Hệ thống thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế là toàn bộ hệ thống văn tự chữ Hán được chạm khắc, khảm cẩn chủ yếu trên các liên ba, đố bản hoặc vách ván... thực hiện trong giai đoạn trị vì của triều Nguyễn. Hệ thống thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế được lưu giữ qua thời gian là những tư liệu độc đáo, tạo nên những giá trị đặc biệt, lưu giữ cho chúng ta những thông điệp văn hóa lịch sử về một giai đoạn trong lịch sử Việt Nam. Giáo sư Huỳnh Minh Đức là người có nhiều nghiên cứu về thơ ca, ngôn ngữ, văn học nghệ thuật đã từng đánh giá hệ thống thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế là tinh hoa văn hoá Việt Nam của thế kỷ XIX mà tác giả là các vị vua, hoàng thân và Nho thần triều Nguyễn. Vì vậy, người Việt có quyền tự hào vì đã có được một di sản thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế rất độc đáo, mà không phải dân tộc nào cũng có may mắn sở hữu.
Trang 1BÁO CÁO THỰC TẾ CHUYẾN ĐI MIỀN TRUNG
Đề tài:
Chân dung cố đô Huế qua thơ văn Việt Nam trước thế kỉ XX
Tên sinh viên: Phan Trọng Phước
Lớp: NV0A900
GVHD: Th.s Mai Thị Kim Loan
Trường: Đại học khoa học xã hội và nhân văn
Trang 31. Di sản văn hoá thế giới Cố Đô Huế
Quần thể di tích Cố đô Huế hay Quần thể di tích Huế là những di tích lịch
sử - văn hoá do triều Nguyễn chủ trương xây dựng trong khoảng thời gian từ đầu thế kỷ 19 đến nửa đầu thế kỷ 20 trên địa bàn kinh đô Huế xưa; nay thuộc phạm vi thành phố Huế và một vài vùng phụ cận thuộc tỉnh Thừa Thiên-
Bảo tồn Di tích Cố đô Huế và được UNESCO công nhận là Di sản Văn hoá Thếgiới vào ngày 11 tháng 12 năm 1993 Hiện tại, cố đô Huế đã được thủ tướng chính phủ Việt Nam đưa vào danh sách xếp hạng 62 di tích quốc gia đặc
biệt quan trọng Quần thể di tích Cố đô Huế có thể phân chia thành các cụm công trình gồm các cụm công trình ngoài Kinh thành Huế và trong kinh thành
1.1. Kinh thành Huế Kinh thành Huế là tòa thành ở cố đô Huế, nơi đóng đô của vương triều nhà Nguyễn trong suốt 143 năm từ 1802 đến 1945 Hiện nay Kinh thành Huế là mộttrong số các di tích thuộc cụm Quần thể di tích Cố đô Huế được UNESCO côngnhận là Di sản Văn hoá Thế giới
Kinh thành Huế được vua Gia Long tiến hành khảo sát từ năm 1803, khởi công xây dựng từ 1805 và hoàn chỉnh vào năm 1832 dưới triều vua Minh Mạng Hiện nay, Kinh thành Huế có vị trí trong bản đồ Huế như sau: phía nam giáp đường Trần Hưng Đạo và, Lê Duẩn; phía tây giáp đường Lê Duẩn; phía bắc giáp đường Tăng Bạt Hổ; phía đông giáp đường Phan Đăng Lưu
Bên trong kinh thành, được giới hạn theo bản đồ thuộc các đường như sau: phíanam là đường Ông Ích Khiêm; phía tây là đường Tôn Thất Thiệp; phía bắc là đường Lương Ngọc Quyến và phía đông là đường Xuân 68
Từ thời các chúa Nguyễn, Huế đã từng được chọn làm thủ phủ xứ Đàng Trong: năm 1635-1687 Nguyễn Phúc Lan, Nguyễn Phúc Tần dựng phủ ở Kim Long; đến thời Nguyễn Phúc Thái, Nguyễn Phúc Khoát đã dời phủ về Phú Xuân trongnhững năm 1687-1712; 1739-1774 Đến thời Tây Sơn, Huế vẫn được
vua Quang Trung chọn làm thành kinh đô cho vương quốc của ông Năm 1802, khi Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi hoàng đế, mở đầu cho vương triều Nguyễn kéo dài suốt 143 năm, một lần nữa lại chọn Huế làm nơi đóng đô
Trang 4Kinh thành huế được xây dựng theo kiến trúc Vauban [cần dẫn nguồn] Kinh thành Huế có 3 vòng thành lần lượt là Kinh thành, Hoàng thành và Tử Cấm Thành Ngay sau khi lên ngôi, Gia Long đã tiến hành khảo sát chọn vị trí xây thành mới, cuối cùng ông đã chọn vùng đất rộng bên bờ bắc sông Hương gồm phần đất của các làng Phú Xuân, Vạn Xuân, Diễn Phái, An Vân, An Hoà, An Mỹ, AnBảo, Thế Lại cùng một phần của hai con sông Bạch Yến và Kim Long làm nơi xây thành[1] Về mặt phong thuỷ, tiền án của kinh thành là núi Ngự Bình cao hơn 100 mét, đỉnh bằng phẳng, dáng đẹp, cân phân nằm giữa vùng đồng bằng như một bức bình phong thiên nhiên che chắn trước kinh thành Hai bên là Cồn Hến và Cồn Dã Viên làm tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ (rồng xanh bên trái, hổ trắng bên phải) làm thế rồng chầu hổ phục tỏ ý tôn trọng vương quyền Minh đường thủy tụ là khúc sông Hương rộng, nằm dài giữa hai cồn cong như một cánh cung mang lại sinh khí cho đô thành[2] Kinh thành Huế được đích thân GiaLong chọn vị trí và cắm mốc, tiến hành khảo sát từ năm 1803, khởi công xây dựng từ 1805 và hoàn chình vào năm 1832 dưới triều vua Minh Mạng Trong lịch sử Việt Nam thời cận đại, công trình xây dựng Kinh Thành Huế có lẽ là công trình đồ sộ, quy mô nhất với hàng vạn lượt người tham gia thi công, hàng triệu mét khối đất đá, với một khối lượng công việc khổng lồ đào hào, lấp sông,
di dân, dời mộ, đắp thành kéo dài trong suốt 30 năm dưới hai triều vua[3]
Kinh Thành Huế được quy hoạch bên bờ Bắc sông Hương, xoay mặt về hướng Nam, với diện tích mặt bằng 520 ha Kinh Thành và mọi công trình kiến trúc của Hoàng Thành, Tử Cấm Thành đều xoay về hướng Nam, hướng mà trong Kinh Dịch đã ghi "Thánh nhân nam diện nhi thính thiên hạ" (ý nói vua quay mặt về hướng Nam để cai trị thiên hạ)
Vòng thành có chu vi gần 10 km, cao 6,6m, dày 21m được xây khúc khuỷu với những pháo đài được bố trí cách đều nhau, kèm theo các pháo nhãn, đại bác, kho đạn; thành ban đầu chỉ đắp bằng đất, mãi đến cuối đời Gia Long mới bắt đầu xây gạch[3] Bên ngoài vòng thành có một hệ thống hào bao bọc ngay bên ngoài Riêng hệ thống sông đào (Hộ Thành Hà) vừa mang chức năng bảo vệ vừa có chức năng giao thông đường thủy có chiều dài hơn 7 km (đoạn ở phía Tây là sông Kẻ Vạn, đoạn phía Bắc là sông An Hòa, đoạn phía Đông là sông Đông Ba, riêng đoạn phía Nam dựa vào sông Hương)
Thành có 10 cửa chính [3] gồm:
Trang 5Cửa Tây-Nam (cửa Hữu, bên phải Kinh Thành).
khí, lập thời Gia Long)
đường dành cho vua ra bến sông)
nằm phía trong cửa)
Ngoài ra Kinh Thành còn có 1 cửa thông với Trấn Bình Đài (thành phụ ở góc Đông Bắc của Kinh Thành, còn gọi là thành Mang Cá), có tên gọi là Trấn Bình Môn Hai cửa bằng đường thủy thông Kinh Thành với bên ngoài qua hệ thống Ngự Hà là Đông Thành Thủy Quan và Tây Thành Thủy Quan Chính giữa mặt trước thành có cột cờ, được gọi là Kỳ Đài
1.2 Hoàng thành Huế
Hoàng Thành là vòng thành thứ hai bên trong Kinh thành Huế, có chức năng bảo vệ các cung điện quan trọng nhất của triều đình, các miếu thờ tổ tiên nhà Nguyễn và bảo vệ Tử Cấm Thành - nơi dành riêng cho vua và hoàng gia Người
ta thường gọi chung Hoàng Thành và Tử Cấm Thành là Đại Nội
Hoàng Thành được xây dựng năm 1804, nhưng mãi đến năm 1833 đời
vua Minh Mạng mới hoàn chỉnh toàn bộ hệ thống cung điện với khoảng 147 công trình
Hoàng Thành có mặt bằng gần vuông, mỗi bề khoảng 600 mét, xây bằng gạch, cao 4m, dày 1m, xung quanh có hào bảo vệ, có 4 cửa để ra vào: Cửa chính (phíaNam) là Ngọ Môn, phía Đông có cửa Hiển Nhơn, phía Tây có cửa Chương Đức, phía Bắc có cửa Hòa Bình Các cầu và hồ được đào chung quanh phía ngoài thành đều có tên Kim Thủy
Hoàng Thành và toàn bộ hệ thống cung điện bên trong được bố trí trên một trụcđối xứng, trong đó trục chính giữa được bố trí các công trình chỉ dành cho vua Các công trình ở hai bên được phân bố chặt chẽ theo từng khu vực, tuân thủ
Trang 6nguyên tắc (tính từ trong ra): "tả nam hữu nữ", "tả văn hữu võ" Ngay cả trong các miếu thờ cũng có sự sắp xếp theo thứ tự "tả chiêu hữu mục" (bên trái trước, bên phải sau, lần lượt theo thời gian).[1]
Cửa Hiển Nhơn
Mặc dù có rất nhiều công trình lớn nhỏ được xây dựng trong khu vực Hoàng Thành nhưng tất cả đều được đặt giữa thiên nhiên với các hồ lớn nhỏ, vườn hoa,cầu đá, các hòn đảo và các loại cây lưu niên tỏa bóng mát quanh năm Mặc dù quy mô của mỗi công trình có khác nhau, nhưng về tổng thể, các cung điện ở đây đều làm theo kiểu "trùng lương trùng thiềm" (hay còn gọi là "trùng thiềm điệp ốc" - kiểu nhà kép hai mái trên một nền), đặt trên nền đá cao, vỉa ốp đá Thanh, nền lát gạch Bát Tràng có tráng men xanh hoặc vàng, mái cũng được lợp bằng một loại ngói đặc biệt hình ống có tráng men thường gọi là ngói
Thanh lưu ly (nếu có màu xanh) hoặc Hoàng lưu ly (nếu có màu vàng) Các cột được sơn thếp theo mô típ long-vân (rồng-mây) Nội thất cung điện thường được trang trí theo cùng một phong cách nhất thi nhất họa (một bài thơ kèm một bức tranh) với rất nhiều thơ bằng chữ Hán và các mảng chạm khắc trên gỗ theo đề tài bát bửu, hay theo đề tài tứ thời).[1]
Các khu vực bên trong Hoàng Thành
Điện Thái Hoà và khu vực bên trong Ngọ Môn
Khu vực phòng vệ: gồm vòng thành bao quanh bên ngoài, cổng thành, các hồ (hào), cầu và đài quan sát
Trang 7Khu vực cử hành đại lễ, gồm các công trình:
Ngọ Môn, cửa chính của Hoàng Thành - nơi tổ chức lễ Duyệt Binh, lễ Truyền Lô (đọc tên các Tiến sĩ tân khoa), lễ Ban Sóc (ban lịch năm mới).Điện Thái Hòa - nơi cử hành các cuộc lễ Đại Triều một tháng 2 lần (vào ngày 1 và 15 Âm lịch), lễ Đăng Quang, lễ Vạn Thọ, lễ Quốc Khánh
Khu vực các miếu thờ: được bố trí ở phía trước, hai bên trục dọc của Hoàng Thành theo thứ tự từ trong ra gồm:
Triệu Tổ Miếu ở bên trái thờ Nguyễn Kim
Thái Tổ Miếu thờ các vị chúa Nguyễn
Hưng Tổ Miếu ở bên phải Nguyễn Phúc Luân
Thế Tổ Miếu thờ các vị vua nhà Nguyễn
Khu vực dành cho bà nội và mẹ vua (phía sau, bên phải), gồm hệ thống cung Trường Sanh (dành cho các Thái hoàng Thái hậu) và cung Diên Thọ (dành cho các Hoàng Thái hậu)
Khu vực dành cho các hoàng tử học tập, giải trí như vườn Cơ Hạ, điện Khâm văn (phía sau, bên trái)
Ngoài ra còn có kho tàng (Phủ Nội vụ) và các xưởng chế tạo đồ dùng cho hoàng gia (phía trước vườn Cơ Hạ)
Khu vực Tử Cấm Thành nằm trên cùng một trục Bắc-Nam với Hoàng Thành
và Kinh Thành, gồm một vòng tường thành bao quanh khu vực các cung điện như
Điện Cần Chánh (nơi vua tổ chức lễ Thường triều)
Điện Càn Thành (chỗ ở của vua)
Điện Khôn Thái (chỗ ở của Hoàng Quý phi),
Điện Kiến Trung (từng là nơi ở của vua Bảo Đại và Hoàng hậu Nam Phương),
Trang 8Nhà đọc sách và các công trình khác phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của nhà vua và gia đình như Thượng Thiện Đường (nơi phục vụ ăn
uống), Duyệt Thị Đường (nhà hát hoàng cung)
Đến nay, trải qua bao biến động và thời gian, hàng trăm công trình kiến trúc ở Đại Nội chỉ còn lại ít ỏi chiếm không đầy một nửa con số ban đầu
Ngọ Môn (tên chữ Hán: 午門) là cổng chính phía nam của Hoàng thành Huế Hiện nay là một trong những di tích kiến trúc thời Nguyễn trong quần thể di tích cố đô Huế Ngọ Môn - có nghĩa là "cổng tý ngọ" - hướng về phía nam, là
cổng lớn nhất trong 4 cổng chính của Hoàng thành Huế Chì dành riêng cho vua
đi lại hoặc dùng khi tiếp đón các sứ thần
Trước kia tại vị trí này là Nam Khuyết Đài, xây dựng đầu thời Gia Long Trên đài này có điện Càn Nguyên, hai bên có hai cửa là Tả Đoan Môn và Hữu Đoan Môn Đến năm Minh Mạng 14 (1833) khi triều Nguyễn tổ chức quy hoạch lại toàn bộ mặt bằng kiến trúc Hoàng thành, Nam Khuyết Đài bị giải thể hoàn toàn
để lấy chỗ xây dựng Ngọ Môn Về mặt từ nguyên, Ngọ Môn có nghĩa là chiếc cổng xây mặt về hướng Ngọ Hướng này, theo quan niệm của địa lý phong thủyphương Đông là hướng Nam Hướng của Ngọ Môn cũng như toàn bộ Kinh thành Huế trên thực tế là hướng càn - tốn (tây bắc - đông nam) nhưng vẫn được xem là hướng Ngọ (hướng nam) Theo Dịch học hướng nam là hướng dành cho bậc vua Chúa để "nhi thính thiên hạ, hướng minh nhi trị" (chữ Hán: 而聽天下,
向明而治, tạm dịch: hướng về ánh sáng để nghe thiên hạ và cai trị thiên hạ
một cách sáng suốt).
Có bình diện hình chữ U vuông góc, đáy dài 57,77 m, cạnh bên dài 27,6 m Đài được xây bằng gạch đá kết hợp với các thanh dầm chịu lực bằng đồng thau Đàicao gần 5 m, diện tích chiếm đất hơn 1560 m² (kể cả phần trong lòng chữ U) Thân đài trổ 5 lối đi Lối chính giữa là Ngọ Môn, chỉ dành cho vua đi Hai lối bên là Tả Giáp Môn và Hữu Giáp Môn, dành cho quan văn, võ theo cùng trong đoàn Ngự đạo Hai lối đi bên ngoài cùng nằm ở hai cánh chữ U là Tả Dịch Môn
và Hữu Dịch Môn, dành cho binh lính và voi ngựa theo hầu
Lầu Ngũ phụng là phần lầu đặt ở phía trên đài - cổng Ngoài phần thân đài, lầu còn được tôn cao bởi một hệ thống nền cao 1,15 m cũng chạy suốt thân đài hìnhchữ U Lầu có hai tầng, kết cấu bộ khung hoàn toàn bằng gỗ lim với chẳn 100 cây cột Mái tầng dưới nối liền nhau, chạy vòng quanh để che cho phần hồi lang Mái tầng trên chia thành 9 bộ, với rất nhiều hình chim phụng trang trí ở phần bờ nóc, bờ quyết, khiến tòa lầu trông rất nhẹ nhàng, thanh thoát Bộ mái chính giữa của lầu Ngũ Phụng lợp ngói lưu ly màu vàng, tám bộ còn lại lợp ngói lưu ly màu xanh [1]
Trang 9Ngọ Môn cũng là nơi chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử quan trọng Nơi đây ngày xưa vẫn thường diễn ra các lễ lạc quan trọng nhất của triều Nguyễn như lễ Ban sóc (ban lịch mới), Truyền Lô (tuyên đọc tên tiến sĩ tân khoa) Ngày 25
Nam, đã đọc Tuyên ngôn Thoái vị và trao chính quyền lại cho chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Câu ca dao sau đây xuất hiện khi có cửa Ngọ Môn:
"Ngọ Môn 5 cửa 9 lầu
1 lầu vàng 8 lầu xanh
3 cửa thẳng 2 cửa quanh "
1.3 Tử cấm thành
Tử Cấm thành (紫禁城) thuộc quần thể di tích cố đô Huế là trung tâm sinh hoạt hằng ngày của vua và hoàng gia triều Nguyễn Tử Cấm thành có vị trí sau lưng điện Thái Hòa, được khởi xây năm Gia Long thứ 3 (1804) gọi là Cung
thành (宮城) và các vua triều Nguyễn xây dựng thêm Đến năm Minh
Mạng thứ 3 (1822)[1], vua đổi tên là Tử Cấm thành, nghĩa là thành cấm màu tía Theo nghĩa hán tự, chữ Tử có nghĩa là màu tím, lấy ý theo thần thoại: Tử Vi
Viên ở trên trời là nơi ở của Trời, Vua là con Trời nên nơi ở của Vua cũng gọi
là Tử, Cấm Thành là khu thành cấm dân thường ra vào[2] Trong Tử Cấm thành
có khoảng 50 công trình kiến trúc với quy mô lớn nhỏ khác nhau được phân chia làm nhiều khu vực, tổng số công trình đó biến động qua các thời kỳ lịch sử.Không gian kiến trúc Hoàng thành và Tử Cấm thành có mối liên quan chặt chẽ với nhau về sự phân bố vị trí của các công trình dựa theo chức năng sử dụng
Tử Cấm thành nằm trong lòng Hoàng thành, cả hai vòng thành này với một hệ thống cung điện ở bên trong thường được gọi chung là Hoàng cung hay Đại Nội
Tả Vu trong Tử Cấm thành, Huế
Xét về bình diện, Tử Cấm thành là một hình chữ nhật có cạnh là 324 x
290,68m, chu vi là 1.229,36m, thành cao 3,72m, dày 0,72m xây hoàn toàn
Trang 10bằng gạch vồ Về kiến trúc, Tử Cấm thành cũng như Đại Nội có những điểm chính sau[3]:
Bố cục mặt bằng của hệ thống kiến trúc chặt chẽ và đăng đối Các công trình đều đối xứng từng cặp qua trục chính (từ Ngọ Môn đến lầu Tứ Phương Vô Sự)
và ở những vị trí tiền, hậu; thượng, hạ; tả, hữu; luôn nhất quán (tả văn hữu võ,
tả nam hữu nữ, tả chiêu hữu mục) Con số 9 và 5 được sử dụng nhiều trong kiếntrúc vì theo Dịch lý, con số ấy ứng với mạng thiên tử
Bố cục của hệ thống Hoàng cung biểu hiện rõ tư tưởng độc tôn quân quyền Tử Cấm thành là một tiểu vũ trụ của hoàng gia, trong đó đầy đủ mọi tiện nghi sinh hoạt: ăn ở, làm việc, học tập, nghỉ ngơi, giải trí, điện Càn Thành là nơi vua ăn ngủ tọa lạc tại trung tâm của vũ trụ đó
Tử Cấm thành có 7 cửa: nam là Đại cung (Đại Cung môn) kết cấu hoàn toàn bằng gỗ, lợp ngói hoàng lưu ly; đông là cửa Hưng Khánh và cửa Đông An, về sau lấp cửa Đông An, mở thêm cửa Duyệt Thị ở phía đông Duyệt Thị Đường, ởmặt này cũng mở thêm cửa Cấm Uyển nhưng rồi lại lấp; tây là cửa Gia Tường
và Tây An; bắc là cửa Tường Loan và Nghi Phụng (trước năm 1821 mang tên Tường Lân), dưới thời Bảo Đại, sau khi xây lầu Ngự Tiền Văn phòng mở thêm cửa Văn phòng
Bên trong Tử Cấm thành bao gồm hàng chục công trình kiến trúc với quy mô lớn nhỏ khác nhau, phân chia làm nhiều khu vực Đại Cung môn là cửa chính vào Tử Cấm thành được xây vào năm 1833 Sau Đại Cung môn là một sân rộngrồi đến điện Cần Chánh, là nơi vua làm việc và thiết triều Cách bố trí, sắp đặt trong điện Cần Chánh cũng tương tự điện Thái Hòa, gian giữa đặt ngai vua, tả hữu treo bản đồ thành trì các tỉnh
Hai bên điện Cần Chánh có nhà Tả Vu và Hữu Vu là nơi các quan ngoài chờ và sửa sang, chỉnh đốn quan phục trước khi thiết triều Chái bắc Tả Từ Vu là viện
Cơ Mật, chái nam là phòng Nội Các, nơi đây tập trung phiến tấu của các Bộ, nha trình vua ngự lãm Sau lưng điện Cần Chánh trở về bắc là phần Nội Đình làkhu vực ăn ở, sinh hoạt của vua và gia đình cùng những người phục vụ Điện Càn Thành là nơi vua ở, trước điện có cái sân rộng, ao sen và bức bình phong chắn điện Càn Thành và điện Cần Chánh
Cung Khôn Thái nằm ở phía bắc điện Càn Thành, bao gồm điện Khôn Thái, điện Trinh Minh là nơi ăn ở sinh hoạt của Hoàng Quý Phi và các phi tần mỹ
nữ thuộc Nội Cung Nguyên dưới triều Gia Long tên là cung Khôn Đức, đến triều Minh Mạng thứ 14 (1833), vua đổi tên là Khôn Thái
Trang 11Sau cung Khôn Thái là lầu Kiến Trung, trước đây là lầu Minh Viễn do Minh Mạng làm năm 1827, lầu có 3 tầng cao 10.8m, lợp ngói hoàng lưu ly, trên lầu
có kính viễn vọng để vua quan sát cảnh từ xa Năm Tự Đức thứ 29, lầu Minh Viễn bị triệt giải, đến năm 1913, vua Duy Tân cho làm lại lầu khác theo kiểu mới gọi là lầu Du Cửu Năm Khải Định thứ nhất (1916), cải tên lại là lầu Kiến Trung
Thái Bình Lâu, nơi vua đọc sách
Ngoài những công trình chính trên được sắp đặt trên một đường thẳng sau cửa Đại Cung, Tử Cấm thành còn có những cung điện, lầu tạ khác hai bên tả hữu là khu vực phục vụ việc ăn uống, sức khỏe và giải trí của vua và hoàng gia như: Thượng Thiện đường, Thái Y viện, Duyệt Thị Đường, vườn Thiệu Phương, vườn Ngự Uyển, gác Đông Các, Tu Khuê tơ lầu, điện Quang Minh (chỗ ở của Đông Cung hoàng tử), điện Trinh Minh (chỗ ở của các bà phi), viện Thuận Huy(chỗ ở của các bà Tân), Duyệt Thị đường, lục viện Ngoài ra, còn có một số công trình kiến trúc khác dành cho tín ngưỡng tâm linh như chùa thờ Phật, miếuthờ trời, tinh tú và Quan Công
phép vợ là bà Mai Thị Vàng cùng ăn chung mâm, vua Bảo Đại cùng ăn chung với Nam Phương hoàng hậu và các hoàng tử, công chúa
Hàng ngày, có 30 cung nữ được chọn để phục dịch đức vua, họ chia nhau canh gác xung quanh hậu cung và chỉ có 5 người luôn ở cạnh vua, luân phiên săn sóc, trang điểm, thay quần áo, chải chuốt móng tay, xức dầu thơm, vấn khăn lụa , 5 cung nữ này cũng là người lo hầu cơm nước cho vua Khi vua "ngự ngơi" (nghỉ về ban ngày), 5 người này có phận sự riêng như quạt hầu, đấm bóp, têm trầu, vấn thuốc một cung nữ chực đợi vua sai gì thì làm ngay và một cung
nữ hát nhè nhẹ để ru vua ngủ
Tiêu khiển
Trang 12Vua Tự Đức thường chơi đầu hồ tại điện Cần Chánh, vua Duy Tân thì thường chơi đánh "lũ" với các cô em của bà phi Thi thoảng vào chiều Chủ Nhật, vua Duy Tân lại cưỡi ngựa ra khỏi Tử Cấm thành ra tận các của thành như là
Thượng Tứ, Nhà Đồ Vua Thiệu Trị lại ưa danh lam thắng cảnh núi non, vua Minh Mạng lại ưa vùng biển, còn Tự Đức lại thích săn bắn
Các vua triều Nguyễn thích xem hát bội (hát tuồng), vua Minh Mạng cho xây Duyệt Thị Đường trong Tử Cấm thành vào năm 1826, đây là nhà hát có quy môlớn nhất trong các nhà hát tại hoàng cung Để phục vụ riêng cho vua và hoàng phi xem hát tuồng, điện Cao Minh Trung Chính (dựng năm Gia Long thứ 3, 1804) đã dành hiên phía đông của điện để làm nơi biểu diễn gọi là "viện Tĩnh Quan" Vua Thành Thái là người thường xem diễn tuồng nơi đây, vua không chỉ là người đánh trống chầu giỏi mà đôi lần, vua còn lên sân khấu để diễn tuồng với vai "Thạch Giải" (tuồng Xảo Tống)
Phi, Tần, Mỹ nữ[sửa | sửa mã nguồn]
Trong Tử Cấm thành, Hoàng quý phi ở trong điện Khôn Thái, vị trí và cuộc sống Hoàng quý phi là cao nhất trong các phi tần
Điện chính của cung Khôn Thái là điện Cao Minh Trung Chính được xây năm
1804 tức năm Gia Long thứ 3 Chính tịch 7 gian, tiền tịch, hậu tịch đều 9 gian, diện làm theo kiểu "trùng thiềm trừng lương", lợp ngói âm dương Cung Khôn Thái ở vị trí ngay sau lưng điện Càn Thành
Về thứ tự cấp bậc phi tần, Minh Mạng năm thứ 17 đặt làm chín bậc: Hoàng quýphi ở trên bậc nhất giúp Hoàng thái hậu trông coi lương thực và chỉnh tề công việc bên trong cung Quý phi, Hiền phi, Thần phi bậc nhất hay là "nhất giai phi" Đức phi, Thục phi, Huệ phi bậc nhì hay là "nhị giai phi" Quý tần, Hiền Tần, Trang tần bậc ba hay là "tam giai tần" Đức tần, Thục tần, Huệ tần bậc bốnhay là "tứ giai tần" Lệ tần, An tần, Hoà tần làm bậc năm hay là "ngũ giai tần" Tiệp dư làm bậc sáu hay là "lục giai tiệp dư" Quý nhân làm bậc bảy hay là
"thất giai quý nhân" Mỹ nhân làm bậc tám hay là "bát giai mỹ nhân", và Tài nhân làm bậc chín hay là "cửu giai tài nhân" Dưới tài nhân là "tài nhân vị nhập giai", là những người được tuyển chọn để làm tài nhân, kế dưới là cung nga thể
nữ Để tuyển cung phi, triều đình thường chọn các con gái của quan đại thần trong triều, con của người nào có phẩm trật cao thì được tuyển vào cấp bậc cao, phẩm trật thấp thì cấp bậc thấp Con của thường dân được tuyển vào cung là những trường hợp đặc biệt, phải đẹp và khi mới tuyển thì chưa được xếp vào cửu giai mà chỉ được gọi là "tài nhân vị nhập lưu"
Trang 13Cung Khôn Thái là nơi dành riêng cho Hoàng quý phi ở, điện Trinh Minh là nơi
ở của các bà phi, viện Thuận Hy là nơi các bà Tần ở, ngoài ra còn có viện Đoan Huy, Đoạn Thuận, Đoan Hoà, Đoan Trang và Đoan trường là chỗ ở của các bậcTiệp dư, Tài nhân, Mỹ nhân, Quý nhân cùng những tài nhân vị nhập giai, các viện trên gọi là "lục viện" Để tổ chức mọi việc liên quan đến sự quản lý, dạy dỗcác cung phi và giữ gìn các dồ vật trong nội cung, triều đình đặt ra chức Lục Thượng, do các quan nữ đảm nhận Quan nữ thường là các bà trong nội cung được vua tin tưởng hay do triều đình tuyển dụng, người đứng đầu tổ chức nữ quan là Hoàng quý phi Nữ quan cũng được chia thành 6 bậc là Quản sự, Thống
sự, Thừa sự, Tùy sự, Tòng sự và Trưởng ban
Cuộc sống, công việc của các phi tần trong Tử Cấm thành nhàn hạ, no đủ về vậtchất tuy nhiên địa vị phụ thuộc cấp bậc của mình và sự yêu mến của vua Trongthời gian mới thu nhận vào Tử Cấm thành, họ phải tập trung tại Đoan Trang viện để học mọi phép tắc, luật lệ, nghệ thuật xử thế, các điều cấm kị, học nghệ thuật phục vụ vua, ăn nói, đi đứng.v.v Cung nữ có thể giải trí, hóng mát, xem hoa tại các vườn thượng uyển hay câu cá, sáng tác thơ ca, đọc truyện hay trong kỳ đại lễ cũng được xem tuồng cùng vua Khi vua băng hà, các bà phi phải lên chăm lo hương khói tại lăng vua, sau hai năm lại trở về cung Diên Thọ
để phục vụ Hoàng thái hậu
Các cung phi may mắn được phục vụ và được vua yêu mến sẽ được tấn phong đến chức cung giai cao nhất, tuy nhiên số này hiếm hoi, phần đông phải chịu thân phận bỏ rơi trong lục viện Kể từ khi được tuyển hay tiến cung, các phi tần không được gặp cha mẹ, người thân trừ một vài trường hợp đặc biệt được nói chuyện với mẹ qua bức màn sáo che, còn người cha phải đứng ngoài sân "Đưa con vô nội" là câu nói người Huế với hàm ý như đã "mất con rồi" Trong triều
Minh Mạng thứ sáu (triều đình cho ra 100 người để giải trừ thiên tai) và năm
1885, khi kinh đô thất thủ, tất cả cung phi đều chạy thoát ra khỏi hoàng thành
[4]
Trang 14Thái giám triều Nguyễn
Trong Tử Cấm thành, thái giám lo việc tổ chức quản lý cung tần mỹ nữ nơi hậu cung Công việc của họ là hầu hạ nhà vua trong các việc liên quan đến chuyện gối chăn, thái giám lo sắp xếp thứ tự, lên danh sách các phi tần và sắp xếp giờ
để vua gặp gỡ, ghi chép lại danh tánh các bà phi đó cùng với giờ giấc, ngày tháng cẩn thận để sau này nếu bà phi có con với vua sẽ được xác nhận Một số thái giám khác được điều sang phục dịch, hầu hạ các cung phi goá bụa của vua đời trước tại các lăng tẩm nhưng chố ăn, ở và phục dịch thường xuyên của họ vẫn là Tử Cấm thành Để phân biệt, thái giám được cấp trang phục riêng bằng lụa xanh dệt hoa trước ngực, đội một thứ mũ cứng hoặc khăn đóng Khi sống,
họ lo phục dịch trong Tử Cấm thành hoặc lăng tẩm, khi già yếu, họ buộc phải rời Đại Nội, ra dưỡng bệnh hoặc nằm chờ chết tại một tòa nhà ở phía bắc
Hoàng thành, đó là cung Giám Viện
Lễ nghi và yến tiệc[sửa | sửa mã nguồn]
Trong Tử Cấm thành, điện Cần Chánh là nơi vua thiết triều hay tổ chức lễ Khánh thọ đại khánh, lễ tấn phong đông cung thái tử, lễ khải hoàn, sách phong cung giai Triều Nguyễn còn đặt ra nhiều yến tiệc với những lễ nghi, quy chuẩn rất phong phú và cụ thể để mừng một dịp tiết lễ hay một sự kiện trong thời đại nào đó, vừa để ban thưởng cho những hoàng thân quốc thích hay những
bề tôi có công giúp rập vương triều phong kiến trong việc "bình hồ, trị quốc".[5]
Lễ thường triều
Nghi lễ thiết triều diễn ra vào ngày sóc, ngày vọng Đến ngày lễ, trân thiết nghi
lễ thường triều tại sân điện Càn chánh Hoàng tử, hoàng thân, quan văn từ ngũ
Trang 15phẩm, quan võ từ tứ phẩm trở lên đều mặc áo mũ thường triều đứng theo ban thứ Vua lên bảo toạ, bách quan vào chầu lạy xong thì nha lục bộ, viện Đô sát, nội các tiếp theo thứ tự tâu việc, sau đó lĩnh chỉ vua để tuân theo làm.
Lễ ngày thường vua ngự điện nghe chính sự
Ngoài lễ nghi thiết triều, hàng tháng, vào ngày lẻ vua ngự điện Cần Chánh nghechính sự, hoặc ngày thường vua ngự điện riêng (như Văn Minh, Vũ Hiển) triệu các quan vào hỏi Những viên quan nhỏ như Đốc, Phủ, Đề đốc, Bố, Án, Đốc học thỉnh thoảng được cũng được dự vào triều tham để thỏa lòng thành
Tiệc yến tiết Nguyên đán
Tổ chức vào ngày mồng 1 Tết ở điện Cần Chánh và Tả Vu, Hữu Vu ban cho thân phiên (vua các nước chư hầu), hoàng thân, quan lại cao cấp và ngày mồng 2 Tết tại Viện Ðãi Lậu cho quan văn từ lục phẩm và quan võ từ ngũ phẩmtrở xuống cùng với ủy viên các tỉnh Sau yến tiệc, mỗi người đều được thưởng một đồng tiền vàng hay bạc tùy theo thứ bậc
Tiệc yến tết Ðoan dương
Tổ chức sau tết Ðoan dương (5 tháng 5 âm lịch) một ngày tại điện Cần Chánh
và Tả Vu, Hữu Vu, ban cho các quan võ từ phó vệ úy, hiệp quản; quan văn từ khoa đạo viên ngoại lang trở lên Tặng phẩm ban thưởng sau yến tiệc là trà, quảhộp, khăn mặt, quạt bằng tre hoa tùy theo thứ bậc
Tiệc yến tiết Vạn Thọ
Nhân sinh nhật vua hàng năm, triều đình ban yến trước một ngày chợ thân phiên, hoàng thân và quan văn tòng ngũ phẩm, quan võ tòng chánh tứ phẩm trở lên ở điện Cần Chánh và hai nhà Tả Vu, Hữu Vu Ngày chính tiệc thì ban yến cho quan văn chánh lục phẩm, quan võ chánh ngũ phẩm và ủy viên ở Viện Ðãi Lậu Tùy theo thứ bậc mà tặng thêm đồ vật: đồng tiền vàng bạc, khánh vàng, bạc hoặc hầu bao bằng gấm Sau lễ yến, còn mời đến Thanh Phong Các xem tròvui
Tiệc yến tiết Vạn thọ đại khánh
Trang 16Quang cảnh lễ Tứ Tuần Đại Khánh vua Khải Ðịnh vào tháng 9-10 năm 1924 tạisân điện Cần Chánh
Ðây là yến tiệc lớn nhất mà triều đình tổ chức để mừng thọ nhà vua nhân các dịp tròn năm (tứ tuần, ngũ tuần ) Nhà vua ban yến cho hoàng tử, thân công, bách quan, văn từ 6 bộ, phủ Nội vụ, Vũ Khố, Thái Thường, Quang Lộc, Hàn Lâm từ chánh thất phẩm trở lên; Từ Tế, Khâm Thiên Giám, Tào Chính, ThươngBạc, Thái Y, Quốc Tử Giám, Hộ Thành binh mã từ chánh lục phẩm trở lên; võ
từ thực thụ suất đội trở lên đều được dự yến một lần và thưởng cấp lụa màu
và bạc nén Riêng các ấm sinh ở Quốc Tử Giám thì cũng được dự yến ở Duyệt Thị Ðường Ðến thời Thiệu Trị, năm 1846, lễ Tứ tuần đại khánh của nhà vua gặp vào năm có tháng nhuận, tổ chức đến hai lần Quan lớn thì ăn yến ở sân rồng; quan ở xa không về dự thì được tặng quà bằng lụa và bạc Dân kỳ lão 70 tuổi trở lên, nếu ở kinh thì cho ăn yến trong ba ngày; ở các tỉnh thì cho ăn yến một ngày
Tiệc yến tiết Trùng dương
Hàng năm, nhân tiết Trùng cửu (ngày 9 tháng 9 Âm lịch), vua ban yến tiệc ở cho thân phiên và hoàng thân, các quan văn từ tứ phẩm, ấn quan; võ từ tòng nhị phẩm, đình nghị trở lên; cùng các tôn tước quận công, thống chế đến chầu thămtại Tả Vu và Hữu Vu, lại thưởng cho đồng tiền vàng hoặc bạc; cái bàn bằng gỗ đào có khắc bốn chữ: "tị ác diên thọ" (trừ cái xấu để dài tuổi thọ), cờ đuôi nheo
có chữ cát tường, cái túi đựng thuốc thù du[6] và cái kim có quấn chỉ ngũ sắc Sau yến tiệc, vua chuẩn cho các thân công, đình thần theo chân lên núi Ngự Bình vãn cảnh Ðến thời Thiệu Trị, ngoài núi Ngự Bình, nhà vua còn sai sắm xagiá lên gác Hải Tĩnh Niên Phong để thưởng lãm
Tiệc yến hoàn thành lễ cày ruộng tịch điền
Trang 17Vào mùa xuân, triều đình thường tổ chức lễ diễn canh, sau đó đích thân nhà vua
sẽ xuống ruộng cày để khuyến nông và cầu cho mùa màng được phong đăng hòa cốc Sau lễ ấy nhà vua trở về vườn Thường Mậu, ban yến một lần cho thân phiên, hoàng thân, quan văn từ tòng tứ phẩm, quan võ từ hiệp quản trở lên Sau
đó lại thưởng thêm sa, đoạn cho họ, tùy theo thứ bậc để thưởng nhiều hay ít
Tiệc yến mở Sử quán để làm sử cáo thành
Năm 1821, vua Minh Mạng cho dựng Quốc sử quán để biên soạn quốc sử, thực lục Nhà vua gia ân ngày 6 tháng 5 âm lịch là ngày mở sử nên ban yến một lần Những viên chức công tác trong Quốc sử quán không được dự yến thì được banthưởng theo thứ bậc
2. Các di tích ngoài kinh thành2.1
Lăng tẩm
Lăng Gia Long còn gọi là Thiên Thọ Lăng bắt đầu được xây dựng từ năm 1814
và đến năm 1820 mới hoàn tất Lăng thực ra là một quần thể nhiều lăng tẩm trong hoàng quyến Toàn bộ khu lăng này là một quần sơn với 42 đồi, núi lớn nhỏ, trong đó có Đại Thiên Thọ là ngọn núi lớn nhất được chọn làm tiền án của lăng và là tên gọi của cả quần sơn này
Lăng Minh Mạng còn gọi là Hiếu lăng do vua Thiệu Trị cho xây dựng từ
năm 1840 đến năm 1843 để chôn cất vua cha Minh Mạng Lăng nằm trên núi Cẩm Khê, gần ngã ba Bằng Lãng là nơi hội lưu của hai dòng Hữu Trạch và Tả Trạch hợp thành sông Hương, cách cố đô Huế 12 km
Lăng Thiệu Trị còn gọi là Xương Lăng nằm ở địa phận thôn Cư Chánh, xã Thủy Bằng, thị xã Hương Thủy Được vua Tự Đức cho xây dựng vào năm 1847
để chôn cất vua cha Thiệu Trị là nơi chôn cất hoàng đế Thiệu Trị So với lăng tẩm các vua tiền nhiệm và kế vị, lăng Thiệu Trị có những nét riêng Đây là lăng duy nhất quay mặt về hướng Tây Bắc, một hướng ít được dùng trong kiến trúc cung điện và lăng tẩm thời Nguyễn
Lăng Tự Đức được chính vua Tự Đức cho xây dựng khi còn tại vị, là một quần thể công trình kiến trúc, trong đó có nơi chôn cất vua Tự Đức tọa lạc trong một thung lũng hẹp thuộc làng Dương Xuân Thượng, tổng Cư Chánh (cũ), nay là thôn Thượng Ba, phường Thủy Xuân, thành phố Huế Lúc mới xây dựng, lăng
có tên là Vạn Niên Cơ, sau cuộc nổi loạn Chày Vôi, Tự Đức bèn đổi tên thành Khiêm Cung Sau khi Tự Đức mất, lăng được đổi tên thành Khiêm Lăng Lăng
Trang 18có kiến trúc cầu kỳ, phong cảnh sơn thủy hữu tình và là một trong những lăng tẩm đẹp nhất của vua chúa nhà Nguyễn.
Lăng Ðồng Khánh còn gọi là Tư Lăng tọa lạc giữa một vùng quê thuộc làng Cư
Sĩ, xã Dương Xuân ngày trước (nay là thôn Thượng Hai, phường Thủy Xuân, thành phố Huế) Nguyên trước đây là Ðiện Truy Tư được vua Đồng Khánh xây dựng để thờ cha mình là Kiên Thái Vương Khi Ðồng Khánh mắc bệnh và đột ngột qua đời Vua Thành Thái (1889-1907) kế vị trong bối cảnh đất nước gặp nhiều khó khăn, kinh tế suy kiệt nên không thể xây cất lăng tẩm quy củ cho vua tiền nhiệm, đành lấy điện Truy Tư đổi làm Ngưng Hy để thờ vua Ðồng Khánh
3. Chân dung cố đô Huế qua thơ văn Việt Nam trước thế kỉ XX
Huế là trung tâm chính trị văn hóa quan trọng của Việt Nam trong gần 2 thế kỷ, là đô thị phản ánh quá trình phát triển của đất nước cuối thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XX Các công trình kiến trúc được xây dựng ở Kinh đô khẳng định chủ quyền của một quốc gia, sự điều hành của nhà nước thống nhất Trong hệ thống các công trình phục vụ hoạt động của triều đình, có rất nhiều công trình mang những giá trị kiến trúc và văn hóa độc đáo Cố đô Huế đã từng tồn tại nhiều thư viện của hoàng gia như: Thư viện Sử Quán (1821), Tàng Thư Lâu (1825), thư viện Nội Các (1826), thư viện Tụ Khuê (1852), Tân Thư Viện (1909), thư viện Bảo Đại (1923) Bên cạnh các thư viện dưới triều Nguyễn, ngày nay vẫn đang bảo tồn, lưu giữ
một loại kho tàng tư liệu như những “thư viện” thể hiện những giá trị độc
đáo và vô cùng quý giá về văn học nghệ thuật trên kiến trúc cung đình Huế.
Hệ thống thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế là toàn bộ hệ thống văn tự chữ Hán được chạm khắc, khảm cẩn chủ yếu trên các liên ba, đố bản hoặc vách ván thực hiện trong giai đoạn trị vì của triều Nguyễn Hệ thống thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế được lưu giữ qua thời gian là những tư liệu độc đáo, tạo nên những giá trị đặc biệt, lưu giữ cho chúng ta những thông điệp văn hóa lịch sử về một giai đoạn trong lịch sử Việt Nam Giáo sư Huỳnh Minh Đức là người có nhiều nghiên cứu về thơ ca, ngôn ngữ, văn học nghệ thuật đã từng đánh giá hệ thống thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế là tinh hoa văn hoá ViệtNam của thế kỷ XIX mà tác giả là các vị vua, hoàng thân và Nho thần triều Nguyễn Vì vậy, người Việt có quyền tự hào vì đã có được một di sản thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế rất độc đáo, mà không phải dân tộc nào cũng có may mắn sở hữu