Những thắng lợi quân sự nổi bật nào có ý nghĩa chiến lược làm thất bại âm mưu của đế quốc Mĩ trong các chiến lược chiến tranh mà đế quốc Mĩ đã thực hiện ở Việt Nam?... Để tiến hành hòa h
Trang 1A PHẦN THỨ NHẤT : ĐẶT VẤN ĐỀ
Bộ môn lịch sử ở trường phổ thông góp phần không nhỏ vào việc giáo dục thế hệ trẻ theo mục tiêu chung, đáp ứng nhu cầu nhận thức xã hội và hành động hợp quy luật của học sinh Là thành viên của xã hội, học sinh cần quan tâm đến vận mệnh xã hội, đến những diễn biến tác động đến quá trình sống, học tập, lao động của mình Những hiểu biết về quá khứ sẽ giúp học sinh hiểu hiện tại sâu sắc hơn, hành động đúng đắn và sẽ đóng góp sức mình trong công cuộc xây dựng đất nước; Bởi vì, lịch sử là sự kế tục và phát triển những tinh hoa của các thế hệ, thế hệ sau kế thừa những di sản vật chất, những giá trị tinh thần của thế hệ trước
Trong giai đoạn hiện nay, càng mở rộng giao lưu, hội nhập quốc tế càng cao, càng cần thiết phải giữ vững bản sắc dân tộc, giáo dục học sinh lòng yêu nước, tình yêu quê hương, lòng tự hào dân tộc, từ đó các em sống có trách nhiệm hơn đối với bản thân, gia đình, cộng đồng, xóm làng, đất nước Đó là một phần trách nhiệm thuộc về Thầy, Cô giáo dạy bộ môn Lịch sử
Mặc dù chịu tác động của nền kinh tế thị trường và của xu hướng phát triển nghề nghiệp, nhưng trong thời gian qua số lượng học sinh tham gia thi Đại học, Cao đẳng khối C
và tham gia các kì thi học sinh giỏi vẫn còn nhiều, một số bài thi có chất lượng khá – tốt Điều đó phản ánh sự quan tâm, định hướng đúng của phụ huynh học sinh, của ngành giáo dục
và của nhà trường cũng như sự ham muốn học tập của học sinh Tuy nhiên, để có kết quả như mong muốn trong các kì thi đòi hỏi học sinh không những nỗ lực học tập, tự nghiên cứu và rèn luyện, mà còn phải có sự giúp đỡ của Thầy, Cô giáo trong việc ôn luyện kiến thức từ cơ bản đến nâng cao thông qua các bài giảng và bài tập nhận thức
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên và những kinh nghiệm qua thực tiễn giảng dạy nhiều năm, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc luyện tập của
học sinh trong các kì thi học sinh giỏi, tôi đã biên soạn một số câu hỏi, bài tập lịch sử lớp 12 – lịch sử việt Nam, giai đoạn từ năm 1945 đến năm 2000
B PHẦN THỨ HAI: NỘI DUNG
1 CƠ SỞ THỰC HIỆN
1.1 Cơ sở khoa học
Luật giáo dục sửa đổi, bổ sung năm 2010 quy định: “ Mục tiêu giáo dục là đào tạo con
Trang 2trung thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng nhu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc”
Như vậy, mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam để xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa (XHCN), hòa nhập vào khu vực và thế giới giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, định hướng XHCN, bảo vệ và phát huy bản sắc dân tộc trong văn hóa và các lĩnh vực khác
Mục tiêu của giáo dục THPT là “Nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục THCS, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường về
kĩ năng và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề đi vào cuộc sống lao động”
Mục tiêu môn lịch sử ở bậc phổ thông là nhằm giúp cho học sinh có được những kiến thức cơ bản, cần thiết về lịch sử dân tộc, lịch sử thế giới, lịch sử địa phương Qua đó rèn luyện, bồi dưỡng kiến thức từ cơ bản đến nâng cao, từ dễ đến khó Góp phần hình thành ở học sinh thế giới quan khoa học, giáo dục lòng yêu quê hương, đất nước, truyền thống dân tộc, truyền thống Cách mạng; bồi dưỡng các năng lực tư duy, hành động, thái độ ứng xử đúng đắn trong đời sống xã hội Thực hiện đúng quan điểm của UNESCO về bốn trụ cột của giáo dục: Học để biết, học để làm, học để cùng chung sống và học để làm người
1.2 Cơ sở thực tiễn
Ý nghĩa và vai trò của môn Lịch sử đối với việc giáo dục thế hệ trẻ là điều đã được xác nhận về lý luận và thực tiễn ở nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới từ trước đến nay Đáng tiếc là trong thời gian gần đây, chất lượng giảm sút nhiều về mặt biết, hiểu, tự hào với quá khứ dân tộc và noi gương lịch sử trong cuộc sống hiện tại Nguyên nhân chủ quan và khách quan có nhiều Song một trong những nguyên nhân chủ yếu gây nên thực trạng dạy Sử, học Sử ngày nay là trách nhiệm của giáo viên và học sinh chưa nhận thức đầy đủ, toàn diện vai trò, ý nghĩa của môn học, nhất là chưa đổi mới phương pháp dạy học Hiện tượng “Thầy đọc, trò chép”, học thuộc mà không nhớ, không hiểu, không làm được bài thể hiện khá rõ nét trong việc kiểm tra, đánh giá, cũng như trong các kì thi: thi tốt nghiệp THPT, thi học sinh giỏi cấp tỉnh, thành phố, thi ôlimpic, khu vực và quốc gia Tuy vậy, chúng ta không hoang mang, quá lo lắng Bởi vì, bên cạnh những thiếu sót, những hạn chế nêu trên vẫn có nhiều học sinh học giỏi Sử, yêu thích bộ môn lịch sử Nhiều bài thi, nhất là kỳ thi học sinh giỏi quốc gia môn Lịch sử rất xuất sắc Vấn đề là phải nâng cao nhận thức về môn Lịch sử và đổi mới phương pháp bồi dưỡng, ôn tập bộ môn như thế nào cho có hiệu quả
Trang 3Xuất phát từ tình hình thực tiễn và yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục bộ môn, tôi lựa chọn đề tài “Bài tập lịch sử dành ôn luyện thi học sinh giỏi, lớp 12 – Lịch sử Việt Nam, giai đoạn từ năm 1945 đến 2000”
2 NỘI DUNG:
2.1 Phần câu hỏi, bài tập:
Câu 1 Tại sao nói ngay khi mới thành lập, nước ta đã rơi vào tình thế “Ngàn cân treo sợi
tóc” Đảng và chính phủ ta đã thực hiện chủ trương, sách lược như thế nào trong cuộc đấu tranh chống ngoại xâm qua hai thời kì: trước ngày 6/3/1946 và từ 6/3/1946, tác dụng của nó?
Câu 2 Bằng những sự kiện lịch sử cụ thể, hãy làm sáng tỏ vai trò của chủ tịch Hồ Chí Minh
trong cuộc đấu tranh nhằm bảo vệ chính quyền, giữ vững độc lập dân tộc những năm đầu tiên sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 (từ ngày 2/9/1945 đến 19/12/1946)
Câu 3 Đường lối kháng chiến chống thực dân pháp của Đảng cộng sản Đông Dương được
thể hiện trong những văn kiện nào? Phân tích tính chất chính nghĩa và tính nhân dân của đường lối kháng chiến chống pháp
Câu 4 Vì sao Đảng ta quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954? Bằng những sự
kiện lịch sử hãy chứng tỏ Điện Biên Phủ thắng lợi là đỉnh cao của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược
Câu 5 Những thắng lợi quân sự nào của quân và dân ta đã tác động trực tiếp đến việc triệu
tập Hội nghị và kí kết Hiệp định Pa ri năm 1973 về Việt Nam?
Thắng lợi lớn nhất trong Hiệp định Pa ri là gì? Ý nghĩa lịch sử của Hiệp định Pa ri
Câu 6 Nêu những điểm giống và khác nhau giữa Hiệp định Giơnevơ năm 1954 về Đông
Dương và Hiệp định Pa ri năm 1973 về Việt Nam: Hoàn cảnh kí kết, nội dung cơ bản và tương quan lực lượng ở miền Nam Việt Nam sau khi Hiệp định có hiệu lực
Câu 7 Quân và dân miền Bắc đã đánh bại hai cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc của đế
quốc Mĩ như thế nào? Nêu ý nghĩa của chiến thắng đó đối với tiến trình phát triển của cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước (1954 – 1975)
Câu 8 Sau Hiệp định Pari năm 1973, quân dân miền Nam đã giành những thắng lợi như thế
nào? Tác dụng của nó đối với cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân năm 1975
Câu 9 Hãy nêu nội dung các giai đoạn phát triển của cách mạng miền Nam từ năm 1954 đến
năm 1975 Những thắng lợi quân sự nổi bật nào có ý nghĩa chiến lược làm thất bại âm mưu của đế quốc Mĩ trong các chiến lược chiến tranh mà đế quốc Mĩ đã thực hiện ở Việt Nam?
Trang 4Câu 10 Vì sao Đảng ta thực hiện đường lối đổi mới đất nước? Nêu nội dung đường lối đổi
mới về kinh tế và chính trị của Đảng
2.2 Gợi ý nội dung trả lời:
Câu 1 Tại sao nói ngay khi mới thành lập, nước ta đã rơi vào tình thế “Ngàn cân treo sợi
tóc” Đảng và chính phủ ta đã thực hiện chủ trương, sách lược như thế nào trong cuộc đấu tranh chống ngoại xâm qua hai thời kì: trước ngày 6/3/1946 và từ 6/3/1946, tác dụng của nó?
* Sau khi mới thành lập, nước ta đã rơi vào tình thế “Ngàn cân treo sợi tóc”:
- Về đối ngoại: Quân đội các nước Đồng minh, dưới danh nghĩa giải giáp quân Nhật,
đã lũ lượt kéo vào nước ta
+ Từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc có 20 vạn quân Trung Hoa Dân quốc Chúng kéo theo bọn tay chân từ các tổ chức phản động như Việt Nam Quốc dân đảng (Việt Quốc), Việt Nam cách mạng đồng minh hội (Việt Cách)
+ Từ vĩ tuyến 16 trở vào Nam quân đội Anh dọn đường cho quân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta Lợi dụng tình hình đó bọn phản động ngóc đầu dậy làm tay sai cho Pháp, chống phá cách mạng
+ Ngoài ra trên cả nước lúc bấy giờ còn có 6 vạn quân Nhật chờ giải giáp
- Về đối nội:
+ Chính quyền cách mạng vừa mới thành lập còn non trẻ, chưa được củng cố; lực lượng vũ trang còn non yếu
+ Nền kinh tế nước ta vốn đã lạc hậu, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề Hậu quả nạn đói cuối năm 1944 đầu năm 1945 chưa được khắc phục Nạn lụt lớn làm vỡ đê 9 tỉnh miền Bắc, nạn hạn hán kéo dài làm cho nửa tổng số ruộng đất không trồng cấy được Nhiều xí nghiệp còn nằm trong tay tư bản Pháp Các cơ sở công nghiệp chưa phục hồi sản xuất Hàng hóa khan hiếm, giá cả đắt đỏ, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn
+ Về tài chính: Ngân sách Nhà nước đều như trống rỗng Chính quyền cách mạng lại chưa nắm được Ngân hàng Đông Dương Trong lúc đó, quân Trung Hoa Dân quốc tung ra thị trường các loại tiền của Trung Quốc đã mất giá, làm cho nền tài chính nước ta thêm rối loạn
+ Về văn hóa: di sản văn hóa lạc hậu do chế độ thực dân phong kiến để lại hết sức nặng nề, hơn 90% dân số không biết chữ
Khó khăn lớn nhất đưa nước ta đứng trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc” là khó khăn
về đối ngoại Nghĩa là cùng một lúc ta phải đối phó với nhiều kẻ thù quân Trung Hoa Dân
Trang 5* Đảng và chính phủ ta đã thực hiện chủ trương, sách lược như thế nào trong cuộc đấu tranh chống ngoại xâm qua hai thời kì: trước ngày 6/3/1946 và từ 6/3/1946, tác dụng của nó?
- Trước ngày 6/3/1946: Chủ trương hòa với Trung Hoa Dân quốc và chống Pháp ở Nam bộ
Để tiến hành hòa hoãn với Trung Hoa Dân quốc, Đảng và Chính phủ
thực hiện sách lược mềm dẻo và đảm bảo nguyên tắc cứng rắn, đó là:
+ Nhượng cho các đảng Việt quốc, Việt cách 70 ghế trong Quốc hội không bầu cử, 4 ghế Bộ trưởng trong Chính phủ liên hiệp thống nhất
+ Nhân nhượng cho Trung Hoa Dân quốc một số quyền lợi về kinh tế, như cung cấp một phần lương thực, thực phẩm, phương tiện giao thông vận tải, cho phép dùng tiền Trung Quốc trên thị trường
Đối với tổ chức phản cách mạng, tay sai của Trung Hoa Dân quốc (Việt quốc, Việt Cách):
+ Chính quyền cách mạng dựa vào quần chúng, kiên quyết vạch trần âm mưu và hành động chia rẽ, phá hoại của chúng
+ Những kẻ phá hoại có đủ bằng chứng thì bị trừng trị theo pháp luật
+ Chính phủ còn ban hành một số sắc lệnh nhằm trấn áp bọn phản cách mạng
Những biện pháp sách lược nhân nhượng trên đây đã hạn chế các hoạt động chống phá của Trung Hoa Dân quốc và tay sai, làm thất bại âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng của chúng
Ngày 2/9/1945, trong khi nhân dân Sài Gòn – Chợ Lớn tổ chức mít tinh chào mừng
“Ngày độc lập”, thực dân Pháp xả súng vào đám đông làm 47 người chết và nhiều người bị thương
Đêm 22 rạng sáng 23/9/1945, được sự giúp đỡ của quân Anh, Pháp đánh úp trụ sở
Ủy ban nhân dân Nam Bộ và cơ quan tự vệ thành phố Sài Gòn, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ hai
Quân dân Sài Gòn – Chợ Lớn cùng với nhân dân Nam Bộ đã nhất tề đứng lên chiến đấu chống xâm lược Các chiến sĩ lực lượng vũ trang của ta đột nhập sân bay Tân Sơn Nhất, đốt cháy tàu Pháp vừa cập bến Sài Gòn, đánh phá kho tàng, phá nhà giam
- Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh huy động lực lượng cả nước chi viện cho Nam Bộ và Nam Trung Bộ kháng chiến Hàng vạn thanh niên hăng hái gia nhập
quân đội, sung vào các “đoàn quân Nam tiến” sát cánh cùng với nhân dân Nam Bộ và Nam
Trung Bộ kháng chiến Nhân dân Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ còn thường xuyên tổ chức quyên
Trang 6góp tiền, gạo, áo quần, thuốc men v.v ủng hộ nhân dân Nam Bộ và Nam Trung Bộ kháng chiến
* Từ 6/3/1946: Chủ trương hòa với Pháp để đẩy 20 vạn quân Trung Hoa Dân quốc ra khỏi nước ta
- Sau khi chiếm đóng các đô thị ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ, thực dân Pháp thực hiện
kế hoạch tiến quân ra Bắc nhằm thôn tính cả nước ta
- Để thực hiện ý đồ trên, thực dân Pháp điều đình với Chính phủ Trung Hoa Dân quốc
và kí Hiệp ước Hoa – Pháp (28/2/1946) Theo đó, Trung Hoa Dân quốc được Pháp trả lại các
tô giới, nhượng địa của Pháp trên đất Trung Quốc và được vận chuyển hàng hóa qua cảng Hài Phòng vào Vân Nam không phải đóng thuế Đổi lại, Pháp được đưa quân ra Bắc thay quân Trung Hoa Dân quốc làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật
- Hiệp ước Hoa – Pháp đã đặt nhân dân ta trước sự lựa chọn một trong hai con đường: hoặc cầm súng chiến đấu chống thực dân Pháp, không cho chúng đổ bộ lên miền Bắc; hoặc hòa hoãn, nhân nhượng Pháp để tránh tình trạng phải đối phó cùng một lúc với nhiều kẻ thù
- Ngày 3/3/1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp, do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì, đã chọn giải pháp “Hòa để tiến”
- Chiều ngày 6/3/1946, tại Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kí với G.Xanhtơni – đại diện Chính phủ Pháp bản Hiệp định Sơ bộ Với nội dung:
+ Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự
do, có chính phủ riêng, nghị viện riêng, quân đội riêng, tài chính riêng và là thành viên của Liên bang Đông Dương, nằm trong khối Liên hiệp Pháp
+ Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thỏa thuận cho 15000 quân Pháp vào miền Bắc thay quân Trung Hoa Dân quốc làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật, số quân này sẽ đóng ở những địa điểm quy định và rút dần trong thời hạn 5 năm
+ Hai bên ngừng mọi cuộc xung đột ở miền Nam và giữ nguyên quân đội của mình tại
vị trí cũ, tạo không khí thuận lợi đi đến cuộc đàm phán chính thức bàn các vấn đề ngoại giao của Việt Nam, chế độ tương lai của Đông Dương, quyền lợi kinh tế và văn hóa của người Pháp ở Việt Nam
Việc kí Hiệp định Sơ bộ 6/3/1946, tạm thời hòa hoãn với Pháp, ta tránh được cuộc chiến đấu bất lợi vì phải chống lại nhiều kẻ thù cùng một lúc, đẩy được 20 vạn quân Trung Hoa Dân quốc cùng bọn tay sai ra khỏi nước ta
Trang 7Ta có thêm thời gian hòa bình củng cố chính quyền cách mạng, chuẩn bị lực lượng mọi mặt cho cuộc kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp
Câu 2 Bằng những sự kiện lịch sử cụ thể, hãy làm sáng tỏ vai trò của chủ tịch Hồ Chí Minh
trong cuộc đấu tranh nhằm bảo vệ chính quyền, giữ vững độc lập dân tộc những năm đầu tiên sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 (từ ngày 2/9/1945 đến 19/12/1946)
- Ngày 2/9/1945, tại quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở
ra kỉ nguyên mới cho dân tộc
- Một tuần sau khi nước VNDCCH ra đời (8/9/1945) Hồ Chủ tịch công bố lệnh Tổng tuyển cử trong cả nước Trên cơ sở đó, cuộc tổng tuyển cử bầu Quốc hội được tổ chức vào ngày 6/1/1946
- Ngày 2/3/1946, tại phiên họp đầu tiên của Quốc hội, Hồ Chí Minh đã đứng ra thành lập Chính phủ liên hiệp kháng chiến; phụ trách Ủy ban dự thảo Hiến pháp Tháng 11/1946, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã được Quốc hội thông qua
- Phát động phong trào tăng gia sản xuất, khai hoang phục hóa, đồng thời kêu gọi nhân dân cả nước “Nhường cơm sẻ áo”, lập “Hũ gạo cứu đói”, “Ngày
đồng tâm” để chống “Giặc đói” Phát động phong trào “Tuần lễ vàng”, xây dựng “Quỹ độc lập”
- Kí sắc lệnh thành lập cơ quan Bình dân học vụ (8/9/1945) và kêu gọi toàn dân tham gia phong trào xóa nạn mù chữ để chống “Giặc dốt”
- Đầu năm 1946, Hồ Chủ tịch kí sắc lệnh phát hành tiền Việt Nam Khó khăn về tài chính được giải quyết
- Tháng 9/1945, kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ bùng nổ, cùng với Trung ương Đảng, Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động phong trào ủng hộ Nam Bộ kháng chiến
- Ngày 6/3/1946, Hồ Chủ tịch kí bản Hiệp định Sơ bộ, tạm hòa hoãn với Pháp để đẩy
20 vạn quân Trung Hoa Dân quốc cùng tay sai ra khỏi nước ta, giành thêm thời gian hòa bình củng cố chính quyền Tháng 5/1946, Hồ Chủ tịch ra sắc lệnh đổi tên Vệ quốc quân thành Quân đội quốc gia Việt Nam
- Ngày 14/9/1946, Hồ Chủ tịch đã kí bản Tạm ước nhân nhượng Pháp một số quyền lợi về kinh tế - văn hóa và tạo điều kiện cho ta có thêm thời gian chuẩn bị bước vào kháng chiến
Trang 8Như vậy, trong năm đầu tiên sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Hồ Chủ tịch cùng Trung ương Đảng và Chính phủ lãnh đạo nhân dân ta giải quyết nhiều khó khăn về đối nội, đối ngoại và tích cực chuẩn bị lực lượng về mọi mặt chuẩn bị kháng chiến lâu dài với Pháp
Sau Hiệp định Sơ bộ, Pháp đã có những hành động phá hoại Hiệp định và khiêu khích
ta Láo xược hơn nữa ngày 18/12/1946, Pháp gửi tối hậu thư đòi Chính phủ ta phải giải tán lực lượng tự vệ chiến đấu Trước tình hình đó, không thể nhân nhượng được nữa, ngày 19/12/1946, Hồ Chủ tịch đã ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến và phát động cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp
Câu 3 Đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp của Đảng cộng sản Đông Dương được
thể hiện trong những văn kiện nào? Phân tích tính chất chính nghĩa và tính nhân dân của đường lối kháng chiến chống Pháp
* Đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp của Đảng cộng sản Đông Dương được thể hiện trong những văn kiện: Nghị quyết Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng ngày
18 và 19/12/1946; Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh đêm 19/12/1946; Thư của Hồ Chí Minh ngày 21/12/1946 và tác phẩm “Kháng chiến nhất định thắng lợi” của Trường Chinh tháng 3/1947
* Phân tích tính chất chính nghĩa và tính nhân dân của đường lối kháng chiến chống Pháp:
- Tính chất chính nghĩa:
+ Trước âm mưu và hành động xâm lược của Pháp đối với nước ta, Đảng, Chính phủ
và Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương hòa hoãn với Pháp bằng cách kí Hiệp định Sơ bộ ngày 6/3/1946 và Tạm ước 14/9/1946 nhân nhượng cho Pháp một số quyền lợi Song thực dân Pháp tiếp tục lấn tới ngang nhiên xé bỏ Hiệp định và có những hành động khiêu khích ta Trước tình thế đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Đảng và Chính phủ ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến
+ Cuộc kháng chiến toàn quốc của nhân dân ta là cuộc kháng chiến bảo vệ nền độc lập của dân tộc đã giành được trong cách mạng tháng Tám năm 1945 Đây là cuộc kháng chiến hoàn toàn chính nghĩa, vì thế trong suốt 9 năm tiến hành cuộc kháng chiến nhân dân ta luôn nhận được sự đồng tình ủng hộ của nhân dân tiến bộ trên thế giới, đặc biệt là nhân dân Pháp
+ Cũng xuất phát từ cuộc kháng chiến chính nghĩa nên ta chủ trương kháng chiến lâu dài để chống lại âm mưu “Đánh nhanh, thắng nhanh” của Pháp và cuối cùng giành được thắng lợi
- Tính nhân dân:
Trang 9+ Trong đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Đảng ta chủ trương kháng chiến toàn dân Nhờ có đường lối này ta đã tập hợp được đông đảo nhân dân tiến hành cuộc kháng chiến và phục vụ kháng chiến Trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ: Bất kì đàn ông, đàn bà, bất kì người già, người trẻ, không phân chia tôn giáo, đảng phái Hễ là người Việt Nam phải cầm vũ khí chống thực dân Pháp Đáp lại lời kêu gọi, toàn thể nhân dân đứng lên kháng chiến
+ Trong quá trình kháng chiến, ta đánh địch ở khắp các mặt trận và sử dụng vũ khí có sẵn trong tay, như Hồ Chủ Tịch đã kêu gọi: “Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm dùng cuốc, thuổng, gậy, gộc ”
+ Nhờ tính nhân dân trong kháng chiến chống thực dân Pháp mà ta đánh bại được âm mưu “Dùng người việt đánh người việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh” của Pháp
Câu 4 Vì sao Đảng ta quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954? Bằng những sự
kiện lịch sử hãy chứng tỏ Điện Biên Phủ thắng lợi là đỉnh cao của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược
* Đảng ta mở chiến dich Điện Biên Phủ năm 1954 vì:
- Tháng 5/1953, để thoát khỏi thế sa lầy thất bại, thực dân Pháp câu kết với Mĩ thực hiện Kế hoạch Na-va âm mưu giành thắng lợi quân sự để “kết thúc chiến tranh trong danh dự”
- Dưới sự lãnh đạo của Đảng, từ 10/12/1953 đến đầu năm 1954, quân dân ta đã chủ động mở nhiều cuộc tấn công chiến lược giành thắng lợi to lớn ở Tây Bắc, Trung Lào, Thượng Lào… làm cho Kế hoạch Na-va đứng trước nguy cơ bị phá sản
- Trước tình hình đó, để bảo vệ Lai Châu và Thượng Lào, thực dân Pháp tăng cường xây dựng Điện Biên Phủ trở thành tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương, một “Pháo đài không thể công phá”, “một Vecđoong” của thế kỉ XX, “một con nhím khổng lồ” ở rừng núi Tây Bắc và coi Điện Biên Phủ là trung tâm điểm của Kế hoạch Na-va Vì vậy, muốn kết thúc chiến tranh trong thế chiến thắng ta phải tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ
- Tháng 12/1953, Trung ương Đảng đã họp và nhận định: Điện Biên Phủ là tập đoàn
cứ điểm mạnh, nhưng thế yếu của Điện Biên Phủ là dễ bị cô lập, chỉ tiếp tế được bằng đường hàng không
- Quân đội ta đã trưởng thành và có kinh nghiệm có thể đánh địch ở tập đoàn cứ điểm
- Hậu phương của ta đã vững mạnh, tinh thần đoàn kết chiến đấu của nhân dân đang lên cao, có thể khắc phục những khó khăn chi viện cho chiến trường
Trang 10Trên cơ sở phân tích tình hình, Trung ương Đảng đã quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ, biến Điện Biên Phủ thành điểm “Điểm quyết chiến chiến lược giữa ta và địch”
* Chiến dịch Điện Biên Phủ thắng lợi là đỉnh cao của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 – 1954):
- Chiến dịch Điện Biên Phủ là chiến dịch quân sự có sự chuẩn bị lực lượng quy mô lớn nhất: Để phục vụ cho chiến dịch thắng lợi, Đảng ta đã huy động 4 đại đoàn bộ binh, 1 đại đoàn pháo binh và nhiều tiểu đoàn công binh,
thông tin, vận tải, quân y…, với tổng số khoảng 55000 quân; hàng chục nghìn tấn vũ khí đạn được, 27000 tấn gạo với 624 ô tô vận tải; huy động hàng vạn dân công lên Tây Bắc xẻ núi,
mở đường vận chuyển hàng chục vạn tấn vũ khí, lương thực ra chiến trường
- Chiến dịch Điện Biên Phủ diễn ra với tính chất ác liệt nhất qua ba đợt:
+ Đợt 1 (13/3 đến 17/3/1954): Quân ta tấn công và làm chủ phân khu phía Bắc, Him Lam, Độc Lập, Bản Kéo…
+ Đợt 2 (30/3 đến 26/4/1954): Quân ta tấn công các cao điểm phía Đông phân khu Trung tâm… kết hợp đánh lấn, bao vây chia cắt Trung tâm Mường Thanh… buộc Mĩ lập cầu hàng không thả dù tiếp tế…, đe dọa ném bom nguyên tử…
+ Đợt 3 (1/5 đến 7/5/1954): Quân ta đồng loạt tấn công phân khu Trung tâm và phân khu Nam… Chiều ngày 7/5/1954 giành thắng lợi hoàn toàn…
- Đây là chiến thắng quân sự đạt kết quả lớn nhất trong 9 năm kháng chiến: Đã diệt và bắt sống 16200 tên địch, trong đó có 1 thiếu tướng, hơn 1000 sĩ quan, hạ sĩ quan; bắn rơi, phá hủy 62 máy bay, thu toàn bộ vũ khí và các phương tiện kĩ thuật… Giải phóng toàn bộ Tây Bắc
- Đây là chiến thắng có ý nghĩa quyết định xoay chuyển cục diện chiến tranh ở Đông Dương, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đấu tranh ngoại giao của ta giành thắng lợi và có ảnh hưởng quốc tế to lớn:
+ Đập tan Kế hoạch quân sự lớn nhất của thực dân Pháp (Kế hoạch Na-va) và ý chí xâm lược của thực dân Pháp
+ Buộc thực dân Pháp phải kí Hiệp định Giơnevơ chấm dứt chiến tranh, tôn trọng quyền dân tộc cơ bản của ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia
+ Góp phần làm sụp đổ hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân cũ ở Đông Nam Á + Là tấm gương cổ vũ, thúc đẩy phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới
Câu 5 Những thắng lợi quân sự nào của quân và dân ta đã tác động trực tiếp đến việc triệu
tập Hội nghị và kí kết Hiệp định Pa ri năm 1973 về Việt Nam?