là một di sản kiến trúc mang đậm bản sắc truyền thống văn hóa của dân tộc, là niềm tự hào cho cốt cách, linh hồn của thủ đô ngàn năm văn vật
1.3.2 Lý thuyết áp dụng
1.3.2.1 Lý thuyết giao lưu tiếp biến văn hóa (Acculturation): Giao lưu tiếp biến
văn hóa là khái niệm do các nhà nhân học phương Tây đưa ra vào cuối thế kỷ XIX
để chỉ sự tiếp xúc trực tiếp, lâu dài giữa hai nền văn hóa khác nhau và kết quả là sự thay đổi hoặc biến đổi của một số loại hình văn hóa của một hoặc cả hai nền văn hóa đó Giao lưu tiếp biến văn hóa là quá trình trong đó một nền văn hóa thích nghi
Trang 39chịu ảnh hưởng của một nền văn hóa khác bằng cách vay mượn nhiều nét đặc trưng
của nền văn hóa ấy
Sự giao lưu tiếp biến văn hóa là một cơ chế của biến đổi văn hóa, đó là sự trao đổi những đặc tính văn hóa nảy sinh khi các cộng đồng tiếp xúc trực diện và liên tục Các hình mẫu văn hóa nguyên thủy của một hoặc cả hai cộng đồng đều có thể
bị biến đổi thông qua quá trình tiếp xúc này (Redfiedl, Linton, Herskovts, 1936) Tính tích cực của giao lưu tiếp biến văn hóa là tuy các thành tố của những nền văn hóa các tộc người tiếp xúc với nhau và có thể biến đổi, song mỗi nền văn hóa đó vẫn giữ được tính riêng biệt (bản sắc văn hóa) và làm giàu thêm cho nền văn hóa của mình Trong lịch sử các nền văn minh nhân loại đã minh chứng: không thể có một nền văn hóa tiên tiến khi nó được phát triển liên tục trong một địa bàn khép kín, biệt lập, tách rời sự tiếp xúc với các nền văn hóa khác Vì vậy, giao lưu văn hóa có
ý nghĩa quan trọng đối với tiến trình phát triển của một nền văn hóa
Từ lý thuyết giao lưu và tiếp biến văn hóa, có thể sử dụng những yếu tố hợp lý của nó trong đề tài nghiên cứu này, đặc biệt là quan điểm thành tố của những nền văn hóa tiếp xúc với nhau có thể biến đổi, song mỗi nền văn hóa vẫn giữ được bản sắc văn hóa và làm giàu thêm cho nền văn hóa của mình Bởi vì, Thăng Long – Hà Nội là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của cả nước, là nơi hội tụ, tích hợp những tinh hoa văn hoá đặc sắc của bốn phương (ở đây là hình thành và phát triển các nghề) để rồi giao lưu và lan toả ra mọi miền đất nước Chính vì vậy, tiếp cận lý thuyết giao lưu tiếp biến văn hóa là để góp phần nhận diện, phân tích, đánh giá những yếu tố văn hóa của tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề ở quận Hoàn Kiếm đã và đang chịu ảnh hưởng, tiếp thu văn hóa của các vùng miền khác nhau để làm giàu nền văn hóa của Thủ đô nghìn năm tuổi Hơn thế nữa, nghiên cứu về tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề nói chung và giao lưu tiếp biến văn hóa nói riêng cũng như vận dụng các kết quả đạt được vào công tác bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hoá của Thăng Long – Hà Nội, nhằm xây dựng một thủ đô văn minh, hiện đại, giàu truyền thống văn hoá và lịch sử đều phải dựa vào xuất phát từ việc tìm hiểu được các đặc trưng văn hóa truyền thống của từng thành tố văn hóa (vật chất, tinh thần, xã hội,
Trang 40sinh kế) của mọi tầng lớp xã hội để từ đó xác định rõ nguyên nhân của sự biến đổi, đánh giá vai trò và tác động của yếu tố văn hóa (ở đây là tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề) đến phát triển kinh tế - xã hội của thủ đô hiện nay
1.3.2.2 Thuyết chức năng
Lý thuyết chức năng có hai trường phái chính là Trường phái chức năng tâm
lý gắn liền với tên tuổi của Brolinslav Malinowski (1884 - 1942) và trường phái chức năng cấu trúc gắn với tên tuổi của Radcliffe-Brown (1881 - 1955) Theo đó, Malinowski cho rằng, các thiết chế văn hóa giữ vai trò thỏa mãn những nhu cầu cơ bản về thể chất và tinh thần của con người trong một xã hội Vì vậy, mọi vật thể văn hóa (hữu hình hay vô hình) đều có ý nghĩa và chức năng cụ thể nhằm phục vụ cho các cá nhân riêng rẽ hay cho cả cộng đồng xã hội nói chung Nhiệm vụ của các nhà nhân học là hòa nhập vào từng văn hóa, bao gồm cả việc học bản ngữ, để khám phá các chức năng này Không giống như Malinowski, Brown chịu ảnh hưởng của Durkheim nên quan tâm tới các quy luật xã hội phát sinh chi phối ứng xử từ việc nghiên cứu các văn hóa khác nhau hơn là việc nghiên cứu thực địa sâu ở một văn hóa Ông hạn chế nghiên cứu của mình ở phạm vi những cấu trúc xã hội, các nguyên tắc đã tổ chức con người lại thành một xã hội (như quan hệ thân tộc) hay những vai trò và các mối quan hệ thực tế có thể quan sát được một cách trực quan Tiếp thu cách tiếp cận của hai trường phái chức năng nói trên, dân tộc học/nhân học
Âu - Mỹ nghiên cứu các thiết chế văn hóa gắn với sự duy trì trật tự xã hội và sự vận hành của xã hội cũng như những thiết chế xã hội của các tộc người Điều này được thể hiện rõ trong các nghiên cứu về mối quan hệ thân tộc, chế độ đẳng cấp, nhất là chế độ đẳng cấp ở Ấn Độ, những phong tục, tập quán, luật tục… ở các tộc người
Lý thuyết chức năng bàn luận đến nhiều vấn đề, trong đó có nhận mạnh đến chức năng của nghi lễ - một yếu tố quan trọng cấu thành tín ngưỡng, tôn giáo và nội dung chính mà đề tài này quan tâm tìm hiểu Về cơ bản, lý thuyết này cho rằng, nghi
lễ là các hành động nghi thức diễn ra trong bối cảnh thờ cúng tôn giáo Thông thường các nhà nhân học sử dụng “nghi lễ” để nói bất kỳ một hành động nào có nhiều nghi thức với mục đích phi bình quân chủ nghĩa Theo nghĩa rộng nhất, nghi