Về tục ngữ Nam Bộ chủ yếu là các công trình tổng hợp tục ngữ của các tác giả: - “Văn học Miền Nam Lục Tỉnh” của Nguyễn Văn Hầu , Nhà xuất bản trẻ năm 2012.. Mục đích, yêu cầu của đề tài
Trang 1ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH
LÊ KIM CHIỀU
ỨNG XỬ VỢ CHỒNG CỦA NGƯỜI VIỆT QUA CA DAO, TỤC NGỮ NAM BỘ
Chuyên ngành: VĂN HÓA HỌC
Mã số: 60310640
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HÓA HỌC
Trà Vinh, tháng 9 năm 2015
Trang 2Công trình được hoàn thành tại
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHẠM TIẾT KHÁNH
Phản biện 1: PGS.TS PHẠM THỊ THU YẾN Phản biện 2: TS NGUYỄN THỊ HUỆ
Luận văn được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ Văn hóa học họp tại Trường Đại học Trà Vinh
vào ngày 01 tháng 11 năm 2015
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
Thư viện trường Đại học Trà Vinh
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
Tìm đến với ca dao Nam Bộ là để tìm tòi, khám phá thêm những nét văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của người Việt ở Nam Bộ Vì ca dao vừa là tiếng nói tâm tình ghi nhận lại những nét sinh hoạt trong cuộc sống thường ngày, đồng thời qua đó gửi gắm những kinh nghiệm về đối nhân xử thế Ca dao cũng là nơi lưu giữ những tinh hoa của đời trước cho đời sau
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ninh Viết Giao trong Hát phường vải, do NXB Văn
hóa thông tin và trung tâm Văn hóa ngôn ngữ Đông Tây xuất bản năm 1961 đã đề cập : Tình yêu của trai gái của nhân vật trữ tình hiện lên với nhiều cung bậc khác nhau, có khi nồng nàn tha thiết, mãnh liệt không có gì có thể ngăn
cản nổi “ lễ giáo không cho phép thì họ vượt qua ngoài vòng
lễ giáo, họ phá tan xiềng xích lễ giáo Trước mắt họ, trong lòng họ chỉ có người yêu” [ 36, Tr.80]
Chu Xuân Diên trong quyển “Văn học dân gian Việt
Nam”, NXB Giáo dục 1962, ở phần “ Ca dao dân ca Việt Nam”, tác giả đề cập đến những nội dung phong phú của ca
dao nói chung: phản ánh lịch sử, phong tục tập quán tiếng hát trữ tình của con người Tác giả khảo sát hai loại đề tài lớn: trong đời sống riêng tư, gia đình và đời sống xã hội
Ca dao – dân ca Nam Bộ của nhóm tác giả Bảo Định
Giang, Nguyễn Tấn Phát, Trần Tấn Vĩnh, Bùi Mạnh Nhị biên soạn, nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh in năm
Trang 41984 Công trình chia thành 2 phần: Chuyên luận và công
bố các sưu tầm ca dao – dân ca Nam Bộ
“Ca dao- dân ca Nam Kì lục tỉnh “do Huỳnh Ngọc
Trảng biên soạn, Nhà xuất bản tổng hợp Đồng Nai xuất bản lần 1 năm 1998 Đây là công trình tập hợp lại các xuất bản của các nhà nhà nghiên cứu công bố từ cuối thế kỉ XIX đến giữa thế XX ở Nam Bộ bao gồm:
“Câu hát góp” do Huỳnh Tịnh Của sưu tập và công
bố lần đầu vào năm 1897, tái bản năm 1901
“Hát và hò góp” do Nguyễn Công Chánh biên soạn,
nhà xuất bản Thuận Hóa xuất bản năm 1967 tại Chợ Lớn
“Hò xay lúa” do Hoàng Minh Tự sưu tập, nhà xuất
bản Phạm Văn Cường xuất bản năm 1959 tại Chợ Lớn
“Câu hát đối đáp” do Nguyễn Bá Thời sưu tập, nhà
xuất bản Phạm Văn Cường xuất bản năm 1959 tại Chợ Lớn
“Câu hát huê tình” do Trần Đình Thái Sơn sưu tầm,
nhà xuất bản Phạm Văn Tươi xuất bản năm 1956 tại Sài Gòn
- “Văn học dân gian đồng bằng Sông Cửu Long”, do
khoa Ngữ văn Trường Đại Học Cần Thơ sưu tầm và biên soạn ( nhà xuất bản Giáo dục xuất bản lần 1 năm 1997, tái bản lần 2 năm 2002) Đây là công trình biên soạn, công bố những tài liệu sưu tầm điền dã ở Đồng bằng sông Cửu Long sau những năm 1980 Công trình giới thiệu tương đối bao quát các thể loại chính của văn học dân gian vùng đồng bằng sông Cửu Long, trong đó phần ca dao chiếm số lượng tương đối nhiều
- Đoàn Xuân Kiên trong “Ca dao Miệt vườn” - 1982
nói về công tác bước đầu sưu tầm ca dao, dân ca Nam Bộ
Trang 5- Sở văn hóa và thông tin Tiền Giang có “Văn học
dân gian Tiền Giang”– 1985 – giới thiệu và sưu tầm văn
học dân gian Tiền Giang
- Nguyễn Vạn Niên “Ca dao dân ca Châu Đốc” –
1988 – đã sưu tầm, ca dao phân loại giới thiệu ca dao vùng đất này
- Thạch Phương chủ biên với “Địa chí Long An”
1989 đã dành một phần để giới thiệu ca dao Long An
- Đoàn Tứ, Thạch Phương ( chủ biên) với “Địa chí
Bến Tre” ( 1991) đã dành một phần để giới thiệu và sưu tầm
ca dao – dân ca Bến Tre
- Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc với “Tục Ngữ - Phong
- “Thơ văn Đồng Tháp”, tuyển tập I do trường Đại
học Sư Phạm thành phố Hồ Chí Minh và Trường Cao đẳng
Sư Phạm Đồng Tháp biên soạn ( Nhà xuất bản Đồng Tháp
in năm 1986)
Như vậy, dù là “ Thơ văn Đồng Tháp” ( nhất là phần
văn học dân gian) những cũng là của Nam Bộ; dù là tính cách con người Đồng Tháp nhưng cũng là tính cách con người Nam Bộ
Tạp chí Văn hóa dân gian số 2, 1990, trang 62 đăng
bài của Nguyễn Trọng Hoàn, “Đến với ca dao Đồng Tháp
Trang 6Mười; với vẻ đẹp của bài ca dao sông nước”
Chiếc xuồng giăng câu Đậu ngang cồn cát Đậu sát mé nhà Anh thấy em có một mẹ già Muốn vô phụng dưỡng biết là được chăng?
- “Ca dao Đồng Tháp” do Đỗ Văn Tân chủ biên (
nhà xuất bản Văn hóa – thông tin Đồng Tháp in năm 1984)
So với các công trình kể trên thì Ca dao Đồng Tháp Mười
có quy mô nhỏ, số lượng ít hơn nhiều, chỉ tập trung vào thể loại ca dao
- “Cảm nhận ca dao Nam Bộ” của Trần Văn Nam (
nhà xuất bản Văn Nghệ TPHCM, in năm 2007)
“
- “Văn hóa dân gian người Việt Nam Bộ” của nhóm
tác giả Thạch Phương, Hồ Lê, Huỳnh Lứa, Nguyễn Quang Vinh ( nhà xuất bản Khoa học xã hội in năm 1992)
- “Văn hóa dân gian Nam Bộ”, những phác thảo là
chuyên luận của Nguyễn Phương Thảo ( nhà xuất bản Giáo dục in năm 1994) Sach được tập hợp từ 14 bài viết đã được công bố trước đó của tác giả
- “Văn hóa sông nước Cần Thơ “do Trần Văn Nam
chủ biên ( nhà xuất bản Văn nghệ TP HCM, in nă 2009)
“Văn hóa sông nước Cần Thơ” tập hợp các bài viết
đã đăng rải rác trên các báo địa phương của một số tác giả
ở Cần Thơ Nội dung công trình chia làm bốn phần: mở đầu, văn hóa tinh thần, văn hóa vật chất và ẩm thực
Trang 7Về tục ngữ Nam Bộ chủ yếu là các công trình tổng hợp tục ngữ của các tác giả:
- “Văn học Miền Nam Lục Tỉnh” của Nguyễn Văn Hầu
, Nhà xuất bản trẻ năm 2012
- Kết quả khoa học công nghệ đề tài: “ Sưu tầm văn
học dân gian Cần Thơ”, Các chuyên đề : Ca dao và tục ngữ Cần Thơ, tiến sĩ Trần Văn Nam năm 2011
Công trình này tác giả tổng hợp các cấu ca dao, tục ngữ về Cần Thơ
3 Mục đích, yêu cầu của đề tài
Nghiên cứu về đề tài “Ứng xử vợ chồng của người
Việt qua ca dao, tục ngữ Nam bộ” người viết sẽ được
nghiên cứu sâu hơn về ca dao, tục ngữ Nam bộ, thể hiện tình cảm gia đình qua góc nhìn văn hóa Tìm ra hướng tiếp cận mới về ca dao mà các nhà nghiên cứu chưa đề cập đến nhiều
4 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ ca dao, tục ngữ được sưu tầm ở Nam Bộ
Phạm vi nghiên cứu: Các bài ca dao, tục ngữ Nam Bộ
có liên quan đến ứng xử vợ chồng của người Việt Nam Bộ
5 Phương hướng và phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp chính khi thực hiện đề tài:
- Phương pháp thống kê, phân tích
- Phương pháp tổng hợp so sánh
- Phương pháp tiếp cận liên ngành
6 Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm ba phần ( mở đầu, nội dung, kết luận)
Trang 8Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 Giới thuyết về ca dao, tục ngữ
1.2 Khái niệm
1.2.1 Khái niệm về ca dao
Như vậy, về khái niệm ca dao hiện nay chưa có sự thống nhất trong các nhà nghiên cứu nhưng tựu trung lại có thể nói: Ca dao là tiếng nói của tâm tư, tình cảm về cuộc sống của nhân dân lao động Ca dao là những sáng tác nghệ thuật ngôn từ được lưu truyền trong dân gian từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ địa phương này sang địa phương khác
1.2.2 Khái niệm về tục ngữ
Tục ngữ là những câu ngắn gọn, xuôi tai, diễn đạt những kinh nghiệm của nhân dân về thiên nhiên và lao động sản xuất về con người và đời sống xã hội
Về hình thức: Tự thể hiện một câu
Về cấu trúc : Tục ngữ có từ hai vế trở lên giữa hai
vế thường có sự hòa hợp về nhịp điệu, âm vận
Về nội dung: Tục ngữ thể hiện phán đoán ( thành ngữ thể hiện khái niệm)
Về ngữ nghĩa: mỗi câu tục ngữ thường có hai nghĩa (nghĩa đen và nghĩa bóng)
Về thể loại: tuc ngữ là một thể loại sáng tác văn học dân gian ( ngang với ca dao dân ca) gắn lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân lao động)
Ý nghĩa của những câu tục ngữ thường khuyên răn hoặc chỉ bảo điều gì và nặng về lí trí ( ca dao thiên về tình cảm)
Trang 91.2.3 Đặc điểm
1.2.3.1 Đặc điểm về ca dao
Ca dao rất nhiều hình ảnh, hình ảnh ca dao thể hiện rất gần gũi, gắn bó với đời sống nông thôn của nhân dân, tuy đơn sơ mộc mạc nhưng phần lớn đã trở thành biểu tượng trong ca dao Ca dao sử dụng nhiều thể thơ khác nhau như thể lục bát, song thất lục bát…các kiểu cấu tứ của ca dao khá phong phú: cấu tứ theo lối ngẫu nhiên có chủ đề nhất định, cấu tứ theo lối đối thoại,cấu tứ theo lối phô diễn về thiên nhiên Mặc khác, ca dao cũng có phần được hình thành
từ xu hướng cấu tạo những lời nói có vần và nhịp trong dân gian do đó vẫn thường được dùng trong lời nói hàng ngày
1.2.3.2 Đặc điểm về tục ngữ
Tục ngữ được dùng để diễn đạt các phán đoán, cho nên chức năng của nó là thông báo, thông báo một nhận định , một kết luận về một phương diện của thế giới khách quan
Chức năng nhận thức: Tục ngữ đem lại cho người tiếp nhận những nhận thức hiểu biết mới mẻ
Chức năng giáo dục: Tục ngữ mang đến cho ta những bài học, kinh nghiệm lời khuyên về lối sống, về cách đối nhân xử thế, về đạo lí làm người…
Chức năng thẩm mỹ: Mỗi câu tục ngữ hoàn cảnh là một tác phẩm nghệ thuật “tí hon” mang giá trị thẩm mỹ
1.2.4 Đặc điểm của ca dao, tục ngữ Nam Bộ
- Đặc điểm về ca dao Nam Bộ
Thứ nhất, đó là những lời ca truyền thống từ miền Bắc, miền Trung theo chân người đi khai hoang đến đất Nam Bộ, tiếp tục lưu hành ở Nam Bộ như một phần tâm hồn của những người con đi xa hướng về cố hương , về quê
Trang 10cha đất tổ Trong các sưu tầm về ca dao ở Nam Bộ, chúng
ta dễ dàng bắt gặp những câu truyền thống như
Thứ hai, đó cũng là những lời ca truyền thống của miền Bắc, miền Trung nhưng nó đã được cải biên ( địa phương hóa ) cho phù hợp với hoàn cảnh mới, tâm trạng mới
Thứ ba, đó là những lời ca được sáng tác và lưu truyền ngay trên mảnh đất Nam Bộ, in đậm dấu ấn thiên nhiên và con người của vùng đất này Đại bộ phận ca dao
sư tầm ở Nam Bộ là những sáng tác mới, được lưu truyền hoàn toàn trên mảnh đất này Nó mang những đặc trưng riêng so với ca dao các vùng miền khác
- Đặc điểm về tục ngữ Nam Bộ
Phản ánh các mối quan hệ gia đình, xã hội ,hoạt động giao tiếp giữa con người với con người Những hành động, cách ứng xử giữa người – người bắt nguồn từcái gốc văn hóa của họ Nhiều nét đẹp ứng xử trong các mối quan hệ gia đình và xã hội được lưu truyền qua các thế hệ, trở thành đạo
lí, thành lối sống và đã được phản ánh trong tục ngữ Bởi tính chất của Tục ngữ là ngắn nên dễ hòa lẫn, nên khi nghiên cứu nhiều khi nhầm lẫn với các câu mang từ miền ngoài vào, nhưng cũng có nhiều câu nói trại đi để phù hợp với môi trường đang sống, có những câu tục ngữ nghĩa bên trong còn giữ lại nhưng bên ngoài đã thay đổi
1.3 Quan niệm của người Việt về quan hệ vợ chồng 1.3.1 Quan niệm của người Việt về vợ chồng dưới sự chi phối của Nho giáo
Theo quan điểm của thất xuất thì đàn bà lấy chồng, trọng nhất là việc nối dõi tông đường, không có con thì chồng phải lấy vợ khác, cho nên phải bỏ Dâm dật đây là
Trang 11một nết hư Không thờ phụng cha mẹ chống là bất hiếu Lăm điều thì chua ngoa khó chịu,trộm cắp là có tính gian phi Ghen tuông thì mất tính hiền hậu Có ác tật thì không đảm đương nổi công việc nhà, có khi đem truyền nhiễm cho người trong nhà Các điều ấy khó dung nên phải đuổi Tuy nhiên Nho giáo cũng đưa ra ba điều không được đuổi đối với phụ nữ là: Đàn bà từng để tang ba năm nhà chồng, trước nghèo sau giàu, ở nhà chồng thì được về nhà mình khi không có chỗ nào nương tựa
1.3.2 Quan niệm của người Việt về vợ chồng dưới
sự chi phối của điều kiện sống
Trong ứng xử vợ chồng người đàn ông Nam Bộ vẫn
là trụ cột trong gia đình, nhưng người phụ nữ cũng góp tiếng nói chung với chồng, được ngồi ăn cơm chung, có khi bức xúc người phụ nữ còn lớn tiếng lại với chồng:
“Ai đi nón lụa quạt Tàu Nhờ của bên vợ khoe giàu với ai”
Đó là một phần do điều kiện sống người phụ nữ có vai trò rất quan trọng trong nền nông nghiệp lúa nước, đồng thời ảnh hưởng của quan niệm Mẫu hệ trong tư tưởng người Chăm và người Khơ Me, nên vị trí của người vợ trong gia đình được tôn trọng
1.4 Văn hóa ứng xử trong quan hệ gia đình của người Việt
Từ xa xưa, văn hoá ứng xử trong gia đình đã được ông cha ta đặc biệt coi trọng: Gia đình phải có gia giáo; gia lễ; gia pháp; gia phong mà mỗi người trong gia đình phải tuân thủ theo hết sức nghiêm ngặt
Trang 12Văn hóa ứng xử trong gia đình được người Việt đề cao và rất coi trọng Trong kho tàng tục ngữ, ca dao Việt Nam cho thấy có rất nhiều câu thể hiện điều này Từ lúc mới sinh ra, con người đã được đặt trong sự gắn bó thiêng liêng
của tình mẫu tử, phụ tử: “Phụ tử tình thâm”, “Xương cha,
da mẹ”, “Cá chuối đắm đuối vì con” Khi khôn lớn mỗi
người không thể quên công ơn dưỡng dục của cha mẹ
Đối với quan hệ vợ chồng, sự hoà thuận và tình nghĩa thuỷ chung luôn mang ý nghĩa thiêng liêng, sâu nặng, là mối ràng buộc trách nhiệm cao suốt đời người:
“Áo vá vai vợ ai không biết
Áo vá quàng chỉ biết vợ anh”
Tiểu kết chương 1
Trong xã hội phong kiến , do ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo, sự kiểm soát chặt chẽ của lễ giáo phong kiến, các mối quan hệ trong gia đình, đặc biệt là quan hệ vợ chồng rất căng thẳng, hôn nhân trong xã hội phong kiến không mang lại hạnh phúc gia đình Nhưng may mắn ở tầng lớp nông dân tư tưởng này ảnh hưởng hạn chế, cho nên trong quan hệ
vợ chồng người Việt có nhiều yếu tố dân chủ, bình đẳng Ngay trong long chế độ phong kiến, người nông dân không tuân phục một chiều , mà có quan niệm và cách ứng xử linh hoạt, nhiều chiều, theo hướng nhân văn tôn trọng quyền hôn nhân chính đáng dựa trên tình yêu và coi trọng các thành viên trong gia đình nhất là người phụ nữ Chứ không chỉ theo hướng phi nhân bản, phủ nhận tình yêu hôn nhân Cũng
vì vậy khi ra đi vào mở đất ở Nam bộ người nông dân mang theo tư tưởng đó đã xây dựng tổ ấm gia đình dựa trên tình yêu thương
Trang 13Chương 2 BIỂU HIỆN ỨNG XỬ VỢ CHỒNG CỦA NGƯỜI VIỆT QUA CA DAO, TỤC NGỮ NAM BỘ
2.1.Ứng xử tích cực trong quan hệ vợ chồng người Việt qua ca dao, tục ngữ Nam Bộ
2.1.1 Thủy chung son sắt
Thủy chung vợ hy sinh hết lòng vì chồng, sẵn sàng chịu cực khổ để chồng được hạnh phúc, sung sướng Người phụ nữ Nam bộ cũng rất trọng công danh của chồng, nàng sẵn sàng hy sinh công sức, cùng chồng vượt qua khó khăn
để có ngày thành đạt Vợ chăm sóc chồng tất chu đáo, tận tụy, khi chồng gặp chuyện không hay thì vợ lo lắn rất chu đáo, tận tình
Ca dao, tục ngữ là nơi bày tỏ tình cảm chân thành nhất của những con người lao động Một gia đình vững chắc ngoài yếu tố vật chất thì yếu tố tinh thần đặc biệt là sự thủy chung trong tình cảm vợ chồng là điều cốt lõi để giữ hạnh phúc Nghĩa vụ thủy chung đều đặt lên vai của chồng lẫn
vợ, điều đó một phần nào tạo nên nét đẹp cho ca dao, tục ngữ về ứng xử vợ chồng của người Việt Nam Bộ
2.1.2 Đồng cam cộng khổ
Có nhiều bài viết ca ngợi hình ảnh người phụ nữ cùng chồng san sẻ khó khăn Đặt người đàn ông trong vị trí trụ cột gia đình, như từ trước đến nay xã hội đã giao trách
nhiệm “ gánh vác giang sơn” Nhưng trong xã hội Nam Bộ
vị trí đó có sự thay đổi, có nhiều gia đình phụ nữ đóng vai trò trụ cột