Bài luận án chính trị ĐỘC QUYỀN gồm 106 trang, bản đẹp, dễ dàng chỉnh sửa và tách trang làm tài liệu tham khảo bằng phần mềm Adobe Pro DC.MỤC LỤC MỞ ĐÂU ..................................................................................................... .. 1 Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG THỨC HOẠT ĐỘNG CỦA HĐND CẤP XĂ ......................... .. 8 1.1. Cấp Xã, chức nâng cấp Xã ...................................................................... ..8 1.2. Chính quyền Cấp Xã và đặc điểm HĐND Cấp Xã .................................. .. 10 1.3. Nội dung đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của HĐND Cấp Xã..... 27 1.4. Tầm quan trọng của đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của HĐND cấp Xã ............................................................................................. ..31 Chương 2. THỰC TRẠNG ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG THỨC HOẠT ĐỘNG CỦA HĐND CẤP XĂ Ở HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI ........................................................................................... .. 36 2.1. Khái quát về HĐND cấp xã 6 huyện Thanh Trì. .................................. .. 36 2.2. Thực trạng đổi mới tổ chức của HĐND cấp Xã ở huyện Thanh Trì. .......... .. 41 2.3. Thực trạng đổi mới phương thức hoạt động của HĐND Cấp Xã ở huyện Thanh Trì. .................................................................................................. ..48 Chương 3. QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG THỨC HOẠT ĐỘNG CỦA HĐND CẤP XĂ Ở HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY ................................ ..68 3.1. Quan điểm đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của HĐND Cấp Xã trong bộ máy nhà nước ............................................................................... .. 68 3.2. Một số giải pháp nhằm đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của HĐND cấp Xã ở huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội hiện nay ................... .. 73 KẾT LUẬN ................................................ .. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,, .. 99 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đê tài Trong bộ máy Nhà nước ta, Hội đồng nhân dân (HĐND) là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên. HĐND cấp xã là cơ quan quyền lực nhà nước ở cấp xã. Với tính chất đó, HĐND cấp xã nước ta có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo quyền lực nhân dân, phát huy dân chủ, đảm bảo hiệu lực và hiệu quả hoạt động của bộ máy Nhà nước. Vi vậy, nâng cao năng lực hoạt động của HĐND các cấp trong đó có HĐND cấp xã là một trong nhung nhiệm vụ rất cơ bản của quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay. Chính quyền cấp xã là nơi gần dân nhất, trực tiep giải quyết các công việc cụ thể của dân, là nơi gắn bó giữa chính quyền với người dân. Thực tiễn cho thấy ở đâu chính quyền xã mạnh thì ở đó mọi chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước được chấp hành nghiêm chỉnh, ở đâu chính quyền xã kém thì ở đó đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá của nhân dân gặp nhiều khó khăn, trật tự an ninh không được đảm bảo, quyền làm chủ của nhân dân không được phát huy. HĐND cấp xã là cơ quan quyền lực nhả nước ở cơ sở, trong suốt quá trình hoạt động HĐND cấp xã luôn luôn được xây dựng, đổi mới và đã từng bước trưởng thành, hoàn thiện đóng góp một vai trò hết sức quan trọng trong to chức bộ máy nhà nước, góp phần đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân. Tuy nhiên trong thực tiễn tổ chức và hoạt động của HĐND cấp xã hiện nay do nhiều nguyên nhân vẫn còn những tồn tại nhất định, thực chất chưa tương xứng với vi trí, vai trò của nó trong hệ thống quyền lực nhà nước cũng như 2 với nhiệm vụ mà nhân dân giao phó. Nhiều nơi hoạt động của HĐND chỉ mang tính hình thức, tính đại diện, cầm chừng, thiếu hiệu lực, hiệu quả và khả năng thay mặt nhân dân quyết định các vấn đề quan trọng ở địa phương thấp, dần đến việc vi phạm quyền làm chủ của nhân dân. Vi vậy việc đổi mới tổ chức và hoạt động của HĐND hiện nay đang được đặt ra hết sức gay gắt. Hội nghị Trung ương 5 khoá IX, Đảng ta đã ra nghi quyết về “Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn”, Nghị quyết khẳng định vai trò quan trọng của hệ thống chính trị ở cơ sở trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, huy động mọi khả năng phát triển kinh tế xã hội, phát huy quyền làm chủ của nhân dân... Nghị quyết cũng xác định những điểm căn bản, cần thiết nhất về quan điểm, phương hướng và giải pháp để đổi mới nâng cao chất lượng hệ thống chính tri ở cơ sở nói chung và HĐND xã nói riêng. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đề ra “tiếp tục đổi mới tổ chức, hoạt động của chính quyền địa phương. Nâng cao chất lượng hoạt động của HĐND và UBND các cấp, bảo đảm quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong việc quyết định và tổ chức thực hiện những chính sách trong phạm vi được phân cấp. Nghiên cứu tổ chức, thẩm quyền của chính quyền ở nông thôn, đô thị, hải đảo. 21, tr.251. Từ những lý do trên tôi quyết định lựa chọn đề tài “Đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của HĐND cấp xã ở huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội hiện nay” làm luận văn tốt nghiệp Cao học chuyên ngành Chính tri học. 2. Tinh hình nghiên cứu đề tài: 2.1. Các công trình nghiên cún Uen quan đến cấp xã và HĐND cấp xã Vấn đề tổ chức và hoạt động của HĐND nói chung và HĐND xã nói riêng là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội như: Luật 3 học, Lý luận lịch sử nhà nước và pháp luật, Hành chính học, Chính trị học... cho nên có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề này đã được công bố như: Hoàng Chí Bảo (Chủ biên), Hệ thống chính tri ở cơ sở nông thôn nước ta hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004. Ở đây các tác giả đã đề cập đến việc thay đổi cơ cấu HĐND xã, tăng cường số lượng đại biểu là dân, là quần chúng ngoài Đảng, áp dụng những biện pháp tăng thẩm quyền, quyền hạn của HĐND trong việc kiểm tra, giám sát UBND... Chu Văn Thành (chủ biên), Hệ thống chính tri cơ sở: thực trạng và một sổ giải phap đôi mới, Nxb Chính tri quốc gia Hà Nội, 2004. Các tác giả đã nghiên cứu, khảo sát có hệ thống về thực trạng tổ chức hoạt động của Hệ thống chính trị địa phương trên phạm vi cả nước và di tới nhận định rằng HĐND, UBND cấp xã luôn giữ vi trí vai trò trọng tâm trong nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đổi mới. Từ đó các tác giả đã đề ra phương hướng và một số giải pháp thiết thực để củng cố về tổ chức, hoạt động của HĐND, UBND, góp phần đổi mới, nâng cao chất lượng của hệ thống chính trị cơ sở. Đào Trí Úc (chủ biên), Mô hình to chức và hoạt động của Nhá nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Tư pháp Hà Nội, 2004. Trong tác phẩm này tác giả tập trung phân tích và kiến nghị về mô hình tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong đó đặc biệt chú ý đến mô hình của HĐND cấp xã. Vũ Hoàng Công, Hệ thống chính tri cơ sở Đặc điểm, xu hướng và giải pháp, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002. Trong cuốn sách tác giả bàn về hệ thống chính trị ở co sở, trong đó có đặt ra yêu cầu phải hoàn thiện HĐND xã cho phù hợp với quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền và việc thi hành quyền làm chủ của nhân dân. 4 Chu Văn Thành, “Hệ thống chính trị CO sở. Thực trạng và một số giải pháp đổi mới”, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, 2004. Các tác giả đã nghiên cứu, khảo sát có hệ thống về thực trạng tổ chức hoạt động của Hệ thống chính trị địa phuong trên phạm vi cả nước và đi tới nhận định rằng HĐND, UBND cấp xã luôn giữ vi trí vai trò trọng tâm trong nâng cao chất lượng hệ thống chính tri co sở, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đổi mới. Từ đó các tác giả đã đề ra phương hướng và một số giải pháp thiết thực để củng cố về tổ chức, hoạt động của HĐND, UBND, góp phần đổi mới, nâng cao chất lượng của hệ thống chính trị cơ sở. Nguyễn Hoàng Anh, “Tổ chức và hoạt động của HĐND cấp xã trong giai đoạn hiện nay”, Dân chủ và Pháp luật, số 52003. Tác giả đã khái quát thực trạng hoạt động của HĐND cấp xã thời gian qua, nguyên nhân và đưa ra một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của HĐND cấp xã. Bùi Xuân Đức, “Bàn về tổ chức của HĐND trong điều kiện cải cách bộ máy nhà nước hiện nay”, Nhà nước và Pháp luật, số 122003. Đinh Ngọc Giang, “Ve đổi mới tổ chức và hoạt động của HĐND các cấp nhiệm ki 2004 2009”, Quản ly nhà nước, 22005. Nguyễn Thị Hồi, “HĐND và UBND ở nước ta hiện nay”, Tạp chỉ Luật học, số 12004. Trương C4Tổ chức và hoạt động của các ban của HĐND”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 22003. Nguyễn Quốc Tuấn, “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của HĐND và UBND các cấp”, Tổ chức nhà nước, số 42004... Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc khóa VIXI 2.1. Các tài liệu nghiên cứu liên quan đến HĐND và đổi mới tố chức, phương thức hoạt động của HĐND cap xã ở huyện Thanh Trì Thảnh ủy Hà Nội, De án 04ĐATU ngày 19102012 của Ban Thường vụ Thành ủy về “Nâng cao nang lực, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của HĐND các cấp thành phổ Hà Nội giai đoạn 20112016”. Thường trực HĐND thành phố Hà Nội, De án ve “Đổi mới công tác tiếp công dân của đại biểu HĐND thành phố Hà Nội khóa XIV, nhiệm kỳ 20112016 Vấn đề về tổ chức bộ máy nhà nước nói chung và vấn đề đổi mới to chức hoạt động của HĐND cấp xã nói riêng được rất nhiều nhà khoa học cứu cận HĐND từ góc độ Nhà nước và Pháp luật một cách khái quát, còn ở góc độ Chính trị học, khi đặt vấn đề tổ chức và hoạt động của HĐND cấp xã trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa chưa có một tác giả nào nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện. Vi vậy vấn đề đổi mới tổ chức và hoạt động của HĐND cấp xã là vấn đề quan trọng, cần thiết trong quá trình đổi mới hệ thống chính tri ở nước ta hiện nay. 3. Mục đích và nhiệm vu của luận văn • • • • 3.1. Mục đích: Trên co sở làm rõ những vấn đề lý luận và đánh giá đúng thực trạng việc đổi mới tổ chức và phuong thức hoạt động của HĐND cấp xã ở huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội, từ đó đề xuất những quan điểm, giải pháp tiếp tục đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của HĐND cấp xã đáp ứng yêu cầu thời kỳ phát triển mới của đất nước. 3.2. Nhiêm vu: • • Làm rõ cơ sở lý luận vi trí, vai trò của HĐND cấp xã trong tổ chức bộ máy nhà nước và trong hệ thống chính quyền cơ sở, khẳng định vai trò của HĐND cấp xã trong hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay. Đánh giá đúng thực trạng tổ chức và hoạt động của HĐND cấp xã hiện nay ở huyện Thanh Trì trong giai đoạn từ 2004 đến nay. De xuất quan điểm và những giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động của HĐND cấp xã đáp ứng với yêu cầu đổi mới ở huyện Thanh Trì và ở nước ta hiện nay. 6 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng: De tài nghiên cứu về đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của HĐND cấp xã huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội 4.2. Phạm vi nghiên cứu: trung phương thức hoạt động của HĐND ở 16 xã, thi trấn của huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội thông qua việc thu thập các báo cáo hoạt động và quy chế hoạt động của HĐND; báo cáo tổng hợp tiếp xúc cử tri, các nghị quyết đã được HĐND huyện và HĐND các xã, thị trấn ở huyện Thanh Trì thông qua. về phạm vi thời gian: Luận văn nghiên cứu đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của HĐND cấp xã ở huyện Thanh Trì từ 2004 đến nay. 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Luận văn được thực hiện trên co sở lý luận của chủ nghĩa Mác Lenin và tu tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; các học thuyết chính trị về nhà nước và pháp luật trên thế giới; các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về đổi mới bộ máy nhà nước nói chung và HĐND nói riêng; về vai trò, chức năng, nhiệm vụ của HĐND trong bộ máy nhà nước Luận văn còn được nghiên cứu trên co sở các số liệu được điều tra, khảo sát về tổ chức và hoạt động của HĐND cấp xã huyện Thanh Trì. Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích tài liệu; phương pháp thống ke, phương pháp phân tích, tổng họp, phương pháp so sánh... 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn. về mặt lý luận: Thông qua việc phân tích đánh giá thực trạng tổ chức và phương thức hoạt động của HĐND cấp xã ở huyện Thanh Trì, từ đó tác giả đưa ra được những giải pháp nhằm đổi mới HĐND cấp xã trong giai đoạn hiện nay. Neu đạt được yêu cầu trên, tác giả hy vọng luận văn sẽ góp phần 7 nhận thức sâu hơn về HĐND cấp xã, đặc biệt là vai trò của nó trong bộ máy nhà nước. về mặt thực tiễn: Ket quả luận văn có thể áp dụng thực tiễn đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của HĐND cấp xã ở huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội hiện nay, cũng như làm tài liệu tham khảo việc nghiên cứu, giảng dạy về nhà nước, pháp luật, về quyền lực nhà nước và các co quan quyền lực nhà nước, về hệ thống chính trị co sở... ở các trường đào tạo cán bộ của Đảng và Nhà nước cấp huyện. 7. Ket cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục luận văn được kết cấu thành 3 chương, 9 tiết.
Trang 12(92Q A7QQQ
+1)#B 0B 'B.B #B 2B #B +B 7B $B/8?#B #B.-B.#B+(BB#B<?#B#8BBQ
.B /A#BBQ
#B"6B.B <?/B."B Q
Trang 2ủ y ban nhân dân
Xã hội chủ nghĩa
Trang 3Bảng 2.1: Cơ câu, sô lượng đại biêu HĐND cap xã ở huyện Thanh Trì
nhiệm kỳ 2004 - 2011 và nhiệm kỳ 2011 - 2016 43Bảng 2.2: Đội tuổi đại biểu HĐND cấp xã ở huyện Thanh Trì nhiệm kỳ
2004 - 2011 và nhiệm kỳ 2011 -2 0 1 6 43
Bang 2.3: Trình độ văn hóa, chuyên môn của đại biêu HĐND cap xã ở
huyện Thanh Trì nhiệm kỳ 2004 2011 và nhiệm kỳ 2011 2016 45
Bang 2.4: Trình độ chính trị, quản lý nhà nước của đại biêu HĐND cap
xã ở huyện Thanh Trì nhiệm kỳ 2004 - 2011 và nhiệm kỳ 2011-2016 45Bảng 2.5: số liệu cơ cấu, tổ chức Thường trực HĐND cấp xã ở huyện
Thanh Trì nhiệm kỳ 2004 - 2011 và nhiệm kỳ 2011 - 2016 46Bảng 2.6: v ề chuyên môn của Thường trực HĐND cấp xã ở huyện
Thanh Trì nhiệm kỳ 2004 - 2011 và nhiệm kỳ 2011 - 2016 47
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đê tài
Trong bộ máy Nhà nước ta, Hội đồng nhân dân (HĐND) là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên HĐND cấp xã là cơ quan quyền lực nhà nước ở cấp xã Với tính chất đó, HĐND cấp xã nước ta có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo quyền lực nhân dân, phát huy dân chủ, đảm bảo hiệu lực và hiệu quả hoạt động của bộ máy Nhà nước Vi vậy, nâng cao năng lực hoạt động của HĐND các cấp trong đó có HĐND cấp xã là một trong nhung nhiệm vụ rất cơ bản của quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay
Chính quyền cấp xã là nơi gần dân nhất, trực tiep giải quyết các công việc cụ thể của dân, là nơi gắn bó giữa chính quyền với người dân Thực tiễn cho thấy ở đâu chính quyền xã mạnh thì ở đó mọi chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước được chấp hành nghiêm chỉnh, ở đâu chính quyền xã kém thì ở đó đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá của nhân dân gặp nhiều khó khăn, trật tự an ninh không được đảm bảo, quyền làm chủ của nhân dân không được phát huy
HĐND cấp xã là cơ quan quyền lực nhả nước ở cơ sở, trong suốt quá trình hoạt động HĐND cấp xã luôn luôn được xây dựng, đổi mới và đã từng bước trưởng thành, hoàn thiện đóng góp một vai trò hết sức quan trọng trong
to chức bộ máy nhà nước, góp phần đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân Tuy nhiên trong thực tiễn tổ chức và hoạt động của HĐND cấp xã hiện nay do nhiều nguyên nhân vẫn còn những tồn tại nhất định, thực chất chưa tương xứng với vi trí, vai trò của nó trong hệ thống quyền lực nhà nước cũng như
Trang 5với nhiệm vụ mà nhân dân giao phó Nhiều nơi hoạt động của HĐND chỉ mang tính hình thức, tính đại diện, cầm chừng, thiếu hiệu lực, hiệu quả và khả năng thay mặt nhân dân quyết định các vấn đề quan trọng ở địa phương thấp, dần đến việc vi phạm quyền làm chủ của nhân dân Vi vậy việc đổi mới tổ chức và hoạt động của HĐND hiện nay đang được đặt ra hết sức gay gắt.
Hội nghị Trung ương 5 khoá IX, Đảng ta đã ra nghi quyết về “Đổi mới
và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn”, Nghị quyết khẳng định vai trò quan trọng của hệ thống chính trị ở cơ sở trong việc
tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, huy động mọi khả năng phát triển kinh tế - xã hội, phát huy quyền làm chủ của nhân dân Nghị quyết cũng xác định những điểm căn bản, cần thiết nhất về quan điểm, phương hướng và giải pháp để đổi mới nâng cao chất lượng hệ thống chính tri ở cơ sở nói chung và HĐND xã nói riêng.Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đề ra “tiếp tục đổi mới
tổ chức, hoạt động của chính quyền địa phương Nâng cao chất lượng hoạt động của HĐND và UBND các cấp, bảo đảm quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong việc quyết định và tổ chức thực hiện những chính sách trong phạm vi được phân cấp Nghiên cứu tổ chức, thẩm quyền của chính quyền ở nông thôn, đô thị, hải đảo [21, tr.251]
Từ những lý do trên tôi quyết định lựa chọn đề tài “Đổi mới tổ chức
và phương thức hoạt động của HĐND cấp xã ở huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội hiện nay” làm luận văn tốt nghiệp Cao học chuyên ngành
Chính tri học
2 Tinh hình nghiên cứu đề tài:
2.1 Các công trình nghiên cún Uen quan đến cấp xã và HĐND cấp xã
Vấn đề tổ chức và hoạt động của HĐND nói chung và HĐND xã nói riêng là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội như: Luật
Trang 6học, Lý luận lịch sử nhà nước và pháp luật, Hành chính học, Chính trị học cho nên có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề này đã được công bố như:
Hoàng Chí Bảo (Chủ biên), Hệ thống chính tri ở cơ sở nông thôn nước
ta hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004 Ở đây các tác giả đã đề
cập đến việc thay đổi cơ cấu HĐND xã, tăng cường số lượng đại biểu là dân,
là quần chúng ngoài Đảng, áp dụng những biện pháp tăng thẩm quyền, quyền hạn của HĐND trong việc kiểm tra, giám sát UBND
Chu Văn Thành (chủ biên), Hệ thống chính tri cơ sở: thực trạng và một
sổ giải phap đôi mới, Nxb Chính tri quốc gia Hà Nội, 2004 Các tác giả đã
nghiên cứu, khảo sát có hệ thống về thực trạng tổ chức hoạt động của Hệ thống chính trị địa phương trên phạm vi cả nước và di tới nhận định rằng HĐND, UBND cấp xã luôn giữ vi trí vai trò trọng tâm trong nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đổi mới Từ đó các tác giả đã đề ra phương hướng và một số giải pháp thiết thực để củng cố về
tổ chức, hoạt động của HĐND, UBND, góp phần đổi mới, nâng cao chất lượng của hệ thống chính trị cơ sở
Đào Trí Úc (chủ biên), Mô hình to chức và hoạt động của Nhá nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Tư pháp Hà Nội, 2004 Trong
tác phẩm này tác giả tập trung phân tích và kiến nghị về mô hình tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong đó đặc biệt chú ý đến mô hình của HĐND cấp xã
Vũ Hoàng Công, Hệ thống chính tri cơ sở - Đặc điểm, xu hướng và giải
pháp, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002 Trong cuốn sách tác giả bàn về
hệ thống chính trị ở co sở, trong đó có đặt ra yêu cầu phải hoàn thiện HĐND
xã cho phù hợp với quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền và việc thi hành quyền làm chủ của nhân dân
Trang 7Chu Văn Thành, “Hệ thống chính trị CO' sở Thực trạng và một số giải pháp đổi mới”, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, 2004 Các tác giả đã nghiên
cứu, khảo sát có hệ thống về thực trạng tổ chức hoạt động của Hệ thống chính trị địa phuong trên phạm vi cả nước và đi tới nhận định rằng HĐND, UBND cấp xã luôn giữ vi trí vai trò trọng tâm trong nâng cao chất lượng hệ thống chính tri co sở, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đổi mới Từ đó các tác giả đã đề
ra phương hướng và một số giải pháp thiết thực để củng cố về tổ chức, hoạt động của HĐND, UBND, góp phần đổi mới, nâng cao chất lượng của hệ thống chính trị cơ sở
Nguyễn Hoàng Anh, “Tổ chức và hoạt động của HĐND cấp xã trong
giai đoạn hiện nay”, Dân chủ và Pháp luật, số 5/2003 Tác giả đã khái quát
thực trạng hoạt động của HĐND cấp xã thời gian qua, nguyên nhân và đưa ra một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của HĐND cấp xã
Bùi Xuân Đức, “Bàn về tổ chức của HĐND trong điều kiện cải cách bộ
máy nhà nước hiện nay”, Nhà nước và Pháp luật, số 12/2003.
Đinh Ngọc Giang, “Ve đổi mới tổ chức và hoạt động của HĐND các
cấp nhiệm ki 2004 - 2009”, Quản ly nhà nước, 2/2005.
Nguyễn Thị Hồi, “HĐND và UBND ở nước ta hiện nay”, Tạp chỉ Luật
học, số 1/2004.
Trương ] C4Tổ chức và hoạt động của các ban của HĐND”,
Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 2/2003.
Nguyễn Quốc Tuấn, “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động
của HĐND và UBND các cấp”, Tổ chức nhà nước, số 4/2004
Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc khóa VI-XI
2.1 Các tài liệu nghiên cứu liên quan đến HĐND và đổi mới tố chức, phương thức hoạt động của HĐND cap xã ở huyện Thanh Trì
Thảnh ủy Hà Nội, De án 04-ĐA/TU ngày 19/10/2012 của Ban Thường
vụ Thành ủy về “Nâng cao nang lực, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của
HĐND các cấp thành phổ Hà Nội giai đoạn 2011-2016”.
Trang 8Thường trực HĐND thành phố Hà Nội, De án ve “Đổi mới công tác
tiếp công dân của đại biểu HĐND thành phố Hà Nội khóa XIV, nhiệm kỳ 2011-2016
Vấn đề về tổ chức bộ máy nhà nước nói chung và vấn đề đổi mới to chức hoạt động của HĐND cấp xã nói riêng được rất nhiều nhà khoa học
HĐND từ góc độ Nhà nước và Pháp luật một cách khái quát, còn ở góc độ Chính trị học, khi đặt vấn đề tổ chức và hoạt động của HĐND cấp xã trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa chưa có một tác giả nào nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện Vi vậy vấn đề đổi mới tổ chức và hoạt động của HĐND cấp xã là vấn đề quan trọng, cần thiết trong quá trình đổi mới hệ thống chính tri ở nước ta hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vu của luận văn• • • •
3.1 Mục đích: Trên co sở làm rõ những vấn đề lý luận và đánh giá
đúng thực trạng việc đổi mới tổ chức và phuong thức hoạt động của HĐND cấp xã ở huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội, từ đó đề xuất những quan điểm, giải pháp tiếp tục đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của HĐND cấp
xã đáp ứng yêu cầu thời kỳ phát triển mới của đất nước
3.2 Nhiêm vu:• •
- Làm rõ cơ sở lý luận vi trí, vai trò của HĐND cấp xã trong tổ chức bộ máy nhà nước và trong hệ thống chính quyền cơ sở, khẳng định vai trò của HĐND cấp xã trong hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay
- Đánh giá đúng thực trạng tổ chức và hoạt động của HĐND cấp xã hiện nay ở huyện Thanh Trì trong giai đoạn từ 2004 đến nay
- De xuất quan điểm và những giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động của HĐND cấp xã đáp ứng với yêu cầu đổi mới ở huyện Thanh Trì và ở nước
ta hiện nay
Trang 94 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng: De tài nghiên cứu về đổi mới tổ chức và phương thức
hoạt động của HĐND cấp xã huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
trungphương thức hoạt động của HĐND ở 16 xã, thi trấn của huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội thông qua việc thu thập các báo cáo hoạt động và quy chế
hoạt động của HĐND; báo cáo tổng hợp tiếp xúc cử tri, các nghị quyết đã được HĐND huyện và HĐND các xã, thị trấn ở huyện Thanh Trì thông qua
về phạm vi thời gian: Luận văn nghiên cứu đổi mới tổ chức và phương
thức hoạt động của HĐND cấp xã ở huyện Thanh Trì từ 2004 đến nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên co sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lenin và
tu tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; các học thuyết chính trị về nhà nước và pháp luật trên thế giới; các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng
và Nhà nước Việt Nam về đổi mới bộ máy nhà nước nói chung và HĐND nói riêng; về vai trò, chức năng, nhiệm vụ của HĐND trong bộ máy nhà nước
Luận văn còn được nghiên cứu trên co sở các số liệu được điều tra, khảo sát về tổ chức và hoạt động của HĐND cấp xã huyện Thanh Trì
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên
cứu cụ thể như: Phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích tài liệu; phương
pháp thống ke, phương pháp phân tích, tổng họp, phương pháp so sánh
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn.
về mặt lý luận: Thông qua việc phân tích đánh giá thực trạng tổ chức
và phương thức hoạt động của HĐND cấp xã ở huyện Thanh Trì, từ đó tác giả đưa ra được những giải pháp nhằm đổi mới HĐND cấp xã trong giai đoạn hiện nay Neu đạt được yêu cầu trên, tác giả hy vọng luận văn sẽ góp phần
Trang 10nhận thức sâu hơn về HĐND cấp xã, đặc biệt là vai trò của nó trong bộ máy nhà nước.
về mặt thực tiễn: Ket quả luận văn có thể áp dụng thực tiễn đổi mới tổ
chức và phương thức hoạt động của HĐND cấp xã ở huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội hiện nay, cũng như làm tài liệu tham khảo việc nghiên cứu, giảng dạy về nhà nước, pháp luật, về quyền lực nhà nước và các co quan quyền lực nhà nước, về hệ thống chính trị co sở ở các trường đào tạo cán bộ của Đảng
và Nhà nước cấp huyện
7 Ket cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục luận văn được kết cấu thành 3 chương, 9 tiết
Trang 11Chương 1
C ơ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC ĐỒI MỚI TO CHỨC
VÀ PHƯƠNG THỨC HOẠT ĐỘNG CỦA HĐND CẤP XÃ
1.1 Cấp xã, chức năng cấp xã
1.1.1 Khái niệm cấp xã
chínhđịnh là đơn vi hành chính cấp cơ sở, là cấp thấp nhất, sát với dân cư Tuy nhiên, quy mô xã, cách thức tổ chức chính quyền cấp xã thì khác nhau theo từng giai đoạn lịch sử Hiện tại, quy mô xã về cơ bản được xác định theo những quy định ban hành từ sau cách mạng tháng Tám: xã có một diện tích nhất định, dưới xã là các làng, thon
Trong hệ thống hành chính nước ta xã, phường, thị trấn (gọi chung là
cấp xã) là cấp thấp nhất trong hệ thống chính quyền 4 cấp hoàn chỉnh: Trung
ương, tỉnh, huyện, xã, là đơn vi hành chính co sở, là cấp gần dân nhất và là nơi diễn ra mọi hoạt động chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của các tầng lóp nhân dân
Cấp xã là nơi trực tiếp thực hiện nhiệm vụ cụ thể quản lý hành chính nhả nước trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội và an ninh, quốc phòng ở co sở, đảm bảo các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước di vào cuộc sống, nâng cao mọi mặt đời sống của nhân dân Sự trong sạch vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả của chính quyền cấp
xã đóng vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động quản lý nhà nước và cung cấp dịch vụ công phục vụ nhân dân
Cấp xã là cấp gần dân nhất, là cầu nối trực tiếp giữa hệ thống chính quyền cấp trên với nhân dân, hàng ngày tiếp xúc, nắm bắt và phản ánh tâm tu nguyện vọng của nhân dân cấp xã có vai trò rất quan trọng trong việc tổ
Trang 12chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tăng cường đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, huy động mọi khả năng phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cu.
Cấp xã là đơn vi cấp thấp nhất, vi thế Chính quyền cấp xã chỉ bao gồm HĐND và UBND Qua đó có thể hiểu, cấp xã là một cấp cuối cùng trong hệ thống chính quyền 4 cấp của Việt Nam, là nơi trực tiếp thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, các mục tiêu kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng ở cơ sở, thực hiện việc quản lý hành chính nhà nước trên địa bàn
Từ những phân tích trên đây, có thể nêu khái quát khái niệm cấp xã như sau: Cấp xã là cấp thấp nhất trong hệ thống chính quyền 4 cấp ở Việt Nam, thực hiện quyền lực nhà nước ở cơ sở, có chức năng thay mặt nhân dân địa phương, căn cứ vào nguyện vọng của nhân dân địa phương, quyết định và tổ chức thực hiện những vấn đề có liên quan đến phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng và đời sống của nhân dân địa phương, theo Hiến pháp, pháp luật và các mệnh lệnh, quyết định của cấp trên
1.1.2 Chức năng của cấp xã:
- Tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật tại địa phương; quyết định các vấn đề của của địa phương do luật định; chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước cấp trên
- Quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng để phát huy tiềm năng của địa phương, xây dựng và phát triển địa phương về kinh tế - xã hội, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân địa phương, làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối với cả nước
- Chịu trách nhiệm chấp hành Hiển pháp, luật, các văn bản của cơ quannhà nước cấp trên nhằm bảo đảm thực hiện chủ trương, biện pháp phát triểnkinh tế - xã hội và thực hiện các chính sách khác trên địa bàn
Trang 13- Quản lý nhà nước ở địa phương, góp phần bảo đảm sự chỉ đạo, quản
lý thống nhất trong bộ máy hành chính nhà nước từ Trung ương tới co sở
1.2 Chính quyền cấp xã và đặc điểm HĐND cấp xã
1.2.1 Chỉnh quyền cấp xã
1.2.1.1 Đặc điểm của chính quyền cap xã nước ta hiện nav
Chính quyền cấp xã là một cấp trong hệ thống hành chính bốn cấp của nước ta, là nền tảng của hệ thống chính trị, là co sở thực tiễn hình thành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, cấp xã là cấp cuối cùng, gần dân nhất, sát dân nhất nên được gọi là cấp co sở
Cấu trúc hành chính của làng xã Việt Nam được hình thành từ rất xa xưa và vẫn tồn tại đến ngày nay không mấy thay đổi, kể cả ngày nay khi nền kinh tế thị trường phát triển, các co sở hạ tầng nông thôn như: điện, đường,
9
trường, trạm được xây dựng, phát triên, các phương
trưngtượng
phong tục tập quán đến hương ước lệ làng vẫn được bảo tồn và trở thành nét văn hoá đặc trưng của làng xã Việt Nam
Ngay sau khi cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hoá ra đời, chính quyền cấp xã cũng được thành lập theo đơn vi thôn, làng Hiến pháp năm 1946 ghi rõ chức năng nhiệm vụ và tổ chức
bộ máy chính quyền cấp xã gồm HĐND và Uỷ ban hành chính Từ đó cho đến nay, chính quyền xã dù có thay đổi it nhiều nhưng vẫn giữ được những đặc điểm và vi trí của nó trong bộ máy chính quyền nhà nước
Hiện nay cách tổ chức hành chính, lành thổ nhà nước, làng xã ở nước ta
có những đặc điểm sau:
- về co cấu hành chính lãnh thổ và dân cư các làng xã ở nước ta hiện nay chiếm khoảng 80% dân số với khoảng 80% diện tích của cả nước Được
Trang 14phan bô rộng khap từ Bac vào Nam, từ miên xuôi lên miên núi, đên các hải
hơnvới các thành phố, thị xã trong các thôn, làng thường có quan hệ họ hàng, dòng tộc, có nhiều làng chỉ có một dòng tộc, mặt khác với địa hình kéo dài núi non, sông ngòi phức tạp đã chia lãnh thổ Việt Nam thành những vùng đất nhỏ hẹp khác nhau, vi vậy mật độ dân cu của các làng xã cũng khác nhau Xã đông dân cu chủ yếu tập trung ở các vùng đồng bằng, xã có dân cu it nhung lại sống trên một diện tích đất đai rộng lớn chủ yếu là các xã miền núi, vùng sâu, vùng xa
Với một tỷ lệ dân số đông đuợc phân bố rộng khắp trên phạm vi cả nước là một lợi thế để huy động nhân lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, phát triển nông nghiệp, nông thôn, bảo vệ và giữ vững an ninh quốc phòng của đất nước Nhưng nó cũng gây nhiều khó khăn cho việc quản lý dân cư, giải quyết công ăn việc làm, đảm bảo an ninh trật tự an toàn xã hội
- v ề phát triển kinh tế xã hội, nếu như ở các thành phố, nhất là các thành phố lớn, việc phát triển kinh tế chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ, thương mại Còn ở nông thôn kinh tế chủ đạo vẫn là sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi, trồng trọt, tiểu thủ công nghiệp
- v ề văn hoá, xuất phát từ đặc điểm của dân tộc Việt Nam, trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam vẫn phải đấu tranh chống lại thiên tai, địch hoa vừa xây dựng đất nước Do đó tạo cho dân tộc Việt Nam một nền văn hoá da dạng, phong phú, giàu bản sắc, một trong những nét đặc trưng của văn hoá làng xã Việt Nam và Hương ước, lệ làng
Hương ước, lệ làng Việt Nam có quá trình hình thành, tồn tại và phát triển qua nhiều thể kỷ Gắn liền với mọi biển cố thăng trầm về chính trị, kinh
tế, văn hoá, xã hội, Hương ước là sản phẩm mang tính pháp lý do dân làng sáng tạo ra Các cộng đồng làng xã đã sử dụng nó làm thước do chuẩn mực để
Trang 15phân biệt đúng, sai trong quan hệ giao tiep, ứng xử Điêu có ý nghĩa hơn là Hương ước, lệ làng được sử dụng vào mục đích bảo vệ sản xuất, bảo vệ thuần phong mỹ tục, bảo đảm an ninh của cộng đồng làng xã, chống lại mọi hiểm họa từ bên ngoài Mọi người trong làng xã đều tự nguyện, nghiêm chỉnh tuân thủ nó có thể nói là hơn cả tuân thủ pháp luật Trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, thực hiện chủ trương khuyến khích nghiên cứu đề kế thừa và phát huy những truyền thống tốt đẹp thể hiện bản sắc dân tộc, nhiều địa phương trong cả nước đã soạn thảo, ban hành các Hương ước, quy ước để phục vụ sự nghiệp cách mạng hiện nay ở làng xã.
Ngày nay với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng, bảo tồn và phát triển nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc, nhiều loại hình văn hoá truyền thống được bảo tồn và phát triển, đồng thời với sự phát triển của công tác văn hoá thông tin người dân đã có các phương tiện nghe nhìn hiện đại Ớ phần lớn các xã đã có nhà bưu điện văn hoá Sự tồn tại và• t X • t t
phát triển phong phú của các loại hình văn hoá nghệ thuật ở nông thôn góp phần đáp ứng nhu cầu thưởng thức văn hoá, nâng cao dân trí của nhân dân, tạo điều kiện tinh thần cho người lao động tích cực tham gia lao động sản xuất
để xây dựng quê hương đất nước Tuy nhiên trong cơ chế thị trường, các hoạt động nghệ thuật cũng dễ trở thành hàng hoá thương mại cùng với việc du nhập trái phép và lưu hành các ấn phẩm mang nội dung không phù hợp với nếp nghĩ, lối sống, phong tục tập quán của dân tộc Việt Nam đang lưu hành trên địa bàn làng xã cũng gây sự phức tạp cho hoạt động quản lý văn hoá nghệ thuật của chính quyền ở xã
Từ những đặc điểm, tình hình thực tế về cơ cấu hành chính - lãnh thổ
và dân cư, kinh tế, văn hoá vừa nêu trên cho thấy sự khác biệt của cấp xã so với các cấp hành chính khác trong tổ chức hành chính - lãnh thổ ở nước ta Từ
đó yêu cầu phải tổ chức được mô hình chính quyền có cơ cấu tổ chức hợp lý,
Trang 16khoa học với cơ chế quản lý thích hợp để bảo đảm tổ chức quyền lực nhà nước ở cơ sở.
1.2.1.2 Vi trí, vai trò của chính quyền xã trong bộ máy nhá nước.
Chính quyền xã (cấp xã gồm: xã, phường, thị trấn), là một cấp trong hệ
thống hành chính bốn cấp trong bộ máy Nhà nước Cộng hoá xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là nền tảng của hệ thống chính tri Là cơ sở thực tiễn đề hình thành cũng như thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chính quyền xã có HĐND và UBND
Đánh giá về vấn đề này GS.TS Hoàng Chí Bảo trong cuốn Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn nước ta hiện nay đã khẳng định:
Chính quyền cơ sở cấp xã là trung tâm của hệ thống chính trị ở cơ sở,
có vai trò quan trọng thể hiện trên những mặt chủ yếu sau:
Một là, hệ thống chính quyền cơ sở là hệ thống quyền lực có địa bàn
rộng lớn nhất, có quan hệ trực tiếp nhất với cơ sở, nhân dân
Hai là, tất cả các quy dinh, chỉ thị, hướng dẫn của cơ quan Nhà nước
cấp trên có được triển khai thực hiện ở nông thôn hay không, hiệu quả đến dân đều phải thông qua chính quyền cấp xã
Ba là, nhân dân gắn bó, tin tưởng vào Đảng, Nhà nước như thế nào
cũng thông qua hoạt động quản lý của chính quyền và quyền lực của cán bộ chính quyền cơ sở với dân trong việc giải quyết những nhu cầu dân sinh, dân chủ, dân quyền
Bổn là, sức mạnh hiệu lực, hiệu quả quản lý của chính quyền cơ sở là ở
nơi dân, là việc quy tụ được lòng dân, phát huy tình đoàn kết, truyền thống làng xã, tinh thần làm chủ của nhân dân
Năm là, hệ thống chính trị cơ sở có phát huy được vai trò lãnh đạo, tổ
chức đoàn kết toàn dân thực hiện được những mục tiêu xây dựng địa phương
có kinh tế - xã hội - văn hoá phát triển hay không, điều đó tuy thuộc rất nhiều
Trang 17vào trình độ, pham chat, năng lực, quản lý điêu hành của đội ngũ cán bộ chính quyền cơ sở [3, tr.249].
“HĐND là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên” [29, tr.66]
HĐND vừa là cơ quan quyền lực ở địa phương vừa là một bộ phận cấu thành không thể tách rời với quyền lực Nhà nước Qua HĐND sự thống nhất giữa quyền lực Nhà nước và quyền lực của nhân dân được biểu hiện rõ nhất, với tư cách là cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân ở địa phương HĐND vừa chiu trách nhiệm trước nhân dân địa phương vừa chịu trách nhiệm trước chính quyền cấp trên về mọi mặt kinh tế -
xã hội, an ninh quốc phòng ổn định và nâng cao đời sống của nhân dân Trong
tổ chức và hoạt động của mình vai trò của HĐND còn được biểu hiện với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, HĐND được nhân dân giao quyền quyết định các vấn đề quan trọng để có thể phát huy được tiềm năng của địa phương, xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, biến ý chí của nhân dân địa phương thành những quy định bắt buộc để quản lý dân cư trên toàn lãnh thổ địa phương Ngoài ra việc giám sát của HĐND đối với UBND
xã và các cơ quan tổ chức Nhà nước, tổ chức kinh tế xã hội tại địa phương cũng có một vai trò quan trọng trong việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân và góp phần làm trong sạch bộ máy nhà nước
Đối với UBND vi trí pháp lý và vai trò của nó cũng được quy định rõ trong hướng dẫn và luật tổ chức HĐND và UBND Điều 114 Hiến pháp 2013
và Điều 2 Luật tổ chức HĐND và UBND quy định: “UBND do HĐND cùng cấp bầu là CO' quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước HĐND và cơ quan hành chính nhà nước cấp
Trang 18trên; UBND tổ chức việc thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương, tổ chức thực hiện nghị quyết của HĐND và thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhà nước cấp tren giao” [29, tr.66].
UBND xã có hai tư cách vừa là cơ quan chấp hành của HĐND vừa là
cơ quan hành chính Nhà nước ở cấp cơ sở
Với tư cách là cơ quan chấp hành của HĐND, UBND xã có vai trò quan trọng trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước trên các lĩnh vực đời sống xã hội ở địa phương bằng pháp luật, theo pháp luật T ổ chức và chỉ đạo việc thi hành chủ trương và Nghị quyết của HĐND xã biến ý chí, nguyện vọng của nhân dân làng xã thành những hoạt động cụ thể có hiệu quả
Còn với tư cách là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, UBND
xã có vai trò quản lý hành chính nhà nước trên các lĩnh vực đời sống kinh tế -
xã hội ở địa phương mình đồng thời cũng là cơ quan quản lý việc chấp hành, điều hành các quyết định, chỉ thi của UBND huyện cũng như các chủ trương, đường lối, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước
Như vậy chính quyền xã là bộ phận quan trọng trong bộ máy nhà nước,
là trung tâm, là lực lượng nòng cốt của hệ thống chính trị ở nông thôn
1.2.2 Đặc điểm của HĐND cấp xã
1.2.2.1 Cơ cấu, tổ chức HĐND cấp xã
Theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật bầu cử đại biểu HĐND năm
2003 thì số đại biểu HĐND ở cấp xã, phường, thị trấn được ấn định như sau:
- Xã, thị trấn miền xuôi có từ bốn nghìn người trở xuống được bầu 25 đại biểu, có trên 4000 người thì cứ thêm 2000 người được bầu thêm một đại biểu, nhưng tổng số không quá 35 đại biểu
- Xã, thị trấn miền núi và hải đảo có từ 3000 người trở xuống đến 2000 người được bầu 25 đại biểu, có trên 3000 thì cứ thêm 1000 người được bầu thêm một đại biểu, nhưng tổng số không quá 35 đại biểu; xã, thị trấn có dưới
Trang 192000 người trở xuống đến 1000 người được bầu 19 đại biểu; xã, thị trấn có dưới 1000 người được bầu 15 đại biểu.
- Phường có từ tám nghìn (8000) người trở xuống được bầu 25 đại biểu,
có trên 8000 người thì cứ thêm 4000 người được bầu thêm một đại biểu, nhưng tổng số không quá 35 đại biểu
- HĐND cấp xã không có các ban và thường trực HĐND như HĐND cấp huyện và cấp tỉnh, mà chỉ có Chủ tịch HĐND, Phó Chủ tịch HĐND và các đại biểu HĐND
- Nhiệm kỳ khóa mới HĐND các cấp là năm năm, kể kỳ họp thứ nhất của HĐND khoá đó đến kỳ họp của HĐND khoá sau Nhiệm kỳ của thường trực HĐND, UBND, các ban của HĐND theo nhiệm kỳ của HĐND Chủ tịch HĐND, Chủ tịch UBND ở mồi đơn vi hành chính không giữ chức vụ đó quá hai nhiệm kỳ liên tục
1.2.2.2 Phương thức hoạt động của HĐND cap xã
Hoạt động của HĐND cấp xã được thể hiện dưới ba hình thức
* Hoạt động tập thể của HĐND thông qua kỳ họp của HĐND là hình thức hoạt động chủ yếu của HĐND
HĐND cấp xã họp thường lệ mỗi năm hai kỳ Ngoài kỳ họp thường lệ, HĐND cấp xã tổ chức các kỳ họp chuyên đề hoặc kỳ họp bất thường theo đề nghị của Chủ tịch HĐND, Chủ tich UBND cùng cấp hoặc khi có it nhất một phần ba tổng số đại biểu HĐND cùng cấp yêu cầu Thường trực HĐND cấp quyết định triệu tập kỳ họp thường lệ của HĐND chậm nhất là 20 ngày, kỳ họp chuyên đề hoặc bất thường chậm nhất là 10 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp
HĐND cấp xã họp công khai, khi cần thiết HĐND quyết định họp kín theo đề nghị của chủ toa cuộc họp hoặc của Chủ tịch UBND cùng cấp
Ngày họp, nơi họp và chương trình của kỳ họp HĐND phải được thông báo cho nhân dân biết, chậm nhất là năm ngày trước ngày khai mạc kỳ họp
Trang 20Kỳ họp HĐND cấp xã được tiến hành khi có it nhất hai phần ba tổng số
đại biêu HĐND tham gia
HĐND còn có: đại biểu Quốcbiểu HĐND cấp trên đã được bầu ở địa phương, Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, người đứng đầu các đoàn thể nhản dân ở địa phương, đại diện
cử tri, các đại biểu này chỉ được phát biểu ý kiến nhưng không được biểu quyết
Các tài liệu cần thiết của kỳ họp HĐND cần được gửi đến đại biểu HĐND chậm nhất là năm ngày trước khi khai mạc kỳ họp
Kỳ họp thứ nhất của mỗi khoá HĐND do Chủ tịch HĐND khoá trước triệu tập và chỉ đạo cho đến khi HĐND bầu được Chủ tịch HĐND khoá mới
- Thư ký kỳ họp của mồi khoá HĐND theo sự giới thiệu của chủ toa kỳ họp
- Đại biểu HĐND có quyền giới thiệu và ứng cử vào các chức danh trên.Hình thức biểu quyết: giơ tay, bỏ phiếu kín hoặc bằng cách khác theo
đề nghị của chủ toa kỳ họp
Nghị quyết của kỳ họp chỉ được thông qua khi có quá nửa tổng số đại biểu HĐND biểu quyết tán thành
Nghị quyết kỳ họp của HĐND cấp xã do Chủ tịch HĐND cấp đó ký và phải gửi cho thường trực HĐND cấp trên chậm nhất 1 o ngày sau khi kết thúc
kỳ họp
Trang 21trueHĐND và UBND quy định: HĐND các cấp có thường trực HĐND, tuy vậy chỉ có ở cấp huyện và huyện mới có thường trực HĐND chuyên trách, đó là
uỷ viên thường trực, còn ở cấp xã thường trực HĐND gồm: Chủ tịch; Phó Chủ tịch HĐND
- Giám sát việc thi hành pháp luật tại địa phương;
- Điều hoá, phối hợp hoạt động của các Ban của HĐND, xem xét kết quả giám sát của các Ban của HĐND khi cần thiết và báo cáo HĐND tại kỳ họp gần nhất; giữ mối liên hệ với các đại biểu HĐND; tổng họp các chất vấn của đại biểu HĐND đến HĐND;
- Tiếp dân, đôn đốc, kiểm tra và xem xét tình hình giải quyết các kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân; tổng hợp ý kiến, nguyện vọng của nhân dân để báo cáo tại kỳ họp của HĐND;
- Phê chuẩn kết quả bầu Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Uỷ viên thường trực HĐND cấp dưới trực tiếp,
- Trình HĐND bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do HĐND bầu theo đề nghị của Uỷ ban Mặt trận To quốc Việt Nam cùng cấp hoặc của it nhất một phần ba tổng số đại biểu HĐND;
- Phối họp với UBND quyết định việc đưa ra HĐND hoặc đưa ra cử tri bãi nhiệm đại biểu HĐND theo đề nghị của Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam cùng cấp;
- Báo cáo về hoạt động của HĐND cùng cấp lên HĐND và UBND cấp trên trực tiếp;
Trang 22- Giữ mối liên hệ và phối họp công tác với Ban thường trực Ưỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp; mỗi năm hai lần thông báo cho ư ỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp về hoạt động của HĐND.
* Hoạt động của đại biểu HĐND cấp xã:
Đại biểu HĐND cấp xã là người đại diện cho ý chí nguyện vọng của nhân dân địa phuong, guong mẫu chấp hành pháp luật, chính sách của Nhà nước, tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, tham gia vào việc quản lý Nhà nước
Nhiệm kỳ của đại biểu HĐND mỗi khoá bắt đầu từ kỳ họp thứ nhất của HĐND khoá đó đến kỳ họp thứ nhất của HĐND khoá sau Đại biểu HĐND được bầu bổ sung bắt đầu làm nhiệm vụ đại biểu từ kỳ họp sau cuộc bầu cử
bổ sung đến kỳ họp thứ nhất của HĐND khoá sau
Đại biểu HĐND có nhiệm vụ tham dự đầy đủ các kỳ họp, phiên họp
vuquyền hạn của HĐND Đại biểu HĐND nào không tham dự được kỳ họp phải
có lý do và phải báo cáo trước với Chủ tich HĐND Đại biểu HĐND nào không tham dự được phiên họp phải có lý do và phải báo cáo trước với Chủ tọa phiên họp
Đại biểu HĐND phải liên hệ chặt chẽ với cử tri ở đơn vi bầu ra mình, chịu sự giám sát của cử tri, có trách nhiệm thu thập và phản ánh trung thực ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị của cử tri; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
cử tri; thực hiện chế độ tiếp xúc và it nhất mỗi năm một lần báo cáo với cử tri
về hoạt động của mình và của HĐND, trả lời những yêu cầu và kiến nghị của
cử tri
nhiêmvới cử tri về kết quả của kỳ họp, phổ biến và giải thích các nghị quyết của HĐND, vận động và cùng với nhân dân thực hiện các nghị quyết đó
Trang 23Đại biểu HĐND nhận được yêu cầu, kiến nghị của cử tri phải có trách nhiệm trả lời cử tri.
Khi nhân đươc khiếu nai, tố cáo của nhân dân, đai biểu HĐND có trách nhiệm nghiên cứu, kịp thời chuyển đến người có thẩm quyền giải quyết, theo dõi, đôn đốc việc giải quyết; đồng thời thông báo cho người khiếu nại, tố cáo biết
Trong thời hạn do pháp luật quy định, co quan, tổ chức có thẩm quyền phải xem xét, giải quyết và thông báo bang văn bản cho đại biểu HĐND biết kết quả
Đại biểu HĐND có quyền chất vấn Chủ tịch HĐND, Chủ tịch và các thành viên khác của UBND cùng cấp Người bi chất vấn phải trả lời về những vấn đề mà đại biểu HĐND chất vấn
Trong thời gian giữa hai kỳ họp HĐND, chất vấn của đại biểu HĐND được gửi đến Thường trực HĐND cùng cấp để chuyển đến người bi chất vấn
và quyết định thời hạn trả lời chất vấn
Đại biểu HĐND có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế,
tổ chức xã hội, đơn vi vũ trang nhân dân kịp thời chấm dứt những việc làm trái pháp luật, chính sách của Nhà nước trong cơ quan, tổ chức, đơn vi hoặc của cán bộ, công chức, nhân viên cơ quan, tổ chức, đơn vi đó
Đại biểu HĐND có quyền kiến nghị với cơ quan nhà nước về việc thi hành pháp luật, chính sách của Nhà nước và về những vấn đề thuộc lợi ích chung cơ quan hữu quan có trách nhiệm trả lời kiến nghị của đại biểu
Đại biểu HĐND có quyền đề nghị HĐND bỏ phiếu tín nhiệm đối với người do HĐND cùng cấp bầu
1.2.2.3 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND cap xã
* Chức năng của HĐND cap xã
phươngcủa HĐND để thực hiện các nhiệm vụ của HĐND Là cơ quan quyền lực nhà nước ở cơ sở HĐND cấp xã có các chức năng cơ bản sau đây:
Trang 24- Chức năng ra Nghị quyêt: Đê quản lý các mặt đời sông ở địa phương, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát minh trên địa bàn địa phương HĐND cấp
xã ra các Nghi quyết về: Phát triển kinh tế - xã hội, phát triển giáo dục, y te, văn hoá, thông tin, thể dục thể thao, khoa học công nghệ, tài nguyên và môi trường, quốc phòng và an ninh, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn địa phương, thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo, thi hành pháp luật, xây dựng chính quyền
Nội dung, phạm vi Nghị quyết của HĐND cấp xã tuy thuộc vào nhiệm
vụ, quyền hạn của HĐND cấp xã được quy định trong Luật tổ chức HĐND và UBND Đồng thời Nghị quyết của HĐND cấp xã cũng phải có tính họp lý và hợp pháp tức là phải phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của từng địa phương nhưng không được trái với các quy định trong Hiến pháp, pháp luật và các văn bản của co quan nhà nước cấp trên
- Chức năng giám sát của HĐND cấp xã:
Giám sát là chức năng quan trọng của HĐND nói chung Trong những năm qua HĐND các cấp đã rất quan tâm thực hiện chức năng này, góp phần thực hiện thắng lợi đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các Nghị quyết của HĐND Đặc biệt là trong lĩnh vực bảo vệ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân
Chức năng giám sát của HĐND cấp xã được thực hiện bởi hoạt động giám sát của HĐND, thường trực HĐND và giám sát của đại biểu HĐND Cụ thể thông qua các hoạt động sau:
+ Giám sát hoạt động của Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND, UBND xã, giám sát việc thực hiện Nghi quyết HĐND, việc tuân thủ pháp luật của các co quan nhà nước; tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn
vi vũ trang nhân dân và công dân ở địa phương
+ Xem xét báo cáo của Chủ tịch HĐND, UBND xã, xem xét việc trả lời chất vấn của người bi chất vấn theo luật định
Trang 25+ Xem xét văn bản quy phạm pháp luật của UBND xã.
+ Thành lập đoàn giám sát khi cần thiết
+ Bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do HĐND bầu
Căn cứ vào kết quả giám sát, HĐND cấp xã có quyền: Bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật của UBND xã Ra nghị quyết về việc trả lời chất vấn và trách nhiệm của người chất vấn khi thấy cần thiết,miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND, Chủ tịch, Phó Chủ tịch
và các thành viên của UBND xã
Trong trường hợp cần thiết, giao cho Chủ tịch HĐND và đại biểu HĐND cấp xã giúp HĐND giám sát việc thi hành pháp lệnh, Nghị quyết của HĐND và báo cáo HĐND tại kỳ họp gần nhất
Trong quá trình thực hiện giám sát, Chủ tịch HĐND, đại biểu HĐND
có quyền yêu cầu các co quan nhà nước liên quan, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội cung cấp những tài liệu thông tin cần thiết, khi phát hiện có sai phạm thì có quyền yêu cầu các cơ quan, tổ chức đó xem xét, xử lý theo thẩm quyền
* Nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND cấp xã
Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003 đã quy định HĐND cấp xã có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
Trang 26trương, biện pháp đê triên khai thực hiện ngân sách địa phương và điêu chỉnh
dự toán ngân sách địa phương theo quy định của pháp luật; giám sát việc thực hiện ngân sách đã được HĐND quyết định; quyết định biện pháp quản lý và
sử dụng hợp lý, có hiệu quả quỹ đất được để lại nhằm phục vụ nhu cầu công ích của địa phương; quyết định biện pháp xây dựng và phát triển hợp tác xã, kinh tế hộ gia đình ở địa phương; quyết định biện pháp quản lý, sử dụng và bảo vệ nguồn nước, các công trình thuy lợi theo phân cấp của cấp trên; biện pháp phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, bão lụt, bảo vệ rừng, tu bo và vảo vệ đê điều ở địa phương; quyết định biện pháp thực hiện xây dựng, tu sửa đường giao thông, cầu, cống trong xã và các co sở hạ tầng khác ở địa phương; quyết định biện pháp thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, chống buôn lậu
và gian lận thương mại
- Trong lĩnh vực giáo dục, y tế, xã hội và đời sống, văn hoá, thông tin, thể dục thể thao, bảo vệ tài nguyên môi trường
HĐND cấp xã quyết định: biện pháp bảo đảm các điều kiện cần thiết để trẻ em vào học tiểu học đúng độ tuổi, hoàn thành chương trình phổ cập giáo dục tiểu học; tổ chức các trường mầm non; thực hiện bổ túc văn hoá và xoá
mù chữ cho những người trong độ tuổi; biện pháp giáo dục, chăm sóc thanh niên, thiếu niên, nhi đồng; xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá, giáo dục truyền thống đạo đức tốt đẹp; giữ gìn thuần phong mỹ tục, bài trừ mê tín, hủ tục, phòng, chống các tệ nạn xã hội ở địa phương; biện pháp phát triển văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao; hướng dẫn các lễ hội cổ truyền, bảo vệ và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hoá và danh lam thắng cảnh ở địa phương theo quy định của pháp luật; quyết định việc xây dựng, tu sửa trường lớp, công trình văn hoá thuộc địa phương quản lý; biện pháp giữ gìn vệ sinh,
xử lý rác thải, phòng, chống dịch bệnh, biện pháp bảo vệ môi trường trong phạm vi quản lý; biện pháp thực hiện chương trình y tế co sở, chính sách dân
Trang 27sô và kê hoạch hoá gia đình; quyêt định biện pháp thực hiện chính sách, chê
độ đối với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, những người và gia đình
có công với nước, thực hiện công tác cứu trợ xã hội và vận động nhân dân giúp đỡ gia đình khó khăn, người già, người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa; biện pháp thực hiện xoá đói giảm nghèo
- Trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội
HĐND cấp xã thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn sau: quyết định biện pháp bảo đảm thực hiện chế độ nghĩa vụ quân sự, xây dựng lực lượng dân quân, tự vệ và quốc phòng toàn dân; thực hiện nhiệm vụ hậu cần tại chỗ; thực hiện chính sách hậu phương quân đội và chính sách đối với các lực lượng vũ trang nhân dân ở địa phương; quyết định biện pháp bảo đảm giữ gìn an ninh, trật tự nơi công cộng, an toàn xã hội, phòng chống cháy nổ, đấu tranh phòng ngừa, chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác trên địa bàn
- Trong việc thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo
HĐND cấp xã có những nhiệm vụ, quyền hạn sau: quyết định biệnpháp thực hiện chính sách dân tộc, chính sách cải thiện đời sổng vật chất, tinh thần, nâng cao dân trí của đồng bào dân tộc thiểu số; bảo đảm thực hiện chính sách bình đẳng giữa các dân tộc, tăng cường đoàn kết toàn dân và tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc ở địa phương; quyết định biện pháp thực hiện chính sách tôn giáo, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân địa phương theo quy định của pháp luật
- Trong lĩnh vực thi hành pháp luật
HĐND cấp xã thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn sau: quyết định biện pháp bảo đảm việc thi hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của mình ở địa phương; quyết định biện pháp bảo
hộ tính mạng, tự do, danh dự, nhân phẩm, các quyền và lợi ích hợp pháp khác
Trang 28của công dân; quyết định biện pháp bảo vệ tài sản, lợi ích của Nhà nước; bảo
hộ tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân ở địa phương; quyết định biện pháp
bảo đảm việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân theo quy định của
pháp luật
- Trong lĩnh vực xây dựng chính quyền địa phương và quản lý địa giới
hành chính
HĐND cấp xã thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn sau: bầu, miễn
nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND, Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các thành viên khác của UBND, bãi nhiệm đại biểu HĐND và chấp nhận việc
đại biểu HĐND xin thôi làm nhiệm vụ đại biểu theo quy định của pháp luật;
bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do HĐND bầu; bãi bỏ một phần
hoặc toàn bộ quyết định, chỉ thị trái pháp luật của UBND cùng cấp, thông qua
đề án thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính ở địa phương
để đề nghị cấp trên xem xét quyết định
1.2.2.4 Moi quan hệ giữa HĐND cấp xã với các cơ quan, tổ chức ở địa phương
* Quan hệ với Đảng uỷ xã
Đảng Cộng sản Việt Nam được Hiến pháp thừa nhận là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội Do đó trong mọi hoạt động của mình, HĐND cấp xã phải chấp hành mọi đường lối, chủ trương của Đảng và chịu sự lãnh đạo của
Đảng uỷ cơ sở xã
Ban Chấp hành Đảng bộ cơ sở thực hiện sự lãnh đạo đối với HĐND
cấp xã bằng chủ trương, nghị quyết và các biện pháp lớn, bằng việc bố trí cán
bộ thực hiện quyền kiểm tra việc chấp hành đường lối chủ trương, chính sách, chỉ thị, nghị quyết của Đảng Sự lãnh đạo của cấp uỷ cơ sở còn được thực
hiện thông qua những đảng viên phụ trách và các đồng chí đảng viên đang
công tác trong HĐND cấp xã
Trang 29Căn cứ vào Nghị quyêt của Đại hội Đảng bộ xã, thường trực HĐND cùng với UBND cấp xã xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, dự toán ngân sách hàng năm của địa phương, báo cáo để Đảng uỷ xem xét, thông qua trước khi trình HĐND xem xét quyết định.
* Quan hệ với Mặt trận T ổ quốc và các đoàn thể nhân dân
HĐND cấp xã phải phối hợp chặt chẽ với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên, tổ chức xã hội khác ở địa phương, xây dựng mối quan hệlàm việc để hoàn thành tốt nhiệm vu của mình.• • •
Quan hệ giữa HĐND và Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của mặt trận là quan hệ phối hợp, tạo điều kiện để cùng thực hiện tốt, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của pháp luật Thường trực HĐND phối họp với Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận cùng cấp ban hành quy chế phối họp công tác [49, tr.99]
* Quan hệ với UBND xã
Trong tất cả các mối quan hệ của HĐND cấp xã với các cơ quan, tổ chức khác trong bộ máy Nhà nước thì quan hệ với UBND xã là phức tạp nhất
Đó là sự đan xen của nhiều moi quan hệ trực tuyến, quan hệ theo chức năng
và cả moi quan hệ hai chiều phụ thuộc Theo nguyên tắc tổ chức của bộ máy nhà nước ta đã được quy định trong Hiến pháp thì HĐND địa phương bầu ra UBND, UBND là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của các CO' quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của HĐND Như vậy có thể nói HĐND là cấp trên của UBND, tuy nhiên thực tế ở nước ta do mọi đường lối và chính sách đều do Đảng Cộng sản lãnh đạo nên HĐND nay là cơ quan đại diện cho quyền lực của nhân dân vẫn phải đặt trong mối quan hệ tổng thể Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ Do đó trong bộ máy chính quyền tuy HĐND bầu ra UBND nhưng quan hệ giữa HĐND và UBND
Trang 30không phải là quan hệ cap trên cap dưới mà nó chỉ là quan hệ giữa hai cơ quan, hai bộ phận có chức năng khác nhau trong bộ máy chính quyền địa
phương (chức nang ra nghị quyết, giám sat và chức năng điều hành).
Như vậy giữa HĐND và UBND có mối quan hệ khăng khít, hữu cơ nhưng không đồng nhất, hoá lẫn mà mỗi loại cơ quan có chức năng nhiệm vụ riêng do Nhà nước phân công HĐND cấp xã là cơ quan quyền lực nhà nước
ở địa phương có trách nhiệm thảo luận và quyết định những chủ trương, biện pháp lớn về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, an ninh, trật tự, trị an ở xã UBND là cơ quan hành chính nhà nước có trách nhiệm tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật của Nhà nước, mệnh lệnh của cơ quan nhà nước cấp trên và Nghị quyết của HĐND cấp xã
Quan hệ giữa HĐND và UBND xã và mối quan hệ đặc biệt, thể hiện sự thống nhất chính trị trong tổ chức bộ máy nhà nước ở địa phương Mối quan
hệ này một mặt thể hiện yếu tố tập trung quyền lực của cơ quan quyền lực nhà nước trong việc thành lập, thay đổi, bãi miễn cơ quan hành chính nhà nước và các thành viên của nó; trong việc chỉ đạo giám sát hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước Mặt khác, nó thể hiện yếu tố dân chủ trong việc cơ quan quyền lực nhà nước trao quyền chủ động, sáng tạo cho co quan hành chính nhà nước trong quá trình điều hành, quản lý trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội
Tóm lại mối quan hệ giữa HĐND cấp xã với các co quan, tổ chức khác trong bộ máy nhà nước ở địa phương đều xuất phát từ những nguyên tắc co bản trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước
1.3 Nội dung đổi mói tổ chức và phương thức hoạt động của HĐND cấp xã
Những năm qua, HĐND cấp xã đã có nhiều đổi mới nên hiệu quả hoạt động được nâng lên rõ rệt, tuy nhiên so với yêu cầu đặt ra còn khá khiêm tốn Điều này do nhiều nguyên nhân
Trang 31Trước hết, do cơ cấu, tổ chức bộ máy của HĐND cấp xã còn nhiều bất cập, nhân sự thường biến động Đối với Thường trực HĐND cấp xã, có địa phương bố trí Chủ tịch HĐND hoạt động chuyên trách, nơi bố trí kiêm nhiệm; Chủ tịch HĐND có nơi là Bi thư cấp ủy cùng cấp, có nơi là Phó Bi thư hoặc
ủy viên Thường vụ cấp ủy cùng cấp; Phó chủ tịch HĐND có nơi được cơ cấu
ủy viên thường vụ cấp ủy cùng cấp, có nơi chỉ là cấp ủy viên
Tổ đại biểu HĐND là một thực thể hiện hữu, có tầm quan trọng đặc biệt, nhưng Luật Tổ chức HĐND và UBND 2003 chưa đề cập
Cũng theo quy định, các thành viên Thường trực HĐND, các đại biểu HĐND cấp xã hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, chịu trách nhiệm tập thể về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trước HĐND Nhưng trên thực
tế, hoạt động thường xuyên chỉ vỏn vẹn có vài đại biểu chuyên trách, còn lại hoạt động kiêm nhiệm Thực trạng này rất khó để HĐND cấp xã hoạt động thường xuyên theo chế độ tập thể
Mặt khác, cơ chế bảo đảm điều kiện phục vụ hoạt động của HĐND cấp
xã chưa đáp ứng yêu cầu Nhiều vướng mắc, chồng chéo về tổ chức và hoạt động, như: những quy định về thể chế chưa rõ ràng; chức năng, nhiệm vụ trùng lặp; mối quan hệ trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ không được định hình; tổ chức bộ máy thiếu thống nhất, điều kiện vật chất chưa bảo đảm; nhận thức về vai trò, chức năng và nhiệm vụ của Đại biểu HĐND cũng chưa đúng, chưa đầy đủ
Vi vậy, việc đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của HĐND cấp xã
là nâng cao hiệu lực quản lý bằng cách thực hiện nghiêm chỉnh đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và nhà nước, xây dựng chính quyền cơ sở thành một chính quyền được lòng dân, được dân tin tưởng và ủng hộ Như vậy cần phải chú
ý tới những biện pháp đổi mới để nâng cao hiệu lực và uy tín của HĐND cấp xã trong vai trò là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương
Trang 32về đổi mới cơ cấu tô chức, cần bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, trực tiếp
là các cấp ủy Đảng đối với HĐND các cấp Sớm có quy định thống nhất phân công các đồng chí trong Thường trực cấp ủy, ủy viên thường vụ, ủy viên Ban chấp hành cấp ủy cùng cấp đảm nhiệm các chức danh chuyên trách của HĐND Cụ thể: chức danh Chủ tịch HĐND nên thống nhất co cấu Bi thư hoặc Phó bi thư cấp ủy cùng cấp; chức danh Phó chủ tịch HĐND nên co cấu
ủ y viên Ban Thường vụ cấp ủy cùng cấp
Cần nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức HĐND
và UBND Cụ thể, tại Điều 52 cần điều chỉnh và quy định rõ: Thường trực HĐND cấp xã gồm Chủ tịch, Phó chủ tịch HĐND Bổ sung quy dinh về tổ đại biểu HĐND Nghiên cứu trình Quốc hội xem xét, ban hành Luật hoạt động giám sát của HĐND, giúp HĐND các cấp có đủ co sở pháp lý, thống nhất trong tổ chức thực hiện
Cần phải chú trọng đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động của HĐND cấp xã, có những hoạt động cụ thể thiết thực vừa tầm có thể thực hiện được Cần tăng số lượng đại biểu của dân trong HĐND cấp xã là những quần chúng ngoài Đảng, tránh tình trạng HĐND cấp xã hầu hết là đảng viên và đang giữ chức vụ, làm cho tiếng nói trực tiep của những người dân thường bi hạn chế, ảnh hưởng đến quyền lực trực tiếp tham gia quản lý chính quyền của quần chúng
về phương thức hoạt động, để nghị quyết HĐND cấp xã có chất lượng,
bảo đảm tính khả thi, cần tuân thủ đúng tiến độ, quy trình, thủ tục soạn thảo
và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND và UBND Th uong trực HĐND cấp xã chủ động tham gia ngay từ đầu quá trình soạn thảo; khi thẩm tra, phải tập họp được trí tuệ của tập thể, thể hiện rõ chính kiến: đồng ý hoặc không đồng ý ban hành nghị quyết để đại biểu HĐND có cơ sở xem xét, thảo luận và quyết định Trong kỳ họp, Chủ tọa phải dành thời gian thỏa đáng cho
Trang 33việc thảo luận dự thảo nghị quyết, tránh nhận xét chung chung Truớc khi ký ban hành, các nghị quyết phải đuợc rà soát kỹ về nội dung và kỹ thuật trình bày văn bản, sau đó tiếp tục theo dõi ban hành các văn bản cụ thể hóa, đồng thời chú trọng giám sát để nghị quyết sớm di vào cuộc sống.
Cần quan tâm đặc biệt đến việc xử lý ý kiến, kiến nghị của cử tri Sau khi tiếp xúc cử tri, các tổ đại biểu họp phân loại, những nội dung thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp dưới chuyển cho quận, huyện; nội dung còn lại thì chuyển về Thường trực HĐND cấp xã để tổng họp chuyển cho UBND cùng cấp xem xét, giải quyết Tại kỳ họp, các ý kiến, kiến nghị của cử tri phải được chủ tọa gợi ý thảo luận, tìm ra được phương án, giải pháp và lộ trình giải quyết thấu tình, đạt lý Các nội dung trả lời của UBND và sở, ban ngành phải được thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng để cử tri biết, cùng giám sát
Phải nâng cao chất lượng hoạt động của HĐND cấp xã bằng cách, ngoài chất lượng đại biểu còn cần có sự chuẩn bi tốt nội dung các kỳ họp HĐND, tăng số lượng và thời gian các phiên họp của Hội đồng để có thể bàn bạc, thảo luận, chất vấn, kiểm tra, quyết định những vấn đề kinh tế - xã hội - văn hóa, tài chính - ngân sách vốn liên quan mật thiết tới cuộc sống của dân
và được dân rất quan tâm
Phải đăc biet đề cao vai trò và trách nhiêm của HĐND, của đai biểu• • • y •
HĐND, tăng cường những tiếp xúc giữa đại biểu với cử tri, mở rộng môi trường hoạt động của các đại biểu, để họ kiêm nhiệm thêm các công tác xã hội tại cơ sở, cùng tham gia vào các hoạt động tự quản với dân
Chính quyền cơ sở là bộ phận then chốt và là một khâu đặc biệt quan trọng của hệ thống chính trị ở cơ sở Không có một chính quyền cơ sở thực sự vững mạnh thì việc thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân sẽ vấp phải những khó khăn trở ngại lớn Những giải pháp, biện pháp nêu trên chính
Trang 34là nhằm vào đổi mới và nâng cao hiệu lực quản lý của chính quyền cơ sở,
nhất là chính quyền cấp xã, coi đó là khâu đột phá của đổi mới
1.4 Tầm quan trọng của đổi mới tổ chức và phuong thức hoạt động của HĐND cấp xã
triển xã hội công nghiệp theo hướng hiện đại
Khi chủng ta đã thừa nhận nền kinh tể thị trường là đồng nghĩa với việc
chấp nhận những quy luật khách quan của nó, cùng với tính hai mặt của nền
kinh tể đó Kinh tế thị trường luôn thể hiện sự vận động và biến đổi không ngừng Do vậy, để có thể quản lý được nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đòi hỏi bộ máy nhà nước nói chung, chính quyền cấp cơ sở nói
riêng, trong đó HĐND cấp xã phải được đổi mới cả về tổ chức và phương
thức hoạt động
Từ kinh tế tự cung, tự cấp chuyển sang nền kinh tể thị trường là một
bước ngoặt quan trọng trong đời sống xã hội Nhiều vấn đề mới được đặt ra chưa có tiền lệ trong lịch sử, nhiều việc vượt quá tầm với của từng hộ gia đình Giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với công bằng và
tiến bộ xã hội theo đường lối của Đảng đang là vấn đề nổi cộm hiện nay Có
những vấn đề thuộc về cơ chế chính sách phải được giải quyết ngay từ cấp vĩ
mô, nhưng có nhiều vấn đề phải được giải quyết ngay tù’ cơ sở
Quá trình công nghiệp hóa, nhất là trong bối cảnh hội nhập với thế
giới, phát triển bền vững trở nên yêu cầu bức xúc, đòi hỏi bộ máy nhà nước
dành ưu tiên cao cho việc chăm 1o tới yêu cầu này, nhất là thu hẹp khoảng
cách phát triển giữa các vùng miền và tầng lớp dân cư, bảo vệ môi trường
Công nghiệp hóa theo hướng hiện đại cũng đặt ra yêu cầu đổi mới phong cách
làm việc, phương tiện quản lý tương ứng Song song với quá trình công nghiệp hóa là quá trình đô thị hóa tăng tốc Điều đó đòi hỏi chính quyền cấp
Trang 35cơ sở phải làm quen với phương thức quản lý đô thị đang ngày càng trở nên phổ biến.
1.4.2 Yêu cầu của quá trình xay dựng nhà nước phap quyền
Việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân
và vi dân không những chỉ đòi hỏi sự thay đổi của cơ cấu tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước ở trung ương, mà còn cả các cơ quan nhà nước ở địa phương, trong đó có chính quyền cấp cơ sở Nhà nước pháp quyền đòi hỏi các chủ thể của nó phải có quyền hạn và trách nhiệm rõ ràng Trên cơ
sở đó các chủ thể phải chủ động và tự chịu trách nhiệm về mọi hành vi của mình Trước hết của sự đổi mới này là sự phân dinh rõ ràng quyền hạn, trách nhiệm của từng cấp chính quyền địa phương, phân định giữa trung ương và địa phương và giữa địa phương với địa phương
Trong nhà nước pháp quyền nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình thông qua việc chuyển từ hình thức dân chủ gián tiếp, dân chủ đại diện sang dân chủ trực tiếp Người dân trực tiếp lựa chọn và bầu ra những người và các cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng của mình Vai trò của các cơ quan dân cử như HĐND cấp xã cũng cần có sự thay đổi để đáp ứng với yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền Hơn thế nữa, trong điều kiện khoa học công nghệ phát triển như vũ bão, nhất là công nghệ thông tin, người dân có thể đối thoại trực tiếp với các cơ quan quản lý, có thể phản ánh mọi tâm tư nguyện vọng và kiến nghị, đề xuất của mình qua các phương tiện thông tin đại chúng, giao lưu trực tuyến Trong điều kiện như vậy cần thiết phải nghiên cứu tổ chức hợp lý các cơ quan trong bộ máy nhà nước từ trung ương đến địa phương, trong đó có HĐND cấp xã để phù hợp với điều kiện mới
1.4.3 Xuất phát từ chính yêu cầu sửa chữa những tồn tại, hạn chế
trong tô chức, hoạt động của HĐND cap xã
So với chính quyền nhà nước ở trung ương, việc nghiên cứu để tiến hành sắp xếp lại cơ cấu tổ chức chính quyền địa phương có phần it được quan
Trang 36tâm bởi trong một thời gian dài đât nước có chiên tranh, vân đê quôc gia dân tộc được ưu tiên hàng đầu Chính vi vậy tổ chức và hoạt động của chính quyền cơ sở; năng lực trình độ và phẩm chất đạo đức của cán bộ co sở vừa không đáp ứng được yêu cầu của công cuộc đổi mới, vừa không đáp ứng được đòi hởi và lòng mong đợi của nhân dân Tổ chức bộ máy cồng kềnh, chức năng, nhiệm vụ, hoạt động chồng chéo và nhất là sự suy thoái về đạo đức, tệ quan liêu, tham nhũng của không it cán bộ cấp cơ sở đã đẩy chính quyền đối lập với nhân dân, nhân dân mất lòng tin đối với chính quyền, đồng nghĩa với việc nhân dân mất niềm tin vào Nhà nước, vào Đảng Vi vậy, việc nghiên cứu cải cách chính quyền địa phương nói chung, HĐND cấp xã nói riêng là một vấn đề rất cấp thiết hiện nay và là một phần tất yếu, quan trọng của công cuộc cải cách hành chính.
1.4.4 Chủ trương, quan điểm của Đảng và Nhà nước về tỏ chức hợp
lý chỉnh quyền địa phương ở nước ta
Trước tiến trình đổi mới, xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bộ máy nhà nước ta luôn được nghiên cứu cải tiến, sắp xếp, tổ chức lại để nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, hướng tới việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vi nhân dân Việc nghiên cứu nhằm tổ chức họp lý chính quyền địa phương, tìm ra sự khác biệt giữa đô thị và nông thôn để có cách quản lý hữu hiệu hơn, phát huy các chế định dân chủ trực tiếp ở cơ sở đã được Đảng và Nhà nước ta đặt ra từ lâu
Tại Đại hội Đảng VII (tháng 6 năm 1991), Đảng xác định tiếp tục cải cách bộ máy nhà nước và đề ra nhiệm vụ về sửa đổi Hiến pháp, cải tiến tổ chức và hoạt động của Chính phủ, chính quyền địa phương
Đặc biệt, Nghị quyết Hội nghi lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương khóa IX (tháng 2/2002) về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị
Trang 37ở cơ sở xã, phường, thị trấn đã xác định:
Chính quyền phường không quản lý toàn diện các hoạt động sản xuất, đời sống dân cu trên địa bàn như chính quyền xã, thị trấn, song có nhiệm vụ rất quan trọng trong quản lý đô thị cần phân định rõ hơn thẩm quyền, trách nhiệm và tạo điều kiện để chính quyền phường thực hiện tốt nhiệm vụ, đặc biệt trong việc quản lý thực hiện quy hoạch, quản lý đất đai, nhà ở, hộ tịch, vệ sinh môi trường, trật tự đô th ị
Tiếp tục xu hướng đó, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
X của Đảng (năm 2006) sau khi nêu đánh giá "Mô hình to chức chính quyền địa phương, nhất là tổ chức HĐND, còn những điểm bất hợp lý" đã đề ra việc phải "điều chỉnh cơ cấu chính quyền địa phương phù hợp với những thay đổi chức năng, nhiệm vụ Phân biệt rõ những khác biệt giữa chính quyền nông thôn và chính quyền đô thị để tổ chức bộ máy phù hợp"
Vấn đề tổ chức họp lý chính quyền địa phương được đặt ra một cách thẳng thắn khi Nghi quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương khóa X (năm 2007) đã chỉ rõ: "Đối với chính quyền nông thôn không tổ chức
không
ở phường"
Đặc biệt tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XII (tháng 11 năm 2008) đã thông qua Nghị quyết số 26/2008/QH12 về thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND huyện, quận, phường, ủ y ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 724/2009/NQ-UBT V QH 12 ngày 16 tháng 01 năm 2009 về danh sách huyện, quận, phường thực hiện thí điểm Theo đó việc thí điểm bắt đầu
từ ngày 25 tháng 4 năm 2009 tại 67 huyện, 32 quận và 483 phường của 10 huyện, thành phố trực thuộc trung ương Đây có thể coi là một bước tiến đổi mới rất căn bản về tổ chức bộ máy chính quyền địa phương trong đó có chính quyền cơ sở (phường) ở nước ta trong thời kỳ đổi mới Đây cũng là kết quả
Trang 38của sự tìm tòi nghiên cứu lựa chọn mô hình tô chức phù hợp với những thay đổi về vai trò, chức năng của bộ máy nhà nước nói chung, của từng cấp chính quyền địa phương nói riêng trong thời kỳ mới.
Tiêu ket chương 1
Trên cơ sở làm rõ lý luận về vi trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền cấp xã, trong đó có HĐND cấp xã; HĐND cấp xã là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên Mối quan hệ của HĐND cấp xã với các tổ chức, cơ quan trong hệ thống chính trị cùng cấp
De quản lý các mặt đời sống ở địa phương, điều chỉnh các mối quan hệ
xã hội trên địa bàn địa phương, HĐND cấp xã ra nghị quyết và giám việc thực hiện các nghị quyết của mình trong các lĩnh vực: Phát triển kinh tế - xã hội, phát triển giáo dục, y tế, văn hoá, thông tin, thể dục thể thao, khoa học công nghệ, tài nguyên và môi trường, quốc phòng và an ninh, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn địa phương, thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo, thi hành pháp luật, xây dựng chính quyền Giám sát là chức năng quan trọng của HĐND nói chung, trong những năm qua HĐND các cấp đã rất quan tâm thực hiện chức năng này, góp phần thực hiện thắng lợi đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các Nghị quyết của HĐND Đặc biệt là trong lĩnh vực bảo vệ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân
Tuy nhiên so với yêu cầu đặt ra, tổ chức và phương thức hoạt động của HĐND cấp xã còn khá khiêm tốn, vi vậy trong chương một, tác giả đã đặt ra yêu cầu và tầm quan trọng của đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của HĐND cấp xã trong điều kiện hiện nay
Trang 39Chuong 2 THỰC TRẠNG ĐỔI MỚI TO CHỨC VÀ PHƯƠNG THỨC
HOẠT ĐỘNG CỦA HĐND CẤP XÃ Ở HUYỆN THANH TRÌ,
THANH PHỐ HÀ NỘI
2.1 Khái quát về HĐND cấp xã ở huyện Thanh Trì.
2.1.1 Vài nét về điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế xã hội của• • •
huyện Thanh Trì.
Thanh Trì là huyện nằm ở phía Nam thành phố Hà Nội, với diện tích tự nhiên 6.292,7ha, dân số trên 200.000 người, gồm 15 xã và 01 thị trấn Phía Bắc giáp quận Hoàng Mai, phía Nam giáp huyện Thường Tín, phía Tây và Tây bắc giáp quận Thanh Xuân, phía đông là sông Hồng, giáp với huyện Gia Lâm và tỉnh Hưng Yên Là đầu mối giao thông quan trọng của Thủ đô, thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế - xã hội với các huyện phía Nam
Thanh Trì là một địa phương giàu truyền thống lịch sử, văn hoá và cách mạng Tự hào với truyền thống của cha ông, lóp lóp các thế hệ người Thanh Trì hôm nay đang ra sức lao động và học tập để góp phần xây dựng quê hương ngày càng văn minh, giàu đẹp
Là địa phương giàu truyền thống lịch sử, văn hoá và cách mạng, với 56 cụm di tích và 2 tượng đài, đài tưởng niệm được xếp hạng di tích lịch sử cách
mạng, văn hoá nghệ thuật Có 2 làng khoa bảng là làng Tả Thanh Oai (xã Tả
Thanh Oai), làng Nguyệt Áng (xã Đại Áng) Có nhiều danh nhân văn hoá đất
nước, trong đó có Văn thế sư biểu Tiên Triết Chu Văn An Có chi bộ Đảng bộ Cộng sản Việt Nam đầu tiên của khu vực ngoại thành Hà Nội cũ, ra đời vào tháng 5 năm 1930 tại làng Đông Phù, xã Đông Mỳ Là quê hương của nhiều đồng chí cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước trong đó có đồng chí Đỗ Mười, nguyên Tổng Bi thư Đảng Cộng sản Việt Nam Huyện đã được phong tặng danh hiệu anh hùng trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp
Trang 40Thanh Trì có nhiêu cơ quan nghiên cứu khoa học, khu công nghiệp, nhiều trường học, cơ sở y tế của Trung ương và Thành phố, có nhiều ngành nghề truyền thống như mây tre đan Vạn Phúc, bánh Chưng, bánh Giày Tranh Khúc, đây là thế mạnh, tiềm năng đáng quý, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển đi lên của Huyện.
Ke thừa và tiếp tục phát huy những thành tựu đạt được của Nhiệm kỳ XXI Mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Thanh Trì lần thứ XXII đề ra: Huy động khai thác có hiệu quả tiền năng, nguồn lực, đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp, dịch
vụ, nông nghiệp; phát triển làng nghề truyền thống gắn với du lịch, dịch vụ; tập trung xây dựng hệ thống hạ tầng kỳ thuật then chốt, hoàn thành co sở vật chất thiết yếu cho lĩnh vực văn hóa, xã hội, phát triển một số khu du lịch sinh thái văn minh, hiện đại; tích cực cải thiện và từng bước nâng cao chất lượng môi trường; đẩy mạnh xây dựng đời sống văn hóa và tạo bước phát triển mạnh giáo dục, đào tạo, đảm bảo đủ nguồn nhân lực với chất lượng đáp ứng yêu cầu phát triển, giải quyết tốt việc làm; đảm bảo an sinh xã hội, không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; giữ vững ổn định chính trị, tăng cường quốc phòng, an ninh Tiếp tục đổi mới và nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị từ huyện đến co sở; tạo đồng thuận cao và huy động sức mạnh toàn dân để phấn đấu co bản hoàn thành xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện theo hướng đô thi hóa
- về kinh tế: Là một huyện nông nghiệp có tốc độ tăng trưởng kinh tể cao, trung bình đạt 15,9%, co cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng duy trì tỷ trọng công nghiệp, tăng tỷ trọng thương mại dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp (công nghiệp: 63%, thương mại dịch vụ: 22%, nông nghiệp: 15%) ; thu nhập bình quân đầu người năm 2013 đạt 26 triệu đồng/người/năm; giá trị