1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Hoạt Động Đối Ngoại Của Nhà Nước Cộng Sản Dân Chủ Nhân Dân Lào Trong Xây Dựng Và Bảo Vệ Đất Nước Thời Kỳ Đổi Mới Từ 1986 Đến Nay

111 558 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 16,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài luận án chính trị ĐỘC QUYỀN gồm 111 trang, bản đẹp, dễ dàng chỉnh sửa và tách trang làm tài liệu tham khảo bằng phần mềm Adobe Pro DC. MỤC LỤC MỚ ĐẦU ........................................................................................................ .. 1 Chương 1:CƠ SỚ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA SỰ ĐÓNG GÓP TRÊN LĨNH VỰC ĐỔI NGOẠI Ớ CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO TRONG XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ ĐẤT NƯỚC THỜI KÝ ĐÔI MỚI ............................................................................................................... ..13 1.1.Cơsởlýluận ....................................................................................... ..13 1.2. Cơ sở thực tiễn ................................................................................... ..13 Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐỔI NGOẠI Ớ CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO TRONG XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ ĐẤT NƯỚC THỜI KÝ ĐÔI MỚI ..................................................................... ..48 2.1. Những thành tựu của hoạt động đối ngoại Ớ Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào trong Xây dựng và bảo Vệ đất nước thời kỳ đổi mới 19862015 .. 48 2.2. Những hạn chế của hoạt động đối ngoại Ớ Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào trong Xây dựng và bảo Vệ đất nước thời kỳ đổi mới 19862015 ....... .. 68 2.3. Nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế trong hoạt động đối ngoại nhằm bảo Vệ độc lập dân tộc ............................................................ .. 73 Chương 3: MỘT SỐ DỰ BÁO VÀ KHUYẾN NGHỊ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐỔI NGOẠI TRONG XÂY DỰNG BẢO VỆ ĐẤT NƯỚC Ớ CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO THỜI GIAN TỚI ............. .. 73 3.1. Một số dự báo Về hoạt động đối ngoại trong Xây dựng và bảo Vệ đất nước ở Lào trong thời gian tới ................................................................... .. 76 3.2. Một số đề xuất, khuyến nghị nhằm tăng cường đóng góp hoạt động đối ngoại trong Xây dựng và bảo Vệ đất nước ở Lào ....................................... .. 86 3.3. Triển vọng của việc phát huy thành tựu đối ngoại Vào sự nghiệp bảo Vệ và củng cố độc lập dân tộc ở CHDCND Lào ............................................ .. 96 KẾT LUẬN ................................................................................................ .. 100 TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................ .. 102 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Từ sau Chiến tranh lạnh, sự phát triển nhanh của cách mạng khoa học công nghệ và sự gia tăng toàn cầu hoá đã làm thay đối cục diện cũng nhu cán cân quyền lực giữa các lực lượng, dẫn đến sự thay đổi về quan niệm qua trình đấu tranh bảo vệ và cùng cố độc lập dân tộc. Các quốc gia trên thế giới đều có chung nhận thức mới về những giá trị của độc lập dân tộc và bảo vệ độc lập dân tộc, trong đó nhấn mạnh quan điểm: độc lập nhưng không thể, không được phép biệt lập và đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc phải đặt trong xu thế hội nhập. Thực chất là giải quyết mối quan hệ giữa củng cố, bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc với tăng cường hội nhập quốc tế. Hội nhập quốc tế để phát triển chứ không phải làm mất độc lập dân tộc; vươn ra thế giới, phải khẳng định cái tôi dân tộc, giữ vững độc lập dân tộc, để đất nước phát triển cường thịnh. Điều đó đã và đang trở thành nguyên tắc, phương châm trong hội nhập và xử lý mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế của nhiều quốc gia dân tộc. Tuy nhiên, nguyên tắc, phương châm này cũng đang đứng trước nhiều thách đố và khó khăn không dễ dàng khắc phục, đòi hỏi phải có lời giải phù hợp. Vi vậy, Đảng và Nhà nước Lào luôn quan tâm tới chính sách đối ngoại. Trong sự cạnh tranh ngày càng gay gắt về mặt kinh tế và khoa học công nghệ trên thế giới, mọi mat của đời sống chính trị, kinh tế xã hội của mỗi quốc gia đang diễn ra những chuyển biến quan trọng. Xu hướng tăng cường họp tác về mặt kinh tế của mỗi nước ngày càng phát triển, trở thành yếu tố quan trọng góp phần củng cố và tăng cường xu hướng vừa họp tác vừa đấu tranh giữa các nước có chế độ xã hội khác nhau trên thế gới hiện nay. Những đặc điểm mới của cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc đó khách quan đặt ra những yêu cầu mới đối với nhiệm vụ của hoạt động đối ngoại. Đó là việc đảm bảo việc giữ vững môi trường hòa bình, tạo điều kiện quốc tế 2 thuận lợi cho phát triên kinh tê xã hội đât nước; đảm bảo quá trình hội nhập ngày càng chủ động, đúng hướng, đồng thời tranh các nguy co đe doa độc lập từ bên ngoài. Do đó, hoạt động đối ngoại trong giai đoạn hiện nay thực sự có vai trò to lớn đối với sự nghiệp bảo vệ và củng cố độc lập dân tộc của các nước đang phát triển, trong đó có Lào. Sau khi đất nước độc lập, Lào tuyên bố di theo con đường CNXH trong điều kiện xuất phát điểm thấp, nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu lại bi chiến tranh tàn phá lâu dài, những điều kiện địa lý tự nhiên không thuận lợi cùng với sự bao vây cô lập của các nước lớn đã cản trở sự hồi sinh và công cuộc tái thiết đất nước của Lào. Không những vậy, cả ở bên trong và bên ngoài, các thế lực thù địch vẫn dùng mọi thủ đoạn chống phá, xâm nhập, can thiệp vũ trang công khai chống lại chính sách hoá họp dân tộc và vi phạm trắng trợn chủ quyền quốc gia của Lào. Hoàn cảnh đó đã đặt sự nghiệp đấu tranh củng cố, bảo vệ độc lập của Lào trước rất nhiều thách thức. Trong suốt quá trình xây dựng và phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước Lào đã nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của việc tạo dựng một môi trường quốc tế hoá bình, ổn định, họp tác hiệu quả... không chỉ nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội trong nước, mà còn trực tiếp góp phần quyết định đến thắng lợi của sự nghiệp đấu tranh xây dựng và bảo vệ đất nước. Do đó, hoạt động đối ngoại phải từng bước trưởng thành đáp ứng yêu cầu mới của đất nước cũng như phù họp với xu thế vận động của thời đại. Từ Đại hội IV năm 1986, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước. Hai mươi năm qua, sự nghiệp đổi mới của Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào đă đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa quan trọng. Đường lối, chính sách đối ngoại là một bộ phận trong toàn bộ đường lối, chính sách nói chung của một chủ thể quyền lực chính trị. Là sự tiếp tục của chính trị đối nội, chính sách đối ngoại có mục tiêu góp phần 3 bảo vệ và nâng cao vi trí của quôc gia trên trường quôc tê. Việc đê ra và thực thi chính sách đối ngoại như thế nào đều có ảnh hưởng tới hoá bình, ổn dinh và phát triển của mỗi quốc gia, cũng như sự hưng vong của mỗi dân tộc. Nhìn lại 29 năm qua, hoạt động đối ngoại của Lào đã có những đóng góp to lớn vào sự nghiệp bảo vệ, giữ gìn và củng cố nền độc lập dân tộc. Việc phân tích làm rõ những đóng góp của hoạt động đối ngoại vào sự nghiệp bảo vệ và củng cố độc lập dân tộc của Lào là một đòi hỏi cấp bách cả về lý luận và thực tiễn với Lào nói riêng và với các nước đang phát triển nói chung. Thế giới ngày nay đang vận động, biến đổi rất nhanh chóng, phức tạp và khó lường. Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ To quốc của các bộ tộc Lào đang đứng trước những vận hội mới, nhưng cũng đang đối diện với không it thách thức to lớn về nhiều mặt. Nhiệm vụ của công tác đối ngoại trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay là phải bám sát sự biến động của tình hình trong nước và quốc tế để đề ra chính sách đối ngoại có hiệu quả, nhằm phục vụ đắc lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Lào hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Từ những lý do trên đây, em đã chọn đề tài Hoạt động đối ngoại của CHDCND Lào trong xây dựng và bảo vệ đất nước thời kỳ đỗi mới từ 1986 đến nay làm luận văn thạc sĩ của mình. 2. Tình hinh nghiên cứu liên quan đến đề tài Ở Cộng hoá dân chủ nhân dân Lào Hoạt động đối ngoại nhằm bảo vệ và củng cố độc lập, xây dựng đất nước Lào cũng như các vấn đề liên quan đã được nhiều người quan tâm nghiên cứu trực tiếp hoặc gián tiếp với những mức độ khác nhau. Những nội dung cơ bản chỉ đạo đường lối và hoạt động đối ngoại của Lào được thể hiện rõ trong các văn kiện của Đảng NDCM Lào qua các ki đại hội, hội nghị TW và các tác phẩm của các nhà lãnh đạo Lào. Trong đó, các 4 Văn kiện Đại hội đại biêu toàn quôc lân thứ III Đảng NDCM Lào (1982), Đại hội IV (1986), Đại hội v (1991), Nghị quyết TW 5 khoá v (1992), Đại hội VI (1996), Đại hội VII (2001), Đại hội VIII (2006) và Đại hội IX (2011) đă hệ thống hoá một cách sâu sắc quá trình hình thành, phát triển và hoàn chỉnh đường lối đối ngoại của Lào trong các giai đoạn lịch sử sau khi giành độc lập dân tộc, nhất là thời ki đổi mới đất nước và từng bước hội nhập quốc tế. Đây là nguồn tài liệu gốc quan trọng cho các nhà nghiên cứu lịch sử quan hệ quốc tế của Lào. Bên cạnh đó, nhiều tác phẩm của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà n ớc Lào cũng đã tập trung phân tích, làm rõ những định h ớng, mục tiêu, nhiệm vụ của hoạt động đối ngoại Lào trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể. Trong đó, đặc biệt là các tác phẩm của đồng chí Cayxỏn Phômvihẳn. Tiêu biểu là cuốn Một vài kỉnh nghiệm và một số van đề về phương hướng mới của cách mạng Lào. Mặc dù chỉ trình bày một cách cô đọng về những định hướng lớn của Cách mạng Lào trong thời ki mới, song trong 234 trang, tác phẩm đã đề cập tới những vấn đề đặt ra của công cuộc đấu tranh ngoại giao nhằm bảo vệ độc lập dân tộc. Những vấn đề này tiếp tục được cụ thể hoá, làm rõ trong các tác phẩm Cách mạng dân tộc dân chủ (Tuyển tập, tập 1); vẩn đề quan hệ kỉnh tế với nước ngoài (Tuyển tập, tập 2); Điều chỉnh toàn diện giành lẩy thẳng lợi mới trong thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược... Bước sang thời ki tiến hành đổi mới toàn diện của cách mạng Lào, nhiều tác phẩm của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước Lào là những nghiên cứu có giá trị lớn lao về cả ý nghĩa li luận cũng nhu chỉ đạo hoạt động thực tiễn, mà cụ thể là trong hoạt động đối ngoại, một mặt trận đang góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước và phát triển đất nước. Trong đó, đặc biệt phải kể đến các tác phẩm của đồng chí Khăm tày Xinphănđon, như: Trong sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ xây dựng và bảo vệ Tồ quốc, Bài phát biểu của đồng chí đối với công tác đối ngoại lần thứ 7, ngày 2121997... 5 Trong cuôn sách “Lịch sử quan hệ ngoai giao Lào ” của Học viện Quan hệ quốc tế, Bộ Ngoại giao Lào, các tác giả đã đề cập một cách toàn diện về quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Lào tiến tới việc thành lập CHDCND Lào năm 1975, đặc biệt các tác giả đã đánh giá những thắng lợi trong việc kết họp mặt trận quân sự với ngoại giao trong cuộc kháng chiến trường kỳ của nhân dân các bộ tộc Lào; về chính sách đối ngoại và hoạt động đối ngoại của CHDCND Lào sau thành lập nước, cuốn sách đã phản ánh theo từng giai đoạn cụ thể như: chính sách đối ngoại và hoạt động đối ngoại trong những năm 19751979; 1980 1985; 1986 1990; 1991 1995; 1996 2000; 200 2005 ; 2006 2010. Từ chồ hệ thống lại những nội dung của chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước, thực trạng hoạt động đối ngoại, các tác giả đã nêu ra những thành tựu và chỉ rõ những tồn tại, hạn chế trong hoạt động đối ngoại của CHDCND Lào giai đoạn hiện nay. Cũng nghiên cứu về hoạt động ngoại giao và tác động của nó đến độc lập, chủ quyền quốc gia và hướng phát triển của đất nước, trong cuốn sách về “Đàm phán ngoại giao ” tác giả Bunkợt Sẳngsổmsác, đã đề cập vấn đề đàm phán và chủ quyền quốc gia; tính chất của đàm phán ngoại giao; những nguyên tắc, hình thức và kế hoạch đàm phán; văn hoá trong đàm phán; sách lược trong đàm phán; nhân tố thành công trong đàm phán; những vấn đề nên tránh trong đàm phán; đánh giá nhà đàm phán; đạo đức của nhà đàm phán... Trong những năm gần đây, một số tác giả cũng đã có sự tiếp cận về hoạt động đối ngoại của Lào, mối quan hệ giữa CHDCND Lào với các nước trên thế giới, nổi bật nhất là các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử và Quan hệ quốc tế của học viên Lào được bảo vệ tại Việt Nam, các bài nghiên cứu của các tác giả Lào đăng trên các tạp chí chuyên nghành ở Việt Nam. Cu thể như: Luận văn Chính sách đối nẹoại trong điều kiện hội nhập quốc tế của 6 Cộng hoá Dan chủ nhân dân Lào của Lachay Sinsuvăn, Học viện chính tri quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, năm 2006. Tác giả đã làm rõ được quá trình hình thành và phát triển đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Lào thời kỳ đổi mới. Đánh giá kết quả việc thực hiện chính sách đối ngoại trong điều kiện hội nhập quốc tế của Lào, chỉ ra những nguyên nhân thành công và hạn chế chủ yếu đồng thời đề xuất một số kiến nghị đối với công tác đối ngoại của Lào. Tuy nhiên, việc luận văn nghiên cứu đường lối, chính sách đối ngoại dưới góc độ của khoa học chính trị nên những giá trị lịch sử tham khảo còn rất hạn chế. Luận văn: “Sự lựa chọn chiến lược của Lào trong chính sách đối với Việt Nam và Trung Quốc” của Bounthan Kousonsanong, Học viện Ngoại giao, 2006. Luận văn đã nêu nổi bật chính sách đối ngoại đổi mới của Lào cũng như của Việt Nam từ sau năm 1986 và sự đổi mới toàn diện quan hệ đặc biệt Việt Lào; yếu tố Trung Quốc trong chính sách đối ngoại của Lào và thực trạng quan hệ Lào Trung từ sau khi hai nước bình thường hóa quan hệ từ năm 1989; phân tích tác động của hai nhân tố Trung Quốc và Việt Nam đối với chính sách đối ngoại của Lào. Luận văn: “Điều chỉnh chính sách của Lào đối với Trung Quốc sau Chiến tranh lạnh” của Saylakhone Đouangsonthy, Hà Nội, tháng 7 năm 2007, tác giả đã khái quát chính sách của Lào đối với Trung Quốc thời kỳ Chiến tranh lạnh, vài nét lịch sử của quan hệ giữa hai nước, nội dung chính sách đối ngoại của Lào đối với Trung Quốc cùng với các nhân tố tác động đến việc hoạch dinh chính sách của Lào đối với Trung Quốc, nội dung điều chỉnh và triển vọng của mối quan hệ Lào Trung Quốc trong tương lai. Luận văn: “Quan hệ Lào ASEAN từ 1997 đến nay” của Khonesamay Souphathong, Học viện Ngoại giao, Hà Nội, 2007 đã trình bày những nhân tố, bối cảnh lịch sử cơ bản tác động đến mối quan hệ Lào ASEAN giai đoạn sau 7 Chiên tranh lạnh; Quá trình hình thành chính sách của Lào đôi với khu vực và những khó khăn thuận lợi của Lào sau 10 năm gia nhập ASEAN; Phân tích mối quan hệ này trong các lĩnh vực an ninh, chính tri và kinh tế và triển vọng quan quan hệ Lào ASEAN trong những năm tới. Luận văn: “Quan hệ Lào Thái Lan sau Chiến tranh lạnh” của Hatthakone Douangdavong, Học viện Ngoại giao, 2007. Tác giả đã nêu khái quát quan hệ Lào Thái Lan trong thời kỳ Chiến tranh lạnh. Phân tích những hoạt động ngoại giao của hai nước nhằm củng cố thêm mối quan hệ láng giềng vốn đã trải qua nhiều biến động lịch sử này. Đánh giá những thành công, hạn chế và dự báo chiều hướng vận động của mối quan hệ này, từ đó đưa ra kiến nghị trong chính sách của Lào đối với Thái Lan. Luậ• n văn: “Qv. uan hệ• đặ• c biệ• t Lào Việ• t Nam trên lĩnh vự• can ninh quốc phòng từ sau Chiến tranh lạnh đến nay” của Soulisay Phichit (Học viện Quan hệ quốc tế, Hà Nội, 2008) là một trong những công trình nghiên cứu về quan hệ đặc biệt trên các lĩnh vực Lào Việt có chất lượng và nguồn sử liệu phong phú. Bằng những dẫn luận lôgich, khoa học, luận văn đã góp phần làm rõ cơ sở hình thành mối quan hệ, lợi ích co được từ việc hợp tác an ninh quốc phòng giữa Lào và Việt Nam. Nghiên cứu những thành tựu đạt được trong quan hệ an ninh, quốc phòng giữa hai nước, đề xuất một số khuyến nghị nhằm củng cố, tăng cường và thúc đẩy mối quan hệ đó, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng, phát triển hai nước trong tình hình mới. Năm 2012 Nữ đại sứ CHDCND Lào tại Việt Nam bà Sun Thon Xay Nha Chắc đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ với đề tài: Đảng nhân dân cách mạng Lào lãnh đạo công tác đối ngoại trong giai đoạn hiện nay. Luận án đã đánh giá đúng thực trang, thành tựu và hạn chế trong lãnh đạo công tác đối ngoại của Đảng nhân dân cách mạng Lào.Luận án làm rõ nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng nhân dân cách mạng Lào đối với công tác đổi 8 ngoai từ 1975 đến này. Đây là một tài liệu có giá trị tham khảo tốt cho những ai nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đối ngoại trong quá trình mở cửa hội nhập quốc tế. Những tác giả của các luận văn, luận án đã phần nào nêu ra yêu cầu khách quan của sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Lào phù họp sự thay đổi của tình hình của đất nước, khu vực và quốc tế, nhấn mạnh sự đúng đắn của chính sách đối ngoại trong từng hoàn cảnh cụ thể và nêu ra một số nhân tố tác động trong chính sách đối ngoại của Lào, khái quát chính sách của Lào đối với các nước láng giềng và nước lớn như: Trnng Quốc, Thái Lan, ASEAN, Mỹ, Nhật Bản và đặc biệt là mối quan hệ gắn bó keo sơn với Việt Nam... Đồng thời, những luận văn nêu trên ở những mức độ khác nhau cũng bước đầu đề cập vai trò của các hoạt động đối ngoại với việc bảo vệ và củng cố độc lập của Lào trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay. Ở Viet Nam Các nhà khoa học Việt Nam cũng đã đóng góp nhiều công trình nghiên cứu về Lào trên các phương diện, tuy nhiên những công trình viết riêng về lịch sử Lào đấu tranh bảo vệ độc lập sau năm 1975 không nhiều, các sử gia Việt Nam dành sự quan tâm chủ yếu nghiên cứu giai đoạn Lào tiến hành cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Lịch sử Lào từ sau năm 1975 đến nay, nhất là lịch sử đấu tranh ngoại giao chỉ được tìm thấy ở trong các công trình thông sử. Mặc dù vậy, các công trình này cũng đã gợi mở một cách hữu ích những cách tiếp cận vấn đề, hướng khảo cứu tư liệu mà luận văn quan tâm, trong số đó có thể kể như: Cuốn sách “Quan hệ đối ngoại của các nước ASEAN” của Nguyễn Xuân Sơn và Thái Văn Long (chủ biên), 1997, trong phần III, từ trang 30 đến trang 46, các tác giả đã cung cấp những nét cơ bản về quan hệ đối ngoại của CHDCND Lào. 9 Cuốn “Lịch sử Lào” của Viện nghiên cứu Đông Nam Á, 1997, là một công trình rất có giá trị đối với các nhà nghiên cứu lịch sử Lào hiện đại, song phần trình bày về đất nước Lào sau 20 năm giải phóng (từ tr.509 đến tr.528) chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu sự lựa chọn, thử nghiệm biện pháp và con đường phát triển, không có điều kiện khảo cứu một cách cụ thể các hoạt động đối ngoại của Lào trong suốt chiều dài lịch sử ấy. Năm 2006 một công trình hợp tác nghiên cứu của hai tác giả Việt Lào là Nguyễn Hùng Phi và Buasi Chalơnsuc đã hoàn thành, cuốn “Lịch sử Lào hiện đại” (2 tập) với nhiều nguồn tư liệu lưu trữ, tư liệu gốc quý báu. Đây là một công trình nghiên cứu có ý nghĩa tổng quát không những về lịch sử mà cả về dân tộc, văn hoá, vùng đất, con người Lào song tác giả cũng dành sự quan tâm đặc biệt tới những thành tựu co bản của công cuộc phát triển đất nước Lào trong giai đoạn hiện nay. Quá trình đấu tranh bảo vệ và cùng cố độc lập dân tộc cửa CHDCND Lào trên lĩnh vức đối ngoại trong giai đoạn đổi mới được khăng định với những giá trị co bản nhất khi gắn với sự nghiệp đổi mới đất nước mà Đảng NDCM Lào đã khởi xướng tại Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ IV (1986). Rất nhiều nhà nghiên cứu đã đánh giá đây là một thắng lợi lớn lao trong thế kỷ xx của Lào cùng với thắng lợi trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trước đó. Một trong những công trình có tri nghiên cứu chuyên sâu về nền kinh tế của Lào trong thời kỳ đổi mới là “Kinh tế Lào và quá trình chuyển đổi cơ cấu” của Uong Trần Quang, 1999. Đây là một công trình nghiên cứu có ý nghĩa với những ai quan tâm tìm hiểu, nghiên cứu về đất nước triệu voi này. Vào năm 2012, nghiên cứu sinh Uong Minh Long đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ với đề tài: Quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước của CHDCND Lào trên lĩnh vực đối ngoại từ năm 1975 đến 2010. Luận án đã di 10 sâu phân tích làm rõ công cuộc đâu tranh xây dựng và bảo vệ đât nước trên lĩnh vực đối ngoại của CHDCND Lào từ năm 1975 đến năm 2010. Luận án đã đánh giá những thành tựu, hạn chế sau 35 năm hoạt động đối ngoại nhằm bảo vệ và củng cố độc lập dân tộc ở Lào, đồng thời rút ra những kinh nghiệm đối với Lào và đối với các nước đang phát triển trong quá trình đầu tranh bảo vệ củng cố độc lập dân tộc. Đây là tài liệu tham khảo rất có giá trị, khi nghiên cứu về vấn đề đầu tranh bảo vệ và củng cố độc lập dân tộc của Lào nói riêng của các nước đang phát triển nói chung trong bối cảnh toàn cầu hóa. Nhưng do những đặc thù của mục đích nghiên cứu khác nhau, các học giả thường hướng nhiều sự quan tâm và chủ yếu tập trung vào khia cạnh mối quan hệ hữu nghị đặc biệt giữa Lào và Việt Nam lịch sử hình thành và phát triển cũng như triển vọng của họp tác. Thông qua việc phân tích bối cảnh lịch sử và chính sách quan hệ giữa hai bên của hai nhà nước, nhất là từ phía Lào, có thể đánh giá được một cách chân thực, khách quan vi trí, vai trò của mối quan hệ đặc biệt này trong xây dựng và bảo vệ đất nước trên lĩnh vực đối ngoại của Lào, chứ chưa di sâu vào phân tích những đóng góp của hoạt đông đối ngoại đối với sự nghiệp này. Vi vậy, trong quá trình thực hiện luận văn, mục tiêu và hướng nghiên cứu chính sẽ làm rõ những thiếu hụt trên. 3. Mụ• c đích và nhiệ• m vu• 3.1 Mục dich của luậ• n văn Qua phân tích sự hình thành, hoàn thiện và phát triển đường lối, chính sách đối ngoại đối với sự nghiệp đấu tranh bảo vệ và củng cố độc lập dân tộc ở Lào thời kỳ đổi mới, giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2015, tác giả đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại đối với công cuộc bảo vệ và củng cố độc lập dân tộc của Đảng và Nhà nước Lào trong những năm tới. ll 3.2 Nhiệ• m vu• của luậ• n văn Một là: Phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của sự đóng góp trên lĩnh vực đối ngoại ở CHDCND Lào vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước từ năm 1986 đến 2015. Hai là: Phân tích những nhân tố tác động đến hoạt động cũng như sự đóng góp của hoạt động này vào sự nghiệp bảo vệ củng cố độc lập của CHDCND Lào giai đoạn từ 1986 đến 2015. Ba là: Phân tích những đóng góp của hoạt động đối ngoại trên các lĩnh vực nhằm bảo vệ và củng cố độc lập dân tộc của CHDCND Lào từ năm 1986 đến năm 2015. Bốn là:Đưa ra một số phương hướng và giải pháp nhằm tăng cường sự đóng góp của hoạt động đối ngoại đối với công cuộc báo vệ,củng cố độc lập dân tộc ở CHDCND Lào trong thời gian tới. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động đối ngoại của Nhà nước CHDCND Lào, trong đó tập trung phân tích những đóng góp của nó vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước giai đoạn từ năm 1986 đến 2015. 4.2. Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Tập trung nghiên cứu hoạt động đối ngoại đối với của CHDCND Lào trong những năm đổi mới, từ 1986 đến 2015 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 5.1. Cơ sở lỷ luận Luận văn được nghiên cứu dựa trên co sở hệ thống những quan điểm co bản của chủ nghĩa Mác Lenin, về các vấn đề quốc tế như thời đại, quan hệ 12 đối ngoại, chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công, tư tưởng chỉ đạo của đồng chí Caysỏn Phômvihản, đường lối của Đảng Nhân dân cách mạng Lào. 5.2. Phươngpháp nghiên cứu Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết họp chặt chẽ các phương pháp phân tích, thống kê, khảo sát văn bản, kết họp giữa lý luận với thực tiễn, lịch sử và logic. 6. Những đóng góp của luận văn Nghiên cứu tương đối toàn diện và có hệ thống về hoạt động đối ngoại của CHDCND Lào trong quá trình đổi mới cùng những đóng góp của nó đối với sự nghiệp bảo vệ và củng cố độc lập dân tộc giai đoạn từ năm 1986 đến 2015. Rút ra một số kinh nghiệm, đề xuất một số kiến nghị nhằm phát huy hơn nữa những đóng góp của hoạt động đối ngoại với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước của CHDCND Lào. 7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn Luận văn góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về xây dựng và bảo vệ đất nước cùng vai trò, đóng góp của hoạt động đối ngoại với sự nghiệp bảo vệ độc lập dân tộc, phát triển đất nước của CHDCND Lào. 8. Ket cấu của luân văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm 3 chương, 9 tiết.

Trang 1

.H/E H

H>;CH. H%H

Trang 2

01 ADB N gân hàng P hát triển C hâu Á A sian D evelopm ent B ank

02 A PE C D iễn đàn hợp tác kin h te C hâu Á -

T hái B ình D ương

A sia-P acific E conom ic

C ooperation 03

A S E A N H iệp hội các nước Đ ông N am Á T he A ssociation o f S outheast

A sian N ations

04 A SE M D iễn đàn hợp tác Á - Ã u T he A sia-E urope M eeting

05 A R E D iễn đàn khu v u c A S E A N# A S E A N R egional Forum

06 B C H T W B an C hấp hành T rung ương

07 C H D C N D Lào C ộng hoá dân chủ nhân dânL ào

09 Đ ảng N D C M Đ ảng N h ân dân C ách m ạng

l l FD I D au tu trực tiếp nước ngoài F oreign D irect Investm ent 12

G SP H ệ thống ư u đãi tổ n g quát T he G eneralized System o f

Preferences 13

H D I C hi số phát triển con người H um an D evelopm ent Index 14

IB R D N g ân hàng Q uốc tế tái th iết và phát

triển

T he International B ank for

R econstruction and

D evelopm ent 15

IC A O T ổ chức H àng không dân dung quốc

tế

T he International C ivil

A viation O rganization 16

IM F > r r

/^"\ /v r n • /v /v /v i A

Q uy T len tệ quôc te T he International M onetary

F und 17

IT U L iên m inh V iễn thông quốc tế T he International

T elecom m unication U nion

19

M D G s

M ục tiêu thiên niên kỷ T he M illennium D evelopm ent

G oals 20

M E R C O S U R K hối Thị trư ờ ng chung N am M ỹ

(T iếng T ây B an N ha) 21

N A F T A K hu vuc m âu dich tư do B ắc M ỹ • • • • r

T he N orth A m erican Free

T rade A greem ent 22

O D A V iện trợ chính thức trự c tiếp O fficial D evelopm ent

A ssistance

24 SN G C ộng đồng các quốc gia độc lập

Trang 3

U N ID O T ổ chức P h át triển công nghiệp L iên

họp quốc

T he U nited N ations Industrial

D evelopm ent O rganization

W T O Tổ chức T hư ơ ng m ại thế giới W orrld T rade O rgannization

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Từ sau Chiến tranh lạnh, sự phát triển nhanh của cách mạng k h o a học - công nghệ và sự gia tăng toàn cầu hoá đã làm thay đối cục diện cũng nhu cán cân quyền lực giữa các lực lượng, dẫn đến sự thay đổi về quan niệm qua trình đấu tranh bảo vệ và cùng cố độc lập dân tộc Các quốc gia trên thế giới đều có chung nhận thức mới về những giá trị của độc lập dân tộc và bảo vệ độc lập dân tộc, trong đó nhấn mạnh quan điểm: độc lập nhưng không thể, không được phép biệt lập và đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc phải đặt trong xu thế hội nhập Thực chất là giải quyết mối quan hệ giữa củng cố, bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc với tăng cường hội nhập quốc tế Hội nhập quốc tế để phát triển chứ không phải làm mất độc lập dân tộc; vươn ra thế giới, phải khẳng định "cái tôi" dân tộc, giữ vững độc lập dân tộc, để đất nước phát triển cường thịnh Điều đó đã và đang trở thành nguyên tắc, phương châm trong hội nhập

và xử lý mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế của nhiều quốc gia dân tộc Tuy nhiên, nguyên tắc, phương châm này cũng đang đứng trước nhiều thách đố và khó khăn không dễ dàng khắc phục, đòi hỏi phải có lời giải phù hợp Vi vậy, Đảng và Nhà nước Lào luôn quan tâm tới chính sách đối ngoại Trong sự cạnh tranh ngày càng gay gắt về mặt kinh tế và khoa học - công nghệ trên thế giới, mọi mat của đời sống chính trị, kinh tế xã hội của mỗi quốc gia đang diễn ra những chuyển biến quan trọng Xu hướng tăng cường họp tác về mặt kinh tế của mỗi nước ngày càng phát triển, trở thành yếu tố quan trọng góp phần củng cố và tăng cường xu hướng vừa họp tác vừa đấu tranh giữa các nước có chế độ xã hội khác nhau trên thế gới hiện nay Những đặc điểm mới của cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc đó khách quan đặt ra những yêu cầu mới đối với nhiệm vụ của hoạt động đối ngoại Đó

là việc đảm bảo việc giữ vững môi trường hòa bình, tạo điều kiện quốc tế

Trang 5

thuận lợi cho phát triên kinh tê - xã hội đât nước; đảm bảo quá trình hội nhập ngày càng chủ động, đúng hướng, đồng thời tranh các nguy co đe doa độc lập

từ bên ngoài Do đó, hoạt động đối ngoại trong giai đoạn hiện nay thực sự có vai trò to lớn đối với sự nghiệp bảo vệ và củng cố độc lập dân tộc của các nước đang phát triển, trong đó có Lào

Sau khi đất nước độc lập, Lào tuyên bố di theo con đường CNXH trong điều kiện xuất phát điểm thấp, nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu lại bi chiến tranh tàn phá lâu dài, những điều kiện địa lý tự nhiên không thuận lợi cùng với sự bao vây cô lập của các nước lớn đã cản trở sự hồi sinh và công cuộc tái thiết đất nước của Lào Không những vậy, cả ở bên trong và bên ngoài, các thế lực thù địch vẫn dùng mọi thủ đoạn chống phá, xâm nhập, can thiệp vũ trang công khai chống lại chính sách hoá họp dân tộc và vi phạm trắng trợn chủ quyền quốc gia của Lào Hoàn cảnh đó đã đặt sự nghiệp đấu tranh củng

cố, bảo vệ độc lập của Lào trước rất nhiều thách thức Trong suốt quá trình xây dựng và phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước Lào đã nhận thức sâu sắc

về tầm quan trọng của việc tạo dựng một môi trường quốc tế hoá bình, ổn định, họp tác hiệu quả không chỉ nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội trong nước, mà còn trực tiếp góp phần quyết định đến thắng lợi của sự nghiệp đấu tranh xây dựng và bảo vệ đất nước Do đó, hoạt động đối ngoại phải từng bước trưởng thành đáp ứng yêu cầu mới của đất nước cũng như phù họp với xu thế vận động của thời đại

Từ Đại hội IV năm 1986, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào khởi xướng

và lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước Hai mươi năm qua, sự nghiệp đổi mới của Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào đă đạt được những thành tựu to lớn,

có ý nghĩa quan trọng Đường lối, chính sách đối ngoại là một bộ phận trong toàn bộ đường lối, chính sách nói chung của một chủ thể quyền lực chính trị

Là sự tiếp tục của chính trị đối nội, chính sách đối ngoại có mục tiêu góp phần

Trang 6

bảo vệ và nâng cao vi trí của quôc gia trên trường quôc tê Việc đê ra và thực thi chính sách đối ngoại như thế nào đều có ảnh hưởng tới hoá bình, ổn dinh

và phát triển của mỗi quốc gia, cũng như sự hưng vong của mỗi dân tộc Nhìn lại 29 năm qua, hoạt động đối ngoại của Lào đã có những đóng góp to lớn vào

sự nghiệp bảo vệ, giữ gìn và củng cố nền độc lập dân tộc Việc phân tích làm

rõ những đóng góp của hoạt động đối ngoại vào sự nghiệp bảo vệ và củng cốđộc lập dân tộc của Lào là một đòi hỏi cấp bách cả về lý luận và thực tiễn với Lào nói riêng và với các nước đang phát triển nói chung Thế giới ngày nay đang vận động, biến đổi rất nhanh chóng, phức tạp và khó lường Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ To quốc của các bộ tộc Lào đang đứng trước những vận hội mới, nhưng cũng đang đối diện với không it thách thức to lớn về nhiều mặt Nhiệm vụ của công tác đối ngoại trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay là phải bám sát sự biến động của tình hình trong nước và quốc tế để đề ra chính sách đối ngoại có hiệu quả, nhằm phục vụ đắc lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Lào hướng tới mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh"

Từ những lý do trên đây, em đã chọn đề tài "Hoạt động đối ngoại của CHDCND Lào trong xây dựng và bảo vệ đất nước thời kỳ đỗi mới từ 1986 đến nay làm luận văn thạc sĩ của mình

2 Tình hinh nghiên cứu liên quan đến đề tài

- Ở Cộng hoá dân chủ nhân dân Lào

Hoạt động đối ngoại nhằm bảo vệ và củng cố độc lập, xây dựng đất nước Lào cũng như các vấn đề liên quan đã được nhiều người quan tâm nghiên cứu trực tiếp hoặc gián tiếp với những mức độ khác nhau

Những nội dung cơ bản chỉ đạo đường lối và hoạt động đối ngoại của Lào được thể hiện rõ trong các văn kiện của Đảng NDCM Lào qua các ki đại hội, hội nghị TW và các tác phẩm của các nhà lãnh đạo Lào Trong đó, các

Trang 7

Văn kiện Đại hội đại biêu toàn quôc lân thứ III Đảng NDCM Lào (1982), Đại

(1996), Đại hội VII (2001), Đại hội VIII (2006) và Đại hội IX (2011) đă hệ thống hoá một cách sâu sắc quá trình hình thành, phát triển và hoàn chỉnh đường lối đối ngoại của Lào trong các giai đoạn lịch sử sau khi giành độc lập dân tộc, nhất là thời ki đổi mới đất nước và từng bước hội nhập quốc tế Đây là nguồn tài liệu gốc quan trọng cho các nhà nghiên cứu lịch sử quan hệ quốc tế của Lào

Bên cạnh đó, nhiều tác phẩm của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà

n ớc Lào cũng đã tập trung phân tích, làm rõ những định h ớng, mục tiêu,

nhiệm vụ của hoạt động đối ngoại Lào trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể Trong đó, đặc biệt là các tác phẩm của đồng chí Cayxỏn Phômvihẳn Tiêu

biểu là cuốn Một vài kỉnh nghiệm và một số van đề về phương hướng mới của

cách mạng Lào Mặc dù chỉ trình bày một cách cô đọng về những định hướng

lớn của Cách mạng Lào trong thời ki mới, song trong 234 trang, tác phẩm đã

đề cập tới những vấn đề đặt ra của công cuộc đấu tranh ngoại giao nhằm bảo

vệ độc lập dân tộc Những vấn đề này tiếp tục được cụ thể hoá, làm rõ trong

các tác phẩm Cách mạng dân tộc dân chủ (Tuyển tập, tập 1); vẩn đề quan hệ

kỉnh tế với nước ngoài (Tuyển tập, tập 2); Điều chỉnh toàn diện giành lẩy thẳng lợi mới trong thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược

Bước sang thời ki tiến hành đổi mới toàn diện của cách mạng Lào, nhiều tác phẩm của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước Lào là những nghiên cứu

có giá trị lớn lao về cả ý nghĩa li luận cũng nhu chỉ đạo hoạt động thực tiễn, mà

cụ thể là trong hoạt động đối ngoại, một mặt trận đang góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước và phát triển đất nước Trong đó, đặc

biệt phải kể đến các tác phẩm của đồng chí Khăm tày Xinphănđon, như: Trong

sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ xây dựng và bảo vệ Tồ quốc, Bài phát

biểu của đồng chí đối với công tác đối ngoại lần thứ 7, ngày 21/2/1997

Trang 8

Trong cuôn sách “Lịch sử quan hệ ngoai giao Lào ” của Học viện Quan

hệ quốc tế, Bộ Ngoại giao Lào, các tác giả đã đề cập một cách toàn diện về quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Lào tiến tới việc thành lập CHDCND Lào năm 1975, đặc biệt các tác giả đã đánh giá những thắng lợi trong việc kết họp mặt trận quân sự với ngoại giao trong cuộc kháng chiến trường kỳ của nhân dân các bộ tộc Lào; về chính sách đối ngoại và hoạt động đối ngoại của CHDCND Lào sau thành lập nước, cuốn sách đã phản ánh theo từng giai đoạn cụ thể như: chính sách đối ngoại và hoạt động đối ngoại trongnhững năm 1975-1979; 1980- 1985; 1986- 1990; 1991- 1995; 1996- 2000; 200- 2005 ; 2006- 2010 Từ chồ hệ thống lại những nội dung của chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước, thực trạng hoạt động đối ngoại, các tác giả

đã nêu ra những thành tựu và chỉ rõ những tồn tại, hạn chế trong hoạt động đối ngoại của CHDCND Lào giai đoạn hiện nay

Cũng nghiên cứu về hoạt động ngoại giao và tác động của nó đến độc lập, chủ quyền quốc gia và hướng phát triển của đất nước, trong cuốn sách về

“Đàm phán ngoại giao ” tác giả Bunkợt Sẳngsổmsác, đã đề cập vấn đề đàm

phán và chủ quyền quốc gia; tính chất của đàm phán ngoại giao; những nguyên tắc, hình thức và kế hoạch đàm phán; văn hoá trong đàm phán; sách lược trong đàm phán; nhân tố thành công trong đàm phán; những vấn đề nên tránh trong đàm phán; đánh giá nhà đàm phán; đạo đức của nhà đàm phán

Trong những năm gần đây, một số tác giả cũng đã có sự tiếp cận về hoạt động đối ngoại của Lào, mối quan hệ giữa CHDCND Lào với các nước trên thế giới, nổi bật nhất là các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử và Quan hệ quốc tế của học viên Lào được bảo vệ tại Việt Nam, các bài nghiên cứu của các tác giả Lào đăng trên các tạp chí chuyên nghành ở Việt Nam Cu thể như:

Luận văn "Chính sách đối nẹoại trong điều kiện hội nhập quốc tế của

Trang 9

Cộng hoá Dan chủ nhân dân Lào" của Lachay Sinsuvăn, Học viện chính tri

quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, năm 2006 Tác giả đã làm rõ được quá trình hình thành và phát triển đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Lào thời

kỳ đổi mới Đánh giá kết quả việc thực hiện chính sách đối ngoại trong điều kiện hội nhập quốc tế của Lào, chỉ ra những nguyên nhân thành công và hạn chế chủ yếu đồng thời đề xuất một số kiến nghị đối với công tác đối ngoại của Lào Tuy nhiên, việc luận văn nghiên cứu đường lối, chính sách đối ngoại dưới góc độ của khoa học chính trị nên những giá trị lịch sử tham khảo còn rất hạn chế

Luận văn: “Sự lựa chọn chiến lược của Lào trong chính sách đối với Việt Nam và Trung Quốc” của Bounthan Kousonsanong, Học viện Ngoại giao, 2006 Luận văn đã nêu nổi bật chính sách đối ngoại đổi mới của Lào cũng như của Việt Nam từ sau năm 1986 và sự đổi mới toàn diện quan hệ đặc biệt Việt - Lào; yếu tố Trung Quốc trong chính sách đối ngoại của Lào và thực trạng quan hệ Lào - Trung từ sau khi hai nước bình thường hóa quan hệ

từ năm 1989; phân tích tác động của hai nhân tố Trung Quốc và Việt Nam đối với chính sách đối ngoại của Lào

Luận văn: “Điều chỉnh chính sách của Lào đối với Trung Quốc sau Chiến tranh lạnh” của Saylakhone Đouangsonthy, Hà Nội, tháng 7 năm 2007, tác giả đã khái quát chính sách của Lào đối với Trung Quốc thời kỳ Chiến tranh lạnh, vài nét lịch sử của quan hệ giữa hai nước, nội dung chính sách đối ngoại của Lào đối với Trung Quốc cùng với các nhân tố tác động đến việc hoạch dinh chính sách của Lào đối với Trung Quốc, nội dung điều chỉnh và triển vọng của mối quan hệ Lào - Trung Quốc trong tương lai

Luận văn: “Quan hệ Lào - ASEAN từ 1997 đến nay” của Khonesamay Souphathong, Học viện Ngoại giao, Hà Nội, 2007 đã trình bày những nhân tố, bối cảnh lịch sử cơ bản tác động đến mối quan hệ Lào - ASEAN giai đoạn sau

Trang 10

Chiên tranh lạnh; Quá trình hình thành chính sách của Lào đôi với khu vực và những khó khăn thuận lợi của Lào sau 10 năm gia nhập ASEAN; Phân tích mối quan hệ này trong các lĩnh vực an ninh, chính tri và kinh tế và triển vọng quan quan hệ Lào - ASEAN trong những năm tới.

Luận văn: “Quan hệ Lào - Thái Lan sau Chiến tranh lạnh” của Hatthakone Douangdavong, Học viện Ngoại giao, 2007 Tác giả đã nêu khái quát quan hệ Lào - Thái Lan trong thời kỳ Chiến tranh lạnh Phân tích những hoạt động ngoại giao của hai nước nhằm củng cố thêm mối quan hệ láng giềng vốn đã trải qua nhiều biến động lịch sử này Đánh giá những thành công, hạn chế và dự báo chiều hướng vận động của mối quan hệ này, từ đó đưa ra kiến nghị trong chính sách của Lào đối với Thái Lan

Luận văn: “Quan hệ đặc biệt Lào - Việt Nam trên lĩnh vực an ninh -• v • • • • •

quốc phòng từ sau Chiến tranh lạnh đến nay” của Soulisay Phichit (Học viện Quan hệ quốc tế, Hà Nội, 2008) là một trong những công trình nghiên cứu về quan hệ đặc biệt trên các lĩnh vực Lào - Việt có chất lượng và nguồn sử liệu phong phú Bằng những dẫn luận lôgich, khoa học, luận văn đã góp phần làm

rõ cơ sở hình thành mối quan hệ, lợi ích co được từ việc hợp tác an ninh - quốc phòng giữa Lào và Việt Nam Nghiên cứu những thành tựu đạt được trong quan hệ an ninh, quốc phòng giữa hai nước, đề xuất một số khuyến nghị nhằm củng cố, tăng cường và thúc đẩy mối quan hệ đó, góp phần tích cực vào

sự nghiệp xây dựng, phát triển hai nước trong tình hình mới

Năm 2012 - Nữ đại sứ CHDCND Lào tại Việt Nam - bà Sun Thon Xay Nha Chắc đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ với đề tài: "Đảng nhân dân cách mạng Lào lãnh đạo công tác đối ngoại trong giai đoạn hiện nay" Luận

án đã đánh giá đúng thực trang, thành tựu và hạn chế trong lãnh đạo công tác đối ngoại của Đảng nhân dân cách mạng Lào.Luận án làm rõ nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng nhân dân cách mạng Lào đối với công tác đổi

Trang 11

ngoai từ 1975 đến này Đây là một tài liệu có giá trị tham khảo tốt cho những

ai nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đối ngoại trong quá trình mở cửa hội nhập quốc tế

Những tác giả của các luận văn, luận án đã phần nào nêu ra yêu cầu khách quan của sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Lào phù họp sự thay đổi của tình hình của đất nước, khu vực và quốc tế, nhấn mạnh sự đúng đắn của chính sách đối ngoại trong từng hoàn cảnh cụ thể và nêu ra một số nhân

tố tác động trong chính sách đối ngoại của Lào, khái quát chính sách của Lào đối với các nước láng giềng và nước lớn như: Trnng Quốc, Thái Lan, ASEAN, Mỹ, Nhật Bản và đặc biệt là mối quan hệ gắn bó keo sơn với Việt Nam Đồng thời, những luận văn nêu trên ở những mức độ khác nhau cũng bước đầu đề cập vai trò của các hoạt động đối ngoại với việc bảo vệ và củng

cố độc lập của Lào trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay

Ở Viet Nam

Các nhà khoa học Việt Nam cũng đã đóng góp nhiều công trình nghiên cứu

về Lào trên các phương diện, tuy nhiên những công trình viết riêng về lịch sử Lào đấu tranh bảo vệ độc lập sau năm 1975 không nhiều, các sử gia Việt Nam dành sự quan tâm chủ yếu nghiên cứu giai đoạn Lào tiến hành cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc Lịch sử Lào từ sau năm 1975 đến nay, nhất là lịch sử đấu tranh ngoại giao chỉ được tìm thấy ở trong các công trình thông sử Mặc dù vậy, các công trình này cũng đã gợi mở một cách hữu ích những cách tiếp cận vấn đề, hướng khảo cứu tư liệu mà luận văn quan tâm, trong số đó có thể kể như:

Cuốn sách “Quan hệ đối ngoại của các nước ASEAN” của Nguyễn Xuân Sơn và Thái Văn Long (chủ biên), 1997, trong phần III, từ trang 30 đến trang

46, các tác giả đã cung cấp những nét cơ bản về quan hệ đối ngoại củaCHDCND Lào

Trang 12

Cuốn “Lịch sử Lào” của Viện nghiên cứu Đông Nam Á, 1997, là một công trình rất có giá trị đối với các nhà nghiên cứu lịch sử Lào hiện đại, song phần trình bày về đất nước Lào sau 20 năm giải phóng (từ tr.509 đến tr.528) chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu sự lựa chọn, thử nghiệm biện pháp và con đường phát triển, không có điều kiện khảo cứu một cách cụ thể các hoạt động đối ngoại của Lào trong suốt chiều dài lịch sử ấy.

Năm 2006 một công trình hợp tác nghiên cứu của hai tác giả Việt - Lào

là Nguyễn Hùng Phi và Buasi Chalơnsuc đã hoàn thành, cuốn “Lịch sử Lào hiện đại” (2 tập) với nhiều nguồn tư liệu lưu trữ, tư liệu gốc quý báu Đây là một công trình nghiên cứu có ý nghĩa tổng quát không những về lịch sử mà cả

về dân tộc, văn hoá, vùng đất, con người Lào song tác giả cũng dành sự quan tâm đặc biệt tới những thành tựu co bản của công cuộc phát triển đất nước Lào trong giai đoạn hiện nay

Quá trình đấu tranh bảo vệ và cùng cố độc lập dân tộc cửa CHDCND Lào trên lĩnh vức đối ngoại trong giai đoạn đổi mới được khăng định với những giá trị co bản nhất khi gắn với sự nghiệp đổi mới đất nước mà Đảng NDCM Lào đã khởi xướng tại Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ

IV (1986) Rất nhiều nhà nghiên cứu đã đánh giá đây là một thắng lợi lớn

phóng dân tộc trước đó Một trong những công trình có tri nghiên cứu chuyên sâu về nền kinh tế của Lào trong thời kỳ đổi mới là “Kinh tế Lào và quá trình chuyển đổi cơ cấu” của Uong Trần Quang, 1999 Đây là một công trình nghiên cứu có ý nghĩa với những ai quan tâm tìm hiểu, nghiên cứu về đất nước triệu voi này

Vào năm 2012, nghiên cứu sinh Uong Minh Long đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ với đề tài: "Quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước của CHDCND Lào trên lĩnh vực đối ngoại từ năm 1975 đến 2010" Luận án đã di

Trang 13

sâu phân tích làm rõ công cuộc đâu tranh xây dựng và bảo vệ đât nước trên lĩnh vực đối ngoại của CHDCND Lào từ năm 1975 đến năm 2010 Luận án đã đánh giá những thành tựu, hạn chế sau 35 năm hoạt động đối ngoại nhằm bảo

vệ và củng cố độc lập dân tộc ở Lào, đồng thời rút ra những kinh nghiệm đối với Lào và đối với các nước đang phát triển trong quá trình đầu tranh bảo vệ củng cố độc lập dân tộc

Đây là tài liệu tham khảo rất có giá trị, khi nghiên cứu về vấn đề đầu tranh bảo vệ và củng cố độc lập dân tộc của Lào nói riêng của các nước đang phát triển nói chung trong bối cảnh toàn cầu hóa

Nhưng do những đặc thù của mục đích nghiên cứu khác nhau, các học giả thường hướng nhiều sự quan tâm và chủ yếu tập trung vào khia cạnh mối quan

hệ hữu nghị đặc biệt giữa Lào và Việt Nam - lịch sử hình thành và phát triển cũng như triển vọng của họp tác Thông qua việc phân tích bối cảnh lịch sử và chính sách quan hệ giữa hai bên của hai nhà nước, nhất là từ phía Lào, có thể đánh giá được một cách chân thực, khách quan vi trí, vai trò của mối quan hệ đặc biệt này trong xây dựng và bảo vệ đất nước trên lĩnh vực đối ngoại của Lào, chứ chưa di sâu vào phân tích những đóng góp của hoạt đông đối ngoại đối với sự nghiệp này Vi vậy, trong quá trình thực hiện luận văn, mục tiêu và hướng nghiên cứu chính sẽ làm rõ những thiếu hụt trên

3 Mục đích và nhiệm vu của luận văn• • • •

Trang 14

3.2 Nhiệm vu của luận văn• • •

Một là: Phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của sự đóng góp trên lĩnh vực đối ngoại ở CHDCND Lào vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước

từ năm 1986 đến 2015

Hai là: Phân tích những nhân tố tác động đến hoạt động cũng như sự đóng góp của hoạt động này vào sự nghiệp bảo vệ củng cố độc lập của CHDCND Lào giai đoạn từ 1986 đến 2015

Ba là: Phân tích những đóng góp của hoạt động đối ngoại trên các lĩnh vực nhằm bảo vệ và củng cố độc lập dân tộc của CHDCND Lào từ năm 1986 đến năm 2015

Bốn là:Đưa ra một số phương hướng và giải pháp nhằm tăng cường sự đóng góp của hoạt động đối ngoại đối với công cuộc báo vệ,củng cố độc lập dân tộc ở CHDCND Lào trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động đối ngoại của Nhà nước CHDCND Lào, trong đó tập trung phân tích những đóng góp của nó vào

sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước giai đoạn từ năm 1986 đến 2015

Trang 15

đối ngoại, chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công, tư tưởng chỉ đạo của đồng chí Caysỏn Phômvihản, đường lối của Đảng Nhân dân cách mạng Lào.

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng

và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết họp chặt chẽ các phương pháp phân tích, thống kê, khảo sát văn bản, kết họp giữa lý luận với thực tiễn, lịch sử và logic

6 Những đóng góp của luận văn

Nghiên cứu tương đối toàn diện và có hệ thống về hoạt động đối ngoại của CHDCND Lào trong quá trình đổi mới cùng những đóng góp của nó đối với sự nghiệp bảo vệ và củng cố độc lập dân tộc giai đoạn từ năm 1986 đến 2015

Rút ra một số kinh nghiệm, đề xuất một số kiến nghị nhằm phát huy hơn nữa những đóng góp của hoạt động đối ngoại với sự nghiệp xây dựng và bảo

vệ đất nước của CHDCND Lào

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Luận văn góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về xây dựng và bảo vệ đất nước cùng vai trò, đóng góp của hoạt động đối ngoại với

sự nghiệp bảo vệ độc lập dân tộc, phát triển đất nước của CHDCND Lào

8 Ket cấu của luân văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm 3 chương, 9 tiết

Trang 16

1.1.1 Khái niệm hoạt động đối ngoại

Đường loi đối ngoại là hệ thống cac quan điểm thể hiện tấm nhìn chiến lược dài hạn về lợi ích quốc gia trên trường quốc tế, định hướng và chỉ đạo

và hoạt động trong quan hệ đối ngoại Đường lối đối ngoai và công tác đối

ngoại của mồi nước luôn bi chi phối và phục tùng đường lối đối nội, xuất phát

từ đường loi chính trị, phục vụ đường lối chính trị, phục tùng và phục vụ đường lối chính trị

Chính sách đối ngoại là chủ truong, chiến lược, kế hoạch và các biện

pháp thực hiện cụ thế do một quốc gia đề ra liên quan đến các mối quan hệ quốc tế mà quốc gia đã thiết lập với các quốc gia và các chủ thế khác trên thế giới nhằm tăng cường và bảo vệ lợi ích quốc gia của mình

Đường lối, chính sách và nhiệm vụ đối ngoại luôn luôn phải xuất phát từ những mục tiêu và nhu cầu của sự nghiệp phát triển đất nước

Trong hoạt động đối ngoại, nhiệm vụ chủ yếu của quốc gia là đàm phán, đàm phán để tồn tại, khẳng định mình và tự điều chỉnh để phù họp vời môi trường quốc tế Trong đàm phán, mọi bên, dù lớn hay bé it nhiêu đều phải nhường nhịn và cố gắng giành được nhiều lợi thế nhất Một quốc gia đóng vai chính hay phụ, có uy tín hay không trên trường quốc tế, về cơ bản, phụ thuộc vào thực lực trong nước Do vậy, nếu một quốc gia đạt được lợi thế lớn hơn

so với thực lực, thì đó là nhờ vào nghệ thuật của người đàm phán

Trang 17

Hoạt động đôi ngoai là một khái niệm chỉ những công việc, những hoạt

động của một chủ thể trong quan hệ với các chủ thể khác, đây là sự ứng xử của chủ thể đó với các nước ngoài

Đối ngoại là những hoạt động nhằm tạo điệu kiện quốc tế thuận lợi cho

sự nghiệp bảo vê và xây dựng đất nước, đồng thời góp phần vào sự nghiệp hòa bình hữu nghị và họp tác trên thế giới Nhiệm vụ đối ngoại là ra sức kết họp sức mạnh của đất nước với sức mạnh của thời đại, tranh thủ tối da những điều kiện quốc thuận lợi để thực hiện mục tiêu từng giai đoạn của cách mạng

“Mục đích của công tác đối ngoại là để nâng cao điạ vi quốc tế của đất nước mình, nhằm bảo đảm lợi ích của quốc gia dân tộc, bao gồm quyền dân tộc cơ bản như: độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, hạnh phúc

cho nhân dân”[39;tr.l65]

Ngoại giao là hoạt động chính trị liên quan đến các mỗi quan hệ giữa

các quốc gia Đại diện quyền lợi của một chính phủ nước ngoài, quản lý công việc quốc tế, hướng dẫn và tiến hành đàm phán giữa các quốc gia

1.1.2 Quan niệm về độc lập dân tộc của m ột quốc gia trong thời

k ỳ đổi m ới

Độc lập dân tộc là thuật ngữ dùng để chỉ trạng thái của một nước không

bi lệ thuộc, phụ thuộc bên ngoài cũng như sự toàn vẹn lãnh thổ không bi nước ngoài de doa Đó là quyền làm chủ thiêng liêng, bất khả xâm phạm của một quốc gia được thể hiện trên mọi phương diện: chính trị, an ninh, quốc phòng, ngoại giao, kinh tế, văn hóa, xã hội và được đảm bảo toàn vẹn, đầy đủ về mọi mặt của một quốc gia trong phạm vi lãnh thổ quốc gia đó Như vậy, độc lập dân tộc là những quyền và nghĩa vụ của một quốc gia - trong mối quan hệ với các nước khác - về danh nghĩa đáng được hưởng và về khia cạnh thực chất của việc nắm và sử dụng quyền lực quốc gia - trong bối cảnh chính trị nội bộ, những khả năng thực tế mà nước đó có để bảo đảm thực thi những quyền lợi

Trang 18

và nghĩa vụ ấy Xét trên những khia cạnh đó, độc lập dân tộc chính là quyền làm chủ của một quốc gia, là mục tiêu của chính sách quốc gia và là nội dung chủ yếu của lợi ích dân tộc [14;trl26] Trong điều kiện toàn cầu hóa, đã xuất hiện những mun đồ lấy “làng toàn cầu” thay thế cho quốc gia dân tộc, nếu không bảo đảm được độc lập dân tộc, chủ quyền, quyền quyết định chính sách đối nội, đối ngoại, thì có thể dẫn đến tình trạng bi phụ thuộc, bi “hòa tan” Trước sự đan xen lợi ích và sự da dạng phong phú của các mối quan hệ, sự chi phối của các nước lớn, độc lập dân tộc gặp nhiều thách thức và vấn đề bảo

vệ độc lập dân tộc càng trở nên bức thiết trong chiến lược và hoạt động đối ngoại của các quốc gia dân tộc

1.1.3 Vai trò của hoạt động đổi ngoại đối với độc lập dân tộc ở những quốc gia đang phát triển trong bối cảnh tiến hành đồi mới

Trong bối cảnh tình hình thế giới đang biến đổi nhanh chóng, phức tạp khó lường như hiện nay, đồng thời với nhu cầu phát triến của đất nước càng cao, hoạt động đối ngoại càng có vai tro lớn trong việc nâng cao vi thế của đất

nước Vai trò của hoạt động đối ngoại thế hiện trên những vấn đề chính: thứ

nhất, tạo điều kiện, môi trường hòa bình, thuận lợi cho sư nghiệp bảo vệ và

xây đựng đất nước; thứ hai, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ về mọi

mặt, đặc biệt là về vốn, kỳ thuật, công nghệ, kinh nghiệm phát triển của các

nước; thứ ba, góp phần khắc phục, hạn chế những tác động tiêu cực, khó khăn

và thách thức từ xu thế toàn cầu hóa và sự phá hoại của các thế lực thù địch,

giữ vững độc lập dân tộc; thứ tư, nâng cao vai trò, vi thế đất nước trên trường

quốc tế

Tình hình thế giới hiện nay cho thấy độc lập chủ quyền quốc gia dân tộc

và toàn cầu hóa có mối quan hệ hữu cơ với nhau Một mặt, toàn cầu hoá tạo ra những tiền đề cho tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia dân tộc, mỗi vùng, thậm chí mỗi đơn vi kinh tế và cá nhân, mặt khác toàn cầu hoá cũng đưa đến

Trang 19

những thách thức trong việc thực hiện và đảm bảo chủ quyên quôc gia dân tộc Vai trò của hoạt động đối ngoại thể hiện qua việc phát triển và mở rộng quan hệ hợp tác với các nuoc theo đường lối, chính sách đối ngoại của mỗi nuoc và dựa trên 5 nguyên tắc chung sống hòa bình, tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau bằng cách tuyên truyền, quảng bá về đất nước mình về đường lối, chủ trương của nhà nước mình, giải quyết những vẫn đề nảy sinh trong quan

hệ với các nước khác bằng phương pháp hòa bình, phấn đấu đạt được lợi ích tối da cho đất nước Quá trình toàn cầu hoá có những tác động nhất định đến độc lập chủ quyền quốc gia dân tộc, đặt các dân tộc, nhất là các quốc gia đang phát triển trước thách thức của hàng loạt các vấn đề mới Vi vậy, vấn đề của các nước không phải là tìm cách chống lại xu thế này mà phải tìm cách chủ động tham gia, biết điều chỉnh và thích ứng với xu thế đó trên cơ sở nguyên tắc bảo đảm độc lập dân tộc

1.1.4 Vấn đề độc lập dân tộc ở cộng hòa dân chủ nhân dân Lào trong điều kiện hiên nay

Đối với các nước đang phát triển nói chung, CHDCND Lào nói riêng, trong điều kiện toàn cầu hóa, chức năng quyền lực của nhà nước bi giảm di nhiều, phải chấp nhận hạn chế quyền lực của mình trong các quyết sách vi những lợi ích lớn hơn của quốc gia Bên cạnh đó, việc điều chỉnh các chính sách về kinh tế, chính trị, văn hóa cả trong phạm vi quốc gia dân tộc lẫn trong quan hệ quốc tế, một trong những biểu hiện cụ thể của việc thực hiện chủ quyền quốc gia dân tộc cũng có tác động đến xu thế toàn cầu hóa, có thể theo hướng tích cực hoặc tiêu cực, tùy theo sự lựa chọn của các quốc gia dân tộc Thách thức trong bối cảnh toàn cầu hoá, là làm sao giữ được chủ quyền quốc gia dân tộc, bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc đồng thời nỗ lực hết mức để tồn tại cho được trong hệ thống toàn cầu hoá Ngày nay, một quốc gia sẽ không thể tăng trưởng nếu không hội nhập kinh tế quốc tế, nhưng quốc gia

Trang 20

cung không thê tôn tại nêu không có một hệ điêu hành và những phân mem cho phép quốc gia đó tận dụng nhung lợi thế của quá trình này và phòng thân khi có khủng hoảng Đối với các quốc gia tham gia hội nhập kinh tế quốc tế

mà không tạo dựng được nhung điều đó, sẽ dẫn đến mất độc lập tự chủ, chủ quyền quốc gia dân tộc bi xâm phạm là điều khó tránh khỏi Vi vậy, song song với sự đồng bộ trong phát triển kinh te, quốc gia cũng cần tăng cường tiềm lực quân sự, phát triển an ninh, quốc phòng để có thể đối phó trực tiếp với nguy co bi xâm phạm chủ quyền

Đối với các nước lựa chọn con đường di lên CNXH, trong đó có Lào, đã xác định đây là con đường cách mạng triệt để nhất vi nó không chỉ hướng tới mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp mà còn giải phóng con người

Vi vậy, thực chất định hướng XHCN của nhóm nước này cũng nhằm xây dựng một nền kinh tế - xã hội phát triển hài hoá, công bằng, dân chủ đồng thời là phương thức lựa chọn phù hợp nhất để bảo vệ, củng cố nền độc lập dân tộc Tuy nhiên, các nước này là những nước có xuất phát điểm của nền kinh tế yếu kém, lại bi các thế lực thù địch không ngừng bao vây, chống phá, nếu không ra sức phát triển kinh tế, tăng cường phát huy sức mạnh nội tại của dân tộc kết hợp với khả năng vận động sức mạnh thời đại, sức mạnh từ các mối quan hệ quốc tế, xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ, thì nguy cơ bi lệ thuộc, bi các thế lực đế quốc lợi dụng áp đặt kinh tế để thực hiện “diễn biến hoá bình” nhằm thay đổi chế độ chính trị, nguy cơ mất độc lập, chủ quyền quốc gia dân tộc là rất lớn

De giữ vững độc lập dân tộc trong bối cảnh quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường như hiện nay, phải tăng cường sức mạnh dân tộc từ sự kết họp nhiều yếu tố trong quá trình phát triển đất nước, từ kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội đến ngoại giao Trong đó, quan hệ đối ngoại có vai trò đặc biệt quan trọng Nhiệm vụ của hoạt động đối ngoại là giữ vững môi trường hòa bình, tạo các điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc phát triển đất

Trang 21

nước, đây mạnh phát triên kinh tê - xã hội, tăng cường khả năng bảo vệ độc lập chủ quyền quốc gia dân tộc, đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vi hòa bình, độc lập và tiến bộ xã hội Trong điều kiện hội nhập quốc tế và toàn cầu hoá hiện nay, có nhiều vấn đề mang tính toàn cầu và thậm chí nảy sinh từ bên trong de doa đến sự ổn định

và độc lập, chủ quyền quốc gia của mỗi nước, đòi hỏi sự phối họp giữa các chủ thể quốc gia dân tộc để loại trừ

thúc đây mạnh mẽ hoạt động

rộng quan hệ quốc tế, tạo điều kiện phôi hợp lực lượng nhăm đâu tranh thiết lập trật tự thế giới công bằng, dân chủ trên cả lĩnh vực kinh tế lẫn chính trị Mở rộng quan hệ vói các nước lớn trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi, tạo ra thế đan xen lợi ích giữa chính các nước lớn, một mặt sẽ trực tiếp thu hút được nguồn lực bên ngoài cho phát triển; mặt khác tránh rơi vào sự phụ thuộc bất kỳ một nước lớn nào; đồng thời giúp cho các nước tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ của cộng đồng thế giới trong đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc của mình Nhận thức đúng đắn, đầy đủ về độc lập dân tộc và vai trò của đối ngoại với tiến trình xây dựng và bảo vệ đất nước

là co sở khoa học quan trọng để có những đối sách phù hợp trong quá trình phát triển đất nước giai đoạn hiện nay

đôi ngoại theo hướng tăng cường mở

1.2 Cơ sở thuc tiễn

1.2.1 Xuất phát từ tình hình đất nước Lào

Sau nhiều năm đầu xây dựng CNXH, Lào đã đạt được nhiều thành tựu

về chính trị, kinh tế, văn hoá và xã hội, đời sống nhân dân bước đầu được cải thiện Bộ máy nhà nước được kiện toàn, hoàn chỉnh từ trung ương đến địa phương, là cơ sở quan trọng để phát huy sức mạnh đại đoàn kết các lực lượng

xã hội và các bộ tộc Lào, đồng thời tranh thủ được sự ủng hộ, giúp đỡ quý báu của bạn bè quốc tế Bằng sức mạnh tống hợp toàn dân tộc, trong đó có

Trang 22

sức mạnh ngoại giao, Lào đã đập tan các âm mưu phá hoại, xâm nhập của các thế lực thù địch trong và ngoài nước, bảo vệ vừng chắc thành quả cách mạng, độc lập chủ quyền quốc gia dân tộc.

Bên cạnh những thành tựu trong công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ

Tổ quốc, cách mạng Lào vẫn phải đối mặt trực tiếp với sự bao vây cấm vận về kinh tế, sự de doa, can thiệp bằng quân sự của bọn đế quốc và các lực lượng thù địch Các thế lực thù địch tiếp tục hoạt động “diễn biến hoá bình”, lợi dụng hợp tác đầu tư để lôi kéo, chuyển hoá, kích động các phần tử tiêu cực trong học sinh, sinh viên, trí thức và cán bộ Lào Tình hình biên giới phía Tây vẫn diễn ra căng thẳng Các vụ xâm nhập, bạo động của các nhóm, đảng phái, lực lượng cực đoan phản động vẫn tiếp diễn, bối cảnh quốc tế và khu vực còn tiềm ẩn nhiều diễn biến khó lường, de doa đến nền độc lập của Lào

về vi tri địa lý, CHDCND Lào nằm ở phía Tây Bắc của bán đảo Đông

Dương, nằm lọt trong lục địa Đông Nam Á, Lào có diện tích 236.800 km2, là một nước duy nhất nằm trong khu vực trung tâm của tiểu sông Mê Kong Lào

có biên giới giáp với 5 nước: phía Đông giáp với Việt Nam với đường biên giới dài 2.067 km, phía Tây giáp với Vương quốc Thái Lan với đường biên giới dài 1.835 km, phía Bắc giáp với Trung Quốc với đường biên giới dài 505

km, phía Nam giáp với Vương quốc Campuchia với đường dài 535 km và phía Tây Bắc giáp với Mianmar là 236 km và Vieng Chăn là Thủ đô của Cộng hòa DCND Lào Do vi trí địa lý đặc biệt của mình, CHDCND Lào được coi như một (địa bàn trung chuyển) Nam Á, lục địa từ Tây sang Đông, từ Bắc xuống Nam và ngược lại Với vi trí này đã thúc đẩy ASEAN đẩy mạnh họp tác với CHDCND Lào và là điều kiện thuận lợi để Lào đẩy mạnh quá trình hội nhập với các nước trong khu vực và quốc tế

về kinh tế, Lào là một nước kinh tế còn chậm phát triển; bắt đầu xây

dựng chế độ mới với điểm xuất phát rất thấp và cơ sơ kinh tế lạc hậu, lại bi

Trang 23

chiến tranh tan phá Sau nhiều năm xây dựng CNXH, Lào vẫn là một nước nông nghiệp nhỏ, lạc hậu, quan hệ kinh tế vần chủ yếu là tự nhiên và nửa tự nhiên Sản xuất nông nghiệp phân tán, nặng tính tự cấp, tự túc Sản xuất theo vùng lãnh thổ, phương thức canh tác gồm nhiều loại hình, lạc hậu cả về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Hoạt động lâm nghiệp chủ yếu tập trung khai thác gỗ, lâm sản để tiêu dùng trong cuộc sống và một phần để xuất khẩu Một số lâm sản có giá trị nhưng phương thức khai thác thô sơ, tuy tiện, tạo ra rất it giá trị gia tăng từ tài nguyên và hoàn toàn không có biện pháp tu bo tái tạo rừng Sản vật tự nhiên của rừng, núi, sông, hồ chủ yếu chỉ cung cấp cho tiêu dùng hàng ngày của nhân dân địa phương, chưa tận dụng một cách hợp lý

và có hiệu quả những tiềm năng sẵn có, nhất là chưa bảo vệ và phát triển tốt những tiềm năng ấy vấn đề lưu thông còn nhiều khâu ách tắc; giao thông chưa thông suốt, đặc biệt đối với vùng sâu, vùng xa, miền núi; thương nghiệp phục vụ còn rất hạn chế

Từ sau khi Đảng NDCM Lào khởi xướng đường lối đổi mới tại Đại hội lần thứ IV năm 1986, trong lĩnh vực kinh tế, Lào đã tiến hành đồng bộ và có hiệu quả các giải pháp trong cơ chế kinh tế mới (New Economic Mechanism- NEM) Chính phủ Lào bắt đầu quản lý kinh tế kiểu phi tập trung và khuyến khích công ty tư nhân, đồng thời đã thực hiện một chương trình cải cách cơ cấu quy mô lớn nhằm cải thiện chi tiêu công cộng, cải cách các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước, duy trì tính minh bạch của các ngân hàng, phát triển mạnh các doanh nghiệp tư nhân

Dưới sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng NDCM Lào, nhân dân các bộ tộc Lào yêu nước, đoàn kết, tin tưởng ở sự lãnh đạo của Đảng, trong gần 40 năm qua đã phát huy tinh thần độc lập, tự chủ và ý ctn tụ* tu cường và có sự giúp đỡ to lớn của các nước bạn bè, CHDCND Lào đã giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong sự nghiệp bảo vệ và xây

Trang 24

dựng đât nước, vi thê của Lào không ngừng được nâng cao trên trường quôc

tế và khu vực Đặc biệt, từ khi Đảng NDCM Lào khởi xướng đường lối đối mới tại Đại hội lần thứ IV của Đảng (năm 1986) đến nay, nhip độ phát triển kinh tế tăng Trong năm 1986 - 1990, GDP tăng tnmg bình 4,8%, năm 2006 -

2010 tăng 7,9% Đời sống của nhân dân được cải thiện từng bước, thể hiện rõ qua thu nhập đầu người của nhân dân: Năm 1985, GDP bình quân đầu người chỉ đạt 114 USD, đến năm 2010 đạt 1.069 USD Đầu tư nước ngoài ngày càng tăng, năm 2010 có các nhà đầu tư từ 41 nước, lãnh thổ trên thế giới với hơn 1.609 dự án, tổng số vốn 13,6 tỷ USD[51;tr.l27]

về xã hội Dân số, theo số liệu thống kế của ủ y ban Ke hoạch và đầu tư

Nhà nước Lào (năm 2010), dân số của Lào là 6,8 triệu người, có 49 dân tộc anh em Lĩnh vực giáo dục đã có tiến triển khá về số lượng và chất lượng Trẻ

em được vào trương mâu giáo từ 8% trong năm 2000 lên 10% trong năm

2005, vào trường tiểu học tăng từ 77,3% lên 86% ; vào trường phổ thông cơ

sở 54,3% và trường phổ thông trung học 32,4% Phát triển thêm hệ thống trường đại học quốc gia ở hai trung tâm: tỉnh Chăm Pa sắc và tỉnh Luông prá Băng Y tế cũng đã có bước phát triển: công tác chống dịch bệnh được quan tâm, đầu tư nâng cấp và trang bi kỹ thuật y tế trong cả nước được 8 trung tâm

y tế, chăm sóc sức khỏe Từng bước phát triển mạng lưới y tế cơ sở theo hướng da dạng hóa loại hình, tăng cường đội ngũ cán bộ y tế cho các huyện vùng sâu, vùng xa Nhà nước có chính sách khuyến khích đầu tư cảu tư nhân trong lĩnh vực này Tỉ lệ tử vong của phụ nữ khi sinh con và tỉ lệ trẻ sơ sinh

và trẻ em dưới một tuổi đã giảm rõ rệt

về chính tri Đảng NDCM Lào là đội tiên phong của giai cấp công nhân,

mang bản chất giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và dân tộc Lào, đại biểu trung thành lơi ích của giai cấp công nhân

và nhân dân lao động của toàn dân tộc, Đảng có vai trò và nhiệm vụ lịch sử

Trang 25

lanh đạo cách mạng Lào, là lực lượng lãnh đạo duy nhat xã hội Lào, đưa nhân dân các bộ tộc Lào tiến lên trên con đường XHCN Đảng Nhân dân Cách mạng Lào có nguồn gốc lịch sử từ Đảng Cộng sản Đông Dương do lãnh tụ Hồ Chí Minh sáng lập năm 1930 Tháng 02 năm 1951, Đại hội lần thứ II của Đảng Cộng sản Đông Dương đã ra Nghị quyết thành lập 3 đảng riêng biệt

đại diện cha 3 quốc gia của 3 nước Đông Dương Theo tinh thần đó, Đảng

Nhân dân cách mạng Lào được thành lập tại Đại hội lần thứ nhất họp ở tỉnh

Hua Phăn từ 22/3 đến 06/4/1955 Đại hội thông qua Báo cáo thành lập Đảng, lấy tên là Đảng Nhân dân Lào (Phắc pa xa xôn Lào), thông qua các đường lối cơ bản, chương trình hành động trước mắt và Điều lệ của Đảng;

lập Ban Chỉ đạo Trung ương do đồng chí Cay Xon Phom Vi Han làm Tổng

Bi thư Đại hội II họp tại căn cứ địa Viêng Xay (Hua Phăn) từ 03-6/2/1972

đã thông qua Cương lĩnh chính trị, bản sửa đổi Điều lệ Đảng và quyết định

đổi tên Đảng thành Đảng NDCM Lào (Phắc Pa xa xôn pa ti văt Lào) Đồng

chí Cay Xon Phom Vi Han được bầu làm Tổng Bi thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng NDCM Lào

Đảng NDCM Lào là người khởi xướng công cuộc đổi mới năm 1986,

làm cho CHDCND Lào có sự biến đổi tích cực về mọi mặt chính tri ổn định,• • • • • • /

trật tự xã hội được đảm bảo, kinh tế - xã hội phát triển liên tục với tộc độ khá cao, đời sống của nhân dân từng bước được cải thiện Trong suốt 57 năm xây dựng và trưởng thành, Đảng NDCM Lào đã có sự phát trển toàn diện, tính đến đầu tháng 3 năm 2011, toàn Đảng đã có hơn 191.780 đảng viên, với hơn 13.000 chi bộ[51; 128] trong cả nước

1.2.2 B ối cảnh quốc tế, khu vực thập niên cuối thếkỷ x x , đầu thếkỷ XXI

đại phát triển mạnh mẽ Loài người bắt đầu tiến tới một nên kinh tế mới với vai trò nổi bật của kinh tế trí thức Sự phát triển của cách mạng khoa học công

Trang 26

nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin, mang lại những biên đôi nhánh chóng

và sâu sắc trong mọi mặt đời sống nhân loại Các nền kinh tế được cơ cấu lại, kinh tế trí thức được thúc đẩy Xu thế khu vực hóa và toàn cầu hóa được tăng cường, xu hướng cải cách và mở cửa xuất hiện như một trào lưu quốc tế Những năm đầu thế kỷ XXI, trật tự thế giới mới, tính chất đa cực trong hệ thống thế giới ngày càng rõ nét Quan hệ quốc tế trở nên năng động, linh hoạt đồng thời phức, chứa đựng nhiều bước vận động quanh co, phức tạp Nhìn từ nền tảng vật chất của xã hội loài người, đặc trưng của giai đoạn hiện nay là sự hiện diện và phát triển của kinh tế trí thức, của công nghiệp thông tin Xét trên bình diện các xu hướng lớn của đời sống quốc tế, giai đoạn hiện nay là giai đoạn của quá trình toàn cầu hóa, quốc tế hóa và khu vực hóa

Phong trào cộng sản quốc tế đã có bước phục hồi, củng cố và phát triển; các nước XHCN còn lại tiếp tục phát triển trong cải cách và đổi mới Cụm từ

"các nước XHCN còn lại” được hiểu là những nước: Trung Quốc, Việt Nam,

Cu Ba, CHDCND Triều Tiên và CHDCND Lào Các Đảng cầm quyền tại các nước này đã tiếp tục lãnh đạo nhân dân tiến lên theo con đường đã lựa chọn, thu được những thành tựu to lớn về mặt, góp phần cải thiện đời sống của nhân dân nước mình, đồng thời nâng cao vi thế trên trường quốc tế Các nước XHCN đã trụ vững, thực hiện công cuộc cải cách, đổi mới khá sớm, nổi bất là cuộc cải cách tại Trung Quốc từ năm 1978, đổi mới tại Việt Nam và Lào từ năm 1986 và đã giành được nhiều kết quả to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội, tiếp tục khẳng định tính ưu việt, vi trí và sức sống của CNXH, đồng thời làm thất bại âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch, những thế lực luôn tuyên truyền về sự cáo chung của CNXH trên toàn thế giới

Thế giới xuất hiện nhiều vấn đề mang tính toàn cầu mà một quốc gia riêng

lẻ không thể tự giải quyết được, đòi hòi phải có sự hợp tác da phương, như: vấn

đề ô nhiem môi trường, với việc xử lý rác thải, sự nóng lên của trái đất với vấn

Trang 27

đề hiệu ứng nhà kính, khủng hoảng sinh thái, biến đổi khi hậu, bùng nổ dân số, bệnh dịch hiểm nghèo, đói nghèo, vấn đề tội phạm xuyên quốc gia và quốc tế, mâu thuẫn co bản giữa các nuoc tu bản phát triển và các nuoc nghèo.

Tóm lại, mặc dù Liên Xô và các nuoc XHCN Đông Âu sụp đổ, loài

nguời vẫn ở trong thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH; mặc dù xung đột cục

bộ diễn ra liên tiếp xuất phát từ mâu thuẫn dân tộc, sắc tộc, lãnh thổ, mâu thuẫn phe phái quyến lực, nhung xu thế chung của thế giới bao trùm và chủ đạo vẫn là hòa bình, ổn định, hợp tác để phát triển Đó là: ý thức độc lập dân tộc phát triển mạnh; liên kết khu vực và toàn cầu phát triển ngày càng nhanh; cách mang khoa học công nghệ có những birớc nhảy vọt, đặt biệt là cách mạng thông tin; nền kinh tế thế giới sau một thời kỳ suy thoái đã phục hồi, đang tiếp tục phát triển, tuy không đồng đều; khu vực châu Á - Thái Bình Dương là khu vực có nền kinh tế phát triển năng động, hòa bình và on định tương đối, trong đó tổ chức ASAN là tổ chức khu vực thành công nhất

1.2.3 Kinh nghiệm xây dựng và bảo vệ đất nước của một so nước đang phát triển trên lĩnh vực đối ngoại

Trong những năm qua, các nước đang phát triển và CHDCND Lào - là một nước đang phát triển và di theo định hướng XHCN, nhất là thời kỳ Lào tiến hành đổi mới chính sách đối ngoại trong bối cảnh tác động chung của quá trình toàn cầu hoá - đã thực hiện chính sách đối ngoại xây dựng và bảo vệ đất nước của mình và đạt được nhiều kết quả quan trọng Có thể rút ra một số kinh nghiệm xây dựng và bảo vệ đất nước trên lĩnh vực đối ngoại của một số nước đang phát triển (nhất là của Việt Nam) giai đoạn hiện nay:

Một là, nhận thức đủng đắn moi quan hệ giữa bảo vệ độc lập dân tộc và hội nhập quốc tế.

Mối quan hệ giữa bảo vệ độc lập dân tộc và hội nhập quốc tế là mối quan

hệ tác động lẫn nhau rất phức tạp Độc lập dân tộc là yếu tố quyết định bảo

Trang 28

đảm tính đúng hướng và hiệu quả của hội nhập quôc tê Hội nhập quôc tê tạođiều kiện nâng cao vi thế đất nước, tăng cường sức mạnh quốc gia để giữvững độc lập, tự chủ Mở rộng quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế là phục vụcho giữ vững độc lập dân tộc Hội nhập quốc tế làm gia tăng tiềm lực, nângcao vi thế của đất nước trong quan hệ quốc tế, là cơ sở để tăng cường khảnăng giữ vững độc lập như: tạo ra các mối ràng buộc và đan xen lợi ích, đồngthời tăng thêm nguồn lực để bảo vệ đất nước và nhất là đưa quốc gia vào dòngchảy chính của xu thế thời đại, thực chất là thực hiện phương châm “kết hợpsức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại” vi mục tiêu bảo vệ đất nước Độc• • • • • • •lập dân tộc còn là tiền đề của hội nhập quốc tế Muốn hội nhập quốc tế sâu rộng và hiệu quả thì cái gốc độc lập dân tộc càng phải củng cố, có độc lập dân tộc thì quan hệ quốc tế của quốc gia mới có định hướng Đồng thời, tư thế một nước độc lập làm tăng giá trị của nước đó khi hội nhập Bài học kinh nghiệm từ quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế và toàn cầu hoá của Lào, nhất là bài học từ việc giải quyết tốt mối quan hệ giữa hội nhập và bảo đảm độc lập Giữ vững độc lập tự chủ thể hiện trước hết trong quyết sách hội nhập nhằm khai thác tối da các lợi thế, đối phó thành công với các thách thức đặt ra trong quá trình hội nhập; chủ động lựa chọn các tổ chức tham gia, các đối tác và hình thức quan hệ, thời điểm tham gia hội nhập, xây dựng lộ trình hội nhập hợp lý trong khuôn khổ quy định chung; chủ động điều chỉnh chính sách cho phù họp Do những điều kiện lịch sử cụ thể, các nước đang phát triển có nhiều điểm khác biệt về mô hình xây dựng đất nước, ý thức hệ, trình độ kinh tế - xã hội Song đều có đặc điểm chung là it nhiều còn phụ thuộc vào các nước TBCN về vốn, công nghệ, thị trường; sức cạnh tranh của nền kinh tế thấp kém nên có nhiều rủi ro hơn trong hội nhập quốc tế Vi vậy, hội nhập càng sâu thì vấn đề bảo vệ độc lập, lợi ích quốc gia càng phải được chú trọng.

Trang 29

Hai là, lợi ích quôc gia luôn đặt ở vi tri hàng đâu trong mục tiêu đôi ngoại Trong hoàn cảnh hiện nay, lợi ích quốc gia dân tộc không thuần tuy là

tính bất khả xâm phạm của chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải, lợi ích kinh

tế, thị trường, văn hoá , mà còn là sự an toàn, không bi de doa đối với chế độ chính trị, đối với định hướng phát triển của đất nước và việc duy trì những quyền lợi của công dân trong và ngoài lãnh thổ Khẳng định lợi ích quốc gia dân tộc là mục tiêu hoạt động đối ngoại, thì cũng có nghĩa là đặt lợi ích quốc gia dân tộc trở thành nguyên tắc cao nhất của các hoạt động đối ngoại Trong bất ki hoàn cảnh nào, thời điểm nào cũng như trước bất ki sức ép nào cũng không được thay đổi, tuyệt đối không đem lợi ích quốc gia dân tộc mình ra để trao đổi, mặc cả, đàm phán nhằm đánh đổi các lợi ích khác De phù hợp với bối cảnh quốc tế mới, trên cơ sở chính sách đối nội, các nước có thể điều chỉnh nhiệm vụ, phương thức thực hiện chính sách đối ngoại, song phải đặt lợi ích quốc gia dân tộc ở vi trí đầu tiên; phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo trong công tác đối ngoại với phương châm tăng cường mở rộng quan hệ quốc

tế nhằm củng cố độc lập, phát triển lợi ích quốc gia

Kinh nghiệm này chỉ ra rằng, dù có thể phải thực hiện sự điều chỉnh nào

đó sao cho phù hợp với quy định chung theo cam kết khi hội nhập, dù có thể

có những áp lực nào đó, đặc biệt là từ các nước lớn, nhưng phải kiên quyết giữ vững độc lập, tự chủ, bảo đảm lợi ích quốc gia dân tộc Trong vấn đề này, kinh nghiệm của Việt Nam cần được nghiên cứu kỹ: “Trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ, phát huy tối da nội lực, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc; chủ động ngăn ngừa và giảm thiểu tác động tiêu cực của quá trình hội nhập quốc tế”[5;tr.236] Tuy nhiên, cùng với việc bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc, các nước đang phát triển phải thực sự tôn trọng lợi ích chính đáng các nước khác, tuyệt đối không vi lợi ích của dân tộc mình mà vi phạm lợi ích hoặc vi phạm độc lập dân tộc của nước khác

Trang 30

Ba là, phải xây dựng một chỉnh sách đôi ngoại độc lập tự chủ, không lệ thuộc vào sự chi phối bên ngoài.

Đây là bài học kinh nghiệm đặc biệt quan trọng đối với các nước, nhất là các nước đang phát triển, chậm phát triển hiện nay Hiện nay, về cơ bản các nước đang phát triển đều xác định hội nhập quốc tế là con đường, là sự lựa chọn đúng đắn để tăng cường sức mạnh và vi thế quốc gia, đồng thời tránh trở thành đối tượng bi cô lập, bao vây, biệt lập với quá trình phát triển của thế giới Các nước đang phát triển đều bước vào giai đoạn đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc sau quá trình đấu tranh giành độc lập bền bỉ, lâu dài và có một nền kinh tế kém sức cạnh tranh Do đó, sự chuẩn bi những yếu tố cần thiết đảm bảo cho quá trình chủ động hội nhập là tương đối hạn chế và điều này đã thách thức trực tiếp tới độc lập, chủ quyền quốc gia dân tộc Thậm chí, nguy

co càng hội nhập sâu lại càng bi lệ thuộc, áp đặt, mất độc lập là có thật Các nước đang phát triển thiếu những điều kiện để chống đỡ trước tác động tiêu cực của toàn cầu hóa và sự lợi dụng quá trình này để chống phá của các thế lực thù địch Vi vậy, bên cạnh việc tăng cường hội nhập để phát triển đất nước thì việc luôn đặt ra các nguyên tắc độc lập, tự chủ, đặc biệt là độc lập, tự chủ về đối ngoại là vô cùng cần thiết Độc lập, tự chủ trong đối ngoại được biểu hiện là việc quốc gia tự chủ động quyết định tất cả các vấn đề trong việc hoạch định phương hướng và chính sách đối ngoại, trong việc xác định các hướng uu tiên trong quan hệ quốc tế mà không thể bi chi phối từ bên ngoài

Bốn là, xây dựng và thiết lập da dạng hoá, da phương hoá quan hệ quốc tế; chú trọng quan hệ láng giềng, khu vực và tạo thế cân bằng trong quan hệ với các nước lớn.

Cùng với việc mở rộng ngoại giao song phương với các chủ thể là quốc gia dân tộc, các nước đang phát triển còn phải tham gia tích cực vào các tổ chức quốc tế và khu vực, coi đó là biện pháp hữu hiệu để hiện thực hoá lợi ích

Trang 31

quốc gia, tăng cường sự hiểu biết và tin cậy lẫn nhau, giữ gìn an ninh và hoá bình khu vực cũng như trên thế giới Việc mở rộng và phát triển các mối quan

hệ với tất cả các nước bằng các phương thức và các chủ thể tham gia hoạt động đối ngoại sẽ tạo ra lợi ích đan xen trong quan hệ quốc tế trên nguyên tắc hinh đẳng cùng co lợi Điều này sẽ giúp cho các nước đang phát triển tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ của cộng đồng thế giới trong cuộc đấu tranh bảo

vệ chủ quyền quốc gia dân tộc

Từ kinh nghiệm đấu tranh ngoại giao của Lào cho thấy, các nước láng giềng, các quốc gia trong khu vực luôn giữ một vi trí rất quan trọng trong chiến lược củng cố, bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia dân tộc, thậm chí có quan hệ trực tiếp tới nhiều mặt lợi ích của quốc gia như vấn đề biên giới, lãnh thổ, lãnh hải, mậu dịch, chính sách di dân tự do, dân tộc, sắc tộc và có tác động tới cả tiến trình hội nhập khu vực và quốc tế Vi vậy, việc coi trọng, củng cố quan hệ ngoại giao với các quốc gia láng giềng, xây dựng môi trường xung quanh hoá bình, thân thiện, hữu nghị phải được xác định là nhiệm vụ hàng đầu trong công tác đối ngoại Điều này có thể được cụ thể hoá bằng cách tích cực tham gia và xây dựng cơ chế da phương, mở rộng đổi ngoại kinh tế, thúc đẩy sự phồn vinh chung, tăng cường sự tin cậy lẫn nhau giữa các nước láng giềng

Đối với các nước đang phát triển, việc tăng cường quan hệ với tất cả các nước lớn sẽ không chỉ tận dụng được những thành tựu tiến bộ của khoa học - công nghệ, vốn, nhân lực, những dòng lưu chuyển hàng hoá chính trên thế giới , mà còn tạo ra mối quan hệ đan xen về lợi ích giữa đất nước với các nước lớn khác và giữa chính các nước lớn với nhau để tránh rơi vào sự phụ thuộc bất kỳ một nước lớn nào, một thị trường nào Chính sách này hiện nay đang ngày càng phù họp với đời sống quan hệ quốc tế khi mà xu thế toàn cầu

Trang 32

hoá đang phát triển mạnh mẽ và hội nhập quốc tế là điều kiện cho sự phát triển của mỗi quốc gia.

Nhu vậy, các nuoc đang phát triển bước vào thiên niên kỷ mới với những thách thức lớn từ sự áp đặt của các nước tư bản phát triển Đế bảo vệ chủ quyền dân tộc, các nước đang phát triển phải đoàn kết nhau lại để chống lại sự áp đặt này Thông qua các diễn đàn của Phong trào không liên kết,

Phong trào hòa bình, G il, các diễn đàn khu vực , các nước đang phát triển

đã phát huy được tinh thần hợp tác, từ đó góp tiếng nói chung trong việc giải quyết nhiều vấn đề trong quan hệ thương mại, đầu tư, hợp tác khoa học - công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực Trong bối cảnh quốc tế mới với những thay đổi nhanh chóng về mọi mặt hiện nay, cũng như CHDCND Lào, các nước đang phát triển đang đứng trước nhiệm vụ quan trọng là phải tiến hành đồng thời phát triển kinh tế và hoàn thiện hệ thống chính trị, cùng với việc tạo dựng đường loi đối ngoại độc lập, tự chủ và rộng mở để hội nhập và giữ vững độc lập dân tộc trong xu thế toàn cầu hóa

Trong những năm xây dựng đất nước vượt qua rất nhiều những thách thức, nguy cơ từ bên trong và bên ngoài, CHDCND Lào vẫn kiên trì theo đuổi đường lối đối ngoại hoá bình, độc lập, hữu nghị và họp tác với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính tri và xã hội, trên cơ sở các nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng cùng có lợi Những bước tiến dài của quá trình hình thành và hoàn chỉnh đường loi đối ngoại mang tầm thời đại và những giá trị nhân văn cao cả của Lào là cơ sở quan trọng để Lào đạt được những thắng lợi to lớn trong công cuộc hoạt động đối ngoại của mình Trong bối cảnh thế giới đang vận động mau lẹ với những diễn biến phức tạp và khó lường, việc Lào xử lý linh hoạt, mềm dẻo các mối quan hệ quốc tế không chỉ giúp Lào đạt được sự bình đẳng trong quan hệ quốc tế, mà nền độc lập cho

Trang 33

dân tộc, lợi ích quôc gia cũng đảm bảo vững chăc hon Chưa bao giờ trong lịch sử dân tộc, Lào lại có quan hệ quốc tế rộng mở và đạt sự cân bằng như ngày nay, cũng chưa bao giờ vi thế của đất nước Lào lại được nâng cao trên trường quốc tế như hiện tại.

1.2.4 Khai quát chính sách đối ngoại của Lào giai đoạn 1975 -1986

Trước thành lập nước CHDCND Lào (1975), đồng chí Cay Xon Phom

Vi Hẳn đã thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược không mệt mỏi của cách mạng Lào di song song với nhau, đấu tranh vũ trang trong nước và đấu tranh trên trường quốc tế Đồng chí Cay Xon Phôm-Vi-Hản xác định hai vấn đề đó gắn

bo hữu cơ với nhau là đúng và phù hợp nhất với tình hình của thế giới và tình hình của Lào thời gian đó vi đối phương có uu thế hơn Lào nhiều lần và tập họp với nhau để áp đặt nước Lào dưới ách thống trị của nó Trước tình hình

đó, Đảng NDCM Lào muốn vững mạnh phải biết kết bạn với ai và đấu tranh với ai, hay nếu nói cách khác theo tư duy của nhà chiến lược quân sự "biết ta, biết đối phương đánh 100 trận cũng thắng 100 trận" Thực tiễn cho thấy, dưới

sự lãnh đạo của Đảng NDCM Lào và đồng chí Cay Xon Phom Vi Hẳn, phong trào yêu nước đã cố gắng tận dụng mọi thời cơ tình hình thế giới, tranh thủ tình thế kẻ thù đang mâu thuẫn về lợi ích và suy yếu nhiều mặt trong và ngoài nước để xây dựng tình đoàn kết quốc tế vững mạnh với nhân dân Việt Nam, với nhân dân Campuchia, nhũng dân tộc cùng chung hoàn cảnh như nhau đều nằm dưới ách thống tri của bọn xâm lược Tình đoàn kết được tôi luyện trong ngọn lửa của cuộc đấu tranh ác liệt và nặng nề, đã trở thành tình đoàn kết đặc biệt giữa nhân dân 3 dân tộc cùng nhau vun đắp đến ngày nay Đảng và đồng chí Cay Xon Phom - Vi - Han còn biết dựa vào các nước thành tâm ủng hộ sự nghiệp cứu quốc của Lào như Trung Quốc, Liên Xô và các nước bạn bè khác

do biết liên kết với bạn, biết giành lực lượng giữa ta và kẻ thù Bạn bè của Neo Lào yêu Tổ quốc trên trường quốc tế được phát triển mở rộng Mặt trận

Trang 34

Lào yêu Tô quôc lớn mạnh, góp phân đưa sự nghiệp cách mạng Lào giành thắng lợi từ Hiệp nghị Giơnevơ năm 1954 công nhận độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của mỗi nước Đông Dương đến Hiệp nghị Giơnevơ năm

1962 về Lào và Hiệp ước Vieng Chăn 1973, đất nước Lào được giải phóng hoàn toàn và thành lập nước CHDCND Lào năm 1975

Nước Lào giáp 5 nước có dân số hơn tỷ người, trong khi dân số của Lào hơn 4 triệu người Đảng NDCM Lào và đồng chí Cay Xon Phom Vi Hẳn luôn nhấn mạnh vấn đề xử lý mối quan hệ với nước ngoài là vấn đề sống còn của đất nước Vi vậy, trong dịp thành lập nước CHDCND Lào tháng 12/1975 đồng chí Cay Xon Phom Vi Hẳn chỉ rõ:

Thiết lập, tăng cường, củng cố quan hệ tốt giữa nước Lào với các nước trong thế giới thứ ba, tiếp tục giữ gìn quan hệ ngoại giao và phát triển thương mại thường xuyên với các nước không phân biệt chế độ chính trị - xã hội khác nhau trên cơ sở 5 nguyên tắc cùng nhau ổn định, tìm kiếm sự hiểu biết lẫn nhau

và sự ủng hộ từ các chính phủ và nhân dân có ý đồ tốt muốn giúp đỡ chính phủ

và nhân dân Lào phục hồi sau chiến tranh, phục hồi phát triển kinh tế, văn hoá và làm cho đời sống của nhân dân ngày càng tốt hơn [94, tr.81 ]

Quan điếm của Đảng và tư tưởng đối ngoại của đồng chí Cay Xon Phom

Vi Hẳn nêu trên là một cơ sở hình thành đường lối đối ngoại hoá bình, hữu nghị của CHDCND Lào Các quốc gia trên thế giới thiết lập quan hệ ngoại giao với Lào, đặt đại sứ quán tại Lào và tiếp tục có quan hệ với Chính phủ mới của Lào, ủng hộ hợp tác hữu nghị với Lào Đồng chí Cay Xon Phom Vi Hẳn và các đoàn đại biểu Đảng và Nhà nước Lào đã thực hiện nhiều chuyến thăm Campuchia, Việt Nam, Trung Quốc, Liên Xô và các nước khác hoặc di

dự Đại hội các Đảng anh em và các hội nghị quốc tế, góp phần mở rộng quan

hệ quốc tế của Lào Một năm sau ngày thành lập CHDCND Lào, năm 1976, đồng chí Cay Xon Phom Vi Hẳn đã tổng kết: "Do đường lối đối ngoại độc

Trang 35

lập, tự chủ của Đảng và Nhà nước Lào, quan hệ quôc tê của Đảng và Nhà nước được giữ gìn, củng cố và có sự phát triển, đóng góp xây dựng cho Lào

có lợi thế mới, lực lượng mới, tạo điều kiện thuận lợi cho Lào bảo vệ xây dựng đất nước" [94, tr.82]

Đối với một số nước ASEAN, do nhiều nguyên nhân nên còn chưa hiểu nhau, bởi vậy những năm 80, đồng chí Cay Xon Phom Vi Hẳn đã chỉ rõ cần tăng cường liên hệ, bàn bạc, tìm cách thức thật tốt cùng nhau xây dựng khu vực Đông Nam á có hoá bình, ổn định và họp tác Trong báo cáo tại Đại hội Đảng lần thứ ba của Đảng NDCM Lào, đồng chí Cay Xon Phom Vi Hẳn nói:

"Chính sách nhất quán của Lào đối với các nước ASEAN là cùng sống ổn định giữa hai khối nước Đông Dương và khối nước ASEAN, cùng sống ổn định, có quan hệ láng giềng tốt với nhau, có bàn bạc thương lượng với nhau" [94, tr.84].Trong tư duy đối ngoại, Đảng NDCM Lào đặc biệt coi trọng quan hệ với các nước láng giềng Đông Nam á Riêng với Vương quốc Thái Lan, nước láng giềng, mặc dù từ cuối những năm 70và 80, quan hệ giữa hai nước vẫn chưa ổn định, nhưng Đảng và Nhà nước Lào kiên trì quan điếm hoá bình, tránh khỏi bạo lực, tìm tòi biện pháp thương lượng chính trị để giải quyết các vấn đề trong quan hệ Đồng chí Cay Xon Phom Vi Hẳn đã cố gắng rất lớn vạch ra cơ sở mới củng cố quan hệ giữa hai nước, điều này được thể hiện trong tuyên bố chung giữa hai Thủ tướng năm 1979 và năm 1988 Những năm sau đó, Lào và Thái Lan đã ký Hiệp ước hữu nghị và họp tác giữa hai Chính phủ, thúc đẩy quan hệ Lào - Thái vi lợi ích của cả hai bên

Do chính sách và nguyên tắc phù họp về mặt ngoại giao, CHDCND Lào nâng cao được vi trí trên trường quốc tế trong đó đáng chú ý là vai trò của Lào ở Liên hiệp quốc và phong trào không liên kết

Tổng kết những bài học kinh nghiệm quý báu trong hoạt động đối ngoại

từ cả mặt tích cực và tiêu cực những năm 80 và so sánh với kinh nghiệm đổi

Trang 36

mới của nhiêu nước trên thê giới, đông chí Cay Xon Phom Vi Han nhân mạnh chủ trương phải hoạch định phương hướng mới trong quan hệ đối ngoại nhằm làm cho đất nước Lào vượt lên, cho nhân dân Lào ấm no hạnh phúc từng bước trong hoá bình, ổn định và an ninh Trong bài chỉ đạo mang tính chiến lược có tiêu đề: "Chuyển xuống nông thôn và rộng mở quan hệ với nước ngoài", năm

1989 đồng chí Cay Xon Phom Vi Hẳn đã đưa tư duy mới vận dụng vào công tác ngoại giao Người viết:

Trong tình hình mới, phương châm trong hoạt động ngoại giao của Lào

là lấy quan hệ mặt chính trị, công việc ngoại giao hoá nhập quan hệ kinh tế với nước ngoài, rà soát mới về mặt kinh tế - xã hội của nước Lào coi đó là nhân tố quan trọng nhất với sự phát triển kinh tế - xã hội của Lào, trở thành cơ

sở cho quan hệ hữu nghị vững bền và lâu dài giữa nước Lào với các nước có liên quan [94, tr.85]

Trên tinh thần đó, đồng chí Cay Xon Phom Vi Hẳn và Ban Chấp hành Trung ương có quyết tâm cao để đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, xây dựng, điều chỉnh hệ thống pháp luật chung kể cả phương hướng, nội dung của Hiến pháp, đáp ứng cho việc mở rộng họp tác và thu hút vốn đầu tư của nước ngoài

để chuyển kinh tế tự nhiên sang kinh tế sản xuất hàng hoá Đồng chí Cay Xon Phom Vi Hẳn di thăm CHXHCN Việt Nam, CHDCND Trung Hoa, CHDC Triều Tiên, Nhật Bản, Pháp, Vương quốc Thái Lan để quảng bá đường lối đổi mới và tìm cách thu hút đầu tư nước ngoài Ngoài ra, đồng chí Cay Xon Phom

Vi Hẳn còn đón tiếp các chuyên gia ngân hàng, tài chính, pháp luật của nước ngoài đến thăm Lào để trao đổi ý kiến, nhằm vận dụng kinh nghiệm của thế giới vào hoàn cảnh thực tiễn của Lào, làm cho sự nghiệp đổi mới ở Lào tiến hành tốt hơn, giữ vững ổn định chính trị và xã hội

Dưới sự lãnh đạo của đồng chí Cay Xon Phom Vi Hẳn, quan hệ quốc tế của CHDCND Lào từng bước được mở rộng, tăng cường Tình hình biên giới

Trang 37

với các nước láng giềng tốt lên, biên giới Lào - Việt Nam, biên giới Lào - Trung Quốc, về co bản ổn định, hữu nghị, việc cắm moc biên giới hoàn thành chính thức theo hiệp ước giữa hai bên Biên giới Lào - Campuchia cũng hoàn thành cắm mốc theo phạm vi hiệp ước hữu nghị và họp tác Đây được coi là hiệp ước lịch sử chưa từng có giữa hai nước Sự thắng lợi trong thực hiện nhiệm vụ ngoại giao nói trên là sự đóng góp rất to lớn đối với việc thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược của dân tộc Lào Đồng chí Cay Xon Phom Vi Hẳn là lãnh tụ có sáng tạo và tầm nhìn xa trông rộng trong các vấn đề quốc tế, tư tưởng của đồng chí soi đường cho sự nghiệp hoạt động đổi ngoại, đặt nền móng cho sự hình thành, hoàn thiện đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Lào.

Tư duy ngoại giao truyền thống của dân tộc Lào là một trong những cơ

sở lý luận quan trọng của nền ngoại giao Lào thời kỳ đổi mới

Do bối cảnh lịch sử và địa lý khá đặc biệt của dân tộc, tổ tiên Lào đã triển khai mối bang giao khá đặc biệt với các thực thể lân bang Nước Lào là một nước nhỏ lại nằm ở vi trí địa lý chính trị khá nhạy cảm, nên muốn non sông thanh bình, dân cư an lạc thì phải xử lý đúng đắn, phù họp quan hệ với lân bang Vi thế, trải mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước, các thế hệ người Lào đã gây dựng, hun đúc và truyền lại cho con cháu những di sản tinh thần quý báu mang đậm đà bản sắc dân tộc và bản lĩnh Lào, trong đó ngoại giao là một di sản có cội nguồn truyền thống lâu đời của cha ông Những tư tưởng quan trọng trong di sản đó được đường lối đối ngoại đổi mới của Đảng NDCM Lào đang kế thừa và phát triển

Một là, ngoại giao Lào từ ngàn xưa luôn giữ vững nguyên tắc độc lập tự

chủ và chủ quyền quốc gia Là đất nước nhỏ, nhưng suốt chiều dài lịch sử của mình, ông cha Lào luôn kiên cường và bản lĩnh chống lại mọi thế lực xâm lược hùng mạnh và bạo tàn để bảo vệ đất nước, giữ gìn giống nòi nước Lào

Trang 38

Sức mạnh của tinh thân đoàn ket, của trí tuệ và bản lĩnh Lào đã không chịu khuât phục trước bất cứ một thế lực nào có âm mun xâm lược và nô dịch đất nước mình Trên đường xây dựng Vương quốc, vua Pha Ngừm đã tăng cường mối quan hệ mật thiết sẵn có với vương quốc Campuchia, có quan hệ hoá hiếu với Xiêm và đặc biệt đã lập quan hệ thân hữu với Đại Việt Việc làm đúng đắn này

đã tạo thế đứng vững chắc cho Lan Xang, củng cố uy tín của vương quốc và xác dinh hướng phát triển tự chủ trên cơ sở lập quan hệ thân hữu chủ yếu với các quốc gia phía Đông và phía Nam, xu hướng liên kết phía Đông trở thành xu hướng lịch sử tất yếu để bảo vệ nền tự chủ và giữ gin bản sắc riêng của Lào

Hai là, truyền thống ngoại giao Lào là hoá bình, hoá hiếu, hữu nghị và

khoan dung Bản chất của ngoại giao Lào trong lịch sử là hoá bình, hữu nghị với các dân tộc, là tinh thần hoá hiếu, khoan dung, là sự ứng xử tinh tế trên nền tảng văn hiến Lào, là sự coi trọng đạo lý, là nguyên tắc linh hoạt mềm dẻo, cốt bảo vệ và thực hiện được lợi ích quốc gia dân tộc Đường lối hoá bình, chính nghĩa và khoan dung là vũ khí ngoại giao sắc bén mà ông cha Lào

đã sử dụng để tạo ra môi trường chung sống hoá bình với các nước, hoá giải thù hận "dập tắt muôn đời chiến tranh" với các nước lân bang Trong quan hệ đổi ngoại với các nước láng giềng, các vua nước Lào luôn thực hiện chính sách hoá hiếu, hữu nghị

Ba là, ngoại giao là truyền thống là một nền ngoại giao rộng mở, biết

tiếp thu thành tựu của văn minh nhân loại để phát triển đất nước

Nen văn hoá Lào là nền văn hoá mở để tiếp thu cái mới, không kỳ thị, bài ngoại, vi thế tôn giáo đạo phật của nền văn hoá, văn minh của thế giới sớm xâm nhập vào nước Lào và dễ dàng được tiếp thu, chấp nhận cả văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần ở nước Lào đều hiện hữu sự ảnh hưởng của nhiều nền văn minh trên thế giới Truyền thống ngoại giao rộng mở cửa của ông cha Lào vừa xuất phát, vừa là sự biểu hiện của nền tảng văn hoá đó

Trang 39

Như vậy, chính sách ngoại giao hoá bình, hữu nghị rộng mở là truyen thong xuyên suốt của dân tộc Lào trong lịch sử Chính sách đó được hun đúc

và trải nghiệm trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, nó được khẳng định là phù hợp với điều kiện địa lý, lịch sử, văn hoá dân tộc và là một trong những bi quyết dựng nước và giữ nước mà ông cha Lào đã để lại cho con cháu mai sau

1.2.5 Thành tựu đối ngoại giai đoạn 1986 - 2000 của CHDCND Lào và những đóng góp vào sự nghiệp bảo vệ và củng cố độc lập dân tộc của Lào

Trong giai đoạn 1986 - 2000, cùng với những chính sách phát triển đồng

bộ trên các lĩnh vực, Đảng và Nhà nước Lào đã đề ra đường lối, chủ trương, biện pháp đối ngoại vừa linh hoạt, mềm dẻo vừa kiên định nguyên tắc để loại trừ các nguy cơ de doa chủ quyền quốc gia dân tộc và xây dựng những định hướng cơ bản cho con đường phát triển đất nước Nhờ đó, công cuộc đấu tranh ngoại giao nhằm củng cố, bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc của Lào đã đạt được những thành tựu to lớn và quan trọng Có thể khái quát một số kết quả đạt được trong quá trình triển khai hoạt động đối ngoại vi mục tiêu độc lập dân tộc và phát triển đất nước thời gian qua của Lào

Thành tựu đối ngoại đổi mới của Lào được thê hiện rõ nét trong việc thúc đẩy quan hệ hợp tác với các nước lớn và các nước công nghiệp phát triển CHDCND Lào đã đưa quan hệ với các nước lớn vào khuôn khổ ngày

càng ổn định, chiều sâu, thực chất và hiệu quả hơn, đã duy trì được quan hệ cân bằng với các nước lớn, xử lý tốt mối quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh,

có những bước di chủ động nhằm tạo sự đan xen lợi ích giữa các nước lớn với mình, vừa thúc đẩy quan hệ, vừa giảm sức ép của các nước lớn trong những vấn đề liên quan đến độc lập, chủ quyền, an ninh, lợi ích quốc gia không để đất nước rơi vào thế đối đầu, bi cô lập hay lệ thuộc Sự tăng cường các mối quan hệ này không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với Lào trong phát triển kinh

Trang 40

tê - xã hội, củng cô môi trường hòa bình ôn định, mà còn tạo thêm thê mới cho đất nước trên trường quốc tế.

Quan hệ Lào - Hoa Kỳ chuyển biến tích cực cả về chính trị, kinh tế - thương mại, khoa học - công nghệ, giáo dục, nhân đạo Hai bên nhất trí đưa quan hệ đối tác xây dựng, hữu nghị, hợp tác nhiều mặt trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, cùng có lợi lên một bước mới trên nền tảng sâu rộng hơn,

on định hơn và hiệu quả hơn

Quan hệ Lào - Nhật Bản phát triển năng động, hai bên đã không ngừng

cố gắng phát triển mối quan hệ truyền thống tốt đẹp Nhật Bản là nước viện trợ ODA lớn nhất cho Lào trong một thời kỳ dài giúp Chính phủ Lào có những điều kiện quan trọng để tiến hành chuyển đổi nền kinh tế Hiện nay, Nhật Bản tiếp tục là đối tác kinh tế hàng đầu của Lào thông qua các dự án hợp tác đầu tu

Quan hệ của Lào - Liên bang Nga ngày càng được củng cố, thúc đẩy trên nhiều mặt theo hướng tăng cường tính hiệu quả thiết thực, trở thành đối tác chiến lược của nhau để tương xứng với mối quan hệ vốn có được hình thành trong lịch sử với Liên Xô trước đây

Quan hệ Lào - Ân Độ vốn giàu truyền thống hữu nghị lại được nâng lên tầm đối tác toàn diện

Quan hệ Lào - EU có nhiều khởi sắc, hai bên nhất trí đưa quan hệ đối tác lên bước mới với phương châm: họp tác toàn diện, lâu dài và tin cậy, vi hòa bình và phát triển

Thuc đẩy quan hệ hữu nghị hợp tác với các nước bạn bè truyền thống và nhiều nước khác ở khu vực Đông Âu và A - Phi - Mỹ Latinh, các nước đang phát triển, các nước trong Phong trào Không liên kết, các nước trong Cộng đồng Pháp ngữ Ket quả của hoạt động đổi ngoại với các nước này đã mở

rộng thêm vòng tay hữu nghị với bầu bạn quốc tế, góp phần tạo sự chuyến

... lĩnh vực đối ngoại CHDCND Lào vào công xây dựng bảo vệ đất nước

từ năm 1986 đến 2015

Hai là: Phân tích nhân tố tác động đến hoạt động đóng góp hoạt động vào nghiệp bảo vệ củng cố... với ngoại giao kháng chiến trường kỳ nhân dân tộc Lào; sách đối ngoại hoạt động đối ngoại CHDCND Lào sau thành lập nước, sách phản ánh theo giai đoạn cụ thể như: sách đối ngoại hoạt động đối ngoại. ..

Từ lý đây, em chọn đề tài " ;Hoạt động đối ngoại CHDCND Lào xây dựng bảo vệ đất nước thời kỳ đỗi từ 1986 đến nay< /b> làm luận văn thạc sĩ

2 Tình hinh nghiên cứu liên quan đến

Ngày đăng: 05/05/2017, 12:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1- Aphaphone Kormanisay (2014), “Quan hệ kinh tế Lào - ASEAN từ năm 1997 đến năm 2010”, Luận văn thạc sỹ Học viện ngoại giao Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ kinh tế Lào - ASEAN từ năm 1997 đến năm 2010
Tác giả: Aphaphone Kormanisay
Nhà XB: Học viện ngoại giao
Năm: 2014
2- Ban Tuyên giáo Trung uong (2007), Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam 1930 - 2007, Tư liệu Lào (2005), Lịch sử Đảng nhân dân cách mạng Lào (tóm lược), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam 1930 - 2007
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung uong
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2007
3- B Ộ Ngoại giao, Học viện quan hệ quốc tế (2009), Lịch sử ngoại giao Lào, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử ngoại giao Lào
Tác giả: B Ộ Ngoại giao, Học viện quan hệ quốc tế
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2009
4- Bộ Ngoại giao Việt Nam, Bác Hồ và hoạt động ngoại giao, một vài kỷ niệm về Bác, Nxb CTQG, H. 2008, tr. 15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bác Hồ và hoạt động ngoại giao, một vài kỷniệm về Bác
Nhà XB: Nxb CTQG
5- Đỗ Thanh Bình (2006): Lịch sử phong trào giải phóng dân tộc trong thế kỷ XX- Một cách tiếp cận, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử phong trào giải phóng dân tộc trong thếkỷ XX- Một cách tiếp cận
Tác giả: Đỗ Thanh Bình
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2006
7- Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), V ăn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2011
8- Đảng NDCM Lào, Nghị quyết Hội nghị TW 3 (Khoá VII), (Tài liệu dịch của Ban đối ngoại TW Đảng Cộng sản Việt Nam) Sách, tạp chí
Tiêu đề: quyết Hội nghị TW 3
9- Nguyễn Hào Hùng (2004), Chính sách đối ngoại của CHDCND Lào thời kỳ sau chiến tranh lạnh và tác động của nó đến quan hệ Việt - Lào trong những năm sắp tới, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách đối ngoại của CHDCND Lào thời kỳ sau chiến tranh lạnh và tác động của nó đến quan hệ Việt - Lào trong những năm sắp tới
Tác giả: Nguyễn Hào Hùng
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2004
10- Hoàng Thị Minh Hòa (2010), Nhật Bản với sự phát triển kinh tế- xã hội của Việt Nam, Lào và Cămpuchia, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhật Bản với sự phát triển kinh tế- xã hội của Việt Nam, Lào và Cămpuchia
Tác giả: Hoàng Thị Minh Hòa
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2010
11- Hoàng Thị Minh Hoá - Trịnh Văn Vinh(2009), “Quan hệ Nhật Bản - Lào Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ Nhật Bản - Lào
Tác giả: Hoàng Thị Minh Hoá, Trịnh Văn Vinh
Năm: 2009
12- Trương Duy Hoá (2006), “Một sô thành tựu cơ bản trong 30 năm xây dựng và phát triển kinh tế ở nuoc CHDCND Lào (1975 - 2005)”, Tạp chí Nghiên cửu Đông Nam Á Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một sô thành tựu cơ bản trong 30 năm xây dựng và phát triển kinh tế ở nuoc CHDCND Lào (1975 - 2005)
Tác giả: Trương Duy Hoá
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cửu Đông Nam Á
Năm: 2006
13- Truơng Duy Hoá (2010), “Một số vấn đề kinh tế nổi bật của Lào hiện nay”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề kinh tế nổi bật của Lào hiện nay
Tác giả: Truơng Duy Hoá
Năm: 2010
14- Nguyễn Đỗ Hoàng (1993), Bàn về diễn biến hoá bình, NXB Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về diễn biến hoá bình
Tác giả: Nguyễn Đỗ Hoàng
Nhà XB: NXB Công annhân dân
Năm: 1993
15-Nguyễn Huy Hoàng (2001), Toàn cầu hoá và phát triển kinh te ở các nước ASEAN, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn cầu hoá và phát triển kinh te ở cácnước ASEAN
Tác giả: Nguyễn Huy Hoàng
Năm: 2001
17- Vũ Duong Huân (2002), “35 năm quan hệ láng giêng Việt Nam - Campuchia”, Tạp chí Nghiên cứu quốc tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: 35 năm quan hệ láng giêng Việt Nam - Campuchia
Tác giả: Vũ Duong Huân
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu quốc tế
Năm: 2002
18- Khổng Doãn Họp (1985), De quốc Mỹ sau Việt Nam, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: De quốc Mỹ sau Việt Nam
Tác giả: Khổng Doãn Họp
Nhà XB: NXB Quân đội nhân dân
Năm: 1985
19- Đỗ Minh Hợp và Nguyễn Kim Lai (2005), Những vấn đề toàn cầu trong thời đại ngày nay, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề toàn cầu trong thời đại ngày nay
Tác giả: Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Kim Lai
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
20- Khamphan Congphachan (2012), Tư tưởng của Chủ tịch Cay Xon Phôm-vi- hản về xây dụng, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo trong hệ thong chính tri của nước Cộng hào dân chủ nhân dân Lào, Tạp chí Giáo dục lý luận, số 7+8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng của Chủ tịch Cay Xon Phôm-vi- hản về xây dụng, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo trong hệ thong chính tri của nước Cộng hào dân chủ nhân dân Lào
Tác giả: Khamphan Congphachan
Nhà XB: Tạp chí Giáo dục lý luận
Năm: 2012
21- Trần Khánh (2002), “Vị thể địa - chỉnh trị Đông Nam A thập niên đầu thế kỷ XXT\ Tạp chí Cộng sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Vị thể địa - chỉnh trị Đông Nam A thập niên đầu thếkỷ XXT\
Tác giả: Trần Khánh
Năm: 2002
22- Trần Khánh (2002), “ Tính mở trong hội nhập quốc tế của Đông Nam A”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính mở trong hội nhập quốc tế của Đông Nam A
Tác giả: Trần Khánh
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á
Năm: 2002

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w