1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

lợi ích và thách thức của đầu tư chứng khoán nước ngoài (fpi) vào việt nam giai đoạn 2006 – 2013

23 616 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 561,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên thực tế, thị trường chứng khoán Việt Nam nói riêng và thị trường tài chính nóichung vẫn đang trong quá trình hình thành và hoàn thiện những chức năng cơ bản nênhiệu quả của đầu tư g

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

Trang 2

M c l c ụ ụ

LỜI MỞ ĐẦU 4

Phần A thực trạng đầu tư quốc tế vào thị trường chứng khoán 5

I Lý luận chung về nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài FPI 5

1 Khái niệm FPI 5

2 Đặc trưng của FPI 5

3 Tính chất của FPI 6

3.1 Tính thanh khoản cao 6

3.2 Tính bất ổn định 6

3.3 Tính dễ đảo ngược 6

4 Tác động của FPI 7

4.1 Tác động tích cực 7

4.2 Tác động tiêu cực 8

II Thực trạng huy động vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài FPI của Việt Nam và việc quản lý của nhà nước với dòng vốn FPI 9

1 Quy định về tỷ lệ nắm giữ sở hữu nước ngoài 9

2 Quy định giao dịch trên tài khoản vốn 11

3 Chính sách thuế đối với hoạt động đầu tư gián tiếp nước ngoài thông qua thị trường chứng khoán 12

Phần B Lợi ích của việc đầu tư chứng khoán vào Việt Nam 15

I Với nước tiến hành đầu tư: 15

II Đối với nước nhận đầu tư 15

Chương C: Thách thức của đầu tư chứng khoán vào Việt Nam 17

KẾT LUẬN 22

TÀI LIỆU THAM KHẢO 23

Trang 3

Vũ Quỳnh Trang 1214410210 Thuyết trình

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, liên kết khu vực và liên kết quốc tế ngày càng sâusắc và chặt chẽ.Nhất là trong bối cảnh sau khi Việt Nam trở thành thành viên của WTOvới đặc điểm nổi bật là luồng vốn chảy về Việt Nam ngày càng tăng lên thì vấn đề Đầu tưQuốc tế đang giữ một vai trò rất quan trọng để Việt Nam có thể vươn lên và hội nhập;trong đó, một trong những vấn đề đặc biệt quan trọng cần lưu ý, ngoài FDI, ODA… làFPI – Đầu tư gián tiếp.Nhìn chung, từ khi mở cửa đến nay, Việt Nam đã có hàng loạtnhững chính sách và thay đổi phù hợp với hội nhập quốc tế để tận dụng và tiếp nhậndòng vốn FPI này; và giai đoạn phát triển từ năm 2006 là giai đoạn mà thị trường chứngkhoán Việt Nam bắt đầu phát triển và nở rộ

Trên thực tế, thị trường chứng khoán Việt Nam nói riêng và thị trường tài chính nóichung vẫn đang trong quá trình hình thành và hoàn thiện những chức năng cơ bản nênhiệu quả của đầu tư gián tiếp quốc tế trên thực tế vẫn chưa cao như mong đợi.Việc nghiêncứu đầu tư nước ngoài vào thị trường chứng khoán tại Việt nam giúp nhận định rõ nhữnglợi ích và tác hại của dòng vốn đầu tư này vào Việt Nam, từ đó có những chính sách thuhút và điều chỉnh dòng vốn sao cho đạt được hiệu quả cao cho thị trường vốn ở ViệtNam.Nhận thấy tầm quan trọng của việc nghiên cứu vấn đề này, nhóm chúng em gồm 6thành viên lớp Đầu tư Quốc tế quyết định nghiên cứu những văn bản quy phạm pháp luật

và thực trạng, lợi ích cũng như những khó khăn, thách thức khi triển khai phân bổ và sửdụng luồng vốn này tại Việt Nam trong giai đoạn từ 2006-2014

Trong phạm vi tiểu luận này, chúng em sẽ đi qua những khái niệm và đặc trưng của FPI,sau đó sẽ bàn rõ hơn về tính chất và tác động đa chiều của FPI đối với nền kinh tế ViệtNam bao gồm những thực trạng, lợi ích và thách thức của đầu tư chứng khoán của ViệtNam dựa trên những dữ kiện thực tế và những giai đoạn thăng trầm mà thị trường chứngkhoán Việt Nam phải trải qua trong thời kỳ này

Trang 5

Phần A thực trạng đầu tư quốc tế vào thị trường chứng khoán

I Lý luận chung về nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài FPI

1 Khái niệm FPI

Theo quy định trong Khoản 3, Điều 3 của Luật Đầu tư mới: "Đầu tư gián tiếp làhình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giákhác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mànhà đầ u tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư"

Theo cách hiểu này, đầu tư gián tiếp nước ngoài là các khoản đầu tư gián tiếp docác nhà đầu tư nước ngoài thực hiện – để phân biệt với đầu tư gián tiếp trong nước docác nhà đầu tư trong nước thực hiện – thông qua 2 hình thức chủ yếu sau:

Nhà đầu tư trực tiếp mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá kháccủa các doanh nghiệp, của chính phủ và của các tổ chức tự trị được phép phát hành trênthị trường tài chính

Nhà đầu tư gián tiếp thực hiện đầu tư thông qua Quỹ đầu tư chứng khoán hoặcđịnh chế tài chính trung gian khác trên thị trường tài chính

2 Đặc trưng của FPI

Thứ nhất, nhà đầu tưkhông trực tiếp tham gia quản lý doanh nghiệpphát hànhchứng khoán hoặc các hoạt động quản lý nói chung của cơ quan phát hành chứng khoán.Thứ hai, nhà đầu tưkhông kèm theo cam kết chuyển giao tài sản vậtchất, công nghệ, đàotạo lao động và kinh nghiệm quản lý như trong trực tiếp đầu tư (FDI) FPI là đầu tư tàichính thuần túy trên thị trường tài chính

Như vậy có thể thấy, FPI là một khái niệm khá mới mẻ, nhất là ở nước ta, vì chúngxuất hiện và phát triển gắn liền với sự hình thành và phát triển của thị trường chứngkhoán quốc gia và quốc tế

Trên thực tế, mặc dù FPI dùng để chỉ các hình thức đầu tư không phải là đầu tưtrực tiếp nước ngoài truyền thống (tức đầu tư để lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài,lập liên doanh hoặc công ty cổ phần và kinh doanh theo hợp đồng hợp tác kinh doanh…),song sự phân biệt này không phải lúc nào cũng rạch ròi và thống nhất Chẳng hạn, khinhà đầu tư dùng vốn của mình để mua cổ phiếu của doanh nghiệp, nếu tỷ lệ cổ phiếu donhà đầu tư nắm giữ thấp hơn mức nhất định (10% theo tiêu chuẩn của IMF và 30% theotiêu chuẩn của Việt Nam hiện hành) là đầu tư gián tiếp, nhưng khi vượt ngưỡng này lạiđược xếp vào đầu tư trực tiếp và khi đó, nhà đầu tư có thể dùng quyền bỏ phiếu của mình

để can thiệp trực tiếp vào thực tế quản lý, kinh doanh của doanh nghiệp…

Cũng như FDI, động thái dòng FPI chịu ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ của cácnhân tố như bối cảnh quốc tế (hòa bình, ổn định vĩ mô, các quan hệ ngoại giao và môi

Trang 6

trường pháp lý quốc tế thuận lợi); nhu cầu và khả năng đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài;mức độ tự do hóa và sức cạnh tranh (chủ yếu là ưu đãi tài chính và sự thân thiện, thuậntiện của quản lý nhà nước đối với nhà đầu tư) của môi trường đầu tư trong nước; sự pháttriển của hệ thống tiền tệ và các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh nói riêng, của các thể chế thịtrường nói chung của nước tiếp nhận đầu tư v.v…

Nhưng khác với FDI, FPI chịu ảnh hưởng trực tiếp mạnh hơn từ các nhân tố như:

sự phát triển và độ mở cửa của thị trường chứng khoán, chất lượng của các cổ phiếu, tráiphiếu do doanh nghiệp và Nhà nước phát hành, cũng như các chứng khoán có giá kháclưu thông trên thị trường tài chính; sự đa dạng và vận hành có hiệu quả của các định chếtài chính trung gian (trước hết là các quỹ đầu tư chứng khoán, công ty đầu tư tài chínhcác loại, các quỹ đầu tư đại chúng, quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ thành viên); sự phát triển

và chất lượng của hệ thống thông tin và dịch vụ chứng khóan, trong đó có các tổ chứccung cấp dịch vụ tư vấn và dịch vụ định mức hệ số tín nhiệm doanh nghiệp và chứngkhoán Dòng FPI sẽ chảy mạnh vào trong nước tỷ lệ thuận và cấp số nhân cùng với sự giatăng quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp cóvốn đầ u tư nước ngoài đang hoạt động hiệu quả ở trong nước, cũng như cùng với việcnới rộng tỷ lệ nắm giữ cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệpđó…

3 Tính chất của FPI

3.1 Tính thanh khoản cao

Do mục đích của FPI là tỷ suất lợi tức cao với một mức độ rủi ro nhất định (hoặc

tỷ suất lợi tức nhất định với mức rủi ro thấp nhất) chứ không quan tâm đến quá trình sánxuất kinh doanh giống như trong phương thức FDI, cho nên NĐT nước ngoài sẵn sàngbán lại những chứng khoán mà họ đang nắm giữ để đầu tư sang thị trường khác hoặcchứng khoán khác với tỷ suất lợi tức dự tính cao hơn, an toàn hơn Tính thanh khoản caocủa FPI khiến cho hình thức đầu tư này trở thành khoản mục đầu tư ngắn hạn mặc dù cốphiếu được coi là chứng khoán dài hạn và nhiều loại trái phiếu giao dịch trên TTCK cóthời gian đáo hạn dài hơn 1 năm

3.2 Tính bất ổn định

Tính thanh khoản cao là nguyên nhân làm cho dòng vốn FPI mang tính bất ổnđịnh Sự bất ổn định, trong một giới hạn nào đó có thể có lợi do nó làm cho thị trường tàichính nội địa hoạt động năng động và hiệu quả hơn, vốn đầu tư không ngừng được phân

bổ lại, dịch chuyến từ nơi có tỷ suất lợi nhuận thấp sang nơi có tỷ suất lợi nhuận cao Tuynhiên, nếu điều đó xảy ra với tốc độ quá nhanh, những ảnh hưởng xấu đến hệ thống tàichính và tình trạng bất ổn định của nền kinh tế xảy ra là không thể tránh khỏi Vấn đề trởnên nghiêm trọng hơn đối với các nước có thị trường tài chính mới hình thành và nềnkinh tế còn trong giai đoạn chuyển đổi như Việt Nam

Trang 7

3.3 Tính dễ đảo ngược

Tính dễ đảo ngược của dòng vốn FPI thực sự gây tác động xấu đến nền kinh tế, nó

là hệ quả của hai đặc tính thanh khoản cao và bất ổn định Do dễ đảo ngược cho nên cóthể chỉ trong khoảng thời gian ngắn một lượng vốn FPI lớn tháo lui “bẻ ghi” đầu tư sangthị trường khác để lại hậu quả khôn lường cho nền kinh tế Kinh nghiệm khủng khoảngkinh tế tài chính của các nước châu á vào cuối thập kỷ 90 của thế kỷ 20 đă cho thấy táchại của sự đảo ngược dòng vốn FPI khi nền kinh tế của các quốc gia này xuất hiện nhữngkhoảngtrống, hậu quả là nền kinh tế bong bóng nhanh chóng bị sụp đổ mà trong ngắn hạnkhó có thể khắc phục được

4 Tác động của FPI

4.1 Tác động tích cực

FPI trực tiếp làm tăng tổng vốn đầu tư gián tiếp và gián triếp làm tăng tổng vốnđầu tư trực tiếp xã hội, góp phần khai thác & nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lựctrong nước, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy hội nhập thị trường vốn quốc tế.FPI là một kênh dẫn vốn quy mô lớn sẽ trực tiếp làm tăng lượng FPI trên thị trường vốntrong nước Khi FPI gia tăng sẽ làm phát sinh hệ quả tích cực gia tăng dây chuyền đếndòng vốn đầu tư gián tiếp trong nước Nói cách khác, các nhà đầu tư trong nước sẽ “nhìngương" các nhà đầu tư gián tiếp nước ngoài và tăng động lực bỏ vốn đầu tư gián tiếp củamình, Kết quả tổng đầu tư gián tiếp xã hội sẽ tăng lên Hơn nữa, FPI gia tăng sẽ là mộtbảo đảm và tạo động lực mới hấp dẫn hơn cho các nhà đầu tư khác mạnh dạn thông quacác quyết định đầu tư trực tiếp mới của mình, kết quả là gián tiếp góp phần làm tăng đầu

tư trực tiếp xã hội từ phía các nhà đầu tư cả nước ngoài, cũng như trong nước

FPI góp phần tích cực vào sự phát triển của thị trường tài chính nói riêng, hoànthiện các thể chế và cơ chế thị trường nói chung Do FPI có tính thanh khoản cao, nên cácgiao dịch vốn trên thị trường sẽ trở nên sôi động hơn khi có sự tham gia của nhà đầu tưnước ngoài Hơn nữa, điều kiện và kết quả đi kèm với sự gia tăng dòng FPI này là sự pháttriển nở rộ các định chế & dịch vụ tài chính – chứng khoán, trước hết là các loại quỹ đầu

tư, công ty tài chính, và các thể chế tài chính trung gian khác, cũng như các dịch vụ tưvấn, bổ trợ tư pháp & hỗ trợ kinh doanh, xác định hệ số tín nhiệm, bảo hiểm, kế toán,kiểm toán & thông tin thị trường Đồng thời kéo theo sự gia tăng yêu cầu & hiệu quả ápdụng các nguyên tắc cạnh tranh thị trường, trước hết trên thị trường chứng khoán…Tất cảnhững điều này trực tiếp và gián tiếp góp phần phát triển mạnh mẽ hơn các bộ phận vàtổng thể thị trường tài chính nói riêng, các thể chế & cơ chế thị trường nói chung

FPI góp phần nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý theo các nguyên tắc và yêucầu kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế Sự gia tăng dòng vốn đầu tư gián tiếp nướcngoài và phát triển thị trường tài chính sẽ đặt ra những yêu cầu mới và cũng tạo các công

cụ, khả năng mới cho quản lý nhà nước nói chung và quản lý, quả n trị doanh nghiệp nói

Trang 8

riêng Việc quản lý và quản trị doanh nghiệp phát hành chứng khoán sẽ được thực hiệnnghiêm túc, hiệu quả hơn do yêu cầu về báo cáo tài chính doanh nghiệp và minh bạchhóa, cập nhật hóa thông tin liên quan đến các chứng khoán mà doanh nghiệp đã và sẽphát hành.Hơn nữa, về nguyên tắc, các nhà đầu tư chỉ lựa chọn đầu tư vào chứng khoáncủa các doanh nghiệp đáng tin cậy, đang và sẽ có triển vọng phát triển tốt trong tương lai.

Chính điều này sẽ cho phép quá trình "chọn lọc nhân tạo", "bỏ phiếu" cho sự hỗtrợ và phát triển các doanh nghiệp này trở nên khách quan và phù hợp cơ chế thị trườnghơn (còn những doanh nghiệp khác mà chứng khoán của họ không hấp dẫn sẽ phải điềuchỉnh lại định hướng và chất lượng quản trị kinh doanh, sáp nhập hoặc giải thể) Hệ thốngluật pháp, cũng như các cơ quan, bộ phận và cá nhân trong hệ thống quản lý nhà nướcliên quan đến thị trường tài chính, nhất là đến đầu tư gián tiếp nước ngoài sẽ phải đượchoàn thiện, kiện toàn và nâng cao năng lực hoạt động hơn theo yêu cầu, đặc điểm của thịtrường này, cũng như theo các cam kết hội nhập quốc tế Đồng thời, thông qua tác độngvào thị trường tài chính, Nhà nước sẽ đa dạng hóa các công cụ và thực hiện hiệu quả việcquản lý của mình theo các mục tiêu lựa chọn thích hợp Trên cơ sở đó, năng lực và hiệuquả quản lý nhà nước đối với nền kinh tế nói chung, thị trường tài chính nói riêng sẽđược cải thiện hơn

Thứ hai, khi dòng vốn đầu tư nước ngoài đổ vào quá nhiều, nhất là đầu tư gián tiếp,

có thể gây ra những rủi ro vĩ mô Nguy cơ phổ biến nhất là tỷ giá tăng lên quá mức (đồngbản tệ lên giá), chính điều đó phá vỡ cân bằng tài khỏan vốn và làm tích tụ nợ nước ngòai(tỷ gía hối đóai thực tăng sẽ thúc đầy khả năng vay ngoại tệ không có bảo đảm và gieomầm cho tình trạng mất vốn khi tỷ giá giảm xuống mức thấp hơn mức có thể kiểm sóat

Trang 9

được) Bên cạnh đó, vốn đổ vào có thể gây ra áp lực lạm phát trong một số trường hợpnhư: khi tỷ giá cố định đươc duy trì, dòng vốn đổ vào dẫn đến tình trạng mở rộng điềukiện tiền tệ trong nền kinh tế, qua đó sẽ tác động đến mức giá, tỷ lệ lạm phát có thể giatăng Điều đó sẽ gây bất lợi cho hoạt động kinh tế nói chung.

II Thực trạng huy động vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài FPI của Việt Nam và việc quản lý của nhà nước với dòng vốn FPI

1 Quy định về tỷ lệ nắm giữ sở hữu nước ngoài

Sau 12 năm mở cửa cho đầu tư trực tiếp nước ngoài, ngày 28/6/1999, Thủ tướngchính phủ ban hành quyết định số 145/1999/QĐ-TTg chính thức cho phép các nhà đầu tưnước ngoài được phép mua cổ phần trong các doanh nghiệp Việt Nam

Ngày 10/6/1999, chính phủ ra quyết định số 139/1999/QĐ-TTg cho phép các tổchức, cá nhân nước ngoài được nắm giữ tối đa 20% tổng số cổ phiếu đang lưu hành củamột tổ chức phát hành, chứng chỉ quỹ đầu tư của một quỹ đầu tư chứng khoán, trong đómột tổ chức nước ngoài được nắm giữ tối đa 7% và một cá nhân nước ngoài được nắmgiữ tối đa 3% Các tổ chức, cá nhân nước ngoài được nắm giữ tối đa 40% tổng số tráiphiếu đang lưu hành của một tổ chức phát hành, trong đó một tổ chức nước ngoài đượcnắm giữ tối đa 10% và một cá nhân nước ngoài được nắm giữ tối đa 5%.Tỷ lệ góp vốncủa bên nước ngoài trong Công ty chứng khoán liên doanh tối đa là 30%

Sang đến năm 2003, thủ tướng chính phủ ra quyết định số 36/2003/QĐ-TTg vềviệc ban hành quy chế góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanhnghiệp Việt Nam Quyết định này nhằm khuyến khích các nhà đầ u tư nước ngoài gópvốn, đồng thời huy động công nghệ, phương pháp quản lý doanh nghiệp của nước ngoài

và mở rộng thị trường, tăng sức cạnh tranh cho các doanh nghiệp Việt Nam.Tỷ lệ chophép mua cổ phần vẫn bị khống chế ở mức 30% vốn điều lệ của doanh nghiệp vì nếuvượt quá tỷ lệ này thì doanh nghiệp không còn là doanh nghiệp trong nước nữa mà đã trởthành xí nghiệp liên doanh được điều chỉnh theo một hệ thống pháp luật khác

Điểm đáng chú ý ở đây là việc mở rộng loại doanh nghiệp được phép nhận vốngóp, bán cổ phần cho các nhà đầu tư nước ngoài bao gồm: doanh nghiệp nhà nước thựchiện cổ phần hoá, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, liênhiệp hợp tác xã, hợp tác xã hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực ngành nghề do Thủtướng Chính phủ quyết định hoặc uỷ quyền bộ trưởng bộ Kế hoạch và Đầu tư công bố ởtừng thời kỳ

Đồng thời là việc mở rộng định nghĩa về nhà đầu tư nước ngoài bao gồm:

“Tổ chức kinh tế tài chính nước ngoài” là tổ chức kinh tế tài chính được thành lập theopháp luật nước ngoài và hoạt động kinh doanh tại nước ngoài hoặc tại Việt Nam “Ngườinước ngoài không thường trú ở Việt Nam” là công dân nước ngoài cư trú ở nước ngoài

Trang 10

“Người nước ngoài thường trú ở Việt Nam” là công dân nước ngoài và người không cóquốc tịch Việt Nam cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở Việt Nam “Người Việt Nam định

cư ở nước ngoài” là người quốc tịch Việt Nam và người gốc Việ t Nam cư trú, làm ăn,sinh sống lâu dài ở nước ngoài

Trong khi đó đối với công ty niêm yết, bằng quyết định số 146/2003/QĐ-TTgngày 17/3/2003 của Thủ ướng chính phủ tỷ lệ mua cổ phiếu từ 20% đã được nâng lênmức 30% Tổ chức, cá nhân nước ngoài được nắm giữ không giới hạn tỷ lệ trái phiếu lưuhành trên thị trường chứng khoán Việt Nam thay cho việc chỉ nắm giữ 40% như trướckia Tỷ lệ góp vốn của tổ chức kinh doanh chứng khoán nước ngoài trong Công ty Chứngkhoán liên doanh hoặc công ty quản lý quỹ liên doanh tối đa là 49% vốn điều lệ tăng lên

so với mức 30% như trong Quyết định 139/1999/QĐ-TTg

Việc mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài có lẽ sẽ mãi còn bị khống chế ở tỷ lệ30% nếu như còn sự phân biệt giữa doanh nghiệp nước ngoài và doanh nghiệp trongnước

Tuy nhiên đến năm 2005 với việc ra đời của Luật Doanh nghiệp và LuậtĐầu Tư

sựphân biệt này đã được xóa bỏ Theo tinh thần của hai đạo luật nàynhà đầu tư nướcngoài nói chung được đối xử bình đẳng như nhà đầu tư trong nước, cả về quyền đầu tư,góp vốn, mua cổ phần (dù còn một số phân biệt nhất định)

Quyết định số 238/2005/QĐ-TTg về tỷ lệ tham gia của bên nước ngoài vào TTCKViệt Nam ban hành ngày 29/9/2005, theo đó các tổ chức cá nhân người nước ngoài muabán chứng khoán trên TTCK được phép nắm giữ tối đa 49% tổng số cổ phiếu niêm yết;tối đa 49% tổng số chứng chỉ quỹ đầu tư niêm yết, đăng ký giao dịch của một quỹ đầu tưchứng khoán và không giới hạn tỷ lệ nắm giữ đối với trái phiếu lưu hành của một tổ chứcphát hành

Mới đây nhất là quyết định 55/2009/QĐ/TT quy định: Nhà đầu tư nước ngoàimua, bán chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam được nắm giữ: Đối với cổphiếu: tối đa 49% tổng số cổ phiếu của công ty cổ phần đại chúng

Trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định khác thì áp dụng theo quy địnhcủa pháp luật chuyên ngành Trường hợp tỷ lệ sở h ữu bên nước ngoài được phân loạitheo danh mục các ngành nghề cụ thể thì áp dụng theo danh mục phân loại Đối vớichứng chỉ quỹ đ ầu tư đ ại chúng: tối đa 49% tổng số chứng chỉ quỹ đầu tư của một quỹđầu tư chứng khoán đại chúng Đối với công ty đầu tư chứng khoán đại chúng: tối đa49% vốn điều lệ của một công ty đầu tư chứng khoán đại chúng Đối với trái phiếu: tổchức phát hành có thể quy định giới hạn tỷ lệ nắm giữ đối với trái phiếu lưu hành của tổchức phát hành

Riêng đối với việc nắm giữ cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài trong các ngânhàng thương mại, Chính phủ đã có Nghị định 69/2007/NĐ-CP ngày 20/4/2007 quy định

Trang 11

các nhà đầu tư nước ngoài được nắm giữ tối đa 30% vốn điều lệ.

Tuy nhiên chỉ đến khi Chính phủ ban hành Nghị định số 139/2007/NĐ-CP vàongày 5/9/2007 thì quyền này mới được ghi nhận một cách cụ thể, rõ ràng Theo đó tất cảcác tổ chức là pháp nhân, gồm cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, không phânbiệt nơi đăng kí trụ sở chính và mọi cá nhân, không phân biệt quốc tịch và nơi cư trú, đều

có quyền góp vốn, mua cổ phần với mức không hạn chế tại các doanh nghiệp, trừ một sốtrường hợp (công ty cổ phần niêm yết; doanh nghiệp ngành nghề kinh doanh có điều kiện

do pháp luật chuyên ngành quy định; doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa và doanhnghiệp kinh doanh dịch vụ áp dụng theo Biểu cam kết về thương mại dịch vụ với WTO)

Ngay trong Biểu cam kết dịch vụ với WTO, Việt Nam cũng cam kết: “Một nămsau khi gia nhập, hạn chế 30% cổ phần nước ngoài trong việc mua cổ phần của các doanhnghiệp Việt Nam sẽ được bãi bỏ, ngoại trừ đối với việc góp vốn dưới hình thức mau cổphần trong các ngân hàng thương mại cổ phần và các ngành không cam kết trong biểucam kết này”

Như vậy từ ngày 11/1/2008 (một năm sau khi gia nhập WTO), thực chất rào cảnchỉ nằm trong ba loại trường hợp đặc biệt còn lại theo quy định của Nghị định139/2007/NĐ-CP Tuy nhiên khi Việt Nam thực thi lộ trình cam kết với WTO những lĩnhvực hạn chế nói trên trong tương lai cũng sẽ “mở toang” cánh cửa cho đầu tư nước ngoài

Như vậy với hàng loạt những quy định trên, tỷ lệ sở hữu của các nhà đầu tư nướcngoài đã được nâng lên từ 20% trong giai đoạn đầu lên 49% trong giai đoạn hiện nay.Hạn chế tỷ lệ sở hữu cho nhà đầu tư nước ngoài hiện nay cũng là một trong những ràocản trong việc quản lý luồng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài

2 Quy định giao dịch trên tài khoản vốn

Năm 2002, NHNN ban hành quyết định 998/2002/QĐ-NHNN ngày 13/9/2002 vềquản lý ngoại hối đối với việc mua, bán chứng khoán trong đó, nhà ĐTNN chỉ đượcchuyển phần vốn đầu tư thuộc giao dịch vốn ra nước ngoài sau 1 năm kể từ ngày phầnvốn đó được chuyển vào tài khoản giao dịch chứng khoán bằng VND

Và năm 2004, với việc ban hành Quyết định 1550/2004/QĐ-NHNN ngày6/12/2004 về quản lý ngoại hối đối với việc mua, bán chứng khoán của ĐTNN tạiTTGDCK đã tạo thêm nhiều điều kiện thuận lợi hơn cho các nhà đầu tư nước ngoài Cụthể, quyết định này đã bỏ ràng buộc điều kiện rút vốn của nhà đầu tư nước ngoài, trongkhi Quyết định 998/2002/QĐ-NHNN trước đây quy định đối tượng này chỉ được chuyển

ra nước ngoài phần vốn đầu tư (thuộc giao dịch vốn) sau 1 năm kể từ ngày phần vốn đóđược chuyển vào tài khoản giao dịch chứng khoán bằng VND Đối với các khoản thunhập từ đầu tư chứng khoán (cổ tức, trái tức, chênh lệch giá ), việc chuyển ra nướcngoài cũng thuận lợi hơn Cụ thể theo Quyết định 1550, nhà đầu tư nước ngoài chỉ cầnhoàn tất các nghĩa vụ về thuế với Nhà nước là được quyền mua ngoại tệ để chuyển ra

Ngày đăng: 04/05/2017, 21:06

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w