TÓM TẮT Đề tài “Sinh hoạt cộng đồng tại Nhà văn hóa xã nông thôn mới ở Hậu Giang” nghiên cứu sự tác động của sinh hoạt cộng đồng đến đời sống văn hóa của người dân; đồng thời nghiên cứu
Trang 1ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH
NGUYỄN NGỌC TRÂN
SINH HOẠT CỘNG ĐỒNG TẠI NHÀ VĂN HÓA XÃ NÔNG THÔN
MỚI Ở HẬU GIANG
Chuyên ngành: VĂN HÓA HỌC
Mã số: 60310640
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HÓA HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS MAI MỸ DUYÊN
TRÀ VINH, NĂM 2015
Trang 2TÓM TẮT
Đề tài “Sinh hoạt cộng đồng tại Nhà văn hóa xã nông thôn mới ở Hậu Giang” nghiên cứu sự tác động của sinh hoạt cộng đồng đến đời sống văn hóa của người dân; đồng thời nghiên cứu các yếu tố làm ảnh hưởng đến nhận thức xã hội về vai trò, vị trí, về phương pháp, nội dung và hình thức hoạt động nhà văn hóa Trên cơ
sở đó đề ra những giải pháp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của nhà văn hóa xã nông thôn mới, đáp ứng ngày càng cao nhu cầu sinh hoạt của cộng đồng trong bối cảnh mới
Tìm hiểu những dạng thức của sinh hoạt cộng đồng gắn với những điều kiện nhà văn hóa xã từ khi có chủ trương xây dựng nông thôn mới đến nay ở xã Vị Thanh huyện Vị Thủy tỉnh Hậu Giang Qua đó, đánh giá thực trạng hoạt động sinh hoạt cộng đồng của người dân tại nhà văn hóa xã, những vấn đề đặt ra cần đổi mới
để phù hợp với quá trình phát triển Thấy được nhu cầu cấp thiết của việc giáo dục, giao lưu, sáng tạo và vui chơi giải trí của người dân ở nông thôn Trên cơ sở đó đề
ra những giải pháp và khuyến nghị để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động sinh hoạt cộng đồng tại nhà văn hóa xã
Luận văn tập trung nghiên cứu về sinh hoạt cộng đồng tại nhà văn hóa ở tỉnh Hậu Giang Do điều kiện khách quan là tất cả nhà văn hóa đều chịu sự điều chỉnh chung của quy chế hoạt động được nhà nước ban hành và sự chi phối của 19 tiêu chí xây dựng xã nông thôn mới phổ biến trên phạm vi toàn tỉnh, do đó người viết đã chọn xã Vị Thanh, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang làm trường hợp nghiên cứu cụ thể
Luận văn nghiên cứu về sinh hoạt cộng đồng tại nhà văn hóa xã nông thôn mới Vị Thanh, kết hợp phân tích, so sánh về sinh hoạt cộng đồng của người dân thông qua các hoạt động vui chơi, giải trí, văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao ở các nhóm, các câu lạc bộ đang sinh hoạt tại nhà văn hóa xã, để thấy được hiệu quả của Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới đối với đời sống cộng
Trang 3đồng của người dân, nhưng chủ yếu nghiên cứu thực tiễn diễn ra tại nhà văn hóa xã
xã, người dân và cán bộ, công nhân viên tại xã
Tóm lại, đề tài của luận văn này có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo, cung cấp thông tin cho công tác nghiên cứu và giúp các nhà quản lý văn hóa - xã hội hoạch định các chính sách văn hóa, đề ra định hướng và chỉ đạo hiệu quả đối với nhà văn hóa xã Điểm mới của đề tài là góp phần cho thấy được chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới rất quan trọng đối với nhà văn hóa xã trong lĩnh vực hoạt động văn hóa, chuyên môn, tìm ra những phương pháp hoạt động thích hợp để nâng cao vai trò, vị trí của nhà văn hóa xã trong tình hình đổi mới hiện nay
Luận văn sẽ góp phần ứng dụng vào việc nâng cao chất lượng, hiệu quả sinh hoạt cộng đồng tại nhà văn hóa xã nông thôn mới ở Hậu Giang và có thể ứng dụng vào thực tiễn của các nhà văn hóa xã trong phạm vi khu vực đồng bằng sông Cửu Long và cả nước
Trang 4ASTRACT
The thesis “Community events at the House of Culture’s new countryside communes in Hau Giang province”, research about the affects of community activity to the people’s cultural life; besides, research the factors that affect the social recognition about the role, position, methods, content and operation form’s House of Culture From then, suggest the suitable solutions to improve the quality, the effectiveness of performance’ House of Culture at new countryside communes,
to respond the daily needs of community in new context better
It is to find out the forms of community events that link the conditions of House of Culture commune when there were the guidelines in building the new countryside for now in Vi Thanh commune, Vi Thuy district, Hau Giang province Thereby, it maybe assess the reality of people’s community events activity at House
of Culture commune, there are some issues that we have to change so that it is suitable with the developing progress The people’s education, exchange, creation and entertainments in rural areas are necessary Basing on these, the solutions and recommendations to improve the quality, effectiveness of community events activity at House of Culture commune are suggested
This thesis focuses to research about community events at house of culture in Hau Giang province Because of some positive reasons, all houses of culture have the general adjustment of operating regulations that the government issued and are dominated by 19 criteria in building the new countryside communes that are been popular in province-wide Therefore, the writer was chosen Vi Thanh commune, Vi Thuy district, Hau Giang province to research
This thesis researches community events at house of culture’s Vi Thanh new countryside commune It is the combination of analysis, comparison about people’s community events through entertainments, culture, art activities of the groups, clubs which are participating at house of culture’s commune, from that it will be seen the effectiveness of National target Program about the building for new countryside
Trang 5against people’s community life, but the thesis will primarily research the practice that is happening at house of culture in Vi Thanh commune
The time for study is from 2010 to now (when having the National target Program about the building for new countryside for now)
There’re some research methods such as: general research methods and analysis; compare and contrast; fieldwork; in-depth interview; research directs through the practical surveys, sociological investigation, interview the researchers, Provincial cultural managers, people and staffs, employees in commune
In brief, this thesis could be used to refer, supply the information for the research and help social, cultural managers in planning the cultural policies, setting the effectiveness orientation and direction at house of culture commune The thesis contributes to show the importance of the National target Program about the building for new countryside against house of culture in cultural, professional activities, support to find out the appropriate methods in advanced the role, position
of house of culture in innovation situation today and that is also the new point of the thesis
The thesis will contribute applications in improving the quality, effectiveness
of community events at house of culture in new countryside communes in Hau Giang province, and it can also apply in practice of houses of culture commune in the Mekong Delta and in the country
Trang 6MỤC LỤC
TRANG
Trang tựa
Giấy quyết định giao đề tài
CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
ASTRACT v
MỤC LỤC vii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT x
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3
2.1 Mục tiêu tổng quát 3
2.2 Mục tiêu cụ thể 3
3 Tổng quan tình hình nghiên cứu 3
3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 4
3.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
4.1 Đối tượng nghiên cứu 8
4.2 Phạm vi nghiên cứu 9
5 Phương pháp nghiên cứu 9
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 10
6.1 Về ý nghĩa khoa học 10
6.2 Về thực tiễn 10
7 Kết cấu luận văn 10
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 11
1.1 Cơ sở lý luận 11
1.1.1 Các khái niệm liên quan đề tài 11
Trang 71.1.1.1 Văn hóa, đời sống văn hóa, sinh hoạt cộng đồng 11
1.1.1.2 Thiết chế văn hóa, nhà văn hóa 14
1.1.1.3 Nông thôn mới, văn hóa nông thôn 16
1.1.2 Quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về xây dựng thiết chế văn hóa 18
1.2 Tổng quan về hệ thống trung tâm văn hóa và phong trào xây dựng nông thôn mới ở Hậu Giang 19
1.2.1 Các trung tâm văn hóa ở tỉnh Hậu Giang 19
1.2.1.1 Trung tâm văn hóa tỉnh Hậu Giang 20
1.2.1.2 Trung tâm Văn hoá - Thể thao cấp huyện 25
1.2.1.3 Trung tâm Văn hoá-Thể thao xã (nhà văn hóa xã) 27
1.2.1.4 Nhà văn hóa ấp 28
1.2.2 Phong trào xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Hậu Giang 29
1.3 Tổng quan về xã Vị Thanh, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang 30
1.3.1 Lịch sử hình thành vùng đất 30
1.3.2 Vị trí địa lý, môi trường tự nhiên và xã hội 31
1.3.3 Quá trình xây dựng nông thôn mới của xã Vị Thanh 34
CHƯƠNG 2: CÁC DẠNG THỨC SINH HOẠT VĂN HÓA CỘNG ĐỒNG TẠI NHÀ VĂN HÓA XÃ VỊ THANH 39
2.1 Chức năng và những điều kiện hoạt động của nông thôn mới xã Vị Thanh 39
2.1.1 Chức năng của Nhà văn hóa xã Vị Thanh 39
2.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy và biên chế 42
2.1.3 Cơ sở vật chất và trang thiết bị chuyên dụng 43
2.1.4 Nguồn kinh phí hoạt động 44
2.2 Các dạng thức sinh hoạt cộng đồng 44
2.2.1 Hoạt động thông tin tuyên truyền, cổ động 45
2.2.2 Hoạt động câu lạc bộ, đội-nhóm 47
2.3 Sự đổi mới hoạt động của nhà văn hóa xã Vị Thanh 63
Trang 82.3.1 Mở rộng không gian, thời gian hoạt động nhà văn hóa 64
2.3.2 Phát huy tính tự nguyện, tự giác trong tổ chức sinh hoạt cộng đồng 65
2.3.3 Phổ biến kiến thức và hướng dẫn cách làm ăn cho nông dân xã Vị Thanh 67
2.3.4 Phổ biến giáo dục và đào tạo nghề ở nông thôn 69
CHƯƠNG 3: VAI TRÒ SINH HOẠT CỘNG ĐỒNG TẠI NHÀ VĂN HÓA VỊ THANH 73
3.1 Tác động nhận thức cộng đồng 73
3.1.1 Tác động nhận thức về chính trị 73
3.1.2 Tác động nhận thức về kinh tế 75
3.1.3 Tác động nhận thức về xã hội 76
3.2 Tác động đến đời sống văn hóa cộng đồng 78
3.2.1 Duy trì tính cố kết cộng đồng thông qua các sinh hoạt văn hóa 78
3.2.2 Giữ gìn và phát huy hệ giá trị truyền thống của cộng đồng 79
3.2.3 Tác động đến phong trào sáng tạo ra các giá trị mới 84
3.3 Một số giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng sinh hoạt cộng đồng tại nhà văn hóa xã nông thôn mới Vị Thanh 88
3.3.1 Cơ sở đề xuất giải pháp 89
3.3.1.1 Cơ sở pháp lý 89
3.3.1.2 Những tồn tại, yếu kém 92
3.3.2 Xác lập vị thế của nhà văn hóa xã trong xu thế phát triển 93
3.3.3 Giải pháp 97
KẾT LUẬN 104
TÀI LIỆU THAM KHẢO 108
PHỤ LỤC 111
Trang 9CLBCQN Câu lạc bộ cựu quân nhân
CLBXDGĐHP Câu lạc Xây dựng gia đình hạnh phúc
CLBNKDN Câu lạc bộ Năng khiếu dạy nghề
CLBNCBSM Câu lạc bộ Nuôi con bằng sữa mẹ
CLBTGPL Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý
CLBTNLKT Câu lạc bộ Thanh niên làm kinh tế
CLBNDUD Internet Câu lạc bộ Nông dân ứng dụng Internet
CLBTTCCKCM Câu lạc bộ Tuyên truyền các ca khúc cách mạng CLBTGB Câu lạc bộ Trợ giúp bạn
CLBTDTT Câu lạc bộ Thể dục thể thao
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” và “Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới” là những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước đã và đang được chỉ đạo tổ chức thực hiện trên phạm vi cả nước Trong đó, nội dung xây dựng hoàn thiện các thiết chế văn hóa, như nhà văn hóa xã
có vai trò, vị trí vô cùng quan trọng, chính hiệu quả tổ chức hoạt động của nhà văn hóa xã đã góp phần tuyên truyền cổ vũ nhân dân thực hiện tốt các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước, đồng thời, giáo dục nâng cao nhận thức, tạo ra môi trường văn hoá lành mạnh, nâng cao đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân ở địa phương
Trong hệ thống trung tâm văn hóa từ trung ương đến cơ sở thì nhà văn hóa
xã có vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng, nơi đây vừa tiếp nhận sự chỉ đạo, định hướng tổ chức hoạt động chuyên ngành của cơ quan chuyên môn các cấp, vừa là nơi
cụ thể hoá những định hướng thông qua các hoạt động chuyên môn Đồng thời, nhà văn hóa còn chịu trách nhiệm phối hợp, hợp tác, giao lưu với các đơn vị liên quan trong và ngoài xã để tổ chức các hoạt động trên lĩnh vực văn hoá quần chúng Nhà văn hóa xã còn được xác định là một trong những đơn vị sự nghiệp quan trọng của ngành văn hóa thông tin & du lịch góp phần phát triển sự nghiệp văn hóa ở địa phương và thực hành các nhiệm vụ nêu trên Từ những chức năng và nhiệm vụ quan trọng trên cho thấy nhà văn hóa xã có vai trò quan trọng trong việc tổ chức các sinh hoạt văn hóa cộng đồng
Từ năm 1947 tại chiến khu Hoà Mỹ đã xuất hiện bảng hiệu nhà văn hóa đầu tiên Đến nay, sau một quá trình dài phát triển, do nhu cầu phát triển văn hóa xã hội trong giai đoạn mới, nên tên gọi và chức năng, nhiệm vụ của hệ thống thiết chế này
đã có sự thay đổi, đó chính là lý do ra đời của nhà văn hóa Nhà văn hóa được thành lập, từ sự kế thừa và phát triển trên những cơ sở lý luận cơ bản bắt nguồn từ chủ trương xây dựng hệ thống thiết chế câu lạc bộ-nhà văn hóa của trung ương phổ biến
Trang 11từ những thập niên 80 Và trong những năm qua cũng đã có nhiều đề tài nghiên cứu
về tổ chức hoạt động của các thiết chế văn hóa với qui mô lớn, nhưng chủ yếu phân tích chức năng, nhiệm vụ của trung tâm văn hóa từ cấp huyện, quận và tỉnh thành Tuy nhiên, hiện nay chưa có đề tài nào nghiên cứu chuyên sâu về cơ sở lý luận khoa học và thực tiễn tổ chức hoạt động của nhà văn hóa xã nông thôn mới ở tỉnh Hậu Giang, đặc biệt là nghiên cứu các tổ chức sinh hoạt cộng đồng tại nhà văn hóa xã
Vì vậy, việc nghiên cứu thực tiễn hiệu quả hoạt động của nhà văn hóa xã nông thôn mới là rất cần thiết, vì đây chính là địa điểm thu hút người dân đến tham gia các hoạt động chính trị, văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao và vui chơi giải trí Trong
số đó, các sinh hoạt cộng đồng dưới hình thức câu lạc bộ, hội đã hoạt động tích cực và đem lại hiệu quả xã hội cao, như: câu lạc bộ đờn ca tài tử; câu lạc bộ hát với nhau; câu lạc bộ xây dựng gia đình hạnh phúc; câu lạc bộ trợ giúp pháp lý….,qua
đó, thấy được tầm quan trọng của sinh hoạt cộng đồng trong nhà văn hóa xã
Mặt khác, trong những năm qua nhà văn hóa xã luôn giữ vai trò quan trọng trong việc tổ chức thực hiện các chức năng, nhiệm vụ được giao hàng năm, góp phần phục vụ tốt các nhiệm vụ chính trị và phát triển sự nghiệp văn hoá ở địa phương Tuy nhiên, thực tế đã cho thấy, nhà văn hóa xã hoạt động có hiệu quả, thu hút được người dân đến đây sinh hoạt chủ yếu ở những nhà văn hóa xã nông thôn mới Vì ở đây được các cấp quan tâm hỗ trợ vật chất lẫn tinh thần, còn các nhà văn hóa khác đang ngày càng bộc lộ rõ nhiều vấn đề hạn chế và bất cập Cho nên, việc nghiên cứu thực tiễn để bổ sung lý luận làm cơ sở đổi mới hoạt động của nhà văn hóa xã là vấn đề cấp thiết
Thực tế cho thấy, qua một thời gian áp dụng mô hình "xã đạt chuẩn văn hóa nông thôn mới” ở tỉnh Hậu Giang, nhiều nhà văn hóa xã hoạt động có hiệu quả, là nơi tổ chức sinh hoạt cộng đồng, các tổ chức hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao ngày càng phát triển Đặc biệt, trong đó có nhà văn hóa xã nông thôn mới
Vị Thanh, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang Từ một nhà văn hóa của xã nghèo, lạc hậu, hoạt động chưa được thường xuyên, chỉ thể hiện mỗi khi có các hoạt động mang tính chất “kỳ”, “cuộc”, “trọng điểm” và chưa thu hút được người dân đến
Trang 12tham gia sinh hoạt cộng đồng Nhưng từ khi có chủ trương xây dựng nông thôn
mới, xã Vị Thanh được sự quan tâm và đầu tư trang bị cơ sở vật chất, từ đó góp phần phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị, đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt cộng đồng của
người dân địa phương
Xuất phát từ những lý do có cơ sở lý luận khoa học và thực tiễn nêu trên, người viết chọn đề tài nghiên cứu: “Sinh hoạt cộng đồng tại nhà văn hóa xã nông thôn mới ở Hậu Giang” để làm luận văn tốt nghiệp cao học chuyên ngành văn hóa học
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.1 Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu sự tác động của sinh hoạt cộng đồng đến đời sống văn hóa của người dân; đồng thời nghiên cứu các yếu tố làm ảnh hưởng đến nhận thức xã hội về vai trò, vị trí, về phương pháp, nội dung và hình thức hoạt động nhà văn hóa Trên
cơ sở đó đề ra những giải pháp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của nhà văn hóa xã nông thôn mới, đáp ứng ngày càng cao nhu cầu sinh hoạt của cộng đồng trong bối cảnh mới
2.2 Mục tiêu cụ thể
Tìm hiểu những dạng thức của sinh hoạt cộng đồng gắn với những điều kiện nhà văn hóa xã từ khi có chủ trương xây dựng nông thôn mới đến nay ở xã Vị Thanh huyện Vị Thủy tỉnh Hậu Giang
Đánh giá thực trạng hoạt động sinh hoạt cộng đồng của người dân tại nhà văn hóa xã, những vấn đề đặt ra cần đổi mới để phù hợp với quá trình phát triển Thấy được nhu cầu cấp thiết của việc giáo dục, giao lưu, sáng tạo và vui chơi giải trí của người dân ở nông thôn Trên cơ sở đó đề ra những giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động sinh hoạt cộng đồng tại nhà văn hóa xã
3 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Hiện nay có rất nhiều tài liệu bao gồm sách chuyên khảo, giáo trình, những
kỷ yếu, báo cáo, các văn bản pháp quy có liên quan đến đề tài như:
Trang 133.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Đầu tiên, cần phải kể đến quyển “Giáo trình môn học câu lạc bộ, nhà văn hóa của Liên Xô” do GS Viện sĩ Ikônhicôva chủ biên (bản dịch), Tài liệu dịch của đề tài quốc gia KX năm 1993 Nội dung của quyển giáo trình tập trung phân tích các hình thức câu lạc bộ, nhà văn hóa trước và sau thời kì Liên Xô tan rã (1991), (hiện nay là Liên Bang Nga) bao gồm các hình thức như đội, nhóm (groupe), các câu lạc bộ (clubs), các hội tình nguyện, hội đoàn xã hội (asociations bénévolé, organisations sociales) Giáo trình này cũng đã đề cập đến các hình thức nhà văn hóa ở từng cấp địa phương, các hình thức nhà văn hóa mới đã và đang được hình thành trong thời buổi hiện đại Đây là quyển tài liệu quan trọng nghiên cứu về một loại hình của thiết chế văn hóa, đó là nhà văn hóa, song, đây là một công trình nghiên cứu ở một đất nước rộng lớn, lãnh thổ trải dài trên cả hai châu lục, chính vì thế, việc nghiên cứu chi tiết, cụ thể có thể gặp nhiều thiếu sót
Trong các công trình nghiên cứu văn hóa ở phương Đông thì cần phải đề cập đến hai quyển “Chính sách văn hóa của Nhật” (bản dịch), Tài liệu dịch của đề tài quốc gia KX, năm 1993 và quyển “Pháp quy và cơ cấu văn hóa Trung Quốc”, Nhà xuất bản thế giới, 2002 Cả hai tài liệu đều cho ta thấy rõ diện mạo nền văn hóa đặc trưng phương Đông, đặc biệt là trong việc tổ chức cơ cấu các cơ quan quản lý và hoạt động văn hóa Những quyển này cũng có đề cập đến loại hình thiết chế văn hóa
là nhà văn hóa, cơ quan có nhiệm vụ quản lý hoạt động văn hóa, chính sách quy hoạch phát triển những trung tâm văn hóa ở những thành phố lớn, chú trọng phát triển nhà văn hóa ở cơ sở như ở huyện, xã, khu dân cư cộng đồng địa phương,…Hai tài liệu này là nguồn tư liệu quý giá cho những ai có sở thích và nhu cầu nghiên cứu
về các hoạt động, chính sách văn hóa để so sánh với chính sách, hoạt động văn hóa
ở quốc gia mình Tuy nhiên, cũng như những quyển sách trên, cả hai quyển này cũng có phạm vi nghiên cứu chỉ trên đất nước của họ, còn việc tập trung nghiên cứu
để so sánh thấy rõ vấn đề tổ chức hoạt động đối với thiết chế văn hóa cơ sở ở Việt Nam hiện nay lại là một vấn đề cần thiết
Trang 14Trong cuốn Sự hợp tác và cộng đồng ở nông thôn Thái Lan của tác giả Shin Ichi Shigetomi (2007), Nxb, Đại học Kinh tế quốc dân đã nhắc đến rất nhiều kinh nghiệp về doanh nghiệp hóa, trong đó nói đến tổ chức theo công thức “4 nhà” gồm: Nhà nước, nhà doanh nghiệp, nhà ngân hàng, nhà nông Công thức này nhằm vào việc lập ra các doanh nghiệp kinh doanh nông sản xuất khẩu theo hướng cả 4 nhà đi
từ đầu đến cuối của quá trình sản xuất Hình thức kết hợp thì linh động thay đổi theo từng loại công việc và sản phẩm, nhưng về nguyên tắc, thì cả 4 nhân vật này đều là chủ thể của quá trình sản xuất
Công nghiệp hóa nông nghiệp nghĩa là nông nghiệp trở thành một khâu gắn chặt với công nghiệp làm hàng xuất khẩu, do đó phải phát triển các doanh nghiệp trong công nghiệp đảm nhận liên hiệp với nông dân tạo ra sản phẩm để chế biến có hiệu quả xuất khẩu cao Kết quả cuối cùng là Thái Lan có được một hệ thống các doanh nghiệp chuyên kinh doanh nông nghiệp Lúc đầu, Thái Lan làm mô hình này trong chăn nuôi, sau phát triển sang các mặt hàng khác như gạo, thủy sản, và đặc biệt
là hoa quả nhiệt đới, hiện đứng đầu thế giới Đến năm 1989, Thái Lan có đủ 14 loại nông sản xuất khẩu trên thế giới được thực hiện chủ yếu vào sự liên kết này Quyển sách này giúp người đọc có cái nhìn mới về nông thôn và nông dân ở Hậu Giang trong giai đoạn hiện nay
Trong Báo cáo số 4390/BC-BNN-CB, ngày 31 tháng 12 năm 2010 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về kết quả hội thảo quốc tế “Mỗi làng một sản phẩm” có nêu lên những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” chú trọng phát huy vai trò của người nông dân Phong trào này là một hoạt động phát triển nông thôn nội sinh nên người dân nông thôn đóng luôn vai trò chủ đạo trong mọi hoạt động Chính họ là người phát hiện ra tiềm năng của quê hương mình, lập kế hoạch để phát triển các sản phẩm mang đặc thù của vùng quê mình Cũng chính họ là người đứng ra tổ chức, trang trải kinh phí, đồng thời chịu mọi rủi ro cho các dự án phát triển nông thôn của mình Phong trào “Mỗi làng, một sản phẩm” không chỉ đơn thuần là một phong trào phát triển sản phẩm Mục đích cao nhất của phong trào này là tạo cho cư dân địa phương niềm tự hào về quê
Trang 15hương của họ, từ đó sẵn sàng đón nhận mọi thời cơ cũng như thách thức của quá trình hội nhập toàn cầu
3.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Một tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu của luận văn này, đó là Giáo trình “Cơ sở văn hóa Việt Nam” của tác giả Trần Ngọc Thêm, Nhà xuất bản Giáo dục năm 1997 Quyển sách này là cơ sở quan trọng, là nguồn gốc xuất phát cho việc nghiên cứu các đề tài có liên quan đến văn hóa Việt Nam Tuy nhiên, chính vì chỉ mang tính chất cơ sở, cái thuộc về cơ bản, khái quát nên quyển sách chủ yếu chỉ trình bày một cách gọi là chung nhất về văn hóa Việt Nam, còn liên quan đến thiết chế văn hóa cơ sở thì chỉ có thể tìm thấy rải rác trong một số chương Chẳng hạn như trong phần phân tích về “Tổ chức nông thôn” thì tác giả chỉ đề cập đến các thiết chế xã hội, như: gia đình Việt Nam, xóm, làng, thôn, xã …Như vậy, quyển giáo trình này chỉ là cơ sở đầu tiên cho việc nghiên cứu, đưa ra những cơ sở lý luận, nguồn gốc hình thành thiết chế văn hóa, còn việc quản lý Nhà nước và tổ chức hoạt động đối với các thiết chế văn hóa như thế nào thì vẫn chưa hề đề cập đến
Một trong những quyển sách có giá trị rất quan trọng có liên quan khá mật thiết đến đề tài này là quyển “Quản lý hoạt động văn hóa” của nhóm Tác giả Nguyễn Văn Hy, TS.Phan Văn Tú, Hoàng Sơn Cường, Lê Thị Hiền, Trần Thị Diên, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, Trường Đại học văn hóa Hà Nội năm 1998 Trong quyển sách này, các tác giả đã nghiên cứu và đưa bốn vấn đề lớn: Một là, đại cương
về quản lý hoạt động văn hóa, trong đó đưa ra khái niệm hoạt động văn hóa, quan niệm về quản lý và quản lý hoạt động văn hóa, đặc biệt có nội dung quản lý các hoạt động đối với các thiết chế văn hóa và quản lý các hoạt động giao lưu văn hóa của con người trong xã hội Hai là, chính sách quản lý hoạt động văn hóa, trong đó quan trọng là việc hoạch định thực hiện các chính sách văn hóa trong tương lai, những thể chế cơ bản của chính sách văn hóa Ba là, nội dung quản lý hoạt động văn hóa hiện nay Bốn là, quản lý xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở hiện nay Như vậy, quyển sách này đã đề cập một cách khá toàn diện về việc quản lý nhà nước đối với các hoạt động văn hóa, tuy nhiên, việc nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc quản lý
Trang 16các hoạt động văn hóa nói chung, có phạm vi khá rộng bao gồm những hoạt động văn hóa của cá nhân, những giá trị văn hóa tinh thần và bao gồm cả các cơ sở vật chất văn hóa,… còn việc nghiên cứu sâu đi vào các thiết chế văn hóa cơ sở và quản
lý nhà nước đối với hoạt động của các thiết chế văn hóa cơ sở thì chưa được đề cập một cách cụ thể
Quyển sách có giá trị rất quan trọng có liên quan khá mật thiết đến đề tài này
là quyển: “Đại cương công tác nhà văn hóa”, của nhóm tác giả Trần Văn Ánh, Nguyễn Xuân Hồng, Nguyễn Văn Hy, Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin, Hà Nội năm 2002 Trong sách này, các tác giả đã nghiên cứu và đưa bốn vấn đề lớn: quản
lý hoạt động văn hóa, trong đó đưa ra khái niệm hoạt động văn hóa, quan niệm về quản lý và quản lý hoạt động văn hóa, đặc biệt có nội dung quản lý các hoạt động đối với các thiết chế văn hóa và quản lý các hoạt động giao lưu văn hóa của con người trong xã hội Hai là, chính sách quản lý hoạt động văn hóa, trong đó quan trọng là việc hoạch định thực hiện các chính sách văn hóa trong tương lai, những thể chế cơ bản của chính sách văn hóa Ba là, nội dung quản lý hoạt động văn hóa hiện nay Bốn là, quản lý xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, trong đó; đã đề cập sâu về các phương pháp hoạt động của các loại hình hoạt động của nhà văn hóa Những cơ sở lý luận thực tiễn về tổ chức hoạt động của nhà văn hóa chính là những vấn đề liên quan trực tiếp đến đề tài, giúp cho người viết trong việc nghiên cứu; kế thừa, bổ sung và phát triển để vận dụng vào việc xây dựng những cơ sở lý thuyết và thực tiễn của sinh hoạt cộng đồng tại nhà văn hóa xã trong luận văn này
Các đề tài nghiên cứu được đăng trong “Kỷ yếu hội nghị, hội thảo nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động hoạt động của hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở” của Cục Văn hóa Cơ sở-Bộ VH, TT&DL tháng 10 năm 2011 Kỷ yếu này đã đề cập trực tiếp đến thiết chế văn hóa cơ sở mà không như những tài liệu trên, đơn thuần chỉ nghiên cứu về các hoạt động văn hóa Kỷ yếu đã xác định khái niệm thiết chế văn hóa cơ sở, phân cấp thiết chế văn hóa cơ sở gồm 4 cấp: Trung ương, tỉnh thành, quận huyện và cơ sở Nội dung chính của kỷ yếu là đưa ra giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở, theo đó thì
Trang 17gồm có 3 giải pháp chính: nâng cao nhân lực, đảm bảo phát triển cơ sở vật chất và đẩy mạnh công tác phối hợp giữa các đơn vị trong và ngoài ngành Kỷ yếu là một tài liệu có giá trị cao trong việc xác định các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các thiết chế văn hóa cơ sở Tuy nhiên, kỷ yếu chỉ mới trình bày lên được một vấn đề, đó là thiết chế văn hóa cơ sở còn giải pháp đổi mới hoạt động đối với các thiết chế này thì vẫn chưa sát hợp với từng cấp cụ thể Do đó, việc nghiên cứu thêm đổi mới sinh hoạt cộng đồng tại nhà văn hóa xã là một công việc hết sức cần thiết trong tình hình hiện nay
Trên đây là một số tài liệu bao gồm giáo trình, sách chuyên khảo, những kỷ yếu, báo cáo, tài liệu có liên quan đối với các thiết chế văn hóa cơ sở Bên cạnh đó, một trong những nguồn tài liệu cũng có giá trị tham khảo và nghiên cứu sâu đề tài này chính là các bài viết cá nhân đăng trên một số báo, tạp chí chuyên ngành Đây chính là những ý kiến nhận xét riêng của mỗi cá nhân tác giả, là cơ sở quan trọng cho việc đề xuất ra chính kiến của người viết
Nhưng các tài liệu trên chỉ trình bày theo từng khía cạnh, từng lĩnh vực chuyên môn, chưa có đề tài khoa học nào đi sâu vào lý thuyết một cách có hệ thống hoặc nghiên cứu từng trường hợp cụ thể mang tính đặc thù địa phương nhất là về sinh hoạt cộng đồng của người dân tại nhà văn hóa xã nông thôn mới Các nguồn tài liệu trên là những cơ sở lý luận khoa học quý báu, quan trọng giúp cho người viết nghiên cứu thực hiện đề tài, nhằm góp phần hệ thống lại cơ sở lý luận và thực tiển
về sinh hoạt cộng đồng của người dân, thông qua nghiên cứu cụ thể trường hợp tại nhà văn hóa xã nông thôn mới Vị Thanh, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu sinh hoạt cộng đồng tại nhà văn hóa ở tỉnh Hậu Giang Do điều kiện khách quan là tất cả nhà văn hóa đều chịu sự điều chỉnh chung của quy chế hoạt động được nhà nước ban hành và sự chi phối của 19 tiêu chí xây dựng xã nông thôn mới phổ biến trên phạm vi toàn tỉnh Do đó, người viết đã
Trang 18chọn xã Vị Thanh, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang làm trường hợp nghiên cứu cụ thể
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Luận văn nghiên cứu về sinh hoạt cộng đồng tại nhà văn hóa
xã nông thôn mới Vị Thanh, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang Tuy nhiên, quá trình thực hiện đề tài này chỉ kết hợp phân tích, phỏng vấn sâu về sinh hoạt cộng đồng của người dân thông qua các hoạt động vui chơi, giải trí, văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao ở các nhóm, các câu lạc bộ đang sinh hoạt tại nhà văn hóa xã, để thấy được hiệu quả của Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới đối với đời sống cộng đồng của người dân, nhưng chủ yếu nghiên cứu thực tiễn diễn ra tại nhà văn hóa xã Vị Thanh
- Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2010 đến nay (từ khi có chủ trương chỉ đạo
toàn quốc thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nhà văn hóa xã nông thôn mới)
5 Phương pháp nghiên cứu
Đây là đề tài thuộc ngành văn hóa học song nghiêng về hướng ứng dụng, do vậy, người viết đã áp dụng cách tiếp cận liên ngành khoa học: sử học, xã hội học văn hóa và nhân học văn hóa trong nghiên cứu đối tượng và phạm vi của đề tài
Bên cạnh đó, người viết tiến hành phương pháp thao tác sau đây:
Phương pháp nghiên cứu tổng hợp và phân tích: các tư liệu, tài liệu đã nghiên cứu liên quan đến đề tài
Phương pháp khảo sát, điền dã thực địa: tìm hiểu thực trạng hoạt động nhà văn hóa trong việc tổ chức sinh hoạt cộng đồng tại xã nông thôn mới Vị Thanh, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang
Phương pháp phỏng vấn sâu: tìm hiểu nhận thức của những người có trọng trách liên quan đến nhà văn hóa và các đối tượng thụ hưởng hoạt động từ nhà văn hóa
Trang 19Phương pháp nghiên cứu trực tiếp qua khảo sát thực tế, phỏng vấn các nhà nghiên cứu, những người quản lý văn hóa của huyện, xã, người dân và cán bộ, công nhân viên tại xã
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
6.2 Về thực tiễn
Luận văn sẽ góp phần ứng dụng vào việc nâng cao chất lượng, hiệu quả sinh hoạt cộng đồng tại nhà văn hóa xã nông thôn mới ở Hậu Giang và có thể ứng dụng vào thực tiển của các nhà văn hóa xã trong phạm vi khu vực đồng bằng sông Cửu Long và cả nước
7 Kết cấu luận văn
Để thực hiện các mục tiêu nghiên cứu nêu trên, học viên dự kiến sẽ cấu trúc nội dung của luận văn như sau:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục luận văn được bố cục gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
- Chương 2: Các dạng thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng tại nhà văn hóa xã
Vị Thanh
- Chương 3: Vai trò sinh hoạt cộng đồng tại nhà văn hóa Vị Thanh
Trang 201.1.1 Các khái niệm liên quan đề tài
1.1.1.1 Văn hóa, đời sống văn hóa, sinh hoạt cộng đồng
Văn hóa: trên thế giới có rất nhiều khái niệm về văn hóa khác nhau, trong
giới hạn nghiên cứu này xin trình bày một vài quan niệm về văn hóa mạng tính chất phổ biến Đầu tiên xin kể đến định nghĩa văn hóa đầu tiên do Edward Burnett Taylor - nhà nhân loại học phương Tây đưa ra vào năm 1871, ông định nghĩa: “Văn hóa, hiểu theo nghĩa rộng nhất của nó, là toàn bộ phức thể bao gồm hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, phong tục và những khả năng, tập quán khác mà con người có được với tư cách là một thành viên của xã hội” [31]
Năm 2002, UNESCO đã đưa ra định nghĩa: “Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học
và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống
và đức tin” [31]
Theo quan niệm của UNESCO, “văn hóa” trước hết là một phức thể - tổng thể có đặc trưng diện mạo về “tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm”… khắc hoạ
Trang 21nên bản chất của một cộng đồng gia đình, xóm, làng, vùng miền, quốc gia, xã hội… Văn hóa không chỉ “bao gồm nghệ thuật và văn chương” mà cả “những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng” UNESCO cũng quan niệm di sản văn hóa gồm hai dạng: văn hóa hữu thể, vật chất, hữu hình (đình, đền, chùa, miếu, lăng mộ, nhà sàn…) và văn hóa vô thể, phi vật thể, vô hình (âm thanh, múa, truyền thống, truyền miệng, ngôn ngữ, huyền thoại, nghi thức, phong tục tập quán, y dược cổ truyền, việc nấu ăn và các món ăn,
lễ hội, bí quyết và quy trình công nghệ của các nghề truyền thống…), nhờ có văn hóa, con người có khả năng suy xét về bản thân
Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu văn hóa, từ các hướng tiếp cận khác nhau, với những mục đích nghiên cứu cụ thể đã đưa ra hàng chục quan niệm về văn hóa khác nhau Không trực tiếp bàn về khái niệm “văn hóa” nhưng Hồ Chí Minh cũng
đã đưa ra định nghĩa: Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa [18, tr 431]
Hoàng Vinh: Văn hóa là sản phẩm của hoạt động người, nó không phải là một cái gì tồn tại tự nó, bên ngoài cộng đồng nhân loại, mà toàn bộ những sản phẩm, hành động chứa đựng vốn kinh nghiệm xã hội, tạo thành môi trường văn hóa, nuôi dưỡng đời sống tinh thần của con người [28, tr 103]
Trần Ngọc Thêm định nghĩa: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội của mình” [20, tr 13]
Với nhận thức mới về văn hóa, văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa VIII) khẳng định: “Văn hóa Việt Nam là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do cộng đồng các dân tộc Việt Nam sáng tạo ra trong quá trình dựng nước và giữ nước” [7, tr 6]
Trang 22Đời sống văn hóa: là một bộ phận của đời sống xã hội; là một phức thể
những hoạt động sống của con người, nhằm đáp ứng nhu cầu sinh học và xã hội của
nó Tháng 3 năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết sách Đời sống mới “Đời sống mới bao gồm: đạo đức mới, lối sống mới và nếp sống mới Ba nội dung có quan hệ mật thiết với nhau, trong đó đạo đức đóng vai trò chủ yếu Đạo đức gắn liền với lối sống và nếp sống”
Cộng đồng: là tầng cấu trúc sơ đẳng của xã hội, trong đó các thành viên liên
kết với nhau bằng mối quan hệ xã hội nhất định như gia đình, xóm giềng, nhóm bạn, nhóm lứa tuổi, nhóm kinh tế
Sinh hoạt cộng đồng: là những hoạt động thuộc về đời sống hằng ngày của
một người hay một cộng đồng người, bao gồm sinh hoạt vật chất và sinh hoạt tinh thần, như sinh hoạt gia đình; sinh hoạt tập thể của một tổ chức; sinh hoạt câu lạc bộ; sinh hoạt đoàn thanh niên …
Từ sinh hoạt còn dùng để chỉ những hoạt động có tính chất liên kết giữa cá thể (thành viên) và tập thể (cộng đồng) trong xã hội người Trong đời sống con người, nội hàm khái niệm sinh hoạt còn có nghĩa là sự thiết lập các mối quan hệ để tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần Những giá trị đó được sàng lọc, tích hợp qua nhiều năm tháng và trở thành tài sản văn hóa chung của một cộng đồng Ngoài
ra, từ sinh hoạt cũng gợi cho con người những ý nghĩ về sự lao động và sáng tạo trên 2 phương diện vật chất và tinh thần Chính vì vậy mà Đào Duy Anh trong Việt Nam văn hóa sử cương đã định nghĩa: “Văn hóa tức là sinh hoạt” [1] Từ khái niệm
“sinh hoạt” đã nảy ra khái niệm “sinh hoạt cộng đồng” trong các hoạt động sáng tạo, giao lưu và giải trí văn hóa
Như vậy, sinh hoạt cộng đồng là những hoạt động sống của con người trên
cả 2 phương diện vật chất và tinh thần Những hoạt động này trong khuôn khổ của nhà văn hóa ở cơ sở là những hoạt động nhằm hướng đến sự liên kết của một nhóm người có cùng mục đích, nhu cầu; họ hoạt động để thỏa mãn nhu cầu giáo dục, giao lưu, sáng tạo và thưởng thức những sản phẩm văn hóa do chính họ làm ra hay những sản phẩm văn hóa từ những cộng đồng khác
Trang 23Từ khái niệm “sinh hoạt cộng đồng” dẫn đến một thuật ngữ liên quan ở góc
độ quản lý đó là “công tác tổ chức sinh hoạt cộng đồng” Đây là loại hoạt động đòi hỏi rất nhiều thiện chí và sự kiên nhẫn, bởi vì một khi đã gọi là "việc chùa" thì mọi hoạt động đều được dựa trên sự tình nguyện và tự giác của mỗi người, và chính vì trong những công việc này, những người tham gia thực hiện thường không nhận được một thù lao vật chất nào nên việc theo dõi, đôn đốc nếu không chuẩn bị trước
và có sự khéo léo trong việc điều động sẽ gặp rất nhiều khó khăn Một số các kỹ năng sinh hoạt mà chúng ta cần rèn luyện là kỹ năng về tổ chức, vận động, thuyết phục, lề lối làm việc khoa học và hữu hiệu và một tinh thần làm việc tập thể theo
nguyên tắc sinh hoạt dân chủ
1.1.1.2 Thiết chế văn hóa, nhà văn hóa
Theo Đại từ điển tiếng Việt, từ thiết chế và thể chế đồng nghĩa về nội dung
và được hiểu là “Những quy định, luật lệ của một chế độ xã hội” [30, tr 6]
Nhưng theo quan niệm thông dụng, “thể chế chỉ luật lệ, quy định của một dạng hoạt động nào đó của con người; còn thiết chế chỉ một tổ chức, cơ sở vật chất với thể chế vận hành cụ thể của nó” [2, tr 156]
Thiết chế văn hóa là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong ngành văn hóa Việt Nam từ thập niên 70 thế kỷ XX Nhưng đến thời kỳ đổi mới, quan niệm thiết chế văn hóa cơ sở mới được sử dụng rộng rãi trong các văn bản của Đảng và Nhà nước và cả chuyên ngành văn hóa Khi đề cập về văn hóa cơ sở, ở thời kỳ nền kinh
kế bao cấp, thiết chế văn hóa là phương tiện hữu hiệu để chuyển tải sáu mặt hoạt động của văn hóa cơ sở đó là: thông tin cổ động, văn nghệ quần chúng, thư viện, nhà văn hóa, giáo dục truyền thống và nếp sống văn hoá làm nội dung hoạt động với phương châm là lấy xã, phường, thị trấn là đơn vị cơ sở để hoạt động Tuy nhiên, từ khi thực hiện công cuộc đổi mới, thiết chế văn hóa dần điều chỉnh nội dung hoạt động cho phù hợp và lấy địa bàn từ tỉnh đến xã, phường, thị trấn làm đơn
vị cơ sở để hoạt động Như vậy, hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở hiện nay gồm: cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã Tuy nhiên, thiết chế văn hóa cơ sở còn hình thành ở ấp, bản, buôn, khu vực (ấp)
Trang 24Thiết chế văn hóa là một thuật ngữ chuyên ngành, chúng ta thường nghe rất quen thuộc các thuật ngữ như: thiết chế văn hóa, thiết chế giáo dục, thiết chế y tế v.v… Mỗi thiết chế đều được cấu thành từ bốn yếu tố cơ bản bắt buộc, đó là: bộ máy tổ chức, cơ sở vật chất, nội dung và kinh phí đảm bảo cho hoạt động thường xuyên Như vậy, thiết chế văn hóa là chỉnh thể văn hóa hội tụ đầy đủ bốn yếu tố để nhận biết bao gồm: cơ sở vật chất; bộ máy tổ chức, nhân sự; quy chế hoạt động; nguồn kinh phí, chỉ riêng ngôi nhà hoặc công trình văn hóa chưa đủ để gọi là thiết chế văn hóa
Với những quan niệm nêu trên và tiếp cận ở lĩnh vực chuyên ngành văn hóa thì thiết chế văn hóa được hiểu như sau: “Thiết chế văn hóa là tổ chức hoạt động nghiệp vụ văn hóa, bao gồm: cơ sở vật chất, phương tiện hoạt động; tổ chức bộ máy cán bộ và các nội dung công tác để xây dựng đời sống văn hóa cơ sở; đáp ứng nhu cầu của nhân dân về sinh hoạt, hưởng thụ, sáng tạo và bảo tồn bản sắc văn hóa các dân tộc Việt Nam” [5, tr 8] Phạm vi được đề cập trong luận văn này là thiết chế văn hóa công lập chuyên ngành tức các trung tâm văn hóa, có hệ thống tổ chức hoạt động từ trung ương đến các cấp cơ sở tỉnh, huyện, xã, ấp do ngành VHTT&DL quản lý
Nhà văn hóa xã: còn được gọi là TTVH-TT xã từ khi có Thông tư số:
12/2010/TT-BVHTTDL ngày 22 tháng 12 năm 2010 của Bộ Văn hóa, Thể thao và
Du lịch quy định mẫu về tổ chức, hoạt động và tiêu chí của TTVH-TT xã Thông tư
đã qui định rõ về chức năng, nhiệm vụ của trung tâm văn hóa xã:
TTVH-TT xã là nơi tổ chức các hoạt động văn hóa-thông tin và học tập của cộng đồng xã, bao gồm; nhà văn hóa đa năng (hội trường, phòng chức năng, phòng tập, các công trình phụ trợ và các dụng cụ, trang thiết bị tương ứng theo quy định)
và sân thể thao phổ thông (sân bóng đá, sân bóng chuyền, các sân nhảy cao, nhảy
xa, đẩy tạ và tổ chức các môn thể thao dân tộc của địa phương [24, tr.26]
TTVH-TT xã chịu sự quản lý lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Ủy ban nhân dân xã và sự chỉ đạo, hướng dẫn về nghiệp vụ chuyên môn của trung tâm văn hóa cấp huyện Trung tâm văn hóa huyện vừa tổ chức các hoạt động chuyên môn phục
Trang 25vụ các nhiệm vụ chính trị địa phương vừa chỉ đạo, hướng dẫn trực tiếp về hoạt động nghiệp vụ cho các nhà văn hóa ấp Trung tâm văn hóa xã được xác định là đơn vị cơ
sở (theo 4 cấp hành chính) có nhiệm vụ chuyển tải các hoạt động chuyên môn trong
hệ thống trung tâm văn hóa đến quần chúng nhân dân
1.1.1.3 Nông thôn mới, văn hóa nông thôn
Nông thôn: Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các
thành phố, thị xã, thị trấn; được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã [24, tr 18]
Đến nay ở Việt Nam, khái niệm nông thôn được thống nhất với quy định tại Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21-8-2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới
cụ thể là: "nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã”
Văn hóa nông thôn: được xác định như một phạm trù của văn hóa truyền
thống và mang ý nghĩa của văn hóa truyền thống Bởi vì văn hóa truyền thống được hun đúc từ những thành quả lao động của cha ông trong quá trình xây dựng, phát triển đất nước từ nền tảng làng xã nông thôn Đây còn là nền văn hóa được hình thành trên nền tảng của nông nghiệp cổ truyền mà dấu ấn của nó vẫn còn thể hiện trong phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong xã hội hiện đại Văn hóa truyền thống là những biểu hiện của các mối quan hệ, các phong tục, các luật lệ, hương ước… được xây dựng từ bao đời trong cuộc sống nông thôn Nói đến văn hóa truyền thống hay văn hóa nông thôn là nói đến truyền thống ứng
xử xã hội của dân tộc Truyền thống này được thể hiện qua triết lý sống của cộng đồng và trở thành quan niệm sống, quan niệm lý giải cuộc sống và cũng trở thành lối sống, nếp sống, lối hành xử của cộng đồng thông qua các mối quan hệ giữa con người với con người và giữa con người với môi trường tự nhiên Trong cách ứng xử
về cuộc sống xã hội đó, văn hóa nông thôn cũng chứa đựng các tính chất cơ bản của cuộc sống người nông dân
Trang 26Nông thôn mới: được hiểu là “nông thôn phải có kinh tế phát triển, đời sống
vật chất và tinh thần của cư dân nông thôn được nâng cao; phát triển theo quy hoạch, cơ cấu hạ tầng, kinh tế, xã hội hiện đại, môi trường sinh thái được bảo vệ; dân trí được nâng cao, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát huy; an ninh tốt, quản lý dân chủ; chất lượng hệ thống chính trị được nâng cao” [24, tr 18] Như đã phân tích, xã hội nông thôn mới chính là xã hội mà trong đó đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của người dân không ngừng được nâng cao theo hướng tiên tiến, hiện đại, văn minh Bản chất và tính chất của nông thôn mới chính là sự phát triển toàn diện, trong đó có văn hóa
Hiểu theo cách đó có thể quan niệm “văn hóa nông thôn mới” chính là hệ thống các giá trị vật chất, tinh thần do con người nông thôn tạo nên trong sự tương tác với xã hội nông thôn mới Có thể hiểu một cách đơn giản hơn, văn hóa nông thôn mới
là những giá trị văn hóa mới được tạo tra trong xã hội nông thôn mới
Có thể nói xây dựng nông thôn mới là cuộc cách mạng và là cuộc vận động
lớn do Đảng ta khởi xướng và phát động để cộng đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, ấp, xã… phát triển một các toàn diện Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, của cả hệ thống chính trị, nông thôn mới không chỉ là vấn đề đời sống xã hội, mà là vấn đề kinh tế-chính trị tổng hợp
Mục tiêu của xây dựng nông thôn mới là không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn, hài hòa giữa các vùng, tạo sự chuyển biến nhanh hơn ở các vùng còn nhiều khó khăn; nông dân được đào tạo có trình độ sản xuất ngang bằng với các nước tiên tiến trong khu vực và đủ bản lĩnh chính trị, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới
Nông thôn mới là xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hóa lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả, khả năng cạnh tranh cao, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia trước mắt và lâu dài
Trang 27Nông thôn mới là xây dựng dựng kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ;
hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường
Xây dựng nông thôn mới cũng là để xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nhân-nông dân-trí thức vững mạnh, tạo nền tảng kinh tế-xã hội và chính trị vững chắc cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Từ những phân tích trên có thể khẳng định bản chất của “nông thôn mới” chính là sự phát triển của nông thôn, đó là sự phát triển toàn diện và tổng hợp
1.1.2 Quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về xây dựng thiết chế văn hóa
Thuật ngữ thiết chế văn hóa bắt đầu được sử dụng khi thực hiện chủ trương đổi mới của Đảng và lần đầu tiên được ghi nhận trong nghị quyết chuyên đề về văn hóa Trong đó có đoạn: “hệ thống thiết chế văn hóa được xây dựng tuy chưa hoàn chỉnh, nhưng về căn bản đảm bảo được sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của nhà nước” [7, tr 45] Ở đây, theo nghĩa thông dụng thì thể chế chỉ luật lệ, còn thiết chế chỉ một tổ chức, có cơ sở vật chất gắn với cơ chế vận hành của nó trong lĩnh vực hoạt động văn hóa
Quá trình triển khai trong thực tế thiết chế văn hóa từng bước phát huy tính hiệu quả và không thể thiếu trong công cuộc xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở Trên cơ sở đó Nghị quyết Đại hội lần thứ IX nêu: “Tiếp tục đưa hoạt động văn hóa thông tin về cơ sở, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc; phát động phong trào toàn dân tham gia thực hiện nếp sống văn minh, bản, làng văn hóa; tiến tới hoàn chỉnh hệ thống thiết chế văn hóa bằng nguồn lực nhà nước và mở rộng xã hội hóa, làm cho văn hóa thấm sâu vào từng khu dân cư, từng gia đình, từng người” [8, tr 297]
Trang 28Đến Đại hội X, thiết chế văn hóa cơ sở tiếp tục khẳng định vị thế không thể thiếu trong phong trào xây dựng văn hóa cơ sở, đặc biệt đã thu hút mạnh mẽ các tầng lớp nhân dân vào sáng tạo văn hóa, nghệ thuật tiến bộ lành mạnh, phát huy được quyền làm chủ của nhân dân trong việc hưởng thụ và sáng tạo các giá trị văn hóa Từ cơ sở đó vấn đề đặt ra là phải huy động mọi nguồn lực để mở rộng các thiết chế văn hóa cơ sở: “Huy động các nguồn lực và sức sáng tạo trong xã hội để đầu tư xây dựng các công trình và thiết chế văn hóa, tổ chức các hoạt động văn hóa, khuyến khích các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, đoàn thể tham gia hoạt động văn hóa, nghệ thuật, quản lý và bảo vệ di tích, di sản văn hóa” [9, tr 214]
Đại hội XI, thiết chế văn hóa yêu cầu phải được mở rộng và nâng cao chất lượng ở từng cấp, chứ không chỉ đề cập chung chung như trước đây:
“Tăng cường hiệu quả hoạt động của hệ thống thiết chế văn hóa các cấp, đồng thời có kế hoạch cải tạo, nâng cấp và đầu tư xây dựng mới một số công trình văn nghệ, nghệ thuật, thể dục thể thao hiện đại ở các trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của đất nước Xã hội hóa các hoạt động văn hóa, chú trọng nâng cao đời sống văn hóa ở nông thôn, vùng khó khăn, thu hẹp dần khoảng cách hưởng thụ văn hóa giữa các vùng, các nhóm xã hội, giữa đô thị và nông thôn” [10, tr 224] Đến Hội nghị lần thứ III Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, một lần nữa khi đề cập đến lĩnh vực thiết chế văn hóa, văn kiện nêu: “củng cố và xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phong phú, đa dạng, tăng cường hoạt động của hệ thống thiết chế văn hóa các cấp; đồng thời, cải tạo, nâng cấp và đầu tư xây dựng một số công trình văn nghệ, nghệ thuật, thể dục thể thao hiện đại” [6, tr 22]
1.2 Tổng quan về hệ thống trung tâm văn hóa và phong trào xây dựng nông thôn mới ở Hậu Giang
1.2.1 Các trung tâm văn hóa ở tỉnh Hậu Giang
Từ khi được chia tách tỉnh (năm 2004) tỉnh Hậu Giang đã tiến hành xây dựng các thiết chế văn hóa từ tỉnh đến huyện, đến các xã, phường, thị trấn trên toàn tỉnh Hiện nay, hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở phục vụ cộng đồng thuộc ngành văn hóa, thể thao và du lịch quản lý, bao gồm:
Trang 29- 01 Trung tâm văn hóa tỉnh Hậu Giang
- 07 trung tâm văn hóa-thể thao cấp huyện-thị-thành: Vị Thuỷ, Long Mỹ, Phụng Hiệp, Châu Thành, Châu Thành A, thị xã Ngã Bảy và thành phố Vị Thanh
- 74/74 trung tâm văn hóa-thể thao ở xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh
- 438/525 Nhà văn hóa-Khu Thể thao ấp, khu vực trong toàn tỉnh
1.2.1.1 Trung tâm văn hóa tỉnh Hậu Giang
Sau khi thực hiện chia tách tỉnh Cần Thơ thành hai đơn vị hành chính là thành phố Cần Thơ và tỉnh Hậu Giang (năm 2004) Trung tâm văn hóa tỉnh Hậu Giang được thành lập ngày 03/02/2004 với tên gọi là Trung tâm văn hóa-thể thao tỉnh Hậu Giang trực thuộc Sở Văn hoá Thông tin-Thể thao, trên cơ sở chia tách nhân sự từ Trung tâm văn hóa-thông tin trực thuộc Sở Văn hoá Thông tin tỉnh Cần Thơ Trải qua quá trình hoạt động, phát triển, năm 2006 Sở Văn hoá thông tin-Thể thao được chia tách thành hai đơn vị: Sở Văn hoá Thông tin và Sở Thể dục thể thao
và Trung tâm văn hóa-thể thao tỉnh Hậu Giang cũng được đổi tên thành Trung tâm văn hóa-thể thao theo Quyết định số 2406/QĐ-UBND ngày 30/11/2006 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hậu Giang trực thuộc Sở Văn hoá-Thông tin tỉnh Hậu Giang Khi sáp nhập các đơn vị sở thành Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch năm 2008, ngày 22/9/2008 UBND tỉnh Hậu Giang ra Quyết định số 2113/QĐ-UBND về việc thành lập trung tâm văn hóa trực thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Hậu Giang cho đến ngày nay
Cơ sở vật chất, phương tiện chuyên dùng và kinh phí hoạt động
Sau khi được thành lập từ năm 2004 đến nay, trụ sở làm việc của Trung tâm văn hóa tỉnh Hậu Giang đang tạm mượn và sử dụng nhà hát Mỹ Thanh được xây dựng từ trước năm 1975 Toạ lạc tại số 01, đường Chiêm Thành Tấn, phường I, thành phố Vị Thanh Tổng diện tích là 1.000m2, diện tích sử dụng là 1.500m2, hiện nay đã cải tạo nâng cấp theo yêu cầu tổ chức hoạt động của trung tâm văn hóa tỉnh
có 08 phòng làm việc và chuyên môn bao gồm: 01 phòng làm việc của giám đốc, 01 phòng phó giám đốc làm việc chung với phòng kế hoạch tài vụ, 01 phòng phó giám đốc làm việc chung với phòng tổ chức hành chính quản trị và 05 phòng còn lại được
Trang 30bố trí làm nhà kho và nơi làm việc của các bộ phận chuyên môn như: phòng văn hoá văn nghệ; phòng tuyên truyền cổ động; đội tuyên truyền lưu động và phòng tổ chức
sự kiện Toàn bộ các hoạt động tại chỗ của trung tâm văn hóa được diễn ra tại sân khấu trong nhà hát với diện tích 11 x 13m và sức chứa trên 800 khán giả Khi tổ chức các hoạt động tại chỗ có quy mô lớn, trung tâm văn hóa thường phải tận dụng không gian của sân nhà hát, công viên, quảng trường trên địa bàn thành phố Vị Thanh để đảm bảo hoạt động
Phương tiện, trang thiết bị chuyên dùng của Trung tâm văn hóa tỉnh Hậu Giang được trang bị lần đầu vào năm 2005 với kinh phí trên 500.000.000đ (năm trăm triệu đồng), chủ yếu là mua sắm âm thanh, ánh sáng đảm bảo cho hoạt động khi vừa chia tách tỉnh, hàng năm, Trung tâm văn hóa tỉnh Hậu Giang được bổ sung kinh phí mua sắm bổ sung, sửa chữa từ nguồn ngân sách tỉnh cấp cho hoạt động thường xuyên và nguồn từ chương trình mục tiêu quốc gia của Bộ VHTT&DL trang cấp cho cơ sở Tính đến năm 2014, tổng kính phí đầu tư trang bị các phương tiện, trang thiết bị của trung tâm văn hóa tỉnh là trên 3,5 tỷ đồng, đảm bảo đáp ứng cho nhu cầu hoạt động phục vụ công tác tuyên truyền nhiệm vụ chính trị, tổ chức hội thi, hội diễn, các hoạt động tại chổ và hoạt động lưu động ở cơ sở Phương tiện chuyên dùng của trung tâm văn hóa tỉnh hiện có một xe Forange chuyên dùng 05 chổ ngồi để sử dụng tuyên truyền lưu động do Bộ VHTT&DL cấp năm 2005 và một
xe Mazda 16 chỗ ngồi dùng chuyên chở diễn viên
Về kinh phí hoạt động hàng năm
Kinh phí hoạt động thường xuyên hàng năm của trung tâm văn hóa tỉnh được đảm bảo dựa vào các nguồn như: nguồn kinh phí được bao cấp từ ngân sách Nhà nước, nguồn kinh phí vận động tài trợ, phối hợp xã hội hoá và nguồn kinh phí thu được từ các hoạt động dịch vụ văn hoá Trong đó, nguồn kinh phí do Nhà nước bao cấp (ngân sách cấp) là chủ yếu Do điều kiện thực tế về cơ sở vật chất, phương tiện của trung tâm văn hóa tỉnh chưa đảm bảo, chưa đủ điều kiện để thực hiện cơ chế tự chủ theo tinh thần Quyết định số 43/QĐ.TTg của Thủ tướng chính phủ đã ban hành
Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ
Trang 31Về cơ cấu tổ chức: Trung tâm văn hóa tỉnh Hậu Giang hiện nay (2015) được thực hiện theo Thông tư số: 03/2009/TT-BVHTTDL ngày 28 tháng 8 năm 2009 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thông tư trên đã quy định rõ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức, cơ sở vật chất, nội dung hoạt động và kinh phí của trung tâm văn hóa tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Tuy nhiên, do điều kiện và yêu cầu hoạt động thực tiển ở Hậu Giang, ngoài việc thực hiện cơ cấu tổ chức của ban lãnh đạo
và các phòng, đội, bộ phận chuyên môn theo hướng dẫn của thông tư trên, Trung tâm văn hóa tỉnh Hậu Giang còn thành lập thêm một phòng tổ chức sự kiện để tổ chức các hoạt động dịch vụ
Ban lãnh đạo trung tâm văn hóa tỉnh hiện nay có 03 đồng chí; 01 giám đốc phụ trách chung và 02 phó giám đốc, trong đó: 01 phó giám đốc phụ trách hành chính quản trị, tổ chức sự kiện và chỉ đạo cơ sở, 01 phó giám đốc phụ trách công tác văn hóa, văn nghệ, câu lạc bộ và công tác tuyên truyền cổ động
Các phòng chuyên môn trực thuộc gồm có 05 bộ phận là: phòng tổ chức, hành chính, quản trị, phòng văn hoá, văn nghệ, phòng thông tin cổ động, đội tuyên truyền lưu động và phòng tổ chức sự kiện
- Phòng Hành chính tổng hợp: 11 nhân sự gồm: 01 trưởng phòng, 02 phó phòng và cán bộ chuyên môn Thực hiện những nhiệm vụ về hành chính, tổ chức cán bộ, quản trị, kế hoạch tài vụ, tổng hợp, dịch vụ
- Phòng Văn hoá - Văn nghệ: 04 nhân sự gồm: 01 trưởng phòng, 01 phó phòng và 02 cán bộ chuyên môn Thực hiện những nhiệm vụ về văn hóa-văn nghệ quần chúng, phương pháp công tác câu lạc bộ; tổ chức các loại hình văn hóa nghệ thuật, phối hợp thực hiện các dịch vụ văn hóa và biểu diễn nghệ thuật
- Phòng Thông tin cổ động: 03 nhân sự gồm: 01 trưởng phòng, 01 phó phòng
và 01 cán bộ chuyên môn Thực hiện những nhiệm vụ về công tác tuyên truyền, cổ động trực quan, triển lãm, quảng cáo; thực hiện việc vận động, liên kết, phối hợp với các lực lượng xã hội tổ chức kỷ niệm các ngày lễ lớn, các sự kiện chính trị-xã hội, văn hóa, thể dục, thể thao
Trang 32- Đội tuyên truyền lưu động: 07 đội viên gồm: 1 đội trưởng, 2 đội phó và 04 cán bộ chuyên môn là biên tập, tuyên truyền viên, diễn viên, kỷ thuật, lái xe Thực hiện nhiệm vụ tổ chức các loại hình tuyên truyền lưu động trên địa bàn theo định mức kế hoạch hàng năm hoặc phục vụ các nhiệm vụ tuyên truyền chính trị đột xuất, cấp bách, các phong trào, cuộc vận động lớn ở địa phương
- Phòng Tổ chức sự kiện: 02 nhân sự gồm: 01 trưởng phòng và 01 cán bộ chuyên môn Nhiệm vụ chính là đảm nhận các hoạt động có tính chất dịch vụ trong các lĩnh vực về văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao và các sự kiện chính trị, văn hóa, xã hội khác theo yêu cầu thực tiển
Về biên chế: Trung tâm văn hóa tỉnh Hậu Giang là đơn vị sự nghiệp được giao số lượng biên chế do Sở VHTT&DL tỉnh Hậu Giang thống nhất với Sở Nội Vụ
và đề xuất với Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét giao trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, khối lượng công việc của đơn vị được giao theo hàng năm Năm 2004, trung tâm văn hóa tỉnh được giao 18 biên chế và theo yêu cầu tổ chức hoạt động hàng năm có được điều chỉnh tăng lên, từ năm 2008 đến nay số lượng cán bộ viên chức của trung tâm văn hóa đã được giao ổn định là 30 biên chế Trong đó có 21 biên chế, 05 nhân
sự hợp đồng theo Nghị định 68 và 04 nhân sự hợp đồng ngắn hạn
Chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm văn hóa tỉnh Hậu Giang
Trung tâm văn hóa tỉnh Hậu Giang được thực hiện theo Thông tư số 03/2009/TT-BVHTTDL ngày 28 tháng 8 năm 2009 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thông tư trên đã quy định rõ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức,
cơ sở vật chất, nội dung hoạt động và kinh phí của trung tâm văn hóa tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Vận dụng thông tư trên vào điều kiện thực tiễn, ngày 22/9/2008
Ủy ban nhân dân tỉnh Hậu Giang ra Quyết định số 2113/QĐ-UBND, đồng thời Ủy ban nhân dân tỉnh Hậu Giang kèm theo quy chế; quy định rõ chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Trung tâm văn hóa tỉnh Hậu Giang cụ thể như sau:
- Chức năng: Trung tâm văn hóa tỉnh Hậu Giang có chức năng tổ chức hoạt động văn hóa nghệ thuật; tuyên truyền phục vụ nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa,
xã hội theo đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; hướng dẫn
Trang 33chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ làm công tác văn hóa văn nghệ ở cơ sở và tổ chức các dịch vụ công về văn hóa trên địa bàn tỉnh Hậu Giang
Trung tâm văn hóa tỉnh Hậu Giang chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và hoạt động của Sở Văn hóa Thể thao&Du lịch; đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ của Cục Văn hóa cơ sở
- Nhiệm vụ: hướng dẫn và tổ chức thực hiện kế hoạch hoạt động thông tin tuyên truyền cổ động phục vụ các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và quy hoạch hệ thống cổ động trực quan trên địa bàn tỉnh
Hướng dẫn, kiểm tra và đánh giá chất lượng hoạt động chuyên môn nghiệp
vụ (kể cả xếp hạng) đối với các trung tâm văn hóa thông tin-thể thao cấp huyện, thị, thành phố trực thuộc tỉnh; có kế hoạch, chương trình liên kết hướng dẫn về chuyên môn phong trào văn hóa văn nghệ các ngành và đoàn thể quần chúng
Nghiên cứu, thể nghiệm mẫu hình nghiệp vụ văn hoá thông tin ở cơ sở, tổng kết phương pháp công tác tiên tiến, phổ biến hướng dẫn vận dụng các mẫu hình và phương pháp nghiệp vụ văn hóa văn nghệ ở cơ sở (Chỉ đạo hoạt động các đội văn nghệ; đội tuyên truyền lưu động; nhóm sở thích-câu lạc bộ văn hoá)
Cụ thể hoá các tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ của Cục Văn hóa cơ sở phù hợp với địa phương; biên soạn các chương trình, tài liệu tập huấn nghiệp vụ, nội dung tuyên truyền cổ động, chương trình biểu diễn văn nghệ quần chúng, sinh hoạt nhóm
sở thích-câu lạc bộ; biên tập phổ biến tác phẩm thuộc các loại hình nghệ thuật quần chúng (thơ, ca dao, truyện ngắn, sân khấu, âm nhạc, hội hoạ và các loại hình nghệ thuật khác)
Khai thác, kế thừa và phát huy vốn văn nghệ dân gian truyền thống, gìn giữ bản sắc văn hoá dân tộc
Tổ chức hội thi, hội diễn nghệ thuật quần chúng, hội thi thông tin lưu động, thi sáng tác tranh cổ động, cụm panô cổ động; phát hành tài liệu tuyên truyền, tranh
cổ động phục vụ nhiệm vụ trung tâm văn hóa trên địa bàn tỉnh
Tổ chức bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho công chức, viên chức của đơn vị và các trung tâm văn hóa TT-TT cấp huyện, thị xã, nhà văn
Trang 34hóa, các hạt nhân phong trào văn hóa, văn nghệ quần chúng, tuyên truyền cổ động, triển lãm ở cơ sở Mở các lớp năng khiếu về văn hóa văn nghệ, hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ cho các đối tượng quần chúng sáng tạo và hưởng thụ văn hóa văn nghệ
Tổ chức hoạt động văn hoá tại trung tâm và lưu động bằng các loại hình văn hoá tổng hợp định hướng và nâng cao thị hiếu thẩm mỹ, trình độ, cảm thụ văn hoá, nghệ thuật tiếp nhận thông tin mới và đa dạng, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hoá của quần chúng
Tổ chức khảo sát, tham quan, trao đổi nghiệp vụ, giao lưu văn hóa, văn nghệ với các đơn vị có liên quan trong toàn quốc; tổ chức sinh hoạt các loại hình nhóm sở thích-câu lạc bộ và các hoạt động vui chơi giải trí tại trung tâm
Thực hiện một số dịch vụ văn hóa, thể thao, quảng cáo và tổ chức sự kiện; liên kết với các cơ quan, đoàn thể quần chúng, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế nhằm đổi mới và nâng cao chất lượng nghiệp vụ, đảm bảo tính giáo dục tư tưởng, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc
Thực hiện các nhiệm vụ khác do Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch giao” [22]
1.2.1.2 Trung tâm Văn hoá - Thể thao cấp huyện
Toàn tỉnh Hậu Giang có 07 Trung tâm văn hóa-Thể thao ở các huyện, thị, thành: Vị Thuỷ, Long Mỹ, Phụng Hiệp, Châu Thành, Châu Thành A, thị xã Ngã Bảy và thành phố Vị Thanh
Trung tâm văn hóa-Thể thao cấp huyện là đơn vị sự nghiệp thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện; có tư cách pháp nhân, có con dấu và được mở tài khoản theo quy định của pháp luật Trung tâm văn hóa cấp huyện có chịu sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Ủy ban nhân dân huyện và sự quản lý Nhà nước của phòng Văn hóa Thông tin-Thể thao huyện Đồng thời, chịu sự chỉ đạo hướng dẫn về nghiệp vụ chuyên môn của trung tâm văn hóa cấp tỉnh Cũng giống như trung tâm văn hóa tỉnh, trung tâm văn hóa huyện vừa tổ chức các hoạt động chuyên môn phục vụ các nhiệm vụ chính trị địa phương vừa chỉ đạo, hướng dẫn trực tiếp về hoạt động
Trang 35nghiệp vụ cho các trung tâm văn hóa xã và nhà văn hóa ấp Trung tâm văn hóa huyện được xác định là một cấp trung gian, chuyển tiếp các hoạt động chuyên môn trong hệ thống trung tâm văn hóa
- 02 Phó giám đốc: giúp giám đốc điều hành trung tâm; được giám đốc giao phụ trách một số công việc, lĩnh vực công tác cụ thể và chịu trách nhiệm trước giám đốc về công việc được phân công Khi vắng mặt, giám đốc có thể ủy quyền cho một trong các phó giám đốc điều hành và giải quyết công việc của trung tâm
Các bộ phận chuyên môn, nghiệp vụ
Biên chế của các trung tâm văn hóa cấp huyện của tỉnh Hậu Giang từ 12 đến
15, ngoài ban giám đốc còn có các bộ phận chuyện môn sau:
- Bộ phận (hoặc đội) Thông tin-Cổ động: có nhiệm vụ tổ chức các hoạt động tại chỗ và lưu động về thông tin, tuyên truyền-cổ động, triển lãm; biên soạn, in ấn tài liệu thông tin, tuyên truyền; tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ về tuyên truyền,
cổ động cho cán bộ nghiệp vụ ở cơ sở (xã, phường, thị trấn) và thực hiện các dịch
vụ công ích về tuyên truyền-cổ động
- Bộ phận văn hóa văn nghệ quần chúng: có nhiệm vụ nghiên cứu nhu cầu và
tổ chức các hoạt động liên hoan, hội thi, hội diễn văn nghệ quần chúng, lễ hội truyền thống, xây dựng các đội nghệ thuật quần chúng, các loại hình sinh hoạt câu lạc bộ, nhóm sở thích, các lớp năng khiếu về nghệ thuật, biên soạn, in ấn các tài liệu nghiệp vụ hướng dẫn hoạt động phong trào văn nghệ quần chúng ở cơ sở Bồi dưỡng, tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ về phương pháp công tác văn hóa, văn hóa cho cán bộ nhà văn hóa xã, phường, thị trấn
Trang 36- Bộ phận Hành chính-Quản trị-Dịch vụ: có nhiệm vụ thực hiện công tác hành chính-quản trị, văn thư lưu trữ; quản lý, cung ứng vật tư, trang thiết bị cho hoạt động của trung tâm; xây dựng kế hoạch tài chính-kế toán; thực hiện công tác thống kê, báo cáo và các hoạt động nội bộ của trung tâm Khai thác, tổ chức các dịch vụ theo chức năng, nhiệm vụ trên cơ sở phát huy hiệu quả cơ sở vật chất và trình độ chuyên môn của viên chức trung tâm
Nguồn tài chính
- Ngân sách nhà nước cấp: kinh phí đảm bảo cho các hoạt động theo kế hoạch được giao; kinh phí thực hiện các nhiệm vụ đột xuất được cơ quan nhà nước
có thẩm quyền giao; kinh phí đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang, thiết
bị ứng dụng công nghệ phục vụ hoạt động sự nghiệp theo kế hoạch hàng năm
- Nguồn thu từ các hoạt động nghiệp vụ: thu từ hoạt động nghiệp vụ như biểu diễn nghệ thuật, chiếu phim, các lớp kỹ năng ngành nghề, các câu lạc bộ, nhóm sở thích, lớp năng khiếu, tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ; các hội thi, hội diễn, liên hoan
Các nguồn thu khác theo quy định của pháp luật, như dịch vụ, viện trợ, quà biếu, tặng của cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước (nếu có)
1.2.1.3 Trung tâm Văn hoá-Thể thao xã (nhà văn hóa xã)
Toàn tỉnh Hậu Giang có 74 trung tâm văn hóa-Thể thao xã, phường, thị trấn Hầu hết các trung tâm văn hóa được xây dựng rất lâu đời, cơ sở vật chất và trang thiết bị đều bị xuống cấp Riêng chỉ có các xã nông thôn mới và các xã đang thực hiện chủ trương xây dựng nông thôn mới thì trụ sở được xây dựng mới theo Thông
tư số 12/2010/TT-BVHTTDL ngày 22 tháng 12 năm 2010 của Bộ Văn hóa, Thể thao và
Du lịch quy định mẫu về tổ chức, hoạt động và tiêu chí của Trung tâm văn hóa-Thể
thao xã
Trung tâm văn hóa-Thể thao xã chịu sự quản lý lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Ủy ban nhân dân xã và sự chỉ đạo, hướng dẫn về nghiệp vụ chuyên môn của trung tâm văn hóa cấp huyện Trung tâm văn hóa huyện vừa tổ chức các hoạt động
Trang 37chuyên môn phục vụ các nhiệm vụ chính trị địa phương vừa chỉ đạo, hướng dẫn trực tiếp về hoạt động nghiệp vụ cho các nhà văn hóa ấp
“Trung tâm văn hóa-Thể thao xã là nơi tổ chức các hoạt động văn hóa-thể thao và học tập của cộng đồng xã, bao gồm: nhà văn hóa đa năng (hội trường, phòng chức năng, phòng tập, các công trình phụ trợ và các dụng cụ, trang thiết bị tương ứng theo quy định) và sân thể thao phổ thông (sân bóng đá, sân bóng chuyền, các sân nhảy cao, nhảy xa, đẩy tạ và tổ chức các môn thể thao dân tộc của địa phương) Diện tích đất qui hoạch (không tính diện tích sân vận động) tối thiểu là 2.500m2 Hội trường văn hóa đa năng với qui mô tối thiểu 250 chỗ ngồi
Có đủ 5 phòng chức năng: phòng hành chính; phòng thông tin; phòng đọc sách, báo; phòng truyền thanh và câu lạc bộ Phòng tập thể thao đơn giản để huấn luyện, giảng dạy và tổ chức thi đấu thể thao có diện tích 38m x 18m Các công trình phụ trợ: nhà để xe, khu vệ sinh, vườn hoa Có đủ các trang thiết bị nhà văn hóa: bàn ghế, giá, tủ, trang bị âm thanh, ánh sáng, thông gió, đài truyền thanh
Có đủ dụng cụ chuyên dùng cho các môn thể thao phù hợp với phong trào thể thao quần chúng ở xã Sân thể thao phổ thông diện tích 90m x 120m, gồm: sân bóng đá, ở hai đầu sân bóng đá có thể bố trí sân bóng chuyền, sân nhảy cao, nhảy
xa, sân đẩy tạ và một số môn thể thao dân tộc của địa phương” [24, tr.26]
về nghiệp vụ của trung tâm Văn hóa-Thể thao cấp huyện
“Chức năng: góp phần tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; kiến thức khoa học, kỹ thuật; giáo dục
tư tưởng, đạo đức, lối sống, nếp sống văn hóa lành mạnh trên địa bàn ấp Nơi sinh
Trang 38hoạt văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, vui chơi giải trí, nâng cao mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân, góp phần xây dựng nông thôn mới, là nơi tổ chức hội họp, học tập cộng đồng và các sinh hoạt khác ở ấp
Nhà văn hóa ấp có diện tích đất xây dựng từ 500m2 trở lên và khu thể thao có diện tích đất từ 2000m2 trở lên Hội trường từ 100 chỗ ngồi trở lên; sân khấu trong hội trường từ 30m2 trở lên; sân tập thể thao đơn giản có từ 250m2 trở lên; có công trình phụ khác như: nhà để xe, khu vệ sinh, vườn hoa, cổng, tường rào bảo vệ; ngoài
ra còn xây dựng những công trình thể thao khác theo quy định của Chính phủ” [24, tr.25]
1.2.2 Phong trào xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Hậu Giang
- Đặc điểm tình hình
“Hậu Giang là tỉnh thuần nông diện tích tự nhiên khoảng 160.114 ha trong
đó diện tích đất nông nghiệp 140.457 ha chiếm 87%; có 07 đơn vị hành chính gồm
05 huyện, 01 thị xã, 01 thành phố với 54 xã, 20 phường, thị trấn Dân số là 779.325 người, 183.000 hộ, trong đó khu vực nông thôn chiếm trên 76%
Với tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm đạt trên 13%, Hậu Giang đang tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, tăng dần tỷ trọng công nghiệp-xây dựng, dịch vụ; kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ thu ngoại tệ trên 300 triệu USD; tổng vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn được duy trì ở mức trên 12.000 tỷ đồng/năm; tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn năm 2014 trên 6.000 tỷ đồng Quốc phòng, an ninh được giữ vững ổn định Hệ thống chính trị được củng cố, kiện toàn
Quán triệt đầy đủ, quyết tâm cao trong chỉ đạo của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh đối với việc thực hiện các chỉ tiêu kinh tế-xã hội, an ninh quốc phòng hàng năm Trong đó, chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới
là một trong những chương trình có yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của người dân nông thôn được Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh hết sức quan tâm trong
chỉ đạo thực hiện” [22]
- Kết quả cụ thể
Trang 39“Tính đến tháng 4 năm 2015, toàn tỉnh Hậu Giang đã công nhận được 7 xã
đạt chuẩn nông thôn mới gồm: xã Đại Thành, xã Tân Thành (thị xã Ngã Bảy); xã
Thạnh Hòa (huyện Phụng Hiệp); xã Vị Thanh (huyện Vị Thủy); xã Tân Tiến, xã Vị
Tân (thành phố Vị Thanh); xã Vĩnh Viễn (huyện Long Mỹ)
Phân theo từng tiêu chí: tiêu chí có ít xã đạt nhất là tiêu chí số 06 về cơ sở
vật chất văn hóa, chỉ có 7/54 xã đạt, chiếm 12,96%; kế đến là tiêu chí số 02 về giao
thông (11/54 xã đạt), chiếm 20,37% và số 17 về môi trường (14/54 xã đạt), chiếm
25,93% Tiêu chí có xã đạt nhiều nhất là tiêu chí số: 01 về quy hoạch, 08 về bưu
điện, 14 về giáo dục, 16 về văn hóa và 19 về an ninh trật tự, có từ 50 xã đạt trở lên
Phân theo nhóm tiêu chí: nhóm I (đạt 19 tiêu chí) có 07 xã, chiếm 12,96%,
nhóm II (đạt từ 15 - 18 tiêu chí) có 06 xã, chiếm 11,11%; nhóm III (đạt từ 10 - 14
tiêu chí) có 20 xã, chiếm 37,04%; nhóm IV (đạt từ 05-09 tiêu chí) có 21 xã, chiếm
38,89% Đặc biệt đến cuối năm 2014, tỉnh không còn xã ở nhóm V là nhóm có xã
đạt dưới 05 tiêu chí” [23]
1.3 Tổng quan về xã Vị Thanh, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang
1.3.1 Lịch sử hình thành vùng đất
Tìm hiểu xã Vị Thanh, cũng có nghĩa là tìm về lịch sử một vùng đất hoang
vu, có nhiều tràm, điên điển, cỏ dại mọc và nhiều loại thú dữ Năm 1901, quận
Long Mỹ được thành lập gồm 3 tổng: Thanh Giang, Thanh Tuyền và An Ninh; có
21 làng Làng Vị Thanh (ngày nay bao gồm các xã Vị Bình, Vị Thanh, Vị Đông và
các phường 1, 3, 4, 5, xã Vị Tân của thành phố Vị Thanh), thuộc tổng An Ninh của
quận Long Mỹ, có các ấp: Cải Sết A, Cải Sết B, Tràm Cửa, Nàng Chăn, Cái Sình,
Cái Nhum, Cái Nhúc Khi mới thành lập, quận Long Mỹ thuộc tỉnh Rạch Giá Cuối
năm 1951, do yêu cầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, tỉnh
Gạch Giá giải thể và được xác nhập vào 03 tỉnh Cần Thơ, Sóc Trăng và Bạc Liêu,
quận Long Mỹ thuộc tỉnh Cần Thơ Cũng trong năm 1951, xã Vị Thanh được chia
thành 2 xã Vị Tân và Vị Thanh cho đến năm 1954 thì hợp nhất thành xã Vị Thanh
Sau ngày ký kết Hiệp định Giơnevơ năm 1954, do yêu cầu của tình hình mới,
tỉnh Rạch Giá được thành lập lại, huyện Long Mỹ được giao về tỉnh Rạch Giá quản
Trang 40lý đến tháng 4 năm 1957, lại giao về tỉnh Cần Thơ nhưng tỉnh Rạch Giá giữ lại xã
Vị Thanh và nhập vào huyện Giồng Riềng Năm 1959, do yêu cầu chỉ đạo phong trào cách mạng, xã Tân Hòa thuộc huyện Châu Thành giao về cho xã Vị Thanh quản lý 04 ấp, gồm: ấp 5, 6, 7, 8 (chạy dọc theo hai bên kênh Xáng Xà No từ Tám Ngàn đến Mười Bốn Ngàn Rưỡi) Tháng 7 năm 1960, huyện Giồng Riềng, tỉnh Rạch Giá giao xã Vị Thanh về cho huyện Long Mỹ, tỉnh Cần Thơ quản lý Do yêu cầu chỉ đạo phong trào cách mạng, ngày 09 tháng 3 năm 1961, Huyện ủy Long Mỹ
đã quyết định thành lập thị trấn Vị Thanh bao gồm các ấp Cái Nhum, Cái Nhúc Để chỉ đạo sâu sát tình hình, ngày 28 tháng 6 năm 1966 Tỉnh ủy Cần Thơ quyết định thành lập thị xã Vị Thanh bao gồm thị trấn Vị Thanh và các ấp Cái Sình, Tràm Cửa, Nàng Chăn, 1 phần ấp 4, 1 phần ấp 5 của xã Vị Thanh Năm 1982, xã Vị Thanh được chia làm 4 xã: Vị Đông, Vị Xuân, Vị Thanh, Vị Bình; đến năm 1991 xã Vị Đông và Vị Xuân nhập lại thành xã Vị Thanh
Đến tháng 9 năm 1999, huyện Vị Thủy được thành lập, xã Vị Thanh thuộc huyện Vị Thủy được chia thành 2 xã Vị Thanh và Vị Bình Xã Vị Thanh qua thời gian thay đổi nhiều tên ấp, cho đến nay có 07 ấp: ấp 1, 3, 5, 7A1, 7A2, 7B1, 7B2
1.3.2 Vị trí địa lý, môi trường tự nhiên và xã hội
Hiện nay, (6/2015) xã Vị Thanh có diện tích 20,30 km2; phía Đông giáp xã
Vị Bình; phía Bắc giáp xã Hòa Hưng, phía Tây giáp xã Vị Đông; phía Đông giáp xã Vĩnh Trung (PL1, H 1.1) Xã Vị Thanh có hệ thống sông ngòi khá chằng chịt, kênh xáng Xà No được Pháp đào năm (1901-1903) nhằm phục vụ cho mưu đồ chính trị
và khai thác thuộc địa của chúng Đây là một trong 4 con kênh đầu tiên ở Nam Kỳ,
có bề mặt rộng 60 m, đáy rộng 40 m, nối liền đường thủy từ thành phố Cần Thơ đến
xã Vị Thanh và còn thông với hệ thống sông ngòi ở các tỉnh Rạch Giá, Bạc Liêu, Cà Mau Đây là đường giao thông thủy rất quan trọng đối với các tỉnh trong khu vực Nam sông Hậu Ngoài ra, còn nhiều kênh rạch khác như: kênh Mười Thước, kênh lộ
62, kênh 59, kênh Tám Ngàn, Chín Ngàn Rưởi, Mười Hai, Mười Ba, Mười Bốn, Hội Đồng, kênh Ông Hai … giúp cho giao thông đường thủy đi lại rất dễ dàng Ngoài hệ thống giao thông đường thủy, hệ thống giao thông đường bộ của xã gồm 3