1.3 Nguồn ô nhiễm do thuốc trừ sâu Tùy thuộc vào lọai thuốc và điều kiện môi trường như oxy, ánh sáng mặt trời, gió, nhiệt độ, độ ẩm, họat tính của đất, lọai đất, v.v, thuốc trừ sâu có
Trang 1MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIẢM THIỂU Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NÔNG
1.2 Phân loại thuốc trừ sâu
Thuốc trừ sâu bao gồm một phạm vi rộng các hợp chất hóa học và có thể ở dạng
tự nhiên hoặc tổng hợp Tất cả các lọai thuốc trừ sâu được thiết kế cho từng
nhóm sinh vật riêng biệt, ví dụ, nấm, mốc, côn trùng v.v Thuốc trừ sâu có thể phân thành 4 nhóm chính:
(1) Các hợp chất hydrocạcbon có chứa Clo (VD: thuốc DDT)
(2) Organophosphate (VD: malathion)
(3) Carbamate (VD: Carbofuran và aldicarb)
(4) Các Pyrethroid nhân tạo dựa trên các hợp chất tự nhiên
1.3 Nguồn ô nhiễm do thuốc trừ sâu
Tùy thuộc vào lọai thuốc và điều kiện môi trường như oxy, ánh sáng mặt trời, gió, nhiệt độ, độ ẩm, họat tính của đất, lọai đất, v.v, thuốc trừ sâu có thể đi rất xa nơi nó được sử dụng Thuốc trừ sâu được phát tán đi xa bởi gió, hơi nước, nước mưa, nước ngầm, suối và sông, và đi vào trong các mô cơ thể người và động thực
Ví dụ: Một lượng thuốc trừ sâu rò rỉ đi vào cống thóat nước
Ô nhiễm gây ra do nguồn không xác định: là ô nhiễm xuất phát từ một khu vực rộng lớn
Ví dụ: sự di chuyển của thuốc trừ sâu vào dòng suối, sông, rạch sau khi sử dụng thuốc trên một diện tích lớn
Ô nhiễm do nguồn không xác định từ việc sử dụng thuốc trừ sâu đã từng bị đổ lỗi cho việc sử dụng thuốc trừ sâu ở môi trường ngoài trời Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu đã phát hiện rằng, trên thực tế, có nhiều trường hợp ô nhiễm môi trường
Trang 2 Có khu vực nhạy cảm nào trong môi trường tại địa điểm sử dụng thuốc
trừ sâu có thể bị nguy hiểm do tiếp xúc với thuốc trừ sâu không;
Có khu vực nhạy cảm nào ở ngoài vị trí sử dụng thuốc trừ sâu có thể bị
nguy hiểm do tiếp xúc với thuốc trừ sâu không;
Có điều kiện nào trong môi trường tại địa điểm sử dụng thuốc trừ sâu
có thể làm thuốc trừ sâu dịch chuyển đến nơi khác không;
Có cần thay đổi trong thao tác hoặc quy trình sử dụng hoặc tại địa
điểm sử dụng để giảm rủi ro về ô nhiễm môi trường
1.4 Khu vực nhạy cảm
Khu vực nhạy cảm là các vị trí hoặc các sinh vật dễ bị tổn thương do thuốc trừ sâu
+ Khu vực nhạy cảm ngoài trời:
Khu vực mà nguồn nước ngầm gần nơi sử dụng thuốc, hoặc khu vực dễ bị
thâm nhập (giếng nước, rãnh tiêu thoát nước, đất xốp, v.v.)
Khu vực ngay tại hoặc gần nguồn nước mặt;
Khu vực gần khu dân cư, trường học, sân chơi, bệnh viện và những cơ quan khác;
Khu vực gần nơi cư ngụ của các loài sắp cạn kiệt;
Khu vực gần nơi nuôi ong, vùng bảo tồn, công viên quốc gia;
+ Khu vực nhạy cảm trong nhà: bao gồm
Khu vực nơi mọi người- đặc biệt là trẻ em, phụ nữ có thai, người già hoặc người bệnh- sống, làm việc, hoặc được chăm sóc;
Khu vực chế biến, chuẩn bị, và tồn trữ thực phẩm;
Khu vực chăn nuôi gia súc, gia cầm, thủy sinh;
Khu vực nuôi trồng loài nhạy cảm với môi trường (hoa kiểng, cá kiểng) Đôi khi thuốc trừ sâu được sử dụng ở các khu vực nhạy cảm để kiểm soát dịch bệnh Việc sử dụng tại các khu vực này cần được đào tạo kỹ lưỡng để tránh gây tổn hại đến môi trường tại đó
Trang 31.5 Di chuyển của thuốc trừ sâu trong môi trường
Thuốc trừ sâu dịch chuyển xa vị trí phun có thể gây ô nhiễm môi trường Điều này diễn ra trong nhà và ngoài trời và có thể gây nguy hiểm cho cả hai môi trường Thuốc trừ sâu dịch chuyển theo nhiều cách, bao gồm:
Trong không khí, nhờ gió hoặc luồng không khí tạo ra từ hệ thống thông gió;
Trong nước, theo các dòng chảy mặt hoặc rò rỉ;
Bám trên bề mặt hoặc hiện diện trong các đồ vật, thực vật, người hoặc
động vật, di chuyển hoặc bị dịch chuyển ra ngoài vị trí sử dụng
1.5.1 Không khí
Thuốc trừ sâu di chuyển xa khỏi vị trí phóng thích vào không khí thường được gọi là tán lệch (drift) Các hạt thuốc trừ sâu, bụi thuốc, giọt phun và hơi thuốc có thể được đưa ra khỏi vị trí sử dụng trong không khí Người pha trộn thuốc, vận chuyển và phun xịt thuốc trừ sâu ở môi trường ngoài trời thường dễ nhận thấy sự dịch chuyển này Những người sử dụng thuốc trừ sâu trong nhà có thể không nhận thấy thuốc trừ sâu dễ dàng dịch chuyển khỏi vị trí phun xịt để đi vào luồng không khí tạo ra bởi hệ thống thông gió hoặc làm mát
Hạt và giọt thuốc Hạt có trọng lượng nhẹ, như bụi và bột ướt dễ dàng di chuyển
bởi luồng không khí chuyển động Hạt nhỏ và viên thuốc nặng hơn có xu hướng lắng xuống nhanh chóng trong không khí Một số giọt phun cũng dễ dàng di chuyển theo luồng không khí
Vòi phun áp lực cao và lỗ nhỏ tạo ra giọt phun rất nhỏ và sẽ làm nên tán lệch Áp lực thấp và lỗ phun lớn tạo ra giọt phun lớn và ít tán lệch hơn
Hơi Hơi thuốc trừ sâu dịch chuyển dễ dàng trong không khí Thuốc trừ sâu dạng
phun có xu thế tạo hơi khi được phóng thích Một số thuốc không phải dạng phun cũng có thể bay hơi và đi vào không khí
Lưu ý rằng thuốc trừ sâu dạng phun độc cho người sử dụng và người, động vật và thực vật tại hoặc gần vị trí phun, ngay tại thời điểm phun hoặc không lâu sau đó
Trang 44
1.5.2 Nước
Hạt và thuốc trừ sâu dạng lỏng có thể di chuyển khỏi vị trí sử dụng Thuốc trừ sâu có thể đi vào nước thông qua:
Tán lệch, rò rỉ và dòng chảy từ nơi lân cận với địa điểm sử dụng;
Thuốc rơi vãi, rò rỉ và chảy ngược từ ống xi-phông từ nơi lân cận với địa điểm pha trộn, vận chuyển, tồn trữ và vị trí làm vệ sinh thiết bị;
Thải bỏ không đúng quy định thuốc trừ sâu, nước rửa và bình chứa
Lưu ý
Phần lớn thuốc trừ sâu di chuyển vào nguồn nước do di chuyển từ bên này sang bên kia của khu vực được xử lý bằng thuốc (dòng chảy) hoặc đi xuống
từ bề mặt (nước rỉ) Dòng chảy hoặc nước rỉ có thể xảy ra khi:
Phun quá nhiều thuốc trừ sâu, rò rỉ hoặc rơi vãi trên bề mặt; hoặc
Quá nhiều nước mưa, nước tưới hoặc nguồn nước khác có chứa dư lượng thuốc trừ sâu ngấm vào một bề mặt
1.5.3 Trên bề mặt hoặc trong đồ vật, thực vật hoặc động vật
Thuốc trừ sâu có thể di chuyển xa khỏi vị trí phun xịt khi chúng bám trên hoặc đi vào trong các vật dụng, sinh vật di chuyển (hoặc bị di chuyển) khỏi vị trí này Gồm các hình thức:
Thuốc trừ sâu có thể bám trên giầy hoặc quần áo, lông động vật hoặc theo bụi bị thổi đi và di chuyển đến một bề mặt khác
Khi người sử dụng thuốc trừ sâu về nhà sẽ đem về hoặc đang mặc những
đồ dùng bảo hộ cá nhân, các dụng cụ bị nhiễm thuốc trừ sâu, hoặc các vật dụng khác Dư lượng thuốc có thể cọ xát và bám vào đồ đạc, bàn ghế, chiếu, phản, quần áo đem giặt, người và vật nuôi trong nhà
Thuốc trừ sâu có thể bám trên bề mặt thực phẩm, hoặc sản phẩm gia súc đem bán Để bảo vệ người tiêu dùng, luật cho phép còn dư lượng thuốc trong thực phẩm bán ra, nhưng ở mức chịu đựng được Dư lượng thuốc quá cao gây ra do:
- dùng quá nhiều thuốc trừ sâu;
- không ngưng sử dụng thuốc trừ sâu trước khi thu hoạch;
- thuốc trừ sâu di chuyển khỏi nơi phun xịt và làm nhiễm vào cây trồng hoặc gia súc nuôi gần đó
Lưu ý:
Không sử dụng thuốc 5 ngày trước khi thu hoạch;
Không sử dụng thuốc trong những điều kiện có khả năng tạo ra tán lệch
(gió lớn, nhiệt độ cao, có nắng…) làm đưa thuốc trừ sâu đi xa bám vào
thực phẩm, đồng cỏ hoặc các loại cây trồng khác;
Đưa gia súc nuôi lấy thịt khỏi khu vực xử lý bằng thuốc trừ sâu ít nhất
Trang 51 ngày trước khi đưa vào lò mổ nếu chúng đã sống hoặc được chăn thả
trong lúc phun xịt thuốc hoặc chăn thả tại đó trong vòng 3 tuần (21 ngày) sau khi phun xịt
Không cho gia súc nuôi lấy sữa ăn cỏ mới xịt thuốc trong vòng 3 tuần 1.5.4 Ảnh hưởng nguy hại đến các loài cây và động vật ngoài mục tiêu
Thuốc trừ sâu có thể gây nguy hiểm cho các sinh vật ngoài mục tiêu theo 2 cách:
Tiếp xúc trực tiếp
Dư lượng thuốc bám trên hoặc đi vào bên trong sinh vật và gây hại sau đó
a Tác hại do tiếp xúc trực tiếp
Các loài hoang dại cũng bị gây hại bởi một lượng nhỏ thuốc trừ sâu hoặc làm phá hủy nguồn thực phẩm của chúng, đặc biệt khi phun xịt trên một phạm vi rộng lớn như xịt muỗi, diệt ruồi, diệt cỏ… có thể gây hại cho người, gia súc, gia cầm, các côn trùng (ong, bướm, các loài thụ phấn), sinh vật ký sinh có lợi sống trong khu vực phun xịt hoặc lân cận
Dòng chảy của thuốc trừ sâu do rơi vãi thuốc khi pha trộn, súc rửa dụng cụ phun xịt, quăng bừa bãi bao bì, bình chứa …dọc nguồn nước có thể làm hại cho các và các thủy sinh vật và thực vật trong ao, hồ, suối, kênh mương…
b Tác hại do dư lượng
Dư lượng là phần thuốc trừ sâu còn lại trong môi trường sau khi phun xịt hoặc rơi vãi Thuốc trừ sâu thường phân hủy thành các thành phần không nguy hiểm
sau khi phóng thích vào môi trường Thời gian phân hủy dao động từ dưới một ngày đến nhiều năm Tốc độ phân hủy tùy thuộc vào cấu trúc hóa học của thành phần hoạt tính trong thuốc trừ sâu và một số điều kiện môi trường như:
Loại bề mặt, thành phần hóa học hoặc pH;
Độ ẩm của bề mặt;
Hiện diện của vi sinh vật;
Nhiệt độ, và
Phơi nhiễm trực tiếp dưới ánh sáng mặt trời
Các loại thuốc trừ sâu bền vững lưu lại trong môi trường mà không phân hủy trong một thời gian dài Đôi khi sự bền vững này được nhà nông mong muốn vì
nó cung cấp môt hiệu quả kiểm soát sâu bệnh lâu dài và giảm số lần phun xịt lập lại.Tuy nhiên các loại thuốc bền vững về sau có thể gây hại cho con người, động thực vật khi tiếp xúc trực tiếp
Khi bám vào cơ thể người, cây trồng, vật nuôi, động thực vật hoặc trong đất,
thuốc trừ sâu sẽ tích lũy và gây hại cho đối tượng tiếp xúc với chúng
Ví dụ:
Trang 7 Không xịt lên nền nhà lót gạch rỗ, thảm, giấy lót nền (sẽ làm mất màu);
Không xịt trên bề mặt vật dụng bằng nhựa, sơn hoặc đánh vẹc-ni;
Thuốc trừ sâu có thể gây rỗ cho xe hơi và các loại xe có sơn phủ bên ngoài;
Không xịt trực tiếp vào thiết bị điện tử hoặc đầu vào hoặc ổ cắm
Vết cặn có thể nhìn thấy trên bề mặt màu sậm nếu bị dính thuốc trừ sâu
1.6 Ảnh hưởng đến môi trường và sức khỏe của thuốc trừ sâu
Thuốc trừ sâu không chỉ sử dụng trong nông nghiệp Tại Liên minh châu Âu, có khỏang 230 thành phần họat tính trong thuốc trừ sâu cũng được sử dụng trong các sản phẩm như thuốc xịt muỗi, vòng cổ trừ bọ chét, chất bảo quản gỗ, và sơn chống mốc Ngòai ra, các gia đình và chủ vườn còn sử dụng phân bón có chứa thuốc trừ sâu
Một khi thuốc trừ sâu được sử dụng, sự tồn tại của nó là không kiểm sóat được nữa Một lọai thuốc trừ sâu thường biến đổi đi sau khi sử dụng thành một hoặc nhiều chất chuyển hóa mà các chất này có thể có tính chất hóa học và độc tính khác với hợp chất ban đầu Trong nhiều trường hợp, các chất chuyển hóa bền vững và độc hơn lọai thuốc trừ sâu sử dụng ban đầu
Năm 1995, một nghiên cứu do Tổ chức Y tế Thế giới thực hiện ước tính có 3 triệu trường hợp ngộ độc thuốc trừ sâu hằng năm, bao gồm 220.000 ca chết liên quan đến thuốc trừ sâu, chủ yếu trong số những người sử dụng hoặc áp dụng thuốc trừ sâu
1.6.1 Ảnh hưởng đến môi trường
Thuốc trừ sâu hiện diện trong môi trường sẽ làm tổn hại cho các loài động thực vật sống trong nước và trên cạn Thuốc trừ sâu hiện diện trong nguồn nước mặt
và nước ngầm gây ô nhiểm nguồn nước và không thể sử dụng cho mục đích sinh hoạt của con người nếu nồng độ quá cao; cũng như sẽ gây hại cho hệ thủy sinh trong nguồn nước mặt
Thuồc trừ sâu có thể tích lũy trong mô mỡ của động vật và đi vào chuỗi thực phẩm và vào cơ thể người và động vật khác Thuốc trừ sâu còn có thể làm mất cân bằng sinh thái, giảm đa dạng sinh học khi diệt những loài có ích cho cây trồng hoặc các loài là thực phẩm cho loài cao hơn trong chuỗi thực phẩm
Trang 88
Trang 91.6.2 Ảnh hưởng đến sức khỏe
Những nghiên cứu về ảnh hưởng của thuốc trừ sâu đến sức khỏe con người đặt
trọng tâm vào hai khía cạnh, độc tính cấp tính hoặc ảnh hưởng ngay lập tức (immediate effect) kết quả từ việc phơi nhiễm trong thời gian ngắn, và độc tính
mãn tính hoặc những ảnh hưởng là kết quả từ việc phơi nhiễm kéo dài
Sự phơi nhiễm của cơ thể con người đối với bất kỳ tác nhân nào trong môi trường
có thể diễn ra qua 3 con đường: hô hấp, ăn uống và tiếp xúc trực tiếp
- Ảnh hưởng đến sinh sản
Tại Canada, nhiều nghiên cứu trên đàn ông và phụ nữ làm việc với thuốc trừ sâu (bao gồm thuốc trừ sâu sử dụng cho bãi cỏ và vườn) đã nhận thấy thuốc trừ sâu làm tăng rủi ro các vấn đề về sinh sản, làm sảy thai và thai chết lưu trong tử cung Phụ nữ mang thai trong thời kỳ đầu có phơi nhiễm với thuốc trừ sâu tăng rủi ro
về nhiều loại khiếm khuyết về sinh sản (như bị hở môi, hở hàm ếch, tật nứt đốt sống –gây ốm yếu tàn tật nghiêm trọng, chi có hình dạng không bình thường)
- Gây ung thư
Những nghiên cứu khoa học khám phá một số vấn đề tiêu cực quan trọng liên quan đến sức khỏe do mối liên hệ với việc sử dụng thuốc trừ sâu Ví dụ, thuốc trừ sâu được Viện Ung thư Quốc gia Mỹ nghiên cứu cho thấy có khả năng là một nguyên nhân làm gia tăng tỉ lệ một số bệnh ung thư ở nông dân Nông dân là đối tượng có rủi ro cao hơn so với các thành phần khác trong cộng đồng đối với một
số bệnh ung thư: ung thư gan, ung thư lá lách (không phải bệnh ung thư dạng Hodgkin (non-Hodgkin’s lymphoma), bướu ác tính ở da, bệnh bạch cầu, và ung thư môi, dạ dày, tiền liệt tuyến, đa u tủy và não Phơi nhiễm với thuốc 2,4-D; 2,4,5-T; mecoprop, acilfluorfen và các lọai thuốc trừ sâu khác đã từng được liên
hệ với bệnh ung thư gan, lá lách không phải bệnh ung thư dạng Hodgkin Phơi nhiễm với các lọai thuốc diệt côn trùng cho thấy có mối liên hệ với các bệnh ung thư máu, đa u tủy và ung thư não
Viện Ung thư Quốc gia Mỹ đã ghi nhận một số bệnh ung thư ở trẻ em tại Mỹ đã
và đang tăng lên gần 1% mỗi năm trong vòng nhiều thập kỷ gần đây Theo nghiên cứu của viện này, việc gia tăng này có thể quy cho việc sử dụng thuốc trừ sâu tại các đô thị Năm 2003, Cơ quan Bảo vệ Môi trường Mỹ (US-EPA) đã công
bố một nghiên cứu khoa học về những rủi ro ung thư ở trẻ em, đã kết luận rằng trẻ em ở độ tuổi 15 có rủi ro về ung thư cao gấp 3 lần so với người trưởng thành khi phơi nhiễm với các chất gây đột biến Các chất gây đột biến có thể gây ung thư và các chất này được tìm thấy trong một số lọai thuốc trừ sâu
- Ảnh hưởng đến não và hệ thần kinh, hệ nội tiết, các hệ thống miễn dịch
Trang 1010
Một số nghiên cứu trên công nhân đã phơi nhiễm trong một thời gian dài với
thuốc trừ sâu được biết độc cho hệ thần kinh (như organophosphate, carbamate
và một số thuốc diệt nấm) cho thấy sự sút kém về xử lý thông tin, trí nhớ và phản
xạ, phản ứng tâm lý và ứng xử nhanh nhẹn và khả năng nhận thức
Thuốc trừ sâu gây các ảnh hưởng phá vỡ hệ nội tiết hoặc gây ảnh hưởng đến cơ quan sinh sản là những loại thuốc trừ sâu được sử dụng rộng rãi nhất và bao gồm
các loại thuốc diệt cỏ alachlor và atrazine; thuốc diệt nấm như mancozeb và
benomyl; và thuốc diệt côn trùng như carbaryl, dicofol, endosulfan, methomyl, methoxychlor, parathion và các pyrethroid tổng hợp
Các rủi ro về sức khỏe do sử dụng thuốc trừ sâu chưa được biết đầy đủ Phần lớn thuốc trừ sâu chưa bao giờ được xem xét đầy đủ các phạm vi về khả năng gây
những ảnh hưởng lâu dài đến sức khỏe con người, như khả năng gây tổn hại đến
hệ di truyền, hệ thần kinh, hệ nội tiết hoặc các hệ thống miễn dịch của cơ thể
- Trẻ em
Trẻ sơ sinh và trẻ em dễ bị tổn thương hơn người trưởng thành do chức năng sinh
lý đang phát triển và sự phơi nhiễm gia tăng theo tỉ lệ Trẻ sơ sinh tiêu thụ calori nhiều hơn 2,5 lần theo trọng lượng cơ thể so với người trưởng thành; thở lượng khí nhiều hơn gấp 2 lần và có diện tích bề mặt da gấp hai lần theo trọng lượng cơ thể Trẻ em uống nhiều nước hơn theo trọng lượng cơ thể so với người trưởng thành Trẻ em cũng thường chơi đùa trên đất, bơi lội trong sông hồ và ngậm các
đồ chơi hoặc những đồ vật khác; tất cả những hoạt động này dẫn đến tăng sự phơi nhiễm đối với thuốc trừ sâu Ngoài ra, cơ thể đang tăng trưởng của một đứa trẻ nhạy cảm hơn đối với sự phơi nhiễm hóa chất vì sự phát triển diễn ra trong não,
hệ thần kinh và nhiều bộ phận khác Một số nghiên cứu cho thấy rằng những trẻ
em có bố mẹ có nghề nghiệp hoặc trong gia đình phải sử dụng thuốc trừ sâu thường có tỉ lệ mắc bệnh bạch cầu cao hơn 3 đến 9 lần so với những trẻ em bình
thường khác
Một nghiên cứu gần đây tại Mỹ kết luận rằng mỗi ngày, “hơn 1 triệu trẻ em Mỹ ở
độ tuổi 5 và dưới 5” có thể tiếp xúc với các loại thuốc diệt côn trùng chứa organophosphate ở nồng độ vượt mức an toàn cho phép theo qui định của Cơ quan Nông nghiệp Mỹ (USDA) Báo cáo cũng đã kết luận rằng việc sử dụng thuốc diệt côn trùng chứa organophosphate tại nhà đã làm tăng lên những rủi ro cho trẻ sơ sinh và trẻ em đang tuổi tập đi Nhiều organophosphate độc cho não bộ
và hệ thần kinh, đặc biệt có thể làm tổn thương cho não trong thời kỳ sơ sinh và tuổi niên thiếu
Các ảnh hưởng cụ thể của thuốc trừ sâu đến sức khỏe do sự phơi nhiễm tùy thuộc
vào nồng độ, khả năng bị hấp thu của cơ thể, thời gian các hợp chất bị phân cắt
và thải ra khỏi cơ thể ngắn hay dài, và các yếu tố khác.Cho đến nay, nồng độ
Trang 11chính xác mà ở đó sự phơi nhiễm đối với thuốc trừ sâu thực sự gây ra một ảnh hưởng xấu cho sức khỏe vẫn chưa được biết
Lưu ý:
Ảnh hưởng cấp tính của thuốc trừ sâu: nhức đầu, choáng váng, buồn nôn, mệt, có vấn đề về hô hấp, các phản ứng của da và cơ;
Ảnh hưởng mãn tính của thuốc trừ sâu: làm tăng tỉ lệ ung thư (gan, lá lách,
da, máu, môi, dạ dày, tuyến tiền liệt, não); các tổn hại này không phục hồi được
Tổn hại đến hệ di truyền, hệ thần kinh, hệ nội tiết, hệ miễn dịch, cơ quan sinh sản của cơ thể người; sinh quái thai nếu thai phụ tiếp xúc thuốc trừ sâu trong thời gian mang thai;
Trẻ em, phụ nữ có thai dễ bị tổn thương hơn người trưởng thành;
Các ảnh hưởng cụ thể của thuốc trừ sâu đến sức khỏe do sự phơi nhiễm tùy
thuộc vào nồng độ, khả năng bị hấp thu của cơ thể, thời gian các hợp chất
bị phân cắt và thải ra khỏi cơ thể ngắn hay dài, và các yếu tố khác
Tránh tiếp xúc với thuốc trừ sâu bất cứ khi nào có thể;
Cần có nơi tồn trữ thuốc riêng biệt và cách ly với nơi ăn, ở, sinh hoạt của gia đình;
Mặc và sử dụng quần áo và dụng cụ bảo hộ lao động để bảo vệ sức khỏe
Những điều không nên làm đối với thuốc trừ sâu:
Đừng đổ thuốc trừ sâu vào cống, nguồn nước mặt (rãnh, kênh, mương, sông) và xuống đất; hoặc các khu vực vắng vẻ;
Đừng đốt thuốc trừ sâu còn dư;
Đừng sử dụng thuốc trừ sâu cho các đối tượng ngòai hướng dẫn của nhà sản xuất ghi trên bao bì;
Đừng chứa thuốc trừ sâu vào bình chứa nào khác ngòai bao bì nguyên gốc của nó;
Đừng sử dụng lại các bao bì, thùng chứa hoặc bình chứa thuốc trừ sâu để đựng nước, thực phẩm hoặc mục đích khác;
Đừng để bao bì đựng thuốc trừ sâu chung với thùng đựng rác sinh họat mà nên có túi đựng riêng
Trang 1212
Ảnh: Hướng dẫn sử dụng thuốc trừ sâu an toàn tại Thụy Điển
Hình ảnh trong khóa đào tạo về thuốc trừ sâu tại Thụy điển tháng 4/2005)
Trang 13II Ô SINH HỌC - GIẢI PHÁP GIẢM THIỂU RỦI RO VỀ MÔI
TRƯỜNG DO SỬ DỤNG THUỐC TRỪ SÂU
Ô sinh học là gì?
Một ô sinh học (biobed) là một hố đất nhỏ đào lõm xuống được lót đáy và sau
đó đổ đầy rơm cắt nhỏ, đất (mặt) và phân compost không chứa than bùn trộn lại
và sau đó phủ lên trên hố Ô sinh học được sử dụng để giữ lại, ngăn lại và phân hủy lượng nhỏ thuốc trừ sâu bị bắn tóe ra hoặc rơi vãi khi được đổ vào vật dụng chứa hoặc bình xịt cũng như khi súc rửa và nước tráng rửa từ dụng cụ được sử dụng để phun thuốc trừ sâu
Ô sinh học còn có thể sử dụng để thải bỏ thuốc trừ sâu pha loãng từ việc súc rửa bình chứa và nước rửa từ việc làm vệ sinh vỏ ngoài bình xịt
Ô sinh học nên được thiết kế sao cho thể tích của dòng nước thải không làm ngập ô sinh học, nghĩa là không làm quá tải cho hệ vi sinh vật có ích đã phát triển trong ô sinh học Nếu cần thiết, khu vực trữ lại lượng nước thải cần được thiết kế thêm để ngăn ngừa ô sinh học bị vượt mức bão hòa và khi đó ô sinh học sẽ không còn hoạt động được nữa
Lợi ích của Ô sinh học
Trong quá trình nghiên cứu Ô sinh học, ô nhiễm thuốc trừ sâu nguồn điểm được áp dụng để thúc đẩy các tình huống ô nhiễm nghiêm trọng do thuốc trừ sâu gây ra trong khu vực sử dụng thuốc trừ sâu trong một ngày phun xịt Một phạm vi thuốc trừ sâu có đặc tính hóa học khác nhau được thử nghiệm, và nồng
độ thuốc trừ sâu đo được trong dung dịch đi vào ô sinh học vượt mức 100.000 ppb Ô sinh học giữ lại và phân hủy một cách hiệu quả lượng thuốc trừ sâu chứa trong đó và làm giảm nồng độ thông thường xuống còn 0,5ppb và luôn dưới mức 0,1ppb theo tiêu chuẩn của EU đối với thuốc trừ sâu trong nước uống
Những xem xét chung trong thiết kế Ô sinh học
(1) Ô sinh học có đê bao
Loại này sử sụng một khu vực xử lý được đắp đê bao chứa và giữ lại tất cả các chất lỏng Các chất lỏng này sau đó trực tiếp đi vào ô sinh học thông qua một bồn chứa
(2) Ô sinh học chảy trực tiếp