1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN TRIẾT học TÍNH tất yếu xây DỰNG NHÀ nước PHÁP QUYỀN xã hội CHỦ NGHĨA ở VIỆT NAM HIỆN NAY

28 692 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 127,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng cộng sản Việt Nam đã xác định: “Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng”.1 Việc xác định mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong báo cáo chính trị của Đại hội IX không chỉ khẳng định quyết tâm chính trị của Đảng ta trong việc đẩy mạnh cải cách tổ chức và hoạt động của nhà nước, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, mà còn đánh dấu một giai đoạn phát triển mới của sự nghiệp xây dựng nhà nước kiểu mớinhà nước của dân, do dân, vì dân.

Trang 1

TÍNH TẤT YẾU XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA CỦA DÂN, DO DÂN, VÌ DÂN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

ối với nước ta, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩacủa dân, do dân, vì dân trong điều kiện xây dựng và vận hành cơ chếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ mới mẻ, hiểu biết củachúng ta còn ít, có nhiều việc vừa làm, vừa tìm tòi, rút kinh nghiệm Do vậy,nhiệm vụ xây dựng nhà nước pháp quyền trong điều kiện lịch sử cụ thể ởnước ta, đòi hỏi phải tiến hành nghiên cứu cơ bản về lý luận; tổng kết kinhnghiệm thực tiễn hơn 50 năm xây dựng nhà nước, nhằm xác định đúng đắn,mục tiêu và các giải pháp cải cách có hiệu quả mô hình tổ chức và hoạt độngcủa nhà nước ta hiện nay

Đ

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng cộng sản Việt Nam

đã xác định: “Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng”.1 Việc xác định mục tiêu xây dựng nhà nước phápquyền xã hội chủ nghĩa trong báo cáo chính trị của Đại hội IX không chỉkhẳng định quyết tâm chính trị của Đảng ta trong việc đẩy mạnh cải cách tổchức và hoạt động của nhà nước, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế xãhội chủ nghĩa, mà còn đánh dấu một giai đoạn phát triển mới của sự nghiệpxây dựng nhà nước kiểu mới-nhà nước của dân, do dân, vì dân

Khi Đảng ta xác định xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân,

vì dân, đã được nghiên cứu một cách có hệ thống về học thuyết nhà nướcpháp quyền tiến bộ trong lịch sử tư tưởng chính trị của nhân loại Nhưngtrong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam có nghiên cứu tiếp thu và phê phán, chọn lọc những giá trị về tưtưởng và kinh nghiệm xây dựng nhà nước pháp quyền đã được thử thách quaquá trình phát triển lâu dài của lịch sử nhân loại Nhà nước pháp quyềnkhông phải là một kiểu nhà nước riêng biệt Trong lịch sử chỉ có 4 kiểu nhà

1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu to n qu àn qu ốc lần thứ IX, Nxb CTQG, H, 2001, tr.131

Trang 2

nước: nhà nước chủ nô, nhà nước phong kiến, nhà nước tư sản và nhà nước

xã hội chủ nghĩa, không có kiểu nhà nước pháp quyền Học thuyết nhà nướcpháp quyền là hệ thống các quan điểm tư tưởng và kinh nghiệm thực tiễn đềcao pháp luật trong đời sống xã hội các quan điểm, tư tưởng này ra đời rấtsớm và ngày càng được hoàn thiện đứng trước tình hình hiện nay việc xâydựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân là mộtđòi hỏi tất yếu

I.Tính tất yếu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân ở nước ta hiện nay

Mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được xácđịnh tại đại hội Đảng lần thứ IX đã tiếp tục được khẳng định tại nghị quyếtcủa Quốc khoá IX về việc sửa đổi bổ sung một số điều của hiến pháp nướccộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 Để làm rõ quan điểm nàyĐảng ta dựa trên cơ sở lý luân và thực tiễn của nó

1.1 Cơ sở lý luận về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân

* Tư tưởng về nhà nước pháp quyền trong lịch sử

- Những mầm mống tư tưởng đầu tiên về nhà nước pháp quyền đã xuấthiện từ thời cổ đại Từ thế kỷ IX-VI trước công nguyên, các nhà tư tưởng

Hy Lạp và La mã cổ đại đã tìm kiếm những nguyên tắc, hình thức, những cơchế trong mối quan hệ tương hỗ giữa pháp luật với tổ chức và hoạt động củaquyền lực nhà nước Điển hình là những nhà tư tưởng sau:

Xô-crat (469-399 TCN) là một nhà triết học truyền khẩu nổi tiếng Ông

cho rằng, công lý ở trong sự tuân thủ pháp luật hiện hành; sự công minh và

sự hợp pháp đều là một; nếu không tuân thủ pháp luật thì cũng không thể cónhà nước và trật tự pháp luật; công dân của nhà nước nào tuân thủ pháp luậtthì nhà nước đó sẽ vững mạnh

Trang 3

Pla-Ton (427-374 TCN) là một trong những nhà tư tưởng vĩ đại nhất

thời cổ, Ông là tác giả nhiều công trình khoa học, đã để lại nhiều tư tưởng vềnhà nước pháp quyền có giá trị: quan niệm của ông, hoạt động xét xử là đểbảo vệ pháp luật, nhà nước sẽ ngừng tồn tại nếu như trong nhà nước ấy tòa

án không được tổ chức một cách thỏa đáng

A-ri-xtôt (384-322 TCN) Ông đã tiếp tục phát triển và làm sâu sắc thêm

các quan điểm chính trị pháp lý của Pla-tôn A-ri-xtôt- cho rằng yếu tố cấuthành cơ bản của phẩm chất chính trị trong các đạo luật là sự phù hợp củatính đúng đắn về chính trị của nó với tính pháp quyền Ông lên án việc cầmquyền không tuân thủ pháp luật, những mưu toan thống trị bằng bảo lực.Những tư tưởng về nhà nước pháp quyền trên của các nhà tư tưởng thời

cổ đại đều có nguồn gốc sâu xa từ sự mơ ước của con người về chiến thắngcủa công lý đối với bạo lực, của chính nghĩa đối với gian tà, của cái thiện đốivới cái ác; từ thực trạng đời sống xã hội lúc bấy giờ là vua có toàn quyền,không chịu trách nhiệm pháp lý với ai cả

- Các nhà tư tưởng trung và cận đại đã tiếp thu những tư tưởng về nhànước pháp quyền thời cổ đại, phát triển nó trong thời kỳ quá độ từ chế độ phongkiến sang chế độ tư bản, với thế giới quan của những tầng lớp và giai cấp đanglên, nhằm phản ánh và tấn công vào chế độ phong kiến lỗi thời và lạc hậu,nhằm thiết lập lên một chế độ nhà nước dân chủ theo quan điểm của giai cấp tưsản Tiêu biểu trong thời kỳ này có Jôn-lốc-cơ; Sác-Lơ-lui Mông-te-xki-ơ, Cantơ; Hê-ghen v.v

Jôn-lốc-cơ(1632-1704) là nhà tư tưởng người Anh Theo ông, các quyền

của con người là tự nhiên và không bị tước đoạt; nhà nước được lập lên là đểbảo vệ các quyền của con người, bảo vệ và không được xâm phạm đến phápluật Từ đó ông lập luận sự cần thiết phải đề cao pháp luật Ông cho rằng: ởđâu không có pháp luật thì ở đó không có tự do, vì pháp luật là công cụ cơ bản

Trang 4

quyết định việc giữ gìn và mở rộng tự do cá nhân, bảo đảm cho cá nhân tránhkhỏi sự tùy tiện và độc đoán của người khác; mối nguy hiểm chính của sự tùytiện và xâm phạm từ phí quyền lực nhà nước đối với các quyền tự do của conngười là bắt nguồn từ đặc quyền của người cầm quyền; việc điều hành nhànước phải dựa trên các đạo luật do nhân dân tuyên bố và hiểu rõ về nó; chủquyền của nhân dân tối cao hơn, quan trọng hơn chủ quyền của nhà nước do

họ lập ra Do đó, nhà cầm quyền không được thi hành chính sách chuyên chế

và độc tài đối với nhân dân của mình

Sác-Lơ-lui Mông-te-xki-ơ(1698-1755) là nhà luật pháp người Pháp nổi

tiếng Ông cho rằng sự tồn tại của chế độ chuyên chế dựa vào việc làm chocon người khiếp sợ Đó chính là nhà nước của sự độc đoán và tùy tiện Trongnhà nước đó không có pháp luật; hoặc nếu có pháp luật thì cũng không đượctuân thủ trong thực tế, bởi không có những quy định bảo vệ pháp luật Từ đó,ông lập luận sự cần thiết phải có pháp luật và tuân thủ nghiêm chỉnh theopháp luật, sự cần thiết phải phân chia quyền lực nhà nước thành ba nhánh:lập pháp, hành pháp và tư pháp Theo ông, nếu quyền lập pháp, hành pháp và

tư pháp nằm trong tay một người hay một cơ quan thì con người sẽ không có

tự do Còn nếu như quyền tư pháp hợp nhất với quyền hành pháp thì tòa án

sẽ trở thành kẻ đàn áp và tất cả sẽ bị hỷ diệt Như thế, nhân tố hợp lý tronghọc thuyết của Mông-te-xki-ơ ở chỗ, ông đã đề cập lý thuyết về sự phâncông quyền lực nhà nước bắt nguồn từ bản chất dân chủ và nhân đạo

Can-tơ (1724-1804) là nhà triết học nổi tiếng người Đức Dựa trên hệ

thống triết học của mình Can-tơ cho rằng: lý trí thực tế hay lý trí tự do củamỗi người chính là nguồn gốc của các đạo luật có tính pháp quyền và hợpđạo đức, pháp luật là để bảo đảm các quan hệ văn minh giữa con người Nhànước đó là sự hợp nhất của nhiều người biết phục tùng các đạo luật có tínhpháp quyền nhằm bảo vệ trật tự pháp luật và được xây dựng trên nguyên tắc

Trang 5

toàn bộ hoạt động của mình phải dựa trên pháp luật, nếu không sẽ bị mất tínnhiệm của các công dân-những người cấu thành nó.

Tư tưởng về nhà nước pháp quyền mà trong đó pháp luật giữ địa vị tốicao trong đời sống nhà nước và các lĩnh vực hoạt động xã hội Pháp luật đóphải bắt nguồn từ ý chí của nhân dân, phải được nhà nước và mọi người tôntrọng Tư tưởng về nhà nước pháp quyền mà trong đó con người là giá trịcao quý, nhà nước bảo đảm cho con người quyền tự do cơ bản, sự an toànpháp lý

* Tư tưởng của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin bàn về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Trong tư tưởng của C Mác, Ph.Ăngghen, V.I Lênin, khái niệm nhànước pháp quyền chưa được sử dụng Nhưng những tư tưởng cốt lõi của nhànước pháp quyền thì đã được đề cập sâu sắc theo quan điểm khoa học vàcách mạng: đó là một nhà nước kiểu mới hợp hiến, hợp pháp; một hệ thốngpháp luật dân chủ triệt để phát chế nghiêm minh theo hướng giải phóng conngười Nói cách khác trong khi đặt vấn đề xây dựng một xã hội mới, một nhànước kiểu mới C Mác, Ph.Ăngghen, V.I Lênin đã kế thừa phát triển tưtưởng nhà nước pháp quyền trong điều kiện mới Các ông đã sử dụng nhữngtính nguyên tắc về nhà nước pháp quyền của các nhà tư tưởng trước đó, đặcbiệt là những tư tưởng dân chủ, tư tưởng cộng hoà và cách mạng để hìnhthành, phát triển những quan điểm của mình Đó là tư tưởng của Rut-xô,Mông-te-xki-ơ, những quan niệm của Can tơ, Hêghen về nhà nước và xã hộicông dân của Xanh Ximông, của các nhà tư tưởng Pháp thời phục hưng, cậnđại…

Trước hết, từ tiêu chí “đề cao dân chủ, pháp luật và tính nhân văn củapháp luật” như là những giá trị cơ bản của nhà nước pháp quyền, C Mác,Ph.Ăngghen đã nêu những tư tưởng sâu sắc về nhà nước pháp quyền trong các

Trang 6

tác phẩm “gia đình thần thánh”, “sự khốn cùng của triết học”, “Phê phán triếthọc pháp quyền của Hêghen”, và đặc biệt trong tác phẩm “Tuyên ngôn củaĐảng cộng sản” C Mác, Ph.Ăngghen đã đặt vấn đề xây dựng một xã hội mới,một xã hội mà trong đó “tự do của mỗi người là điều kiện phát triển tự do củatất cả mọi người”2 Và giải phóng con người là mục tiêu của nhà nước phápquyền kiểu mới; đó là một nhà nước tổ chức được đời sống chung của nhândân, trong đó bảo đảm được sự phát triển tối đa và phát triển “toàn diện conngười”

Về mặt nhà nước C.Mác chủ trương xây dựng một chế độ dân chủ triệt

để, dân chủ là do nhân dân tự quy định, là bước chuyển từ xã hội thần dânsang xã hội công dân, là từ “nhân dân của nhà nước” sang “ Nhà nước củanhân dân” Dân chủ là xuất phát từ con người và pháp luật cũng vì conngười Trong xã hội mới sẽ tạo ra điều kiện cơ bản để giải phóng các cánhân; “bởi lẽ xã hội sẽ không thể giải phóng cho mình được, nếu không giảiphóng một cá nhân riêng biệt” Do vậy, xã hội phải được xây dựng trên cơ sởpháp luật

Trong tác phẩm phê phán “ Cương lĩnh gôta” C Mác chỉ ra rằng:Việc duy trì pháp luật xã hội chủ nghĩa là điều cần thiết, vì rằng, pháp luật

ở đây đóng vai trò quan trọng trong sự tổ chức những quan hệ xã hội mới.Pháp luật ở khía cạnh này, không chỉ là một công cụ trừng trị, trấn áp vàcưỡng bức Mặc dù đôi khi nó đóng vai trò đó Cái chính ở đây là vai trò

tổ chức các quá trình kinh tế trong xã hội nhằm bảo đảm cho sự thắng lợicủa chủ nghĩa xã hội và xã hội cộng sản chủ nghĩa

Những tư tưởng cơ bản của C Mác, Ph.Ăngghen đã được V.I Lênin tiếpthu và phát triển trong quá trình xây dựng một nhà nước kiểu mới, trong đó xácđịnh rõ mục đích của chính quyền Xô Viết là thu hút những người lao độngtham gia vào quản lý nhà nước, thực hiện một nền dân chủ rộng rãi nhằm giải

2 C Mác, Ph Ph.Ăngghen, To n t àn qu ập, Tập 4, Nxb, CTQG, H 1995, Tr 628

Trang 7

phóng con người và phát triển toàn diện con người trong xã hội mới Người chorằng không có chế độ dân chủ thì chủ nghĩa xã hội sẽ không thực hiện đượctheo 2 nghĩa sau đây:

Thứ nhất, giai cấp vô sản không thể hoàn thành được cuộc cách mạng

xã hội chủ nghĩa, nếu họ không được chuẩn bị cho cuộc cách mạng đó thôngqua cuộc đấu tranh cho chế độ dân chủ

Thứ hai, Chủ nghĩa xã hội chiến thắng sẽ không giữ được thắng lợi của

mình và sẽ không dẫn được nhân loại đi đến thủ tiêu nhà nước, nếu khôngthực hiện đầy đủ chế độ dân chủ

Về mặt nhà nước, từ chỗ xác định “mục đích của chính quyền Xô Viết

là sự tham gia của những người lao động vào chính quyền và việc thu hútđược mọi người lao động tham gia vào quản lý là một trong những ưu thếquyết định của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa” V.I Lênin đã xác lập hàng loạtquan điểm về xây dựng nhà nước kiểu mới, “Nhà nước không còn nguyênnghĩa”, “Nhà nước nữa nhà nước”, “Nhà nước quá độ” để rồi chuyển dần tớimột chế độ tự quản Muốn vậy, trước mắt phải thực hiện chế độ dân chủ theocác hướng cơ bản

Quyền bầu cử được thực hiện ngay sau cách mạng tháng Mười Ngathành công và dần dần được mở rộng Bầu cử theo nguyên tắc “ Phổ thôngbình đẳng, trực tiếp, bỏ phiếu kín” là nguyên tắc tiến bộ nhất của nền dânchủ hiện đại Qua đó, những người lao động tự lựa chọn được người xứngđáng thay mặt mình giải quyết và quản lý công việc của nhà nước và xã hội.Quyền tham gia quản lý nhà nước của những người lao động Theo V.ILênin, những người lao động phải “thay nhau” tham gia vào tổ chức nhànước và quản lý nhà nước Theo đó mỗi lần bầu cử nhất thiết phải đổi mớithành phần đại biểu để có thêm nhiều đại biểu mới Người còn coi đây là mộttrường học, một phương thức đào tạo các bộ quản lý để họ có kinh nghiệm,

Trang 8

có điều kiện tham gia quản lý nhà nước Qua đó ngày càng có nhiều ngườitrưởng thành, thật sự trở thành cán bộ quản lý nhà nước kiểu mới.

Quyền bãi miễn là quyền có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiệnchế độ dân chủ Lênin nhấn mạnh: mọi cơ quan được bầu ra… đều có thểcoi là có tính chất dân chủ chân chính và đại biểu thực sự cho ý chí củanhân dân, khi nào quyền bãi miễn của cử tri đối với những người trúng cửđược thừa nhận và áp dụng… từ chối không chịu áp dụng quyền bãi miễn,trì hoãn thi hành quyền đó, hạn chế nó, thì như thế tức là phản lại dân chủ

và hoàn toàn từ bỏ nguyên tắc chủ yếu và nhiệm vụ của cuộc cách mạng

xã hội chủ nghĩa đã bắt đầu ở nước Nga

Về mặt pháp luật V.I Lênin khẳng định rõ vai trò của pháp luật về phápchế trong quản lý xã hội mới, coi đó là một trong những điều kiện cơ bản đểxây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, nhà nước xã hội chủ nghĩa phải “căn

cứ vào luật lệ của mình là điều kiện cần và đủ cho chủ nghĩa xã hội thắng lợitriệt để” Đặc biệt khi chuyển sang chính sách kinh tế mới (NEP), Ngườinhấn mạnh những hình thức quan hệ mới được xác lập trong quá trình cáchmạng và trên cơ sở của chính sách kinh tế do chính quyền thực hiện, phảiđược thể hiện trong pháp luật mà được bảo vệ về mặt tư pháp Có thể nói ởđây Lênin là người đã sáng tạo ra khái niệm pháp chế xã hội chủ nghĩa và làngười trực tiếp chỉ đạo xây dựng tổ chức viện kiểm sát nhân dân nhằm bảođảm pháp chế nghiêm minh và thống nhất

*Tư tưởng về xây dựng nhà nước pháp quyền của Chủ Tịch Hồ Chí Minh

Trong toàn bộ di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho dântộc-tư tưởng về nhà nước dân chủ - có ý nghĩa đặc biệt quan trọng cả về lýluận và thực tiễn sâu sắc, quyết định đối với quá trình thay đổi địa vị của

Trang 9

nhân dân Việt Nam từ người nô lệ lên địa vị làm chủ xã hội, làm chủ nhànước.

Ngay từ khi ra đi tìm đường cứu nước Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mongmuốn cho nước ta hoàn toàn được độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồngbào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành Để thực hiện đượcước nguyện ấy, Bác Hồ đã ra nước ngoài, đặt chân đến rất nhiều nước,nghiên cứu các cuộc cách mạng diễn ra ở Mỹ, Pháp, Nga… đọc các tácphẩm của các nhà tư tưởng lớn, đặc biệt là các tác phẩm của C.Mác, V.I.Lênin Cuối cùng Người đi đến kết luận: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cáchmệnh Nga là đã thành công và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúnghưởng được cái hạnh phúc, tự do, bình đẳng thật, không phải tự do bình đẳnggiả dối như đến quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An Nam”3 Từ kếtluận đó, Người đã xác định cách mạng Việt Nam phải đi theo con đườngcách mạng vô sản, Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917, kiểu nhà nướctheo Chủ nghĩa Mác-Lênin, phù hợp với đặc điểm Việt Nam, tức là lật đổchính quyền thực dân, phong kiến, lập nên nhà nước dân tộc độc lập, dân chủcông hòa

Tư tưởng về nhà nước kiểu mới của Hồ Chí Minh được hình thành vàphát triển qua một loạt tác phẩm của Người như: “Yêu sách của nhân dân AnNam” (1919), “Đông Dương và Triều Tiên” (1921), “Lời phát biểu tại đạihội Tua” (1920), “Bản án chế độ thực dân Pháp” (1925)… Thông qua các tácphẩm đó người phê phán chế độ thực dân Pháp nói riêng và bóc trần bản chấtcủa nhà nước thực dân phong kiến đã bóc lột tận xương tủy dân tộc ViệtNam; đồng thời suy nghĩ về xây dựng một chế độ xã hội mới, nhà nước mớicủa dân

Sau cách mạng tháng Tám thành công, chính quyền về tay nhân dân, tưtưởng của Nguyễn Ái Quốc về xây dựng một nhà nước mới ở Việt Nam đã

3 Hồ Chí Minh, To n t àn qu ập, t.2, Nxb chính trị quốc gia H 1995, tr.280.

Trang 10

thành hiện thực Tuyên ngôn độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945 và Hiến pháp

1946 đã thể hiện tập trung tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nhà nước độclập, tự chủ, công hòa, chủ quyền quốc gia dân tộc-nhà nước thực sự của dân, dodân, vì dân

Nhà nước của dân, do dân, vì dân trong tư tưởng của Hồ Chí Minh lànhà nước do nhân dân tổ chức ra thông qua phổ thông đầu phiếu; là nhà nướctrong đó nhân dân là người có quyền tổ chức quản lý đất nước, kiểm soáthoạt động của nhà nước; là nhà nước phụ thuộc nhân dân, đem lại lợi ích chonhân dân; là nhà nước cần, kiệm, liêm, chính, tin dân và được dân tin, dânmến

Tư tưởng của Bác còn tập trung đề cao vai trò pháp luật trong quản lýnhà nước, quản lý xã hội Ngay từ năm 1919, trong bản yêu sách của nhândân An Nam gửi những người đứng dầu các nước thắng trận họp Hội nghịVéc-Xây, Nguyễn ái Quốc đã đề cập đến những vấn đề liên quan đến phápquyền như:

Điều 1: Tổng ân xá tất cả những người bản xứ bị tù chính trị phạm.Điều 2: Cải cách nền pháp lý ở Đông Dương bằng cách cho người bản

xứ cũng được quyền hưởng những đảm bảo về mặt pháp luật như người Âuchâu; xóa bỏ hoàn toàn các tòa án đặc biệt làm công cụ khủng bố và áp bức

bộ phận trung thực nhất trong nhân dân An Nam

Điều 7: Thay chế độ ra sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật Để dễ phổbiến và tuyên tuyền rộng rãi cho người Việt Nam, Người đã chuyển bản yêusách thành “Việt Nam yêu cầu ca” trong đó có câu:

“Bảy xin Hiến pháp ban hành.

Trăm điều phải có thần linh pháp quyền” 4

4 Hồ Chí Minh, To n t àn qu ập, T.1, Nxb Chính trị quốc gia H 1995, tr.438

Trang 11

Trong những lời nêu trên đã chứng minh là Người đã chú ý rất sớmđến pháp luật, đến công lý, đến quyền con người tư tưởng “trăm điềuphải có thần linh pháp quyền” là một tư tưởng rất đặc sắc của Hồ ChíMinh, chứng tỏ Người đã nhận rõ tầm quan trọng tối thượng của nhà nướcquản lý xã hội bằng pháp luật, nhưng phải là pháp luật của dân chủ Khibàn đến bản chất pháp luật của nhà nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh xácđịnh nó là ý chí của giai cấp công nhân và của dân tộc, nó bảo vệ quyềnlợi cho hàng triệu người lao động Người nói: “Pháp luật của ta là phápluật thật sự dân chủ vì nó bảo vệ quyền tự do dân chủ rộng rãi cho nhândân lao động”5 Vì vậy, Người nói rõ quan điểm của mình có cơ sở tưtưởng để định ra pháp luật là phải dựa hẳn vào lực lượng nhân dân, lựclượng lao động làm nền tảng để xây dựng nhà nước, xây dựng xã hội Ởchủ tịch Hồ Chí Minh cũng thể hiện rất rõ tư tưởng về xây dựng một nhànước hợp pháp, hợp hiến, Người đã hoạt động không mệt mỏi để thành lậpmột nhà nước như vậy Chủ trương “thành lập chính quyền cách mạng” ởcác căn cứ địa, khu giải phóng cách mạng tháng Tám; việc triệu tập Đạihội quốc dân Tân Trào cử ra “ủy ban dân tộc giải phóng” đầu tháng Támnăm 1945, Bản Tuyên ngôn độc lập tuyên bố sự ra đời của nước Việt Namdân chủ cộng hòa đã chứng minh tư tưởng xuyên suốt của Hồ Chí Minh

về xây dựng một nhà nước hợp pháp, hợp hiến

Trong tư tưởng của Người, một nhà nước mạnh, có trật tự kỷ cươngphải được tạo ra nhiều yếu tố, trong đó phải quản lý xã hội bằng pháp luậtvới kết hợp giáo dục đạo đức, nâng cao giác ngộ cho nhân dân Không quản

lý bằng pháp luận, dẫn đến sơ hở, cán bộ dễ nảy sinh lạm dụng quyền lực, viphạm quyền dân chủ của người khác, của cộng đồng và của xã hội, dẫn đếnhỗn loạn vô chính phủ Khi xây dựng các đạo luật, Hồ Chí Minh lấy điểmxuất phát từ ý nguyện và lợi ích của nhân dân Người cho rằng công lý ở nơi

5 Hồ Chí Minh, To n t àn qu ập, T.2, Nxb Chính trị quốc gia H 1995, tr.280.

Trang 12

dân, vì dân sẽ tạo ra công lý xã hội, “quyền hành và lực lượng đều ở nơidân”6

Việc định ra pháp luật là rất quan trọng, song vấn đề là luật pháp ấyphải được toàn xã hội thi hành nghiêm túc, đã là pháp luật của xã hội thìkhông từ một ai, dù người đó có làm đến chức to đến đâu hoặc người đó làmmột công dân bình thường thì cũng đều phải thực hiện pháp luật một cáchnghiêm túc “Thẳng tay trừng trị kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làmnghề gì” Điều đặc sắc trong tư tưởng của Hồ Chí Minh là Người đã kết hợpnhuần nhuyễn giữa “pháp trị” và “Đức trị” để làm cho quần chúng nhân dânthấy được điều hay, lẽ phải đền thực hiện nghĩa vụ với dân, với nước, tránh

đi những điều xấu có hại cho dân, cho nước, đồng thời động viên được nhândân tham gia nhiều vào việc quản lý, điều hành nhà nước

*Tư tưởng về xây dựng nhà nước pháp quyền của Đảng ta

Ngay từ ngày đầu Đảng công sản Việt Nam ra đời, trong cương lĩnh củamình đã khẳng định phải có pháp luật để bảo hộ lợi ích của dân cày Sau Cáchmạng tháng Tám năm 1945, nhà nước kiểu mới ra đời, mặc dù đất nước mớitrải qua cuộc chiến tranh chống thực dân pháp, sau này chống đến quốc Mỹ,nhưng trong các Nghị quyết của mình, Đảng ta đều coi trọng xây dựng chínhquyền nhân dân và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Đặc biệt từ khi tiếnhành công cuộc đổi mới, Đảng ta không ngừng đổi mới tư duy, từng bướchình thành tư duy mới về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ởViệt Nam, nhà nước thật sự của dân, do dân, vì dân theo tư tưởng của Chủtịch Hồ Chí Minh

Ngay từ Đại hội VI, Đảng ta có bước tiếp cận tư tưởng về nhà nướcpháp quyền với tinh thần đổi mới, cải cách Đảng ta khẳng định: quản lý đấtnước bằng pháp luật chứ không bằng đạo lý, phải thực hiện cuộc cải cách lớn

6 Hồ Chí Minh, To n t àn qu ập, T.5, Nxb CTQG H 1995, tr.698.

Trang 13

về tổ chức bộ máy của các cơ quan nhà nước để khắc phục sự cồng kềnh,quan liêu, bệnh hình thức giấy tờ, tổ chức thực hiện kém hiệu quả.

Đại hội VII, khi bàn về phương hướng cơ bản xây dựng chủ nghĩa xãhội và xây dựng hệ thống chính trị ở Việt Nam, đảng đã tiếp cận có phêphán, chắc lọc những ý tưởng tiến bộ vè nhà nước pháp quyền trong lịch sử,nâng những giá trị đó lên tầm cao mới phù hợp với bản chất tốt đẹp của nhànước xã hội chủ nghĩa Đảng khẳng định “Nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhànước của dân, do dân, vì dân lấy liên minh giai cấp công nhân và tầng lớp tríthức làm nền tảng do Đảng cộng sản lãnh đạo, thực hiện đầy đủ quyền dânchủ của nhân dân, giữ nghiêm kỷ cương xã hội, chuyên chính với mọi hànhđộng xâm hại lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân; nhà nước phải có đủquyền lực, đủ khả năng định luật pháp và tổ chức, quản lý mọi mặt đời sốngbằng pháp luật… nhà nước có mối liên hệ thường xuyên chặt chẽ với nhândân,… tổ chức và hoạt động của nhà nước theo nguyên tắc tập trung dân chủ,nhà nước thống nhất ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, với sự phâncông ràng mạch ba quyền đó”7

Nghị quyết Hội nghị toàn quốc giữa nhiệm kỳ (khóa VII), Đảng ta đãchính thức sử dụng khái niệm nhà nước pháp quyền Việt Nam và xác định

“xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vìnhân dân” là một trong 8 nhiệm vụ chủ yếu

Hội nghị Trung ương lần thứ 8, (Khóa VII), Đảng ta đã đề cập quanđiểm, chủ trương, nhiệm vụ xây dựng kiện toàn bộ máy nhà nước: tiếptục đổi mới tổ chức và hoạt động của cơ quan lập pháp; cải cách mộtbước nền hành chính nhà nước; đổi mới tổ chức và hoạt động của cơquan tư pháp; phát huy vai trò làm chủ của nhân dân; tăng cường sự lãnhđạo của Đảng đối với Nhà nước

7 Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật, H 1991, tr.9.

Trang 14

Hội nghị Trung ương lần thứ 3 (Khóa VIII), Đảng ta tiếp tục cụ thể hóamột số vấn đề cơ bản về xây dựng nhà nước, bảo đảm cho Nhà nước ta thật

sự trong sạch, vững mạnh Đó là phát huy quản lý nhà nước và xây dựng độingũ cán bộ, trong đó có đội ngũ cán bộ nhà nước

Đến Đại hội Đảng toàn quốc khóa IX và khóa X tiếp tục khẳng địnhnhất quát xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân vữngmạnh toàn diện, trong văn kiện Đại hội Đảng Khóa X có viết: “Đẩy nhanhcông cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trên các mặt:

hệ thống thể chế, chức năng, nhiệm vụ; tổ chức bộ máy; cán bộ, côngchức; phương thức hoạt động”8

Như vậy, Đảng ta từng bước phát triển hệ thống quan điểm, nguyêntắc cơ bản về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, dodân, vì dân Hiến pháp năm 1992 và nhiều bộ luật, luật, pháp lệnh đã đượcban hành, tạo khuôn khổ pháp lý để nhà nước quản lý bằng pháp luật trêncác lĩnh vực kinh tế-xã hội, đối ngoại, an ninh, quốc phòng Đã có nhiềuquyết định cải cách có ý nghĩa quan trọng trên lĩnh vực xây dựng nhànước và pháp luật, làm cơ sở cho đổi mới hệ thống chính trị, đổi mới tổchức hoạt động của bộ máy nhà nước

1.2 Thực trạng xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong những năm qua

Quá trình xây dựng, tăng cường nhà nước xã hội chủ nghĩa của dân, dodân, vì dân ở nước ta trong suốt mấy chục năm qua đã thu được nhiều kếtquả to lớn Nghị quyết hội nghị lần thứ ba (khoá VIII) của Ban chấp hànhtrung ương Đảng đã khẳng định công cuộc xây dựng và hoàn thiện nhà nướccộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có những tiến bộ quan trọng

8 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu to n qu àn qu ốc lần thứ X, Nxb CTQG, H,2006, tr.253

Ngày đăng: 04/05/2017, 14:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w