1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Huy động vốn Quản trị ngân hàng thương mại

22 258 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 382,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

quản trị ngân hàng thương mại×cau hỏi on tập quản trị ngan hang thương mại×câu hỏi ôn tập quản trị ngân hàng thương mại× Từ khóa quản trị ngân hàng thương mạislide quản trị ngân hàng thương mạislide bài giảng quản trị ngân hàng thương mạibài giảng môn quản trị ngân hàng thương mạigiáo trình quản trị ngân hàng thương mại peter rosedownload giáo trình quản trị ngân hàng thương mại

Trang 1

Để nâng cao hiệu quả huy động vốn, biện pháp kinh tế mà ngân hàng có thể áp dụng đối với khách hàng

là chính sách lãi suất huy động hấp dẫn, tổ chức khuyến mãi tặng quà cho khách hàng gửi lớn, gửi nhiều, khách hàng truyền thống thông qua cơ chế huy động

Biện pháp kỹ thuật

Biên pháp kỹ thuật là những biện pháp mang tính kỹ thuật trong nghiệp vụ huy động vốn nhằm tạo cho công tác huy động cũng như hoàn trả tiền gửi, thanh toán giao dịch cho khách hàng một cách nhanh chóng thuận lợi và chính xác Biện pháp kỹ thuật trong mở rộng huy động vốn của ngân hàng sẽ bao gồm những giải pháp mang tính chất công nghệ, tăng tiện ích phục vụ khách hàng và những giải pháp nâng cao trình độ nghiệp vụ của nhân viên, trực tiếp hay gián tiếp tham gia vào công tác huy động vốn

Biện pháp tâm lý

Tâm lý khách hàng khi gửi tiền vào ngân hàng ngoài việc được hưởng lãi suất ngân hàng trả cao, phục vụ thanh toán kịp thời, còn là sự yên tâm và cảnh giác an toàn cao Vì vậy, đáp ứng được yêu cầu đó về mặt tâm lý đó của khách hàng, tức là tạo sự uy tín và lòng tin đối với khách hàng là yếu tố thành công cho hoạt động huy động vốn của ngân hàng Ngày nay các NHTM luôn không ngừng hoàn thiện mình và nâng cao uy tín trên thị trường để thu hút khách hàng Việc ngân hàng tham gia bảo hiểm tiền gửi đã phần nào đêm lại sự yên tâm cho khách hàng gửi tiền vào ngân hàng

Ngoài yếu tố khách hàng thì chính sách khuyến khích nhân viên ngân hàng đóng vai trò quan trọng Bên cạnh việc không ngừng nâng cao tiền lương và thu nhập cho cán bộ thì cần thiết phải chăm lo đời sống tinh thần cho nhân viên, đó là: Niềm vui và sự thoải mái trong công việc, được kính trọng, được giao tiếp rộng rãi, khen thưởng kịp thời, tạo điều kiện thăng tiến đóng góp xứng đáng vào sự phát triển chung của ngân hàng

Ngoài ra, việc quảng bá uy tín, tên tuổi của ngân hàng trên các phương tiẹn quảng cáo, truyền thông cũng

sẽ tạo ra hình ảnh đẹp của ngân hàng Từ đó củng cố niềm tin và tâm lý yên tâm của khách hàng khi họ gửi tiền vào ngân hàng

Các biện pháp kinh tế, kỹ thuật nêu trên cũng có tác dụng tác động vào tâm lý khách hàng và nhân viên ngân hàng, từ đó tạo ra xu hướng tốt hơn trong công tác huy động vốn của ngân hàng

Việc thực hiện đồng bộ các biện pháp kinh tế, kỹ thuật và tâm lý có tác động tích cực đến hoạt động kinh doanh ngân hàng và tất yếu có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả công tác huy động vốn của các NHTM Các biện pháp tăng cường huy động vốn của các ngân hàng

Thứ nhất, chi nhánh Ngân hàng Nhà nước Thành phố cần tăng cường sự chỉ đạo tích cực, hỗ trợ mạnh mẽ cho các ngân hàng trên địa bàn.Chẳng hạn liên kết với các phương tiện truyền thông của Thành phố xây dựng một vài chương trình định kỳ, giới thiệu dưới nhiều hình thức khác nhau, những đổi mới của hệ

Trang 2

thống ngân hàng giúp công chúng hiểu, biết rõ, dần tiếp cận, củng cố lòng tin và giao dịch với ngân hàng Hoặc Ngân hàng Nhà nước có những hình thức khuyến khích các ngân hàng tự cân đối được vốn tại chỗ Thứ hai, mỗi ngân hàng phải hoạch định một chiến lược huy động vốn khả thi và phù hợp với nhu cầu đầu tư của nền kinh tế Thành phố, trong đó đặc biệt chú trọng đến nguồn vốn trung dài hạn bằng các giải pháp tích cực và khẩn trương

Thứ ba, bộ phận makerting của mỗi ngân hàng cần có những chính sách cụ thể đối với khách hàng tiền gởi, tiến hành những điều nghiên cần thiết đối với bộ phận thị trường này; nắm bắt đặc điểm thu nhập, chi tiêu và mong muốn của từng nhóm khách hàng để có các hình thức và biện pháp tiếp cận, phát triển quan

hệ thích hợp

Thứ tư, từng ngân hàng tiếp tục quá trình đổi mới công nghệ, tận dụng tối đa những ưu thế mà công nghệ mới mang lại Trong quá trình chuyển đổi, tuyệt đối không để những sai sót nhầm lẫn nảy sinh ảnh hưởng đến lợi ích hợp pháp của người gởi tiền, gây mất lòng tin nơi họ, tạo dư luận không tốt về ngân hàng Tất nhiên mỗi nhân viên ngân hàng cần có thời gian nhất định để thích ứng với công nghệ mới, giới chức lãnh đạo các ngân hàng cần có những biện pháp động viên, khuyến khích giúp đỡ, thậm chí cả đòi hỏi, từng nhân viên phải nổ lực hết khả năng để sớm thích nghi

Thứ năm, các ngân hàng nên tiếp tục đa dạng hoá sản phẩm huy động, nâng cao hơn nữa tính tiện ích thông qua chất lượng và tính đa dạng của sản phẩm Về lâu dài, các ngân hàng phải đạt được mục tiêu: bất kỳ cá nhân tổ chức nào có nguồn tiền chưa sử dụng, đều có thể tìm kiếm ở ngân hàng một loại hình huy động nào đó phù hợp với mong muốn của họ Riêng đối với hình thức huy động tiết kiệm kỳ hạn truyền thống, cần có những sửa đổi theo hướng linh hoạt: cho phép khách hàng rút tiền trước hạn từng phần, trả lãi định kỳ với những món gởi lớn, khách hàng được quyền lựa chọn kỳ hạn bất kỳ trong giới hạn kỳ hạn tối đa của ngân hàng v.v

Thứ sáu, các ngân hàng tổng nên sớm cho phép các chi nhánh trên địa bàn thực hiện một số sản phẩm mà ngân hàng tổng đã làm, chẳng hạn dịch vụ đầu tư tự động với những khách hàng có số dư tiền gởi giao dịch lớn, tạo điều kiện cho các chi nhánh đa dạng hoá sản phẩm

Thứ bảy, về lâu dài Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước và Uỷ ban chứng khoán quốc gia cần có định hướng

và giải pháp cho quá trình hình thành và phát triển thị trường chứng khoán, tạo điều kiện cho dịch vụ đại

lý chứng khoán của các ngân hàng phát triển mạnh Qua đó sẽ hình thành một kênh huy động vốn mới nhiều tiềm năng cho các ngân hàng

Thứ tám, Chính quyền dia phuong cần có những chính sách hỗ trợ cần thiết cho hệ thống ngân hàng trên địa bàn, định hướng quảng bá thông tin ngân hàng trên các phương tiện thông tin đại chúng, xử lý nghiêm khắc những trường hợp lừa đảo qua ngân hàng v.v

Tóm lại, hoạt động của hệ thống ngân hàng luôn tạo ra những kênh dẫn vốn hết sức quan trọng đối với nền kinh tế, dù ở bất kỳ phạm vi nào Để đáp ứng được nhu cầu vốn cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội Thành phố, các ngân hàng trên địa bàn phải cố gắng và nổ lực nhiều hơn nữa

Các thành phần của nguồn vốn huy động:

Xem thêm slide trang 20

Nguồn vốn bị động

Tiền gửi không kỳ hạn

Trang 3

Tiền gửi có kỳ hạn

Tiền gửi khác

Nguồn vốn chủ động

Phát hành chứng chỉ tiền gửi

Phát hành kỳ phiếu, trái phiếu ngân hàng

Vay vốn trên thị trường tiền tệ

Vốn tiền gửi : là tài sản bằng tiền của các tổ chức và cá x mà NH đang tạm thời quản lý sử dụng với trách

nhiệm hoàn trả Bao gồm : theo mục đích gửi tiên (TG thanh toán, Tg tiết kiệm), theo chủ thể gửi tiền(Cá x;tổ chức DN,kho bạc,TCTD),theo thời hạn gửi tiền(ko kì hạn,có kì hạn)

- Đặc điểm :

+ chiếm tỷ trọng lớn trong tồng nguồn vốn của NH

+ các hoạt động NH hầu hết dựa vào nguồn vốn này

+ không ổn định, khách hàng có thể rút tiền của họ mà không bị ràng buộc, nếu có ngân hàng chỉ phạt bằng việc trả lãi thấp hơn lãi đã cam kết với k/hàng

* Các nhân tố ảnh hưởng và biện pháp nâng cao khả năng huy động vốn

- Nhân tố khách quan :

+ Hành lang pháp lý

+ Yếu tố kinh tế

+ Yếu tố chính trị

+ Yếu tố văn hóa- xã hội- dân cư

+Yếu tố tâm lý và thói quen tiêu dùng

+ Cung ứng đa dạng các dịch vụ ,xây dựng điểm giao dịch thuận lợi

+thực hiện c/sách marketing ngan hàng năng động

+kết hợp lợi ích của khách hàng với NH

+nâng cao hiệu quả sử dụng vốn

+thực hiện bảo hiểm tiền gửi

+nâng cao chất lượng đội ngũ nhân viên

Trang 4

+Xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách khách hàng

+Xem xét phân loại khách hàng để có những chính sách đặc biệt đối với những khách hàng có nguồn tiền gửi lớn

+Thực hiện chính sách tiếp thị, khuyến mãi theo hướng dẫn của NHCT

+Tìm hiểu nguyên nhân của khách hàng ngừng giao dịch, rút tiền gửi chuyển sang ngân hàng khác để có biện pháp thích hợp nhằm khôi phục lại và duy trì quan hệ tốt với khách hàng

Vốn đi vay

Trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng khi dư vốn, đủ vốn, thiếu vốn là lẽ tất nhiên, đặc biệt là vốn trung

và dài hạn Khi một NHTM thiếu vốn để đáp ứng nhu cầu vốn của khách hàng hay cho mục đích đầu tư phát triển mà các nguồn khác chưa đủ đáp ứng thì NHTM có thể đi vay Nghiệp vụ vay vốn của NHTM

có thể chia thành hai loại chính: Vay thông qua phát hành giấy tờ có giá và vay trực tiếp

Vay thông qua phát hành giấy tờ có giá:

Phát hành giấy tờ có giá là nghiệp vụ huy động vốn của NHTM dưới hình thức phát hành các chứng từ như: Chứng chỉ tiền gửi ( kỳ phiếu), trái phiếu,

Trong nghiệp vụ này, NHTM chủ động đứng ra thu gom vốn trong xã hội bằng việc phát hành các giấy tờ

có giá nhằm bổ sung nguồn vốn kinh doanh Thông thường việc phát hành được thực hiện sau khi đã tiến hành nên cân đối toàn hệ thống của NHTM giữa nguồn vốn và sử dụng vốn

Các NHTM nhận thấy rằng, người gửi tiền rất nhạy cảm với những thay đổi trong lãi suất huy động của ngân hàng Vì vậy khi cần vốn, một NHTM có thể phát hành giấy tờ có giá với một mức lãi suất hấp dẫn hơn các loại nghiệp vụ huy động thông thường khác nhằm huy động được kịp thời lượng vốn cần thiết Mức lãi được trả cho các công cụ này sẽ được thoả thuận trực tiếp giữa NHTM và khách hàng hoặc được

ấn định ở một mức độ nhất định mà người gửi tiền có thể chấp nhận được, đồng thời đảm bảo hiệu quả kinh doanh cho ngân hàng

Thông thường, phát hành giấy tờ có giá là nghiệp vụ huy động vốn theo sáng kiến riêng của từng NHTM với hình thức và kỳ hạn rất đa dạng nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu khách hàng và huy động được vốn cho ngân hàng Để tìm hiểu kỹ hơn chúng ta sẽ xem xét hai công cụ cơ bản là: Kỳ phiếu và Trái phiếu ngân hàng

* Kỳ phiếu:

- ở các nước phát triển như ở Mĩ, chứng chỉ tiền gửi hay còn gọi là CD là một công cụ thị trường tiền tệ

do ngân hàng phát hành Một NHTM sẽ phát hành một CD để tài trợ cho những cam kết nợ ngắn hạn hoặc nguồn vốn của mình CD là một chứng nhận về một khoản tiền gửi tại NHTM theo một thời hạn và

Trang 5

lãi suất nhất định Người sở hữu CD có thể bán chứng chỉ này trên thị trường thứ cấp hoặc được trả lại chứng chỉ tại thời điểm CD đến hạn và nhận lại toàn bộ số tiền gốc chứng chỉ với lãi

Một CD thường phát hành đa dạng ghi sổ với mệnh giá đa dạng Thời hạn của các CD cũng rất phong phú: Thường từ 7 ngày cho đến 5 hoặc 7 năm Nhìn chung không có quy định nào hạn chế về thời hạn của một CD đối với Ngân hàng phát hành

Các NHTM ở Mĩ phát hành nhiều loại CD khác nhau:

+ CD có lãi suất cố định: Lãi suất của những CD này được ấn định từ thời điểm phát hành chủ sở hữu

CD sẽ nhận được toàn bộ phần tiền gốc và lãi khi CD đến hạn Đối với CD có thời hạn dưới 1 năm thì lãi suất được trả vào thời điểm đến hạn

+ CD trả lãi kỳ hạn: Lãi của những CD này thường được trả 6 tháng một lần những CD loại này thường được phát hành với kỳ hạn trên 1 năm

+ CD chuyển tiếp liên tục: Đây là một Seri những CD thời hạn 6 tháng chuyển tiếp liên tục trong vòng 2 năm hoặc lâu hơn Người mua CD thiết lập một hợp đồng mua chứng chỉ tiền gửi thời hạn 6 tháng liên tục cho đến khi hợp đồng hết hạn CD loại này có thể áp dụng lãi suất cố định hoặc lãi suất thả nổi

Ngoài ra các NHTM Mĩ còn phát hành nhiều loại CD khác như: CD có lãi điều chỉnh, chứng chỉ tiền gửi Dollar Châu Âu, Thông qua nghiệp vụ phát hành CD, các NHTM Mĩ có thể tạo dựng được điều kiện để cạnh tranh một cách có hiệu quả đối với nguồn vốn ngắn và trung hạn

- ở Việt Nam, các NHTM phát hành kỳ phiếu dựa trên quyết định số 220- NH/QĐ ngày 27/11/1991 của Thống đốc NHNN về việc cho phép NHTM quốc doanh phát hành kỳ phiếu Ngân hàng Như vậy chỉ có NHTM quốc doanh mới được phép phát hành loại chứng chỉ tiền gửi này

Theo văn bản trên, kỳ phiếu là một loại giấy nhận nợ do NHTM quốc doanh phát hành nhằm huy động vốn trong xã hội một cách linh hoạt Căn cứ vào mục đích, nhu cầu cụ thể mà ngân hàng có thể phát hành

kỳ phiếu bằng VNĐ hay USD

Nhu cầu phát hành kỳ phiếu thường phát sinh khi ngân hàng muốn có nguồn vốn đủ điều kiện để tài trợ các dự án có quy mô, trọng điểm nhằm phục vụ kịp thời cho đầu tư phát triển của đất nước hoặc vì mục đích kinh doanh của ngân hàng như: Đầu tư chứng khoán, kinh doanh vàng bạc, ngoại tệ mà các nguồn huy động khác chưa đáp ứng được Khi đó ngân hàng có thể xin phép phát hành bằng từ trình gửi NHNN Trong tờ trình “ Xin phép phát hành kỳ phiếu” phải trình bày đầy đủ các nội dung sau:

+ Lý do xin phát hành

Trang 6

+ Kế hoạch sử dụng và nhu cầu sử dụng vốn

+ Các loại kỳ phiếu xin phát hành ( về kỳ hạn, phương thức trả lãi)

+ Thời gian phát hành

+ Tỷ lệ lãi cho từng loại kỳ phiếu

+ Tính toán hiệu quả kinh tế cho từng loại kỳ phiếu

Phát hành kỳ phiếu là một nghiệp vụ huy động vốn có tính hiệu quả cao, hấp dẫn người mua và NHTM luôn chủ động trong việc bổ sung vốn hạn khi cần thiết

* TRÁI PHIẾU:

- ở các nước phát triển, trái phiếu ngân hàng là một loại công cụ nợ do NHTM phát hành nhằm tài trợ vốn cho hoạt động kinh doanh cuả ngân hàng Thông thường việc phát hành trái phiếu phải được sự cho phép của Ngân hàng trung ương Kỳ hạn của trái phiếu rất phong phú: 7 năm, 10 năm, 20 năm, Chủng loại cũng rất đa dạng như: Trái phiếu có lãi suất điều chỉnh, trái phiếu có lãi suất thả nổi, trái phiếu có lãi suất

cố định, trái phiếu có thể chuyển đổi sang cổ phiếu, Người sở hữu có thể bán trái phiếu trên thị trường thứ cấp trước khi trái phiếu đó hết hạn

ở Việt Nam, theo, theo quyết định số 212-QĐ-NH1 ngày 22/9/1995 của Thống đốc NHNN ban hành thể

lệ phát hành trái phiếu NHTM, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển thì trái phiếu Ngân hàng là một công cụ vay nợ dài hạn trên thị trường vốn dưới hình thức giấy nợ của các tổ chức tín dụng phát hành để huy động vốn Trong đó các tổ chức tín dụng cam kết trả gốc và lãi cho người mua ( hoặc người sở hữu) sau một thời gian nhất định

Trái phiếu Ngân hàng được chuyển nhượng quyền sở hữu dưới các hình thức mua bán, cho, tặng, thừa kế Người sở hữu có thể dùng trái phiếu làm thế chấp tiền vay nếu được người cho vay chấp nhận

Trái phiếu Ngân hàng có thể phát hành dưới các hình thức: vô danh, ghi sổ, ghi danh Trái phiếu vô danh thuộc quyền sở hữu của người có trái phiếu và được tự do chuyển nhượng, chủ sở hữu trái phiếu ghi danh

và ghi sổ muốn chuyển nhượng thì phải làm thủ tục ở Ngân hàng ( nơi mua trái phiếu)

Trái phiếu được các NHTM phát hành với kỳ hạn trên 1 năm Tuy nhiên, thời hạn cụ thể sẽ do các NHTM quyết định tuỳ theo phương án sử dụng vốn Trái phiếu phát hành cùng một đợt được ghi cùng thời hạn và được thanh toán vào cùng thời điểm đáo hạn Mệnh giá của trái phiếu là số tiền ghi trên trái phiếu lúc phát

Trang 7

hành và có giá trị tối thiểu là 50.000 VND Các loại mệnh giá lớn hơn được xác định bằng bội số của mệnh giá tối thiểu

Lãi suất của trái phiếu do NHTM ấn định trên cơ sở quan hệ cung cầu về vốn trên thị trường sao cho có thể khuyến khích, động viên được người gửi vốn, người vay có thể chấp nhận được và NHTM đảm bảo hiệu quả kinh doanh Phương thức trả lãi cũng được các NHTM áp dụng một cách linh hoạt: Trả lãi trước, Trả lãi sau, Trả lãi định kỳ

NHTM muốn được phép phát hành trái phiếu cần phải hội đủ các điều kiện sau:

+ Hoạt động ổn định ít nhất 2 năm và chứng minh được hoạt động kinh doanh của đơn vị được quản lý có hiệu quả

+ Có phương án kinh doanh cụ thể

+ Cần phải có vốn điều lệ đủ lớn theo pháp định

+ Được phép bằng văn bản của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước

Sau khi đã hội đủ các điều kiện cần thiết, NHTM phải làm thủ tục xin phép NHNN về việc phát hành trái phiéu theo quy định của pháp luật

Nguồn vốn huy động được từ nghiệp vụ phát hành trái phiếu không chịu sự điều chỉnh của quy định dự trữ bắt buộc Hơn nữa, nó là nguồn có tính ổn định cao, đáng được quan tâm nếu muốn mở rộng nguồn vốn huy động trung và dài hạn tại một NHTM Bằng cộng cụ này, các NHTM có thể chủ động tạo được một khối lượng vốn như mong muốn một cách nhanh chóng để đáp ứng nhu cầu vốn cấp bách đầu tư cho các công trình lớn của quốc gia

Vay vốn các tổ chức tín dụng

Khi cần vốn thì các NHTM có thể đi vay trực tiếp từ các tổ chức tín dụng khác, Ngân hàng nước ngoài, từ công ty mẹ, Nhưng dù vay ở nguồn nào thì nhìn chung chi phí cho các khoản vay trực tiếp thường cao hơn chi phí phải trả cho các hình thức huy động vốn khác

ở Việt Nam, nguồn vay vốn của NHTM cũng khá phong phú Một NHTM có thể vay ở một số nguồn chính như: Vay từ NHNN và Bộ Tài chính (BTC), vay từ các NHTM khác và tổ chức tín dụng, từ nước ngoài

* Vay từ NHNN và BTC:

Trang 8

- Vay từ NHNN: Trong quan hệ giữa NHTM và NHNN thì NHNN có tư cách là Ngân hàng củ các Ngân hàng, là “ Người cho vay cuối cùng” đối với các NHTM Thông thường các NHTM chỉ đươch vay

NHNN để bù đắp những thiếu hụt ngắn hạn, tạm thời dưới hình thức chiết khấu, tái chiết khấu, tái cấp vốn Tuy nhiên, có những trường hợp đặc biệt, NHNN vẫn cho NHTM vay để cho vay lại nền kinh tế theo kế hoạch của Nhà nước với một mức lãi suất ưu đãi Nhưng khoản vay này thường bị hạn chế số lượng, đặc biệt là khi chính sách tiền tệ quốc gia đang thắt chặt

- Vay từ Bộ Tài chính: Mặc dù đã có Tổng cục đầu tư phát triển nhưng Bộ tài chính vẫn có sự hỗ trợ cho các chương trình tín dụng Ngân hàng Hàng năm, các địa phương được phân bổ một số vốn trung và dài hạn cho các công trình phục vụ các mục tiêu quốc kế dân sinh Nguồn này sẽ được Bộ Tài chính chuyển sang Ngân hàng Đầu tư và Phát triển hoặc của NHTM quốc doanh khác dưới hình thức quỹ đầu tư phát triển để cho các đối tượng này vay với lãi suất ưu đãi Nhưng cũng có những dự án thuộc danh mục Chính phủ chỉ định nhưng NHTM sẽ lo vốn đầu tư toàn bộ Do đó NHTM có thể vay một phần từ Bộ Tài chính

để tài trợ cho các dự án này, Bộ Tài chính sẽ chuyển tiền để cấp bù phàn chênh lệch giữa lãi suất cho vay trung và dài hạn của NHTM là lãi suất ưu đãi để NHTM không bị lỗ trong kinh doanh

* Vay từ các NHTM và Tổ chức tín dụng khác

Ngoài nghiệp vụ vay từ NHNN và Bộ Tài chính thì các NHTM có thể vay mượn lẫn nhau hoặc vay từ các Công ty Bảo biểm để đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh dựa trên nguyên tắc:

- Các NHTM phải hoạt động hợp pháp

- Thực hiện việc đi vay và cho vay theo hợp đồng tín dụng

- Vốn vay phải được bảo đảm bằng thế chấp, cầm cố hay xin bảo lãnh của NHNN

Nguồn vay mượn này thường có chi phí cao, kỳ hạn trung hạn là chủ yếu, phụ thuộc nhiều vào quan hệ cũng như uy tín của NHTM đi vay

* VAY TỪ NƯỚC NGOÀI:

Theo tinh thần Nghị định 90/1998/NĐ-CP ngày 7/11/1998 thì các NHTM có thể vay vốn ở Ngân hàng nước ngoài để cho vay lại trong nước Các NHTM Việt Nam hiện có quan hệ đại lý và quan hệ thanh toán rộng rãi với các Ngân hàng trong khu vực và trên thế giới nên nghiệp vụ này tiến hành cũng khá thuận lợi Lãi suất vay được áp dụng theo lãi suất trên thị trường tiền tệ thế giới Tuy nhiên, khi vay thì các NHTM Việt Nam phải chấp hành một hạn mức tín dụng do nước ngoài quy định Hạn mức này phải được Chính phủ hoặc NHNN Việt Nam bảo lãnh Theo Nghị định 90/CP, thì mức bảo lãnh vay vốn nước ngoài cho một tổ chức tín dụng không quá 6 lần vốn tự có của tổ chức đó Nhưng hạn mức trên phải trừ đi số nợ

Trang 9

trước chưa trả đến thời điểm đến thời điểm vay mới Như vậy muốn tận dụng hạn mức tín dụng của nước ngoài, các NHTM Việt Nam phải thực hiện tốt khâu hoàn trả

Các khoản vay từ Ngân hàng nước ngoài của các NHTM Việt Nam đều do NHNN trực tiếp kiểm soát và quản lý Vì vậy, các hồ sơ vay vốn đều phải quan NHNN xét duyệt Các NHTM được quyền chủ động tìm kiếm các nguồn vay từ nước ngoài, qua đó góp phần quan trọng trong việc tài trợ các hoạt động kinh doanh ngân hàng

Vốn pháp định: Điều kiện hàng đầu để khởi nghiệp trước khi được phép khai trương Ngân hàng là phải có

đủ vốn ban đầu theo luật định ở Việt Nam, để thành lập một NHTM trước hết phải có đủ vốn pháp định theo mức quy định của NHNN Vốn pháp định của mỗi ngân hàng được hình thành do tính chất sở hữu của ngân hàng quyết định Theo quy định của Việt Nam có thể khái quát như sau: Nếu là NHTM thuộc sở hữu nhà nước, vốn pháp định do Ngân sách Nhà nước cấp 100% vốn ban đầu; Nếu là NHTM cổ phần, vốn pháp định do sự đóng góp của cổ đông dưới hình thức phát hành cổ phiếu; Nếu là NHTM liên doanh, vốn pháp định là vốn đóng góp cổ phần của ngân hàng tham gia liên doanh

Vốn điều lệ là vốn được ghi trong điều lệ hoạt động của NHTM Vốn điều lệ ít nhất phải bằng mức vốn pháp định do NHNN công bố vào đầu mỗi năm tài chính Vốn điều lệ quy định cho một ngân hàng nhiều hay ít tuỳ thuộc vào quy mô và phạm vi hoạt động của ngân hàng đó ( vốn điều lệ bao hàm cả vốn pháp định)

Ngoài ra vốn tự có củaNHTM còn có các quỹ dự trữ ngân hàng ( đây là các quỹ buộc phải trích lập trong quá trình tồn tại và hoạt động của ngân hàng) như: Quỹ bảo toàn vốn, Quỹ phúc lợi, Quỹ khấu hao tài sản

cố định,

Nguồn vốn tự có của NHTM thường chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của một ngân hàng, nhưng lại là nguồn vốn rất quan trọng, vì nó cho thấy thực lực, quy mô của ngân hàng, nó là cơ sở để thu hút các nguồn vốn khác, là vốn khởi đầu tạo uy tín của ngân hàng đối với khách hàng Hơn nữa nguồn vốn này có tính ổn định cao, có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tài trợ cho các tài sản cố định của NHTM, tài trợ cho hoạt động liên doanh liên kết, mở rộng mạng lới, hay để chống rủi ro, ; Qua đó nhằm hướng tới

mở rộng quy mô hoạt động của ngân hàng

Trang 10

Theo đà phát triển, nguồn vốn này sẽ được gia tăng về số lượng tuyệt đối thông qua các nghiệp vụ của mỗi NHTM có thể áp dụng như sau:

- Tăng cường và bổ sung thêm vốn điều lệ bằng cách huy động thêm vốn từ các cổ đông, phát hành cổ phiếu, trái phiếu có thể chuyển thành cổ phiếu, Các nghiệp vụ huy động này thường được các NHTM cổ phần áp dụng Tuy nhiên, việc phát hành thêm cổ phiếu, trái phiếu có thể chuyển đổi thành cổ phiếu sẽ gây áp lực đối với các cổ đông cũ của ngân hàng, việc tăng thêm cổ phần sẽ kéo theo sự suy giảm tương đối về cổ tức đối với các cổ đông

- Đối với NHTM quốc doanh hay NHTM liên doanh thì có thể tăng thêm vốn tự có thông qua sự cấp thêm vốn của Chính phủ hay đóng góp thêm vốn của các bên liên doanh

- Ngoài ra, nguồn vốn tự có của NHTM còn được bổ sung thêm từ kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thông qua việc trích lập các quỹ dự trữ và một số quỹ khác

Bên cạnh nguồn vốn tự có, ở một số quốc gia mà cụ thể là ở Việt Nam, một số NHTM như: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam còn được Chính phủ cấp vốn dưới hình thức quỹ đầu tư phát triển để cho vay lại theo kế hoạch Nhà nước chỉ định Nguồn này có tính ổn định tương đối cao, trong thời gian ngắn Nhà nước chưa yêu cầu Ngân hàng trả gốc và lãi cho khoản tiền này mà Ngân hàng chỉ phải trích lập quỹ để bảo toàn nguồn vốn theo quy định Uy tín và hiệu quả trong kinh doanh của Ngân hàng chính là cơ sở để thu hút nguồn vốn ổn định này

Tóm lại, nguồn vốn huy động từ chủ sở hữu là nguồn vốn đóng vai trò nền tảng, là cơ sở để thu hút các nguồn vốn khác Tuy nó chiếm một tỷ trọng không lớn trong cơ cấu nguồn vốn của NHTM nhưng có ý nghĩa quyết định tới sự hình thành và phát triển của ngân hàng; mặc dù công tác huy động không thuận lợi, phụ thuộc nhiều vào kết quả kinh doanh củ ngân hàng nhưng việc tăng cường mở rộng nguồn vốn này một cách hợp lý là rất quan trọng đối với tất cả các NHTM

11 CÁC NGHIỆP VỤ NGUỒN VỐN NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

111 Chính sách nguồn vốn ngân hàng thương mại

- Chính sách về cơ cấu kỳ hạn, cơ cấu loại tiền

- Chính sách về cơ chế điều hành nguồn vốn

112 Các nghiệp vụ nguồn vốn

- Xây dựng chiến lược kế hoạch ngắn hạn, trung và dài hạn

Trang 11

- Xây dựng kế hoạch năm, quý, tháng

- Triển khai, phân khai kế hoạch

- Theo dõi đôn đốc việc thực hiện

- Sơ kết, điều chỉnh (nếu có)

- Tổng kết rút kinh nghiệm…

- Dự báo chung tình hình NH – TC thế giới & khu vực…

- Dự báo tình hình tài chính trong nước

- Dự báo các ảnh hưởng, tác động tới hoạt động NH – TC

- Dự báo và phân tích diễn biến có thể xảy ra

- Dự báo, cảnh báo, lường đoán rủi ro

Công tác kiểm tra, giám sát

- Kiểm tra việc thực hiện quy trình, tác nghiệp

- Kiểm tra định kỳ, đột xuất theo vụ việc

- Kiểm tra giám sát tham mưu cho ban lãnh đạo

- Các phương pháp tính lãi suất huy động:

+ Lãi trả nhiều lần trong kỳ

+ Tính lãi trả trước biết lãi trả sau

+ Tính lãi trả sau biết lãi trả trước

- Tính lãi đầu vào:

+ Phương pháp chi phí cận biên

+ Phương pháp bình quân gia quyền

+ Phương pháp xác định giá xâm nhập thị trường

113 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả nghiệp vụ

Chỉ tiêu khả năng sinh lời

- ROE (Tỷ lệ TN/VCSH) = TNST/VCSH

- ROA (Tỷ lệ TN/Tổng TS) = TNST/Tổng TS

- NIM = (Thu CV & ĐTCK – Lãi TG & nợ khác)/ Tổng TS (Tỷ lệ TN lãi cận biên)

- Chênh lệch lãi suất bình quân:

Chênh lệch = Thu từ lãi - Tổng cổ phiếu trả lãi

LS bp Tổng TS sinh lời Tổng NV phải trả lãi

Chênh lệch lãi suất bình quân đo lường hiệu quả đối với hoạt động trung gian của NH trong quá trình huy động vốn và cho vay, đồng thời đo lương mức độ cạnh tranh trong hoạt động NH

Chỉ tiêu an toàn vốn

- Khe hở kỳ hạn : Sự phù hợp giữa cơ cấu TS Nợ- Có:

Khe hở kỳ = Kỳ hạn hoàn vốn - Kỳ hạn hoàn trả

hạn TB của TS TB của NV

Xác định khe hở kỳ hạn giúp NH đánh giá được khi LS thị trường biến động, giá trị thị trường của NH ảnh hưởng như thế nào

Ngày đăng: 05/05/2017, 08:35

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w