Để tích cực hóa hoạt động nhận thức của họcsinh và nâng cao hiệu quả dạy học Ngữ văn ở trường phổ thông, có thể sử dụng nhiều cách thức, biện pháp khác nhau, trong đó việc sử dụng dạng đ
Trang 1A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tại điều 28 của Luật giáo dục quy định: “Phương pháp giáo dục phổthông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh,phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp
tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thứcvào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tậpcho học sinh”
Ở trường phổ thông, Ngữ văn là môn học có nhiều ưu thế trong việcgóp phần đào tạo ra những công dân tích cực mà mục tiêu giáo dục đã đặt
ra Vai trò của môn Ngữ văn thể hiện ở chỗ nó có khả năng bồi dưỡng chohọc sinh những tri thức phong phú về thế giới nội tâm đầy biến động, phứctạp; mọi hiện tượng đang diễn ra trước mắt và những kĩ năng, kĩ xảo hếtsức cần thiết trong cuộc sống Để tích cực hóa hoạt động nhận thức của họcsinh và nâng cao hiệu quả dạy học Ngữ văn ở trường phổ thông, có thể sử
dụng nhiều cách thức, biện pháp khác nhau, trong đó việc sử dụng dạng đề
so sánh là một biện pháp khá quan trọng và rất cần được quan tâm sử dụng.
Sở dĩ là vì, việc sử dụng dạng đề so sánh trong dạy học có thể phát huy
được những ưu điểm của phương pháp dạy học hiện đại là làm cho học sinhphải tự nỗ lực hoạt động để tìm tòi, khám phá những tri thức mới qua văn
bản (sau đây gọi chung là ngữ liệu) dưới sự hướng dẫn của giáo viên, qua
đó hình thành cho học sinh kĩ năng Ngữ văn và thái độ tích cực đối với bộmôn này
Hơn nữa, đối với học sinh lớp 12, các em đang đứng trước kì thi quantrọng nhất của cuộc đời học sinh – kì thi THPT Quốc gia Ở lứa tuổi này,các em đã phát triển tương đối đầy đủ về thể chất nên trình độ tư duy vànhận thức cũng đã tương đối toàn diện Qua năm học lớp 10, 11 các em đãđược làm quen và bước đầu trang bị cho mình cách học mới ở trường phổ
thông khác với cách học ở các lớp dưới Vì vậy, việc sử dụng dạng đề so
Trang 2sánh trong dạy học Ngữ văn – nhất là dạy ôn tập, dạy phụ đạo để cung cấp
kiến thức, kỹ năng cho học sinh trong kỳ thi THPT Quốc gia - có nhữngthuận lợi nhất định và cũng rất cần thiết để phát huy được tính tích cực, khảnăng tư duy và tinh thần tự học của học sinh, phù hợp với mục tiêu củagiáo dục
Và, để thực hiện một cách quyết liệt, triệt để, toàn diện việc đổi mớigiáo dục, nhất là đổi mới ra đề kiểm tra, đánh giá, đầu năm học 2015 –
2016, Sở GD – ĐT Gia Lai đã tập huấn nội dung Dạy học theo Chuyên đề.
Vì vậy, việc giới thiệu, định hướng cho các em học sinh làm quen với dạng
đề so sánh cũng như cách xử lí dạng đề so sánh là rất cần thiết và mang
tính cấp bách để phục vụ tốt cho các em học sinh ôn thi kỳ thi THPT Quốc
gia đang tới gần Đồng thời, qua đó cũng góp phần đẩy mạnh việc Dạy học
theo Chuyên đề.
Đặc biệt, đối với đối tượng học sinh trường THPT Đinh Tiên Hoàng –Krông Pa – Gia Lai, khả năng tiếp thu cũng như tính tích cực trong học tập
rất hạn chế thì việc sử dụng dạng đề so sánh trong dạy học bộ môn Ngữ
văn càng được chú trọng hơn để góp phần giúp học sinh định hướng hoạtđộng và tạo điều kiện để các em phát huy khả năng tự giác, tích cực trong
việc khám phá kiến thức trong mỗi bài tập của dạng đề so sánh.
Từ những lí do trên, tôi chọn đề tài “Giới thiệu dạng đề so sánh môn
Ngữ văn 12, giúp học sinh ôn thi tốt kỳ thi THPT Quốc gia”, góp phần
vào đẩy mạnh hơn nữa việc đổi mới phương pháp và nâng cao hiệu quả dạy
học Ngữ văn, nhất là Ngữ văn 12 bằng việc sử dụng dạng đề so sánh cũng như cách giải quyết các câu hỏi của dạng đề so sánh.
2 Tình hình nghiên cứu
Trong quá trình giảng dạy Ngữ văn cấp THPT, nhất là Ngữ văn 12,vào việc ôn thi kỳ thi THPT Quốc gia, các đồng nghiệp đã sử dụng nhiềuphương pháp, phương tiện dạy học, tuy nhiên những phương pháp, phươngtiện dạy học mới chưa được tiếp cận và áp dụng một cách rộng rãi, hiệu
Trang 3quả Việc nghiên cứu và thử nghiệm đề tài này có ý nghĩa lí luận và thựctiễn cấp thiết cũng như tính khả thi cao
3 Mục đích, đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu, phạm vi và giá trị
- Góp phần nâng cao kết quả dạy học của giáo viên; kết quả học tậpcủa học sinh, nhất là kết quả các bài kiểm tra, đánh giá và kết quả của kỳthi THPT Quốc gia
b Đối tượng nghiên cứu
- Giáo viên trong việc giảng dạy
- Học sinh trong việc học tập
3.2 Nhiệm vụ
- Nghiên cứu việc sử dụng dạng đề so sánh môn Ngữ văn 12, giúp
học sinh ôn thi tốt kỳ thi THPT Quốc gia.
- Đưa ra hệ thống ngữ liệu và giải quyết các câu hỏi của dạng đề so
sánh qua thực tế kiểm nghiệm của bản thân trong quá trình thực hiện đổi
mới dạy học
- Định hướng giải quyết những câu hỏi đã nêu ra đối với mỗi ngữliệu trong đề tài
3.3 Phạm vi của đề tài
- Ngữ liệu được đưa ra là các tác phẩm, đoạn trích; nhân vật, chi tiết,
sự việc tiêu biểu, tình huống trong các tác phẩm ở chương trình Ngữ văn
11 và Ngữ văn 12 (Ban cơ bản)
- Giới hạn trong dạng đề so sánh.
3.4 Giá trị sử dụng của đề tài
Trang 4- Đề tài dùng ứng dụng trực tiếp cho công việc dạy học của giáo viênNgữ văn nói chung, Ngữ văn 12 nói riêng trong hệ thống giáo dục phổthông và đặc biệt dùng làm tài liệu tham khảo trong việc học tập của họcsinh lớp 12 ở trường THPT Đinh Tiên Hoàng – Krông Pa – Gia Lai, giúpcác em ôn thi thật tốt kỳ thi THPT Quốc gia đang tới gần
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thử nghiệm - thực tiễn
- Phương pháp tổng hợp, phân tích, chứng minh
B PHẦN NỘI DUNG
1 Quan niệm về dạng đề so sánh môn Ngữ văn 12 kỳ thi THPT
Quốc gia
a Dạng đề so sánh là gì?
Trang 5- Là những dạng câu hỏi mà trong quá trình giải quyết vấn đề cần chỉ
ra được những nét tương đồng cũng như những điểm khác biệt của hai tácphẩm, đoạn trích, nhân vật, tình huống, chi tiết, sự việc tiêu biểu trở lên
- Trong phạm vi của đề tài, tôi mới chỉ đề cập tới dạng đề so sánh ở
một số tác phẩm, đoạn trích trong chương trình Ngữ văn 12 (Ban cơ bản)
b Chức năng của dạng đề so sánh môn Ngữ văn 12 kỳ thi THPT Quốc gia
- Giúp chúng ta bám sát nội dung bài học trong quá trình giảng dạy
c Các dạng đề so sánh môn Ngữ văn 12 kỳ thi THPT Quốc gia
- Dạng đề so sánh dựa vào hai đoạn trích;
- Dạng đề so sánh dựa vào hai nhân vật;
- Dạng đề so sánh dựa vào tình huống, chi tiết, sự kiện tiêu biểu.Tuy nhiên, trong khuôn khổ có hạn của phạm vi đề tài, tôi chỉ đề cậpđến việc giới thiệu dạng đề so sánh qua các tác phẩm, đoạn trích trongchương trình Ngữ văn 12 THPT (Ban cơ bản), để giúp các em ôn thi thậttốt và đạt kết quả thật cao trong kỳ thi THPT Quốc gia đang cận kề
2 Xây dựng dạng đề so sánh môn Ngữ văn 12, giúp học sinh ôn thi tốt kỳ thi THPT Quốc gia
2.1 Nguyên tắc xây dựng dạng đề so sánh môn Ngữ văn 12, giúp học sinh ôn thi tốt kỳ thi THPT Quốc gia
- Xây dựng dạng đề so sánh phải phù hợp với mục tiêu, nội dung bài học
Trang 6+ Câu hỏi của dạng đề so sánh phải được xây dựng dựa trên mục tiêubài học về kiến thức, kĩ năng, thái độ Câu hỏi của dạng đề so sánh là mộtbiện pháp để học sinh thực hiện nhằm đạt được mục tiêu đó Việc xây dựngcâu hỏi của dạng đề so sánh phải giúp học sinh đạt được mục tiêu này thì
nó mới có giá trị thực tiễn
+ Nội dung trong câu hỏi của dạng đề so sánh phải được xây dựng trênnội dung bài học Câu hỏi của dạng đề so sánh phải giúp học sinh khai thác
và nắm bắt được những nội dung cơ bản của tác phẩm Bên cạnh việc sosánh giữa hai tác phẩm, đoạn trích, nhân vật với nhau thì cũng cần chọnnhững tình huống, chi tiết, sự việc tiêu biểu cũng như những hình ảnh nổibật để xây dựng câu hỏi của dạng đề so sánh Những nội dung này phảiđược học sinh tự khám phá, nhận thức và nắm bắt để có thể chuyển tải nộidung của cả bài hay một phần của bài học
- Xây dựng dạng đề so sánh phải phù hợp với trình độ của học sinh
Xây dựng dạng đề so sánh cần phải xuất phát từ đặc điểm tâm lí, trình
độ nhận thức của học sinh để đưa ra những yêu cầu phù hợp Các câu hỏiyêu cầu phân tích, tổng hợp, chứng minh, so sánh phải làm cho học sinh sửdụng các thao tác tư duy như phân tích, so sánh, đối chiếu, tổng hợp, đểthực hiện mệnh lệnh Tuy nhiên, các yêu cầu đó cũng phải vừa đảm bảotính vừa sức, vừa đảm bảo tính phát triển tư duy của học sinh, các côngviệc không quá khó làm cho học sinh không thể tự làm được, gây chán nản
mà cũng không quá dễ làm học sinh cảm thấy nhàm chán và coi thườngnhiệm vụ
- Xây dựng dạng đề so sánh phải đảm bảo tính khoa học, tính chính xác và tính thẩm mĩ
+ Tính khoa học đòi hỏi các thông tin trong câu hỏi phải mang nộidung khoa học, các vấn đề trong hệ thống câu hỏi có mối liên hệ chặt chẽvới nội dung tác phẩm được trình bày một cách logic, có tính khoa học
Trang 7+ Tính chính xác yêu cầu những thông tin, nội dung trong câu hỏi phảiđúng, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, đáng tin cậy dựa trên những chi tiết,
sự việc tiêu biểu cũng như những hình ảnh nổi bật trong văn bản của tácphẩm
+ Tính thẩm mĩ của dạng đề so sánh được thể hiện ở chỗ qua hệ thốngcâu hỏi đã kích thích lòng yêu thích, sự đam mê và khả năng sáng tạo củacác em đối với bộ môn Ngữ văn Từ đó, giúp các em không ngừng tích cựcđọc, khám phá những tri thức phong phú mà bộ môn Ngữ văn mang lại
- Xây dựng dạng đề so sánh phải nêu được nhiệm vụ học tập của học sinh
Đặt câu hỏi chính là nêu nhiệm vụ học tập cho học sinh, được cụ thểhóa bằng các câu hỏi của dạng đề so sánh Các nhiệm vụ này xuất phát từnội dung của bài học – nội dung của tác phẩm Thông thường, giáo viên đặt
ra câu hỏi để học sinh biết phải làm gì, làm như thế nào, dựa trên cơ sở nào
2.2 Giới thiệu dạng đề so sánh môn Ngữ văn 12, giúp học sinh ôn thi tốt kỳ thi THPT Quốc gia
Như trên đã nói, trong khuôn khổ có hạn của phạm vi đề tài, tôi mớichỉ giới thiệu 08 đề (trong tổng số 25 đề mà bản thân tôi đã biên soạn đểdạy ôn thi cho các em học sinh của trường THPT Đinh Tiên Hoàng –Krông Pa – Gia Lai), để giúp các em ôn thi tốt và đạt kết quả cao trong kỳthi THPT Quốc gia
Trang 8Sau đây, thông qua một số tác phẩm, đoạn trích trong chương trìnhNgữ văn 12, (Ban cơ bản), tôi sẽ lần lượt nêu ra và gợi ý giải quyết câu hỏicủa đề tài.
2.2.1 Đề 1: Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn thơ sau:
“Người đi Châu Mộc chiều sương
ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”
(Trích Tây Tiến - Quang
(Trích Việt Bắc - Tố
Hữu, Ngữ văn 12, Tập một, NXBGiáo dục Việt Nam, 2012, tr110)
Gợi ý:
a Vài nét về tác giả và tác phẩm
- Quang Dũng là một nghệ sĩ đa tài với hồn thơ tinh tế, phóng khoáng,
mang đậm chất lãng mạn Tây Tiến là một sáng tác đặc sắc của Quang
Dũng, góp phần làm nên tên tuổi nhà thơ Bài thơ kết tinh nỗi nhớ da diết
về đồng đội, về những ngày tháng không thể nào quên của đoàn quân TâyTiến, gắn với miền Tây hùng vĩ, hiểm trở và thơ mộng
- Tố Hữu là lá cờ đầu của thơ ca cách mạng với phong cách trữ tình chính
trị Bài thơ Việt Bắc là một thành công xuất sắc của ông Bài thơ thể hiện
một cách tinh tế tình cảm cách mạng giữa những người kháng chiến vàngười dân Việt Bắc
b Về đoạn thơ trong bài Tây Tiến
- Nội dung: Vẻ đẹp thơ mộng của thiên nhiên và con người miền Tây trongnỗi nhớ của người lính Tây Tiến:
+ Thiên nhiên hoang sơ, gợi cảm: những bông lau chập chờn, lay động trênnhững bến bờ như cũng có hồn; những bông hoa dập dềnh trên dòng nước
Trang 9lũ cũng mang hồn cảnh vật quyến luyến, tình tứ (hoa đong đưa chứ không phải là đung đưa)
+ Nổi lên trên nền cảnh của bức tranh thiên nhiên thơ mộng là hình ảnhmột dáng người vững chãi trên con thuyền độc mộc, giữa dòng nước lũ.Hình ảnh ấy tạo thêm một nét đẹp rắn rỏi, khoẻ khoắn cho bức tranh thiênnhiên thơ mộng, mềm mại, đẹp mơ màng
+ Nỗi nhớ thể hiện tình cảm gắn bó, khăng khít với thiên nhiên, con ngườicuộc sống miền Tây Qua đó ta thấy được tâm hồn tinh tế, nhạy cảm, hàohoa của người lính Tây Tiến
- Nghệ thuật
+ Hình ảnh được sáng tạo bằng bút pháp lãng mạn, chấm phá, gợi tả
+ Ngôn ngữ có những kết hợp từ độc đáo mới lạ, tạo sắc thái mới cho từ
ngữ (hoa đong đưa)
+ Giọng thơ bâng khuâng, man mác, những câu hỏi tu từ (có nhớ, có
thấy…) gợi lại cảnh chia tay trong một chiều sương mờ bao phủ nơi Châu
Mộc
c Về đoạn thơ trong bài Việt Bắc
- Nội dung: Tình cảm của Việt Bắc đối với người kháng chiến
+ Trong cấu tứ toàn bài, tác giả đã tưởng tượng, sáng tạo ra một đôi bạntình Mình - Ta, tưởng tượng ra kẻ ở lại là Việt Bắc và người ra đi là nhữngcán bộ về xuôi hát đối đáp với nhau Đoạn thơ vừa là sự ướm hỏi, vừa là sựgợi nhớ bộc lộ tình cảm gắn bó, nhớ mong, nghĩa tình, chung thuỷ của ViệtBắc dành cho người kháng chiến
+ Qua lời nhắn gửi ấy là hình ảnh Việt Bắc hoang sơ với những cảnh vật
(hắt hiu lau xám), sản vật mộc mạc, gần gũi (Trám bùi để rụng, măng mai
để già) Khung cảnh ấy càng nổi bật con người Việt Bắc "đậm đà lòng
son", cưu mang cho cách mạng, cùng chung mối thù, cùng chịu đựng giankhổ, hy sinh
- Nghệ thuật
Trang 10+ Sử dụng thành công thể thơ lục bát với việc kết hợp nhuần nhuyễn màusắc cổ điển và màu sắc dân gian, mang âm hưởng tha thiết, sâu lắng.
+ Hình ảnh thơ giản dị, gần gũi gợi cảm; tổ chức lời thơ theo phép tiểu đối
cân xứng, hài hoà Những tiểu đối khi tương đồng (Trám bùi để rụng,
măng mai để già), khi tương phản (Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son) làm
nổi bật tấm lòng đồng bào Việt Bắc dành cho cán bộ, chiến sĩ, cho cáchmạng
+ Điệu thơ lục bát uyển chuyển cân xứng hài hoà, điệp từ, điệp ngữ tạo nêngiọng điệu trữ tình thiết tha, êm ái, ngọt ngào mang âm hưởng lời ru
d Về sự tương đồng và khác biệt giữa hai đoạn thơ
- Tương đồng: Cả hai đoạn thơ đều thể hiện nỗi nhớ da diết, sâu nặng vớimột bút pháp nghệ thuật điêu luyện, tinh tế
- Khác biệt: Đoạn thơ trong bài Tây Tiến là lời nhắn nhủ của người đi, được
thể hiện bằng thể thơ thất ngôn với một bút pháp lãng mạn, hào hoa…
Đoạn thơ trong bài Việt Bắc là lời nhắn gửi của người ở lại được thể hiện
bằng thể thơ lục bát, ngôn ngữ, hình ảnh, giọng điệu mang đậm màu sắcdân tộc, truyền thống
e Lý giải sự tương đồng và khác biệt
- Tương đồng vì: Hai tác giả đều là những nhà thơ rất mực tài năng, đềutham gia kháng chiến chống Pháp, đều gắn bó sâu nặng với những vùng đất
- con người kháng chiến
- Khác biệt vì: Bản chất của nghệ thuật là sự sáng tạo, “Mỗi tác phẩm vănhọc phải là một phát minh về hình thức và một khám phá về nội dung” (nhàvăn Lêônit Lêônốp); Do nét riêng của hoàn cảnh, cảm hứng và phong cáchnghệ thuật độc đáo của mỗi nhà thơ
2.2.2 Đề 2: Phân tích hình tượng tập thể những người lính trong hai
đoạn thơ sau:
“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
“Những đường Việt Bắc của ta Đêm đêm rầm rập như là đất rung
Trang 11Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
(Trích Việt Bắc
-Tố Hữu, Ngữ văn 12, Tập một, NXBGiáo dục Việt Nam, 2012, tr112)
Gợi ý:
a Giới thiệu về tác giả, tác phẩm và hai đoạn thơ
- Tố Hữu là cánh chim đầu đàn của thơ ca cách mạng Việt Nam Thơ TốHữu có sức chinh phục mạnh mẽ bởi niềm say mê lí tưởng, khuynh hướng
sử thi, cảm hứng lãng mạn, tính dân tộc đậm đà
- Quang Dũng là hồn thơ trung hậu, hào hoa thanh lịch, yêu tha thiết quêhương đất nước Ông cũng có khuynh hướng khai thác vẻ đẹp lãng mạnanh hùng
- Việt Bắc và Tây Tiến là thành công xuất sắc của thơ cách mạng Việt Namthời kỳ kháng chiến chống Pháp Cả hai tác phẩm đều khắc họa hình tượngtập thể những con người Việt Nam anh hùng trong cuộc kháng chiến
- Đây là hai đoạn thơ tiêu biểu trong hai bài thơ khắc họa vẻ đẹp của tập thểnhững con người Việt Nam anh hung
b Đoạn thơ trong bài Việt Bắc
- Vị trí của đoạn: là lời người ra đi đáp lại người ở lại, thể hiện nỗi nhớ ViệtBắc trong những ngày chiến dịch
- Đặc điểm của hình tượng tập thể anh hùng trong đoạn thơ:
+ Không gian xuất hiện: những con đường Việt Bắc
Trang 12+ Thời gian: ban đêm cho thấy sự gian khổ, và sự bất thường của chiếntranh.
+ Hình tượng tập thể của những người lính đông đảo và có sức mạnh laytrời chuyển đất, ánh sáng lí tưởng đẹp đẽ, tâm hồn lãng mạn (chú ý các
hình ảnh: rầm rập như là đất rung, điệp điệp trùng trùng, ánh sao đầu
súng bạn cùng mũ nan).
+ Hình tượng tập thể của đoàn dân công phục vụ cho chiến dịch miêu tảtrong ánh sáng của ngày hội kháng chiến và ánh sáng của tuơng lai, họ cótrái tim cách mạng rực lửa và sức mạnh san phẳng mọi khó khăn (Chú ý
các hình ảnh: đỏ đuốc từng đoàn, bước chân nát đá, đèn pha bật sáng).
- Cảm xúc: tự hào tin tuởng, lạc quan: Hình ảnh “Những đường Việt Bắc
của ta”, “Đèn pha bật sáng như ngày mai lên”.
- Nghệ thuật biểu hiện là những yếu tố thể hiện tính dân tộc trong thơ: thểthơ lục bát, vận dụng thành ngữ, từ láy, tiểu đối, hình ảnh ước lệ Đổi mớithơ lục bát bằng cảm hứng anh hùng ca và giọng điệu hào hùng Xây dựnghình tượng tập thể và bút pháp phóng đại mang màu sắc sử thi
c Đoạn thơ trong bài Tây Tiến
- Vị trí của đoạn thơ: là đoạn ba của bài thơ Sau khi khắc họa hình tượngngười lính trên con đường hành quân nhà thơ đã khắc họa tượng đài tập thểcủa những người lính Tây Tiến
- Đặc điểm của hình tượng:
+ Người lính Tây Tiến được khắc họa như những con người bình dị nhất có
những giới hạn không thể vượt qua như bệnh tật “không mọc tóc, xanh màu
lá, anh về đất”.
+ Những con người có vẻ đẹp phi thường, hào hùng: dữ oai hùm, mắttrừng
+ Lãng mạn, hào hoa: đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
+ Lí tưởng sống cao đẹp: sự hi sinh tự nguyện “Chiến trường đi chẳng tiếc
đời xanh" Bằng trí tưởng tượng của Quang Dũng, người lính được khoác
Trang 13trên mình tấm áo bào sang trọng của các chiến tướng mặc khi ra trận, mang
vẻ đẹp của chủ nghĩa anh hùng cổ điển Sự ra đi của người lính nhẹ nhàngthanh thản như là sự trở về với đất mẹ yêu thương Âm thanh tiếng gầm củadòng sông Mã như khúc tráng ca đưa người lính về nơi an nghỉ Cảm xúctiếc thương, đau đớn, nhưng vẫn tràn đầy niềm tự hào
- Nghệ thuật biểu hiện: sắc thái cổ điển với thể hành, hình ảnh ước lệ, từHán Việt, vẻ đẹp lãng mạn và bi tráng
d Những điểm tương đồng và khác biệt của hình tượng tập thể anh hùngtrong hai đoạn thơ
- Tương đồng: đều khắc họa hai hình tượng tập thể với phẩm chất anhhùng, dũng cảm trái tim yêu nước nồng nàn và sẵn sàng hi sinh cho lýtưởng, tâm hồn lãng mạn Khẳng định lẽ sống cao đẹp sẵn sàng hiến dângtuổi thanh xuân cho đất nước
+ Cảm xúc tự hào ngợi ca
+Bút pháp lãng mạn và mang âm hưởng sử thi
- Khác biệt:
+ Tập thể anh hùng trong đoạn thơ của bài Việt Bắc hội tụ sức mạnh của cảdân tộc, sức mạnh của quá khứ, được khắc họa trong không khí ra trận, âmhưởng anh hùng ca
+ Tập thể anh hùng trong bài thơ Tây Tiến hội tụ sức mạnh của tuổi trẻViệt Nam và mang nét rất riêng của đoàn binh Tây Tiến - mang vẻ đẹp củathanh niên trí thức Hà Nội Được khắc họa trong mất mát hi sinh nhưngvẫn đẹp, âm hưởng của đoạn thơ là âm hưởng bi tráng
e Đánh giá
- Xây dựng hình tượng tập thể anh hùng, hai đoạn thơ góp phần thể hiệnđặc điểm của thơ ca cách mạng là khuynh hướng sử thi vẻ đẹp lãng mạn
- Thể hiện lòng yêu nuớc, đề cao lí tưởng sống cao đẹp của con người
- Góp phần khẳng định giá trị là bản anh hùng ca của cuộc kháng chiến củahai bài thơ
Trang 142.2.3 Đề 3: Cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp của nhân vật cụ Mết
(Rừng xà nu – Nguyễn Trung Thành) và nhân vật chú Năm (Những đứa
con trong gia đình – Nguyễn Thi).
Gợi ý:
a Vài nét về tác giả, tác phẩm, nhân vật
- Nguyễn Trung Thành là nhà văn tiêu biểu cho khuynh hướng sử thi vàcảm hứng lãng mạn của văn học 1945-1975 Rừng xà nu là truyện ngắnxuất sắc của ông viết về cuộc chiến đấu bất khuất và sức sống bất diệt củanhân dân Tây Nguyên thời chống Mĩ Cụ Mết là nhân vật khó có thể phai
mờ trong tâm trí nguời đọc
- Nguyễn Thi là nhà văn của nông thôn Nam Bộ thời chống Mĩ, với nhữngsáng tác vừa giàu chất hiện thực vừa đằm thắm trữ tình Những đứa controng gia đình là truyện ngắn xuất sắc của ông, viết về sự gắn bó sâu nặnggiữa tình cảm gia đình và tình yêu nước, giữa truyền thống gia đình vớitruyền thống dân tộc tạo nên sức mạnh tinh thần to lớn của con người ViệtNam Chú Năm đã tạo được ấn tượng sâu sắc trong lòng độc giả
b Về nhân vật cụ Mết
- Giới thiệu chung: dù không được miêu tả nhiều, nhưng nhân vật cụ Mết
có vai trò quan trọng trong việc thể hiện tư tưởng của tác phẩm Nhân vậtđược khắc họa sắc nét, chân thực, mang ý nghĩa biểu tượng
- Vẻ đẹp của nhân vật:
+ Mang dáng dấp những thủ lĩnh anh hùng trong các trường ca, truyện cổTây Nguyên;
+ Kết tinh những phẩm chất tốt đẹp lâu đời của làng;
+ Là lãnh tụ tinh thần của buôn làng, là người lãnh đạo cuộc nổi dậy củadân làng Xô Man; gìn giữ và giáo dục truyền thống bất khuất của làng, đúckết và truyền lại những chân lí trong cuộc đấu tranh chính nghĩa của làng
c Về nhân vật chú Năm
Trang 15- Giới thiệu chung: Tuy không phải nhân vật chính, nhưng chú Năm vẫn cóvai trò quan trọng trong việc thể hiện tư tưởng của tác phẩm Nhân vậtđược khắc họa giản dị với ngôn ngữ đậm chất Nam Bộ.
- Khác biệt: Nhân vật cụ Mết tượng trưng cho tinh thần Tây Nguyên bấtkhuất, được tô đậm ở những phẩm chất của một thủ lĩnh miền núi Nhânvật chú Năm kết tinh những phẩm chất con người Nam Bộ, được khắc sâu
ở những vẻ đẹp của bậc cha chú trong một gia đình lớn ở miền xuôi
2.2.4 Đề 4: Phân tích nhân vật Mai (Rừng xà nu –Nguyễn Trung Thành) và chị Chiến (Những đứa con trong gia đình – Nguyễn Thi) để
thấy vẻ đẹp tâm hồn và tinh thần cách mạng của người con gái Việt Namtrong kháng chiến chống Mỹ
Gợi ý:
a Giới thiệu chung về hai tác phẩm, nhân vật
- Rừng xà nu: Nhà văn Nguyên Ngọc (Nguyễn Trung Thành) có duyên vớiTây Nguyên Cả hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, NguyênNgọc đã sống và chiến đấu ở mảnh đất hùng vĩ này Hai tác phẩm hay nhấtcủa Nguyên Ngọc đều viết về Tây Nguyên là “Đất nước đứng lên” và
“Rừng xà nu”.Truyện “Rừng xà nu” viết về những anh hùng ở làng Xô
Trang 16Man trong cuộc kháng chiến chống Mĩ Là tác phẩm tiêu biểu cho khuynhhướng sử thi và cảm hứng lãng mạn của văn học Việt Nam giai đoạn 1954-
1975 Nhân vật Mai trong tác phẩm không được khắc họa nhiều nhưng đãthể hiện vẻ đẹp của một người con gái Tây Nguyên trong kháng chiến: tìnhyêu cách mạng, tình yêu gia đình, và một bản lĩnh kiên cường tưởng không
gì có thế quật ngã được
- Những đứa con trong gia đình : Tác phẩm được viết ngay trong nhữngngày chiến đấu ác liệt khi ông công tác với tư cách là một nhà văn- chiến sĩ
ở Tạp chí Văn nghệ Quân giải phóng năm 1966 Sau được in trong Truyện
và kí NXB Văn học Giải phóng, 1978 Có thể nói, Nguyễn Thi là một trongnhững nhà văn thành công nhất khi viết về hình tượng người phụ nữ Nam
bộ “giỏi việc nước, đảm việc nhà” trong cuộc kháng chiến chống Mĩ anhdũng, kiên cường trước kẻ thù, nhân hậu đảm đang trong gia đình Nhânvật Chiến cũng vậy, ba má đều chết trong chiến tranh, Chiến đã thay mánuôi nấng và dạy dỗ các em không những vậy Chiến còn tham gia du kích
từ khi còn nhỏ, hăng hái tòng quân giết giặc
- Nhân vật Chiến: