1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Xây dựng chương trình ngoại khóa văn học cho học sinh lớp 11 trường THPT tỉnh Trà Vinh

148 750 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 148
Dung lượng 2,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học Văn, phát triển toàn diện năng lực sáng tạo, tự học của HS, đa dạng hoá các hình thức giáo dục – dạy học trong chương trình Ngữ văn THPT

Trang 1

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH

ISO 9001:2008

BÙI THỊ THƯƠNG

XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH NGOẠI KHÓA VĂN HỌC CHO HỌC SINH LỚP 11 TRƯỜNG THPT TỈNH TRÀ VINH

Chuyên ngành:

LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC BỘ MÔN NGỮ VĂN

Mã số: 60140111

LUẬN VĂN THẠC SĨ LÝ LUẬN

VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC BỘ MÔN NGỮ VĂN Người hướng dẫn khoa học: TS TRẦN THANH BÌNH

Trang 2

TÓM TẮT

Ngoại khoá văn học (NKVH) là một hình thức tự học tích cực, hiệu quả nhằm

mở rộng kiến thức văn học, kiến thức xã hội, giáo dục đạo đức, lòng yêu thiên nhiên,

quê hương, đất nước, con người, phát triển kĩ năng sống cho HS, góp phần nâng cao chất lượng của giờ học chính khóa, v.v

Để góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học Văn, phát triển toàn diện năng lực sáng tạo, tự học của HS, đa dạng hoá các hình thức giáo dục – dạy học trong

chương trình Ngữ văn THPT hiện hành, đề tài Xây dựng chương trình ngoại khóa

văn học cho học sinh lớp 11 trường THPT tỉnh Trà Vinh xác định những nhiệm

- Thiết kế giáo án, tổ chức dạy học thực nghiệm để đánh giá kết quả và tính khả thi của việc ứng dụng đề tài vào thực tiễn giảng dạy

Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, phần Nội dung

của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài

Cơ sở lí luận của đề tài gồm cơ sở giáo dục học (nguyên lí học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lí luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội), cơ sở lí luận dạy học (hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp), cơ sở lí luận và phương pháp dạy học Văn (dạy học Văn gắn liền với cuộc sống)

Trang 3

Cơ sở thực tiễn của đề tài được hình thành từ việc khảo sát thực trạng tổ chức NKVH nói chung (qua tổng hợp ý kiến trên các phương tiện thông tin đại chúng) và thực trạng tổ chức NKVH ở thành phố Trà Vinh nói riêng (qua các bảng hỏi, phiếu điều tra)

Chương 2: Đề xuất chương trình NKVH cho HS lớp 11

Trên cơ sở làm rõ khái niệm; vị trí, vai trò; mục tiêu; nhiệm vụ; đặc điểm; nguyên tắc tổ chức NKVH, luận văn triển khai xây dựng chương trình ĐNKVH (qua

3 hình thức cơ bản: đọc các tác phẩm có cùng tác giả, đọc các tác phẩm có cùng đề tài, đọc các tác phẩm có cùng thể loại) và chương trình HĐNKVH (qua 7 hình thức:

Đố vui văn học; Sân khấu hóa tác phẩm; Sáng tác văn học; Tham quan, dã ngoại; Trao đổi giao lưu với các tác giả đương thời; Thi kiến thức văn học; Sưu tầm văn học địa phương); thiết kế thử nghiệm ĐNKVH cho cho bài học “Chiều tối” và HĐNKVH cho hình thức Đố vui văn học

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Tập trung mô tả và phân tích một số dữ liệu cơ bản, đánh giá kết quả thực nghiệm, xác định những việc làm được và chưa làm được trong quá trình thực nghiệm… để mở rộng phạm vi ứng dụng của luận văn vào thực tế giảng dạy sau này

Kết luận

- NKVH được thực hiện dựa trên sự tự nguyện, tự giác của HS, đồng thời gắn với mục tiêu, nội dung của chương trình chính khóa

- Tổ chức NKVH là công việc vừa có ý nghĩa thực tiễn, vừa có ý nghĩa khoa học

- NKVH là một hình thức để đánh giá HS theo quan điểm phát triển toàn diện

- Dù mang tính chất thử nghiệm nhưng GV Ngữ văn các trường THPT tỉnh Trà Vinh có thể điều chỉnh, bổ sung và vận dụng một cách sáng tạo một số kết quả nghiên cứu của luận văn vào thực tế dạy học của mình

Trang 4

MỤC LỤC

Trang tựa

Quyết định giao đề tài

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM TẮT iii

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT ix

DANH SÁCH CÁC BẢNG x

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5

3 Mục tiêu nghiên cứu 8

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 8

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

6 Phương pháp nghiên cứu 8

7 Đóng góp của luận văn 9

8 Cấu trúc luận văn 9

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 10

1.1 Cơ sở lí luận 10

1.1.1 Cơ sở giáo dục học 10

1.1.1.1 Nguyên lý giáo dục 10

1.1.1.2 Mục tiêu giáo dục 11

1.1.2 Cơ sở lí luận dạy học 12

1.1.2.1 Khái niệm 12

1.1.2.2 Vai trò của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp 13

1.1.3 Cơ sở lí luận và phương pháp dạy học Văn 14

1.1.3.1 Mục tiêu bộ môn Ngữ văn 14

1.1.3.2 Đặc điểm bộ môn Ngữ văn 16

Trang 5

1.2 Cơ sở thực tiễn 17

1.2.1 Khảo sát thực trạng 17

1.2.2 Kết quả khảo sát 19

Chương 2: ĐỀ XUẤT CHƯƠNG TRÌNH NGOẠI KHÓA VĂN HỌC CHO HỌC SINH LỚP 11 36

2.1 Hoạt động ngoại khoá 36

2.1.1 Khái niệm 36

2.1.2 Vị trí, vai trò của hoạt động ngoại khoá 37

2.1.3 Mục tiêu, nhiệm vụ của hoạt động ngoại khoá 38

2.1.4 Đặc điểm của hoạt động ngoại khóa 39

2.1.5 Nguyên tắc tổ chức hoạt động ngoại khoá 40

2.1.5.1 Nguyên tắc về tính mục đích và kế hoạch 40

2.1.5.2 Nguyên tắc về tính tự nguyện, tự giác 41

2.1.5.3 Nguyên tắc kết hợp lãnh đạo sư phạm của thầy với tính tích cực, độc lập, sáng tạo của học sinh 41

2.1.5.4 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 41

2.2 Ngoại khóa văn học 41

2.2.1 Khái niệm 41

2.2.2 Đọc ngoại khoá văn học 42

2.2.3 Hoạt động ngoại khoá văn học 44

2.3 Vai trò của ngoại khóa văn học 46

2.4 Mục đích, yêu cầu của ngoại khóa văn học 47

2.4.1 Mục đích của ngoại khóa văn học 47

2.4.2 Yêu cầu của ngoại khóa văn học 48

2.4.2.1 Yêu cầu về hình thức 48

2.4.2.2 Yêu cầu về nội dung 48

2.5 Nguyên tắc xây dựng chương trình ngoại khóa văn học 49

2.5.1 Nguyên tắc xây dựng chương trình đọc ngoại khóa văn học 49

Trang 6

2.5.1.1 Nguyên tắc kết hợp chặt chẽ và logic giữa đọc ngoại khóa với chương

trình chính khóa 49

2.5.1.2 Nguyên tắc phù hợp với hứng thú đọc của học sinh 50

2.5.1.3 Nguyên tắc hệ thống 50

2.5.1.4 Nguyên tắc phát huy tính tích cực của học sinh 51

2.5.2 Nguyên tắc xây dựng chương trình hoạt động ngoại khóa văn học 51

2.5.2.1 Nguyên tắc gắn với thực tiễn đời sống 52

2.5.2.2 Nguyên tắc phối hợp 52

2.5.2.3 Nguyên tắc tự nguyện 52

2.5.2.4 Nguyên tắc chủ động, sáng tạo của học sinh 53

2.5.2.5 Nguyên tắc phù hợp tâm lí, lứa tuổi học sinh 53

2.5.2.6 Nguyên tắc góp phần hoàn thiện nội dung môn học 54

2.6 Nội dung chương trình ngoại khóa văn học 54

2.6.1 Nội dung đọc ngoại khoá văn học 54

2.6.2 Nội dung các hoạt động ngoại khoá văn học 57

2.7 Các hình thức tổ chức ngoại khóa văn học 58

2.7.1 Các hình thức tổ chức đọc ngoại khóa văn học 59

2.7.2 Các hình thức tổ chức hoạt động ngoại khóa văn học 61

2.7.2.1 Hình thức hoạt động ngoại khóa văn học 61

2.7.2.2 Quy trình tổ chức các hoạt động ngoại khóa văn học 69

2.8 Thiết kế thử nghiệm 72

2.8.1 Thiết kế thử nghiệm đọc ngoại khoá văn học 72

2.8.2 Thiết kế thử nghiệm hoạt động ngoại khoá văn học 74

2.8.2.1 Hình thức Đố vui văn học 74

2.8.2.2 Hình thức Tham quan dã ngoại 78

Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 82

3.1 Mục đích thực nghiệm 82

3.2 Đối tượng thực nghiệm 82

3.3 Bài dạy thực nghiệm 82

Trang 7

3.4 Thời gian và địa điểm thực nghiệm 82

3.5 Quy trình thực nghiệm 82

3.6 Thiết kế và thực nghiệm đọc ngoại khoá văn học 83

3.6.1 Mục tiêu cần đạt 83

3.6.2.Chuẩn bị 84

3.6.3.Tiến hành thực nghiệm 84

3.6.4 Kết thúc thực nghiệm 99

3.6.4.1 Kết quả thực nghiệm 99

3.6.4.2 Đánh giá về tình hình Đọc ngoại khóa văn học của học sinh 99

3.6.4.3 Đánh giá chung về kết quả thực nghiệm 100

3.7 Thiết kế và thực nghiệm hình thức hoạt động ngoại khóa Đố vui văn học 101

3.7.1 Mục tiêu cần đạt 101

3.7.2 Chuẩn bị 102

3.7.3.Tiến hành thực nghiệm 102

3.7.4 Kết thúc thực nghiệm 104

3.7.4.1 Số liệu 104

3.7.4.2 Đánh giá kết quả thực nghiệm 104

KẾT LUẬN 107

TÀI LIỆU THAM KHẢO 109

PHỤ LỤC 109

Phụ lục 1 116

Phụ lục 2 121

Phụ lục 3 126

Phụ lục 4 131

Phụ lục 5 132

Phụ lục 6 134

Phụ lục 7 138

Trang 8

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT

HĐGDNGLL Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

HĐNKVH Hoạt động ngoại khóa văn học

Trang 9

Bảng 1.6 Thực trạng nhận thức về mức độ cần thiết của các biện pháp

Bảng 1.12 Mức độ yêu thích của học sinh đối với các nội dung NKVH 32

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Giáo dục là một bộ phận khắng khít của hệ thống kinh tế, xã hội Giáo dục chuẩn bị cho xã hội một nền dân trí, một đội ngũ nhân lực, một bộ phận nhân tài, góp phần quan trọng trong phát triển đất nước Giáo dục và đào tạo là chìa khóa hướng tới tương lai, là quốc sách hàng đầu của chiến lược phát triển kinh tế, xã hội Phát triển giáo dục là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; là điều kiện để phát huy nguồn lực con người- yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững Muốn đào tạo nguồn lực con người đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội cần phải quan tâm đến việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh (HS), tăng cường các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp (HĐGDNGLL) để giúp HS thoát ra khỏi bức tường chật hẹp, rèn luyện kỹ năng sống và những phẩm chất tốt đẹp của con người thời đại mới

Trong định hướng đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, Nghị quyết số 29-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 8 khóa XI cũng xác định:

Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời [70, tr 4] Đây là nhiệm vụ quan trọng của ngành giáo dục nước nhà hiện nay, điều cấp thiết là phải đào tạo ra những con người có phẩm chất đạo đức, có năng lực, chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, thích ứng với đời sống xã hội Và để thực hiện những yêu cầu trên, toàn ngành Giáo dục – Đào tạo phải có những thay đổi đáng kể về

Trang 11

chương trình, nội dung giáo dục, cần phải: “Đa dạng hóa nội dung, tài liệu học tập, đáp ứng yêu cầu của các bậc học, các chương trình giáo dục, đào tạo và nhu cầu học tập suốt đời của mọi người” [6] Đặc biệt là đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại, nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; phải khắc phục được lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Điều quan trọng là phải: tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực “Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập

đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học” [6]

Vì thế, đổi mới phương pháp dạy học là phải chuyển quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học Trong Luật giáo dục- điều 28 cũng đã quy định rất rõ về phương pháp giáo dục theo hướng phát triển năng lực người học, đáp ứng với yêu cầu của thời đại “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh ” [54,tr 22] Như vậy, chúng ta có thể thấy nội dung trọng tâm của việc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phổ thông là sự phát triển năng lực người học, phải đào tạo HS trở thành những con người năng động, chủ động, biết vận dụng và sáng tạo những gì đã học được trên ghế nhà trường vào trong đời sống, từ đó nâng cao chất lượng của nguồn nhân lực trong chiến lược phát triển đất nước Do vậy, dạy học Văn không chỉ đơn thuần là cung cấp kiến thức, rèn luyện

kỹ năng môn học mà quan trọng là phải trang bị cho người học kỹ năng sống và năng lực hoạt động xã hội để họ thích nghi với mọi hoàn cảnh, tự mình biết bổ sung kiến thức và xử lí những bài toán đời sống nghề nghiệp Muốn vậy, quá trình giáo dục phải được diễn ra bằng nhiều con đường, nhiều phương thức và nhiều hoạt động Chính thông qua hoạt động, nhân cách con người được hình thành và phát triển toàn diện

Trang 12

Đòi hỏi giáo dục không chỉ bó hẹp trong không gian lớp học mà còn mở rộng không gian với các hoạt động ngoại khóa (HĐNK)

Trong lí luận và phương pháp dạy học chung, HĐGDNGLL (còn gọi là HĐNK) từ lâu đã được xác định như một phần không thể thiếu của hoạt động giáo dục Điều lệ Trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông

có nhiều cấp học- điều 26 cũng nêu rõ:

Các hoạt động giáo dục bao gồm hoạt động trong giờ lên lớp và HĐGDNGLL nhằm giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động [12, tr 15].HĐGDNGLL là một trong những hoạt động đặc trưng, nó là nơi thể nghiệm, vận dụng và củng cố tri thức trên lớp, bổ sung những kiến thức còn thiếu hụt; là cơ hội để HS tự bộc lộ nhân cách và tự khẳng định vị trí của mình; là môi trường nuôi dưỡng và phát triển tính chủ thể của HS, nâng cao tầm hiểu biết và nhận thức đầy đủ hơn về xã hội, gắn kiến thức đã học với thực tế cuộc sống; là con đường dẫn dắt các

em từng bước đến với nền văn hóa của dân tộc và nền văn minh của nhân loại Hoạt động này được thể hiện trên bình diện rất rộng, bao gồm nhiều hoạt động khác:

Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp bao gồm các hoạt động ngoại

khoá về khoa học, văn học, nghệ thuật, thể dục thể thao, nhằm phát triển toàn diện và bồi dưỡng năng khiếu; các hoạt động vui chơi, tham quan, du lịch, giao lưu văn hoá, giáo dục môi trường; hoạt động từ thiện và các hoạt động xã hội khác phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh [15].

Tất cả các hoạt động này là bộ phận không thể thiếu trong mục tiêu giáo dục phổ thông Bởi vì, trong quá trình giáo dục toàn diện HS phải có xu hướng vượt ra khỏi phạm

vi tri thức do chương trình quy định, tri thức của nội khóa không thỏa mãn nhu cầu nhận thức của HS Do đó, HĐNK minh họa thêm cho bài học, nhằm tạo điều kiện để HS tham gia vào các hoạt động thực tiễn, có thể mở rộng, đào sâu tri thức, tích lũy được những

Trang 13

kinh nghiệm giao tiếp, phát triển năng lực, làm giàu thêm vốn sống cho riêng mình, mở được một tầm nhìn thực tế

Đối với lí luận và phương pháp dạy học Văn, hoạt động ngoại khoá văn học (HĐNKVH) luôn được xem là một hình thức tự học tích cực, hiệu quả nhằm mở rộng kiến thức văn học, kiến thức xã hội, giáo dục đạo đức, lòng yêu thiên nhiên, yêu quê

hương, đất nước, con người, phát triển kĩ năng sống cho HS, góp phần nâng cao chất lượng của giờ học chính khóa, v.v Thông qua HĐNK, vốn sống, vốn hiểu biết của

thầy và trò được mở rộng hơn Đối với giáo viên (GV), giờ ngoại khóa văn học (NKVH) giúp hiểu rõ hơn về HS của mình, phát hiện được khả năng của các em, từ

đó điều chỉnh phương pháp dạy học cho phù hợp, đồng thời có thêm kiến thức thực

tế để bài giảng phong phú hơn và giúp GV tự tin hơn khi truyền thụ tri thức cho HS Đối với HS, thay vì phải học chay, học thụ động thì các em sẽ được trực tiếp tìm hiểu các vấn đề mà sách đã viết và cả không viết, những điều mà thầy cô không có điều kiện để truyền thụ cho các em trong giờ chính khóa.“Hoạt động ngoại khóa về văn học sẽ mở ra một con đường thênh thang cho sự sáng tạo của thầy giáo và học sinh, những khả năng của hoạt động ngoại khóa là vô tận và trong mỗi trường, khả năng

đó sẽ rất độc đáo tùy thuộc vào hoàn cảnh của trường và thành phần các giáo viên”

[84, tr 88] Hơn nữa, HĐNKVH là một hoạt động giáo dục kết hợp trước mắt và lâu dài, vừa có ý nghĩa thời sự, vừa có ý nghĩa chiến lược Hoạt động này có tác dụng ngăn chặn và phản công lại những quan điểm, thị hiếu thẩm mỹ xấu thông qua những phương tiện truyền thông đại chúng HĐNKVH cũng góp phần chống lại sự xâm nhập từ bên ngoài của nền văn hóa nghệ thuật tư sản; những thế lực thù địch không ngừng tấn công toàn diện vào thanh thiếu niên “Về lâu dài, ngoại khóa văn học trong nhà trường phổ thông có nhiệm vụ hướng dẫn thị hiếu nghệ thuật đúng đắn, rèn luyện

óc thẩm mỹ, lối sống năng động, hài hòa của học sinh [43, tr 381]

NKVH kiên trì mục đích giáo dục và phát triển nhân cách cho HS, vận dụng sáng tạo những hiểu biết văn học thu nhận trong nội khóa, vừa tập trung ứng dụng vào những hình thức hoạt động khác Có thể nói, HĐNK là một trong những con đường để thực hiện giáo dục toàn diện, có ý nghĩa hỗ trợ cho giáo dục nội khóa,

Trang 14

góp phần phát triển và hoàn thiện nhân cách, bồi dưỡng năng khiếu và tài năng sáng tạo cho HS, đáp ứng với mục tiêu đổi mới giáo dục Đồng thời HĐNK cũng

là con đường gắn lý thuyết với thực hành, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và xã hội

Tuy nhiên, thực tế dạy học Văn trong nhà trường phổ thông hiện nay chưa thật

sự chú trọng đến HĐNK, điều này đã làm giảm kết quả dạy và học của thầy và trò, kiến thức lẫn kỹ năng sống, kỹ năng làm việc của các em hình thành thiếu sâu sắc, không

đủ độ rộng và tính vững chắc của vấn đề mà các em nắm bắt Cũng như trong quá trình triển khai thực hiện HĐNK, các cơ sở giáo dục và GV còn gặp không ít lúng túng, khó khăn Các tài liệu tham khảo, hướng dẫn về tổ chức HĐNKVH trong trường phổ thông cũng chưa thực sự phong phú và ít nhiều còn tản mạn, thiếu tính chuyên sâu

Xuất phát từ những lí do nêu trên, với mong muốn góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học Văn, phát triển toàn diện tiềm năng, năng lực sáng tạo, tự học của HS, đa dạng hoá các hình thức giáo dục – dạy học trong chương trình Ngữ văn THPT hiện hành, đồng thời nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của HĐNKVH cho cán bộ, GV, HS và các lực lượng xã hội khác theo định hướng phát triển sau

2015, tôi quyết định lựa chọn thực hiện đề tài Xây dựng chương trình ngoại khóa

văn học cho học sinh lớp 11 trường THPT tỉnh Trà Vinh

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trong lịch sử giáo dục, HĐNK đã xuất hiện từ lâu, vào thời kì Phục Hưng, Rabơle (Francois Rabelais (1494-1553), một nhà tư tưởng, nhà giáo dục người Pháp đã từng nhấn mạnh sự cần thiết của HĐNK đối với sự nghiệp giáo dục: “Việc giáo dục phải bao hàm các nội dung trí dục, đạo đức, thể chất, thẩm mỹ ngoài việc học ở lớp còn có

những buổi tham quan xưởng thợ, các cửa hàng, tiếp xúc với các nhà văn, các nghị sĩ,

đặc biệt là mỗi tháng một lần, thầy và trò về sống ở nông thôn một ngày” [65, tr 386]

Đến thập niên 20, 30 của thế kỉ XX, A.S.Macarenco- nhà giáo dục nổi tiếng người Nga đã bàn về tầm quan trọng của công tác này Ông phát biểu: “Tôi kiên trì nói rằng các vấn đề giáo dục, phương pháp giáo dục không thể hạn chế trong các vấn

đề giảng dạy, lại càng không thể để cho quá trình giáo dục chỉ thực hiện trên lớp

Trang 15

học, ” Nghĩa là “trong bất kì hoàn cảnh nào cũng không được quan niệm rằng công tác giáo dục chỉ được tiến hành trong lớp” [83, tr 225]

Trong giáo trình Phương pháp dạy Văn học- tập 2 (V.A Nhikônxki, NXBGD,

1978), tác giả đã khẳng định vai trò quan trọng của HĐNK: “Hoạt động ngoại khóa

có tác động hình thành được những tập thể học sinh mới, liên kết nhau bởi hứng thú chung Dù tất cả hoạt động ngoại khóa không diễn ra một cách hấp dẫn và thu hút một khối lượng lớn học sinh, thì nó vẫn là sự bổ sung cho giờ học cơ bản” [84, tr 88] Tác giả cũng đã đưa ra những hình thức, tác dụng đích thực của HĐNK cũng như những khó khăn, phức tạp của công tác NKVH

Ở nước ta, HĐNK cũng có từ lâu trong lịch sử các trường từ phổ thông đến Đại học nhưng chưa được tiến hành đồng bộ, hình thức hoạt động còn đơn điệu, chưa có dự kiến những tiết học trải ra trên những thời điểm, chương trình cụ thể

Từ sau năm 1975, các nhà giáo dục đã bước đầu bắt tay vào việc nghiên cứu cách

tổ chức ngoại khóa; xác định nội dung, ý nghĩa của ngoại khóa Đặc biệt là trong khoảng hai mươi năm trở lại đây, vấn đề NKVH đã được một số công trình nghiên cứu chú ý, đề cập

Đáng chú ý nhất là trong giáo trình Phương pháp dạy học Văn (Phan Trọng

Luận chủ biên, NXB ĐHQGHN, 1996), toàn bộ nội dung chương IX được dành cho HĐNKVH ở trường phổ thông trung học (PTTH) (tr.378-390) Ở đây, những định hướng cơ bản của HĐNKVH được các tác giả triển khai qua các tiểu mục: 1)

Vị trí, mục đích, nhiệm vụ của HĐNKVH ở nhà trường PTTH trong điều kiện mới; 2) Khả năng đào tạo, giáo dục học sinh qua HĐNKVH ở PTTH; 3) Nguyên tắc HĐNKVH ở PTTH; 4) Hình thức hoạt động ngoại khoá văn học ở PTTH Tuy nhiên, trong những giáo trình, tài liệu hướng dẫn về phương pháp dạy học Văn

xuất bản trong thời gian gần đây (Phan Trọng Luận, Trương Dĩnh, Phương pháp dạy học Văn, NXB ĐHSP, 2004; Nguyễn Thanh Hùng, Lê Thị Diệu Hoa, Phương pháp dạy học Ngữ văn THPT, những vấn đề cập nhật, NXB ĐHSP, 2006, v.v.),

nội dung NHVK không được chính thức đề cập đến

Trang 16

Trong số các bài báo, Trần Thanh Bình có bài Tổ chức và hướng dẫn học sinh đọc ngoại khóa văn học (Tạp chí Giáo dục số 223, tháng 10/2009) đề cập đến cách

thức triển khai vấn đề đọc ngoại khoá - một nội dung trong chương trình NKVH

Cũng với cách tiếp cận tương tự, Nguyễn Trọng Hoàn trong bài Một số vấn đề về đọc hiểu văn bản Ngữ văn (Tạp chí Giáo dục số 156, tháng 4/2004), Trần Thanh Bình trong bài Mấy ý kiến về đọc hiểu văn bản văn học Việt Nam lớp 10 chương trình chuẩn (Tạp chí Dạy và học ngày nay, tháng 11/2007 v.v.) đều đánh giá cao vai trò hỗ

trợ tích cực của các “văn bản phụ” được tiếp nhận qua chương trình ngoại khoá đối với hoạt động đọc- hiểu các văn bản văn học trong chương trình chính khoá v.v

Gần đây, qua một số hội thảo như: “Hiệu quả của hoạt động ngoại khóa đối với việc nâng cao chất lượng dạy- học trong nhà trường phổ thông” của Viện Nghiên cứu giáo dục Trường ĐHSP Thành phố Hồ Chí Minh, “Công tác quản lí hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường phổ thông” của Trường Cán bộ quản lí giáo dục Thành phố Hồ Chí Minh v.v., một số vấn đề lí luận và thực tiễn của HĐNK nói chung cũng đã được đề cập và được làm sáng tỏ hơn Tuy nhiên, những nội dung liên quan trực tiếp đến công tác tổ chức và hướng dẫn NKVH ở trường phổ thông vẫn chưa thu hút được sự quan tâm chú ý của các nhà nghiên cứu

Có liên quan gần gũi với đề tài chúng tôi là một số luận văn Thạc sĩ do các học viên sau Đại học thực hiện trong những năm gần đây; ví dụ luận văn “Tác động của hoạt động ngoại khóa đến tính tích cực học tập của học sinh THPT” của Nguyễn Thị Thảo (Viện Đảm bảo chất lượng giáo dục – ĐHQGHN, 2013), luận văn “Hoạt động ngoại khóa văn học ở trường THPT” của Đoàn Thụy Bảo Châu (Trường ĐHSP TPHCM, 2010), luận văn “Tổ chức và hướng dẫn học sinh lớp 10 đọc ngoại khoá phần Văn học Việt Nam” của Hồ Thị Kim Chung (Trường ĐHSP TPHCM, 2014) v.v Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn chưa một tài liệu nào đề cập đến quy trình xây dựng một chương trình NKVH cho HS với đầy đủ cả hai phương diện: HĐNKVH và đọc ngoại khoá văn học (ĐNKVH) Do vậy, trong thời điểm hiện nay, đề tài của chúng tôi thực

sự là một đề tài cần thiết, có tính thời sự và tính khoa học – sư phạm cao

Trang 17

3 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài nhằm đề xuất quy trình, cách thức xây dựng và vận dụng chương trình NKVH cho HS lớp 11 trường THPT trên cả hai phương diện: ĐNKVH và HĐNKVH, góp phần nâng cao chất lượng dạy học Ngữ văn, đa dạng hoá các hình thức tổ chức dạy học trong chương trình hiện hành theo định hướng phát triển năng lực người học

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Xác định cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc xây dựng chương trình NKVH cho HS lớp 11 trường THPT

- Đề xuất quy trình, cách thức xây dựng và vận dụng chương trình NKVH cho

HS lớp 11 trường THPT trên cả hai phương diện: ĐNKVH và HĐNKVH

- Thực nghiệm: thiết kế một kế hoạch triển khai thực hiện cụ thể nhằm minh hoạ cho quy trình đã xây dựng; tổ chức thực nghiệm để rút kinh nghiệm, đánh giá kết quả và tính khả thi của việc ứng dụng đề tài vào thực tiễn

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: GV Ngữ văn, HS Trường THPT Phạm Thái Bường-

thành phố Trà Vinh và một số trường THPT trong tỉnh

- Phạm vi nghiên cứu: chương trình Ngữ văn lớp 11 THPT (chương trình chuẩn)

6 Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu vấn đề mà luận văn đặt ra, trong quá trình thực hiện, chúng tôi

đã kết hợp, vận dụng những phương pháp cơ bản sau:

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: được sử dụng để nghiên cứu lịch sử vấn

đề và phát hiện, rút ra những kết luận cần thiết về cơ sở lí luận thông qua việc tìm hiểu các tư liệu, giáo trình, các bài nghiên cứu có liên quan trực tiếp đến đề tài

- Phương pháp điều tra, khảo sát: được sử dụng để thu thập những tư liệu thực

tế về tình hình xây dựng và tổ chức chương trình NKVH ở địa phương

Trang 18

- Phương pháp thực nghiệm: thực nghiệm các giáo án đề xuất để rút kinh nghiệm, kiểm nghiệm khả năng ứng dụng cũng như xem xét mức độ đúng đắn, tính khả thi của đề tài

- Phương pháp thống kê: được sử dụng để xử lí các số liệu thu thập trong quá trình khảo sát, thực nghiệm, hỗ trợ cho phương pháp phân tích, tổng hợp nhằm đạt tới kết luận chính xác, khách quan

7 Đóng góp của luận văn

- Hệ thống hóa những vấn đề cơ bản của giáo dục học, lí luận dạy học, lí luận

và phương pháp dạy học Văn về các khái niệm: hoạt động ngoại khoá, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, hoạt động ngoại khoá văn học, đọc ngoại khoá văn học v.v nhằm làm nổi bật vai trò, vị trí của chương trình NKVH trong chương trình Ngữ văn hiện hành

- Xác định mối liên hệ giữa HĐGDNGLL trong chương trình giáo dục hiện hành với chương trình hoạt động trải nghiệm sáng tạo của chương trình giáo dục sau

2015, góp phần đưa chương trình giáo dục hiện hành tiếp cận với chương trình giáo dục theo định hướng phát triển năng lực người học sau 2015

- Góp phần đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng dạy học Văn, đa dạng hoá các hình thức dạy học Văn theo hướng phát triển năng lực người học

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Thư mục tham khảo, Phụ lục, nội dung của Luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn

Chương 2: Đề xuất chương trình ngoại khoá văn học lớp 11 trường THPT Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 19

1.1.1.1 Nguyên lý giáo dục

Đầu tiên, phải nói tới nguyên lí giáo dục được quán xuyến trên toàn bộ các nền giáo dục và xuyên suốt trong hệ thống giáo dục của nước ta được ghi rõ trong Luật Giáo dục: “Hoạt động giáo dục phải được thực hiện theo nguyên lí học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lí luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội” [54, tr 8] Theo nguyên

lí này, hoạt động “học” không phải chỉ hiểu lí thuyết mà còn phải biết áp dụng vào thực tế Nói về điều này, Bác Hồ đã có hình ảnh so sánh thú vị:

Lý luận phải đem ra thực hành Thực hành phải nhằm theo lý luận

Lý luận cũng như cái tên (hoặc viên đạn) Thực hành cũng như cái đích để bắn Có tên mà không bắn, hoặc bắn lung tung, cũng như không có tên

Lý luận cốt để áp dụng vào thực tế Chỉ học thuộc lòng, để đem loè thiên

hạ thì lý luận ấy cũng vô ích Vì vậy, chúng ta phải gắng học, đồng thời học thì phải hành [74, tr 2]

Từ đó, ta thấy, “học” là một hoạt động nhận thức tích cực, bao giờ cũng gắn với một động cơ nhất định Còn “hành” là sự vận dụng những điều đã học vào giải quyết những vấn đề do thực tiễn đặt ra Đó là sự vận dụng những hiểu biết để giải quyết bài tập, thực hành trong phòng thí nghiệm, ở vườn trường.v.v Đó còn là sự vận

Trang 20

dụng tri thức đã học để tổ chức cuộc sống của mình, của môi trường xung quanh mình, làm cho nó trở nên phong phú, rộng mở hơn Mỗi nhà trường phổ thông cần có chiến lược và kế hoạch cho các nội dung phối hợp ở ba phương diện: kiến thức, thái

độ, kỹ năng Những nội dung phối hợp này có thể dựa vào mục tiêu, nhiệm vụ, chương trình học hoặc những sự kiện, phong trào, hoạt động,… hiện tại trong môi trường giáo dục, xã hội để không những nâng cao hiệu quả giảng dạy mà còn có ý nghĩa trong cuộc sống, nâng cao ý thức, thái độ và kỹ năng sống cho HS Như vậy, học không chỉ

là ngồi ở trường lớp mà còn học ở ngoài trường lớp theo những hình thức ngoại khóa

để mở mang, khắc sâu hiểu biết

1.1.1.2 Mục tiêu giáo dục

Mục tiêu giáo dục hiện nay là học theo nhiều cấp độ và phải biết áp dụng vào thực tế, điều này được thể hiện súc tích qua 4 trụ cột giáo dục của thế kỉ XXI mà UNESCO đã xác định một cách toàn diện, vừa hiện đại vừa thực tế, vừa dân chủ và nhân văn: học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình Theo đó, mục đích học tập phải đáp ứng hai yêu cầu: tiếp thu kiến thức và thực hành, vận dụng kiến thức, từng bước hoàn thiện nhân cách Trước hết: "học để biết" tức là hiểu, nắm vững tri thức của nhân loại, tự mình làm giàu vốn kiến thức, tạo nền tảng quan trọng cho việc hình thành nhân cách và tri thức cho con người Qua việc học, chúng ta biết được những quy luật vận động của tự nhiên, những quy tắc chuẩn mực của xã hội, cách sống và hiểu hơn về giá trị cuộc sống Thứ hai: “học để làm” tức là vận dụng kiến thức vào cuộc sống, giải quyết các vấn đề nảy sinh trong cuộc sống Nhờ học để làm, con người tăng khả năng quan sát, đúc kết kinh nghiệm trong lao động Bên cạnh việc đề cao thu nhận kiến thức và thực hành, "học để chung sống, học để tự khẳng định mình" chính là học văn hóa ứng xử, khả năng giao tiếp, để hiểu hơn về thế giới xung quanh, biết mỉm cười trước niềm vui của người khác, biết đau trước những nỗi đau của con người, biết giúp đỡ, chia sẻ, cảm thông và tìm được chính mình Tri thức tự nó đã là sức mạnh giúp cho con người rộng lượng hơn, vị tha hơn, tự tin hơn trong cuộc sống, vươn tới cuộc sống tốt đẹp hơn cho mình và xã hội Trong quá trình học tập, con người tự hoàn thiện nhân cách, tri thức, khẳng định sự

Trang 21

tồn tại, giá trị của mình trong cuộc sống, trong lòng mọi người, trở thành con người

có ích cho xã hội Như vậy, “học” hiện nay không phải chỉ để thi cử với nội dung bó hẹp ở trường lớp, học trên sách vở mà còn học để có kĩ năng sống tốt hơn Mục đích học tập này, ta có thể tìm thấy trong HĐNK, đồng thời từ đó khẳng định rõ hơn vai trò quan trọng của HĐNK ở trường phổ thông

1.1.2 Cơ sở lí luận dạy học

Cơ sở lí luận dạy học là cơ sở mang tính định hướng cho HĐNK, là lí thuyết nền tảng của HĐNKVH

1.1.2.1 Khái niệm

Theo nghĩa rộng, khái niệm hoạt động giáo dục bao gồm hoạt động giáo dục trong giờ lên lớp (hoạt động dạy học) và HĐGDNGLL; theo nghĩa hẹp, hoạt động giáo dục dùng để chỉ riêng các HĐGDNGLL (hoạt động tập thể, hoạt động giáo dục theo chủ đề, hoạt động hướng nghiệp, hoạt động giáo dục nghề phổ thông…) Trong

sự phân biệt này, HĐNK tương đồng với HĐGDNGLL theo nghĩa rộng (Dự thảo nội dung về hoạt động trải nghiệm sáng tạo, Đề án Đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông, Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2014, tr.72)

HĐNK là những hoạt động được tổ chức ngoài giờ học các bộ môn văn hóa, được thực hiện có mục đích, kế hoạch, có tổ chức, giúp HS nâng cao hiểu biết, mở rộng kiến thức đã học trên lớp, củng cố các kỹ năng, hình thành thái độ đúng đắn trước những vấn đề của cuộc sống Nội dung của HĐNK rất đa dạng và phong phú, liên quan đến các mặt giáo dục như giáo dục đạo đức, lối sống, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục pháp luật,…Việc tổ chức các hoạt động này phải mang tính chất mềm dẻo, linh hoạt (về thời điểm, thời lượng hoạt động, quy mô hoạt động phù hợp với điều kiện thực tế, hình thức tổ chức hoạt động, lực lượng giáo dục tham gia hoạt động ,…) Các nội dung hoạt động phải mang tính tích hợp nhiều môn học, nhiều lĩnh vực đời sống xã hội Hơn thế, nó phải tạo cơ hội cho HS được trải nghiệm, thực hành những kiến thức, kỹ năng đã học vào thực tiễn cuộc sống Ví dụ như: thi tìm hiểu (dưới nhiều hình thức); thi văn nghệ, thể dục thể thao; thi khéo tay hay làm; trang trí lớp học,

Trang 22

trường học; làm đồ dùng đơn giản từ các phế liệu Quá trình tổ chức tập thể cần phải tạo cơ hội cho HS được tự khẳng định bản thân, được phát triển tiềm năng của bản thân Hoạt động cần được tổ chức dưới các hình thức phong phú, đa dạng, giúp chuyển tải các nội dung giáo dục tới HS một cách nhẹ nhàng, hấp dẫn Việc tổ chức các HĐNK phải có khả năng thu hút được sự tham gia của các lực lượng trong và ngoài nhà trường như Công đoàn, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Ban đại diện cha mẹ HS, phụ huynh HS,… tạo cơ hội cho HS được lĩnh hội các nội dung giáo dục bằng nhiều kênh khác nhau, với nhiều cách tiếp cận khác nhau

1.1.2.2 Vai trò của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

Để đảm bảo tính thống nhất, toàn diện của hoạt động giáo dục (theo nghĩa rộng), nội dung kế hoạch giáo dục các môn học trong chương trình giáo dục phổ thông cần phải bao gồm đầy đủ cả hoạt động giáo dục trong giờ lên lớp và HĐNK; hoạt động trong giờ lên lớp là tiền đề, là cơ sở; HĐNK là đòn bẩy, là điều kiện Sự kết hợp chặt chẽ giữa hai hoạt động này nhằm tạo điều kiện gắn bó các kiến thức môn học với đời sống, địa phương, cộng đồng, đất nước; góp phần hình thành, phát triển những phẩm chất, tư tưởng, ý chí, tình cảm, giá trị, kỹ năng sống và những năng lực chung cần có ở con người trong xã hội hiện đại, nhất là trách nhiệm với bản thân, cộng đồng, đất nước, môi trường tự nhiên; tính tự lập, tự tin, tự chủ; các năng lực sáng tạo, hợp tác, giao tiếp, tự quản lí bản thân, những kỹ năng hoạt động tập thể, hợp tác, kỹ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề, có hứng thú, tích cực, chủ động, linh hoạt, sáng tạo trong các hoạt động tập thể của lớp, trường Có thể nói, “HĐNK là sự nối tiếp, bổ sung cho hoạt động trên lớp, là con đường gắn lý luận với thực tiễn” [72,

tr 1], tạo ra sản phẩm đáp ứng mục tiêu của xã hội và đáp ứng mục tiêu giáo dục Cụ thể, nó thể hiện ở các mặt sau:

Về nhận thức: củng cố và khắc sâu kiến thức của các môn học, mở rộng và nâng cao hiểu biết cho HS về các lĩnh vực của đời sống xã hội, làm phong phú thêm vốn tri thức, kinh nghiệm hoạt động tập thể của HS

Về rèn luyện kỹ năng: mục tiêu của hoạt động là rèn luyện những kỹ năng cơ bản, cần thiết như kỹ năng giao tiếp, ứng xử có văn hóa, kỹ năng tổ chức quản lý và

Trang 23

xử lý các hoạt động, kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá kết quả học tập, rèn luyện Thông qua hoạt động, các em sẽ nhìn nhận, đánh giá được kết quả hoạt động của mình, biết rút kinh nghiệm để tự điều chỉnh, hoàn thiện bản thân, hướng tới mục tiêu giáo dục toàn diện

Về giáo dục thái độ: hoạt động này hình thành cho HS những tình cảm, đạo đức trong sáng với thầy cô, bạn bè, quê hương đất nước, bồi dưỡng cho các em lòng

tự trọng, các chuẩn mực đạo đức và những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, biết tôn trọng pháp luật, tích cực, năng động, chủ động, sáng tạo khi tham gia các hoạt động xã hội, hoạt động tập thể của nhà trường

Tóm lại, đây là cơ sở định hướng cho việc xây dựng các chương trình HĐGDNGLL cho tất cả các môn học trong chương trình giáo dục phổ thông, trong

đó có HĐNK môn Ngữ văn

1.1.3 Cơ sở lí luận và phương pháp dạy học Văn

Đặc thù bộ môn Văn vừa ảnh hưởng tới mức độ áp dụng ngoại khóa vừa quy định cách thức tiến hành cụ thể các HĐNKVH trong nhà trường Trong môn Văn, nội dung ngoại khóa dựa trên các cơ sở lí luận sau:

1.1.3.1 Mục tiêu bộ môn Ngữ văn

Môn Ngữ văn không chỉ có nhiệm vụ “bồi dưỡng tâm hồn” mà quan trọng hơn

là môn “công cụ” để HS có thể vận dụng những kiến thức và kỹ năng đã học vào trong cuộc sống và công việc

Mục tiêu dạy học Ngữ văn hiện nay là sự cụ thể hóa mục tiêu giáo dục nói chung, chú trọng dạy chữ, dạy người và hướng nghiệp Vì thế, dạy và học Văn không chỉ để rèn luyện năng lực cảm thụ, đánh giá và sáng tạo nghệ thuật mà còn phải có khả năng hiểu mình, hiểu người, chung sống hòa hợp với cộng đồng, định hướng được tương lai Đi vào cụ thể, môn Ngữ văn nhấn mạnh ba mục tiêu chính sau:

1) Trang bị những kiến thức phổ thông, cơ bản, hiện đại, có tính hệ thống về ngôn ngữ và văn học – trọng tâm là tiếng Việt và văn học Việt Nam – phù hợp với

Trang 24

trình độ phát triển của lứa tuổi và yêu cầu đào tạo nhân lực trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

2) Hình thành và phát triển ở HS các năng lực sử dụng tiếng Việt, tiếp nhận văn bản, cảm thụ thẩm mỹ, phương pháp học tập tư duy, đặc biệt là phương pháp tự học, năng lực ứng dụng những điều đã học vào cuộc sống

3) Bồi dưỡng cho HS tình yêu tiếng Việt, văn học, văn hóa, tình yêu gia đình, thiên nhiên, đất nước, lòng tự hào dân tộc, ý chí tự lập, tự cường, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, tinh thần dân chủ nhân văn, giáo dục cho HS trách nhiệm công dân, tinh thần hữu nghị hợp tác quốc tế, ý thức tôn trọng và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc

và nhân loại

Ở cấp THPT, “Mục tiêu trực tiếp, chủ yếu của môn Ngữ văn THPT là hình thành và rèn luyện cho học sinh năng lực đọc - hiểu cũng như tạo lập các loại văn bản” [64, tr 10] Không có năng lực đọc- hiểu thì không thề cảm thụ được thế giới nghệ thuật qua ngôn từ, không có kiến thức để tạo lập văn bản, không hiểu được quy ước và thực tiễn sử dụng tiếng Việt Vì lẽ đó, GV cần thiết phải

“giúp học sinh hình thành kỹ năng đọc văn, trưởng thành thành người đọc có văn hóa, chứ không phải là người biết thưởng thức việc giảng bài của thầy” [76, tr 5] Kỹ năng này sẽ giúp HS có những hiểu biết sâu sắc về đời sống, văn hóa, xã hội thông qua tác phẩm văn học trong và ngoài nhà trường, các em được hưởng thụ và bồi đắp tình cảm thẩm mỹ, hướng đến sự hoàn thiện về nhân cách “Đọc văn là để cảm, đế sống, để thưởng thức, để dùng, để tự phát triển bản thân” [75,

tr 4] Và để nâng cao kỹ năng đọc- hiểu cho HS, GV cần phải tổ chức cho HS ĐNKVH, phải giúp HS được trải nghiệm qua nhiều tác phẩm ngoài chương trình chính khoá, từ trải nghiệm mà mở rộng tri thức và biết vận dụng tri thức trong một phạm vi rộng lớn hơn Do vậy, dạy Văn không những dạy cho HS cách khám phá nguồn tri thức phong phú, đa dạng và bổ ích trong tác phẩm của chương trình chính khoá mà còn cung cấp cho HS những hiểu biết về thế giới bên ngoài, xã

Trang 25

hội và con người qua ĐNKVH Hiểu thế giới bên ngoài để hiểu chính bản thân mình; nhận thức để tự nhận thức, giúp cho thế giới tinh thần, trí tuệ của HS giàu

có hơn, phong phú hơn, sâu sắc hơn, rộng mở hơn và tinh tế hơn Dạy Văn là dạy sống, dạy người, dạy mở mang trí tuệ Dạy Văn là để dạy đạo đức và năng lực thưởng thức cái hay, cái đẹp của văn chương

1.1.3.2 Đặc điểm bộ môn Ngữ văn

Văn học là cuộc sống, không có mặt nào của cuộc sống lại không được phản ánh bằng cách này hay cách khác trong sáng tác của nhà văn Văn học nói chung phản ánh tất cả những cái gì nằm trong tầm mắt của con người Đó là thế giới cuộc sống đầy đủ được phản ánh qua lăng kính của tâm hồn, của ý thức người nghệ sĩ; đối tượng phản ánh của văn chương là cuộc sống con người; lĩnh vực văn chương là phương diện tinh thần của cuộc sống, trong đó nổi bật nhất là con người trong mối quan hệ

xã hội Vì vậy, dạy Văn và học Văn phải gắn liền với cuộc sống; và “Vốn sống từ thực

tế sẽ giúp các em đối chiếu, soi rọi vào tác phẩm để rút ra những ý nghĩ, cảm nhận cho riêng mình” [30, tr 49] Dạy học Văn gắn với đời sống trở thành nguyên tắc dạy học quan trọng nhất Chương trình Ngữ văn ngay từ đầu đã khẳng định: muốn phát huy chức năng của văn học, GV cần gắn liền việc giảng dạy văn học với đời sống

Nguyên tắc dạy học gắn liền với đời sống còn được diễn đạt theo cách khác như học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn và là nguyên tắc chi phối hoạt động dạy học của mọi môn học trong nhà trường Xét theo mục đích cuối cùng của việc dạy học thì không phải là việc HS có nắm vững kiến thức hay không mà quan trọng là HS có thực sự vận dụng được những kiến thức, kĩ năng của bài học vào hoạt động thực tiễn hay không Để làm được điều đó, trong giờ học, GV phải chú ý đến việc vận dụng những ví dụ từ thực tế để minh họa cho bài học; phải tạo điều kiện cho

HS được thực hành, được thể hiện quan điểm, năng lực, sở trường của mình, cũng như được khám phá nguồn tri thức mới thông qua các HĐNK về văn học

Tuy nhiên trong giai đoạn hiện nay, tình trạng thiếu hụt vốn sống, vốn văn hóa, văn học và kinh nghiệm thưởng thức nghệ thuật của HS ngày càng trở nên

Trang 26

trầm trọng khiến các em gặp khó khăn trong việc tiếp nhận văn chương Do vậy, vai trò của GV là phải truyền cho các em tình yêu văn học, nâng cao tầm đón nhận cho HS, giúp các em biết cách tự tìm kiếm tri thức, không ngừng bổ sung và trang

bị cho mình những kiến thức văn hóa, văn học cần thiết cho việc học Văn, đọc Văn Đồng thời giúp các em trở thành người đọc sáng tạo của nhà văn ngay từ khi các em còn ngồi trên ghế nhà trường Dạy và học Văn là phải sáng tạo; người học, người dạy phải phát huy tư duy năng động để phát hiện ra cái mới Đương nhiên, cái mới không thể ra đời với những người chỉ biết bó hẹp kiến thức trong chương trình, trong sách giáo khoa (SGK) mà phải tham gia nhiều hoạt động thì mới mở mang hiểu biết, giúp mở rộng nhận thức về cuộc sống, đưa đến những bài học, những cảm xúc thẩm mỹ cao đẹp, sâu lắng trong tâm hồn và tình cảm con người Những điều này phần lớn phụ thuộc vào bề dày vốn sống, tri thức, kinh nghiệm sống của mỗi cá nhân

Từ những điều trên, ta thấy, việc dạy học Ngữ văn ngày càng xích lại gần đời sống, góp phần phát triển ở HS khả năng tự sử dụng thuần thục kiến thức đã học, vừa

để giải quyết vấn đề của thực tiễn, vừa làm công cụ để tư duy, tìm tòi và sáng tạo trong cuộc sống, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong cơ chế kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Điều đó đòi hỏi các cơ sở giáo dục phải quan tâm xây dựng và ngày càng hoàn thiện chương trình NKVH một cách thích hợp, phù hợp với những điều kiện cụ thể của mình để môn Văn được thể hiện đúng tính chất của nó

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Khảo sát thực trạng

Đổi mới dạy học Văn là yêu cầu cấp thiết Trước hết, GV phải biết thiết kế, tổ chức cho HS thực hiện các hoạt động học tập Ngữ văn nhằm phát triển tư duy ngôn ngữ, rèn luyện kỹ năng nghe - nói - đọc - viết, năng lực cảm thụ tác phẩm văn chương; thường xuyên điều chỉnh các hoạt động học tập của HS, động viên và luôn tạo điều kiện cho các em tham gia tích cực, chủ động, sáng tạo trong quá trình tiếp nhận, giải

Trang 27

mã và sản sinh văn bản Song song đó, GV phải tạo điều kiện cho HS rèn luyện kỹ năng học tập tích cực, chủ động, hình thành thói quen vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết các vấn đề thực tiễn Sự vận dụng các phương pháp dạy học phải đi từ cái

HS đã có đến cái HS cần có, từ thực tiễn cuộc sống của HS tới kiến thức trong sách

Để tìm hiểu thực trạng xây dựng và tổ chức chương trình NKVH ở trường THPT tỉnh Trà Vinh, chúng tôi đã tiến hành một cuộc khảo sát nhỏ Cụ thể như sau:

a Mục đích yêu cầu: khảo sát thực tiễn xây dựng và tổ chức chương trình NKVH ở các trường phổ thông trong tỉnh Trà Vinh qua các chỉ số cơ bản: tần số tổ chức NKVH, cách thức tổ chức, nội dung ngoại khóa, kết quả đạt được và nhận thức của GV về NKVH Từ đó, đưa ra những nhận xét bước đầu về thực trạng xây dựng

và tổ chức chương trình NKVH ở các trường phổ thông trong tỉnh Trà Vinh, làm cơ

sở định hướng cho những đề xuất, kiến nghị

b Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp trò chuyện, trao đổi với GV về tình hình tổ chức NKVH

- Phương pháp điều tra: thiết kế 3 phiếu câu hỏi dành cho 3 đối tượng :

Trang 28

+ Mẫu 1: Dành cho Ban Giám Hiệu (BGH), gồm 10 câu hỏi + Mẫu 2: Dành cho GV dạy Văn, gồm 11 câu hỏi

+ Mẫu 3: Dành cho HS, gồm 9 câu hỏi

(Chi tiết xem Phụ lục)

c Đối tượng, địa bàn, thời gian khảo sát:

- Đối tượng, địa bàn khảo sát: 14 Hiệu trưởng, phó Hiệu trưởng; 64 GV môn Văn, 400 HS khối 11 các trường: THPT Phạm Thái Bường, THPT Thành phố Trà Vinh, Trường Dân tộc nội trú, THPT Hòa Lợi, THPT Vũ Đình Liệu, THPT Hồ Thị Nhâm, THPT Chuyên, THPT Dương Háo Học, THPT Dương Quang Đông, THPT Duyên Hải, THPT Long Hữu Các trường này có đội ngũ cán bộ, GV nhiệt tình, có kinh nghiệm trong giảng dạy, có những điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng và tổ chức NKVH, nâng cao chất lượng giáo dục

- Thời gian khảo sát: từ tháng 2/2015 đến tháng 3/2015

d Nội dung khảo sát:

a Đối với Ban Giám hiệu

a.1 Nhận thức về sự cần thiết của ngoại khóa văn học:

Kết quả khảo sát về mức độ nhận thức của BGH đối với việc xây dựng và tổ chức NKVH được thể hiện qua bảng thống kê, tính theo tỉ lệ % như sau:

Trang 29

Bảng 1.1 Nhận thức của BGH về NKVH

Tiêu chí Rất cần thiết Cần thiết Chưa cần thiết Không cần thiết

* Nhận xét:

Đại đa số BGH đều thống nhất cho rằng NKVH là một phương thức giáo dục quan trọng, rất cần thiết đối với HS THPT, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục (92,9%),

hỗ trợ việc tiếp thu kiến thức cho HS theo hướng mở (7,1%)

a.2 Nhận thức mục tiêu của ngoại khóa văn học

Để tìm hiểu mức độ nhận thức của BGH, chúng tôi nêu câu hỏi 2 trong mẫu khảo sát số 1 (phụ lục 1) Kết quả thu được như sau:

Bảng 1.2 Nhận thức của BGH về mục tiêu của NKVH

Đồng

ý

Không biết

Không đồng ý

1 Xây dựng được không khí học tập vui

3 Nâng cao kiến thức, phát triển nhân cách,

phát triển năng lực tự học cho học sinh

4 Đáp ứng nhu cầu, tâm lí của học sinh 78,6% 21,4% 00%

5 Gắn kiến thức với đời sống, gắn nhà

trường với xã hội

6 Giúp học sinh yêu thích môn học 92,9% 00% 1,1%

Trang 30

a.3.Thực trạng thực hiện các chức năng quản lí hoạt động ngoại khóa:

Để khảo sát việc thực hiện các chức năng quản lí HĐNK của BGH, chúng tôi nêu câu hỏi 3 trong mẫu khảo sát 1 (phụ lục 1) Kết quả thu được như sau:

Bảng 1.3 Thực trạng thực hiện các chức năng quản lí HĐNK

Trang 31

Bảng 1.4 Đánh giá của BGH về số lượng, tần số tổ chức các hình thức NKVH

xuyên

Thỉnh thoảng

Chưa thực hiện

11 Tổ chức cho học sinh sưu tầm những

tác phẩm, tác giả văn học địa phương

* Nhận xét:

Bảng thống kê từ nhận xét của BGH cho thấy thực trạng chung của các trường

về sự chỉ đạo tổ chức các hình thức NKVH còn ít, chỉ duy nhất có hình thức Đố vui văn học được tổ chức nhiều hơn những hình thức khác, trường nào cũng tổ chức hình

thức này, được đánh giá mức độ thường xuyên (35,7%), thỉnh thoảng (64,3%) Hình

thức Sân khấu hóa tác phẩm cũng được BGH quan tâm chỉ đạo thực hiện, các trường

đều đã tổ chức được hình thức này dù chỉ thỉnh thoảng tổ chức cho HS tham gia diễn kịch những tác phẩm trong nhà trường nhân dịp hội diễn văn nghệ tại trường hoặc lồng

ghép hình thức Đố vui văn học vào các cuộc thi kiến thức học đường Những hình thức khác thì ít được tổ chức hơn Còn hình thức Trao đổi, giao lưu với các tác giả đương thời lại chưa được chỉ đạo thực hiện vì gặp nhiều khó khăn trong việc phối hợp với các

Trang 32

đoàn thể, các tác giả văn học Đặc biệt, các hình thức ĐNKVH do có thể tổ chức trong phạm vi hẹp - trong lớp học nên hầu như GV không phải nhờ đến sự chỉ đạo của BGH a.4.2 Thực trạng hiệu quả của NKVH

Để khảo sát hiệu quả của NKVH qua nhận thức của BGH, chúng tôi nêu câu hỏi 6 trong mẫu khảo sát 1 (phụ lục 1) Kết quả thu được như sau:

Bảng 1.5 Thực trạng hiệu quả của NKVH

6 Trao đổi, giao lưu với các tác giả đương thời 50% 50%

11 Tổ chức cho học sinh sưu tầm những tác

phẩm, tác giả văn học địa phương

Trao đổi, giao lưu với các tác giả đương thời hầu như các trường chưa thực hiện được

Trang 33

nhưng nếu có điều kiện tổ chức thì cũng hỗ trợ rất lớn đối với việc học tập của các

em, được BGH đánh giá hiệu quả (50%)

a.5 Nhận thức về mức độ cần thiết của các biện pháp quản lí hoạt động ngoại khóa:

Để khảo sát nhận thức về mức độ cần thiết của các biện pháp quản lí HĐNK của BGH, chúng tôi nêu câu hỏi 10 trong mẫu khảo sát 1 (phụ lục 1) Kết quả thu được như sau:

Bảng 1.6 Thực trạng nhận thức về mức độ cần thiết của các biện pháp quản

lí HĐNK

thiết

Cần thiết

Ít cần thiết

Không cần thiết

1 Nâng cao nhận thức cho các lực lượng giáo dục, cho giáo viên bộ môn về vị trí, vai trò của hoạt động ngoại khóa

4 Tăng cường đầu tư kinh phí, cơ

sở vật chất, phương tiện phục vụ cho ngoại khóa

00% 71,4% 28,6% 00%

5 Tăng cường quản lí việc xây dựng và tổ chức các hoạt động ngoại khóa, nâng cao chất lượng hoạt động ngoại khóa

6 Kiểm tra, đánh giá chất lượng của các hoạt động ngoại khóa

Trang 34

* Nhận xét:

Từ kết quả khảo sát trên, chúng tôi nhận thấy mặc dù BGH các trường chưa thật sự chú trọng trong việc tổ chức, nâng cao chất lượng ngoại khóa.Tuy nhiên, bắt đầu từ năm học này (2014 - 2015), BGH các trường phổ thông đã bắt đầu thực hiện theo yêu cầu đổi mới toàn diện giáo dục, đã nhận thức tốt và đánh giá rất cao về sự cần thiết của các biện pháp quản lí giáo dục, BGH các trường đã nhận thức được việc xây dựng kế hoạch ngoại khóa là điều rất cần thiết; nếu có kế hoạch phối hợp tốt với các lực lượng tham gia, có sự chỉ đạo cụ thể đến tổ chuyên môn về việc xây dựng, thực hiện chương trình ngoại khóa nói chung thì việc tổ chức ngoại khóa sẽ thuận lợi hơn Điều quan trọng là có kế hoạch kiểm tra chặt chẽ việc thực hiện và đánh giá đúng đắn về kết quả ngoại khóa để nâng cao chất lượng dạy và học, đáp ứng với yêu

cầu đổi mới giáo dục hiện nay Riêng biện pháp Tăng cường đầu tư kinh phí, cơ sở vật chất, phương tiện phục vụ cho ngoại khóa thì một số ít BGH cho rằng chưa cần

thiết (28.6%) Điều này chứng tỏ, BGH nhận thức rằng, tùy điều kiện của mỗi trường, nếu có kế hoạch xây dựng chương trình ngoại khóa phù hợp và có sự quản lí tốt thì

sẽ mang lại hiệu quả giáo dục cao

b Đối với giáo viên và học sinh

b1 Nhận thức về sự cần thiết của NKVH:

Để tìm hiểu thực trạng mức độ nhận thức của GV và HS THPT ở tỉnh Trà Vinh

về sự cần thiết của NKVH, chúng tôi nêu câu hỏi 1 ở mẫu khảo sát số 2 và 3 (phụ lục

2, 3) Kết quả thu được như sau:

Bảng 1.7 Nhận thức của GV và HS về về sự cần thiết của NKVH

* Nhận xét:

Trong 4 nội dung trên, chúng tôi nhận thấy HS đã nhận thức được NKVH thật

sự rất cần thiết đối với hoạt động học tập của mình (73,8%) Tuy nhiên, vẫn có một

Trang 35

phần nhỏ HS cho hoạt động NKVH là bình thường, chưa cần thiết, chiếm tỉ lệ (9,5%),

số HS này chỉ mong muốn được GV cung cấp tri thức cho mình và cho vậy là đã đủ kiến thức để làm bài kiểm tra, thi cử,

Đại đa số GV (90,6%) đều thống nhất với ý kiến của BGH, cho rằng NKVH thật sự rất cần thiết trong hoạt động học tập của HS Chính hoạt động này tiếp nối hoạt động trên lớp, giúp HS tự hoàn thiện bản thân

b2 Nhận thức mục tiêu của ngoại khóa văn học

Để tìm hiểu mức độ nhận thức của GV và HS về mục tiêu của NKVH theo mục tiêu giáo dục hiện nay, chúng tôi nêu câu hỏi 3 trong mẫu khảo sát số 2 (phụ lục 2) và câu hỏi 2 trong mẫu khảo sát số 3 (phụ lục 3) Kết quả thu được như sau:

Bảng 1.8 Nhận thức của GV và HS về mục tiêu của NKVH

Đồng

ý

Không biết

Không đồng ý

Đồng

ý

Không biết

Không đồng ý

1 Xây dựng được không khí học tập vui tươi, lành mạnh, bổ ích

2 Bồi dưỡng thái độ tự giác, tích cực tham gia các hoạt động học tập

3 Nâng cao kiến thức, phát triển nhân cách, phát triển năng lực tự học cho học sinh

6 Giúp học sinh yêu thích môn học

Trang 36

+ Mục tiêu nâng cao kiến thức, phát triển nhân cách, phát triển năng lực

tự học (67,5%)

+ Mục tiêu đáp ứng nhu cầu, tâm lí của HS (65%)

+ Mục tiêu gắn kiến thức với đời sống, gắn nhà trường với xã hội (57%) + Mục tiêu giúp HS yêu thích môn học (50%)

Trong 6 mục tiêu trên, có hai mục tiêu HS đồng ý nhiều, đó là các mục tiêu 1 và 2 với tỉ lệ khoảng (87 %) Trong đó, mục tiêu xây dựng được không khí học tập vui tươi, lành mạnh, bổ ích có tỉ lệ cao nhất, điều này chứng tỏ các em rất xem trọng kiến thức mà các môn học cung cấp, đồng thời thái độ học tập, không khí các buổi học cũng rất quan trọng trong việc tiếp thu tri thức mới Tuy nhiên, mục tiêu giúp HS yêu thích môn học qua NKVH có tỉ lệ HS đồng ý chưa thật cao, chỉ đạt (50 %), còn nhiều HS phân vân và không đồng ý với mục tiêu này Điều này phản ánh thực trạng nội dung và cách thức tổ chức NKVH còn hạn chế, chưa có chiều sâu, chưa có sự đầu tư đúng mức Ngoài ra, mục tiêu gắn kiến thức với đời sống, gắn nhà trường với xã hội cũng có tỉ lệ chưa cao (57%)

Đó có thể là do chương trình NKVH ít gắn với tình hình địa phương Vì vậy, chúng ta cần chú trọng nội dung, hình thức tổ chức các hoạt động NKVH để tạo được sự hứng thú cho HS, giúp các em phát huy tối đa tiềm năng của mình

b3 Thực trạng tổ chức ngoại khóa văn học

b3.1 Thực trạng mức độ tổ chức NKVH

Trang 37

Để tìm hiểu thực tế về mức độ tổ chức NKVH ở các trường phổ thông trong tỉnh Trà Vinh, chúng tôi nêu câu hỏi 4,5,6 ở mẫu khảo sát số 2 (phụ lục 2) và câu hỏi

3 ở mẫu khảo sát số 3(phụ lục 3) Kết quả thu được như sau:

8 Tổ chức cho học sinh đọc các tác phẩm có cùng tác giả

9 Tổ chức cho học sinh đọc những tác phẩm

có cùng đề tài

10 Tổ chức cho học sinh đọc những tác phẩm

có cùng thể loại

11 Tổ chức cho học sinh sưu tầm những tác phẩm, tác giả văn học địa phương

Trang 38

8 Tổ chức cho học sinh đọc các tác phẩm có cùng tác giả

9 Tổ chức cho học sinh đọc những tác phẩm

có cùng đề tài

10 Tổ chức cho học sinh đọc những tác phẩm

có cùng thể loại

11 Tổ chức cho học sinh sưu tầm những tác phẩm, tác giả văn học địa phương

Trang 39

* Nhận xét:

Qua 2 bảng thống kê từ GV và HS, có thể thấy thực trạng chung của các trường

về mức độ sử dụng, tổ chức các hình thức NKVH là còn rất ít, trừ hình thức Đố vui văn học và Sân khấu hóa tác phẩm được chú ý tổ chức mặc dù không thường xuyên

Những hình thức này được tổ chức lồng ghép trong hoạt động của Đoàn, các cuộc thi, nhân dịp hội diễn văn nghệ tại trường theo kế hoạch của Đoàn trường, của Tổ chuyên môn; có lẽ 2 hình thức này gần gũi với HS, và HS cũng muốn thể hiện năng lực, sở trường cũng như sự sáng tạo của mình qua việc tiếp thu tác phẩm văn học trong nhà trường

Còn những hình thức ngoại khóa khác thì mức độ chưa thực hiện rất cao (gần 70%) Đa số các trường chưa thực hiện những buổi NKVH riêng cho HS Giờ sinh hoạt dưới cờ cũng ít khi tổ chức NKVH, nếu có thì là hình thức đố vui để học được sắp xếp xen kẽ với các môn học khác

Hình thức Tham quan, dã ngoại ít được tổ chức hơn vì mất nhiều thời gian,

công sức chuẩn bị, liên quan đến kinh phí tổ chức, đòi hỏi có sự phối hợp của các

Phòng, Ban, nhà trường, gia đình HS, Còn hình thức Trao đổi, giao lưu với các tác giả đương thời lại chưa được chú trọng thực hiện do hình thức này gặp nhiều khó

khăn trong việc phối hợp với các lực lượng tham gia, trong kế hoạch chỉ đạo của nhà

trường Hình thức Tọa đàm văn học, Thi kiến thức văn học cũng ít được tổ chức vì

mất nhiều công sức để xây dựng chương trình, cũng cần sự phối hợp của nhiều người

Các hình thức Đọc ngoại khoá văn học thì tổ chức dễ hơn, dễ dàng áp dụng trong

phạm vi lớp học, nằm trong tầm kiểm soát của GV nên thỉnh thoảng cũng được GV dạy lớp áp dụng đến để giúp HS mở rộng vốn kiến thức

b3.2 Thực trạng hiệu quả của NKVH

Chúng tôi nêu câu hỏi 7 trong mẫu khảo sát 2 (phụ lục 2), câu hỏi 4 trong mẫu khảo sát 3 (phụ lục 3) để khảo sát hiệu quả của NKVH qua nhận thức của GV và HS Kết quả được tổng hợp như sau:

Trang 40

Bảng 1.11 Thực trạng hiệu quả của NKVH

6 Trao đổi, giao lưu với các tác giả đương thời 50,6% 49,4%

11 Tổ chức cho học sinh sưu tầm những tác

phẩm, tác giả văn học địa phương

* Nhận xét:

Từ kết quả khảo sát trên, có thể nhận thấy nhận thức của GV và HS về hiệu quả của NKVH, mặc dù không thống nhất hoàn toàn nhưng mức độ chênh lệch không

cao Hai hình thức Đố vui văn học và Sân khấu hóa tác phẩm đều được đánh giá đạt

hiệu quả gần như tối đa (95%) Những hình thức hoạt động NKVH khác cũng được

đánh giá tương đối cao, kể cả hình thức Trao đổi, giao lưu với các tác giả đương thời

dù chưa thực hiện được nhưng trong nhận thức của GV và HS, đây là hoạt động bổ ích, giúp các em mở rộng kiến thức, nâng cao hiểu biết khi được trực tiếp giao lưu

với nhà văn, nhà thơ Điều đáng nói là các hình thức Đọc ngoại khóa văn học chưa

thu được kết quả cao (chưa đạt 50%) Thực tế này cho thấy HS lười đọc sách, chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc đọc sách, cũng như GV chưa có cách thức

tổ chức cho HS đọc NKVH phù hơp

Ngày đăng: 04/05/2017, 21:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Nguyễn Như An (1990), Phương pháp dạy học giáo dục, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học giáo dục
Tác giả: Nguyễn Như An
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1990
[2] Nguyễn Ngọc Bảo (1995), Phát triển tính tích cực, tính tự lực của học sinh trong quá trình dạy học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển tính tích cực, tính tự lực của học sinh trong quá trình dạy học
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bảo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1995
[3] Lê Khánh Bằng (1999), “Góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của quá trình tự học theo quan điểm giáo dục hiện đại”, Kỷ yếu hội thảo khoa học, Khoa Tâm lí Giáo dục, ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của quá trình tự học theo quan điểm giáo dục hiện đại”, "Kỷ yếu hội thảo khoa học
Tác giả: Lê Khánh Bằng
Năm: 1999
[4] Nguyễn Thanh Bình (2003), “Một vài trao đổi xung quanh công tác ngoại khóa văn học trong nhà trường THPT”, Thông tin khoa học, Đại học An Giang, (15), tr. 41-43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài trao đổi xung quanh công tác ngoại khóa văn học trong nhà trường THPT”, "Thông tin khoa học
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Năm: 2003
[5] Trần Thanh Bình (2007), “Mấy ý kiến về đọc hiểu văn bản văn học Việt Nam lớp 10 chương trình chuẩn”, Tạp chí Dạy và học ngày nay, (11), tr. 7-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy ý kiến về đọc hiểu văn bản văn học Việt Nam lớp 10 chương trình chuẩn”," Tạp chí Dạy và học ngày nay
Tác giả: Trần Thanh Bình
Năm: 2007
[6] Hoàng Hòa Bình (2008), “Phương pháp dạy học Ngữ văn- từ lí thuyết đến thực hành”, Tạp chí Khoa học giáo dục, (33), tr. 6-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Ngữ văn- từ lí thuyết đến thực hành”," Tạp chí Khoa học giáo dục
Tác giả: Hoàng Hòa Bình
Năm: 2008
[7] Trần Thanh Bình (2009), “Tổ chức và hướng dẫn học sinh đọc ngoại khóa văn học”, Tạp chí Giáo dục, (223), tr. 23-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức và hướng dẫn học sinh đọc ngoại khóa văn học”, "Tạp chí Giáo dục
Tác giả: Trần Thanh Bình
Năm: 2009
[8] Hoàng Hòa Bình (2013), “Từ đổi mới mục tiêu giáo dục đến đổi mới phương pháp dạy học Ngữ Văn”, Tạp chí Khoa học giáo dục, (91), tr. 4-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ đổi mới mục tiêu giáo dục đến đổi mới phương pháp dạy học Ngữ Văn”," Tạp chí Khoa học giáo dục
Tác giả: Hoàng Hòa Bình
Năm: 2013
[9] Hoàng Hòa Bình (chủ biên) (2014), Dạy học Ngữ Văn ở trường phổ thông, NXB ĐHQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học Ngữ Văn ở trường phổ thông
Tác giả: Hoàng Hòa Bình (chủ biên)
Nhà XB: NXB ĐHQG
Năm: 2014
[10] Trần Thanh Bình (2015), “Một số vấn đề phát triển chương trình nhà trường”, Tạp chí Giáo dục, (352), tr. 4-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề phát triển chương trình nhà trường”, "Tạp chí Giáo dục
Tác giả: Trần Thanh Bình
Năm: 2015
[11] Trần Thanh Bình (2015), “Nghiên cứu cấu trúc bài học trong phương pháp giảng dạy văn học của Cộng Hòa Liên Bang Nga”, Tạp chí Khoa học Quản lý Giáo dục, (1), tr. 28-35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cấu trúc bài học trong phương pháp giảng dạy văn học của Cộng Hòa Liên Bang Nga”, "Tạp chí Khoa học Quản lý Giáo dục
Tác giả: Trần Thanh Bình
Năm: 2015
[12] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Điều lệ trường THPT, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ trường THPT
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
[13] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình SGK lớp 11 về HĐGDNGLL, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình SGK lớp 11 về HĐGDNGLL
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
[14] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014), Kỷ yếu Hội thảo khoa học Dạy học Ngữ văn trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phổ thông, Trường ĐHSP TP. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Hội thảo khoa học Dạy học Ngữ văn trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phổ thông
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2014
[15] Nguyễn Văn Cương (2011), “Thực chất của việc dạy đọc- hiểu và tích hợp ở môn Ngữ Văn”, Tạp chí Khoa học giáo dục, (65), tr. 12-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực chất của việc dạy đọc- hiểu và tích hợp ở môn Ngữ Văn”, "Tạp chí Khoa học giáo dục
Tác giả: Nguyễn Văn Cương
Năm: 2011
[16] Đoàn Thụy Bảo Châu (2010), Hoạt động ngoại khóa văn học ở trường THPT, Trường ĐHSP TP. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động ngoại khóa văn học ở trường THPT
Tác giả: Đoàn Thụy Bảo Châu
Năm: 2010
[17] Nguyễn Thị Ngọc Chúc (1981), Hướng dẫn tổ chức hoạt động vui chơi, NXB Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn tổ chức hoạt động vui chơi
Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Chúc
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 1981
[18] Hồ Thị Kim Chung (2014), Tổ chức và hướng dẫn học sinh lớp 10 đọc ngoại khoá phần Văn học Việt Nam, Trường ĐHSP TP. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức và hướng dẫn học sinh lớp 10 đọc ngoại khoá phần Văn học Việt Nam
Tác giả: Hồ Thị Kim Chung
Năm: 2014
[19] Nguyễn Văn Dân (2006), Phương pháp luận nghiên cứu văn học, NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu văn học
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: NXB Khoa Học Xã Hội
Năm: 2006
[20] Bùi Xuân Dũng, Phạm Thị Kiên (2009), “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là cơ sở để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Khoa học Quản lý Giáo dục, (1), tr. 19-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là cơ sở để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam hiện nay”, "Tạp chí Khoa học Quản lý Giáo dục
Tác giả: Bùi Xuân Dũng, Phạm Thị Kiên
Năm: 2009

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w