1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

QUẢN LÝ ĐÀO TẠO THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỊA PHƯƠNG Ở VIỆT NAM

193 364 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 193
Dung lượng 2,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hy vọng nghiên cứu sẽ góp phần quan trọng đối với các trường ĐHĐP nói riêng và hệ thống GDĐH nói chung trong nghiên cứu, tham khảo, vận dụng vào thực tiễn QLĐT theo HTTC nhằm đáp ứng yêu

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

HỌC VIỆN QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả

nghiên cứu trong luận án này là trung thực, chưa từng được công bố trong bất kỳ

công trình nào của các tác giả khác

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận án

Trần Văn Chương

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ tình cảm quý trọng và tri ân PGS.TS Trần Thị Minh Hằng, cán bộ hướng dẫn khoa học đã tận tình chỉ dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận án

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc, viên chức quản lý, viên chức các đơn vị thuộc Học viện Quản lý Giáo dục đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập, nghiên cứu, hoàn thành tốt nhiệm vụ nghiên cứu sinh

Tôi cũng xin cảm ơn chân thành lãnh đạo các trường đại học địa phương, các nhà khoa học đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu thực hiện luận án Xin cảm ơn các đồng nghiệp của trường ĐH Phú Yên đã tích cực hỗ trợ giúp tôi hoàn thành luận án

Tôi tri ân sự hỗ trợ của gia đình và người thân trong thời gian thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu sinh và hoàn thành luận án

Trân trọng biết ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận án

Trần Văn Chương

MỤC LỤC

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN Trang ii

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO VÀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO

THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ TRONG CÁC TRƯỜNG

ĐẠI HỌC

9

1.1.1 Nghiên cứu về đào tạo theo hệ thống tín chỉ trong các trường

1.3.3 Thuận lợi, khó khăn và thách thức đối với trường đại học

địa phương trong đào tạo theo hệ thông tín chỉ

30

1.4 Nội dung quản lý đào tạo đại học theo hệ thống tín chỉ trong

các trường đại học địa phương

32

1.4.2 Tiếp cận nghiên cứu nội dung quản lý đào tạo đại học theo

1.4.3 Nội dung quản lý đào tạo theo hệ thống tín chỉ trong các trường

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý đào tạo theo hệ thống

tín chỉ trong các trường đại học địa phương ở Việt Nam 45

Trang 5

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO VÀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO

THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ TRONG CÁC TRƯỜNG

ĐẠI HỌC ĐỊA PHƯƠNG Ở VIỆT NAM

2.2.1 Thực trạng đào tạo theo hệ thống tín chỉ trong các trường

đại học địa phương ở Việt Nam

54

2.2.2 Thực trạng quản lý đào tạo theo hệ thống tín chỉ trong các

trường đại học địa phương ở Việt Nam

67

2.2.3 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý đào tạo theo

hệ thống tín chỉ trong các trường đại học địa phương ở Việt Nam

82

CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ ĐÀO TẠO

THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ TRONG CÁC TRƯỜNG

ĐẠI HỌC ĐỊA PHƯƠNG Ở VIỆT NAM

89

3.1 Nguyên tắc đề xuất các giải pháp quản lý đào tạo theo hệ thống

tín chỉ trong các trường đại học địa phương ở Việt Nam

89

3.2 Các giải pháp quản lý đào tạo theo hệ thống tín chỉ

trong các trường đại học địa phương ở Việt Nam

90

3.2.1 Giải pháp 1: Đổi mới quản lý công tác tuyển sinh 90

3.2.2 Giải pháp 2: Xây dựng và phát triển chương trình đào tạo

đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp của địa phương và xã hội

94

3.2.3 Giải pháp 3: Nâng cao hiệu quả quản lý quá trình dạy học 99

3.2.4 Giải pháp 4: Xây dựng đội ngũ giảng viên đủ về số lượng,

đồng bộ về cơ cấu và chuẩn về chất lượng

110

3.2.5 Giải pháp 5: Bảo đảm cơ sở vật chất và tài chính phục vụ đào tạo 114

3.2.6 Giải pháp 6: Xây dựng môi trường đào tạo đồng bộ và thuận lợi 117

3.3 Khảo nghiệm mức độ cần thiết và khả thi của các giải pháp

quản lý đào tạo theo hệ thống tín chỉ trong các trường đại học

địa phương ở Việt Nam

121

3.3.1 Mục đích, nội dung và phương pháp khảo nghiệm 121

Trang 6

3.3.2 Kết quả khảo nghiệm 122

3.4 Thử nghiệm một số giải pháp quản lý đào tạo theo hệ thống

tín chỉ trong các trường đại học địa phương ở Việt Nam

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CNH-HĐH công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.4 Nội dung quản lý lý đội ngũ giảng viên, viên chức quản lý

và viên chức hành chính

43 Bảng 1.5 Nội dung quản lý cơ sở vật chất và tài chính 44

Bảng 2.1 Các trường đại học ĐHĐP trong nghiên cứu thực trạng 50 Bảng 2.2 Thang đánh giá nội dung khảo sát theo điểm trung bình 54 Bảng 2.3 Thống kê quy mô tuyển sinh của các trường ĐHĐP từ

2011 đến 2014

55 Bảng 2.4 Thực trạng đảm bảo các yêu cầu của chương trình đào tạo 57 Bảng 2.5 Thực trạng thực hiện quy trình tổ chức đào tạo 58

Bảng 2.15 Thực trạng quản lý quy trình tổ chức đào tạo 71

Bảng 2.20 Thực trạng quản lý ứng dụng CNTT trong quá trình dạy học 76

Bảng 2.22 Thực trạng quản lý đội ngũ giảng viên, viên chức

quản lý đào tạo, viên chức kỹ thuật

78 Bảng 2.23 Thực trạng quản lý cơ sở vật chất và tài chính 79

Bảng 2.25 Thực trạng các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến QLĐT

Trang 9

Bảng 2.28 Tổng hợp thực trạng quản lý đào tạo theo HTTC 85 Bảng 3.1 Bảng quy đổi điểm theo HTTC của Trường Đại học

Phú Yên

101

Bảng 3.5 Tổng hợp kết quả khảo nghiệm các giải pháp 125 Bảng 3.6 So sánh về công tác quản lý xây dựng và phát triển CTĐT

trước và sau thử nghiệm

130 Bảng 3.7 So sánh trình độ đội ngũ trước và sau thực nghiệm 131

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Quy mô đào tạo theo nhóm ngành Trang 51

Sơ đồ 3.1 Quy trình phát triển chương trình đào tạo của

Trường ĐH Phú Yên

130 Biểu đồ 3.2 So sánh trình độ đội ngũ trước và sau thực nghiệm 131

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Đào tạo đáp ứng nhu cầu nhân lực cho xã hội là mục tiêu chung nhất của

giáo dục Mục tiêu giáo dục đại học Việt Nam được xác định ở Luật Giáo dục

đại học 2012 [57]: - 1 Mục tiêu chung: a) Đào tạo nhân lực, nâng cao dân trí,

bồi dưỡng nhân tài; nghiên cứu khoa học, công nghệ tạo ra tri thức, sản phẩm mới, phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế; b) Đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức; có kiến thức,

kỹ năng thực hành nghề nghiệp, năng lực nghiên cứu và phát triển ứng dụng khoa học và công nghệ tương xứng với trình độ đào tạo; có sức khỏe; có khả năng sáng tạo và trách nhiệm nghề nghiệp, thích nghi với môi trường làm việc; có ý thức phục vụ nhân dân Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành TW khóa XI

(Nghị quyết số 29-NQ/TW ban hành ngày 04/11/2013) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế,

đã xác định mục tiêu cụ thể: Đối với giáo dục đại học, tập trung đào tạo nhân lực

trình độ cao, bồi dưỡng nhân tài, phát triển phẩm chất và năng lực tự học, tự làm giàu tri thức, sáng tạo của người học [20]

Đảng và Nhà nước đã quan tâm đúng mức đến GDĐH, đặc biệt là ĐT theo HTTC đáp ứng NCXH Trong Thông báo kết luận của Bộ Chính trị (số 242-TB/TW ngày 15/4/2009) về tiếp tục thực hiện Nghị quyết TW2 (khóa VIII), phương hướng

phát triển GD-ĐT đến năm 2020 [21] đã yêu cầu ''… Đổi mới, hiện đại hoá

chương trình giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, chuyển mạnh mẽ từ đào tạo theo khả năng sang đào tạo theo nhu cầu xã hội Thực hiện tốt đào tạo theo chế độ tín chỉ trong hệ thống giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp …”

1.2 “Đào tạo theo HTTC” lần đầu tiên được tổ chức tại trường ĐH Harvard, Hoa kỳ

vào năm 1872, sau đó lan rộng ra khắp Bắc Mỹ và thế giới Đây là phương thức đào tạo theo triết lý “Tôn trọng người học, xem người học là trung tâm của quá trình đào tạo” Theo đánh giá của Tổ chức ngân hàng thế giới (World Bank), thì ĐT theo HTTC không chỉ có hiệu quả đối với các nước phát triển mà còn rất hiệu quả

Trang 11

đối với các nước đang phát triển Chuyển đổi từ ĐT theo niên chế học phần sang HTTC của GDĐH Việt Nam là sự đổi mới tất yếu, phù hợp với xu thế toàn cầu hóa, đẩy nhanh tốc độ hội nhập của GDĐH nước ta với khu vực và thế giới

Trong tiến trình đến với hội nhập quốc tế, các trường ĐH Việt Nam từ những năm 90 của thế kỷ vừa qua đã tham khảo kinh nghiệm và áp dụng HTTC vào CTĐT của mình (Bộ GD-ĐT cho phép các trường được áp dụng thử nghiệm HTTC từ năm 1993) Các trường đi đầu trong việc áp dụng này như Trường ĐH Bách khoa

TP Hồ Chí Minh, Trường ĐH Bách khoa Hà Nội, ĐH Cần thơ, Trường ĐH Đà Lạt, Trường ĐH Sư phạm Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh, Trường ĐH Thủy sản Nha Trang v.v Bắt đầu từ năm học 2007 – 2008, đào tạo theo HTTC trình độ ĐH và CĐ

hệ chính quy được Bộ GD-ĐT chính thức triển khai trong hệ thống GDĐH Việt Nam [5] Ngày 04/5/2012 Bộ GD-ĐT công bố Quyết định ban hành Chương trình hành động của Bộ GD-ĐT giai đoạn 2011-2016 thực hiện Nghị quyết số 06/NQ-CP của Chính phủ [6], theo đó, Bộ GD-ĐT yêu cầu: đến năm 2015, tất cả các trường

đại học chuyển hoàn toàn sang đào tạo theo học chế tín chỉ

1.3 Từ những đặc điểm của HTTC và đặc điểm của CTĐT theo HTTC, thực tiễn

ĐT theo HTTC đáp ứng nhu cầu xã hội ở các trường ĐH, nhất là các trường ĐHĐP còn có nhiều hạn chế về số lượng và trình độ đội ngũ; về CSVC; về đầu tư ngân sách… Quá trình triển khai ĐT theo HTTC và QLĐT theo HTTC còn có những khó khăn nhất định thể hiện ở quy mô ĐT nhỏ (ít ngành ĐH và số lượng SV) và chất lượng đào tạo chưa cao, ĐT chưa đáp ứng nhu cầu nhân lực của xã hội Vì vậy, các trường ĐHĐP cần phải đổi mới QLĐT thích hợp với HTTC trên cơ sở nghiên cứu lý luận

Trang 12

nhằm xây dựng hệ thống giải pháp toàn diện nâng cao CLĐT đang là nhiệm vụ quan trọng, cần thiết và cấp bách đối với các trường ĐHĐP ở Việt Nam nói riêng và toàn bộ hệ thống GDĐH nước nhà, đặc biệt là đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành TW khóa XI (Nghị quyết số 29-NQ/TW ban hành ngày 04/11/2013)

Với những lý do nêu trên, việc chọn đề tài nghiên cứu “Quản lý đào tạo theo

hệ thống tín chỉ trong các trường đại học địa phương ở Việt Nam” là một việc

làm cấp thiết và hữu ích Hy vọng nghiên cứu sẽ góp phần quan trọng đối với các trường ĐHĐP nói riêng và hệ thống GDĐH nói chung trong nghiên cứu, tham khảo, vận dụng vào thực tiễn QLĐT theo HTTC nhằm đáp ứng yêu cầu ĐT theo HTTC; đồng thời là tài liệu tư vấn cho Bộ GD-ĐT, UBND địa phương thành lập trường tham khảo trong công tác quản lý, chỉ đạo toàn diện đối với trường ĐHĐP, phát huy được vai trò, hiệu quả trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ của các trường ĐHĐP trong hệ thống GDĐH Việt Nam

2 Mục đích nghiên cứu

Hệ thống hóa cơ sở lý luận làm tiền đề nghiên cứu thực trạng và đề xuất các giải pháp QLĐT theo HTTC phù hợp và đồng bộ, đáp ứng yêu cầu cơ bản của ĐT theo HTTC trong các trường ĐHĐP ở Việt Nam nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực phục vụ nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa địa phương

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Đào tạo theo hệ thống tín chỉ trong các trường ĐHĐP ở Việt Nam

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Các giải pháp QLĐT theo HTTC trong các trường ĐHĐP ở Việt Nam đáp ứng yêu cầu cơ bản của ĐT theo HTTC

4 Giả thuyết khoa học và Câu hỏi nghiên cứu

4.1 Giả thuyết khoa học

Đào tạo theo HTTC trong các trường ĐH là phương thức đào tạo tiên tiến, hiệu quả trong đào tạo nhân lực phục vụ NCXH Hiện nay, QLĐT theo HTTC

Trang 13

trong các trường ĐHĐP còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu cơ bản của ĐT

theo HTTC

Nếu đề xuất được các giải pháp QLĐT theo HTTC dựa theo tiếp cận

hệ thống, tiếp cận phức hợp kết hợp với tiếp cận theo CIPO trong các trường

ĐHĐP một cách đồng bộ và phù hợp, đáp ứng yêu cầu cơ bản của ĐT theo HTTC

thì sẽ tác động tích cực đến việc nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực phục vụ

hiệu quả nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa địa phương

4.2 Câu hỏi nghiên cứu

4.2.1 QLĐT theo HTTC trong các trường ĐHĐP ở Việt Nam là gì? Bao gồm

những nội dung nào?

4.2.2 QLĐT theo HTTC trong các trường ĐHĐP ở Việt Nam hiện nay có những

hạn chế như thế nào? Nguyên nhân?

4.2.3 Việc nghiên cứu nội dung và đề xuất các giải pháp QLĐT theo HTTC trong

các trường ĐHĐP ở Việt Nam dựa trên lý thuyết tiếp cận nào?

4.2.4 Những giải pháp quản lý đào tạo nào đáp ứng yêu cầu cơ bản của ĐT theo

HTTC trong các trường ĐHĐP ở Việt Nam nhằm nâng cao CLĐT nhân lực phục vụ

nhu cầu CNH-HĐH hóa địa phương?

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Hệ thống hóa cơ sở lý luận về ĐT và QLĐT theo HTTC trong các trường ĐH

nói chung và trường ĐHĐP

5.2 Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng ĐT và QLĐT theo HTTC trong

các trường ĐHĐP ở Việt Nam

5.3 Dựa trên tiếp cận hệ thống, tiếp cận phức hợp kết hợp với tiếp cận theo CIPO

đề xuất các giải pháp QLĐT theo HTTC trong các trường ĐHĐP ở Việt Nam

5.4 Khảo nghiệm và thử nghiệm các giải pháp QLĐT theo HTTC trong các trường

ĐHĐP ở Việt Nam

6 Phạm vi nghiên cứu

6.1 Về nội dung nghiên cứu

Nghiên cứu về ĐT trình độ ĐH theo HTTC trong các trường ĐHĐP ở Việt Nam

Trang 14

6.2 Về địa bàn nghiên cứu

Nghiên cứu QLĐT theo HTTC trong 7 trường ĐHĐP ở cả 3 miền Bắc,

Trung, Nam nhằm có những cơ sở phù hợp với thực tế hoàn cảnh của Việt Nam;

bao gồm Trường ĐH Hùng Vương (Phú Thọ), Trường ĐH Quảng Bình, Trường ĐH

Quảng Nam, Trường ĐH Phạm Văn Đồng (Quảng Ngãi), Trường ĐH Phú Yên,

Trường ĐH Tiền Giang và Trường ĐH Bạc Liêu

6.3 Về đối tượng khảo sát

Khảo sát ý kiến 235 đối tượng thuộc 7 trường ĐHĐP trên Trong đó có:

- Các chủ thể quản lý là 7 hiệu trưởng;

- 7 phó hiệu trưởng phụ trách đào tạo, 49 lãnh đạo phòng chức năng, 68 lãnh đạo

khoa và 104 giảng viên

6.4 Về thời gian nghiên cứu

Khảo sát thực trạng ĐT và QLĐT theo HTTC trong các trường ĐHĐP trong

3 năm học gần đây (từ năm học 2011-2012 đến 2013-2014)

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp luận nghiên cứu đề tài

7.1.1 Tiếp cận hệ thống

Quản lý đào tạo theo HTTC trong trường ĐH bao gồm các thành tố có

mối liên hệ và quan hệ với nhau Luận án sử dụng cách tiếp cận phân tích cơ cấu

của hệ thống và xem xét các mối quan hệ trong hệ thống các thành tố của QLĐT

theo HTTC

7.1.2 Tiếp cận phức hợp

Luận án nghiên cứu các giải pháp QLĐT theo HTTC trong các trường ĐHĐP

trên cơ sở bao quát đầy đủ các thành tố cấu thành QLĐT, xem xét toàn diện, tổng

hợp, đồng bộ và cân đối giữa đối tượng QLĐT với môi trường liên quan

7.1.3.Tiếp cận theo mô hình quản lý chất lượng đào tạo CIPO

Luận án nghiên cứu các thành tố của QLĐT theo tiếp cận hệ thống (vận dụng

kết hợp các yếu tố: Đầu vào - Input; Quá trình - Process) và tiếp cận phức hợp,

Trang 15

đồng thời cũng chú trọng xem xét tác động của các yếu tố: Bối cảnh (Context) và Kết quả đầu ra (Output) để đề xuất các giải pháp QLĐT theo HTTC trong các trường ĐHĐP ở Việt Nam

7.1.4 Tiếp cận lịch sử

Luận án nghiên cứu lịch sử phát triển, kinh nghiệm ĐT và QLĐT theo HTTC ở các nước tiên tiến trên thế giới; những ưu, nhược điểm, nguyên nhân trong việc vận dụng ĐT theo HTTC vào hệ thống GDĐH Việt Nam Trên cơ sở đó,

sẽ giúp đề ra các luận cứ thực tiễn, các giải pháp QLĐT phù hợp với mục tiêu nghiên cứu của đề tài

7.1.5 Tiếp cận mục tiêu

Tiếp cận theo mục tiêu giáo dục, cụ thể là việc đề xuất các giải pháp QLĐT theo HTTC nhằm bảo đảm thực hiện đạt được mục tiêu đào tạo cho SV tốt nghiệp trình độ đại học phải đạt chuẩn kiến thức - kỹ năng - thái độ theo mục tiêu GDĐH như Luật định (Luật Giáo dục đại học năm 2012)

7.2 Các phương pháp nghiên cứu

7.2.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận

Phân tích và tổng hợp các tài liệu liên quan đến đề tài:

- Các tài liệu lưu trữ: các văn bản tổng kết của Bộ GD-ĐT, các báo cáo tổng kết

về ĐT theo HTTC của một số trường ĐH trọng điểm và trường ĐHĐP ở Việt Nam

- Các công trình khoa học, các tạp chí và báo cáo khoa học

7.2.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.2.1 Phương pháp điều tra

* Điều tra cơ bản:

Xây dựng bảng câu hỏi nhằm thu thập các thông tin, số liệu: (1) Xác định thực trạng ĐT và QLĐT theo HTTC trong các trường ĐHĐP Việt Nam; phân tích các nguyên nhân thành công, hạn chế của thực trạng này; (2) Nội dung, mức độ cần thiết và khả thi của các giải pháp QLĐT theo HTTC đáp ứng các yêu cầu cơ bản của

ĐT theo HTTC nhằm nâng cao CLĐT trong các trường ĐHĐP ở Việt Nam

Trang 16

* Trưng cầu ý kiến: Thực hiện dưới hai hình thức trả lời bằng phiếu hỏi và

phỏng vấn nhằm thu thập thông tin về nhận thức, nguyện vọng của các nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục, SV, phụ huynh SV và các lực lượng xã hội khác; đồng thời

bổ sung, kiểm tra và làm rõ những thông tin đã thu thập được thông qua điều tra cơ bản

7.2.2.2 Phương pháp chuyên gia

Trực tiếp (với một số chuyên gia) hoặc gián tiếp (bằng phiếu hỏi) trao đổi những vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu theo chuyên ngành của các chuyên gia

Bộ GD -ĐT, các viện nghiên cứu khoa học giáo dục, các học viện và trường ĐH để

bảo đảm tính khách quan, độ tin cậy cho các kết quả nghiên cứu Đặc biệt xin ý kiến

về các giải pháp QLĐT theo HTTC trong các trường ĐHĐP ở Việt Nam

7.2.2.3 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

Xem xét lại những thành quả của hoạt động thực tiễn về QLĐT theo

HTTC ở các trường ĐH nước ngoài và Việt Nam trong quá khứ nhằm vận dụng

những kinh nghiệm để đề xuất các giải pháp QLĐT theo HTTC trong các trường

ĐHĐP ở Việt Nam

7.2.2.4 Phương pháp thực nghiệm

Ứng dụng các giải pháp QLĐT theo HTTC trong các trường ĐHĐP ở Việt Nam đã đề xuất Triển khai thực hiện thử nghiệm và đánh giá kết quả thử nghiệm một số giải pháp ở một trường ĐHĐP

7.3 Các phương pháp toán học

Sử dụng thống kê toán học xử lý thông tin định lượng và định tính Ứng dụng phần mềm thống kê SPSS để xứ lý dữ liệu định lượng

8 Điểm mới của luận án

8.1 Luận án nghiên cứu, hệ thống hóa góp phần làm rõ, bổ sung và phát triển những

vấn đề lý luận về ĐT và QLĐT theo HTTC vận dụng trong các trường ĐHĐP ở Việt Nam

8.2 Luận án là công trình nghiên cứu chuyên sâu về QLĐT theo HTTC trong

các trường ĐHĐP ở Việt Nam nhằm phát hiện những hạn chế trong QLĐT theo

HTTC và những nguyên nhân Từ đó đề xuất các giải pháp QLĐT khắc phục

Trang 17

hạn chế, đáp ứng yêu cầu cơ bản của ĐT theo HTTC trong các trường ĐHĐP, nâng cao CLĐT nhân lực phục vụ hiệu quả nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa địa phương

8.3 Luận án cũng có thể là tài liệu tham khảo bổ ích, ít nhất là ở giai đoạn đầu

áp dụng phương thức ĐT theo HTTC trong các trường ĐH và đặc biệt là các trường ĐHĐP; giúp cho các nhà QLGD, các nhà hoạch định chính sách giáo dục có

cơ sở xây dựng giải pháp chiến lược cho ngành GD-ĐT nói chung và các trường ĐHĐP nói riêng trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay

9 Luận điểm bảo vệ

9.1 Việc áp dụng phương thức ĐT theo HTTC trong các trường ĐHĐP ở Việt Nam

tất yếu phải đổi mới QLĐT đáp ứng yêu cầu cơ bản của ĐT theo HTTC trong các nhà trường

9.2 Thực trạng QLĐT theo HTTC trong các trường ĐHĐP ở Việt Nam hiện nay

còn có những hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu cơ bản của ĐT theo HTTC, dẫn đến chưa bảo đảm chất lượng đào tạo

9.3 Hệ thống các giải pháp QLĐT theo HTTC trong các trường ĐHĐP ở Việt Nam

được đề tài đề xuất sẽ khắc phục được những hạn chế, đáp ứng yêu cầu cơ bản của

ĐT theo HTTC nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực phục vụ hiệu quả nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa địa phương

10 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo

và phụ lục, đề tài gồm 3 chương

- Chương 1: Cơ sở lý luận về đào tạo và quản lý đào tạo theo hệ thống tín chỉ

trong các trường đại học

- Chương 2: Thực trạng đào tạo và quản lý đào tạo theo hệ thống tín chỉ trong các

trường đại học địa phương ở Việt Nam

- Chương 3: Đề xuất các giải pháp quản lý đào tạo theo hệ thống tín chỉ trong các

trường đại học địa phương ở Việt Nam

Trang 18

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO VÀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO

THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

Hơn 140 năm kể từ khi ra đời từ trường ĐH Harvard (Hoa Kỳ), ĐT theo HTTC đã lan rộng trên khắp thế giới và ngày càng chứng tỏ tính ưu việt của một

hệ thống ĐT vì người học Đã có nhiều nghiên cứu về QLĐT theo HTTC, trong đó

có thể kể đến những nghiên cứu liên quan đến luận án với các xu hướng như sau:

(1) Nghiên cứu về ĐT theo HTTC trong các trường ĐH;

(2) Nghiên cứu về QLĐT theo HTTC trong các trường ĐH

1.1.1 Nghiên cứu về đào tạo theo hệ thống tín chỉ trong các trường đại học

Nghiên cứu về “Hệ thống tín chỉ tại các trường ĐH Hoa Kì: Lịch sử

phát triển, định nghĩa và cơ chế hoạt động”[9] của PGS.TS Cary J Trexler,

Khoa Giáo dục Sư phạm Trường ĐH Califonia Davis, Hoa Kỳ Trong nghiên cứu

này tác giả đã chỉ rõ lịch sử phát triển của mô hình ĐT theo HTTC đại học của Hoa Kỳ cũng như cơ chế hoạt động của nó và các lợi ích mà mô hình này đem lại cho nền GDĐH Hoa Kỳ Chính nhờ vào mô hình này mà hệ thống giáo dục của Hoa Kỳ liên tục cao hơn các quốc gia khác Không một hệ thống nào cho phép khả năng linh hoạt và chuyển đổi lại có thể hoàn hảo, tập trung vào tiêu điểm chính của HTTC: tạo ra một nền giáo dục đẳng cấp quốc tế, ĐT một lực lượng lao động dựa trên những điểm mạnh, mối quan tâm và nguyện vọng của SV Bên cạnh nghiên cứu chi tiết của Cary J Trexler còn có các công trình nghiên cứu khác về HTTC ở bậc ĐH của Hoa Kỳ như Giáo sư G Dietrich đã nêu ra vai trò thiết thực,

cần thiết của HTTC tại cuốn “The emergence of the credit system in American

education considered as a problem of social and intellectual history” (Sự xuất hiện của HTTC trong giáo dục Mỹ được coi là một vấn đề của lịch sử xã hội và trí tuệ)

[81] Tác giả James M Heffernan, trong bài viết “The Credibility of the Credit hour:

The History, Use and Shortcomings of the Credit System” (Sự tín nhiệm của giờ tín chỉ: Lịch sử, Sử dụng và Những nhược điểm của HTTC) [86] đã trình bày tổng quan

HTTC với các khái niệm, QTĐT, ưu nhược điểm, điều kiện tiên quyết để chuyển đổi thành công và khả năng áp dụng HTTC đối với các nước đang phát triển; bài học

Trang 19

kinh nghiệm của Mỹ và thế giới qua triển khai ĐT theo HTTC Tác giả đã nêu rõ

một số yếu tố quan trọng để chuyển đổi thành công QTĐT theo HTTC như: các văn bản pháp lý của Chính phủ và các cơ quan Nhà nước; sự đồng thuận của xã hội;

sự phù hợp với các thành tố của QTĐT Tác giả cũng lưu ý đối với các trường ĐH

triển khai phương thức này ở các nước đang phát triển không rập khuôn hoàn toàn

mô hình của Mỹ mà cần căn cứ vào các đặc điểm riêng gắn với điều kiện, hoàn cảnh

cụ thể và văn hóa của đất nước mình mới có thể đạt kết quả khả quan về CLĐT

Ở Trung Quốc, các nhà khoa học Jinsong Zhang, Changliu Wang và Lulu

Dong đã công bố bài viết “Analysis of restrictive factors on the university credit system

in China” (Phân tích những yếu tố hạn chế trong đào tạo theo HTTC ở trường ĐH

Trung Quốc ) [87] Các tác giả đã nêu những khó khăn trong ĐT theo HTTC ở các

trường ĐH Trung quốc như: đội ngũ giảng viên; CTĐT; phương pháp KT-ĐG; cơ sở

vật chất và tài chính; hệ thống quản lý; tự chủ của các trường ĐH… chưa đáp ứng với

yêu cầu ĐT theo HTTC Những khó khăn này cũng đang là thách thức mà các trường

ĐH Việt Nam phải đối mặt khi chuyển sang ĐT theo HTTC

Ở trong nước, phương thức ĐT theo HTTC đã được các trường ĐH

Việt Nam nghiên cứu áp dụng từ những năm của thập kỷ 90 (Bộ GD-ĐT cho phép

các trường được áp dụng thử nghiệm HTTC từ năm 1993) Những nhà nghiên cứu

tiên phong về HTTC ở Việt Nam đã công bố các nghiên cứu về những vấn đề

cơ bản về ĐT và QLĐT theo HTTC trên thế giới và khuyến nghị triển khai áp dụng

ở Việt Nam Tác giả Lâm Quang Thiệp đã có bài viết "Xây dựng CTĐT theo tín chỉ có sử dụng Internet" năm 2006 với chủ đề “Về việc áp dụng HCTC trên

thế giới và ở Việt Nam” [62] Trên cơ sở phân tích ưu, nhược điểm của ĐT theo

HTTC, so sánh giữa ĐT theo niên chế học phần ở nước ta và ĐT theo HTTC ở Mỹ,

báo cáo đã chỉ ra sự cần thiết và lộ trình chuyển đổi từ ĐT niên chế học phần sang

ĐT theo HTTC ở các trường ĐH Việt Nam Vấn đề này cũng được nhà nghiên cứu

Nguyễn Kim Dung quan tâm trình bày trong bài báo “Đào tạo theo HTTC:

Kinh nghiệm thế giới và thực tế ở Việt Nam” [18] Tác giả đã nêu một số

kinh nghiệm của thế giới trong xây dựng và phát triển hệ thống ĐT theo HTTC, kinh nghiệm của Việt Nam trong áp dụng hệ thống chuyển đổi tín chỉ trong ĐT

Đồng thời đề xuất các kiến nghị liên quan tiến trình hòa nhập về nội dung ĐT,

nhu cầu của SV cũng như của xã hội Nhà khoa học Lê Viết Khuyến có đề tài

Trang 20

báo cáo“Quá trình chuyển đổi quy trình ĐT qua hệ tín chỉ trong các trường ĐH và

CĐ Việt Nam” [43] Tác giả nêu ra một trong những khuyến cáo là không nên nghĩ

hệ tín chỉ chỉ thích hợp với các trường "giàu" mà chính các trường "nghèo" lại càng cần phải triển khai sớm hệ tín chỉ và muốn thành công phải làm theo kiểu “nghèo’

Nhằm làm rõ bản chất của HTTC, cơ chế hoạt động của phương thức ĐT này,

tác giả Trần Thanh Ái đã công bố nghiên cứu quan trọng “Đào tạo theo hệ thống

tín chỉ: Các nguyên lý, thực trạng và giải pháp” [1] Tác giả đã công phu: Lược khảo

tài liệu về các nguyên lý của nền giáo dục mới và các biện pháp thực hiện; Nêu một số vấn đề bất cập khi áp dụng ĐT theo HTTC; Kết luận và kiến nghị 10 điểm cần thực hiện để bảo đảm triển khai thành công chủ trương của Bộ GD-ĐT về ĐT theo HTTC ở các trường ĐH Việt Nam Hai nhà nghiên cứu Eli Mazur & Phạm Thị Ly

nhấn mạnh về mục tiêu sư phạm của HTTC trong bài viết “Mục tiêu Sư phạm của

hệ thống đào tạo theo tín chỉ Mỹ và những gợi ý cho cải cách GDĐH Việt Nam” [25]

đã trình bày khái quát lịch sử và chức năng quản lý của HTTC Mỹ (xác định vai trò

SV, GV, trường ĐH, Nhà nước); Các vấn đề tranh luận và tầm nhìn: HTTC trong các trường ĐH hiện đại; Bài học của Trung Quốc trong việc thực hiện HTTC ở Mỹ

Nghiên cứu các thành tố của QTĐT, tác giả Zjhra, Michelle (Phạm Thị Ly dịch) đã có bài báo “Chuyển sang học chế tín chỉ: Cần thay đổi CTĐT và vai trò của

giáo viên” [79], đưa ra một số khuyến nghị liên quan đến CTĐT và xây dựng đội ngũ

GV ở các trường ĐH của Việt Nam

Một số công trình nghiên cứu kinh nghiệm thực hiện phương thức ĐT theo

HTTC của một số nước châu Á đáng quan tâm của tác giả Lê Văn Hảo với bài viết

“Tổ chức đào tạo đại học theo tín chỉ: Kinh nghiệm của Malaysia và so sánh với

Việt Nam” [29]; tác giả Phạm Thị Ly nghiên cứu về “Chuyển đổi sang hệ thống đào tạo theo tín chỉ - kinh nghiệm của Trung Quốc” [94]

Nghiên cứu thực trạng áp dụng các thành tố ĐT theo HTTC, việc áp dụng phương pháp dạy học trong ĐT theo HTTC là một trong những vấn đề quan tâm

trong ĐT và QLĐT theo HTTC được đề cập ở các Hội thảo “Đổi mới phương pháp

dạy theo học chế tín chỉ” của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP

Hồ Chí Minh [70], “Đổi mới phương pháp dạy học trong ĐT theo HTTC” của

Trường ĐH Sư phạm, ĐH Huế [72] Về tổ chức các hình thức dạy học, KT-ĐG

Trang 21

đáp ứng yêu cầu của ĐT theo HTTC, tác giả Tôn Quang Cường đã có bài viết

phân tích “Các hình thức tổ chức DH trong mối quan hệ với phương pháp DH và

phương pháp KT-ĐG trong ĐT tín chỉ” [92]; nhà nghiên cứu Nguyễn Đức Chính

đề xuất xây dựng quy trình KT- ĐG kết quả học tập theo yêu cầu của HTTC ở Việt Nam Đồng thời cũng nghiên cứu những điểm cần chú ý khi triển khai một quá trình DH nói chung và HTTC nói riêng [11]

Công tác cố vấn học tập được xem là một trong những hoạt động đặc trưng của ĐT theo HTTC so với niên chế học phần cũng được nhiều tác giả phân tích

Tác giả Phạm Thị Thanh Hải đã có bài viết “Một số nội dung của công tác cố vấn

học tập trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ của Hoa Kì và kinh nghiệm đối với Việt Nam” [28]

Nhà nghiên cứu GDĐH Nguyễn Phúc Chỉnh cũng đã có bài nghiên cứu thực tế

áp dụng ở một trường ĐH Sư phạm cụ thể “Đào tạo theo học chế tín chỉ ở Trường ĐH

Sư phạm, ĐH Thái Nguyên [12]

Nghiên cứu về sự chuyển đổi HTTC giữa Mỹ và các nước trên thế giới, Trường ĐH Penn State (Bang Pennsylvania, Mỹ) đã công bố công trình nghiên cứu

“Study on the use of credit systems in higher education cooperation between the EU

and the US” (Nghiên cứu về sử dụng HTTC trong sự hợp tác giáo dục đại học giữa

Mỹ và châu Âu) [89] Tác phẩm đã phân tích sự hình thành, phát triển và những

đặc trưng của ĐT theo HTTC ở các trường ĐH của mỗi châu lục Trên cơ sở đó,

so sánh sự tương đồng và khác biệt giữa hệ thống ECTS (European Credit Transfer System – Hệ thống chuyển đổi tín chỉ châu Âu) và USCS (United State Credit Systems - HTTC Mỹ) Những kết quả nghiên cứu giúp ích cho việc tìm hiểu nguồn gốc, mô hình ứng dụng và sự thành công của ĐT theo HTTC tại các trường

ĐH ở châu Âu và châu Mỹ

Hội thảo về ĐT theo HTTC do ASEM Education Secretariat (Văn phòng giáo dục các quốc gia thành viên Á, Âu) tổ chức vào tháng 4/2010 với sự tham dự

của 40 chuyên gia GDĐH Á, Âu đã công bố kết quả nghiên cứu “Credit Systems

and Learning Outcomes in ASEM Member Countries” (HTTC và kết quả học tập ở các nước thành viên ASEM) [80] Nghiên cứu đã phân tích và giới thiệu về

hệ thống đào tạo tín chỉ tại các nước thành viên của ASEM Nghiên cứu cũng cho thấy, ĐT theo HTTC là xu hướng toàn cầu và một trong những điều kiện để các

Trang 22

nước nói chung và các nước châu Á, thuộc thành viên ASEM, hội nhập với đào tạo

ĐH trên thế giới

Ở Đông Nam Á, nhà quản lý giáo dục Vipat Kuruchittham đã công bố

nghiên cứu “Cơ chế thúc đẩy hợp tác và hài hòa giáo dục đại học châu Á: Hệ thống

chuyển đổi tín chỉ và bảo đảm chất lượng” [76] Tác giả đã trình bày khái quát

thông tin về cơ chế thúc đẩy hợp tác và hài hòa GDĐH ở Châu Á, trong đó nhấn mạnh đến “thách thức của toàn cầu hóa và cộng đồng ASEAN, cần thiết đẩy nhanh triển khai hợp tác việc chuyển đổi tín chỉ và đảm bảo chất lượng ở các nước châu Á và Đông Nam Á(ASEAN) thông qua “Chương trình trao đổi sinh viên ASEAN”

Nghiên cứu về đào tạo theo HTTC trong các trường ĐHĐP có các công trình tiêu biểu như:

Trong hệ thống GDĐH Mỹ, loại hình Trường CĐ cộng đồng (Community Colleges) đã ra đời cách đây hơn 100 năm, là ĐH công lập trực thuộc chính phủ các bang của Mỹ, nhằm đáp ứng nhanh ĐT và dạy nghề của cộng đồng địa phương (mô hình này có nhiều điểm tương đồng với mô hình trường ĐHĐP ở Việt Nam) Đây là mô hình ĐT hai năm ĐH căn bản, nhằm thu hút đông đảo SV, không đặt ra yêu cầu cao ở đầu vào (giống như ĐH Đại cương của Việt Nam trước đây) Nghiên cứu về trường CĐ cộng đồng ở Mỹ, năm 2012 Hiệp hội CĐ cộng đồng Mỹ AACC (The American Association of Community Colleges) đã công bố tài liệu

“The Council for the Study of Community Colleges Response to Reclaiming the American Dream Community Colleges and the Nation’s Future” (Ủy ban nghiên cứu

các giải pháp CĐ cộng đồng Mỹ nhằm đáp ứng ước mơ của CĐ cộng đồng Mỹ và tương lai nước Mỹ) [85] Nội dung tài liệu trình bày bảy giải pháp CĐ cộng đồng của

Ủy ban thế kỷ 21 Công trình nghiên cứu về trường CĐ cộng đồng này đã đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực ĐT đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp của các trường CĐ cộng đồng ở Mỹ trong giai đoạn hiện nay Đây là tài liệu mà các trường ĐHĐP ở Việt Nam có thể tham khảo vận dụng vào các giải pháp QLĐT nhằm gắn

mục tiêu ĐT đáp ứng NCXH ở Việt Nam

Nghiên cứu và minh chứng về sứ mạng của một trường ĐHĐP ở trung Quốc,

nhà nghiên cứu Lin Yangfan công bố bài báo “Reflection on Responsibility of Serving

Society of Local Higher Education Institutions - Take Wenzhou Higher Education

Trang 23

Institutions as Examples” (Bàn về trách nhiệm phục vụ xã hội của các cơ sở giáo dục ĐHĐP – Lấy các cơ sở GDĐH ở Ôn Châu làm ví dụ) [88] Trên cơ sở

nghiên cứu các trường ĐHĐP ở Ôn Châu, tác giả khẳng định việc hoàn thành

sứ mạng phục vụ xã hội địa phương của trường ĐHĐP phụ thuộc vào ba thành tố sau: sự hiểu biết đúng đắn về mối quan hệ giữa giảng dạy, NCKH và phục vụ xã hội; chú trọng đến sự chuyển đổi nhanh chóng của các thành quả NCKH; xây dựng chính quyền địa phương với môi trường chính sách và môi trường xã hội tốt hơn

Ở trong nước, nghiên cứu về vai trò của trường ĐHĐP, các tác giả

Đặng Bá Lãm và Ngô Thị Minh đã công bố bài báo “Trường cao đẳng cộng đồng,

đại học thuộc tỉnh và việc đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của các

địa phương nước ta” [46]

Một số luận án tiến sĩ liên quan như: tác giả Dương Đức Hùng với đề tài

“Cơ sở khoa học xây dựng trường ĐHĐP đáp ứng yêu cầu đào tạo nhân lực trong

bối cảnh hiện nay” [34] đã làm rõ một số vấn đề lý luận xây dựng trường ĐHĐP

đáp ứng yêu cầu ĐT nhân lực, nhất là nhân lực tại chỗ trong bối cảnh hiện nay; khẳng định ưu thế và vai trò của trường ĐHĐP so với các thiết chế giáo dục khác trên địa bàn; làm rõ thực trạng trường ĐHĐP ở Việt Nam, xác định các đặc trưng khác biệt so với trường ĐH truyền thống, phát hiện các hạn chế chủ yếu, điểm mạnh, yếu, thời cơ, nguy cơ của trường ĐHĐP; đề xuất những giải pháp cơ bản xây dựng

mô hình tổ chức và hoạt động ĐT của trường ĐHĐP mang tính đặc thù khác biệt với

ĐH truyền thống, tăng cường tính địa phương và gia tăng khả năng phục vụ nền kinh tế địa phương, đáp ứng yêu cầu ĐT nhân lực trong bối cảnh hiện nay Trước đó,

tác giả Nguyễn Huy Vị đã bảo vệ luận án “Nghiên cứu mô hình trường CĐ

cộng đồng đáp ứng nhu cầu phát triển KT-XH của địa phương ở Việt Nam” [74]

Công trình nghiên cứu của tác giả Đào Thanh Hải [27] “Đào tạo tín chỉ

trong các trường ĐHĐP– Thực trạng và giải pháp” đã khái quát tổng quan về

HTTC và việc áp dụng ĐT theo HTTC ở Việt Nam; nêu các nhược điểm trong ĐT theo HTTC ở các trường ĐHĐP Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số biện pháp cải thiện hoạt động ĐT theo HTTC (khuyến khích sự tham gia tích cực của người học vào QTĐT; tăng cường vai trò và nhiệm vụ của GV; tạo cơ chế QLĐT linh hoạt, phù hợp với thực tế về chính sách tuyển sinh, quản lý học vụ, CSVC)

Trang 24

Đồng tác giả Nguyễn Đức Vượng và Lê Trọng Đại cũng đã có bài viết: “Tìm lời

giải bài toán đào tạo theo hệ thống tín chỉ trong các trường ĐHĐP ở Việt Nam hiện nay” [78] Các tác giả đã trình bày thực trạng áp dụng loại hình ĐT theo HTTC

trong các trường ĐH ở Việt Nam nói chung và trường ĐHĐP thời gian qua, đồng thời đề xuất các giải pháp giải quyết các khó khăn trong ĐT theo HTTC

Ở một số Hội thảo khoa học của các trường ĐHĐP đã có nhiều báo cáo liên quan đến quy trình ĐT, các nội dung của ĐT theo HTTC Tháng 5/2013,

Trường ĐH Hà Tĩnh đã tổ chức Hội thảo “Dạy và học theo học chế tín chỉ” [68]

với 22 bài viết từ các tác giả trong và ngoài trường đã đề cập một cách khá đầy đủ, toàn diện mọi mặt, mọi khâu của QTĐT theo HT Tháng 5/2014, Trường ĐH Quảng

Nam tổ chức Hội thảo khoa học “Đổi mới hình thức tổ chức và phương pháp dạy học

trong ĐT theo HCTC” [71] đã có nhiều báo cáo về “Đổi mới phương pháp DH; đổi

mới hình thức tổ chức DH” rất phong phú, sinh động đúc rút từ áp dụng ĐT theo HTTC của các trường ĐH và trường ĐHĐP

Các nghiên cứu trên đã khẳng định ưu thế và xu hướng toàn cầu của phương thức ĐT theo HTTC của hệ thống GDĐH không chỉ ở các nước phát triển

mà còn ở cả các nước đang phát triển trên cơ sở đáp ứng các điều kiện cần thiết và

lộ trình phù hợp Đồng thời các tác giã đã đưa ra được nhiều kinh nghiệm về thực hiện QTĐT theo HTTC trong các trường ĐH trong và ngoài nước Trên cơ sở đó, các nhà khoa học, các nhà quản lý GDĐH có thêm cơ sở lý luận và thực tiễn để kế thừa

và phát triển việc nghiên cứu, áp dụng thành công phương thức ĐT theo HTTC trong các trường ĐH ở Việt Nam, trong đó có các trường ĐHĐP

1.1.2 Nghiên cứu về quản lý đào tạo theo hệ thống tín chỉ trong các trường đại học

Ở Anh Quốc, các nhà quản lý giáo dục Robert Allen, Geoff Layer, Pollard

Derek đã xuất bản công trình nghiên cứu “Credit-Based System as Vehicle for Change

in Universitues and Colleges” (HTTC - Phương tiện thay đổi trong các trường ĐH và CĐ) [90] Các tác giả đã khẳng định sự phát triển của GDĐH đại chúng là thách thức

đối với các nhà quản lý và nhu cầu tất yếu phải có sự thay đổi hệ thống GDĐH

Mới đây, tác giả Frank L Kurre đã công bố cuốn “The state of higher

education in 2013” (Nhà nước của giáo dục đại học năm 2013) [83] Trên cơ sở

Trang 25

thực tiễn về tình hình phát triển KT-XH, sự mở rộng mạng lưới các trường ĐH ở Mỹ, tác giả phân tích những khó khăn mà các trường ĐH cần phải xác định rõ nguyên nhân

và tìm ra những giải pháp thích hợp để duy trì hoạt động và phát triển bền vững Tác giả đã đề xuất những giải pháp quản lý hoạt động phục vụ đào tạo trong nghiên cứu có thể xem xét, vận dụng linh hoạt vào các trường đại học trên thế giới

Luận án TS của tác giả Bùi Thị Thu Hương [39] về “Quản lý chất lượng

chương trình đào tạo cử nhân chất lượng cao tại Đại học Quốc gia Hà Nội theo tiếp cận quản lý chất lượng tổng thể” đã nghiên cứu hệ thống hóa những vấn đề

lý luận về quản lý chất lượng CTĐT nói chung, quản lý chất lượng theo quan điểm quản lý chất lượng tổng thể nói riêng đối với QTĐT hệ cử nhân chất lượng cao tại các trường ĐH; Cụ thể hóa nội dung và quy trình theo cách tiếp cận này cho quản lý nhằm đào tạo một đội ngũ nhân lực chất lượng cao, phù hợp với xu thế hội nhập hiện nay; Đề xuất một số biện pháp vận dụng một số đặc trưng cơ bản của quản lý chất lượng tổng thể vào quản lý chất lượng CTĐT hệ cử nhân chất lượng cao, đồng thời khuyến nghị với các cơ quan quản lý về đào tạo cơ chế và chính sách phù hợp để trường ĐH có thể từng bước đưa triết lý quản lý chất lượng tổng thể vào quản lý chất lượng CTĐT của trường mình

Đặc biệt, luận án TS của tác giả Cấn Thị Thanh Hương “Nghiên cứu quản lý

kiểm tra, đánh giá kết quả học tập trong giáo dục đại học ở Việt Nam” [37] đã có

những đóng góp mới: Góp phần làm sáng tỏ những lý luận cơ bản về KT-ĐG kết quả học tập và vận dụng khoa học quản lý vào quản lý KT-ĐG kết quả học tập trong GDĐH; Đánh giá thực trạng quản lý KTĐG kết quả học tập trong GDĐH và chỉ ra những yêu cầu phát triển của xã hội, của GDĐH đối với quản lý KT-ĐG kết quả học tập; Đề xuất các giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động KT-ĐG kết quả học tập ở bậc ĐH có tính khả thi và phù hợp với thực tiễn GDĐH Việt Nam đầu thế kỷ XXI

Đối với hoạt động CVHT, tác giả Nguyễn Thị Diệu Linh có bài báo “Quản lý

hoạt động của cố vấn học tập trong đào tạo theo học chế tín chỉ” đã trình bày các

giải pháp chủ yếu, thiết thực nhằm nâng cao chất lượng công tác CVHT trong ĐT theo HTTC [47]

Các nghiên cứu về giải pháp QLĐT theo HTTC cũng được nhiều tác giả

công bố Tác giả Nguyễn Văn Nhã đã có bài viết “Các giải pháp triển khai

Trang 26

phương thức đào tạo theo tín chỉ ở Đại học Quốc Gia Hà Nội” [53], đưa ra các

giải pháp để nâng cao CLĐT trong học chế tín chỉ Tác giả Nguyễn Quang Giao cũng

quan tâm đến vấn đề này và đã công bố nghiên cứu “Một số giải pháp cơ bản

nâng cao CLĐT của các trường ĐH hiện nay” [26] Nhà quản lý GDĐH Vinh,

Phạm Minh Hùng nhấn mạnh vai trò đổi mới các giải pháp quản lý trong bài

“Đổi mới công tác quản lý đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở các trường Đại học” [35] đã

nêu các đặc trưng của phương thức ĐT theo HTTC và đề ra yêu cầu cần đổi mới mạnh mẽ công tác QLĐT ở một số lĩnh vực

Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Hữu Hoan [32] về “Quản lý và đánh giá

chương trình môn học trình độ ĐH trong HCTC” đã nghiên cứu một cách có

hệ thống và làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về chương trình giáo dục, chương trình môn học Luận án đã đề xuất mẫu cấu trúc chương trình môn học, bộ tiêu chí đánh giá chương trình môn học Kết quả nghiên cứu của luận án có ý nghĩa thực tiễn đối với các cơ sở GDĐH nước ta trong giai đoạn hiện nay khi đang chuyển đổi sang phương thức ĐT theo HTTC

Bên cạnh đó, luận án TS của tác giả Nguyễn Mai Hương “Quản lý quá trình

dạy và học theo HCTC trong các trường ĐH ở Việt Nam giai đoạn hiện nay” [36]

Kết quả nghiên cứu cho thấy việc vận dụng đồng bộ và triệt để các biện pháp quản lý quá trình DH thích ứng với các đặc điểm của HCTC ở ĐH sẽ tháo gỡ được các rào cản và tăng thêm động lực trong quá trình chuyển đổi sang HCTC, góp phần triển khai thành công phương thức ĐT theo HCTC trong các trường ĐH ở Việt Nam giai đoạn hiện nay

Về nghiên cứu áp dụng HTTC ở các trường đại học sư phạm, tác giả

Lê Quang Sơn cũng đã công bố nghiên cứu về “Những vấn đề của quản lý

giáo dục theo học chế tín chỉ ở trường ĐH Sư phạm” [59] Hoạt động đảm bảo

chất lượng, văn hóa chất lượng, văn hóa nhà trường được các tác giả Hoàng Thị

Xuân Hoa, Tạ Thị Thu Hiền nghiên cứu với bài viết “Đảm bảo chất lượng

giáo dục đại học: Kinh nghiệm của Đại học Quốc gia Hà Nội” [31] Tác giả

Nguyễn Thị Thu Hương quan tâm mối quan hệ giữa “Văn hóa chất lượng và

hệ thống đảm bảo chất lượng trong trường đại học – những nhận diện và thách thức trong tiến trình đổi mới giáo dục đại học” [41]

Trang 27

Phát triển đội ngũ giảng viên đại học đã được tác giả Nguyễn Thị Thu Hương công bố bài báo “Xây dựng đội ngũ GV trong trường ĐH-Thực trạng và giải pháp” [40] Tác giả Lê Thị Phương Nam đã công bố nội dung đề tài “Thực trạng và giải pháp

nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên ĐH giai đoạn 2010 - 2015” [96] Tác giả

Nguyễn Hữu Lam quan tâm nghiên cứu về vấn đề năng lực của GV trong bài viết

“Phát triển năng lực GV nhằm nâng cao CLĐT trong các trường ĐH, CĐ trong

điều kiện toàn cầu hóa và sự bùng nổ tri thức hiện nay trên thế giới” [93] Về

nội dung này, luận án TS của tác giả Nguyễn Văn Thiện “Phát triển đội ngũ GV các

trường ĐH ở vùng đồng bằng sông Cửu Long đáp ứng yêu cầu đổi mới GDĐH”

[61] đã đề xuất mô hình cấu trúc nhân cách mới của người GV trong thời đại kinh

tế tri thức; xác định ba loại nhu cầu sát hợp và cấp thiết cần ĐT, bồi dưỡng đối với đội ngũ GV các trường ĐH ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long; từ đó, xác lập những giải pháp cụ thể giúp các trường triển khai thực hiện để nâng cao phẩm chất, năng lực đội ngũ, coi đây là cơ sở nền tảng, là yếu tố quyết định và hướng

tiếp cận để mỗi GV phấn đấu đạt chuẩn khu vực và quốc tế

Nghiên cứu về quản lý đào tạo theo hệ thống tín chỉ trong các trường đại học địa phương có một số nghiên cứu điển hình như sau:

Nhà nghiên cứu Huang Xiao-qin trong bài báo “Analysis of the Management

of Credit System in Local University” (Phân tích quản lý hệ thống tín chỉ ở trường đại học địa phương) [84] đã so sánh sự khác nhau cơ bản giữa ĐT truyền thống và

ĐT theo HTTC là tính cứng nhắc và linh hoạt Lấy trường ĐH Sư phạm Quảng Châu làm ví dụ, tác giả đã nêu ra những hạn chế trong tổ chức ĐT theo HTTC ở các trường ĐHĐP Trung Quốc và đề ra các biện pháp cụ thể trong quản lý như quản lý GV, quản lý chương trình, quản lý điều kiện phục vụ …

Nghiên cứu về sứ mệnh, vai trò của các trường ĐHĐP, hai tác giả Dong

Ze-fang, Zang Ji-ping đã công bố bài báo “On value orientation of social service of local

universities” (Về định hướng giá trị phục vụ xã hội của các trường ĐHĐP) [82]

Bài báo định hướng giá trị phục vụ xã hội của trường ĐHĐP: củng cố và phát huy nội lực NCKH là chủ đạo; nuôi dưỡng tài năng và hỗ trợ họ để vượt qua những nút thắt cổ chai trong quá trình phát triển; phục vụ địa phương để dần dần là cả nước

Nhà khoa học Wang Yiping nhấn mạnh về mối quan hệ tương tác giữa

phục vụ xã hội và ĐT nhân lực của các trường ĐHĐP trong bài báo “A Study on the

Trang 28

Interactive Model between Social Service and Applied Talent Trainign of the Local

Universities” (Nghiên cứu về mô hình tương tác giữa phục vụ xã hội và ĐT nhân lực

của các trường ĐHĐP)[91] Tác giả cho rằng, trường ĐHĐP có thể tích hợp vai trò ĐT

năng lực ứng dụng và các dịch vụ xã hội thông qua những hoạt động khai thác giá trị

và xây dựng môi trường tương tác, chọn lọc các phương pháp tương tác và phát triển

cơ chế tương tác để tạo đà phát triển nhanh chóng năng lực cạnh tranh của mình

Năm 2014, đề tài nghiên cứu có tác động quan trọng đến QLĐT ở các trường

ĐHĐP của tác giả Ngô Thị Minh, luận án tiến sĩ "Hoàn thiện chính sách đối với

trường ĐH thuộc tỉnh ở Việt Nam trong bối cảnh hiện nay” [51] Luận án đã hệ thống

hóa các vấn đề mang tính lý luận dựa trên khoa học quản lý giáo dục, kinh tế học,

xã hội học,… về các chính sách tác động trực tiếp việc thực hiện sứ mệnh của trường ĐH thuộc tỉnh hiện nay Về thực tiễn: Luận án đã nghiên cứu, phân tích, đánh giá tác động của việc ban hành, triển khai một số chính sách hiện hành, chỉ ra những bất cập, làm cản trở sự phát triển loại trường ĐH thuộc tỉnh ở Việt Nam; từ đó thấy được sự cần thiết phải hoàn thiện chính sách đối với trường ĐH thuộc tỉnh

Một số nghiên cứu chung về QLĐT theo HTTC ở trường ĐHĐP đáng quan tâm

như: Tác giả Trần Văn Chương đã có bài báo: “Định hướng đổi mới phát triển

trường ĐHĐP theo Nghị quyết TW 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện ĐT” [15] Tác giả đề xuất định hướng đổi mới mục tiêu đào tạo của trường ĐHĐP

GD-phải bảo đảm phát triển quy mô ngành, nghề, số lượng người học ở các trình độ

ĐT và CLĐT đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp của xã hội; đồng thời đổi mới các nhiệm vụ

và giải pháp nhằm thực hiện mục tiêu đào tạo nêu trên

Một số nội dung của QLĐT theo HTTC ở trường ĐHĐP cũng được một số

tác giả nghiên cứu và công bố Tác giả Nguyễn Mạnh An đã có bài báo: “Giải pháp

đẩy mạnh hoạt động NCKH ở các trường ĐHĐP” [3] Trên cơ sở phân tích những

thuận lợi và hạn chế trong hoạt động NCKH ở các trường ĐHĐP, tác giả đã đề xuất một số giải pháp đẩy mạnh hoạt động NCKH đối với trường ĐHĐP; đồng thời cũng kiến nghị với Bộ GD-ĐT, UBND Tỉnh thành lập trường ĐHĐP một số chủ trương tạo điều kiện thuận lợi trong đầu tư phát triển trường ĐHĐP nói chung và công tác NCKH

Các tác giả Trần Văn Chương, Lê Bạt Sơn công bố bài báo: “Đổi mới công tác hỗ trợ

sinh viên ở trường đại học địa phương hướng đến mục tiêu đào tạo đáp ứng nhu cầu

Trang 29

xã hội” [16] đã đề xuất các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu đổi mới hoạt động hỗ trợ SV

nhằm giải quyết tình trạng thất nghiệp của SV sau khi tốt nghiệp ra trường

Bên cạnh các nghiên cứu chung về phương thức ĐT theo HTTC ở các trường

ĐHĐP, đã có một số nghiên cứu riêng về từng trường ĐHĐP, tiêu biểu như bài viết

của nhà quản lý GDĐH Nguyễn Mạnh An viết bài giới thiệu “Trường Đại học

Hồng Đức - lá cờ đầu của các trường ĐH trực thuộc địa phương ở Việt Nam” [2]

Tác giả đã khái quát những thành tựu quan trọng từ ngày thành lập trường (24/9/1997) đến năm 2012, đặc biệt là trong giai đoạn áp dụng ĐT theo HTTC từ năm học 2008-2009, bước đầu đã đạt được kết quả tích cực về nhận thức, về đổi mới phương pháp dạy và học, về CSVC, phương tiện DH; khẳng định điều quan trọng đối với nhà trường là đang dần làm chủ một phương thức ĐT tiên tiến của giáo dục

hiện nay Tác giả Trần Văn Chương có bài viết “Quản lý đào tạo theo hệ thống

tín chỉ ở trường ĐH Phú Yên” [13] đã nêu kết quả QLĐT theo HTTC ở Trường ĐH

Phú Yên thể hiện ở kết quả học tập của SV qua 4 năm học, từ 2009-2010 đến

2012-2013, những khó khăn chủ yếu; đồng thời trình bày bảy biện pháp quản lý đã triển khai thực hiện đạt kết quả bước đầu Quan tâm đến mục tiêu ĐT đáp ứng NCXH, nhà

quản lý GDĐH Nguyễn Văn Đính đã có bài viết: “Nâng cao CLĐT đáp ứng NCXH ở

Trường ĐH Hà Tĩnh – Một số vấn đề lí luận và thực tiễn” [23] Tác giả nhấn mạnh

tầm quan trọng của yêu cầu “Nâng cao CLĐT đáp ứng NCXH”; đồng thời nêu một số

đề xuất cơ bản đối với các cơ quan quản lý Nhà nước, các cơ sở ĐT, các cơ sở

sử dụng SV tốt nghiệp

Một số nội dung QLĐT cụ thể của trường ĐHĐP cũng đã có một số nghiên cứu đăng ở các tạp chí chuyên ngành Tác giả Trần Văn Chương có bài viết

“Phương hướng xây dựng đội ngũ GV Trường ĐH Phú Yên đến năm 2020” [14] đã

phân tích thực trạng đội ngũ GV của Trường ĐH Phú Yên, trên cơ sở đó đề xuất phương hướng xây dựng đội ngũ GV đến năm 2020 đáp ứng yêu cầu cơ bản của ĐT theo HTTC nhằm nâng cao CLĐT nhân lực phục vụ phát triển KT-XH địa phương;

đồng thời đề xuất năm giải pháp chủ yếu xây dựng đội ngũ GV Tác giả Trần Anh Vũ quan tâm công tác KT-ĐG trong ĐT theo HTTC đã có bài báo “Đổi mới công tác

KT-ĐG nhằm nâng cao CLĐT tại Trường ĐH Hà Tĩnh” [77] Trên cơ sở lý luận và

thực tiễn về công tác KT-ĐG, tác giả đã nêu 5 biện pháp chỉ đạo đổi mới công tác này

Liên quan đến hoạt động KT-ĐG, tác giả Nguyễn Thị Bạch Vân công bố bài

Trang 30

“Đánh giá kết quả học tập của SV theo HCTC qua nghiên cứu tại Trường ĐH

Trà Vinh” [73] Qua kết quả khảo sát thực tế công tác ĐT tại Trường ĐH Trà Vinh,

tác giả đề xuất các biện pháp cần thực hiện đồng bộ để đảm bảo đánh giá kết quả

học tập của SV

Ở một số Hội thảo khoa học của các trường ĐHĐP đã có nhiều báo cáo liên quan

đến QLĐT theo HTTC Tháng 5/2013, Trường ĐH Hà Tĩnh đã tổ chức Hội thảo

“Dạy và học theo học chế tín chỉ” [68] với nhiều bài viết từ các tác giả trong và

ngoài trường đã đề cập một số thành tố của QLĐT theo HTTC Tháng 10/2013,

Trường ĐH Hùng Vương cũng đã tổ chức khá quy mô Hội thảo khoa học "Nâng cao

hiệu quả ĐT theo HCTH trong trường đại học” [69] Các báo cáo tham luận đã

tập trung phân tích những vấn đề chung về thực trạng, tiềm năng và đưa ra nhiều kinh nghiệm, sáng kiến để thực hiện thành công quá trình chuyển đổi một cách

toàn diện, sâu sắc, có hiệu quả phương thức ĐT theo HTTC…

Các công trình nghiên cứu về QLĐT theo HTTC trong các trường ĐHĐP

trong và ngoài nước được luận án trình bày đã nêu nhiều kinh nghiệm về quá trình

QLĐT theo HTTC trong các trường ĐHĐP Trên cơ sở đó, các nhà khoa học, các

nhà quản lý GDĐH có thêm cơ sở lý luận và thực tiễn để kế thừa và phát triển việc

nghiên cứu, áp dụng thành công phương thức ĐT theo HTTC trong các trường

ĐHĐP ở Việt Nam, trong đó có các trường ĐHĐP

1.1.3 Nhận xét chung

Từ tổng quan nghiên cứu QLĐT theo HTTC ở trường ĐH nói chung và

ở trường ĐHĐP trình bày như trên, có thể thấy trong suốt quá trình triển khai ĐT

theo HTTC ở hệ thống GDĐH các nước trên thế giới đến nay, đã có rất nhiều nhà

khoa học dày công nghiên cứu và công bố các công trình nghiên cứu về ĐT và

QLĐT theo HTTC (về cơ sở lý luận, thực tiễn, đúc rút bài học kinh nghiệm, định hướng các giải pháp nâng cao CLĐT và QLĐT,…) ở các tạp chí chuyên ngành,

kỷ yếu hội thảo khoa học, các trang web, các luận văn ThS, luận án TS và sách

nghiên cứu về ĐT theo HTTC Tuy nhiên, về lĩnh vực QLĐT, các công trình

nghiên cứu đã được công bố ở các tạp chí chuyên ngành, kỷ yếu hội thảo khoa học,

trang web chỉ trình bày khái quát thực trạng ĐT theo HTTC của hệ thống GDĐH

hoặc từng trường ĐH và đề xuất định hướng giải pháp nâng cao CLĐT theo HTTC

Trang 31

trong công tác QLĐT toàn trường, của từng khoa, từng ngành học hoặc chỉ đề xuất giải pháp quản lý ở một số lĩnh vực của QLĐT theo HTTC Đối với các luận văn ThS, luận án TS và sách nghiên cứu về ĐT theo HTTC cũng chỉ mới đi sâu nghiên cứu đến một số lĩnh vực về QLĐT ở trường ĐH nói chung; nghiên cứu về mô hình trường ĐHĐP, CĐ cộng đồng ở Việt Nam Chưa có công trình nghiên cứu sâu và toàn diện

về các giải pháp QLĐT trong các trường ĐHĐP ở Việt Nam Vì vậy, việc đi sâu nghiên cứu về công tác QLĐT theo HTTC để có cơ sở xây dựng hệ thống giải pháp QLĐT phù hợp và đồng bộ, đáp ứng các yêu cầu cơ bản của ĐT theo HTTC trong các trường ĐHĐP ở Việt Nam nhằm nâng cao CLĐT nhân lực phục vụ nhu cầu CNH-HĐH địa phương đang là nhiệm vụ hết sức quan trọng, cần thiết và cấp bách đối với các trường ĐHĐP ở Việt Nam và toàn bộ hệ thống GDĐH nước nhà, đáp ứng yêu

cầu Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 về “Đổi mới căn bản, toàn diện

GD-ĐT, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”

1.2 Đào tạo đại học theo hệ thống tín chỉ

1.2.1 Đào tạo đại học

1.2.1.1 Đào tạo

Đào tạo là quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công lao động nhất định, góp phần của mình vào việc phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người [75, tr.298]

Đào tạo là hoạt động mang tính phối hợp giữa các chủ thể dạy học (người dạy và người học), là sự thống nhất hữu cơ giữa hai mặt dạy và học tiến hành trong một cơ sở giáo dục, mà trong đó tính chất, phạm vi, cấp độ, cấu trúc, quy trình của hoạt động được quy định một cách chặt chẽ, cụ thể về: mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức, cơ sở vật chất và thiết bị

dạy học, đánh giá kết quả đào tạo, cũng như về thời gian và đối tượng ĐT cụ thể [59]

1.2.1.2 Trường đại học

Các cơ sở GDĐH trong hệ thống giáo dục quốc dân gồm: a) Trường cao đẳng; b) Trường đại học, học viện; c) ĐH vùng, ĐH quốc gia (sau đây gọi chung là ĐH);

Trang 32

d) Viện nghiên cứu khoa học được phép đào tạo trình độ tiến sĩ (Theo Điều 7, Luật GDĐH)

Trường ĐH đào tạo trình độ ĐH từ 4 - 6 năm tùy theo ngành nghề ĐT đối với người có bằng tốt nghiệp THPT hoặc bằng tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp; từ 1 đến 2 năm đối với người có bằng tốt nghiệp CĐ cùng chuyên ngành (Điều 38, Luật Giáo dục năm 2005) Theo Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014, việc liên thông giữa các trình độ ĐT của giáo dục nghề nghiệp với các trình độ ĐT của GDĐH được thực hiện theo quy định của Thủ tướng Chính phủ (Điều 9, Khoản 3, Luật Giáo dục nghề nghiệp)

Theo tác giả, Trường đại học (tiếng Anh: University) là một cơ sở giáo dục bậc cao tiếp theo bậc trung học dành cho những học sinh có khả năng và nguyện vọng học tập tiếp lên trên Trường ĐH cung cấp cho SV học vấn cao và cấp các bằng cấp khoa học trong nhiều các lĩnh vực ngành nghề Các trường ĐH có thể cung cấp các chương trình cao đẳng, đại học và sau đại học

Cơ sở GDĐH được phân tầng nhằm phục vụ công tác quy hoạch mạng lưới phù hợp với yêu cầu phát triển KT-XH và xây dựng kế hoạch đầu tư phát triển, nâng cao năng lực ĐT và NCKH của cơ sở GDĐH; thực hiện quản lý nhà nước

Cơ sở GDĐH được phân tầng thành: a) Cơ sở GDĐH định hướng nghiên cứu; b) Cơ sở GDĐH định hướng ứng dụng; c) Cơ sở GDĐH định hướng thực hành (Điều 9, Khoản 4, Luật GDĐH)

1.2.1.3 Đào tạo đại học

* Khái niệm Đào tạo đại học

Đào tạo đại học là đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao, có năng lực

tư duy, có khả năng sáng tạo Trong hoạt động đào tạo ĐH cần triển khai đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp dạy và học, xây dựng danh mục ngành nghề đào tạo, hệ thống đảm bảo và kiểm định chất lượng đào tạo ĐH, tiến tới hội nhập với cộng đồng GDĐH của các nước trong khu vực và thế giới [66]

Theo Luật GDĐH: Mục tiêu chung của GDĐH là đào tạo nhân lực, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài; NCKH, công nghệ tạo ra tri thức, sản phẩm mới, phục vụ

yêu cầu phát triển KT-XH, bảo đảm quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế [57]

Trang 33

* Nội dung đào tạo đại học

Đào tạo ĐH cùng với NCKH và dịch vụ phục vụ cộng đồng, là hoạt động đặc trưng của trường ĐH Đó là hoạt động chuyển giao có hệ thống, có phương pháp những kinh nghiệm, những tri thức, những kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp chuyên môn, đồng thời bồi dưỡng những phẩm chất đạo đức cần thiết

và chuẩn bị tâm thế cho người học đi vào cuộc sống lao động tự lập và góp phần

xây dựng, bảo vệ đất nước

Xét từ góc độ chuyển giao kinh nghiệm, tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp chuyên môn, bồi dưỡng những phẩm chất đạo đức cần thiết và chuẩn bị tâm thế lao động cho người học, đào tạo ĐH được cấu thành bởi các

thành tố cấu trúc gồm mục tiêu, nội dung, chương trình, phương pháp, phương tiện

và hình thức tổ chức các hoạt động đào tạo

Quá trình chuyển giao năng lực nghề nghiệp được thực hiện trong hoạt động

cùng nhau của thầy và trò trong một môi trường DH xác định Xét từ góc độ này

đào tạo ĐH bao gồm các thành tố: 1) hoạt động dạy của GV; 2) hoạt động học của

SV; và 3) môi trường ĐT (môi trường vật chất và môi trường tinh thần, môi trường

kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục và dạy học, xét học vụ và công nhận tốt nghiệp,

cấp phát văn bằng, chứng chỉ, kiểm định và đảm bảo chất lượng đào tạo [59]

1.2.2 Đào tạo đại học theo hệ thống tín chỉ

1.2.2.1 Khái quát về hệ thống tín chỉ

* Khái niệm tín chỉ

Đào tạo theo HTTC là phương thức đào tạo tiên tiến trên thế giới Trong các tài liệu nghiên cứu có hơn 60 định nghĩa về tín chỉ Định nghĩa về tín chỉ được biết

đến nhiều nhất ở Việt Nam là của học giả người Mỹ gốc Trung Quốc James Quann

thuộc ĐH Quốc gia Washington Theo quan điểm của James Quann thì tín chỉ

Trang 34

học tập là một đại lượng đo toàn bộ thời gian bắt buộc của một người học

bình thường để học một môn học cụ thể, bao gồm: 1) thời gian lên lớp; 2) thời gian

ở trong phòng thí nghiệm, thực tập hoặc các phần việc khác đã được quy định ở thời khoá biểu; 3) thời gian dành cho đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn đề, viết hoặc chuẩn bị bài; đối với các môn học lý thuyết 1 tín chỉ là một giờ học trên lớp (với 2 giờ chuẩn bị ở nhà) trong 1 tuần và kéo dài trong 1 học kỳ 15 tuần; đối với các môn học ở studio hay phòng thí nghiệm - ít nhất là 2 giờ trong 1 tuần (với 1 giờ chuẩn bị

ở nhà); đối với việc tự học, tự nghiên cứu - ít nhất là 3 giờ làm việc trong 1 tuần

Theo Quy chế 43 của Bộ GD-ĐT thì “Tín chỉ được sử dụng để tính

khối lượng học tập của SV Một tín chỉ được quy định bằng 15 tiết học lý thuyết,

30 - 45 tiết thực hành, thí nghiệm hoặc thảo luận , 45-90 giờ thực tập tại cơ sở, 45 -

60 giờ làm tiểu luận, bài tập lớn hoặc đồ án, khóa luận tốt nghiệp” Đối với những

học phần lý thuyết hoặc thực hành, thí nghiệm, để tiếp thu được một tín chỉ SV phải dành ít nhất 30 giờ chuẩn bị cá nhân

Như vậy, tín chỉ là một đại lượng dùng để đo khối lượng kiến thức, kỹ năng học tập của SV cần phải tích lũy trong một khoảng thời gian nhất định, thông qua các hình thức: học tập trên lớp, học tập trong phòng thí nghiệm, thực tập làm đồ án, khóa luận tốt nghiệp, hoạt động tự học của SV

* Hệ thống tín chỉ

- Hệ thống tín chỉ là bảng liệt kê:(1) Số tín chỉ được gán cho mỗi môn học:

quy định số giờ lên lớp lý thuyết, hoặc thực hành cho một môn học trong 1 tuần trong suốt học kỳ (2) Số tín chỉ cần tích lũy để đạt một văn bằng (3) Số lượng các môn học và các phương thức tổ hợp các môn học để tích lũy số tín chỉ cần cho một văn bằng

- Đặc điểm cơ bản của HTTC: (1) Đòi hỏi SV phải tích lũy kiến thức theo

từng học phần (đơn vị: tín chỉ); (2) Kiến thức cấu trúc thành các module (học phần); (3) Quy định khối lượng kiến thức phải tích lũy cho từng văn bằng; (4) Xếp năm học của người học theo khối lượng tín chỉ tích lũy; (5) CTĐT mềm dẻo: cùng với các học phần bắt buộc còn có các học phần tự chọn  cho phép SV dễ dàng điều chỉnh ngành nghề ĐT; (6) Đánh giá thường xuyên, thang điểm chữ, điểm trung bình

Trang 35

tốt nghiệp  2.00; (7) Dạy học lấy SV làm trung tâm; (8) Đơn vị học vụ là học kỳ,

mỗi năm có thể chia thành 2 học kỳ (15 tuần), 3 học kỳ (15 tuần) hoặc 4 học kỳ (10

tuần); (9) Ghi danh học đầu mỗi học kỳ, lớp học tổ chức theo mỗi học phần; (10) Có

hệ thống cố vấn học tập; (11) Có thể tuyển sinh theo học kỳ; (12) Không thi tốt nghiệp, không tổ chức bảo vệ khóa luận tốt nghiệp đối với các chương trình ĐH

hoặc CĐ; (13) Chỉ có 1 văn bằng chính quy đối với 2 loại hình tập trung và không

tập trung [43]

* Ưu, nhược điểm của ĐT theo HTTC

- Các ưu điểm chính

Phương thức ĐT theo HTTC có các ưu điểm cơ bản: (1) Thực hiện triết lý

“Lấy người học làm trung tâm”; (2) Tăng tính thực tiễn và hiệu quả đào tạo; (3) Coi trọng việc học - tự học để người học có năng lực thích ứng

Các ưu điểm được trình bày cụ thể như sau:

+ Có hiệu quả đào tạo cao: HTTC cho phép ghi nhận kịp thời tiến trình

tích lũy kiến thức và kỹ năng của SV để dẫn đến văn bằng Với học chế này, SV

được chủ động thiết kế kế hoạch học tập cho mình, được quyền lựa chọn cho mình

tiến độ học tập thích hợp với khả năng, sở trường và hoàn cảnh riêng Điều đó

đảm bảo cho QTĐT trong các trường ĐH trở nên mềm dẻo hơn, đồng thời cũng tạo

khả năng cho việc thiết kế chương trình liên thông giữa các cấp đào tạo ĐH và giữa

các ngành ĐT khác nhau

Học chế tín chỉ cho phép ghi nhận cả những kiến thức và khả năng tích luỹ

được ngoài trường lớp để dẫn tới văn bằng, khuyến khích SV từ nhiều nguồn gốc

khác nhau có thể tham gia học ĐH một cách thuận lợi Về phương diện này có thể

nói HTTC là một trong những công cụ quan trọng để chuyển từ nền ĐH mang tính

tinh hoa (elitist) thành nền ĐH mang tính đại chúng (mass)

+ Có tính mềm dẻo và khả năng thích ứng cao: Với học chế tín chỉ, SV

có thể chủ động ghi tên học các học phần khác nhau dựa theo những quy định

chung về cơ cấu và khối lượng của từng lĩnh vực kiến thức Nó cho phép SV

dễ dàng thay đổi ngành chuyên môn trong tiến trình học tập khi thấy cần thiết mà

không phải học lại từ đầu Với HTTC, các trường ĐH có thể mở thêm ngành học

Trang 36

mới một cách dễ dàng khi nhận được tín hiệu về nhu cầu của thị trường lao động và

tình hình lựa chọn ngành nghề của sinh viên HTTC cung cấp cho các trường ĐH

một ngôn ngữ chung, tạo thuận lợi cho SV khi cần chuyển trường cả trong nước

cũng như ngoài nước

+ Đạt hiệu quả cao về quản lý và giảm giá thành đào tạo: Với HTTC,

kết quả học tập của SV được tính theo từng học phần chứ không phải theo năm học,

do đó việc hỏng một học phần nào đó không cản trở quá trình học tiếp tục, SV

không bị buộc phải quay lại học từ đầu Chính vì vậy giá thành ĐT theo HTTC thấp

hơn so với ĐT theo niên chế Nếu triển khai HTTC các trường ĐH đa lĩnh vực

có thể tổ chức những môn học chung cho SV nhiều trường, nhiều khoa, tránh các

môn học trùng lặp ở nhiều nơi; ngoài ra SV có thể học những môn học lựa chọn ở

các khoa khác nhau Cách tổ chức nói trên cho phép sử dụng được đội ngũ GV giỏi nhất và phương tiện tốt nhất cho từng môn học Kết hợp với HTTC, nếu trường

ĐH tổ chức thêm những kỳ thi đánh giá kiến thức và kỹ năng của người học tích lũy được bên ngoài nhà trường hoặc bằng con đường tự học để cấp cho họ một

tín chỉ tương đương, thì sẽ tạo thêm cơ hội cho họ đạt văn bằng ĐH ở Mỹ, trên một

nghìn trường ĐH chấp nhận cung cấp tín chỉ cho những kiến thức và kỹ năng mà

người học đã tích lũy được ngoài nhà trường

- Các nhược điểm của HTTC và cách khắc phục

Người ta thường nhắc đến hai nhược điểm quan trọng sau đây của HTTC:

+ Cắt vụn kiến thức: Phần lớn các module trong HTTC được quy định

tương đối nhỏ, cỡ 3 hoặc 4 tín chỉ, do đó không đủ thời gian để trình bày kiến thức

thật sự có đầu, có đuôi, theo một trình tự diễn biến liên tục, từ đó gây ấn tượng kiến thức bị cắt vụn Đây thật sự là một nhược điểm, và người ta thường khắc phục

nhược điểm này bằng cách không thiết kế các module quá nhỏ dưới 3 tín chỉ,

và trong những năm cuối người ta thường thiết kế các môn học hoặc tổ chức các

kỳ thi có tính tổng hợp để SV có cơ hội liên kết, tổng hợp các kiến thức đã học

+ Khó tạo nên sự gắn kết trong sinh viên: Vì các lớp học theo module không

ổn định, khó xây dựng các tập thể gắn kết chặt chẽ như các lớp theo khóa học nên việc tổ chức sinh hoạt đoàn thể của SV có thể gặp khó khăn Chính vì

Trang 37

nhược điểm này mà có người nói HTTC "khuyến khích chủ nghĩa cá nhân, không coi trọng tính cộng đồng" Khó khăn này là một nhược điểm thực sự của HTTC,

tuy nhiên người ta thường khắc phục bằng cách xây dựng các tập thể tương đối ổn định

qua các lớp khóa học trong năm thứ nhất, khi SV phải học chung phần lớn các module kiến thức, và đảm bảo sắp xếp một số buổi xác định không bố trí thời khóa biểu để SV

có thể cùng tham gia các sinh hoạt đoàn thể chung [62]

Ngoài hai nhược điểm nêu trên, HTTC còn có nhược điểm là “Tính khó

quản lý”: do sự đa dạng của đối tượng SV, linh hoạt của CTĐT Các hoạt động

tự học khó có thể đánh giá theo một chuẩn mực nhất quán do không thể đo lường

được thời lượng giờ tự học Mặt khác, HTTC có thể gây khó khăn cho người QLĐT

khi sự nhập học và ra trường không đồng loạt làm cho công việc của họ khó

kế hoạch hóa nếu không có sự hỗ trợ đắc lực của CNTT [36]

1.2.2.2 Đào tạo đại học theo hệ thống tín chỉ

* Khái niệm đào tạo ĐH theo HTTC

Đào tạo ĐH theo HTTC là phương thức đào tạo cho phép SV được cấp văn bằng tốt nghiệp ĐH theo ngành đào tạo chính (đơn ngành hoặc song ngành)

sau khi đã tích lũy đủ hệ thống môn học (được đo bằng số tín chỉ) theo quy định của

chương trình đào tạo ĐH theo HTTC

Hạng tốt nghiệp được xác định theo điểm trung bình chung tích lũy của toàn khóa học, như sau: Xuất sắc: Điểm trung bình chung tích lũy từ 3,60 đến 4,00; Giỏi: Điểm trung bình chung tích lũy từ 3,20 đến 3,59; Khá: Điểm trung bình chung

tích lũy từ 2,50 đến 3,19; Trung bình: Điểm trung bình chung tích lũy từ 2,00 đến 2,49

* Các yêu cầu cần thiết để triển khai ĐT và QLĐT theo HTTC

Trong QLĐT theo HTTC ở Việt Nam hiện nay, có những vấn đề cần quan tâm, theo tác giả Lê Viết Khuyến [43]: Có sự thống nhất quan điểm ở mọi cấp;

Ổn định và công khai hóa CTĐT; Thay đổi phương pháp dạy và học (học tích cực); Phát triển hệ thống tài liệu học tập; Phòng ĐT thống nhất quản lý mọi hoạt động

ĐT; Thay đổi phương thức quản lý SV (xây dựng hệ thống CVHT); Lịch giảng dạy

được triển khai nghiêm túc; GV phải dạy được nhiều học phần, một học phần được

nhiều GV dạy; Thu học phí tỷ lệ với khối lượng các học phần đăng ký học; Cải tạo

Trang 38

cơ sở hạ tầng, thư viện; Điều chỉnh lại bộ máy tổ chức; Điều chỉnh lại chính sách, chế độ đối với GV

Theo tác giả luận án, các điều kiện cần thiết để triển khai tổ chức đào tạo

- Có đội ngũ GV đủ về số lượng, đồng bộ cơ cấu bộ môn, chuẩn về chất lượng đáp ứng yêu cầu ĐT theo HTTC ;

- Có các văn bản pháp quy liên quan tới việc tổ chức đào tạo theo hệ thống tín chỉ;

- Xác định các phương thức quản lý và hoạt động phù hợp trong điều kiện

tổ chức ĐT theo HTTC (kết hợp quản lý người học theo khoá và theo môn học)…

1.3 Trường đại học địa phương

1.3.1 Khái niệm trường đại học địa phương

- Hình thức là các trường ĐH đào tạo tổng hợp dưới sự quản lý của UBND tỉnh, thành phố; hoạt động theo loại hình trường ĐH công lập

- Là trường ĐH công lập cấp tỉnh của địa phương; có mục tiêu đào tạo

đa ngành, đa cấp, đa lĩnh vực có trình độ ĐH và các trình độ thấp hơn, nhằm phục vụ nhu cầu nhân lực đáp ứng sự phát triển KT-XH địa phương [46]

Từ thực tế quá trình hình thành và phát triển triển hệ thống các trường ĐHĐP

ở Việt Nam, có thể xác định: Trường ĐHĐP là trường ĐH công lập thuộc cấp Tỉnh,

là cơ sở GDĐH đa cấp (đào tạo trình độ ĐH là chủ yếu, đào tạo các trình độ dưới

ĐH và đào tạo SĐH một số chuyên ngành), đa ngành, đa lĩnh vực nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực phục vụ phát triển KT-XH của địa phương và các tỉnh lân cận

1.3.2 Đặc điểm của trường đại học địa phương

Hiện nay, hệ thống các trường ĐHĐP có 24 trường (miền Bắc: 10 trường,

Trang 39

miền Trung: 6 trường, miền Nam: 8 trường) Trường ĐH Hồng Đức là trường

ĐHĐP đầu tiên được thành lập năm 1997 và trường thứ 24 là Trường ĐH Thủ đô

Hà Nội được thành lập vào tháng 03/2015 Nhìn chung, các trường ĐHĐP đều được

thành lập trên cơ sở nâng cấp từ trường CĐ sư phạm hoặc trường CĐ cộng đồng có

sáp nhập thêm một số cơ sở giáo dục chuyên nghiệp trực thuộc quản lý của

chính quyền cấp tỉnh

Theo nhà khoa học Đặng Bá Lãm [46], Trường ĐHĐP có các đặc điểm:

(1) là trường ĐH công lập của địa phương (tỉnh/TP trực thuộc TW);

do địa phương đề nghị thành lập; vì sự phát triển KT-XH của địa phương; (2) là trường ĐH được xếp vào nhóm thứ ba theo quan điểm phân tầng chất lượng

của quy hoạch phát triển giáo dục ĐH Việt Nam giai đoạn 2006-2020 (trường ĐH

cấp quốc gia; trường ĐH cấp khu vực/cấp ngành; trường ĐHĐP); (3) là trường ĐH

thực hiện đầy đủ các chức năng của mô hình CĐ cộng đồng ở Việt Nam

Theo tác giả luận án, sứ mạng, mục tiêu chủ yếu của trường ĐHĐP: Đào tạo

đa cấp, đa ngành, đa lĩnh vực, nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực phục vụ phát triển

KT-XH của địa phương và các tỉnh lân cận, góp phần xây dựng xã hội học tập,

xã hội nghề nghiệp, đưa GDĐH đến với cộng đồng Đồng thời căn cứ quy định của

Luật GDĐH, cơ sở GDĐH Việt Nam được phân thành ba tầng bao gồm: 1) Cơ sở

GDĐH định hướng nghiên cứu; 2) Cơ sở GDĐH định hướng ứng dụng; 3) Cơ sở GDĐH định hướng thực hành Trong hệ thống phân tầng cơ sở GDĐH này, đa số

trường ĐHĐP được xếp ở tầng thứ 2, là cơ sở GDĐH định hướng ứng dụng, đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ phục vụ phát triển KT-XH địa phương và các tỉnh

lân cận Đối với trường ĐHĐP có điều kiện thuận lợi có thể sẽ đào tạo một số

ngành theo định hướng nghiên cứu

1.3.3 Thuận lợi, khó khăn và thách thức đối với các trường đại học địa phương

trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ

1.3.3.1 Thuận lợi

Trường ĐHĐP có các thuận lợi chủ yếu:

- Là đơn vị trực thuộc UBND cấp tỉnh, do vậy trường ĐHĐP được sự chỉ đạo, đầu tư trực tiếp, kịp thời các nguồn lực (tổ chức bộ máy, biên chế, tài chính, cơ sở vật chất)

Trang 40

- “Dự báo quy mô ngành, nghề, số lượng người học ở các trình độ ĐT đáp ứng

nhu cầu nhân lực phục vụ phát triển KT-XH của địa phương” có độ tin cậy cao

vì dựa trên cơ sở Quy hoạch phát triển nhân lực của địa phương được UBND cấp tỉnh công bố

- Công tác xã hội hóa ĐT, hỗ trợ SV (hầu hết SV của trường là người địa phương) được sự quan tâm đúng mức của các cơ quan Nhà nước, doanh nghiệp

và gia đình SV trong QTĐT con em của họ tại nhà trường, vì vậy việc huy động nguồn lực vật chất (CSVC, phối hợp cho SV thực hành, thực tập, tiếp nhận SV tốt nghiệp) và huy động nguồn lực trí tuệ xã hội tham gia QTĐT (dự báo nhu cầu nhân lực, xây dựng CTĐT, tham gia giảng dạy, NCKH) sẽ đạt hiệu quả cao

1.3.3.2 Khó khăn

Trường ĐHĐP có các khó khăn, bất cập chủ yếu cần được lãnh đạo các trường

tập trung khắc phục trong QLĐT nhằm đáp ứng yêu cầu cơ bản của ĐT theo HTTC:

- Tình hình CSVC và tài chính của nhiều trường ĐHĐP còn hạn chế, khó khăn Khả năng đầu tư và huy động tài chính, CSVC cho trường ĐHĐP phụ thuộc vào tình hình phát triển kinh tế của địa phương

- Đội ngũ GV chưa bảo đảm đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu và chuẩn về chất lượng, tỉ lệ GV trình độ TS, chức danh GS, PGS còn ít Khó bổ sung đội ngũ

GV trình độ cao về trường đối với các trường xa trung tâm thành phố lớn

- Tính tự chủ của nhà trường (về biên chế, tài chính ) bị ràng buộc bởi

cơ chế chính sách của địa phương

- Cơ sở pháp lý, chính sách riêng cho hệ thống trường ĐHĐP của TW chưa

được xác định cụ thể, chưa có chủ trương đầu tư, hỗ trợ toàn diện, phù hợp với đặc điểm của trường ĐHĐP

1.3.3.3 Thách thức

Kinh nghiệm quản lý GDĐH, nguồn lực vật chất và đội ngũ của nhiều trường

ĐHĐP có hạn chế do điều kiện thời gian thành lập và phụ thuộc vào tình hình kinh tế, ngân sách địa phương Đồng thời, các trường ĐHĐP đang phải đối mặt với

các thách thức chủ yếu trong tương quan với các trường ĐH trong hệ thống GDĐH

Ngày đăng: 05/05/2017, 14:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w