BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM --- --- NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THẢO NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA SỐ DẢNH CẤY/KHÓM VÀ LƯỢNG KALI BÓN ĐẾN SINH TRƯỞN
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
- -
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THẢO
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA SỐ DẢNH CẤY/KHÓM
VÀ LƯỢNG KALI BÓN ĐẾN SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT
CỦA GIỐNG LÚA TẺ RÂU (KHẨU CHẮP HANG)
VỤ XUÂN TẠI GIA LÂM, HÀ NỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN MAI THƠM
HÀ NỘI – NĂM 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
- Tác giả xin cam đaoan, số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn này là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào
- Tác giả xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Phương Thảo
Trang 3iii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của thầy cô trong Học viện Nông nghiệp Việt Nam, các thầy cô trong khoa Nông học, bộ môn Canh tác học
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Mai Thơm – Bộ môn Canh tác học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ
bảo và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu để tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ của toàn thể cán bộ, nhân viên trong Trung tâm Thực nghiệm và Đào tạo nghề - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã nhiệt tình giúp đỡ, chỉ bảo kinh nghiệm cho tôi trong suốt thời gian làm luận văn Tôi xin cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đã luôn ở bên động viên, khích
lệ và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập cũng như thực hiện luận văn Trong quá trình thực hiện luận văn vì nhiều lý do chủ quan và khách quan, luận văn của tôi không tránh khỏi những sai sót, hạn chế Tôi rất mong được sự thông cảm và đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Phương Thảo
Trang 4MỤC LỤC
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
1.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ lúa gạo trên thế giới và trong nước 3 1.1.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ lúa gạo trên thế giới 3 1.1.2 Tình hình sản xuất, tiêu thụ lúa gạo ở Việt Nam 6 1.2 Tình hình nghiên cứu giống lúa chất lượng 8 1.2.1 Tình hình nghiên cứu giống lúa chất lượng trên thế giới 8 1.2.2 Tình hình nghiên cứu giống lúa chất lượng ở Việt Nam 10 1.3 Các yếu tố cấu thành năng suất và yếu tố ảnh hưởng 12
1.5 Một số kết quả nghiên cứu về bón phân kali cho lúa 19 1.5.1 Một số kết quả nghiên cứu về bón phân kali cho lúa trên thế giới 19
Trang 51.5.2 Một số kết quả nghiên cứu về bón phân kali cho lúa ở Việt Nam 20 1.6 Tình hình nghiên cứu về mật độ và số dảnh cấy 22 1.6.1 Tình hình nghiên cứu mật độ và số dảnh cấy ngoài nước 22 1.6.2 Tình hình nghiên cứu về mật độ và số dảnh cấy trong nước 23 Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
3.1 Ảnh hưởng của số dảnh cấy/khóm và lượng kali bón đến thời gian sinh
3.2 Ảnh hưởng của số dảnh cấy/khóm và lượng kali bón đến chỉ tiêu sinh
3.2.1 Ảnh hưởng của số dảnh cấy/khóm và lượng kali bón đến sự tăng
3.2.2 Ảnh hưởng của số dảnh cấy/khóm và lượng bón kali đến đến động
3.3 Ảnh hưởng của số dảnh cấy/khóm và lượng bón kali đến chỉ tiêu sinh
3.3.1 Ảnh hưởng của số dảnh cấy/khóm và lượng bón kali đến chỉ số
Trang 63.3.2 Ảnh hưởng của số dảnh cấy/khóm và lượng kali đến khố lượng chất khô tích lũy (DM) của giống Tẻ Râu 45 3.4 Ảnh hưởng của số dảnh cấy/khóm và lượng kali đến mức độ nhiễm sâu
3.5 Ảnh hưởng của số dảnh cấy/khóm và lượng kali bón tới các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất giống lúa Tẻ Râu 49 3.5.1 Ảnh hưởng của số dảnh cấy/khóm và lượng kali bón tới các yếu tố
3.5.2 Ảnh hưởng của số dảnh cấy/khóm và lượng kali bón năng suất lúa
3.5.3 Ảnh hưởng của số dảnh cấy/khóm và lượng kali bón đến hiệu suất
3.6 Ảnh hưởng của lượng kali bón đến chất lượng cơm Tẻ Râu 56
Trang 7vii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CCCC
CT HSĐN HSĐNHH HSKT HSĐN NSLT NSSVH NSTT SNHH STT TSC
Chiều cao cây cuối cùng Công thức
Hệ số đẻ nhánh
Hệ số đẻ nhánh hữu hiệu
Hệ số kinh tế
Hệ số đẻ nhánh Năng suất lý thuyết Năng suất sinh vật học Năng suất thực thu
Số nhánh hữu hiệu
Số thứ tự Tuần sau cấy
Trang 81.3 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa ở Việt Nam qua các năm 7 3.1 Ảnh hưởng của số dảnh cấy/khóm và lượng kali bón đến thời gian
3.2 Ảnh hưởng của số dảnh cấy/khóm và lượng kali bón đến động thái
3.3 Ảnh hưởng riêng rẽ của số dảnh cấy/khóm và lượng kali bón đến động
3.4 Ảnh hưởng của số dảnh cấy/ khóm và lượng bón kali đến động thái đẻ
3.9 Ảnh hưởng riêng rẽ của số dảnh cấy/khóm và lượng bón kali đến khối
3.10 Ảnh hưởng của số dảnh cấy và lượng kali bón đến mức độ nhiễm một
3.11 Ảnh hưởng của số dảnh cấy/khóm và lượng kali bón đến các yếu tố
Trang 93.12 Ảnh hưởng riêng rẽ của số dảnh cấy/khóm và lượng kali bón đến các
3.13 Ảnh hưởng của số dảnh cấy/khóm và lượng kali bón đến năng suất 53 3.14 Ảnh hưởng riêng rẽ của số dảnh cấy/khóm và lượng kali bón đến năng suất 55 3.15 Ảnh hưởng của số dảnh cấy/khóm và lượng kali bón đến hiệu suất bón kali 56 3.16 Bảng đánh giá chất lượng cơm giống lúa Tẻ Râu 57 3.17 Bảng đánh giá so sánh chất lượng cơm giống lúa Tẻ Râu 58
Trang 10DANH MỤC HÌNH
3.1 Ảnh hưởng của số dảnh cấy/khóm và lượng kali bón đến động thái tăng
3.2 Ảnh hưởng của số dảnh cấy/khóm và lượng bón kali ảnh hưởng tới quá
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Cây lúa (Oryza sativa L.) là một trong những cây lương thực quan trọng
Trên thế giới có khoảng một nửa dân số sử dụng lúa gạo và sản phẩm chế biến từ lúa gạo cho nhu cầu lương thực hàng ngày Ở Việt Nam, lúa là cây nông nghiệp
có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Hiện hay hơn 60% dân số nước
ta sống bằng nghề trồng lúa, nên lúa không chỉ có ý nghĩa về mặt an ninh lương thực mà còn có giá trị về mặt kinh tế cho nông dân trồng lúa
Ở Việt Nam, các tỉnh phía Bắc với sự đa dạng về địa hình, khí hậu và có mạng lưới sông dày đặc đã tạo ra các sản phẩm nông nghiệp quí hiếm Trong đó, cây lúa là cây đặc trưng và đại diện cho sự đa dạng về các sản phẩm nông nghiệp Mỗi địa phương lại có những giống lúa đặc trưng riêng với các tính trạng quí như mùi thơm, độ dẻo như giống lúa Tẻ Râu Lai Châu
Lúa Tẻ Râu là một giống lúa thuộc nhóm lúa địa phương của đồng bào dân tộc thiểu số ở Lai Châu Giống Tẻ Râu có các đặc điểm nổi trội hạt gạo trắng nâu, dài và to, vỏ trấu dày, cứng, đầu hạt thóc có râu dài, cứng chiều dài râu gấp 4 lần chiều dài hạt, hạt dai, sẽ không bị chim ăn do có râu dài, cứng đâm vào cổ Cơm gạo Tẻ Râu thơm, mềm, độ dẻo vừa phải, vị đậm ăn rất ngon Đây là một giống cho năng suất chất lượng tốt vì vậy cần phải được phát huy và được trồng phổ biến ở nhiều vùng khác nhau để có thể phát huy được các đặc tính đó
Xuất phát từ nhu cầu về giống có chất lượng tốt cho năng suất cao tại các tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng thì giống Tẻ Râu là một giống có thể đáp ứng được các điều kiện đặt ra Nhưng do giống Tẻ Râu là một giống có nguồn gốc từ tỉnh thuộc khu vực miền núi Tây Bắc nên có thể sẽ gặp khó khăn khi trồng tại đồng bằng sông Hồng Tuy nhiên, trong sản xuất không kể đến những tác động trong tự nhiên và xã hội, muốn thâm canh lúa có năng suất cao và hiệu quả cao thì ngoài việc chọn giống tốt thì phân bón và phương pháp cấy ảnh hưởng rất lớn tới năng suất và chất lượng
Trang 12Vì vậy chúng tôi đã tiến hành đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của số dảnh cấy/khóm và lượng kali bón đến sinh trưởng, năng suất của giống lúa Tẻ Râu
(Khẩu Chắp Hang) vụ xuân tại Gia Lâm, Hà Nội” để góp phần xây dựng quy
trình kỹ thuật trong sản xuất
2 Mục đích và yêu cầu
2.1 Mục đích
Xác định được số dảnh cấy và lượng kali bón thích hợp cho giống lúa Tẻ Râu và đánh giá chất lượng cơm nhằm góp phần xây dựng quy trình kỹ thuật thâm canh giống lúa Tẻ Râu vùng đồng bằng
2.2 Yêu cầu
- Đánh giá ảnh hưởng của số dảnh cấy/khóm và lượng kali bón đến sinh trưởng của giống lúa Tẻ Râu
- Đánh giá ảnh hưởng của số dảnh cấy/khóm và lượng kali đến chỉ tiêu sinh
lý của giống lúa Tẻ Râu
- Đánh giá ảnh hưởng của số dảnh cấy/khóm và lượng kali đến sâu bệnh hại của giống lúa Tẻ Râu
- Đánh giá ảnh hưởng của số dảnh cấy/khóm và lượng kali đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của giống lúa Tẻ Râu
- Đánh giá ảnh hưởng của số dảnh cấy/khóm và lượng kali đến hiệu suất sử dụng kali của giống lúa Tẻ Râu
- Đánh giá ảnh hưởng của lượng kali đến chất lượng cơm của giống lúa Tẻ Râu
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ lúa gạo trên thế giới và trong nước
1.1.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ lúa gạo trên thế giới
Cây lúa là một cây lương thực quan trọng đứng thứ hai sau lúa mì Có nguồn gốc nhiệt đới, dễ trồng, năng suất cao và có khả năng thích nghi với nhiều vùng khí hậu Theo số liệu thống kê của tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hiệp quốc (FAO), tính đến năm 2006, toàn thế giới có 114 nước trồng lúa, phân bố ở tất cả các châu lục Trong đó, châu Phi – 41 nước, châu Á - 30 nước, Bắc Trung Mỹ - 14 nước, Nam Mỹ
- 13 nước, châu Âu - 11 nước và châu Đại Dương - 5 nước Nhưng phân bố tập trung ở châu Á từ 30 vĩ độ Bắc đến 10 vĩ độ Nam Trong vài ba thập kỷ gần đây, tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới đã có mức tăng trưởng đáng kể Tổng sản lượng lúa tăng 70% trong vòng 32 năm, nhưng do sự bùng nổ dân số nhất là ở các nước đang phát triển ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ La Tinh nên vấn đề an ninh lương thực vẫn
là vấn đề cấp bách cần được quan tâm trong những năm trước mắt và lâu dài
Bảng 1.1 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của thế giới qua các năm
(triệu ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
Trang 14so với năm 2006), đạt cao nhất vào năm 2013 với 164,72 triệu ha
Về sản lượng: Sản lượng lúa trên thế giới năm 2009 giảm 0,5% so với năm
2008 do có sự sụt giảm về diện tích, lý do chính là do khủng hoảng kinh tế toàn cầu, nông dân không chú trọng đầu tư vào cây lúa Đến năm 2013 sản lượng lúa tăng nên
và đạt cao nhất ở mức 745,71 triệu tấn
Về diện tích gieo trồng : Diện tích gieo trồng của toàn thế giới tăng nhưng tăng nhẹ theo từng năm Đến năm 2013 thì tổng diện tích gieo trồng lúa đã đạt mức
cao nhất từ trước đến nay là 164,72 triệu ha
Bảng 1.2 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của một số quốc gia và khu vực
trên thế giới năm 2013 Quốc gia và
khu vực
Diện tích (triệu ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
Trang 15lượng lúa trên toàn thế giới
Sản lượng lúa của thế giới năm 2013 tăng 27,36 triệu tấn so với năm 2012 Sản lượng lúa tăng cao như vậy phần lớn do sản xuất thuận lợi tại Ấn Độ, Trung Quốc, Banglades, Indonexia và Việt Nam đã vượt trội hơn từ các nước Thái Lan, Peru, Philipin và Brazin
Châu Á sản xuất 674,84 triệu tấn đã tăng 6,26 triệu tấn so với năm 2012 Sự gia tăng về sản lượng của Châu Á chủ yếu là do hai quốc gia có diện tích gieo trồng lớn nhất thế giới Ấn Độ và Trung Quốc Cùng với sự tham gia của một số nước như Thái Lan, Pakistan, Nhật Bản và Việt Nam Đối với Việt Nam diện tích trồng lúa đã tăng lên 200000 ha so với năm 2012 đã đưa diện tích trồng lúa nước ta lên tói 7,9 triệu ha và năng suất đã đạt tới 5,57 tấn/ha
Tình hình xuất khẩu gạo trong năm 2013 : 5 nước xuất khẩu gạo nhiều nhất thế giới là Ấn Độ, Thái Lan, Việt Nam, Mỹ và Pakistan
Hình 1.1 Xuất khẩu gạo năm 2013
Ấn Độ đứng đầu về xuất khẩu gạo trong năm thứ hai liên tiếp, với tổng khối lượng xuất khẩu năm 2013 đạt 9,61 triệu tấn Tuy nhiên, nếu so với mức xuất khẩu kỷ lục của năm 2012, xuất khẩu gạo của Ấn Độ vẫn giảm gần 9,8%
Thái Lan là nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới Nước này cũng được thiên nhiên ưu đãi với những vùng châu thổ trồng lúa phì nhiêu Các trung tâm nghiên cứu
Trang 16giống lúa được thành lập ở nhiều tỉnh và khu vực Nhiệm vụ của các cơ này là tiến hành chọn lọc, phục tráng, lai tạo để cho giống lúa tốt và năng suất xuất khẩu nhiều Việt Nam đứng vị trí thứ ba về xuất khẩu gạo, với khối lượng thấp hơn Thái Lan đôi chút đạt 6,74 triệu tấn giảm 12,9% so với năm 2012 Đây là mức giảm mạnh nhất trong số 5 thị trường xuất khẩu gạo chủ chốt trên thế giới Năm 2013, xuất khẩu gạo của Pakistan vẫn giữ vị trí thứ tư với khối lượng 3,41 triệu tấn, giảm 6,6% so với năm trước đó, trong khi Mỹ đứng vị trị thứ năm với khối lượng xuất khẩu đạt 3,37 triệu tấn, tăng khoảng 1,2% so với năm trước đó
1.1.2 Tình hình sản xuất, tiêu thụ lúa gạo ở Việt Nam
Việt Nam là một nước có truyền thống trồng luá nước từ lâu đời Lúa gạo là một nguồn lương thực chính của nước ta Lúa gạo không chỉ cung cấp nguồn lương thực
mà nó còn là một trong những sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu chính của nước ta
Xét về vị trí địa lý, nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, lượng bức xạ mặt trời cao và đất đai phù hợp nên có thể trồng nhiều vụ lúa trong năm và với nhiều giống khác nhau Sản xuất lúa gắn liền với sự phát triển của nông nghiệp, theo tài liệu khảo cổ học đáng tin cậy đã công bố thì cây lúa được trồng phổ biến và nghề trồng lúa đã là nghề khá phồn thịnh ở nước ta thời kỳ đồ đồng khoảng 4000 –
3000 năm trước Công Nguyên (Đinh Thế Lộc, 2006)
Suốt từ Bắc đến Nam, đâu đâu cũng thấy người dân trồng lúa, song diện tích tập trung chủ yếu ở hai vùng châu thổ lớn đó là Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long Quá trình khai hoang phục hoá cùng với việc thâm canh tăng
vụ đã đưa tổng diện tích lúa thu hoạch của nước ta từ 4,74 triệu ha năm 1961 lên 7,67 triệu ha năm 2000, sau đó giảm dần xuống còn 7,34 triệu ha vào năm 2003 (Nguyễn Thị Lẫm và cộng sự 2003)
Từ một nước thiếu ăn, phải nhập khẩu gần 2 triệu tấn gạo/năm trước đây, Việt Nam đã vươn lên giải quyết an ninh lương thực cho 83 triệu dân, ngoài ra còn xuất khẩu một lượng gạo lớn ra thị trường Thế giới Những năm gần đây, nước ta luôn đứng hàng thứ 2 trên thế giới (sau Thái Lan) về lượng gạo xuất khẩu (đạt 5,25 triệu tấn năm 2005) và sẽ ổn định vào những năm tiếp theo Đây là thành công lớn trong công tác chỉ đạo và phát triển sản xuất lúa của Việt Nam
Trang 17Trong những năm qua, sản xuất lúa gạo ở Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ
và đã đạt được những thành tựu về năng suất và sản lượng đáng kể cho nền nông nghiệp Từ năm 2005 đến năm 2013 diện tích trồng lúa tăng nhưng không đáng kể Tuy diện tích tăng không đáng kể nhưng năng suất và sản lượng lại tăng cao so với các năm trước nhờ biện pháp kỹ thuật canh tác tốt, tăng năng suất Diện tích năm
2013 tăng so với các năm trước đã đạt được 7.902,8 triệu ha Năng suất năm 2013 chỉ đạt được 5,57 tấn/ha đã giảm so với năm 2012 Nhưng sản lượng thì lại tăng cao hơn năm 2012 đến 1 triệu tấn
Ngoài ra nếu so sánh với các nước trồng lúa tiên tiến như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan thì năng suất lúa của Việt Nam vẫn còn kém xa Vì thế
để đảm bảo an ninh lương thực cho một q uốc gia đông dân cư như nước ta và giữ vững vị thế là một nước xuất khẩu lúa gạo hàng đầu Thế giới thì điều kiện cần thiết là phải tiếp tục đầu tư thâm canh tăng vụ, lai tạo và nhập khẩu các giống mới có năng suất cao, phẩm chất tốt, chống chịu tốt với sâu, bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất lợi
Bảng 1.3 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa ở Việt Nam qua các năm
(triệu ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
Từ năm 2005 trở lại đây, năng suất lúa của nước ta ổn định và tăng mạnh -
từ 5,34 tấn/ha (2010) lên 5,54 tấn/ha (2011) và đều cao hơn năng suất bình quân của thế giới Tính đến năm 2013, tổng sản lượng lúa của nước ta đạt 44,03 triệu tấn
Trang 18(chiếm 5,9% tổng sản lượng lúa toàn thế giới)
Việt Nam từ một nước thiếu lương thực của những thập niên 80, 90 thế
kỷ trước thì những năm 2005 – 2008 sản lượng gạo xuất khẩu khá ổn định ở mức trên 4,5 triệu tấn và có bước đột phá từ những năm 2009 Cụ thể, mùa vụ 2010/2011, Việt Nam xuất khẩu 7,1 triệu tấn gạo trong tổng sản lượng 26,37 triệu tấn, so với 6,73 triệu tấn trong mùa vụ
Xét về lượng, trung bình mỗi năm Việt Nam xuất khẩu sang châu Phi từ 1,2 đến 1,5 triệu tấn gạo Mùa mua sắm tại thị trường châu Phi không bắt đầu vào quý đầu tiên của năm mà thường từ quý 2 trở đi Gạo xuất sang châu Phi thường được bán theo cơ sở giá FOB; hàng hóa được chuyển bằng tàu lớn và dừng lại ở nhiều cảng tại các quốc gia châu Phi khác nhau Chính vì vậy, rất khó để đưa ra con số chính xác về lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam sang châu lục này (Nguyễn Đình Luận, 2013)
1.2 Tình hình nghiên cứu giống lúa chất lượng
1.2.1 Tình hình nghiên cứu giống lúa chất lượng trên thế giới
Sản lượng lúa gạo trong một số năm trở lại đây có mức tăng trưởng đáng kể nhờ việc mở rộng diện tích đất trồng lúa, cùng với việc dầu tư thâm canh, sử dụng các giống lúa mới có tiềm năng năng suất cao, xây dựng cơ sở vật chất, hoàn chỉnh các biện pháp kỹ thuật (Bùi Chí Bửu và CS, 2001)
Hiện tại, nhu cầu lúa gạo về phẩm chất rất khác nhau tùy từng vùng và tập quán Các nước Nhật, Triều Tiên, Trung Quốc, Âu Mỹ thích gạo mềm, ướt, hơi dẻo (giống japonica) Ngược lại Ấn Độ, Pakixtan, Việt Nam lại thích gạo nở, cơm khô Trên thị trường gạo thế giới, chiều dài hạt, phẩm chất gạo rất được quan tâm Về chiều dài hạt, Viện IRRI chia ra làm 4 cấp: hạt rất dài (trên 7,5 mm), hạt dài (6,6 – 7,5 mm), hạt trung bình (5,5 – 6,5 mm) và hạt ngắn (dưới 5,5 mm) Về màu sắc gạo, phổ biến nhất là màu trắng ngà, song cũng có màu đỏ hoặc hơi đen Về hướng phát triển gạo của các nước cũng rất khác nhau, tùy vào thị trường tiêu thu của mình mà các nước xuất khẩu gạo lớn hiện nay tập trung phát triển các loại gạo có chất lượng khác nhau: Thái Lan tập trung sản xuất phát triển các giống lúa có kiểu hạt dài, chất lượng cao; tại Mỹ phát triển các giống có kiểu hạt tròn và hạt dài nhưng có chất lượng
Trang 192 giống lúa mới bằng kỹ thuật MAS là Tubigan7, Tubigan 11 có khả năng chống chịu sâu đục thân và bệnh bạc lá (Philrice, 2007)
Theo tác giả Edgar Alonso Torres et al., 2007 cho biết khi kết hợp lai Japonica với Indica có thể tạo ra dòng lúa có năng suất cao và khả năng chịu lạnh tốt
Bên cạnh những thành tựu trong công tác chọn tạo giống lúa năng suất cao, các nhà nghiên cứu trên thế giới đã quan tâm đến chất lượng nấu nướng đối với các dòng, giống lúa cải tiến Hiện nay hàng loạt các dòng giống lúa cải tiến được chọn tạo có tiềm năng năng suất cao, chất lượng gạo tốt đang được mở rộng trong sản xuất như: IR29723, IR42, IR50… Tuy nhiên, kết quả chọn tạo giống lủa tẻ thơm chất lượng thường thấp vì hầu hết các giống mang gen chống chịu sâu bệnh đều có hàm lượng amylose cao và nhiệt độ hóa hồ thấp
Yi et al (2009) đã lai 2 giống lúa thơm Basmati 370 với giống địa phương của Myamar đó là Manawthukha để chuyển alen badh 2.1 vào giống mới, sau đó sử dụng kỹ thuật PCR với mồi aromarker để xác định tính thơm
Bằng các phương pháp chọn tạo khác nhau, các nhà chọn tạo giống lúa trên thế giới và trong nước đã tạo ra được hàng loạt giống lúa mới góp phần làm phong phú bộ giống lúa, làm tăng năng suất và sản lượng lúa trên thế giới, đóng vai trò quan trọng trong sản xuất và an ninh lương thực của nhiều quốc gia
Trang 20Trung Quốc là một nước trồng lúa hàng đầu trên thế giới nên rất chú trọng trong công việc chọn tạo giống Trung Quốc đã cho ra đời một loạt các giống chất lượng cao, phẩm chất tốt như : Đoàn Kết, Bao Thai… Các giống này đã nhập vào Việt Nam và đến ngày nay vẫn còn đang được gieo trồng trên một số địa phương vì chất lượng tốt, phù hợp với đát đai khí hậu
Ấn Độ là nước đứng đầu trong trong trồng lúa Viện nghiên cứu giống lúa Trung ương của Ấn Độ được thành lập vào năm 1946 tại Cuttuck bang Orisa, đóng vai trò đứng đầu trong việc chọn tạo giống Ngoài ra Ấn Độ còn có nhiều trung tâm nghiên cứu khác Ấn Độ cũng là nước có nhiều giống lúa chất lượng cao như : Basmatis, Brimphun
Ở Nhật Bản tuy người ta chỉ trồng lúa 1 năm 1 vụ nhưng vẫn cho năng suất cao và chất lượng tốt Do đời sống cao nên đòi hỏi chất lượng phải tốt vì vậy mà Nhật Bản đã có rất nhiều trung tâm nghiên cứu đặt tại Sendai, Niigata,kochi, saga…đều là những vùng có diện tích trồng lúa lớn Các nhà khoa học Nhật Bản đã lai tạo ra rất nhiều giống lúa vừa có năng suất cao lại có phẩm chất tốt như: Sasaniki, Nipponbare, Koenshu, Minamisiki… đặc biệt là tiến sĩ E.Tsuzuki đã lai tạo được 2 giống lúa đặt tên là Miyazaki1 và Miyazaki2 Đây là 2 giống lúa được lai tạo ra có mùi thơm, chất lượng gạo ngon và cho năng suất cao
1.2.2 Tình hình nghiên cứu giống lúa chất lượng ở Việt Nam
Việt Nam là nước nhiệt đới gió mùa có điều kiện thuận lợi cho việc trồng lúa Nước ta có hàng nghìn giống lúa được gieo trồng từ Bắc vào Nam, trong đó có rất nhiều giống “ cổ truyền” có chất lượng cao như : Tám thơm, lúa
di, Nếp cái hoa vàng…chúng ta nhập và thuần hóa nhiều giống lúa nước ngoài như: IR 64 Điện Biên, Bao thai Định Hóa…(Nguyễn Thị Hương Thủy, 2003)
Ở miền Nam, vào giữa những năm 60, các giống lúa mới như IR8, IR5, IR20 đã được nhập nội để khảo nghiệm, và cho năng suất trung bình khoảng 35,8 tạ/ha
Ở miền Bắc cùng với một số dòng mới được tách ra và nhân lên từ IR8 và một số giống lúa thấp cây được lai tạo ra đã làm cho sản lượng thóc tăng lên đáng
kể từ 10,8 triệu tấn năm 1976 đã tăng lên 26,3 triệu tấn năm 1996 trong cả nước
Trang 21Trong giai đoạn 1990 – 1995 đề tài KN 08 – 01 đã chọn tạo, được công nhận
26 giống lúa đưa vào vùng thâm canh ở Việt Nam
Trong giai đoạn 1996 – 2000, đề tài KN 08 – 01 chọn tạo một số giống lúa thuần và lúa lai có tiềm năng năng suất cao cho các vùng sinh thái khác nhau trong
cả nước: tạo ra 35 giống lúa Quốc gia, 44 giống lúa khu vực hóa, một số giống triển vọng được sản xuất chấp nhận rộng rãi Trong giai đoạn này đề tài không những quan tâm tới giống có năng suất cao mà còn quan tâm tới chọn tạo ra những giống
có chất lượng tốt phục vụ cho nhu cầu trong nước ngày càng cao và phục vụ cho xuất khẩu (Nguyễn Hữu Nghĩa, Lê Vĩnh Thảo, 2000)
Từ năm 2000 trở lại đây, mỗi năm trên toàn quốc có hàng chục giống lúa thuần được các Viện nghiên cứu, các Trường Đại học, các Trung tâm ứng dụng và các Công ty sản xuất giống đưa ra công nhận và cho sản xuất thử
Giống lúa đầu tiên được lai tạo ra thành công và đưa vào sản xuất là giống lúa ngắn ngày NNI (Lương Đình Của, 1961), đã đáp ứng được giống cho trà xuân muộn Giống 424 được tạo ra từ tổ hợp lai IR5 và chiêm xuân 314 có khả năng chịu chua, chịu phèn
Các đề tài nghiên cứu phát triển giống lúa tẻ thơm cho một số vùng sinh thái
ở Việt Nam như giống HT1, DT122 có hương thơm, năng suất cao, thích ứng rộng
đã được mở rộng vào sản xuất (Lê Vĩnh Thảo và cs, 2003) Giống lúa BM9603 cho năng suất cao được gieo cấy ở nhiều vùng như Bắc Ninh, Hải Phòng
Năm 2007, PGS Nguyễn Thanh Tuyền và CS, đã tiến hành nghiên cứu đặc điểm nguồn và sức chứa của một số giống lúa có thời gian sinh trưởng khác nhau Kết quả cho thấy các giống lúa ngắn ngày có các yếu tố sức chứa cao hơn các giống trung ngày Do đó năng suất và tiềm năng năng suất của các giống ngắn ngày bằng hoặc cao hơn các giống dài ngày
Viện cây lương thực và cây thực phẩm đã nghiên cứu ra hàng trăm giống lúa
có các đặc điểm chịu hạn, chịu úng , lúa nếp, lúa có hàm lượng Protein cao, lúa chịu mặn Hai giống lúa P4 và P6 là những giống lúa được lai tạo theo hướng hàm lượng Protein cao Giống P4 cso thời gian sinh trưởng trung bình, trồng được 2 vụ/năm, năng suất đạt 45 đến 55 tạ/ha Giống P4 có hàm lượng Protein cao đạt 11% hàm
Trang 22lượng amiloza 16 – 20%hạt gạo dài, tỷ lệ sát đạt 70%, tỷ lệ gạo nguyên đạt 65% (Vũ Tuyên Hoàng, 1997) Giống P6 ngắn ngày hơn giống P4, thuộc lại hình thâm canh, hàm lượng Protein đạt 10,5%, năng suất đạt 45- 55 tạ/ha, cao nhất đạt 60 tạ/ha Đây là giống có chất lượng gạo tốt, đạt tiêu chuẩn xuất khẩu Giống nếp K12
do Viện lương thực, thực phẩm lai tạo có khả năng chốn chịu với bệnh đạo ôn, có thể đạt năng suất 33,5 – 58 tạ/ha (Lưu Văn Quyết, 1998)
Theo Trần Thị Cúc Hòa và cs, 2009 cho biết Viện Lúa đồng bằng sông Cửu Long đã chọn được giống lúa giàu sắt OM 5199- 1 Đây là giống có hàm lượng sắt cao trong gạo trắng, tăng gần gấp đôi hàm lượng sắt trong gạo trắng của các giống lúa đang được gieo trồng tại đây Cũng theo Phạm Thị Mùi và cs, 2009 cho biết giống lúa OM4088 được lai tạo bởi Viện Lúa đồng bằng sông Cửu Long thuộc nhóm giống lúa cực sớm (Ao), thời gian sinh trưởng 85 – 90 ngày, là giống lúa cao sản, chất lượng gạo cao, có mùi thơm nhẹ, kháng rầy nâu và chống được bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá
Theo Nguyễn Thanh Tuyền và cs (2007), thực hiện tổ hợp lai giữa DT10 và Amber đã chọn tạo được giống Tẻ thơm số 10 có đặc tính tương đương với giống lúa Bắc Thơm số 7 như cơm ngon, cơm dẻo, ráo rời, gạo trắng đục Hiện nay các giống lúa này đang được trồng phổ biến ở miền Bắc
Có thể nói công tác chọn tạo giống lúa là một quá trình liên tục và thường xuyên Nhu cầu lương thực ngày một nhiều hơn nên việc đảm bảo an ninh lương thực đáp ứng yêu cầu của con người là mục tiêu hàng đầu của mỗi quốc gia trên thế giới
1.3 Các yếu tố cấu thành năng suất và yếu tố ảnh hưởng
1.3.1 Các yếu tố cấu thành năng suất
Phân tích cơ cấu năng suất người ta thấy rằng năng suất lúa được quyết định bởi các yếu tố: số bông/m2 (N); số hạt/bông (n); tỷ lệ hạt chắc (F) và khối lượng
1000 hạt (W) Mối quan hệ phụ thuộc trên có thể biểu diễn bằng công thức sau:
Y = N x n x W/1000 x 1/106 x F x 104 (tấn/ha)
Y = N x n x W x F x 10-5 (tấn/ha) Trong đó:
Y: Năng suất hạt (tấn/ha)
Trang 23N: Số bông/m2n: Số hạt/bông W/1000: khối lượng của 1 hạt (g) F: Tỷ lệ hạt chắc trên bông W: khối lượng 1000 hạt
104: hệ số quy đổi từ m2 sang ha
Các yếu tố cấu thành năng suất có liên quan với nhau Số bông/m2 phụ thuộc vào tỷ lệ đẻ nhánh và mật độ cấy Khi cây đẻ nhánh mạnh thì bông/m2 sẽ tăng Khi bông/m2 tăng quá cao thì bông lúa sẽ bé đi, số hạt/bông giảm, tỷ lệ hạt chắc/bông cũng giảm Tỷ lệ hạt chắc và khối lượng hạt phụ thuộc vào số hạt/bông
Khi số hạt/bông quá cao thì tỷ lệ hạt chắc, khối lượng hạt sẽ giảm Để đảm bảo năng suất cao cần điều khiển sao cho ruộng lúa có số bông/m2 tối ưu, đảm bảo
số hạt/bông nhiều, tỷ lệ hạt chắc cao và khối lượng hạt lớn
Năng suất lúa trên đơn vị diện tích là kết quả tương tác của nhiều yếu tố Căn
cứ vào điều kiện khí hậu, đất đai, phân bón, giống lúa mà quyết định mật độ cấy, tỷ
lệ đẻ nhánh vì hai yếu tố này ảnh hưởng đến số lượng bông, tỷ lệ hạt chắc, khối lượng hạt và cuối cùng là năng suất hạt (Đinh Đĩnh, 1970)
1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng
Số bông trên đơn vị diện tích được quyết định bởi hai yếu tố chủ yếu Mật độ cấy và tỷ lệ đẻ nhánh Nếu cấy dày, lúa đẻ nhánh ít, cấy thưa lúa đẻ nhánh nhiều và cuối cùng số bông trên đơn vị diện tích như nhau Vì vậy căn cứ điều kiện thời tiết, đất đai, phân bón mà quyết định mật độ cấy Nếu đất tốt, nhiều phân bón, thời tiết nắng ấm thuận lợi cho đẻ nhánh thì cấy thưa Nếu đất xấu, ít phân thiếu ánh sáng, rét nhiều thì cấy dày để đảm bảo số bông trên đơn vị diện tích Ngoài ra mật độ cấy,
tỷ lệ đẻ nhánh cũng có tác động quan trọng đến sự hình thành bông Đối với những giống lúa có 17-18 lá, những nhánh đẻ từ lá thứ 12 trở về trước có khả năng cho bông; những nhánh đẻ từ 14 lá trở ra phần lớn là vô hiệu; những nhánh đẻ từ lá 12-
14 có thể cho bông cũng có thể không cho bông Để tạo điều kiện cho cây lúa đẻ nhánh tốt, đạt số bông trên đơn vị diện tích cao khi cấy dùng những cây mạ to, khỏe, đanh dảnh, màu xanh, rễ ngắn Cấy đúng thời vụ đảm bảo cho sinh trưởng,
Trang 24phát triển của cây lúa Cần bón thúc đẻ nhánh, bón thúc đòng kết hợp với làm cỏ
sục bùn để cho lúa đẻ nhánh mạnh và tập trung
Số hạt/bông là số lượng hoa phân hóa và hình thành trên bông Số hạt/bông
do tổng số hoa phân hóa và số hoa thoái hóa quyết định Số hoa phân hóa càng nhiều, số hoa thoái hóa càng ít thì hạt/bông sẽ nhiều Tỷ lệ hoa phân hóa liên quan chặt chẽ với chế độ chăm sóc Người ta thấy rằng bón đón đòng cho lúa vào giai đoạn phân hóa đòng đến giai đoạn phân hóa hoa có tác dụng làm tăng số lượng hoa phân hóa một cách rõ rệt Bón phân vào giai đoạn phân hóa hoa còn có tác dụng ngừa hoa thoái hóa Bón thúc vào giai đoạn bắt đầu phân hóa đòng còn có tác dụng làm phân hóa gié Số gié cấp 1, đặc biệt là số gié cấp 2 nhiều thì số hoa/bông cũng
nhiều Số hoa/bông nhiều là điều kiện cần thiết để đảm bảo cho số hạt/bông lớn
Tỷ lệ hạt chắc là tỷ % hạt có tỷ trọng lớn hơn 1,06 Tỷ lệ hạt chắc có ảnh hưởng đến năng suất lúa rõ rệt Số hạt chắc ít, số hạt lép nhiều thì năng suất giảm
Tỷ lệ hạt chắc phụ thuộc vào số hạt/bông, nếu số hạt/bông quá lớn thì tỷ lệ hạt chắc
sẽ thấp Ngoài ra tỷ lệ hạt chắc còn phụ thuộc vào lượng tinh bột tích lũy trong cây
và đặc điểm giải phẫu của cây lúa Trước khi trổ bông nếu cây lúa sinh trưởng tốt, quang hợp thuận lợi, hàm lượng tinh bột được tích lũy và vận chuyển lên hạt được nhiều thì tỷ lệ hạt chắc cao Mạch dẫn phát triển tốt thì quá trình vẫn chuyển tinh bột tích lũy trong cây đến hạt được tốt, kết quả là tỷ lệ hạt chắc sẽ cao
Tỷ lệ hạt chắc còn chị ảnh hưởng của quá trình quang hợp sau khi trổ bông Sau khi trổ bông quang hợp ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tích lũy tinh bột trong phôi nhũ, ở giai đoạn này nếu điều kiện khí hậu không thuận lợi (nhiệt độ thấp, ánh sáng yếu) cho quá trình quang hợp thì tỷ lệ hạt chắc giảm rõ rệt
Khối lượng hạt là yếu tố thứ tư quyết định đến năng suất lúa Khối lượng hạt phụ thuộc vào kích thước hạt và kích thước của nội nhũ Vào giai đoạn phân bào giảm nhiễm nếu điều kiện ngoại cảnh và điều kiện dinh dưỡng thuận lợi thì hạt được hình thành với kích thước lớn, sao đó tích lũy được nhiều tinh bột, hạt thóc sẽ lớn và khố lượng hạt se lớn Sau khi trổ bông, nếu dinh dưỡng kém, thiếu ánh sáng ảnh hưởng đến quang hợp, quá trình vận chuyển các chất về hạt bị cản trở sẽ làm
Trang 25giảm khối lượng hạt Để tăng khối lượng hạt, trước lúc trổ bông cần bón thúc nuôi đòng để làm tăng kích thước vỏ trấu Sau khi trổ bông cần tạo điều kiện cho cây sinh trưởng tốt để quang hợp được tiến hành mạnh mẽ, tích lũy được nhiều tinh bột thì khối lượng hạt sẽ cao (Nguyễn Văn Luật, 2001)
Theo Yoshida et al., 1995) cho thấy những giống lúa có TGST quá ngắn thì
không thể đạt năng suất cao, vì sinh trưởng dinh dưỡng bị hạt chế Còn đặc điểm các giống có năng suất cao là thân ngắn, cứng, lá thẳng, đẻ nhánh khỏe
1.4 Nhu cầu dinh dưỡng của cây lúa
1.4.1 Nhu cầu dinh dưỡng đạm
Đạm có vai trò quan trọng trong đời sống của cây trồng nói chung và với cây lúa nói riêng, đạm giữ vai trò đăch biệt trong việc tăng năng suất Nó là một trong những thành phần cơ bản của axit amin, axit nucleotit và diệp lục Tại các bộ phận non của cây có hàm lượng đạm cao hơn các bộ phận già
Đạm có vai trò quan trọng trong việc phát triển bộ rễ, thân, lá, chiều cao cây và
đẻ nhánh của cây lúa Việc cung cấp đạm đủ và đúng lúc làm cho lúa vừa đẻ nhánh nhanh vừa tập trung, tạo ra nhiều nhánh hữu hiệu, là cơ sở tạo ra số bông/đơn vị diện tích sau này – yếu tố cấu thành năng suất có vai trò quan trọng đối với năng suất lúa Đạm là yếu tố dinh dưỡng quan trọng nhất với cây lúa Lúa cần đạm ở tất cả các thời kỳ sinh trưởng, tuy nhiên nhu cầu đạm tăng đều từ thời kỳ đẻ nhánh tới trỗ, rồi giảm sần sau trỗ Giai đoạn sinh trưởng đầu tỷ lệ đạm được tích lũy cao trong thân, lá của cây lúa và giảm dần theo thời gian cho tới tận giai đoạn cuối thời kỳ sinh trưởng Việc di chuyển đạm từ các bộ phận của cây đến hạt diễn ra mạnh mẽ ở các thời kỳ sinh trưởng sinh thực vả chủ yếu là giai đoạn sau trỗ Cây lúa hút đạm nhiều nhất vào hai thời kỳ: đẻ nhánh khoảng 70% và làm đòng khoảng 10- 15 %, trong đó đẻ nhánh là thời kỳ hút đạm có ảnh hưởng lớn nhất đến năng suất lúa còn làm đòng là thời kỳ hút đạm có hiệu suất cao Tùy theo thời gian sinh trưởng của giống mà có 2 đỉnh nhu cầu đạm gần nhau, còn các giống dài ngày 2 đỉnh đó cách nhau trong khoảng từ 30 – 40 ngày
Theo DE Datta, 1981 kết luận rằng lúa cần đạm trong suốt quá trình sinh trưởng để tích lũy chất khô và đẻ nhánh, điều này xác định số lượng bông Đạm góp
Trang 26phần tạo nên số hạt trong giai đoạn phân hóa đòng, tăng kích thước hạt làm đòng Đạm góp phần tích lũy hydratcacbon trong thân lá ở giai đoạn làm đòng Đạm góp phần tích lũy hydratcacbon trong thân lá ở giai đoạn trước trỗ và trong hạt ở giai đoạn vào chắc vì chúng phụ thuộc nhiều vào tiềm năng quang hợp Theo Nguyễn Như Hà, 2006: lượng đạm cần thiết để tạo ra 1 tấn thóc là 17 – 35kg N, trung bình cần 22,2 kg N
Cây lúa cần đạm trong tất cả các giai đoạn sinh trưởng, tuy nhiên giai đoạn đẻ nhánh lúa cần nhiều N nhất (Nguyễn Văn Hoan và Nguyễn Văn Hiển, 1999)
Khi bón đạm nhiều làm cây chậm thành thục, hạt chín không đẫy hạt so với bón ít đạm Như vậy đạm nhiều sẽ ảnh hưởng xấu đến độ thành thục của hạt
Cung cấp đủ đạm cho lúa và đúng lúc làm cho lúa đẻ nhánh nhanh và tập trung, tạo nhiều nhánh hữu hiệu Mặt khác bón đạm làm tăng hàm lượng protein, do
đó ảnh hưởng đến chất lượng gạo
Thiếu đạm làm cho cây lúa thấp, đẻ nhánh kém, đòng nhỏ, khả năng trỗ kém,
số hạt/ bông ít, hạt lép nhiều, năng suất thấp Thừa đạm làm cho lá to, dài, phiến lá mỏng, nhánh vô hiệu nhiều, lúa trỗ muộn, cây cao, lốp, đổ non, ảnh hưởng xấu đến năng suất và phẩm chất lúa
Bên cạnh đó đạm cũng ảnh hưởng đến khả năng chống chịu sâu bệnh của lúa Thừa hoặc thiếu đạm đều làm cho lúa dễ bị nhiễm sâu bệnh hại do sức đề kháng giảm (Nguyễn Như Hà, 2006)
Cây hút đạm dưới dạng NH4+ và NO3- Tùy loài cây mà có thể chia ra loài cây ưa NH4+ và cây ưa NO3-
Lúa là cây ưa NH4+ điển hình
Trong thời kỳ đầu sinh trưởng của cây lúa có khuynh hướng hút NH4+, lúa còn hút cả NO3-
Ở ruộng khô lúa hút cả hai dạng đạm NH4+ và NO3-, còn trong ruộng nước thì lúa chuyên hút NH4+
Đạm được chuyển từ rễ vào cơ thể cây lúa rồi từ đó kết hợp với axit hữu cơ
do sự oxy hóa của đường và tinh bột (sản phẩm của quang hợp) tạo thành axit amin
Trang 27tổng hợp nên protein
Nhiều công trình của nhiều tác giả trong và ngoài nước đều cho rằng cây lúa hút đạm nhiều nhất vào hai thời kỳ: Thời kỳ đẻ nhánh và thời kỳ làm đòng Lúa hút nhiều đạm vào thời kỳ nào thì cũng đồng thời hút lân và Kali nhiều nhất vào thời kỳ đó
1.4.2 Nhu cầu dinh dưỡng lân
Cùng với đạm, lân xúc tiến sự phát triển của bộ rễ và tăng khả năng đẻ nhánh đồng thời cũng làm cho lúa trỗ bông và chín sớm Lân còn làm cho lúa chỗ bông đều, chín sớm hơn, tăng năng suất và phẩm chất hạt Để tạo ra một tấn thóc cây lúa cần hút 7,1 kg P2O5, trong đó tích lũy chủ yếu vào hạt Lúa thiếu lân, lá có màu xanh đậm, bản lá nhỏ, hẹp, lá dài ra và mềm yếu, ria mép lá có màu vàng tía, lúa đẻ
ít, thời kỳ trỗ bông và chín đều chậm lại và kéo dài Do trỗ bông muộn nên hạt lép nhiều, độ dinh dưỡng hạt gạo thấp Đặc biệt, lúa thiếu lân ở thời kỳ làm đòng thì giảm năng suất một cách rõ rệt
1.4.3 Nhu cầu dinh dưỡng Kali
Kali là một trong 3 yếu tố dinh dưỡng quan trọng nhất đối với cây lúa, lúa hút kali nhiều nhất sau đó mới đến đạm, để thu được 1tấn thóc cây lúa lấy đi 22 - 26
kg kali nguyên chất, tương đương 36,74 - 43,42kg KCl (loại phân chứa 60% KCl), kali là nguyên tố điều khiển chất lượng, tham gia vào hầu hết các quá trình hình thành các hợp chất và vận chuyển các hợp chất đó, kali làm cho tế bào cứng cáp, tăng tỉ lệ đường, giúp vận chuyển chất dinh dưỡng nhanh chóng về hoa, tạo hạt tốt (Cục khuyến nông và khuyến lâm, 1998; Nguyễn Văn Quyền, 2002.; Yoshida, 1985; Hargopal, 1998)
Kali có vai trò quan trọng là xúc tiến sự di chuyển các chất đồng hóa I và gluxit trong cây Ngoài ra, kali còn làm cho sự di động sắt trong cây được tốt hơn do đó ảnh hưởng gián tiếp đến quá trình hô hấp Kali cũng rất cần cho sự tổng hợp protit, quan hệ mật thiết với sự phân chia tế bào
Đinh Thế Lộc và Vũ Văn Liết (2004) cho rằng kali không phải là chất tạo thành bất kỳ một chất hữu cơ nào của cây lúa, nhưng nó rất quan trọng cho hơn 40 enzym hoạt động Đóng vai trò quan trọng trong hoạt động sinh lý của cây như
Trang 28đóng mở khí khổng, tăng khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh bất thuận, tăng khả năng chống chịu bệnh, giúp lúa đẻ nhánh thuận lợi, tăng kích thước hạt và khối lượng hạt Thiếu kali cây sẽ còi cọc, đẻ nhánh kém hơn một chút, lá ngắn, màu xanh tối, bông nhỏ và dài Đối với chất lượng hạt lúa thì nếu thiếu kali hạt giống sẽ không bình thường, dị dạng cao, phôi và rìa hạt bị đen Thiếu kali tỷ lệ nảy mầm của hạt kém, sức sống của hạt giảm nhanh trong quá trình bảo quản
Thời gian lúa hút kali dài hơn hút đạm và lân Lúa hút kali tới tận cuối thời gian sinh trưởng Nhu cầu kali của cây lúa rõ nhất ở hai thời kỳ: Đẻ nhánh và làm đòng Thiếu kali vào thời kỳ đẻ nhánh ảnh hưởng mạnh đến năng suất lúa
Tỷ lệ kali cây lúa hút trong các thời kỳ sinh trưởng tùy thuộc vào giống lúa: Cấy – đẻ nhánh: 20,0 – 21,9%; phân hóa đòng – trỗ: 51,8 – 61,9%, vào chắc – chín 16,2 – 27,7% và 20% số kali cây hút được vận chuyển về bông, số còn lại nằm trong các bộ phận khác của cây (Đinh Đĩnh, 1970; Yoshida,1985) Ở cây lúa cũng thấy có hiện tượng sử dụng hoang phí kali, nhưng không gây hại
Tuy nhiên, lúa hút kali mạnh nhất ở thời kỳ làm đòng, từ cuối đẻ nhánh tới trỗ Từ cuối đẻ nhánh đến trỗ của lúa lai hấp thu kali nhiều hơn lúa thuần Sau khi trỗ bông lúa thuần hấp thu giảm hẳn trong khi lúa lai vẫn hấp thu kali mạnh (670 gam/ha/ngày) chiếm 8,7% tổng lượng hấp thu Kali được sử dụng trong nguyên sinh chất tế bào như một tác nhân kích thích các hoạt động chuyển hóa vật chất vô cơ thành hữu cơ đồng thời thúc đẩy quá trình vận chuyển sản phẩm quang hợp từ lá vào hoa và hạt Sự có mặt của kali thời kỳ sau trỗ ở lúa lai là một ưu thế thúc đẩy
quá trình vào mẩy của hạt giúp nâng cao năng suất
Khi nghiên cứu về ảnh hưởng của liều lượng phân bón NPK đến tỉ lệ bạc bụng và hàm lượng amylase trong hạt gạo tác giả rút ra kết luận: Phân lân và kali ảnh hưởng đến tỉ lệ bạc bụng và hàm lượng amylase của hạt gạo, trong khi phân đạm không ảnh hưởng đến tỉ lệ bạc bụng và hàm lượng amylase trong hạt gạo Cây lúa thiếu kali có bộ lá vàng nhạt song rất yếu, rễ kém phát triển, đẻ nhánh yếu, tỷ lệ nhánh vô hiệu cao Thiếu kali làm hoa thoái hóa, hạt lúa bé và tỷ lệ gạo thấp (Nguyễn Văn Hoan, 2006)
Trang 291.5 Một số kết quả nghiên cứu về bón phân kali cho lúa
1.5.1 Một số kết quả nghiên cứu về bón phân kali cho lúa trên thế giới
Trên thế giới, vai trò của kali đã được nghiên cứu và khẳng định Các thí nghiệm của Patrick and Mahapitre (1986), đều cho thấy kali có vai trò quan trọng trong giai đoạn trước và sau làm đòng, thiếu kali ở giai đoạn này năng suất lúa giảm mạnh
Thí nghiệm của Kobayashi (1995), cho thấy: Khi bón đủ kali, giai đoạn từ bắt đầu đẻ nhánh đến phân hóa đòng có tốc độ hút kali cao nhất sau đó giảm Bón kali khi phân hóa đòng có thể làm tăng số hạt trên bông
Đối với lúa ngắn ngày, giai đoạn trỗ cây lúa hút 43,1% lượng kali và tổng lượng kali cần để đạt năng suất cao là 217,7kg/ha Còn đối với lúa dài ngày, cây lúa hút lượng kali tương đối đều ở các giai đoạn sinh trưởng, giai đoạn trỗ bông hút 31,9% và tổng lượng cần là 263,75kg/ha Bón kali ở giai đoạn khác nhau cũng có hiệu quả khác nhau
Ở Đức người ta tính lượng phân kali bón cho cây theo năng suất và lượng kali có trong đất Để đạt năng suất từ 3,0 – 10,0 tấn/ha, tùy theo lượng kali có trong đất, lượng phân kali bón trong luân canh cây trồng được khuyến cáo từ 85 – 310 kg
K2O/ha Ở Trung Quốc, thí nghiệm đạt năng suất lúa cao 7 – 8 tấn/ha/vụ đã bón 135 – 150 kg K2O/ha, để đạt năng suất kỷ lục đã bón 280 kg K2O/ha (IPI, 1993)
Các nghiên cứu ở Ấn Độ cho thấy kali bón vào mùa khô có hiệu quả cao hơn khi bón vào mùa mưa Cùng một cánh đồng canh tác, hiệu quả kali thu được trong mùa khô là 10 kg thóc/1 kg K2O, trong mùa mưa là 8 kg thóc/1 kg K2O (IPI, 1993) Thí nghiệm đồng ruộng của IRRI được tiến hành tại 3 điểm khác nhau trong
5 năm (1968 - 1972) cho thấy: Phân kali có ảnh hưởng rõ tới năng suất lúa ở cả 2 vụ trong năm Trong mùa khô trên nền 140N; 60 P2O5, bón 60 K2O/ha năng suất đạt 6,78 tấn/ha, cho bội thu năng suất do bón kali là 12,8kg thóc/kg K2O Trong mùa mưa trên nền 70N; 60P2O5, bón 60 K2O/ha năng suất đạt 4,96 tấn/ha cho bội thu năng suất do bón kali trung bình năm vụ đạt 440kg thóc, với hiệu suất phân bón là 6,1kg thóc/kg K2O Ảnh hưởng của kali tới năng suất lúa càng về sau càng rõ
Theo Yang (1999), kali đẩy mạnh sự đồng hóa các bon của cây lúa, xúc tiến việc chuyển hóa và vận chuyển sản phẩm quang hợp Thiếu kali hoạt động của sắt
Trang 30bị ảnh hưởng, do đó ảnh hưởng tới quang hợp dẫn đến lá bị vàng Bón đủ kali diệp lục và các sắc tố đều tăng (tuy nhiên kali không phải là thành phần của sắc tố), việc hình thành gluxit dược đẩy mạnh, trọng lượng lá tăng, kali tham gia chuyển hóa đường thành gluco Khi đủ kali tỷ lệ Saccaroza và tinh bột đều cao
1.5.2 Một số kết quả nghiên cứu về bón phân kali cho lúa ở Việt Nam
Kali là một yếu tố quan trọng không thể thiếu đối với cây trồng Nhu cầu của kali đối với cây lúa rõ nhất là thời kỳ đẻ nhánh và làm đòng Nếu thời kỳ đẻ nhánh thiếu kali thì ảnh hưởng tới năng suất lúa Tuy nhiên, lúa hút kali nhiều nhất
ở thời kỳ làm đòng, từ cuối giai đoạn đẻ nhánh tới trỗ, lúa lai hấp thu kali nhiều hơn lúa thuần Sau khi trỗ bông lúa thuần giảm dần hút kali trong khi lúa lai vẫn hút kali mạnh Thiếu kali lá có màu xanh đậm, cây thấp, lúa trỗ sớm hơn, năng suất giảm Thiếu kali quá trình tổng hợp protein bị trở ngại, đạm amin và đạm hòa tan trong cây tăng lên, sức chống chịu trong cây giảm
Theo Vũ Hữu Yêm (1995), cây lúa cần kali trong suốt thời kỳ sinh trưởng và cần nhiều hơn các yếu tố dinh dưỡng khác : gấp 1,5 lần so với đạm, gấp 3,5 lần so với lân Thời kỳ lúa hút kali kéo dài hơn lúa hút đạm và lân, lúa hút kali đến cuối thời kỳ sinh trưởng
Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của phân kali tới năng suất lúa lai ngắn ngày tại Hưng Yên, tác giả đã chỉ ra rằng: trên nền phân bón 130N : 90P2O5 cần bón kali
ở mức 80 kg K2O/ha cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao nhất Hiệu suất bón phân kali đạt 11,13 g thóc/kg K2O (Trần Quang Tuyến, 2007)
Đồng bằng sông Hồng là nơi đất giàu kali nhưng các nghiên cứu cho thấy kết quả bón phân kali cho lúa có hiệu lực khá rõ Kết quả nghiên cứu trong 3 năm về hiệu lực của phân kali đối với lúa trên đất phù sa sông Hồng của Nguyễn Văn Bộ (1995) cũng cho thấy hiệu lực phân kali phụ thuộc vào giống Cùng mức bón 60 -
120 kg K2O/ha giống CR203 đạt năng suất 46,6 – 46,8 tạ/ha, cho bội thu năng suất
do bón kali 2,8 – 3,8 tạ/ha, có hiệu suất 3,2 – 4,7 kg thóc/kg K2O Trong khi giống TG5 đạt năng suất 57,9 – 62,7 tạ/ha, cho bội thu năng suất do bón kali 4,3 – 5,0 tạ/ha, có hiệu suất sử dụng phân bón 4,2 – 7,2 kg thóc/kg K2O (Nguyễn Văn Bộ,
Trang 311995) Khi năng suất dưới 2,5 tấn/ha hiệu lực kali thường không rõ, năng suất 2,5 - 4,5 tấn/vụ, bón 20 - 30kg K2O/ha hiệu lực rõ, năng suất lớn hơn 4,5 tấn/ha/vụ nhất thiết phải bón phân kali (Patric and Mahapitra., 1986)
Theo Nguyễn Thị Lan và Nguyễn Văn Duy (2009), với giống lúa thuần Xi23 cấy trong vụ xuân 2008 trên đất phù sa chua nghèo dinh dưỡng chuyên lúa tại huyện Thạch
hà, tỉnh Hà Tĩnh, vai trò của kali thể hiện rất rõ tác động đến số hạt/bông và năng suất thực thu, bón 80 – 120kg K2O/ha có tác dụng tương tự nhau Mức bón cho hiệu quả cao nhất là 120 kg N + 80 – 120 kg K2O/ha, trên nền phân bón (10 tấn phân chuồng + 70 kg
P2O5 + 400 kg vôi bột)/ha
Theo Nguyễn Như Hà (1999), Lượng phân kali bón cho lúa phụ thuộc chủ yếu vào mức năng suất và khả năng cung cấp kali của đất Các mức bón trong thâm canh lúa trung bình là 30 – 90 kg K2O/ ha và mức bón trong thâm canh lúa cao là
100 – 150 kg K2O/ha, trong đó kali của phân chuồng và rơm rạ có hiệu suất không kém trong phân hóa học Trên đất phù sa sông Hồng khi đã bón 8 – 10 tấn phân chuồng/ha thì chỉ nên bón 30 – 90 kg/ha phân kali khoáng, ngay cả trong điều kiện thâm canh lúa cao
Theo Nguyễn Như Hà và Hà Quang Hùng (1995), không bón kali không những làm giảm năng suất lúa mà còn tăng khả năng bị sâu bệnh hại và tăng chi phí sản xuất Theo Trần Quang Tuyến (2007), đối với đất phù sa canh tác lúa cao sản Đồng bằng sông Cửu Long không bón phân K hoặc bón K với liều lượng thấp liên tục trong mười lăm năm liền, K trong đất sẽ bị huy động cạn kiệt Điều này cho thấy khả năng cung cấp K ở một số nới giảm thấp do việc không bón hoặc bón ít kali trong thời gian dài
Theo Mai Văn Quyền (2002), cho biết trên vùng đất xám ở Đức Hòa – Long An, Viện Khoa học Nông nghiệp miền Nam, 1993 đã thí nghiệm với 2 giống lúa KSB 218 – 9 – 3 và giống 2B cho thấy, ở các công thức bón từ mức 30 đến 120
kg K2O/ha đều làm cho năng suất lúa cao hơn đối chứng từ 15,8 – 32,4 % với giống KSB – 218 và từ 6 – 18,7 % đối với giống 2B
Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng kali bón đến sinh trưởng và năng suất của hai giống lúa TH3-5 và TH7-2 trong vụ mùa 2009, vụ xuân 2010 trên đất phù sa sông Hồng tại Gia Lâm – Hà Nội cho thấy: kali ảnh hưởng tới khả năng
Trang 32tích lũy chất khô, tỷ lệ hạt chắc, khối lượng 1000 hạt Trên nền bón 90 kg K2O/ha cho năng suất cao nhất, nhưng hiệu suất phân kali cao nhất ở mức bón 30 K2O/ha (4kg thóc/1kg K2O) (Nguyễn Công Tạn và cộng sự, 2002)
1.6 Tình hình nghiên cứu về mật độ và số dảnh cấy
1.6.1 Tình hình nghiên cứu mật độ và số dảnh cấy ngoài nước
Mật độ và số dảnh cấy là những chỉ tiêu quan trọng làm tăng số bông, tỷ lệ hạt chắc, khă năng chống chịu, khă năng tích lũy chất khô Ngoài những yếu tố về phân bón, khí hậu thì mật độ và số dảnh cấy có ảnh hưởng rất lớn tới khả năng sinh trưởng và phát triển của cây lúa
Khi nghiên cứu về vấn đề mật độ cấy Sasato (1966) đã kết luận: Trong điều kiện dễ canh tác, lúa mọc tốt thì nên cấy mật độ thưa ngược lại phải cấy dày Giống lúa cho nhiều bông thì cấy dày không có lợi bằng giống to bông Vùng lạnh nên cấy dày hơn so với vùng nóng ẩm, mạ dảnh to nên cấy thưa hơn mạ dảnh nhỏ, lúa gieo muộn nên cấy dày hơn so với lúa gieo sớm Nghiên cứu về khả năng đẻ nhánh (Suichi Yoshida 1985) đã khẳng định: Trong ruộng cấy, khoảng cách thích hợp cho lúa đẻ nhánh khỏe và sớm thay đổi từ 20×20 cm đến 30×30 cm Theo ông việc đẻ nhánh chỉ xảy ra đến mật độ 300 cây/m2, nếu tăng số dảnh cấy lên nữa thì chỉ có những dảnh chính cho bông Năng suất hạt tăng lên khi mật độ cấy tăng lên 182-242 dảnh/m2 Số bông trên đơn vị diện tích cũng tăng theo mật độ nhưng lại giảm số hạt trên bông Mật độ cấy thực tế là vấn đề tương quan giữa số dảnh cấy
và sự đẻ nhánh Thường gieo cấy thưa thì lúa đẻ nhánh nhiều còn cấy dày thì đẻ nhánh ít
Theo Zhong (2003), khái niệm về “ruộng lúa khỏe” (Healthy rice canopy) được hình thành từ cơ sở của sự phối hợp chặt chẽ giữa đặc tính sinh lý của cây lúa, cấu trúc tán lá lúa cũng như điều kiện tiểu khí hậu bên dưới tán lá lúa với sự phát triển của bệnh hại do tác động của bón phân đạm và mật độ gieo sạ Quản lý ruộng lúa khỏe mạnh là
sự kết hợp giữa quản lý dinh dưỡng và cây trồng để tạo ra một ruộng lúa phát triển tốt, năng suất cao, và có khả năng tự chống chịu bệnh hại tốt hơn, đây là một hướng mới,
có tính khả thi và hiệu quả
Mật độ cấy ảnh hưởng rõ tới số hạt/bông, chiều cao cây, chiều dài lóng,
Trang 33đường kính lóng thứ 1,2, 3 của cây lúa Số bông/khóm giảm cũng với tăng mật độ nhưng ngược lại thì tăng số bông/m2 ở mức ý nghĩa Giữa giống, mật độ cấy và đặc
điểm nông học có sự tương tác với nhau (Mobasser et al.,2009)
Kết quả nghiên cứu của De Datta and Buresh (1989), đã chỉ ra rằng: với lúa, khi cấy ở mật độ thưa, mỗi cây sẽ có lượng dinh dưỡng lớn hơn, khả năng hút đạm
và cung cấp cho hạt cao hơn đã làm tăng lượng protein trong hạt của lúa nhưng lại làm giảm lượng lipit trong hạt
Từ những kết quả nghiên cứu trên cho ta thấy:
Mật độ cấy quá thưa hay quá dày đều ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng của hạt giống
Để tổng số bông/m2 như nhau thì cách cấy ít dảnh nhiều khóm sẽ tốt hơn cách cấy nhiều dảnh ít khóm
Mật độ cấy và số dảnh cấy thích hợp được xác định tuỳ thuộc vào đặc điểm của giống, đất đai, phân bón và mùa vụ
1.6.2 Tình hình nghiên cứu về mật độ và số dảnh cấy trong nước
Mật độ là một kỹ thuật làm tăng khả năng quang hợp của cá thể và quần thể ruộng lúa, do tăng khả năng tiếp nhận ánh sáng, tạo số lá và chỉ số diện tích lá thích hợp cho cá thể và quần thể ruộng lúa, ảnh hưởng đến khả năng đẻ nhánh và số nhánh hữu hiệu/ khóm, khả năng chống chịu sâu bệnh từ đó mà ảnh hưởng mạnh
mẽ đến năng suất lúa
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Hoan (1999), cho thấy trên một đơn vị diện tích, nếu mật độ càng cao thì số bông càng nhiều song số hạt trên bông càng ít Tốc độ giảm số hạt trên bông mạnh hơn tốc độ tăng của mật độ, vì thế, cấy quá dày
sẽ làm cho năng suất giảm nghiêm trọng Tuy nhiên, nếu cấy với mật độ quá thưa đối với các giống có thời gian sinh trưởng ngắn sẽ rất khó hoặc không đạt được số bông tối ưu Vì vậy, muốn đạt được năng suất cao, người sản xuất phải biết điều khiển cho quần thể ruộng lúa có số bông tối ưu mà vẫn không làm cho bông nhỏ đi,
số hạt chắc và độ chắc hạt trên bông không thay đổi Đồng thời, cách bố trí khóm lúa theo hình chữ nhật (hàng sông rộng hơn hàng con) là phù hợp nhất vì như thế vừa đảm bảo mật độ trồng vừa tạo ra sự thông thoáng trong quần thể, làm tăng khả
Trang 34năng quang hợp, chống bệnh tốt và tạo ra hiệu ứng rìa sẽ cho năng suất cao hơn
Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của số dảnh và mật độ cấy đến khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lúa Việt lai 20 của Tăng Thị Hạnh (2003), cho thấy mật độ cấy ảnh hưởng không nhiều đến thời gian sinh trưởng, số lá và chiều cao cây Nhưng mật độ có ảnh hưởng đến khả năng đẻ nhánh, hệ số đẻ nhánh (hệ số đẻ nhánh giảm khi tăng mật độ cấy) Mật độ cấy tăng thì diện tích lá và khả tích lũy chất khô tăng lên ở thời kỳ đầu, đến giai đoạn chín sữa khả năng tích lũy chất khô giảm khi tăng mật độ cấy Cũng theo tác giả, trên cả hai vùng đất đồng bằng sông Hồng và đất bạc màu Sóc Sơn, cấy với mật độ 25 khóm/m2 và 3 dảnh/khóm cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao nhất
Phạm Văn Cường và Hà Thị Minh Thùy (2006), kết luận: Mật độ cấy ảnh hưởng đến LAI của lúa lai và lúa thuần khác nhau Lúa lai có LAI đạt cực đại sớm hơn và giảm chậm, còn lúa thuần thì ngược lại, cực đại đạt muộn hơn và giảm nhanh chóng Lúa thuần với mật độ cấy dày (70 khóm/m2) có tốc độ tích lũy chất khô (CGR) cao hơn so với mật độ cấy thưa, tuy nhiên ở giai đoạn trỗ và chín sáp CGR khi cấy ở mật độ 50 khóm/m2 lại cao nhất
Nhận xét mối quan hệ diện tích dinh dưỡng và sự đẻ nhánh, theo Phạm Văn Cường (2002), sự đẻ nhánh của cây lúa có quan hệ chặt chẽ với diện tích dinh dưỡng Nếu diện tích dinh dưỡng càng lớn thời gian đẻ nhánh đẻ càng dài và ngược lại, diện tích dinh dưỡng càng nhỏ thì thời gian đẻ nhánh càng ngắn Cấy dày ở mật độ cao thì lúa sẽ không đẻ nhánh và một số cây mẹ sẽ lụi dần h của giống
Số dảnh cấy còn phụ thuộc vào khả năng đẻ nhánh: Trong điều kiện bình thường không nên cấy nhiều dảnh, nhìn chung cấy 2 - 3 dảnh có ưu thế hơn cây 5-6 dảnh, nếu mạ bị già nên tăng số dảnh cây Cũng theo tác giả, khi cấy 2 - 3 dảnh/khóm lúa sẽ đẻ nhánh tốt hơn, có nhiều bông bằng cổ và đạt năng suất cao hơn Cấy 3 - 4 dảnh/khóm trong những điều kiện bình thường chỉ nên cấy mật độ 25
- 30 khóm/m2 ở các chân ruộng sâu trong vụ Mùa, cấy dày trên dưới 40 khóm/m2 ở ruộng tốt bón nhiều phân chỉ nên cấy 1 - 2 dảnh
Nguyễn Thị Trâm (2002), thì sử dụng mạ non để cấy (mạ chưa đẻ nhánh), sau cấy lúa thường đẻ nhánh sớm hơn và nhanh Ví dụ nếu cần đạt 9 bông hữu hiệu
Trang 35trên khóm với mật độ 40 khóm/m2, cần (3 - 4) dảnh, mỗi dảnh đẻ 2 nhánh là đủ, nếu cấy dầy hơn thì số nhánh đẻ có thể tăng nhưng tỷ lệ hữu hiệu giảm Khi sử dụng mạ thâm canh, mạ đã đẻ (2 - 5 nhánh) thì số dảnh cấy phải tính cả nhánh đẻ trên mạ Loại mạ này già hơn 10 – 15 ngày so với mạ chưa đẻ, vì vậy số dảnh cấy cần phải bằng số bông dự định hoặc ít nhất cũng phải đạt trên 70 % số bông dự định.Sau khi cấy các nhánh đẻ trên mạ sẽ tích luỹ, ra lá, lớn lên và thành bông Thời gian đẻ nhánh hữu hiệu tập trung khoảng 8 - 15 ngày sau cấy Vì vậy cấy mạ thâm canh cần
có số dảnh cấy trên khóm nhiều hơn cấy mạ non
Theo Nguyễn Văn Hoan thì tuỳ từng giống lúa để chọn mật độ thích hợp vì cần tính đến khoảng cách đủ rộng để làm hàng lúa thông thoáng, các khóm lúa không chen nhau Cách bố trí khóm lúa theo hình chữ nhật (hàng sông rộng hơn hàng con) là phù hợp nhất vì như thế mật độ trồng được đảm bảo nhưng lại tạo ra được sự thông thoáng trong quần thể, tăng khả năng quang hợp, chống bệnh tốt và tạo
ra hiệu ứng rìa sẽ cho năng suất cao hơn (Nguyễn Văn Hoan, 2006)
Theo kết quả nghiên cứu Japonica J02 của Nguyễn Ích Tân và Nguyễn Thị Thu tại Hưng Yên với cả 2 vụ xuân và vụ mùa, năng suất lúa Japonica J02 đều đạt cao nhất ở mật độ 45 khóm/m2 kết hợp với mức bón 120 kg N/ha Không có sự khác nhau về năng suất khi ta tăng mức bón lên 140 kg N/ha khi ở mật độ này (Nguyễn Ích Tân và Nguyễn Thị Thu, 2012)
Theo Nguyễn Công Tạn và cs (2002), khi sử dụng mạ non để cấy (mạ chưa
đẻ nhánh) thì sau cấy, lúa thường đẻ nhánh sớm và nhanh Nếu cần đạt 9 bông hữu hiệu/khóm với mật độ 40 khóm/m2, chỉ cần cấy 3 - 4 dảnh, mỗi dảnh đẻ 2 nhánh là
đủ Nếu cấy nhiều hơn, số nhánh đẻ có thể tăng nhưng tỷ lệ hữu hiệu giảm
Để tăng số bông/đơn vị diện tích gieo cấy có thể tăng mật độ cấy hay tăng số dảnh cấy/khóm Theo Nguyễn Văn Hoan : để có cùng số bông trên đơn vị diện tích nên cấy ít dảnh nhiều khóm tốt hơn cấy ít khóm nhiều dảnh Không nên cấy quá nhiều dảnh vì khi đó cây lúa đẻ ra nhiều nhánh quá nhỏ, yếu, tỷ lệ bông hữu hiệu thấp, số hạt/ bông ít dẫn đến năng suất không đạt yêu cầu (Nguyễn Văn Hoan, 1999) Như vậy, mật độ cấy và số dảnh cấy có ý nghĩa quan trọng đến cấu trúc quần thể ruộng lúa Một quần thể ruộng lúa tốt phải đảm bảo những chỉ tiêu nhất
Trang 36định về độ thông gió, ánh sáng trong suốt thời kỳ sinh trưởng và phân bố không gian trên một ruộng lúa, đặc biệt là thời kỳ sinh trưởng mạnh nhất Mật độ thích hợp tạo cho cây lúa phát triển tốt, tận dụng hiệu quả chất dinh dưỡng, nước và ánh sáng
Số dảnh cấy thích hợp cho từng loại lúa sẽ tạo điều kiện cho lúa có khă năng sinh trưởng và phát triển tốt nhất để tạo ra năng suất cao
Trang 37
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Vật liệu nghiên cứu
- Giống: Tẻ Râu (Khẩu Chắp Hang) là giống cổ truyền của bà con các dân tộc Thái vùng Tây Bắc, tại huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu
- Phân bón: gồm 4 mức kali 0, 60, 90, 120 kg K2O /ha
- Chung nền phân bón đạm là 90kgN và lân là 60kg P2O5
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu
- Địa điểm: Tại cánh đồng 7A, Trung tâm Thực nghiệm và Đào tạo nghề, Học viện Nông Nghiệp Việt Nam
2.2.2 Thời gian nghiên cứu
- Thời gian: Vụ xuân năm 2015
- Ngày ngâm thóc giống: 08/02/2015
-Ngày gieo mạ: 12/02/2015
-Ngày cấy: 05/3/2015
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu ảnh hưởng của số dảnh/ khóm và lượng kali bón đến sinh trưởng của giống lúa Tẻ Râu
- Nghiên cứu ảnh hưởng của số dảnh/ khóm và lượng kali bón đến chỉ số diện tích lá và khối lượng chất khô tích lũy của giống lúa Tẻ Râu
- Nghiên cứu ảnh hưởng của số dảnh/ khóm và lượng kali bón đến sâu bệnh hại của giống lúa Tẻ Râu
- Nghiên cứu ảnh hưởng của số dảnh/khóm và lượng Kali bón đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống lúa Tẻ Râu
- Nghiên cứu ảnh hưởng của số dảnh/ khóm và lượng kali bón đến hiệu suất sử dụng kali của giống lúa Tẻ Râu
- Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng kali bón đến chất lượng cơm của giống lúa
Trang 38Số dảnh cấy là nhân tố chính được bố trí ở ô thí nghiệm nhỏ, các
Trang 39- Tổng số ô thí nghiệm: 36 ô
- Diện tích 1 ô nhỏ: 3m x 4m = 12m2
- Tổng toàn bộ diện tích thí nghiệm là : 600m2 (cả dải bảo vệ)
* Phương pháp đánh giá chất lượng
- Lấy gạo vụ xuân 2015 tại Lai Châu về để so sánh gạo tại vụ xuân 2015 tại
Hà Nội để đánh giá chất lượng cơm
- Tổ chức hội đồng đánh giá chất lượng cơm
+ Hội đồng đánh giá cảm quan của cơm gồm từ 5 đến 9 thành viên được lựa chọn từ một nhóm nhiều người thông qua các bài thử cơ bản về mùi, vị, màu sắc Sau khi được lựa chọn, các thành viên được tập huấn, làm quen với một số mẫu cơm để thống nhất các khái niệm, thuật ngữ và cách sử dụng thang điểm
+ Số mẫu được đánh giá cùng một lúc từ 3 đến 6 mẫu và được lặp lại ít nhất
2 lần trên một mẫu thử
+Các tính chất được chọn để đánh giá chất lượng cảm quan cơm bao gồm : mùi, độ trắng hoặc màu sắc, độ bóng hoặc cảm quan bên ngoài, độ dính hoặc độ dẻo, độ mềm hoặc độ cứng và vị ngon
- Sử dụng phiếu cho điểm các chỉ tiêu về chất lượng theo Quyết định Số:
05/2004/QĐ-BNN, ngày 16 tháng 03 năm 2004, của của Bộ Nông nghiệp và PTNT
Trang 402.4.3 Các chỉ tiêu theo dõi:
* Các chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển
- Phương pháp theo dõi: lấy mẫu theo đường chéo 5 điểm, mỗi điểm 1 khóm
cố định, 7 ngày theo dõi một lần Khóm lấy mẫu cách bờ ít nhất 40cm
-Thời gian sinh trưởng:
+ Ngày bắt đầu đẻ nhánh: Khi có 10% số cây theo dõi đẻ nhánh (có nhánh đầu tiên ra khỏi bẹ lá tương ứng khoảng 1cm)
+ Ngày nhánh đẻ rộ (đẻ nhánh tối đa): Khi có 50% số cây theo dõi đẻ nhánh + Ngày kết thúc đẻ nhánh: khi có 80% số cây theo dõi đẻ nhánh
+ Ngày bắt đầu trỗ: Khi có 10% số cây theo dõi trỗ bông (có bông thoát ra khỏi bẹ lá đòng)
+ Ngày trỗ tập trung: khi có 50% số cây theo dõi trỗ bông
+ Ngày trỗ hoàn toàn: khi có 80% số cây theo dõi trỗ bông
- Ngày chín sữa:
- Ngày chín sáp:
- Ngày chín hoàn toàn: khi có 80% số bông chín (hạt chắc, cứng, vỏ hạt chuyển sang màu vàng nhạt, khô dần)
- Tổng thời gian sinh trưởng
- Động thái tăng trưởng chiều cao cây (cm): Đo từ gốc đến đầu mút của lá dài nhất trong khóm; tốc độ tăng trưởng chiều cao cây (cm/tuần)
- Động thái đẻ nhánh (số nhánh/khóm): Đếm số nhánh trên khóm qua các lần theo dõi; tốc độ đẻ nhánh (số nhánh/khóm/tuần)