1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hoàn thiện pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo ở việt nam hiện nay

162 383 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 162
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với các phân tích ở trên, việc nghiên cứu nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế bảo đảm thi hành pháp luật điều chỉnh các hành vi cạnh tranh gian dối, không lành mạnh trong lĩnh vực quảng

Trang 1

PHẠM ĐỨC HOÀ

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CẠNH TRANH

TRONG LĨNH VỰC QUẢNG CÁO

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Trang 2

PHẠM ĐỨC HOÀ

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CẠNH TRANH

TRONG LĨNH VỰC QUẢNG CÁO

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH

LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT

Mã số: 62 38 01 01

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS QUÁCH SĨ HÙNG

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi; các số liệu, tư liệu được sử dụng trong luận án

là trung thực, có xuất xứ rõ ràng; những phát hiện đưa ra trong luận án là kết quả nghiên cứu của tác giả luận án

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Trang 4

Trang

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU PHÁP LUẬT

VỀ CẠNH TRANH TRONG LĨNH VỰC QUẢNG CÁO

1.3 Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu và các vấn đề luận án

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC HOÀN THIỆN PHÁP

LUẬT VỀ CẠNH TRANH TRONG LĨNH VỰC QUẢNG

2.1 Khái niệm, đặc điểm, nội dung và vai trò của pháp luật về cạnh

2.2 Các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện pháp luật về cạnh tranh

2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc hoàn thiện pháp luật về cạnh

2.4 Pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo ở một số nước

trên thế giới và những giá trị có thể tham khảo cho Việt Nam 63

Chương 3: QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN VÀ THỰC TRẠNG PHÁP

LUẬT VỀ CẠNH TRANH TRONG LĨNH VỰC QUẢNG

3.1 Quá trình phát triển của pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực

3.2 Thực trạng pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo ở

Trang 5

CÁO Ở VIỆT NAM 116 4.1 Quan điểm hoàn thiện pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực

4.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Cạnh tranh là quy luật cơ bản của nền kinh tế thị trường, đồng thời là động lực quan trọng thúc đẩy nền kinh tế phát triển Để thúc đẩy cạnh tranh, các doanh nghiệp đã áp dụng nhiều phương thức để truyền tải thông tin sản phẩm của mình đến khách hàng, trong đó, quảng cáo được xem là hình thức phổ biến hiện nay Hoạt động quảng cáo không chỉ đơn thuần là một hành vi thương mại, mà nó cũng là một biện pháp, một phương thức cạnh tranh không thể thiếu trong kinh doanh Những năm gần đây, quảng cáo trở nên thu hút sự quan tâm rất lớn của các doanh nghiệp và nằm trong khâu chiến lược xúc tiến hỗn hợp của marketing Nó hỗ trợ cho hoạt động bán hàng đạt hiệu quả tốt hơn theo đúng mục tiêu Tuy nhiên, quảng cáo như thế nào lại là một vấn đề cần được xem xét trong thời điểm hiện nay

Thực tế cho thấy, trong lĩnh vực này đã nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp ảnh hưởng đến hoạt động cạnh tranh lành mạnh của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế khác nhau, tác động xấu đến môi trường kinh doanh ở Việt Nam, như: Nội dung quảng cáo không trung thực, sai lệch nhiều mặt, dùng những hình ảnh, cử chỉ, lời nói gây phản cảm, vi phạm đạo đức truyền thống… Việc quảng cáo gian dối, sai sự thật, cạnh tranh không lành mạnh đã

và đang diễn ra khá phổ biến và gây ra nhiều hậu quả khôn lường Bởi vậy, để chấn chỉnh, đưa quảng cáo vào chuẩn mực, rất cần đến sự giám sát, điều chỉnh hiệu quả của pháp luật

Với tính chất phức tạp và đa dạng, các hành vi cạnh tranh, cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo không nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của Luật Cạnh tranh, được Quốc hội khóa XI thông qua tại kỳ họp thứ 6 tháng 12/2004 và có hiệu lực từ ngày 01/07/2005 Cụ thể, Luật Cạnh tranh điều chỉnh các hành vi quảng cáo so sánh, quảng cáo bắt chước, quảng cáo

Trang 7

gian dối hoặc gây nhầm lẫn và các hoạt động quảng cáo bị pháp luật cấm khác Cùng với Luật Cạnh tranh, việc điều chỉnh hoạt động quảng cáo không lành mạnh còn được thực hiện bởi Luật Thương mại, Luật Bảo vệ người tiêu dùng, Luật Quảng cáo, Luật Báo chí, Luật Xuất bản, Luật Dược, Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa, Luật Kinh doanh Bảo hiểm và các văn bản hướng dẫn thi hành Tuy nhiên, sự trùng lặp và chồng chéo về nội dung giữa các văn bản pháp luật này đối với các hành vi quảng cáo không lành mạnh đã

và đang gây khó khăn cho việc tổ chức thực thi pháp luật thống nhất trên thực

tế Trong khi đó, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của ngành quảng cáo tại Việt Nam, tình trạng quảng cáo không lành mạnh đã xuất hiện ngày càng nhiều làm tổn hại đến lợi ích của Nhà nước, của doanh nghiệp và đặc biệt là quyền lợi hợp pháp của người tiêu dùng

Cho đến nay, một số văn bản hướng dẫn thi hành Luật Cạnh tranh năm

2004 được ban hành nhưng không có văn bản nào hướng dẫn việc áp dụng pháp luật cạnh tranh về chống các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, đặc biệt là các quy định đặc thù để xử lý các hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh Luật Quảng cáo năm 2012 cũng không hướng dẫn cụ thể, chi tiết về xử lý các hành vi quảng cáo có nội dung cạnh tranh không lành mạnh Luật này chỉ quy định các hành vi bị cấm trong hoạt động quảng cáo, việc xử lý vi phạm trong hoạt động quảng cáo cũng quy định một cách chung chung Như vậy, cần nhận định rằng, cho đến nay, chúng ta vẫn chưa có một

cơ chế thống nhất, đồng bộ trong việc xử lý có hiệu quả các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo

Với các phân tích ở trên, việc nghiên cứu nhằm hoàn thiện pháp luật và

cơ chế bảo đảm thi hành pháp luật điều chỉnh các hành vi cạnh tranh gian dối, không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo có ý nghĩa quan trọng để vận dụng trong công cuộc phát triển nền kinh tế, xây dựng môi trường cạnh tranh lành mạnh trong kinh doanh ở nước ta Đây là cơ sở để nghiên cứu sinh lựa chọn đề

Trang 8

tài “Hoàn thiện pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo ở Việt

Nam hiện nay” để nghiên cứu và làm Luận án Tiến sĩ luật học của mình tại

Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

2.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Mục đích nghiên cứu của luận án là phân tích, làm rõ cơ sở lý luận hoàn thiện pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo, đánh giá thực trạng pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo ở Việt Nam và đề ra quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo ở Việt Nam hiện nay

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

- Phân tích khái niệm cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo, khái niệm pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo; làm rõ những đặc điểm, vai trò và nội dung của pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo; nghiên cứu các tiêu chí để xác định mức độ hoàn thiện của pháp luật; các yếu tố ảnh hưởng đến việc hoàn thiện pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo ở Việt Nam Ở mức độ nhất định, luận án nghiên cứu pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo ở một số nước trên thế giới và rút ra những giá trị có thể tham khảo ở Việt Nam

- Nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay để khẳng định những bước phát triển, những ưu điểm cần phát huy, đồng thời tìm ra những hạn chế và nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó

- Đề xuất quan điểm và những giải pháp hoàn thiện pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo ở Việt Nam hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Trang 9

Đối tượng nghiên cứu của luận án là những vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo ở Việt Nam hiện nay

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung: Theo kinh nghiệm pháp luật của một số quốc gia trên thế

giới cũng như thực tiễn pháp luật Việt Nam, pháp luật cạnh tranh như tên gọi hiện nay bao gồm hai chế định chủ yếu là: (i) Pháp luật chống hạn chế cạnh tranh, kiểm soát độc quyền; và (ii) Pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh Điều chỉnh pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo chủ yếu là nhằm hướng tới mục tiêu chống lại các hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh và thuộc phạm vi của chế định pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh, bởi vậy, để làm sâu sắc hơn nội hàm đề tài nghiên cứu, trong phạm vi luận án này, tác giả luận án tập trung nghiên cứu về chế định pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo để đề xuất quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo ở Việt Nam hiện nay nhằm điều chỉnh và kiểm soát hiệu quả các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo

Về không gian và thời gian: Luận án nghiên cứu pháp luật về cạnh tranh

trong lĩnh vực quảng cáo ở Việt Nam chủ yếu từ khi Luật Cạnh tranh năm

2004 được ban hành cho tới nay

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận của đề tài luận án

Cơ sở lý luận của luận án là lý thuyết về kinh tế thị trường có sự quản

lý của Nhà nước; đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thể hiện trong văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các kỳ đại hội, đặc biệt là đường lối, chính sách về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng môi trường kinh doanh lành mạnh, bình đẳng trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế; Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống

Trang 10

pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 theo Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị

4.2 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Thực hiện luận án này, tác giả vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của triết học Mác –Lênin Bên cạnh đó, tác giả luận án còn sử dụng những phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:

- Phương pháp phân tích và tổng hợp được sử dụng trong các chương 2,

3 và 4 để làm rõ cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng và đề xuất quan điểm, giải

pháp hoàn thiện pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo;

- Phương pháp tiếp cận hệ thống được sử dụng trong các chương 2, 3 và

4 để làm rõ nội dung, vai trò, các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo, các yếu tố ảnh hưởng và các điều kiện bảo đảm hoàn thiện pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo ở Việt Nam

- Phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn, phương pháp lô gíc được sử dụng ở các chương 2, 3, 4: Luận án nghiên cứu từng vấn đề trong mối quan hệ chặt chẽ giữa lý luận với thực tiễn, giữa quan điểm, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước với thực tiễn thực hiện pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo

Ba chương của luận án được nghiên cứu trong mối quan hệ lôgíc xuyên suốt từ cơ sở lý luận đến thực trạng và quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo ở Việt Nam hiện nay

- Phương pháp so sánh được sử dụng trong chương 1 để làm rõ tình hình nghiên cứu, chỉ ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu Phương pháp này cũng được sử dụng ở chương 2 để so sánh các pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo của một số nước trên thế giới nhằm rút ra các bài học kinh nghiệm vận dụng cho Việt Nam

Trang 11

5 Những đóng góp mới về mặt khoa học của đề tài

Đây là công trình nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện về hoàn thiện pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo ở Việt Nam hiện nay Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ có những đóng góp mới về mặt khoa học như sau:

- Trên cơ sở phân tích một cách toàn diện các quan điểm, quan niệm về pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo, luận án đã xây dựng khái niệm khoa học pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo, chỉ ra đặc điểm, vai trò và nội dung của pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo, đồng thời, xây dựng các tiêu chí về nội dung và hình thức để xác định mức độ hoàn thiện của pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo; phân tích làm

rõ các yếu tố ảnh hưởng đến việc hoàn thiện pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo ở Việt Nam hiện nay

- Phân tích, đánh giá tổng quát thực trạng các quy định pháp luật và thực trạng áp dụng pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo ở Việt Nam, chỉ ra những điểm còn hạn chế, bất cập của pháp luật cũng như trong cơ chế áp dụng pháp luật và nguyên nhân

- Từ các nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận án đã đưa ra các quan điểm và kiến nghị những giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế bảo đảm thi hành pháp luật cạnh trạnh trong lĩnh vực quảng cáo ở Việt Nam

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Về mặt khoa học, luận án góp phần làm sáng tỏ thêm các vấn đề lý luận của pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam và yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế Những nghiên cứu, đề xuất của luận án góp phần đáng kể vào việc hoàn thiện các quy định của pháp luật canh tranh cũng như cơ chế bảo đảm thi hành pháp luật cạnh trạnh trong lĩnh vực quảng cáo ở Việt Nam

Trang 12

- Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu của luận án sẽ là tài liệu tham khảo có giá trị trong công tác nghiên cứu lập pháp cũng như thực tiễn thi hành pháp luật về cạnh trạnh trong lĩnh vực quảng cáo ở Việt Nam hiện nay Luận

án cũng có thể là tài liệu giảng dạy và học tập trong các cơ sở đào tạo pháp luật về cạnh trạnh trong lĩnh vực quảng cáo

7 Bố cục của luận án

Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án được kết cấu bốn chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu pháp luật về cạnh tranh

trong lĩnh vực quảng cáo và những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý luận của việc hoàn thiện pháp luật về cạnh tranh

trong lĩnh vực quảng cáo

Chương 3: Quá trình phát triển và thực trạng pháp luật về cạnh tranh

trong lĩnh vực quảng cáo ở Việt Nam hiện nay

Chương 4: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật về cạnh tranh

trong lĩnh vực quảng cáo ở Việt Nam

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU PHÁP LUẬT

VỀ CẠNH TRANH TRONG LĨNH VỰC QUẢNG CÁO

VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU

1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC

1.1.1 Nhóm công trình nghiên cứu về xây dựng và hoàn thiện pháp luật cạnh tranh

Ở Việt Nam, trong quá trình nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm đảm bảo để nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường phát triển, đã có một số công trình nghiên cứu bước đầu về pháp luật cạnh tranh, chống cạnh tranh không lành mạnh, như:

“Chuyên đề về cạnh tranh, chống cạnh tranh bất hợp pháp và kiểm soát

độc quyền” của tác giả Đặng Vũ Huân - Thông tin Khoa học pháp lý của Viện

Nghiên cứu khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, tháng 11/1996 và “Pháp luật về

kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam” sách

tham khảo của TS Đặng Vũ Huân, Nxb Chính trị Quốc gia năm 2004 Ở hai công trình này, tác giả đã làm rõ các khái niệm về cạnh tranh, phân loại các hành vi cạnh tranh, nhận diện các hành vi cạnh tranh bất hợp pháp và xu thế cạnh tranh dẫn đến độc quyền; chỉ ra các yêu cầu, định hướng cũng như mô hình xây dựng pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh và kiểm soát độc quyền ở Việt Nam;

“Cạnh tranh và xây dựng pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay”

sách do PGS.TS Nguyễn Như Phát và PGS.TS Trần Đình Hảo làm chủ biên, Nxb Công an nhân dân năm 2001 Đây là công trình tập hợp các bài viết của nhiều tác giả khảo cứu về kinh nghiệm xây dựng và thi hành pháp luật cạnh tranh ở một số quốc gia trên thế giới; bàn luận về các chế định pháp luật cạnh tranh như pháp luật về chống hạn chế cạnh tranh, pháp luật chống cạnh tranh

Trang 14

không lành mạnh, thiết chế quản lý nhà nước về cạnh tranh… đồng thời gợi

mở một số vấn đề về xây dựng pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam;

Bên cạnh đó, cũng nhằm nhận diện và góp phần vào việc xây dựng

pháp luật về cạnh tranh ở Việt Nam, còn có một số công trình khác như: “Xây

dựng pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam hiện nay”,

Luận văn Thạc sĩ luật học của tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền, Đại học Luật Hà

Nội, năm 2003; “Pháp luật và thiết chế chống cạnh tranh không lành mạnh”

- Chương 25 “Chuyên khảo Luật Kinh tế” của tác giả TS Phạm Duy Nghĩa

(2004), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, (tr 865 - tr 883); “Pháp luật chống

cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp ở Việt Nam -

Lý luận và thực tiễn”, Luận văn Thạc sĩ luật học của tác giả Nguyễn Vũ

Quỳnh Lâm, năm 2004…;

Sau khi Luật Cạnh tranh của Việt Nam được Quốc hội khóa XI thông qua tại kỳ họp thứ 6 tháng 12/2004 và có hiệu lực từ ngày 01/07/2005, đã có thêm nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này nhằm bàn luận thêm về các chế định của Luật Cạnh tranh và đặt ra các vấn đề cần quan tâm để đưa Luật

này vào cuộc sống như: “Pháp luật cạnh tranh tại Việt Nam”, sách tham khảo

của các tác giả Lê Danh Vĩnh, Hoàng Xuân Bắc, Nguyễn Ngọc Sơn, Nxb Tư

pháp, Hà Nội, năm 2006; “Đưa pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh

vào cuộc sống” của PGS.TS Nguyễn Như Phát, Tạp chí Luật học số 6/2006

Đại học Kinh tế - Luật do PGS – TS Lê Danh Vĩnh chủ biên ấn hành năm

2010; “Giáo trình Luật Cạnh tranh” của Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an

nhân dân, Hà Nội, năm 2012…

Trang 15

“Pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam”, Luận

án Tiến sĩ luật học của tác giả Lê Anh Tuấn, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2008 Đây là công trình nghiên cứu khá toàn diện và sâu sắc về chế định pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh và đề xuất một số giải pháp

để thực thi chế định này trong bối cảnh Việt Nam chưa có văn bản pháp luật nào hướng dẫn về thực thi chế định pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh Tuy nhiên, các đề xuất của công trình này vẫn là các giải pháp chung, trong khi đó, cạnh tranh không lành mạnh xuất hiện ở tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế và cho đến nay, tình trạng thiếu văn bản hướng dẫn vẫn đang tồn tại, gây khó khăn và rất nhiều vướng mắc trong quá trình áp dụng

Sau 10 năm thực thi Luật Cạnh tranh năm 2004, Cục Quản lý cạnh

tranh, Bộ Công Thương đã thực hiện “Báo cáo rà soát các quy định của Luật

Cạnh tranh Việt Nam” và phối hợp với Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản

thực hiện “Báo cáo rà soát Luật Cạnh tranh với pháp luật chuyên ngành”

Qua hai báo cáo này cho thấy, Luật Cạnh tranh của Việt Nam đã trải qua 10 năm thực tiễn áp dụng, bước đầu đã có những chuyển biến trong việc tạo ra môi trường pháp lý cạnh tranh bình đẳng, ngăn ngừa các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trên thương trường Tuy nhiên, Luật Cạnh tranh cũng đang bộc lộ rất nhiều bất cập trong nhiều quy định pháp luật, đặc biệt là trong mối quan hệ với các Luật chuyên ngành Các báo cáo đã chỉ ra nhiều cơ sở thực tiễn để nghiên cứu nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay

Được đánh giá là “Hiến pháp của nền kinh tế thị trường”, nên Luật Cạnh tranh phải được xem là luật gốc, điều chỉnh các hành vi hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh của doanh nghiệp trong mọi lĩnh vực của nền kinh tế Khoản 1 Điều 5 Luật Cạnh tranh quy định, trường hợp có sự khác nhau giữa quy định của Luật Cạnh tranh với quy định của Luật khác về hành vi hạn chế cạnh tranh, cạnh tranh không lành mạnh thì áp dụng quy định

Trang 16

của Luật Cạnh tranh Quy định này là nền tảng pháp lý giúp đảm bảo sự tương thích, phù hợp và thống nhất của cả hệ thống pháp luật liên quan đến vấn đề cạnh tranh Căn cứ trên quy định này, sẽ rất hợp lý và đảm bảo sự phù hợp, tính thống nhất cao trong cả hệ thống pháp luật nếu những văn bản pháp luật (kể cả các luật sửa đổi, bổ sung) được ban hành sau khi Luật Cạnh tranh

có quy định dẫn chiếu đến pháp luật cạnh tranh nhằm điều chỉnh các hành vi hạn chế cạnh tranh hoặc cạnh tranh không lành mạnh trong các ngành, lĩnh vực cụ thể đó Hoặc nếu có xây dựng các điều khoản cụ thể trong pháp luật chuyên ngành nhằm quy định điều chỉnh các hành vi hạn chế cạnh tranh, hành

vi cạnh tranh không lành mạnh thì cần tham khảo các quy định về hành vi, về hình thức và mức độ xử lý, về thẩm quyền và quy trình xử lý trong pháp luật cạnh tranh để việc quy định không bị mâu thuẫn, chồng chéo, không có sự khác biệt Nếu điều đó được thực hiện, thì không chỉ giữa pháp luật cạnh tranh và các pháp luật chuyên ngành có sự phù hợp, tương thích mà thông qua

đó đảm bảo sự thống nhất của toàn bộ hệ thống pháp luật, tạo nên một môi trường pháp lý thống nhất giúp tăng cường và đảm bảo hiệu quả kinh doanh của các chủ thể trên thị trường

Có thể nói, thông qua các nghiên cứu lý luận và thực tiễn về pháp luật cạnh tranh, chống cạnh tranh không lành mạnh đã công bố trong những năm qua cho thấy, các vấn đề lý luận cơ bản của pháp luật cạnh tranh, chống cạnh tranh không lành mạnh đã được các tác giả nghiên cứu một cách tương đối có

hệ thống, bắt đầu từ các hành vi hạn chế cạnh tranh, các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, nhu cầu điều chỉnh pháp luật đối với vấn đề cạnh tranh Ở các mức độ khác nhau, các công trình nghiên cứu đều thể hiện sự cần thiết phải có sự can thiệp của Nhà nước đối với hành vi cạnh tranh nói chung và hành vi cạnh tranh không lành mạnh nói riêng Sự can thiệp của Nhà nước bằng pháp luật cần phải điều chỉnh hiệu quả các hành vi cạnh tranh không lành mạnh để bảo vệ người tiêu dùng, doanh nghiệp và đảm bảo sự công bằng

Trang 17

trong nền kinh tế Từ các nghiên cứu lý luận và thực tiễn, cũng như học hỏi kinh nghiệm pháp luật quốc tế, các công trình nghiên cứu trên đã xây dựng và tạo lập được cơ sở lý luận về pháp luật cạnh tranh, chống cạnh tranh không lành mạnh trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam làm cơ sở cho các công trình nghiên cứu về sau, cũng như góp phần vào việc nghiên cứu các luận cứ khoa học để hoàn thiện hệ thống pháp luật về cạnh tranh trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở Việt Nam

1.1.2 Nhóm công trình nghiên cứu về xây dựng và hoàn thiện pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo

Các nghiên cứu về điều chỉnh pháp luật đối với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động quảng cáo cũng đã có nhiều luận văn, luận

án và các bài viết nghiên cứu đề cập như:

“Pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo” Luận văn Thạc sĩ của tác giả Vũ Vân Anh, Khoa Luật Đại học Quốc gia

Hà Nội, năm 2004; và “Điều chỉnh hoạt động quảng cáo trong khuôn khổ

pháp luật cạnh tranh tại Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ luật học của tác giả

Đoàn Tử Tích Phước, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2007;

“Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh theo Luật Cạnh tranh năm 2004” của tác giả Phùng Bích Ngọc đăng trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật,

số 6/2013, (tr 54 đến tr 60)… Ở các công trình nghiên cứu trên, dựa trên các quy định của Luật Cạnh tranh, các tác giả đã tập trung làm rõ các vấn đề lý luận về cạnh tranh trong hoạt động quảng cáo, pháp luật cạnh tranh điều chỉnh quảng cáo trong nền kinh tế thị trường; đánh giá hiện trạng hoạt động quảng cáo tại Việt Nam; luận giải về vấn đề điều chỉnh pháp luật đối với các hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh, từ đó đề xuất các giải pháp thi hành hiệu quả pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo, như điều chỉnh khái niệm cạnh tranh không lành mạnh, hoàn thiện

Trang 18

thủ tục và trình tự xử lý các vụ việc cạnh tranh, điều chỉnh chức năng nhiệm

vụ của cơ quan cạnh tranh và một số giải pháp khác…

“Pháp luật về chống quảng cáo không trung thực ở Việt Nam và một số nước trên thế giới” của PGS TS Nguyễn Bá Diến, Tạp chí Nhà nước và

Pháp luật, số tháng 10/1997 Bài viết này tác giả đã khái quát về thực trạng quảng cáo không trung thực ở Việt Nam; kinh nghiệm chống quảng cáo không trung thực ở một số nước trên thế giới và rút ra bài học trong chống quảng cáo không trung thực cho Việt Nam

“Pháp luật về kiểm soát hành vi quảng cáo gây nhầm lẫn tại Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ luật học của Nguyễn Phương Anh, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2012 Ở Luận văn này, tác giả trình bày một số vấn

đề lý luận của pháp luật về kiểm soát hành vi quảng cáo gây nhầm lẫn; phân tích thực trạng pháp luật về kiểm soát hành vi quảng cáo gây nhầm lẫn và thực tiễn áp dụng ở Việt Nam; thiết chế thi hành pháp luật về cạnh tranh và pháp luật về kiểm soát hành vi quảng cáo gây nhầm lẫn; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường hiệu lực thi hành pháp luật kiểm soát hành vi quảng cáo gây nhầm lẫn ở Việt Nam

“Áp dụng các quy định của Luật Cạnh tranh về quảng cáo so sánh và một số vấn đề phát sinh trong thực tiễn” của ThS Nguyễn Thị Trâm, Tạp chí

Kiểm sát, số 9, tháng 05/2007; “Quảng cáo so sánh trong pháp luật cạnh

tranh – một nghiên cứu so sánh luật” của TS Phan Huy Hồng, Tạp chí Nhà

nước và Pháp luật, số tháng 01/2007; “Quảng cáo dưới góc độ cạnh tranh”,

Cục Quản lý cạnh tranh (Bộ Công thương, NXB Lao động – Xã hội, Hà Nội,

năm 2008; “Một số vần đề về hành vi quảng cáo so sánh theo pháp luật Việt

Nam hiện nay” của tác giả Trương Hồng Quang, Tạp chí Nhà nước và Pháp

luật số tháng 08/2010…

Các công trình nghiên cứu trên tập trung nghiên cứu để nhận diện và phân loại các hành vi quảng cáo so sánh và phương thức điều chỉnh của pháp

Trang 19

luật cạnh tranh đối với các loại quảng cáo này Theo các tác giả, một quảng cáo so sánh cho dù có trung thực, khách quan và đúng đắn đến mức độ nào đi nữa thì cũng là một hành vi cạnh tranh không lành mạnh và cần được ngăn cấm bởi pháp luật cạnh tranh Bởi lẽ, sự so sánh đã đi ngược lại với bản chất của quảng cáo lành mạnh Kinh tế học và pháp luật về quảng cáo đều khẳng định những thông tin đưa ra cho khách hàng trong sản phẩm quảng cáo phải là những thông tin về hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp thực hiện quảng cáo Mọi hành vi dùng thông tin về sản phẩm cùng loại của người khác để tạo ấn tượng hoặc để đề cao sản phẩm của mình đều đi ngược lại bản chất của quảng cáo Hơn nữa, sự so sánh thể hiện tính chất hoặc mong muốn dựa dẫm vào sản phẩm của của người khác, nhất là những sản phẩm nổi tiếng Ví dụ, quảng cáo cho rằng sản phẩm được quảng cáo có chất lượng không thua gì một sản phẩm quen thuộc đối với người tiêu dùng hoặc một sản phẩm rất nổi tiếng trên thị trường Đồng thời, quảng cáo so sánh còn có thể nhằm đến mục tiêu

hạ thấp uy tín của sản phẩm cùng loại của doanh nghiệp khác trên thị trường liên quan hòng đề cao vị thế của mình Vì vậy, pháp luật về cạnh tranh cần phải xử lý có hiệu quả các hành vi quảng cáo so sánh nhằm bảo đảm môi trường kinh doanh bình đẳng và lành mạnh…

Sau khi khảo cứu các công trình khoa học đã công bố về xây dựng và hoàn thiện pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo ở Việt Nam thời gian qua cho thấy, các công trình này đã tiếp cận nghiên cứu về các hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh, bước đầu làm rõ một số vấn đề

lý luận về pháp luật cạnh tranh, chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo, đồng thời cũng đã tìm hiểu thực trạng pháp luật và đề ra phương hướng, quan điểm để hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này; tăng cường hiệu lực thi hành pháp luật để kiểm soát hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam Tuy nhiên, việc nghiên cứu mới chỉ tập trung vào việc điều chỉnh pháp luật đối với từng hành vi như quảng cáo so

Trang 20

sánh hoặc kiểm soát quảng cáo gây nhầm lẫn… chưa làm rõ bản chất và tính đặc thù của hoạt động cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NGOÀI NƯỚC

Theo pháp luật của các quốc gia và khu vực trên thế giới, vấn đề cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo được quan tâm là việc chống lại các hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh như quảng cáo so sánh, quảng cáo gian dối, quảng cáo gây nhầm lẫn nhằm cạnh tranh không lành mạnh Pháp luật các nước cũng đã nghiên cứu và thực hiện điều chỉnh đối với các hành vi này từ rất lâu thông qua các hiệp định, hiệp ước có tính khu vực và được nội luật hóa trong pháp luật quốc gia Hiện nay, hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh được Liên minh châu Âu điều chỉnh chính thức bởi các văn bản: Chỉ thị số 84/450/EEC của Hội đồng Liên minh châu Âu ngày 10/09/1984 về hài hòa các quy phạm pháp luật và quy định hành chính của các nước thành viên về quảng cáo nhầm lẫn (từ đây gọi tắt là Chỉ thị 84/450/EEC); Chỉ thị số 97/55/EC của Nghị viện châu Âu và Hội đồng Liên minh châu Âu ngày 06/10/1997 sửa đổi Chỉ thị 84/450/EEC nhằm bổ sung quy định về quảng cáo so sánh (từ đây gọi tắt là Chỉ thị 97/55/EC); Chỉ thị 2002/65/EC và Chỉ thị 2005/29/EC sửa đổi hai Chỉ thị 84/450/EEC và Chỉ thị 95/77/EC; gần đây nhất là Chỉ thị 2006/114/EC ngày 12/12/2006 của Nghị viện Châu Âu và Hội đồng Châu Âu hợp nhất các quy định đã được ban hành và chỉnh sửa rải rác trong các văn bản trước Đến nay các quốc gia thành viên châu Âu đều đã nội luật hóa các quy định của hai Chỉ thị nêu trên vào hệ thống pháp luật của từng quốc gia Riêng quy định điều chỉnh các hành vi quảng cáo so sánh đã được pháp luật các quốc gia tiếp nhận gần như nguyên văn

Ở Hoa Kỳ, các hành vi quảng cáo so sánh, gian dối hoặc gây nhầm lẫn thuộc sự điều chỉnh của Đạo luật Lanham Các hành vi quảng cáo hoặc marketing thông thường gian dối hoặc gây nhầm lẫn gây thiệt hại cho tiêu

Trang 21

dùng nói chung thuộc sự quản lý của Ủy ban Thương mại Liên bang (Federal

Trade Commission – FTC) theo Mục 5 của Đạo Luật về Ủy ban Thương mại

Liên bang (FTC Act) Ủy ban Thương mại Liên bang đã ban hành nhiều quy

tắc nhằm điều chỉnh các hành vi thương mại gian dối hoặc không lành mạnh mang tính hệ thống Một số quy tắc có thể kể đến bao gồm: Quy tắc về đặt hàng qua thư điện tử, Quy tắc về marketing qua điện thoại, Quy tắc không gọi

điện (Do-not-call Rule) và Đạo luật chống thư rác liên bang (CAN–SPAM

Act)… Một vài cơ quan Chính phủ khác của Hoa Kỳ cũng có thẩm quyền xét

xử chuyên biệt đối với một số loại quảng cáo đối với các sản phẩm đặc thù, ví

dụ như thuốc chữa bệnh

Bên cạnh đó, còn có một số công trình tiểu biểu khác như: “Nghệ thuật

quảng cáo” của tác giả Arrmand Dayan, Nxb Thế giới, năm 2002; tác phẩm

này khái quát về cách thức đưa thông tin quảng cáo đến công chúng nhưng cũng cảnh báo những nguy cơ và những vấn đề cần lưu ý để khỏi “phạm

luật”; “Ảnh hưởng của quảng cáo bắt chước với thương hiệu gốc” của GS

Ouidade Sabi, Đại học Sorbonne (Cộng hòa Pháp) Trong bài viết này, tác giả

đã phân tích về hành vi quảng cáo bắt chước là lấy các hình ảnh của quảng cáo chính, được biến tấu từ hình ảnh, video, âm thanh để làm hình ảnh nhại Quảng cáo bắt chước gây ra nhiều ảnh hưởng tiêu cực tới những quảng cáo thương hiệu doanh nghiệp có độ tin cậy cao về mặt kinh tế, uy tín… Các hành

vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh đều được pháp luật các nước trên thế giới coi là những hành vi kinh doanh gian dối và áp dụng biện pháp

xử lý một cách hết sức nghiêm khắc Tại Hoa Kỳ, có những quảng cáo gian dối đã bị xử phạt tới hàng triệu đôla Mỹ

Trong bài viết “Quảng cáo so sánh và chính sách cạnh tranh” -

(Comparative Advertising and Competition Policy) của hai tác giả Francesca Barigozzi (University of Bologna) và Martin Peitz (International University in Germany) cho rằng, ở Hoa Kỳ, trong thời gian gần đây, các cơ quan cạnh

Trang 22

tranh có xu hướng ủng hộ quảng cáo so sánh nếu đó là những quảng cáo công bằng, không sai lệch và tăng thông tin cho người tiêu dùng Bên cạnh đó, bài viết cũng đưa ra một số phân tích về các quy định của quảng cáo so sánh và giải thích điều gì làm cho quảng cáo so sánh là hợp pháp? Pháp luật của Mỹ

và Châu Âu quy định thế nào về quảng cáo so sánh? Các nghiên cứu này cũng đưa ra gợi ý: (i) Về điều kiện để một quảng cáo so sánh được xem là hợp pháp

mà pháp luật Liên minh Châu Âu đặt ra có thể sử dụng được cho quảng cáo

so sánh gián tiếp ở Việt Nam hay không? (ii) Pháp luật cạnh tranh Việt Nam

có thể thừa nhận tính hợp pháp của một quảng cáo so sánh trực tiếp nhưng đáp ứng một số điều kiện nào đó hay không? Đây là gợi ý có giá trị tham khảo trong quá trình nghiên cứu để xây dựng các quy định về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam

Qua các công trình nghiên cứu về quảng cáo, pháp luật điều chỉnh các hành vi quảng cáo gian dối, quảng cáo gây nhầm lẫn và quảng cáo so sánh của các quốc gia trên thế giới cũng như pháp luật quốc tế, có thể thấy rằng,

thuật ngữ “quảng cáo gây nhầm lẫn”; “quảng cáo bắt chước” xuất hiện khá

phổ biến trong các văn bản quy phạm pháp luật Các hành vi này được pháp luật về cạnh tranh các nước điều chỉnh và xem là một dạng hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh

Nghiên cứu kinh nghiệm pháp luật cạnh tranh một số nước cho thấy, dấu hiệu “gây nhầm lẫn hoặc bắt chước” thuộc dạng hành vi quảng cáo gian dối hay quảng cáo không trung thực Năm 2007, Uỷ ban Thương mại Liên

bang Hoa Kỳ (FTC - The Federal Trade Commission) đã ra lệnh phạt các công ty phân phối 4 loại thuốc giảm cân (Xenadrine EFX, One A Day Weight

Smart, Cortislim và TrimSpa) tổng số tiền 25 triệu USD vì quảng cáo sai sự thật với những dòng chữ quảng cáo lừa gạt người tiêu dùng như: “Giảm cân nhanh chóng”; “Giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư”… Uỷ ban Thương mại Liên bang Hoa Kỳ cũng có quyền can thiệp và gỡ bỏ bất kỳ quảng cáo nào

Trang 23

gây hiểu lầm cho khách hàng, bởi lẽ, theo Uỷ ban này, tính không trung thực trong quảng cáo là khả năng gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về sản phẩm

Đa số các khiếu kiện quảng cáo sai sự thật là của các đối thủ cạnh tranh, nhưng người tiêu dùng cũng có thể nộp đơn kiện và tòa án sẽ xử lý những trường hợp cụ thể, mà không theo quy tắc xử lý đơn kiện từ các đối thủ cạnh tranh

Ở Cộng hoà Pháp, pháp luật nghiêm cấm mọi hành vi quảng cáo gian dối Người cung cấp thông tin quảng cáo gian dối sẽ bị xử lý, còn các kênh truyền hình có thể bị xử lý về trách nhiệm trong khâu kiểm duyệt thông tin Chế tài do Hội đồng quốc gia về quảng cáo áp dụng

1.3 ĐÁNH GIÁ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÁC VẤN ĐỀ LUẬN ÁN KẾ THỪA

1.3.1 Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu

Cạnh tranh là quy luật cơ bản của nền kinh tế thị trường, đồng thời là động lực quan trọng thúc đẩy nền kinh tế phát triển Trong quá trình khẳng định vị trí của mình trên thương trường, các doanh nghiệp sử dụng nhiều biện pháp, cách thức và hành vi khác nhau để cạnh tranh nhằm giành được các lợi thế trong kinh doanh và tối đa hóa lợi nhuận Tuy nhiên, bên cạnh những điểm tích cực, cạnh tranh cũng có thể mang lại những tác động tiêu cực đối với nền kinh tế, nhà sản xuất cũng như người tiêu dùng

Nhằm nâng cao vị thế của mình trên thị trường, cũng như tiếp thị để bán hàng hóa, giới thiệu dịch vụ, trong quá trình thực hiện các hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp sử dụng nhiều công cụ khác nhau trong đó có hoạt động quảng cáo Quảng cáo là một trong những phương tiện hữu hiệu và thuận lợi

để thông tin về doanh nghiệp, sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ có thể đến với khách hàng và người tiêu dùng Cùng với sự gia tăng về số lượng quảng cáo, thì vấn đề cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo ngày càng

Trang 24

tinh vi và phức tạp, các hành vi quảng cáo so sánh, quảng cáo gây nhầm lẫn… xuất hiện ngày càng nhiều

Thời gian qua, các nghiên cứu đối với pháp luật về chống hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh đã được nhiều nhà khoa học quan tâm làm rõ, song các nghiên cứu về hành vi cạnh tranh, chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo vẫn còn khiêm tốn Trong khi đó, những nghiên cứu lý luận và thực tiễn về pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo sẽ là các cơ sở khoa học vững chắc để các nhà lập pháp hoàn thiện cơ chế pháp luật và thi hành pháp luật, giúp các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các doanh nghiệp, người tiêu dùng có được công cụ để chống lại các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo một cách hiệu quả Qua khảo sát nội dung các nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy, các nghiên cứu chỉ mới dừng lại ở bình luận các hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh bị xử lý theo pháp luật cạnh tranh (tác giả Phùng Ngọc Bích), hoặc nghiên cứu ở một khía cạnh nào đó của hành vi quảng cáo

so sánh trong pháp luật cạnh tranh (tác giả Phan Huy Hồng, tác giả Trương Hồng Quang), hoặc pháp luật kiểm soát hành vi quảng cáo gây nhầm lẫn (tác giả Nguyễn Phương Anh)…

Có công trình đã đề cập về điều chỉnh hoạt động quảng cáo trong khuôn khổ pháp luật cạnh tranh tại Việt Nam nhưng còn quá sơ lược (tác giả Đoàn Tử Tích Phước)… Luận án Tiến sĩ luật học về “Pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam” (của tác giả Lê Anh Tuấn) tập trung vào các biện pháp nhằm chống hành vi cạnh tranh không lành mạnh và hướng hoàn thiện pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh theo Luật Cạnh tranh năm

2004, nhưng chưa đi sâu vào phân tích, nhận dạng hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh mà mới chỉ đưa ra những thông tin chung về đặc điểm hành vi quảng cáo cạnh tranh không lành mạnh…

Trang 25

Có một số nghiên cứu đã đặt ra vấn đề thừa nhận tính hợp pháp của hành vi quảng cáo so sánh trong pháp luật của Hoa Kỳ hay Liên minh châu

Âu (tác giả Phan Huy Hồng; Francesca Barigozzi và Martin Peitzt trong bài

viết “Quảng cáo so sánh và chính sách cạnh tranh - Comparative

Advertising and Competition Policy”), nhưng chưa làm rõ việc phân định giới hạn “hợp pháp” của hành vi quảng cáo so sánh và các căn cứ loại trừ các hành vi này khỏi đối tượng điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh

Về mặt lý luận, việc xử lý các hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh thuộc chế định pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh (một trong hai chế định cơ bản của pháp luật cạnh tranh) Tuy nhiên, quy định điều chỉnh và xử lý các hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh

có những đặc thù riêng và hầu như các công trình nghiên cứu đã công bố đều không làm rõ vấn đề này Đối với chế tài áp dụng cho hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh, bên cạnh các chế tài truyền thống như xử phạt hành chính hoặc bồi thường theo chế tài dân sự thì pháp luật một số quốc gia đã đặt ra chế tài hình sự (Luật Cạnh tranh của Canada, Cộng hoà Liên bang Đức…), một số tác giả cũng đã đặt ra vấn đề vấn đề nên hay không nên

áp dụng chế tài hình sự đối với hành vi này?

Có thể nói, các công trình nghiên cứu về lý luận và thực tiễn của pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo mặc dù đã đạt được những thành tựu đáng kể, song chưa có công trình nào đặt vấn đề nghiên cứu toàn diện nhằm làm rõ khái niệm, đặc điểm, vai trò và nội dung cơ bản của pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo, chưa làm rõ được các tiêu chí để xác định mức

độ hoàn thiện của pháp luật, cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến việc hoàn thiện pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo ở Việt Nam

Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của các công trình trên đây sẽ là tài liệu

tham khảo bổ ích trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện

pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo ở Việt Nam hiện nay”

Trang 26

- Kinh nghiệm pháp luật của một số quốc gia về nhận diện và xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo

1.4 NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU

Để hoàn thành mục tiêu nghiên cứu của đề tài, luận án còn phải tiếp tục nghiên cứu những vấn đề mà các công trình nghiên cứu khoa học đã công bố chưa làm rõ, bao gồm các vấn đề sau đây:

1.4.1 Về mặt lý luận

- Xây dựng khái niệm pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo; phân tích nội dung và những đặc điểm của pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo; làm rõ vai trò của pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo ở Việt Nam

- Xây dựng hệ thống tiêu chí làm cơ sở để xác định mức độ hoàn thiện của pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo ở Việt Nam

- Phân tích làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến việc hoàn thiện pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo ở Việt Nam

- Nghiên cứu pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo ở một số nước trên thế giới, rút ra một số giá trị có thể tham khảo cho việc hoàn thiện pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo ở Việt Nam

Trang 27

1.4.2 Về thực tiễn

- Nghiên cứu tổng quan quá trình phát triển của pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo ở Việt Nam từ khi có Luật Cạnh tranh năm 2004 đến nay

- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo ở Việt Nam theo các tiêu chí đã được xác định ở phần lý luận; chỉ ra những bước phát triển, những ưu điểm cần phát huy, đồng thời tìm ra những hạn chế, nhược điểm và nguyên nhân dẫn đến những hạn chế, nhược điểm đó

- Luận chứng các quan điểm và đề xuất giải pháp cụ thể, toàn diện nhằm hoàn thiện pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo ở Việt Nam hiện nay

Trang 28

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Qua việc nghiên cứu tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề hoàn thiện pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo ở Việt Nam hiện nay cho thấy, pháp luật về cạnh tranh nói chung và pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo nói riêng là vấn đề đã được các nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu ở nhiều phương diện khác nhau Đã có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về pháp luật cạnh tranh, chống cạnh tranh không lành mạnh Ở mức độ nhất định, một số công trình trong nước đã phân tích cơ sở lý luận và thực trạng pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo hoặc các hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh theo Luật Cạnh tranh năm 2004 Một số công trình đã làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn pháp luật điều chỉnh các hành vi quảng cáo gây nhầm lẫn hoặc quảng cáo so sánh, áp dụng các quy định của Luật Cạnh tranh về quảng cáo so sánh… sau khi Luật Cạnh tranh năm 2004 được ban hành

Mặc dù chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện về hoàn thiện pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo, song kết quả nghiên cứu của các công trình đã công bố được coi là nguồn tài liệu quan trọng để nghiên cứu sinh kế thừa, tham khảo trong quá trình nghiên cứu

và hoàn thiện luận án của mình Cũng trong chương này, nghiên cứu sinh đã làm rõ giả thuyết nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu của luận án, từ đó, chỉ ra

những vấn đề cơ bản mà nội dung nghiên cứu của luận án cần triển khai

Trang 29

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT

VỀ CẠNH TRANH TRONG LĨNH VỰC QUẢNG CÁO

2.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, NỘI DUNG VÀ VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT VỀ CẠNH TRANH TRONG LĨNH VỰC QUẢNG CÁO

2.1.1 Khái quát về hoạt động cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo

2.1.1.1 Khái niệm cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo

Với tư cách là một trong những đặc trưng cơ bản của kinh tế thị trường, là năng lực phát triển của kinh tế thị trường, Từ điển Kinh doanh của Anh năm 1992 đã định nghĩa “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình”[42, tr 19] Hoạt động cạnh tranh được cuốn Black’Law Dictionary diễn tả là “sự nỗ lực hoặc hành vi của hai hay nhiều thương nhân nhằm tranh giành những lợi ích giống nhau từ chủ thể thứ ba”[87, tr 278] Từ điển Tiếng Việt “Bách khoa tri thức phổ thông”[74] cũng giải thích, cạnh tranh là sự ganh đua giữa những nhà sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất Nếu nhìn khái quát trên quy mô toàn xã hội, thì cạnh tranh là phương thức phân bổ các nguồn lực, tài nguyên một cách tối ưu, vì vậy, nó là động lực phát triển bên trong của nền kinh tế Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng, cạnh tranh có bản chất kinh tế - xã hội của nó Bản chất kinh tế của cạnh tranh thể hiện mục đích tạo lập cho mình một ưu thế chi phối thị trường và vì lợi nhuận Bản chất xã hội của cạnh tranh là thể hiện ở đạo đức kinh doanh và uy tín của mỗi chủ thể cạnh tranh trong mối quan hệ đối với những người lao động trực tiếp tạo ra tiềm lực cạnh tranh của doanh

Trang 30

nghiệp và trong mối quan hệ với người tiêu dùng cũng như đối với các đối thủ cạnh tranh khác [56, tr 19]

Là một biện pháp nâng cao khả năng cạnh tranh để thu hút khách hàng, chiếm lĩnh thị trường, quảng cáo nhằm giới thiệu đến người tiêu dùng về hoạt động kinh doanh, hàng hóa, dịch vụ bao gồm dịch vụ có mục đích sinh lời và dịch vụ không có mục đích sinh lời, giúp họ giới thiệu sản phẩm đến với khách hàng một cách nhanh chóng, là phương tiên để mở rộng thị trường sản phẩm Đối với người tiêu dùng, hoạt động quảng cáo cung cấp cho người tiêu dùng những thông tin cơ bản về tình hình thị trường, về hàng hóa dịch vụ, từ

đó nâng cao khả năng lựa chọn của họ đối với các sản phẩm trên thị trường Với ý nghĩa đó, hoạt động quảng cáo thực sự có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế và các doanh nghiệp Sự sôi động trên thị trường quảng cáo và những lợi ích mà chúng đem lại cho đời sống kinh tế - xã hội trong những năm vừa qua ở nước ta là minh chứng sống động

Cũng như bất kỳ lĩnh vực sản xuất kinh doanh nào của nền kinh tế thị trường, lĩnh vực quảng cáo cũng có sự hiện diện của quy luật cạnh tranh Tuy nhiên, do xuất phát từ những đặc điểm riêng có của hoạt động quảng cáo, tính chất cạnh tranh trong lĩnh vực này cũng có những điểm đặc thù Bản thân hoạt động quảng cáo là nhằm xúc tiến thương mại Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường hiện nay, hàng hóa, dịch vụ rất phong phú và đa dạng, người tiêu dùng gặp khó khăn trong việc phân biệt, đánh giá sản phẩm Vì vậy, mỗi doanh nghiệp đều cố gắng tạo ra một phong cách, một hình ảnh ấn tượng, một uy tín riêng cho hàng hoá, dịch vụ của mình nhằm đem lại cho sản phẩm hình ảnh riêng, dễ đi vào nhận thức của khách hàng Hay nói một cách khác, đó là đưa thương hiệu của doanh nghiệp mình ăn sâu vào tâm trí khách hàng, thúc đẩy việc tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, dịch vụ để thu được lợi nhuận cao Bên cạnh việc cạnh tranh bằng thực chất chất lượng hàng hóa, dịch vụ, các doanh nghiệp còn cạnh tranh bằng các sản phẩm quảng cáo ấn tượng để thu hút

Trang 31

khách hàng Tuy nhiên, cũng từ quá trình cạnh tranh khốc liệt đó, đã xuất hiện những hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh và các hành vi này đều được pháp luật cạnh tranh của các quốc gia trên thế giới nghiêm cấm Pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới đều đề cao tính trung thực của quảng cáo trong quá trình cạnh tranh, nghiêm cấm các quảng cáo so sánh

để hạ thấp uy tín hàng hóa, dịch vụ của các đối thủ cạnh tranh Quảng cáo phải được thể hiện một cách dễ hiểu, dễ xác định; không được gây hiểu nhầm đặc biệt liên quan đến tính chất của hàng hóa, dịch vụ, chất liệu, ngày sản xuất, chất lượng, phạm vi sử dụng, nguồn gốc, giá trị của sản phẩm, giá cả, hình thức thanh toán, bảo hành, sửa chữa, quyền sở hữu trí tuệ

Nhằm mục đích canh tranh, các chủ thể kinh doanh có thể đưa ra các sản phẩm quảng cáo mang tính dụ dỗ với các biểu hiện như có thể cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ tại mức giá rẻ bất ngờ trong một khoảng thời gian và với số lượng nhất định Việc các doanh nghiệp quảng cáo hàng hóa ở một mức giá đặc biệt với số lượng hợp lý trong một thời gian hợp lý được coi là hành vi quảng cáo dụ dỗ Quảng cáo dụ dỗ liên quan đến việc doanh nghiệp

sử dụng “giá đặc biệt” trong các quảng cáo để thu hút người tiêu dùng vào cửa hàng của họ Khi người tiêu dùng cố gắng để mua các mặt hàng có giá đặc biệt mà doanh nghiệp đã nói với họ được bán ra và thay vì cung cấp một một mức giá theo quy định Nếu một doanh nghiệp không thể chứng minh rằng họ đã cung cấp đặc biệt với phương tiện hợp lý đáp ứng nhu cầu mong đợi, đó cũng chính là quảng cáo dụ dỗ

Cũng có những loại quảng cáo miêu tả gây nhầm lẫn về những hoạt động kinh doanh cụ thể như đưa ra những giới thiệu sai trái hoặc gây nhầm lẫn về chất liệu đặc biệt về lợi nhuận, rủi ro hoặc bất kỳ khía cạnh nào khác của hoạt động kinh doanh mà doanh nghiệp đó quảng cáo Việc quyết định xem quảng cáo có gây nhầm lẫn hay không cần phải cân nhắc tất cả các đặc điểm và đặc biệt là các thông tin liên quan trong quảng cáo về đặc tính của

Trang 32

hàng hóa hay dịch vụ, giá cả và cách thức tính giá và các điều kiện mà hàng hóa được cung ứng hay dịch vụ được cung cấp Còn quảng cáo gian dối là quảng cáo che dấu bản chất thực nhằm cạnh tranh không lành mạnh bao gồm quảng cáo gian dối hoặc quảng cáo ngầm được thực hiện thông qua các sự kiện bán hàng, trong các ấn phẩm bán hàng hoặc trên các phương tiện đại chúng khác bao gồm cả internet

Cũng có những sản phẩm quảng cáo nhằm mục đích so sánh khi nó so sánh hàng hóa hay dịch vụ không đáp ứng được đúng nhu cầu tương tự hoặc không hướng vào mục đích tương tự; so sánh không khách quan một hoặc nhiều đặc tính quan trọng, đặc tính liên quan, đặc tính được kiểm chứng và tính đặc trưng của hàng hóa hay dịch vụ hoặc giá của hàng hóa hay dịch vụ đó; gây ra sự xáo trộn trên thị trường giữa người quảng cáo và đối thủ cạnh tranh hoặc giữa những hàng hóa tương ứng của họ hoặc giữa tên thương mại của người quảng cáo và tên thương mại của đối thủ cạnh tranh; lấy ưu điểm của tên thương mại của đối thủ cạnh tranh một cách không lành mạnh hoặc làm ảnh hưởng uy tín tên thương mại của đối thủ cạnh tranh; quảng cáo hàng hóa hay dịch vụ được nhái hay mô phỏng hàng hóa hay dịch vụ đã được bảo

hộ tên thương mại

Như vậy, có thể hiểu một cách khái quát: “Cạnh tranh trong lĩnh vực

quảng cáo là sự ganh đua giữa những nhà sản xuất hàng hoá, các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế nhằm tạo ra một phong cách, một hình ảnh ấn tượng, một uy tín riêng cho hàng hoá, dịch vụ của mình để giành các điều kiện tiêu thụ sản phẩm hàng hoá, dịch vụ và thị trường có lợi nhất”

2.1.1.2 Đặc điểm các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo

Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh là một vấn đề cần quan tâm trong nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển, hành vi quảng cáo

Trang 33

không chỉ đơn giản là hành vi quảng cáo cho sản phẩm hay doanh nghiệp mà còn là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, tổ chức cá nhân tiến hành hoạt động kinh doanh Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh được coi là một trong các hành vi của cạnh tranh không lành mạnh Hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh bên cạnh những đặc điểm chung của hành

vi cạnh tranh không lành mạnh, nó cũng có những đặc điểm riêng có như sau:

Thứ nhất, hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh là

một hành vi cạnh tranh do các chủ thể quảng cáo trên thị trường thực hiện nhằm mục đích lợi nhuận Trên thị trường cạnh tranh, mỗi hành vi kinh doanh

của một doanh nghiệp cũng chính là hành vi cạnh tranh trong tương quan lợi ích với các doanh nghiệp đối thủ Để thu được lợi nhuận, doanh nghiệp buộc phải quảng cáo cạnh tranh với đối thủ hoạt động trong cùng lĩnh vực nhằm thu hút khách hàng về phía mình Chủ thể thực hiện hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh là các doanh nghiệp thực hiện hoạt động quảng cáo trên thị trường, bao gồm mọi tổ chức hay cá nhân tham gia tìm kiếm lợi nhuận một cách thường xuyên, chuyên nghiệp

Thứ hai, hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh là

hành vi có tính chất đối lập, đi ngược lại các thông lệ tốt đẹp và các nguyên tắc đạo đức kinh doanh, có thể hiểu là các quy tắc xư sự chung đã được chấp

nhận rộng rãi và lâu dài trong hoạt động kinh doanh trên thị trường Các quy định về quảng cáo cạnh tranh không lành mạnh được hình thành và hoàn thiện qua bề dày thực tiễn phát triển kinh tế xã hội Để có thể phán định một hành

vi có đi ngược lại những quy tắc xư sự chung trong kinh doanh, đòi hỏi cơ quan xử lý hành vi quảng cáo cạnh tranh không lành mạnh cần hiểu biết và đánh giá sâu sắc về thực tiễn thị trường

Thứ ba, hành vi quảng cáo cạnh tranh không lành mạnh cần được

ngăn chặn khi nó gây thiệt hại hoặc có khả năng gây thiệt hại cho đối tượng khác. Hành vi quảng cáo cạnh tranh không lành mạnh là hành vi gây thiệt hại

Trang 34

nhất định dù thiệt hại này đã xảy ra hay chưa xảy ra thì cũng cần được ngăn chặn Những thiệt hại cũng gắn liền với trách nhiệm bồi thường thiệt hại nhằm bảo vệ quyền lợi cho các bên Đặc điểm này mang ý nghĩa về tố tụng và gắn liền với yêu cầu bồi thường thiệt hại

Trong lĩnh vực quảng cáo, hoạt động canh tranh chủ yếu là việc các doanh nghiệp đưa ra sản phẩm quảng cáo nhằm khuếch trương thương hiệu hàng hóa, dịch vụ để thu hút khách hàng Với mục tiêu này, các hành vi quảng cáo nhằm mục đích cạnh tranh không lành mạnh có thể nhằm so sánh để khẳng định tính ưu điểm trong hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp này so với doanh nghiệp khác; hoặc đưa ra nội dung quảng cáo gian dối, gây nhầm lẫn

để lừa đảo người tiêu dùng, làm phương hại đến uy tín của đối thủ cạnh tranh Đối với hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh, hiện chưa có khái niệm định danh Cũng như nhiều hành vi cạnh tranh không lành mạnh khác, các nhà lập pháp vẫn hay liệt kê danh sách các hành vi thay cho việc xây dựng một khái niệm cụ thể Việc liệt kê những hành vi bị coi là quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh này có ưu điểm là có thể làm rõ hơn biểu hiện cụ thể của các hành vi, nhưng chưa khái quát được bản chất và tính nguy hại của hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo Tuy nhiên, ở chừng mực nào đó, các quy định của pháp luật cũng đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc thực hiện và kiểm soát tình hình chấp hành và thực thi pháp luật trong lĩnh vực quảng cáo của các doanh nghiệp Có thể chỉ

ra các nhóm hành vi chủ yếu sau đây:

(i) Quảng cáo nhằm so sánh trực tiếp hàng hoá, dịch vụ của mình với hàng hoá, dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác;

(ii) Quảng cáo có nội dung và ý đồ bắt chước một sản phẩm quảng cáo khác để gây nhầm lẫn cho khách hàng về đối tượng sản phẩm hàng hóa, dịch

vụ được quảng bá trước công chúng;

Trang 35

(iii) Quảng cáo đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng

2.1.2 Khái niệm, đặc điểm của pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo

2.1.2.1 Khái niệm pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo

Theo lý luận về Nhà nước và pháp luật, khái niệm pháp luật có thể được hiểu theo nghĩa rộng và hẹp tuỳ thuộc yêu cầu tiếp cận và giải quyết các vấn đề cụ thể của hệ thống pháp luật Theo nghĩa hẹp, pháp luật là tổng thể các quy tắc xử sự, do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của nhà nước và phản ánh những nhu cầu xã hội khách quan, điển hình, phổ biến để điều chỉnh các quan hệ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội Theo nghĩa rộng, pháp luật là tổng thể các quy tắc xử sự

và các nguyên tắc, định hướng, mục đích pháp luật, do các cơ quan nhà nước

có thẩm quyền ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của nhà nước và phản ánh những nhu cầu xã hội khách quan, điển hình, phổ biến để điều chỉnh các quan hệ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội

Pháp luật về cạnh tranh (bao gồm pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh và pháp luật chống hạn chế cạnh tranh, kiểm soát độc quyền) đã từ lâu trở thành bộ phận pháp luật không thể thiếu ở các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển Bởi lẽ, nó chính là công cụ trực tiếp để bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh trong kinh doanh; là công cụ để duy trì động lực phát triển nền kinh tế Pháp luật về cạnh tranh đã xuất hiện từ hơn 100 năm nay, bắt đầu được coi là một bộ phận của Luật Dân sự, sau đó, trở thành lĩnh vực pháp luật riêng với mục đích nhằm chống lại các hành vi cạnh tranh không lành mạnh Pháp luật về chống hạn chế cạnh tranh và độc quyền ra đời khi ở nền kinh tế của một số nước tiên tiến xuất hiện việc tập trung quyền lực dưới hình thức tờ-rớt Việc nghiên cứu xây dựng pháp luật về cạnh tranh nằm trong quá trình nghiên cứu tổng thể hình thành chính sách cạnh tranh của nền

Trang 36

kinh tế Một số trường phái kinh tế đã thể hiện quan điểm trong việc xây dựng chính sách cạnh tranh là: Trường phái tân tự do (trường phái Freiburg); Mô hình chính sách cạnh tranh theo hình thái Oligopoly mở rộng của Kantzenbach; Trường phái tân cổ điển; Trường phái Chicago về vấn đề chống tờ-rớt [42, tr 12-15] Ngày nay, khi mà cơ chế thị trường đang được coi là cơ chế lý tưởng cho sự vận hành nền kinh tế ở mỗi quốc gia và kinh tế thế giới, thì vấn đề bảo vệ môi trường cạnh tranh lành mạnh trong kinh doanh là vấn

đề được quan tâm, đặc biệt là việc bảo đảm quyền cạnh tranh của các chủ thể kinh doanh, bảo đảm cơ cấu thị trường, bảo đảm sự hợp lý trong tương quan lợi ích của các chủ thể kinh doanh trên thị trường Như phần trên đã trình bày, các hành vi cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo chủ yếu là các hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh, là các hành vi cụ thể xâm hại lợi ích trực tiếp của các đối thủ cạnh tranh và lợi ích của người tiêu dùng xã hội Bởi vậy, các hành vi này là đối tượng điều chỉnh trực tiếp của chế định pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh

Pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo trước hết là một bộ phận của pháp luật cạnh tranh, là một lĩnh vực pháp luật chuyên ngành, thực hiện điều chỉnh các quan hệ cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo Xuất phát từ nhu cầu và đòi hỏi khách quan của nền kinh tế, Nhà nước ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo Các quy phạm pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo là các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung, là khuôn mẫu, giới hạn

để các chủ thể thực hiện các hành vi cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo, đồng thời, các quy phạm pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo cũng là tiêu chí để đánh giá tính hợp pháp hay không hợp pháp của các hành

vi mà các chủ thể cạnh tranh thực hiện trong lĩnh vực quảng cáo Pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo bao gồm các quy phạm pháp luật xác định hành vi quảng cáo bị coi là cạnh tranh không lành mạnh; trách nhiệm pháp lý của các chủ thể trực tiếp thực hiện hành vi; trình tự, thủ tục khiếu nại

Trang 37

và thủ tục giải quyết, các biện pháp chế tài được áp dụng nhằm đảm bảo hoạt động quảng cáo được diễn ra một cách công bằng và không bị tác động tiêu cực bởi những hành vi cạnh tranh không lành mạnh, không phù hợp chuẩn mực đạo đức

Trong lĩnh vực quảng cáo, chủ thể thực hiện các hành vi cạnh tranh là các chủ thể quảng cáo, trong đó, có thể là người quảng cáo (tổ chức, cá nhân

có yêu cầu quảng cáo sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của mình); hoặc là người kinh doanh dịch vụ quảng cáo (tổ chức, cá nhân thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình quảng cáo theo hợp đồng cung ứng dịch vụ quảng cáo với người quảng cáo); hoặc là người phát hành quảng cáo (tổ chức,

cá nhân dùng phương tiện quảng cáo thuộc trách nhiệm quản lý của mình giới thiệu sản phẩm quảng cáo đến công chúng) Các chủ thể này đã thực hiện các hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh xâm phạm lợi ích của các đối thủ cạnh tranh và quyền lợi người tiêu dùng là đối tượng điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh, nhưng thuộc chế định pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh Bởi vậy, việc điều chỉnh các hành vi loại này mang tính chất của luật tư (dân luật) nhiều hơn [44, tr 45] Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ áp dụng pháp luật để xử lý khi nhận được cáo giác từ phía người bị xâm hại (trong đó có doanh nghiệp bị cạnh tranh không lành mạnh

và người tiêu dùng xã hội)

Từ các phân tích trên đây có thể đưa ra khái niệm: “Pháp luật về cạnh

tranh trong lĩnh vực quảng cáo là tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, điều chỉnh các hành vi và quan hệ cạnh tranh của các chủ thể kinh doanh trong lĩnh vực quảng cáo, xác định các hành vi quảng cáo bị coi là cạnh tranh không lành mạnh; quy định trách nhiệm pháp

lý của các chủ thể thực hiện hành vi; trình tự, thủ tục khiếu nại và giải quyết, các biện pháp chế tài được áp dụng nhằm mục đích đảm bảo để các hoạt

Trang 38

động cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo được diễn ra một cách công bằng, bảo vệ môi trường cạnh tranh lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo”

2.1.2.2 Đặc điểm pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo

Pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo là một bộ phận hợp thành của hệ thống pháp luật, vì vậy, nó mang những đặc trưng cơ bản của pháp luật nói chung như: Các quy định pháp luật là do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của Nhà nước, có tính bắt buộc chung, tính quy phạm phổ biến và tính hệ thống, phản ánh những nhu cầu khách quan, điển hình, phổ biến và có tính công bằng đối với hoạt động cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo, điều chỉnh các mối quan hệ cạnh tranh phát sinh, tồn tại và phát triển trong lĩnh vực quảng cáo Tuy nhiên, pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo là một lĩnh vực pháp luật chuyên ngành, vì vậy, nó có những đặc điểm riêng cơ bản sau:

Thứ nhất, về bản chất: Pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo là

một bộ phận của pháp luật cạnh tranh, thuộc chế định pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh, vì vậy, nó cũng mang những đặc điểm của pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh như: (i) Được tiếp cận từ mặt trái của hoạt động cạnh tranh, tức là chỉ ra những hành vi bị ngăn cấm trong hoạt động cạnh tranh; (ii) Quy định không triệt để về mặt nội dung, tức là pháp luật không thể

dự liệu triệt để toàn bộ các hành vi phản cạnh tranh tồn tại trong nền kinh tế Quy định của luật thường đặt ra điều khoản mở cho phép cơ quan có thẩm quyền có thể bổ sung các hành vi mới xuất hiện có ảnh hưởng xấu đến cạnh tranh và xét thấy cần điều chỉnh, ngăn chặn Mặt khác, đối với các hành vi đã được quy định trong luật, bên cạnh một số hành vi bị cấm đoán tuyệt đối, nhiều hành vi khác được xem xét theo nguyên tắc hợp lý cho phép cơ quan xử

lý chiếu theo hoàn cảnh thực tế của vụ việc để cân nhắc xem xét hành vi có xâm hại đến cạnh tranh và ảnh hưởng xấu cho xã hội hay không; (iii) Có tính

Trang 39

mềm dẻo và linh hoạt trong quá trình áp dụng pháp luật để xử lý hành vi vi phạm và áp dụng các biện pháp chế tài

Thứ hai, về mục đích điều chỉnh: Mục đích điều chỉnh của pháp luật

cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo là nhằm: (i) Ngăn chặn các hành vi quảng cáo sai trái bằng việc quy định các quyền và nghĩa vụ cụ thể của các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo, các chủ thể có căn cứ pháp lý để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình, tránh vi phạm pháp luật và có thể tố giác hành vi vi phạm luật; (ii) Giải quyết các tranh chấp phát sinh và xử lý vi phạm nhằm mục đích răn đe, giáo dục; (iii) Xây dựng nguyên tắc, chuẩn mực ứng xử trong kinh doanh và các hoạt động liên quan đến quảng cáo; (iv) Xây dựng trật tự kinh doanh lành mạnh, công bằng trong lĩnh vực quảng cáo, khuyến khích cạnh tranh và phát triển kinh doanh một cách lành mạnh thông qua việc bảo vệ quyền lợi của mọi chủ thể kinh doanh, các đối thủ cạnh tranh, người tiêu dùng cũng như nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về kinh tế

Thứ ba, về phạm vi điều chỉnh: Phạm vi điều chỉnh pháp luật cạnh tranh

trong lĩnh vực quảng cáo là các quan hệ cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo được pháp luật cạnh tranh điều chỉnh trong mối quan hệ với pháp luật quảng cáo và pháp luật chuyên ngành khác có liên quan Theo đó, phạm vi điều chỉnh pháp luật đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo được xác định bởi các quan hệ giữa các chủ thể là Nhà nước, giữa những người thực hiện dịch vụ quảng cáo và quan hệ với khách hàng phát sinh bởi nhóm các hành vi quảng cáo so sánh, quảng cáo bắt chước và quảng cáo gian dối, gây nhầm lẫn…

Thứ tư, mối quan hệ của pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo với pháp luật chuyên ngành: Pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực

quảng cáo quy định và điều chỉnh các hoạt động cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo, bên cạnh đó, các hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành

Trang 40

mạnh cũng được quy định trong các luật chuyên ngành như Luật Quảng cáo, Luật Thương mại, Luật Dược, Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa, Luật Kinh doanh Bảo hiểm và các văn bản hướng dẫn thi hành Tuy nhiên, Luật Cạnh tranh đã quy định, trường hợp có sự khác nhau giữa quy định của Luật Cạnh tranh với quy định của luật khác về hành vi hạn chế cạnh tranh, cạnh tranh không lành mạnh thì áp dụng quy định của Luật Cạnh tranh Quy định này là nền tảng pháp lý giúp đảm bảo sự tương thích, phù hợp và thống nhất của cả hệ thống pháp luật liên quan đến vấn đề cạnh tranh Vì vậy, việc xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo phải dẫn chiếu áp dụng pháp luật cạnh tranh Mặc dù vậy, nhưng trong quá trình áp dụng pháp luật để xử lý vi phạm, Luật Cạnh tranh không có chế tài riêng mà

sử dụng chế tài của các ngành luật khác, bao gồm từ chế tài dân sự (bồi thường thiệt hại) của Luật Dân sự, chế tài hành chính (buộc chấm dứt hành vi

vi phạm, phạt tiền) của Luật Hành chính, chế tài hình sự (áp dụng đối với các hành vi vi phạm luật cạnh tranh đã hội đủ yếu tố cấu thành tội phạm) của Luật Hình sự Vì vậy, pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo có mối liên

hệ chặt chẽ với pháp luật chuyên ngành

2.1.3 Nội dung pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo

Sự tác động của quảng cáo đến đời sống kinh tế, xã hội là rất lớn, dù đó

là tác động theo hướng tiêu cực hay tích cực thì ảnh hưởng của nó đến nhà sản xuất và người tiêu dùng đều không nhỏ Bên cạnh những lợi ích mà quảng cáo đem lại thì trong hoạt động quảng cáo cũng phát sinh những tác động tiêu cực cần được ngăn chặn Vì mục đích lợi nhuận mà các doanh nghiệp đã quảng cáo không trung thực, gây nhầm lẫn để lừa dối khách hàng, gây phản cảm đến người tiêu dùng và ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh Có hành

vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh với mục đích nói xấu, bôi nhọa danh dự, uy tín của doanh nghiệp khác Vì vậy, để đảm bảo trật tự xã hội, đảm bảo lợi ích của nhà sản xuất, lợi ích của người tiêu dùng thì cần phải

Ngày đăng: 05/05/2017, 11:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Vân Anh, Pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo ở Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ – Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo ở Việt Nam
2. Nguyễn Phương Anh (2006, Pháp luật về kiểm soát hành vi quảng cáo gây nhầm lẫn tại Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ – Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về kiểm soát hành vi quảng cáo gây nhầm lẫn tại Việt Nam
3. Chương trình hỗ trợ hậu gia nhập WTO của Bộ Công thương công bố báo cáo “Thực thi pháp luật cạnh tranh liên quan tới lĩnh vực sở hữu trí tuệ”, Hà Nội, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực thi pháp luật cạnh tranh liên quan tới lĩnh vực sở hữu trí tuệ
5. Cơ quan Phát triển Quốc tế Canada (CIDA), (2004), Luật cạnh tranh Canada và bình luận, Dự án hỗ trợ thực thi chính sách (PIAP) Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Luật cạnh tranh Canada và bình luận
Tác giả: Cơ quan Phát triển Quốc tế Canada (CIDA)
Năm: 2004
6. Cục Quản lý Cạnh tranh Bộ Công thương (2005), Thực thi Luật thương mại lành mạnh ở Đài Loan, tập 2, Nxb. Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực thi Luật thương mại lành mạnh ở Đài Loan
Tác giả: Cục Quản lý Cạnh tranh Bộ Công thương
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2005
7. Cục Quản lý Cạnh tranh Bộ Công thương (2007), Luật chống độc quyền Nhật Bản và kinh nghiệm thực thi, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật chống độc quyền Nhật Bản và kinh nghiệm thực thi
Tác giả: Cục Quản lý Cạnh tranh Bộ Công thương
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2007
8. Cục Quản lý Cạnh tranh Bộ Công thương (2008), Quảng cáo dưới góc độ cạnh tranh, Nxb. Lao động Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quảng cáo dưới góc độ cạnh tranh
Tác giả: Cục Quản lý Cạnh tranh Bộ Công thương
Nhà XB: Nxb. Lao động Xã hội
Năm: 2008
9. Cục Quản lý cạnh tranh Bộ Công Thương (2015) tài liệu Hội nghị “Pháp luật cạnh tranh phòng vệ thương mại và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Pháp luật cạnh tranh phòng vệ thương mại và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng”
10. Cục Quản lý cạnh tranh và Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản, Báo cáo rà soát Luật cạnh tranh Việt Nam, trong khuôn khổ của Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo rà soát Luật cạnh tranh Việt Nam
15. Cục Quản lý Cạnh tranh, Báo cáo thường niên năm 2014 16. Cục Quản lý Cạnh tranh, Báo cáo thường niên năm 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thường niên năm 2014" 16. Cục Quản lý Cạnh tranh
21. Bùi Ngọc Cường (2004), Một số vấn đề về quyền tự do kinh doanh trong pháp luật kinh tế hiện hành ở Việt Nam, sách chuyên khảo, Nxb.Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về quyền tự do kinh doanh trong pháp luật kinh tế hiện hành ở Việt Nam
Tác giả: Bùi Ngọc Cường
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2004
22. Bùi Ngọc Cường (2002), Vai trò của pháp luật kinh tế trong việc bảo đảm quyền tự do kinh doanh, Tạp chí Khoa học pháp lý số 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của pháp luật kinh tế trong việc bảo đảm quyền tự do kinh doanh
Tác giả: Bùi Ngọc Cường
Năm: 2002
23. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
24. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Tài liệu của Văn phòng Trung ương Đảng ấn hành, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2016
25. Nguyễn Hữu Đễ, 2013, “Đạo đức kinh doanh ở Việt Nam, một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Tạp chí Triết học, (12) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo đức kinh doanh ở Việt Nam, một số vấn đề lý luận và thực tiễn”," Tạp chí Triết học
26. PGS.TS. Nguyễn Bá Diến (1997), “Pháp luật về chống quảng cáo không trung thực ở Việt Nam và một số nước trên thế giới”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, (10) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về chống quảng cáo không trung thực ở Việt Nam và một số nước trên thế giới”, "Tạp chí Nhà nước và Pháp luật
Tác giả: PGS.TS. Nguyễn Bá Diến
Năm: 1997
32. TS. Đỗ Văn Đại (2003), Xung đột giữa Luật C ạnh tranh với luật chuyên ngành khác, http://vnexpress.net/Vietnam/Ban-doc-viet/2003/07/3B9CA167/ Link
40. Hoàng Xuân Hoà (2016), Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, http://www.qdnd.vn/chinh-tri/cac-van-de/hoan-thien-the-che-kinh-te-thi-truong-dinh-huong-xa-hoi-chu-nghia-o-viet-nam-471501 Link
92. Federal Trade Commission (1980) – https://www.ftc.gov/public- statements/1980/12/ftc-policy-statement-unfairness Link
99. The Act Unfair Competition of Federal Republic of Germany; http://www.gesetze-im-internet.de/englisch_uwg/englisch_uwg.html Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm