1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Xây dựng tiêu chuẩn tuyển chọn vđv năng khiếu chạy 400m giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu lứa tuổi 13 15

247 657 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 247
Dung lượng 7,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những năm gần đây, thành tích của các vận động viên VĐV Điền Kinh đã có những bước tiến rất đáng khích lệ, một trong những yếu tố để đạt được và duy trì thành tích thể thao cao trong quá

Trang 1

Mẫu 4: Trang phụ bìa luận án

––––––––––––––––––––––––––

VŨ QUỲNH NHƢ

XÂY DỰNG TIÊU CHUẨN TUYỂN CHỌN

VẬN ĐỘNG VIÊN NĂNG KHIẾU CHẠY 400M GIAI ĐOẠN CHUYÊN MÔN HOÁ BAN ĐẦU LỨA TUỔI 13-15

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Hà Nội, 2016

Trang 2

––––––––––––––––––––––––––

VŨ QUỲNH NHƢ

XÂY DỰNG TIÊU CHUẨN TUYỂN CHỌN

VẬN ĐỘNG VIÊN NĂNG KHIẾU CHẠY 400M GIAI ĐOẠN CHUYÊN MÔN HOÁ BAN ĐẦU LỨA TUỔI 13-15

Chuyên ngành: Huấn luyện thể thao

Mã số: 62.14.01.04 LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Cán bộ hướng dẫn khoa học:

1 PGS.TS Vũ Chung Thuỷ

2 GS.TS Nguyễn Đại Dương

Hà Nội – 2016

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trình bày trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào

Tác giả luận án

Vũ Quỳnh Nhƣ

Trang 4

Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục viết tắt Danh mục bảng, biểu đồ, sơ đồ sử dụng trong luận án

PHẦN MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5

1.1 Tổng quan vấn đề tuyển chọn VĐV năng khiếu và dự báo

thể thao 5

1.2 Các giai đoạn tuyển chọn và khoa học tuyển chọn trong

thực tiễn huấn luyện

19 1.2.1 Tuyển chọn ban đầu và tuyển chọn chuyên môn hóa ban đầu 21

1.2.2 Tuyển chọn chuyên môn hóa sâu và tuyển chọn VĐV ưu tú 23

1.3 Quan điểm nghiên cứu những đặc trưng mô hình và một

số công trình của các tác giả trong và ngoài nước về tuyển chọn thể thao

26

1.3.1 Các quan điểm nghiên cứu về việc xác định những đặc trưng

1.3.2 Một số công trình nghiên cứu về tuyển chọn của các tác giả

trong và ngoài nước

31

1.4 Đặc điểm tâm lý, sinh lý và hình thái của VĐV năng

khiếu chạy 400m lứa tuổi 13 – 15

36

1.4.1 Đặc điểm tâm lý của VĐV trong chạy 400m 36 1.4.2 Đặc điểm sinh lý của VĐV trong chạy 400m 37 1.4.3 Đặc điểm hình thái của VĐV chạy 400m 42

1.5 Vai trò, đặc điểm tố chất thể lực chuyên môn, các phương

pháp và phương tiện huấn luyện đối với thành tích chạy 400m lứa tuổi 13 – 15

2.1 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 58

Trang 5

2.3 Tổ chức nghiên cứu 77

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 80

3.1 Thực trạng công tác tuyển chọn VĐV năng khiếu chạy

400m giai đoạn chuyên môn hoá ban đầu lứa tuổi 13-15

80

3.1.1 Thực trạng sử dụng các hình thức tuyển chọn VĐV năng khiếu

chạy 400m giai đoạn chuyên môn hoá ban đầu

80

3.1.2 Thực trạng sử dụng các phương pháp tuyển chọn VĐV năng

khiếu chạy 400m giai đoạn chuyên môn hoá ban đầu 84 3.1.3 Thực trạng sử dụng các chỉ tiêu và tiêu chuẩn tuyển chọn VĐV

năng khiếu chạy 400m giai đoạn chuyên môn hoá ban đầu

88

3.1.4 Thực trạng hiệu quả tuyển chọn VĐV năng khiếu chạy 400m

giai đoạn chuyên môn hoá ban đầu lứa tuổi 13-15

91

3.2 Xây dựng tiêu chuẩn tuyển chọn VĐV năng khiếu chạy

400m giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu lứa tuổi 13-15

97

3.2.1 Nghiên cứu lựa chọn nội dung và các tố chất thể lực đặc trưng

trong tuyển chọn VĐV năng khiếu chạy 400m giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu lứa tuổi 13-15

97

3.2.2 Lựa chọn các chỉ tiêu ứng dụng trong tuyển chọn VĐV chạy

400m giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu

99

3.2.3 Xây dựng tiêu chuẩn phân loại ứng dụng trong tuyển chọn

VĐV chạy 400m lứa tuổi 13-15 giai đoạn chuyên môn hoá ban đầu

108

3.3 Kiểm nghiệm và đánh giá hiệu quả hệ thống chỉ tiêu, tiêu

chuẩn tuyển chọn VĐV năng khiếu chạy 400m giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu lứa tuổi 13-15

132

3.3.1 Kiểm nghiệm và đánh giá hiệu quả hệ thống chỉ tiêu, tiêu

chuẩn tuyển chọn VĐV năng khiếu chạy 400m giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu lứa tuổi 13-15 của các đơn vị

132

3.3.2 Kiểm nghiệm và đánh giá hiệu quả hệ thống chỉ tiêu, tiêu

chuẩn tuyển chọn VĐV năng khiếu chạy 400m giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu đối với từng lứa tuổi 13,14,15

135

3.3.3 Kiểm nghiệm và đánh giá hiệu quả hệ thống chỉ tiêu, tiêu 144

Trang 7

TT HL Trung tâm huấn luyện

TT TDTT Trung tâm thể dục thể thao

Trang 9

Chiều cao, cân nặng và chỉ số Quetelet của 8 nam VĐV chung kết 400m tại Giải vô địch Điền kinh thế giới năm

1.7 Thời gian chạy vượt qua các đoạn 100m trong chạy

1.8

Tốc độ chạy trung bình trên các cự ly trong chạy ngắn của các VĐV hàng đầu TG và của các VĐV giữ kỷ lục của Việt Nam

Kết quả phỏng vấn thực trạng sử dụng các hình thức tuyển chọn VĐV chạy 400m giai đoạn chuyên môn hoá

3.2

Kết quả phỏng vấn thực trạng sử dụng các phương pháp trong tuyển chọn VĐV chạy 400m giai đoạn chuyên môn hoá ban đầu lứa tuổi 13-15 (n = 56)

87

3.3

Kết quả phỏng vấn thực trạng sử dụng các chỉ tiêu và tiêu chuẩn tuyển chọn VĐV chạy 400m giai đoạn chuyên môn hoá ban đầu lứa tuổi 13-15 (n = 56)

Sau

88 3.4

Hiệu quả tuyển chọn VĐV năng khiếu chạy cự ly 400m giai đoạn chuyên môn hoá ban đầu lứa tuổi 13-15 tại các đơn vị từ năm 2006 – 2010

92

3.5 Kết quả phỏng vấn lựa chọn nội dung và các tố chất thể

lực đối với thành tích chạy 400m lứa tuổi 13-15 (n = 56) 98 3.6

Kết quả phỏng vấn lựa chọn các chỉ tiêu tuyển chọn VĐV chạy 400m lứa tuổi 13-15 giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu (n = 56)

Sau

104

Trang 10

3.7 VĐV chạy 400m lứa tuổi 13-15 giai đoạn chuyên môn

3.8 Mối tương quan giữa lần 1 và lần 2 các chỉ tiêu với thành

tích chạy 400m của VĐV tại các đơn vị 106 3.9

Kết quả kiểm tra các chỉ tiêu ban đầu của VĐV chạy 400m lứa tuổi 13 của các đơn vị Quân Đội – Bộ Công

An – Hà Nội

Phụ lục 3 3.10

Kết quả kiểm tra các chỉ tiêu ban đầu của VĐV chạy 400m lứa tuổi 13 của các đơn vị Bắc Ninh – Nam Định – Thanh Hoá

Phụ lục 3 3.11

Kết quả kiểm tra các chỉ tiêu ban đầu của VĐV chạy 400m lứa tuổi 14 của các đơn vị Quân Đội – Bộ Công

An – Hà Nội

Phụ lục 3 3.12

Kết quả kiểm tra các chỉ tiêu ban đầu của VĐV chạy 400m lứa tuổi 14 của các đơn vị Bắc Ninh – Nam Định – Thanh Hoá

Phụ lục 3 3.13

Kết quả kiểm tra các chỉ tiêu ban đầu của VĐV chạy 400m lứa tuổi 15 của các đơn vị Quân Đội – Bộ Công

An – Hà Nội

Phụ lục 3 3.14

Kết quả kiểm tra các chỉ tiêu ban đầu của VĐV chạy 400m lứa tuổi 15 của các đơn vị Bắc Ninh – Nam Định – Thanh Hoá

Phụ lục 3 3.15 So sánh kết quả kiểm tra các chỉ tiêu tuyển chọn của

VĐV Nam chạy 400m lứa tuổi 13-14-15 (n=58)

Sau

109 3.16 So sánh kết quả kiểm tra các chỉ tiêu tuyển chọn của

VĐV Nữ chạy 400m lứa tuổi 13-14-15 (n=58)

Sau

109 3.17 Bảng tiêu chuẩn phân loại ứng dụng trong tuyển chọn

cho VĐV chạy 400m lứa tuổi 13 Sau 113 3.18 Bảng tiêu chuẩn phân loại ứng dụng trong tuyển chọn

cho VĐV chạy 400m lứa tuổi 14 Sau 113 3.19 Bảng tiêu chuẩn phân loại ứng dụng trong tuyển chọn

cho VĐV chạy 400m lứa tuổi 15 Sau 113 3.20 Bảng điểm tuyển chọn cho VĐV chạy 400m lứa tuổi 13 Sau

114 3.21 Bảng điểm tuyển chọn cho VĐV chạy 400m lứa tuổi 14 Sau

114 3.22 Bảng điểm tuyển chọn cho VĐV chạy 400m lứa tuổi 15 Sau

114 3.23 Hệ số tương quan giữa các yếu tố thành phần với thành

tích của VĐV chạy 400m lứa tuổi 13 118

Trang 11

120

3.27

Bảng đánh giá tiêu chuẩn tuyển chọn cho VĐV chạy 400m lứa tuổi 13-15 bằng điểm theo từng chỉ tiêu trung bình không tính đến tỷ trọng ảnh hưởng

122

3.28 Bảng đánh giá phân loại tiêu chuẩn tuyển chọn cho VĐV

chạy 400m lứa tuổi 13 có tính đến tỷ trọng ảnh hưởng 123 3.29 Bảng đánh giá phân loại tiêu chuẩn tuyển chọn cho VĐV

chạy 400m lứa tuổi 14 có tính đến tỷ trọng ảnh hưởng 124 3.30 Bảng đánh giá phân loại tiêu chuẩn tuyển chọn cho VĐV

chạy 400m lứa tuổi 15 có tính đến tỷ trọng ảnh hưởng 125 3.31

Kết quả kiểm tra các chỉ tiêu sau thời gian tuyển chọn VĐV chạy 400m lứa tuổi 13 của Trung tâm TDTT Quân Đội n = 7 (Nam = 3); (Nữ =4)

Phụ lục 4 3.32

Kết quả kiểm tra các chỉ tiêu sau thời gian tuyển chọn VĐV chạy 400m lứa tuổi 13 của Trung tâm TDTT Bộ Công An n = 6 (Nam = 4); (Nữ =2)

Phụ lục 4 3.33

Kết quả kiểm tra các chỉ tiêu sau thời gian tuyển chọn VĐV chạy 400m lứa tuổi 13 của Trung tâm Huấn luyện

và thi đấu Hà Nội n = 11 (Nam = 5); (Nữ =6)

Phụ lục 4 3.34

Kết quả kiểm tra các chỉ tiêu sau thời gian tuyển chọn VĐV chạy 400m lứa tuổi 13 của Trung tâm đào tạo VĐV Trường ĐH TDTT Bắc Ninh n = 5 (Nam = 3); (Nữ =2)

Phụ lục 4 3.35

Kết quả kiểm tra các chỉ tiêu sau thời gian tuyển chọn VĐV chạy 400m lứa tuổi 13 của Trường năng khiếu nghiệp vụ TDTT Nam Định n = 4 (Nam = 2); (Nữ =2)

Phụ lục 4 3.36

Kết quả kiểm tra các chỉ tiêu sau thời gian tuyển chọn VĐV chạy 400m lứa tuổi 13 của Trường Cao Đẳng TDTT Thanh Hoá n = 4 (Nam = 2); (Nữ =2)

Phụ lục 4 3.37

Kết quả kiểm tra các chỉ tiêu sau thời gian tuyển chọn VĐV chạy 400m lứa tuổi 14 của Trung tâm TDTT Quân Đội n = 5 (Nam = 3); (Nữ =2)

Phụ lục 4 3.38

Kết quả kiểm tra các chỉ tiêu sau thời gian tuyển chọn VĐV chạy 400m lứa tuổi 14 của Trung tâm TDTT Bộ Công An n = 5 (Nam = 2); (Nữ =3)

Phụ lục 4

Trang 12

3.39 VĐV chạy 400m lứa tuổi 14 của Trung tâm Huấn luyện

và thi đấu TDTT Hà Nội n = 15 (Nam = 7); (Nữ =8)

Phụ lục 4

3.40

Kết quả kiểm tra các chỉ tiêu sau thời gian tuyển chọn VĐV chạy 400m lứa tuổi 14 của Trung tâm đào tạo VĐV Trường ĐH TDTT Bắc Ninh n = 4 (Nam = 2); (Nữ =2)

Phụ lục 4

3.41

Kết quả kiểm tra các chỉ tiêu sau thời gian tuyển chọn VĐV chạy 400m lứa tuổi 14 của Trường năng khiếu nghiệp vụ TDTT Nam Định n = 5 (Nam = 2); (Nữ =3)

Phụ lục 4

3.42

Kết quả kiểm tra các chỉ tiêu sau thời gian tuyển chọn VĐV chạy 400m lứa tuổi 14 của Trường Cao Đẳng TDTT Thanh Hoá n = 5 (Nam = 3); (Nữ =2)

Phụ lục 4 3.43

Kết quả kiểm tra các chỉ tiêu sau thời gian tuyển chọn VĐV chạy 400m lứa tuổi 15 của Trung tâm TDTT Quân Đội n = 6 (Nam = 3); (Nữ =3)

Phụ lục 4 3.44

Kết quả kiểm tra các chỉ tiêu sau thời gian tuyển chọn VĐV chạy 400m lứa tuổi 15 của Trung tâm TDTT Công

An n = 5 (Nam = 2); (Nữ =3)

Phụ lục 4 3.45

Kết quả kiểm tra các chỉ tiêu sau thời gian tuyển chọn VĐV chạy 400m lứa tuổi 15 của Trung tâm huấn luyện

và thi đấu Hà Nội n = 14 (Nam = 6); (Nữ =8)

Phụ lục 4 3.46

Kết quả kiểm tra các chỉ tiêu sau thời gian tuyển chọn VĐV chạy 400m lứa tuổi 15 của Trung tâm đào tạo VĐV Trường ĐH TDTT Bắc Ninh n = 4 (Nam = 2); (Nữ =2)

Phụ lục 4 3.47

Kết quả kiểm tra các chỉ tiêu sau thời gian tuyển VĐV chạy 400m lứa tuổi 15 của Trường năng khiếu nghiệp vụ TDTT Nam Định n = 6 (Nam = 3); (Nữ =3)

Phụ lục 4 3.48

Kết quả kiểm tra các chỉ tiêu sau thời gian tuyển chọn VĐV chạy 400m lứa tuổi 15 của Trường Cao Đẳng TDTT Thanh Hoá n = 6 (Nam = 3); (Nữ =3)

Phụ lục 4 3.49 Bảng phân nhóm tiêu chuẩn tuyển chọn cho VĐV năng

khiếu chạy 400m lứa tuổi 13–15 giai đoạn CMH ban đầu 134 3.50 Kết quả kiểm tra các chỉ tiêu sau thời gian tuyển chọn

VĐV chạy 400m lứa tuổi 13 n =37 (Nam =19); (Nữ =18)

Sau

135 3.51 Kết quả kiểm tra các chỉ tiêu sau thời gian tuyển chọn

VĐV chạy 400m lứa tuổi 14 n =39 (Nam =19); (Nữ =20)

Sau

135 3.52 Kết quả kiểm tra các chỉ tiêu sau thời gian tuyển chọn

VĐV chạy 400m lứa tuổi 15 n =42 (Nam =20); (Nữ =22)

Sau

135 3.53 Kết quả điểm tuyển chọn VĐV chạy 400m lứa tuổi 13-15

sau qúa trình tuyển chọn 12 tháng (n=10) 143

Trang 13

146

3.56

Hiệu quả tuyển chọn VĐV năng khiếu chạy 400m giai đoạn chuyên môn hoá ban đầu lứa tuổi 13-15 sau 6 tháng, 12 tháng kiểm nghiệm

tích chạy 400m của Nam VĐV lứa tuổi 14

Sau

121 3.5 Tỷ trọng ảnh hưởng của các yếu tố thành phần tới thành

tích chạy 400m của Nữ VĐV lứa tuổi 14

Sau

121 3.6 Tỷ trọng ảnh hưởng của các yếu tố thành phần tới thành

tích chạy 400m của Nam VĐV lứa tuổi 15

Sau

121 3.7 Tỷ trọng ảnh hưởng của các yếu tố thành phần tới thành

tích chạy 400m của Nữ VĐV lứa tuổi 15 122 3.8 Nhịp tăng trưởng của các chỉ tiêu sau thời gian tuyển

chọn VĐV chạy 400m của Nam lứa tuổi 13 141 3.9 Nhịp tăng trưởng của các chỉ tiêu sau thời gian tuyển

chọn VĐV chạy 400m của Nữ lứa tuổi 13 Sau 141 3.10 Nhịp tăng trưởng của các chỉ tiêu sau thời gian tuyển

chọn VĐV chạy 400m của Nam lứa tuổi 14 Sau 141 3.11 Nhịp tăng trưởng của các chỉ tiêu sau thời gian tuyển

chọn VĐV chạy 400m của Nữ lứa tuổi 14 Sau 141 3.12 Nhịp tăng trưởng của các chỉ tiêu sau thời gian tuyển

chọn VĐV chạy 400m của Nam lứa tuổi 15 Sau 141 3.13 Nhịp tăng trưởng của các chỉ tiêu sau thời gian tuyển

chọn VĐV chạy 400m của Nữ lứa tuổi 15 142

Trang 14

PHẦN MỞ ĐẦU

Phát triển thể thao thành tích cao là vấn đề được quan tâm của toàn xã hội cũng như của ngành thể dục thể thao (TDTT) Những năm gần đây, thành tích của các vận động viên (VĐV) Điền Kinh đã có những bước tiến rất đáng khích lệ, một trong những yếu tố để đạt được và duy trì thành tích thể thao cao trong quá trình phát triển thành tích của VĐV đó là quá trình tuyển chọn

Thể thao thành tích cao là một bộ phận cấu thành của TDTT, là động

cơ thúc đẩy phong trào TDTT quần chúng Sự phát triển của thể thao thành tích cao là biểu hiện sự phát triển của một xã hội, là cơ sở để cung cấp lực lượng VĐV, huấn luyện viên (HLV) và những cán bộ TDTT lành nghề cho đất nước Do vậy việc đào tạo tài năng thể thao một cách khoa học, theo định hướng, có mục tiêu phù hợp với quy luật phát triển kinh tế xã hội của đất nước là đòi hỏi tất yếu, là quy luật khách quan

Thực tiễn thành tích thể thao trong những năm qua đã vượt ra ngoài những dự báo Hàng loạt kỷ lục mới được thiết lập, khoảng cách giữa thắng, thua chỉ chênh lệch phần nghìn điểm, phần trăm giây hay một vài cm Thực tiễn đó đã thúc đẩy hoạt động khoa học tìm tòi những phương pháp tuyển chọn và huấn luyện mới, những nhân tố mới nhằm nâng cao thành tích thể thao Việc ứng dụng công nghệ tiên tiến hiện đại, những phương pháp mới vào quá trình huấn luyện đã tạo tiền đề thúc đẩy thể thao thành tích cao

Quá trình tổng kết kinh nghiệm của các cường quốc thể thao (Mỹ, Đức, Liên Xô cũ, Trung Quốc ) cho thấy tính kế hoạch hoá các hoạt động TDTT

là nét nổi bật trong quá trình quản lý huấn luyện Vì vậy việc chuẩn hoá các mặt huấn luyện ngày càng chiếm một vị trí quan trọng trong nền thể thao hiện đại, trong đó chuẩn hóa hệ thống các chỉ tiêu, tiêu chuẩn tuyển chọn, đặc biệt

là tuyển chọn ban đầu có vai trò then chốt, quyết định đến hiệu quả của cả hệ thống đào tạo sau này Trên thực tiễn, các nước có nền thể thao tiên tiến thì

Trang 15

việc chuẩn hoá tất cả các mặt, các khâu trong huấn luyện đã trở thành nền tảng, đặc biệt đối với các môn thể thao cá nhân mà thành tích thi đấu phụ thuộc chủ yếu vào chính bản thân VĐV

Trình độ chuyên môn có quan hệ thuận chiều với thành tích thể thao, thông qua thành tích có thể đánh giá được trình độ thể lực của VĐV và ngược lại Trình độ chuyên môn là thước đo thành tích trong quá trình huấn luyện, đào tạo Để có được thành công trong quá trình huấn luyện việc tuyển chọn VĐV năng khiếu là nhiệm vụ hàng đầu trong quá trình đào tạo VĐV

Tuyển chọn thể thao là quá trình phát hiện khả năng tiềm ẩn và triển vọng của con người về trạng thái sức khỏe, tâm lý, thể lực, chức năng sinh lý,

tố chất vận động xuất sắc có khả năng phát triển trong từng môn thể thao Tuyển chọn thể thao là quá trình được thực hiện với nhiều giai đoạn trong nhiều năm, dựa vào khả năng vận động của VĐV, cấu trúc hình thái, chức năng tâm sinh lý phù hợp với chuyên môn thể thao Tuyển chọn thể thao dựa trên việc xây dựng những cơ sở lý luận và xác định phương pháp có hiệu quả

để phát hiện năng khiếu và dự báo tài năng thể thao Tuyển chọn thể thao chuyên môn trong các môn thể thao nói chung là việc kiểm tra đánh giá được trình độ chuẩn bị thể lực ban đầu của VĐV nhằm dự báo sự phát triển các năng lực thể chất của từng giai đoạn trong quá trình huấn luyện Việc định hướng được năng lực chuyên môn chính xác sẽ là cơ sở, là nền tảng đảm bảo cho việc huấn luyện đạt kết quả với chất lượng cao

Hệ thống tuyển chọn là một khâu quan trọng trong qui trình đào tạo VĐV nhiều năm Các bước tiến hành tuyển chọn phải được tiến hành theo yêu cầu của từng môn thể thao phù hợp mức độ phát triển các tố chất thể lực, trạng thái chức năng, đặc điểm hình thái cơ thể Hệ thống tuyển chọn và định hướng thể thao thể hiện ở việc xác định đúng các chỉ số và mức độ cần thiết tối thiểu của các chỉ tiêu đối với quá trình đạt được thành tích thể thao cao

Trang 16

Trong quá trình huấn luyện và phát triển thể lực cho VĐV luôn đòi hỏi phát triển các tố chất thể lực như: Sức nhanh, sức mạnh, sức bền Đây là những tố chất quan trọng trong việc phát triển thể lực để đạt thành tích thể thao cao và cần được tuyển chọn kỹ lưỡng ngay từ giai đoạn ban đầu Chạy

cự ly ngắn bao gồm: Chạy 100m, 200m và 400m Đây là những nội dung nằm trong hệ thống thi đấu của Điền kinh Thành tích đạt được trong chạy cự ly ngắn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó có các yếu tố thể lực đặc trưng như: Tốc độ, sức mạnh tốc độ, sức bền tốc độ là những yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến thành tích của VĐV

Tuyển chọn và huấn luyện là quá trình luôn cần được quan tâm chú ý trong suốt quá trình đào tạo VĐV Ngày nay, khi đỉnh cao thành tích thể thao đang tiếp cận giới hạn sinh học của con người, lượng vận động sử dụng trong tập luyện là rất lớn, không phải ai cũng chịu đựng được Thực tiễn công tác huấn luyện các môn thể thao cho thấy: Trong nhiều trường hợp công tác huấn luyện không đạt kết quả là do hiệu quả tuyển chọn thể thao chưa đúng hoặc chưa xác định được đầy đủ các đặc điểm đặc trưng phản ánh tài năng thể thao của VĐV là những điều kiện cần cho quá trình đào tạo Một yêu cầu đối với các huấn luyện viên là phải nắm được những tiêu chuẩn tuyển chọn tài năng, các phương pháp dự báo triển vọng chuyên môn của VĐV trẻ ở các môn thể thao chuyên sâu, đặc biệt là những tiêu chuẩn, chỉ số cụ thể, đặc trưng của con người Việt Nam Tổ chức tuyển chọn trong giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu có hiệu quả sẽ cho phép bồi dưỡng, phát triển được tài năng của trẻ nói chung và VĐV Điền kinh trẻ chạy cự ly 400m nói riêng, tiết kiệm được nhiều thời gian cũng như kinh phí đào tạo

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên tôi xin đi sâu nghiên cứu đề tài

“Xây dựng tiêu chuẩn tuyển chọn VĐV năng khiếu chạy 400m giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu lứa tuổi 13-15”

Trang 17

Mục đích nghiên cứu:

Luận án lựa chọn hệ thống chỉ tiêu, xây dựng tiêu chuẩn ứng dụng trong tuyển chọn VĐV năng khiếu chạy 400m giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu lứa tuổi 13-15 phù hợp với độ tuổi và giới tính Từ kết quả đánh giá thực trạng công tác tuyển chọn VĐV năng khiếu chạy 400m Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần nâng cao hiệu quả công tác tuyển chọn cũng như công tác đào tạo VĐV chạy 400m lứa tuổi 13-15 ở Việt Nam

Mục tiêu nghiên cứu:

Để thực hiện mục đích nghiên cứu nêu trên, luận án giải quyết ba mục tiêu sau:

Mục tiêu 1: Thực trạng công tác tuyển chọn VĐV năng khiếu chạy

400m giai đoạn chuyên môn hoá ban đầu lứa tuổi 13-15

Mục tiêu 2: Xây dựng hệ thống chỉ tiêu tuyển chọn thể thao cho VĐV

năng khiếu chạy cự ly 400m giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu lứa tuổi 13 –

15

Mục tiêu 3: Kiểm nghiệm và đánh giá hiệu quả của quá trình xây dựng

hệ thống chỉ tiêu tuyển chọn thể thao cho VĐV năng khiếu chạy cự ly 400m lứa tuổi 13 – 15

Giả thuyết khoa học:

Giả định rằng nếu lựa chọn được các chỉ tiêu phản ánh được những năng lực đặc trưng đối với VĐV chạy 400m giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu lứa tuổi 13 – 15, và xây dựng được các tiêu chuẩn đánh giá theo các chỉ tiêu đó một cách khoa học thì hiệu quả công tác tuyển chọn định hướng VĐV chạy 400m lứa tuổi 13 – 15 ở Việt Nam được cải thiện, góp phần hoàn thiện qui trình tuyển chọn và nâng cao chất lượng đào tạo huấn luyện VĐV

Trang 18

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan vấn đề tuyển chọn thể thao và dự báo tài năng thể thao

1.1.1 Khái quát về tuyển chọn thể thao

Tuyển chọn tài năng thể thao là dựa vào các yếu tố cấu thành lên năng lực thi đấu của các môn thể thao, là quá trình tuyển chọn một cách chính xác những người ưu tú từ số đông trẻ dự tuyển hay từ các VĐV trẻ thông qua các yếu tố bẩm sinh và khả năng phát triển trong huấn luyện sau này, là một bộ phận quan trọng của qui trình đào tạo, huấn luyện VĐV ưu tú Từ thực tiễn huấn luyện thể thao, quá trình tuyển chọn VĐV có thể chia thành 4 giai đoạn tuyển chọn tương ứng với mỗi giai đoạn huấn luyện Các môn thể thao khác nhau có đặc trưng năng lực thi đấu khác nhau, do vậy yêu cầu nội dung, hình thức và phương pháp tuyển chọn cũng khác nhau Tuyển chọn tài năng thể thao là một khâu quan trọng trong quá trình tuyển chọn chuẩn bị nhân tài, đồng thời cũng chính là khâu quan trọng trong toàn bộ quá trình đào tạo và nâng cao trình độ của những tài năng thể thao đó [1]; [3]; [10]

Dưới góc độ lý luận và thực tiễn, tuyển chọn tài năng thể thao dựa trên

cơ sở các yếu tố cấu thành năng lực thi đấu của các môn thể thao khác nhau,

sử dụng các phương pháp kiểm tra, dự báo khoa học, chọn từ số đông trẻ em

và các VĐV trẻ những nhân tài thể thao, có những điều kiện tốt về yếu tố bẩm sinh (cơ sở nền tảng sinh học) và khả năng phát triển trong huấn luyện sau này Vì vậy, nhiệm vụ cơ bản của tuyển chọn tài năng thể thao chính là chẩn đoán, đánh giá và dự báo tiềm năng của VĐV [1], [3], [4], [10]

1.1.1.1 Các khái niệm tuyển chọn thể thao

Tiến sỹ Harre (Đức) cho rằng: Tuyển chọn là xác định khả năng của một VĐV thiếu niên có thể thành công hay không trong việc tham gia tập

Trang 19

luyện một môn thể thao trong lực lượng hậu bị, đồng thời tham gia tập luyện

và thi đấu để giành được thành tích cao ở giai đoạn tập luyện [24]

Uborich (Tiệp Khắc) khái niệm: Tuyển chọn là cách tìm kiếm những yếu tố ưu việt của điều kiện bẩm sinh, phù hợp với từng môn thể thao của mỗi người được tuyển chọn để bồi dưỡng có mục đích từ khi tuổi còn nhỏ

Theo Philin thì: Tuyển chọn thể thao đó là hệ thống các biện pháp tổ chức và phương pháp mang tính tổng hợp, bao gồm các phương pháp nghiên cứu về mặt sư phạm, xã hội, tâm lý và y sinh nhằm phát hiện các tư chất và năng khiếu của thiếu niên nhi đồng, nam, nữ thanh niên để chuyên môn hóa trong một số môn thể thao nhất định

Bungacova khái niệm: Tuyển chọn là quá trình tìm kiếm những người

có năng lực và tài năng về thể chất, có khả năng đạt thành tích cao trong những tình huống căng thẳng đặc trưng cho hoạt động thể thao

Giáo sư Neolmo của cộng hòa liên bang Đức cho rằng: Cái gọi là

“Thiên tài” – đó là sự tổng hòa các nhân tố mang tính ổn định, không có quan

hệ với huấn luyện và mang tính bẩm sinh đã được biểu hiện từ nhỏ Cái gọi là tuyển chọn là việc xác định được các nhân tố thiên bẩm đó bằng cách trực tiếp hay gián tiếp, căn cứ vào các yếu tố được xác định có thể dự báo được khả

năng thể thao trong tương lai [44], [47], [57], [67]

Định hướng thể thao: Là hệ thống biện pháp tổ chức và phương pháp

mang tính chất tổng hợp, nhằm xác định chuyên môn hóa thể thao hẹp của một cá nhân trong một môn thể thao nhất định [48] [68]

Tiềm năng: Con người ta khi sinh ra đã mang trong mình một nguồn

sức mạnh nào đó gọi là tiềm năng Cùng với sự phát triển của đời sống cá thể,

tiềm năng cũng phát triển theo, nhất là bằng con đường giáo dục trí thức và kinh nghiệm, đồng thời đi cùng với các hoạt động sống, tuỳ mức độ được khai thác mà tiềm năng của con người dần dần được phát lộ [29]

Trang 20

Khả năng: Quá trình biến tiềm năng thành hiện thực đó chính là việc

chuyển tiềm năng thành khả năng Khả năng chính là năng lực của con người

có thể thực hiện một việc gì đó, chuẩn bị hướng tiềm năng vào việc đạt một

thành quả nào đó, ví dụ: đưa tiềm năng phát ra âm thanh, nhất là âm thanh ngôn ngữ thành tiếng nói giao lưu, đưa tiềm năng thị giác thành khả năng có cái nhìn thiện cảm hay hờn giận – khả năng có cái nhìn tiếp xúc với người khác [35], [50], [69]

Năng lực: Khái niệm này chỉ sức mạnh của con người làm được việc

này hay việc khác, mà C.Mác gọi là “lực lượng bản chất” của con người, bao gồm cả thể lực, tâm lực, trí lực Trong tiếng Anh, thuật ngữ “năng lực” ngoài nội hàm chỉ sức mạnh của con người, sức chịu đựng, còn bao hàm cả khả năng tư duy và hành động Vì vậy có thể hiểu năng lực là sức mạnh, sức làm việc, sức giải quyết vấn đề, sức đảm trách một nhiệm vụ, v.v… [50], [66]

Năng khiếu: Khi các năng lực chung phân hoá thành các năng lực

chuyên biệt và có sự chênh lệch về mức độ biểu hiện giữa chúng, năng lực

chuyên biệt nào biểu hiện khá rõ hơn một hay nhiều năng lực chuyên biệt

khác thì người ta gọi năng lực chuyên biệt đó là năng khiếu Trong quá trình

phát triển của cá thể, thời điểm bộc lộ các năng khiếu khác nhau cũng khác nhau Năng khiếu đối với kiến thức văn hoá được bộc lộ khá sớm, còn năng khiếu quản lý, lãnh đạo nếu có thì bộc lộ muộn hơn, và muộn hơn nữa là năng khiếu kinh doanh Năng khiếu thể hiện rõ tiềm năng chuyên biệt sớm được phát hiện và bồi dưỡng Chẳng hạn từ tiềm năng nghe và phân biệt âm thanh

là tiền đề hình thành năng khiếu âm nhạc Tương tự như vậy, từ tiềm năng chuyển hóa năng lượng, tiềm năng điều khiển hệ vận động và hành vi vận động… để hình thành năng khiếu thể thao v.v… Năng khiếu là năng lực cao,

và khi phát triển lên đến trình độ sẽ đạt được thành tích đáng kể ở một trình

độ nào đó [29], [50], [65]

Trang 21

Tài năng: Người có tài năng là người có năng khiếu – năng lực cao,

hoàn thành một công việc hay một lĩnh vực hoạt động đạt kết quả, chất lượng cao, hoặc rất cao, có khi cao nhất trong một phạm vi nào đó Nhiều khi tài năng trước hết được xác định ở trí thông minh, như vậy, thông minh là một điều kiện tiên quyết rất quan trọng để hình thành nên tài năng Như trên đã trình bày, năng lực nói chung và đặc biệt đối với năng lực cao (tài năng) ít nhất có tới năm tố chất; có thể còn có các tố chất khác, nhưng điều quan trọng

là sự sắp xếp các tố chất này vào cùng một hệ thống nào đó và khả năng biến đổi cấu trúc tuỳ theo thời gian và không gian, làm sao sử dụng các tố chất phù hợp nhất, đem lại hiệu quả cao nhất, tức là tố chất biến tiềm năng thành tài năng Có thể đào tạo một tài năng nào đó, nhưng không thể đào tạo được nhân tài, mà chỉ có thể bồi dưỡng cho người có tài thành nhân tài Điều này rất quan trọng vì nhiều khi chúng ta cũng nhầm lẫn là có thể đào tạo được nhân tài [50], [57], [64], [70]

Tài năng thể thao: Là sự kết hợp ổn định của các khả năng vận động,

tâm lý, cũng như các tư chất giải phẫu - sinh lý, tạo thành tiềm năng tổng hợp

để đạt thành tích cao ở môn thể thao đó Khái niệm tài năng thể thao còn bao gồm cả những phẩm chất tâm lý của từng cá thể, nhờ đó con người có thể đạt được thành tích trong hoạt động của mình Như vậy, hạt nhân của tài năng thể thao còn bao gồm cả các quá trình tâm lý, nhờ đó các phương thức hoạt động được điều chỉnh hợp lý và có chất lượng [29], [57], [63]

Nhân tài: Khái niệm “nhân tài” là một khái niệm khá phức tạp và đang

có nhiều ý kiến khác nhau Theo một cách hiểu bình thường thì trong bất kỳ một lĩnh vực hay một công việc nào đấy, khi có vấn đề nảy sinh chưa ai giải quyết được, mà có người giải quyết được vấn đề đó, người đó được gọi là

người tài

Trang 22

Tóm lại, nhân tài khác người thường ở mức độ về khả năng sáng tạo và

sự đóng góp trong cộng đồng Nhân tài là người có động cơ vì lợi ích xã hội, cộng đồng, sử dụng tiềm năng và khả năng một cách sáng tạo nhất, tối đa và tối ưu, thích hợp nhất vào công việc được nêu ra và giải quyết công việc đó một cách độc đáo, có kết quả và hiệu quả cao trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội – văn hoá, có đóng góp lớn, nổi bật, kiệt xuất cho xã hội [29], [50], [57]

Thiên tài: là người có sự phát triển trí tuệ, tài năng, sáng tạo, nhân cách

ở mức độ cao nhất, sự kết hợp nhuần nhuyễn của những khả năng đặc biệt của nhân tài, phẩm chất đặc biệt của thiên tài được thể hiện cao nhất ở khả năng sáng tạo, khả năng dự báo ở mức độ xa Có khả năng đoán trước được sự vận động của quy luật khách quan, có khả năng vận dụng những quy luật khách quan một cách sáng tạo mang lại hiệu quả bất ngờ Nhưng điều quan trọng của thiên tài là khả năng đoán định những thay đổi của tự nhiên hay của xã hội một cách bất thường, ngẫu nhiên không theo quy luật, điều đó được thể hiện ở thành tích cống hiến đặc biệt cho nhân loại, có ảnh hưởng lâu dài đối với xã hội loài người

Như vậy, thiên tài là người có tài năng đặc biệt mang tính bẩm sinh (cái

đó chỉ có được do di truyền và sự kết hợp với những điều kiện đặc biệt do thiên nhiên ban tặng), tất nhiên để trở thành nhân tài hoặc thiên tài thì cũng phải rất khổ công học tập, rèn luyện Do đó, thiên tài không phải thời nào cũng có, mà có thể hàng trăm năm, thậm chí có thể tới nghìn năm mới xuất hiện thiên tài Thiên tài luôn ở dạng tiềm ẩn, nếu chúng ta không khổ công phát hiện, đào tạo, tu dưỡng, thu hút nhân tài và có những chính sách sử dụng, đãi ngộ tốt thì không những chúng ta mất đi nhân tài, mà còn có thể cả thiên tài nữa [4], [10], [17], [71]

Năng lực thể thao: Là tập hợp các tiền đề của VĐV để đạt được thành

tích thể thao cao Các yếu tố của năng lực thể thao bao gồm: Các năng lực thể

Trang 23

chất, năng lực phối hợp vận động, năng lực trí tuệ, kỹ xảo vận động, tư duy chiến thuật cũng như phẩm chất tâm lý

Dự báo thể thao: Là quá trình nghiên cứu sự ảnh hưởng của các yếu tố

di truyền hoặc là quá trình nghiên cứu, tìm kiếm những đặc trưng cũng như sự

ổn định của những đặc tính đó trong quá trình phát triển của đối tượng nghiên cứu

Huấn luyện thể thao: Là quá trình giáo dục chuyên môn chủ yếu bằng

các bài tập thể chất nhằm hoàn thiện các phẩm chất, năng lực, các mặt của trình độ chuẩn bị, nhằm đảm bảo cho VĐV đạt thành tích cao nhất trong môn thể thao đã chọn hoặc một nội dung nào đó

Trình độ tập luyện: Là sự nâng cao năng lực thể thao nhờ ảnh hưởng

của lượng vận động tập luyện, lượng vận động thi đấu và các biện pháp bổ trợ khác

Trạng thái sung sức thể thao: Là trạng thái sẵn sàng tối ưu của VĐV

để đạt được những thành tích thể thao cao, trạng thái này có được trong những điều kiện nhất định ở mỗi chu kỳ huấn luyện lớn

Với mục đích là thông qua diễn biến của các yếu tố đặc trưng quy định thành tích của các VĐV chạy cự ly ngắn để đánh giá mức độ phù hợp trong tập luyện và để xây dựng được các chỉ tiêu, tiêu chuẩn trong các thời kỳ huấn luyện cũng như xác định được các phương pháp đánh giá khả năng đó một cách chính xác trong các giai đoạn tiếp theo, Vì vậy, quá trình nghiên cứu diễn biến của các yếu tố đặc trưng được xem xét chủ yếu dưới góc độ sư phạm và y - sinh học trong suốt quá trình đào tạo [23], [24], [25], [72]

Mục đích của tuyển chọn và định hướng các môn thể thao nói chung, cũng như trong Điền kinh nói riêng là việc làm hữu ích có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy, huấn luyện sớm đạt tới đích hơn…

Trang 24

và nhiệm vụ huấn luyện khác nhau, thời kỳ và giai đoạn tuyển chọn cũng có những mục đích khác nhau Tuyển chọn và huấn luyện ban đầu chính là việc lựa chọn những trẻ có khả năng thích ứng với lượng vận động huấn luyện ở cấp độ cao hơn Do vậy, chỉ có không ngừng kiểm tra đánh giá, dự báo, tuyển chọn và đào thải mới có thể đào tạo được các “hạt giống” tài năng trở thành các tài năng thể thao [1], [3], [4], [10], [19]

1) Các yếu tố cơ bản của khoa học tuyển chọn

* Các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả thực tế của tuyển chọn

Thực tiễn khoa học tuyển chọn cho thấy, ngoài yếu tố chủ yếu là những điều kiện của cá nhân đối tượng được tuyển chọn còn có những yếu tố khác ảnh hưởng tới hiệu quả thực tế của tuyển chọn như: yếu tố di truyền, hoàn cảnh gia đình, trình độ huấn luyện, yếu tố xã hội và năng lực của người tuyển chọn và HLV Trong đó, điều kiện của bản thân đối tượng được tuyển chọn là yếu tố then chốt nhất ảnh hưởng tới quá trình thành tài của họ, trình độ huấn luyện là điều kiện đảm bảo để các điều kiện đó được phát triển và nâng cao Dựa theo quy luật thành tài của VĐV, chu kỳ huấn luyện hoàn chỉnh tối thiểu phải trải qua 3 giai đoạn: giai đoạn cơ bản, nâng cao và giai đoạn đỉnh cao Trong đó, bắt đầu và phần cuối kết thúc của mỗi giai đoạn huấn luyện đều tồn tại vấn đề tuyển chọn Trước mỗi giai đoạn huấn luyện đòi hỏi phải tuyển chọn các VĐV sao cho có thể thỏa mãn hoặc thích ứng được với trình độ huấn luyện cao hơn, đến cuối giai đoạn lại phải đối mặt với việc tuyển chọn

Trang 25

Khi VĐV ưu tú đạt được trạng thái thi đấu thể thao cao nhất, sự thể hiện và các dấu hiệu phản ánh khách quan các yếu tố năng lực thi đấu của các

môn thể thao sẽ cấu thành nên mô hình các năng lực thi đấu Trên thực tế,

mỗi VĐV ưu tú sẽ có một môn thể thao chuyên sâu riêng và có đặc trưng thi đấu chuyên môn riêng, nhưng nếu tổng kết và chắt lọc những điểm chung đó lại, sẽ không những mang lại định hướng quan trọng cho khoa học tuyển chọn

mà còn có thể là cơ sở tham khảo quan trọng trong việc xác định năng lực thi đấu của môn thể thao Trạng thái lý tưởng của mô hình đó thường được cấu thành từ một số yếu tố như: Hình thái; Chức năng; Tố chất thể lực; Kỹ thuật; Chiến thuật; Tâm lý; Năng lực trí tuệ [29], [42], [47], [74]

2) Một số giai đoạn phát triển của khoa học tuyển chọn

Quá trình thành tài của VĐV ưu tú thông thường khoảng 10 ± 2 năm,

đó là một quá trình tập luyện lâu dài và gian khổ Trong điều kiện thi đấu thể thao đang phát triển nhanh mạnh và cạnh tranh kịch liệt hiện nay, sự can thiệp bởi các kỹ thuật mới của máy tính và thông tin đã làm cho “giới hạn” của vận động không ngừng bị phá vỡ, điều đó dẫn tới sự khác biệt giữa kỹ thuật, chiến

Trang 26

thuật và điều kiện huấn luyện… của thành tích thể thao ngày càng trở nên không rõ ràng, sự cạnh tranh giữa cá nhân VĐV không những đang chuyển đổi thành cạnh tranh khoa học kỹ thuật, mà chỉ có những VĐV thiên bẩm mới

có thể bước lên được đỉnh cao nhất của thể thao thế giới Như Ulmer (Đức) đã nhấn mạnh “Điều kiện khoa học huấn luyện trình độ cao, môi trường huấn luyện tối ưu hóa, và khả năng ưu việt trời phú của bản thân VĐV chính là những điều kiện bắt buộc phải có để đạt quán quân thế giới” Do vậy, để bước lên được đỉnh cao của thể thao, vấn đề quan trọng không thể xem nhẹ chính là tài năng trời phú của VĐV [44], [57]

* Sự khởi nguồn của khoa học tuyển chọn

Ngay từ thế kỷ thứ 5 trước công nguyên, Hi lạp cổ đại đã xuất hiện những người thi đấu chuyên nghiệp và “thầy giáo”, Roma đã thành lập trường học đấu sĩ, người Ba tư sáng lập ra giáo quán – nơi chuyên dùng để huấn luyện cho trẻ em từ 6-17 tuổi các môn như vật, chạy và cưỡi ngựa Sự xuất hiện của những nơi huấn luyện này báo hiệu rằng, để đạt được thành tích xuất sắc đòi hỏi phải có một quá trình tập luyện lâu dài, đây chính là hình thức đầu tiên của tuyển chọn Ở thời cổ đại loài người đã có những quy định chọn người tài bằng cách lấy bắn tên, cưỡi ngựa, quyền thuật, cử tạ và mang vật nặng chạy làm những nội dung chính để tuyển chọn nhân tài Đây chính là khởi nguồn của tuyển chọn [50]; [57], [75]

* Tuyển chọn kinh nghiệm

Từ khi bắt đầu Olympic hiện đại năm 1895 cho tới những năm 20 của thế kỷ 20, nhận thức của con người về thi đấu luôn dừng lại ở phương diện

“dành phần thắng”, do vậy nhận thức về tuyển chọn cũng mơ hồ, phương pháp cũng rất sơ khai và đơn giản Sự “đào thải tự nhiên” của các VĐV chuyên nghiệp đã trở thành con đường duy nhất để đào tạo nhà vô địch, và thành tích thể thao chính là tiêu chuẩn duy nhất để tuyển chọn VĐV Theo

Trang 27

quan điểm lý luận huấn luyện và tuyển chọn hiện đại, “Tuyển chọn thành tích” hàm chứa ý nghĩa: để tạo ra được thành tích xuất sắc nhất định phải dựa vào khả năng trời phú của VĐV, VĐV “thiên tài” mới là điều kiện quan trọng

để đạt được vinh quang cao nhất Từ những năm 30 đến 50 của thế kỷ 20, vấn

đề tuyển chọn và đào tạo VĐV của các quốc gia đã ngày càng được coi trọng, cộng thêm trình độ thi đấu quốc tế không ngừng được nâng cao, lý luận huấn luyện hoàn thiện hơn, ngày càng xuất hiện nhiều các kỹ chiến thuật mới đã làm cho sự cạnh tranh thi đấu ngày càng khốc liệt hơn Chính điều này đã làm cho các HLV bắt đầu ý thức được tính quan trọng của tuyển chọn, và tiến hành “định hướng sớm” Đa số các HLV trong quá trình thực tiễn huấn luyện lâu dài đã tích lũy kinh nghiệm từ những thành công, từng bước tổng kết ra những yêu cầu, phương pháp tuyển chọn có hiệu quả trên cơ sở chú trọng các yêu cầu của môn thể thao, thử nghiệm tuyển chọn nhân tài đặc biệt và tiến hành định hướng đào tạo, mạnh dạn triển khai công tác tuyển chọn VĐV Nhìn từ góc độ hệ thống lý luận tuyển chọn hiện nay có thể thấy, bản chất của

“tuyển chọn kinh nghiệm” chính là dựa vào những phán đoán chủ quan và phân tích định tính của HLV để tuyển chọn VĐV [17], [21], [25], [76]

* Tuyển chọn khoa học

Từ sau những năm 60 của thế kỷ 20, việc các nước coi trọng đối với thi đấu thể thao và sử dụng khoa học công nghệ hiện đại, đã làm cho trình độ thi đấu thể thao đạt tới mức phát triển chưa từng có trước đó, lúc này mọi người nhận thấy rằng, chỉ dựa vào kinh nghiệm của HLV để tuyển chọn VĐV sẽ không thể đáp ứng được những yêu cầu phát triển của thể thao thành tích cao Năm 1972, tại Thế vận hội lần thứ 20, Cộng hòa dân chủ Đức (cũ) đã tiến bộ vượt bậc và dành được vị trí thứ 3 toàn đoàn Sau đó 4 năm, tại Thế vận hội lần thứ 21, Cộng hòa dân chủ Đức đã lại một lần lữa làm chấn động thế giới khi ở môn điền kinh đã đạt tổng cộng 25 huy chương vàng (vượt qua cả Mỹ

Trang 28

và Liên xô cũ) Các chuyên gia đều cho rằng, một trong những nguyên nhân quan trọng làm cho Cộng hòa dân chủ Đức nổi danh trong giới thể thao khi đó chính là nhờ có hệ thống tuyển chọn và huấn luyện khoa học Sự thành công của Cộng hòa dân chủ Đức đã gợi mở cho giới thế thao thế giới thấy rằng, con đường hiệu quả nhất chính là phải coi trọng tuyển chọn khoa học và kết hợp xây dựng hệ thống huấn luyện và tạo nguồn Từ đó trở đi, công tác nghiên cứu khoa học tuyển chọn đã được các nước chú trọng hơn, trên cơ sở tình hình thực tế của mỗi nước, các hệ thống phục vụ tuyển chọn khoa học tài năng thể thao đã được thành lập

Tóm lại, mầm mống ban đầu của thi đấu thể thao không tồn tại vấn đề tuyển chọn, tuy nhiên cùng với sự phát triển của các môn khoa học như huấn luyện thể thao và y sinh học TDTT, khoa học tuyển chọn đã được ra đời Ứng dụng khoa học kỹ thuật, sử dụng phương pháp phân tích định lượng, căn cứ vào các yếu tố cấu thành năng lực thi đấu của VĐV, thông qua các test kiểm tra khách quan và đánh giá tổng hợp để đưa ra những dự báo khoa học về năng lực thi đấu của VĐV đã trở thành mục tiêu của khoa học tuyển chọn [17], [23], [30], [77]

1.1.1.3 Vai trò của khoa học tuyển chọn thể thao

1) Định hướng đào tạo đối với VĐV trẻ

Giáo sư Andrey Platonov (Liên xô cũ) đã chỉ ra yêu cầu cấp bách của thể thao hiện đại là triển vọng phát triển của VĐV phải sớm được lộ diện Trình độ thể thao thành tích cao đang tiến dần tới giới hạn thể chất của con người, những thiếu niên “bình thường” rất khó có thể trở thành những người xuất sắc trong đấu trường thể thao tương lai Chỉ có thể trên cơ sở nghiên cứu đầy đủ và nhận biết được quy luật di truyền, sinh trưởng và phát dục của thanh thiếu niên, căn cứ vào những đặc điểm và yêu cầu khác nhau của từng môn thể thao, tổng hợp ứng dụng các kiến thức liên quan, tiến hành các biện

Trang 29

2) Chuẩn bị nguồn nhân lực cho thi đấu thể thao

Như đã trình bày ở trên, cùng với sự phát triển không ngừng của thể thao, khoa học kỹ thuật cũng ngày càng thâm nhập sâu vào lĩnh vực thi đấu thể thao, hàm lượng khoa học kỹ thuật trong các huy chương Olympic ngày càng được tăng lên Theo xu hướng đó, việc triển khai mở rộng khoa học tuyển chọn càng có giá trị lý luận quan trọng Do vậy, nhiệm vụ chủ yếu của khoa học tuyển chọn trong huấn luyện thể thao chính là tuyển chọn, đào tạo

và chuẩn bị đội ngũ kế cận hùng mạnh có khả năng giành được huy chương vàng Olympic

1.1.1.4 Nhiệm vụ của khoa học tuyển chọn thể thao

Tuyển trọn khoa học trong thể thao là dựa vào các nguyên lý và phương pháp khoa học chọn lựa ra những hạt giống ưu tú, phù hợp với mục tiêu (hoặc trình độ huấn luyện cao hơn), hoặc chọn ra những “tài năng” có khả năng đặc biệt ở một phương diện nào đó

* Chẩn đoán

Năng lực thi đấu là chỉ năng lực VĐV biểu hiện ra bên ngoài trong quá trình thi đấu thể thao, hay còn gọi là năng lực tham gia thi đấu Mặc dù năng lực thi đấu của VĐV ở các môn thể thao khác nhau là không giống nhau, tuy

Trang 30

nhiên, những yếu tố thường quyết định tới năng lực thi đấu của VĐV bao gồm: Thể chất (hình thái, chức năng sinh lý, tố chất chung và tố chất chuyên môn), kỹ năng (năng lực kỹ thuật), năng lực chiến thuật, trí năng vận động và trạng thái tâm lý… trong đó, yếu tố trọng tâm quyết định trình độ thể chất của VĐV cao hay thấp chính là các tố chất vận động: sức mạnh, tốc độ, sức bền, mềm dẻo và khả năng phối hợp, còn kỹ năng chủ yếu do năng lực kỹ chiến thuật thể thao được xây dựng trên nền tảng thể chất; Ngoài ra, trí năng vận động không giống với trí lực thông thường, thường chỉ tình trạng trí lực của VĐV và chủ yếu bao gồm: Nhận thức về đặc trưng chuyên môn và năng lực ứng dụng kiến thức chuyên môn Năng lực tâm lý cơ bản bao gồm: Năng lực tâm lý chung và năng lực tâm lý chuyên môn (như: cảm giác vận động, khả năng tập trung chú ý, biểu tượng vận động…) và đặc trưng tâm lý của cá nhân VĐV (như: loại hình thần kinh, khí chất, hứng thú, phẩm chất ý chí…)

Trong quá trình VĐV tham gia thi đấu: hình thái cơ thể và trạng thái chức năng quyết định tố chất chung và chuyên môn; cơ sở của năng lực vận động cao hay thấp thể hiện thông qua tổ hợp các tố chất vận động cơ bản như sức mạnh, nhanh, bền Đồng thời, để đảm bảo cho VĐV đạt được trạng thái thể thao cao nhất, các yếu tố như hưng phấn, ý chí, và tâm lý trong thi đấu, sự rèn luyện về kỹ chiến thuật… chính là những điều kiện quan trọng đảm bảo cho năng lực thi đấu được phát huy

Thuật ngữ “chẩn đoán” có nguồn gốc từ Y học, là chỉ việc khám, phán đoán bệnh và mức độ phát triển thông qua quan sát cơ thể người bệnh ở cả bên trong và bên ngoài Bản chất của chẩn đoán các yếu tố năng lực thể thao

là thông qua điều tra và kiểm tra để có được các loại thông tin về di truyền, hình thái, tâm lý và năng lực vận động của VĐV, đồng thời tiến hành miêu tả định lượng và phân tích khoa học nhằm đạt trạng thái năng lực thi đấu sau cùng của VĐV Như vậy có thể thấy rằng, việc chẩn đoán các yếu tố năng lực

Trang 31

Đánh giá tương đối: Là chỉ việc lấy số liệu điều tra và kiểm tra thực tế của cá thể so sánh với tiêu chuẩn tuyển chọn VĐV trẻ trong một môn thể thao nhất định, từ đó xác định vị trí hoặc trình độ của cá thể đó

Đánh giá tuyệt đối: Là chỉ việc lấy số liệu điều tra và kiểm tra thực tế của cá thể so sánh với số liệu đặc trưng của VĐV ưu tú ở một môn thể thao nào đó, từ đó xác định khoảng cách để trở thành VĐV ưu tú của cá thể [29], [44], [47], [50]

1.1.2 Dự báo tài năng thể thao

1.1.2.1 Mối quan hệ giữa chẩn đoán hiện tại với dự báo tương lai

Chẩn đoán và dự báo là cốt lõi của tuyển chọn Phân tích quy luật thành tài của VĐV cho thấy, chỉ có trải qua giai đoạn từ huấn luyện bậc thấp lên tới huấn luyện bậc cao thì những VĐV được tuyển chọn mới có thể thực sự trở thành VĐV thể thao chuyên nghiệp Như vậy, giải quyết tốt mối quan hệ giữa các yếu tố bẩm sinh với yếu tố huấn luyện chính là con đường quan trọng để làm sáng tỏ vấn đề chẩn đoán hiện tại và dự báo tương lai

Yếu tố bẩm sinh là chỉ tổng hợp các yếu tố mang tính ổn định, không hoặc ít liên quan tới huấn luyện, cũng như ý thức của con người, chủ yếu bao gồm những đặc trưng sinh lý và tâm lý… có khả năng tự phát triển và biểu hiện ra bên ngoài trong quá trình sinh trưởng và phát dục, mặt khác, rất nhiều

Trang 32

yếu tố bẩm sinh chỉ có thể biểu hiện được ra bên ngoài thông qua sự nỗ lực tập luyện Do vậy năng lực thể thao của VĐV được tuyển chọn biểu hiện ra bên ngoài, cũng như mức độ tăng trưởng của chúng trong quá trình huấn luyện đều là những nội dung quan trọng của chẩn đoán hiện tại, chỉ có như vậy mới đảm bảo cho việc dự đoán chính xác khả năng phát triển của năng lực thể thao trong tương lai [29]; [50]; [54], [79]

1.1.2.2 Dự báo phát triển năng lực thể thao

Dự báo là chỉ sự dự đoán, bản chất của nó là dựa vào đặc trưng vốn có

và các quy luật phát triển biến đổi của sự vật, tham khảo các khả năng đã xuất hiện hoặc đang xuất hiện, vận dụng nguyên lý và phương pháp suy luận, toán học, thống kê học… để đưa ra dự đoán về khả năng xu hướng phát triển hoặc trình độ có thể đạt tới trong tương lai của sự vật Nếu nói tuyển chọn những thiếu nhi có khả năng thiên phú là nhiệm vụ trọng tâm của tuyển chọn thì dự báo năng lực thể thao chính là mục tiêu sau cùng của khoa học tuyển chọn,

“không có dự báo thì không có tuyển chọn” Trong công tác tuyển chọn hiện nay, vấn đề được các HLV quan tâm nhất chính là lứa tuổi tốt nhất và tiềm năng vận động để VĐV trẻ có được thành tích

Dựa vào những phân tích ở trên có thể thấy rằng, bản chất của dự báo chính là tiến hành dự báo các yếu tố cấu thành năng lực thể thao dựa trên cơ

sở những đặc trưng chuyên môn và quy luật khách quan của quá trình thành tài của VĐV Biện pháp và các bước tiến hành thường được ưu tiên sử dụng

là thông qua tìm hiểu quá khứ (điều tra, đánh giá hồi cứu) và nắm chắc thực trạng (kết quả kiểm tra) của VĐV để dự báo tương lai [35], [36], [41], [42]

1.2 Các giai đoạn tuyển chọn và khoa học tuyển chọn trong thực tiễn huấn luyện

Khoa học tuyển chọn trong thực tiễn huấn luyện là một công việc thực

sự công phu, nó không chỉ đòi hỏi phát hiện thiên tài thể thao trong quần

Trang 33

chúng, mà còn đòi hỏi kiểm tra và dự báo một cách khoa học đối với các VĐV đang được huấn luyện nhằm xác định hướng phát triển của nó Vì vậy, khoa học tuyển chọn chỉ có kết hợp với thực tiễn huấn luyện mới có thể phát huy hiệu quả tác dụng trong thực tiễn

Nhiệm vụ và mục tiêu tuyển chọn ở mỗi giai đoạn huấn luyện khác nhau không giống nhau, sự khác biệt này chủ yếu là do tính liên tục và tính giai đoạn của hệ thống đào tạo Hệ thống đào tạo VĐV của nước ta thực hiện theo 4 cấp, do vậy việc tuyển chọn VĐV có thể được chia thành các giai đoạn: tuyển chọn ban đầu, tuyển chọn giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu, tuyển chọn giai đoạn chuyên môn hóa sâu và tuyển chọn VĐV ưu tú Mục tiêu tuyển chọn chung của cả 3 giai đoạn đầu là xác định nhân tài có tiềm năng thể thao, còn tuyển chọn VĐV ưu tú là quá trình tuyển chọn nhân tài thể thao theo đúng nghĩa thực của nó

Tuyển chọn ban đầu là tiến hành tuyển chọn đối với những “hạt giống”

có triển vọng đào tạo (nhi đồng, thiếu niên), bao gồm: Quan sát thông thường, điều tra, kiểm tra và cả quá trình sau cùng quyết định xem có thể tiến hành huấn luyện hệ thống và lâu dài hay không Ở giai đoạn này, chủ yếu tiến hành tuyển chọn đối với những VĐV có “tài năng bẩm sinh” được xác định bởi các nhân tố di truyền, trú trọng tiến hành kiểm tra, đánh giá và dự báo sự sinh trưởng phát dục và tiềm năng vận động chung của nhi đồng và thiếu niên

Tuyển chọn giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu, không chỉ tiếp tục coi trọng các điều kiện bẩm sinh mà còn phải coi trọng năng lực chuyên môn được biển hiện thực tế ra bên ngoài sau quá trình huấn luyện cơ bản, đồng thời phải tiến hành kiểm tra, đánh giá và dự báo chúng Các VĐV trẻ có tiềm năng di truyền biểu hiện càng mạnh mẽ, tỉ lệ thành tài càng cao [50], [54], [57], [66], [80]

Tuyển chọn VĐV ưu tú là chỉ quá trình chọn ra những VĐV tốt nhất, không kể là do bẩm sinh hay do quá trình huấn luyện mang lại từ lực lượng kế

Trang 34

1.2.1 Tuyển chọn ban đầu và tuyển chọn chuyên môn hóa ban đầu

Tuyển chọn ban đầu và tuyển chọn chuyên môn hóa ban đầu là tiến hành kiểm tra đánh giá thông qua các nhân tố bẩm sinh, không thể khống chế và tương đối ổn định nhằm tìm hiểu quy luật phát triển năng lực thể thao của thiếu niên và nhi đồng, bước đầu tuyển chọn nhân tài thể thao Mục đích chính là hiểu

rõ về khả năng thiên phú của thiếu niên, nhi đồng và phát hiện rộng rãi các tài năng thể thao

Trong thực tiễn, để đạt mục đích, thường sử dụng phương thức kiểm tra thể chất hoặc phát hiện mầm mống tài năng được bộc lộ trong các giờ học thể thao hoặc các cuộc thi đấu thể thao ở các trường tiểu học và trung học cơ sở Sau đó, tiến hành điều tra gia tộc, giám định mức độ phát dục và kiểm tra đánh giá một số chỉ tiêu hình thái, chức năng để xác định khả năng trở thành nhân tài thể thao hay không Đối với những em đã qua huấn luyện, đòi hỏi phải khảo sát nhịp tăng trưởng năng lực thể thao trong thời gian huấn luyện, năng lực thích nghi và khả năng chịu đựng lượng vận động lớn… đồng thời tham khảo thành tích thi đấu của các em, cuối cùng quyết định hướng phát triển theo môn, nội dung chuyên sâu (định hướng thể thao) [62], [67], [81]

*Quy trình tuyển chọn VĐV trẻ giai đoạn ban đầu:

Quy trình tuyển chọn VĐV trẻ có năng khiếu giữ vai trò quan trọng trong quá trình đào tạo VĐV Quá trình tuyển chọn trẻ em vào trường hay Câu lạc bộ thể thao thường chia thành 3 giai đoạn chủ yếu (bảng 1.1.)

Trang 35

Bảng 1.1 Quy trình tuyển chọn vào trường năng khiếu thể thao

Những phương pháp tuyển chọn cơ bản

- Tuyển chọn sơ bộ nhi đồng, thiếu niên vào trường, lớp hoặc câu lạc bộ thể thao

Ghi nhận các em được chọn vào trường thể thao

4 Nghiên cứu tâm lý

5 Nghiên cứu y sinh học

- Nghiên cứu một cách hệ thống nhiều năm từng VĐV với mục đích xác định lần cuối môn thể thao chuyên môn hóa cho từng VĐV (giai đoạn định hướng thể thao)

1 Quan sát sư phạm

2 Thử nghiệm kiểm tra

3 Thi đấu và trò chơi kiểm tra

4 Nghiên cứu tâm lý

5 Nghiên cứu y sinh học

Trang 36

Sự quan sát của HLV và giáo viên TDTT qua các buổi tập luyện trong Câu lạc bộ, các giờ thể dục nội, ngoại khóa ở trường, các cuộc kiểm tra thi đấu ở nhiều cấp khác nhau có vai trò đặc biệt quan trọng trong giai đoạn tuyển chọn ban đầu [59], [69], [78]

Thực tiễn thể thao chứng tỏ giai đoạn tuyển chọn ban đầu không thể phát hiện được mẫu người lý tưởng với những đặc điểm hình thái, chức phận và phẩm chất tâm lý cần thiết để chuyên môn hóa một môn thể thao xác định trong tương lai, bởi vì sự phát triển sinh học của từng cá thể còn có nhiều biến đổi trong quá trình sống và tương tác với môi trường Cho nên những số liệu thu thập trong giai đoạn tuyển chọn ban đầu chỉ có giá trị tham khảo trong định hướng mà thôi Tất cả nhi đồng và thiếu niên được tuyển chọn ban đầu cần phải kiểm tra y học và không có bệnh tật Cần lưu ý đến điều kiện đi lại

để tập luyện của các em, thái độ của cha mẹ đối với tập luyện thể thao, kết quả học tập trong trường phổ thông Cuối giai đoạn I, cần tổ chức thi đấu kiểm tra theo các môn thể thao, thường vào cuối năm hoặc sau khi tập huấn

hè Để phát hiện được chuẩn xác hơn những tiềm năng của các em nên lấy số liệu ban đầu và xem xét nhịp độ phát triển của các chỉ số đó Các buổi kiểm tra tuyển chọn ban đầu không phải chỉ nhằm xem cách biết thực hiện bài tập,

mà chủ yếu là phát hiện năng lực giải quyết các nhiệm vụ vận động trong tương lai, tìm hiểu năng lực sáng tạo và biết xử lý các tình huống vận động Kiểm tra một lần chỉ nói lên hiện trạng, chứ không xác định được tiềm năng

có triển vọng trong tương lai Thành tích thể thao tiềm ẩn của VĐV tùy thuộc không những mức độ phát triển ban đầu của các tố chất vận động, mà còn phụ thuọc vào nhịp độ phát triển các tố chất ấy trong quá trình tập luyện chuyên môn Sự phát triển thể chất của các em được đánh giá qua các chỉ số như: chiều cao, cân nặng, tỷ lệ thân thể, hình dạng cột sống và lồng ngực, cấu tạo hông, chân, kích thước bàn chân và năng lực vận động

Trang 37

Vào giai đoạn II, kiểm tra các em đã được chọn sơ bộ xem có đáp ứng được đối với những đòi hỏi để huấn luyện đạt thành tích trong môn thể thao được chọn hay không Trong giai đoạn này, cần sử dụng các phương pháp quan sát

sư phạm, thử nghiệm kiểm tra, thi đấu và trò chơi kiểm tra, nghiên cứu y – sinh và tâm lý, huấn luyện viên cần đặc biệt lưu ý những phẩm chất của các

em như tính tự chủ, tính kiên quyết, kiên định mục tiêu và khả năng huy động tiềm lực trong thi đấu, tính tích cực và nhẫn nại trong thi đấu, năng lực cố gắng tối đa khi về đích.v.v Tuy nhiên phải lưu ý đến tính cần cù chịu khó và ham thích tập luyện môn thể thao được chọn Cần phải nghiên cứu một cách toàn diện từng vận động viên và không nên chỉ dừng lại ở từng năng lực riêng biệt của em đó Cần đánh giá những năng lực ấy trong những điều kiện hoạt động khác nhau như thi đấu, tập luyện và cả trong phòng thí nghiệm Cuối giai đoạn II, hội đồng tuyển chọn của trường hoặc Câu lạc bộ thể thao bắt đầu xem xét các đơn của phụ huynh, hồ sơ của vận động viên và giải quyết vấn đề thu nhận vào trường, lớp hay Câu lạc bộ TDTT Những kết quả thi đấu kiểm tra, thử nghiệm, nhận xét của huấn luyện viên và kết luận của bác sỹ thể thao

là những yếu tố quyết định để xét tuyển nhi đồng, thiếu niên vào trường lớp hoặc Câu lạc bộ thể thao Hệ thống tuyển chọn này không nên loại trừ các em không tham gia hai giai đoạn truyển chọn nói trên, nhưng có thành tích thể thao tốt

Nhiệm vụ của giai đoạn tuyển chọn thứ III (giai đoạn định hướng thể thao) là nghiên cứu một cách hệ thống, liên tục nhiều năm từng em của trường hoặc Câu lạc bộ nhằm khẳng định lần chót về chuyên sâu thể thao của từng

em Trong giai đoạn này, vẫn sử dụng phương pháp quan sát và thực nghiệm

sư phạm, nghiên cứu y – sinh, tâm lý và xã hội học với mục đích tiếp tục xác định các mặt mạnh, yếu về trình độ tập luyện của các em Cuối cùng, định hướng chuyên môn hẹp thể thao của các em được quyết định Khi nghiên cứu

Trang 38

số liệu về nhân trắc, cần so sánh thể hình của đối tượng tuyển với những VĐV xuất sắc của môn thể thao Các bài tập kiểm tra như chạy 30m, lực lưng, lực tay vẫn còn nguyên giá trị để đánh giá tố chất chuyên môn nhanh, mạnh, v.v

Trong chạy 400m: Các VĐV nam có tuổi trung bình 17,7 ± 2,99 ( từ

13,7 đến 23 tuổi) Thành tích trung bình ở chạy 400m là 49,55s ± 0,86s (tiêu chuẩn VĐV cấp I là 51,5s; kiện tướng là 49,0s) Hầu như không có VĐV xuất thân từ gia đình nông dân đạt thành tích cao ở cự ly này Số năm tham gia tập luyện của các VĐV 400m thường nhiều hơn khi so với các VĐV 100m; phải chăng, trước khi chuyên chạy ở cự ly 400m, các VĐV đều đã qua một thời gian thử tài ở cự ly 100m hoặc 200m [16], [18], [22], [82]

Giai đoạn tuyển chọn ban đầu thường bắt đầu từ tuổi học sinh cấp 1 (và sớm hơn nữa ở một số môn thể thao) và chuyển sang giai đoạn tiếp theo khi lựa chọn được môn thể thao chuyên sâu Thời hạn bắt đầu chuyên môn hóa thể thao đúng lúc trước tiên phụ thuộc vào tính chất riêng biệt của các môn thể thao [16], [18], [22]

1.2.2 Tuyển chọn chuyên môn hóa sâu và tuyển chọn VĐV ưu tú

Tuyển chọn chuyên môn hóa sâu là tuyển chọn những em đã qua huấn luyện chuyên môn hóa ban đầu ở các trường thể thao lên đội tuyển cấp tỉnh (quận,

thành phố), để được tiếp nhận sự huấn luyện chính quy và hệ thống Tuyển chọn

VĐV ưu tú là tuyển chọn những em đã qua huấn luyện chính quy, hệ thống ở các đội tuyển cấp tỉnh (quận, thành phố) vào các đội tuyển trẻ quốc gia hoặc đội tuyển quốc gia

Tuyển chọn chuyên môn hóa sâu và tuyển chọn VĐV ưu tú là giai đoạn bắt buộc để thực hiện mục đích cuối cùng của khoa học tuyển chọn, đó là tuyển chọn ra những VĐV ưu tú theo đúng nghĩa của nó Do vậy, cần phải đặt trọng tâm kiểm tra đánh giá đối với các nhân tố đòi hỏi được bộc lộ qua huấn luyện, có thể khống chế (điều khiển) và tương đối biến hóa (như: các tố chất

Trang 39

chuyên môn, kỹ thuật và chiến thuật, tâm lý…), đồng thời khảo sát thành tích hiện tại của VĐV, nhịp độ phát triển thành tích, tính ổn định của thành tích và đánh giá khả năng tiếp tục nâng cao được hay không… cuối cùng chọn ra được những tài năng thể thao có hình mẫu phát triển gần giống với mô hình VĐV đẳng cấp thế giới [24], [25], [29]

Tóm lại, mục đích của các giai đoạn tuyển chọn đều là chọn ra được những hạt giống ưu tú, nhưng do sự khác biệt về vai trò của các nhân tố quyết định đến thành tích thể thao ở mỗi giai đoạn huấn luyện, cũng như tình trạng phát dục trưởng thành của từng đối tượng được tuyển chọn mà nội dung khảo sát ở các giai đoạn tuyển chọn khác nhau có sự khác biệt rõ rệt Theo quy luật thông thường: giai đoạn huấn luyện (cấp) càng thấp, tỷ trọng các nhân tố có tính bẩm sinh di truyền cao (các tiêu chí, chỉ tiêu có độ di truyền cao) trong nội dung kiểm tra đánh giá được sử dụng càng cao, là cơ sở thuận lợi cho việc phát hiện tiềm năng phát dục và huấn luyện của thiếu nhi, và dự báo hướng phát triển của năng lực thể thao Vấn đề cần lưu ý là: tuyển chọn đối tượng cấp thấp, do đối tượng tuyển chọn đông, lứa tuổi thấp, vì vậy nội dung kiểm tra đánh giá (chỉ tiêu đánh giá) phải đơn giản, dễ thực hiện; Đồng thời, tiêu chuẩn kiểm tra đánh giá càng thấp, số người được tuyển chọn càng nhiều, như vậy cũng sẽ dễ dàng tổ chức tuyển chọn với quy mô lớn, và phạm vi rộng

Khoa học tuyển chọn là chỉ ra hướng thành tài và những khả năng có thể của VĐV; Còn quá trình huấn luyện sau tuyển chọn mới thực sự quyết định VĐV có thể thành tài hay không Xem khoa học tuyển chọn là một quá trình, đồng thời xác lập mô hình kết hợp giữa tuyển chọn với huấn luyện mới

là phương hướng phát triển huấn luyện thể thao [30], [41], [42], [83]

1.3 Quan điểm nghiên cứu những đặc trưng mô hình và một số công trình của các tác giả trong và ngoài nước về tuyển chọn thể thao

1.3.1 Các quan điểm nghiên cứu về việc xác định những đặc trưng

mô hình trong tuyển chọn thể thao

Trang 40

Đối với nhiều nước trên thế giới, vấn đề tuyển chọn và định hướng thể thao cho các VĐV ở các môn thể thao đã được hình thành trên các cơ sở khoa học và thực tiễn Công tác đào tạo VĐV từ cấp thấp đến cấp cao đã được mô hình hóa từ tổng thể đến các giai đoạn của quá trình huấn luyện Tuy nhiên, việc xây dựng mô hình hóa từ tổng thể đến các giai đoạn của quá trình huấn luyện hay việc xây dựng một mô hình đào tạo VĐV cũng chưa phải đã được

áp dụng ở hầu hết các quốc gia

Tuyển chọn là một vấn đề có nhiều mặt: Kinh tế, xã hội, triết học, đạo đức, sư phạm, tâm – sinh lý, y học, quản lý… Chính vì vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này và thu hút rất nhiều các chuyên gia hàng đầu của một số lĩnh vực khác như: Y sinh học, sư phạm, kinh tế… vì thế nên tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về cơ sở lý luận trong tuyển chọn tài năng thể thao [16], [18], [22]

Sau đây là ba quan điểm tổng hợp các công trình lớn trong việc xây dựng cơ sở lý luận cho tuyển chọn tài năng thể thao:

1) Quan điểm thứ nhất: Sự thích hợp nghề nghiệp (hoặc thể thao) được

xác định bằng cách phát hiện và đánh giá những đặc tính và phẩm chất tương đối ổn định cúa cá nhân, tức là năng khiếu

Trong những công trình nghiên cứu của mình, các tác giả đã nghiên

cứu một cách rất kỹ về cơ sở “Năng khiếu” cá nhân và kết luận:

Cơ sở của năng khiếu là những tư chất tự nhiên có nguồn gốc di truyền

Năng khiếu bộc lộ trong một hoạt động nhất định, là một phẩm chất tổng hợp phức tạp, trong đó có vai trò của:

- Mối liên hệ qua lại của các yếu tố phản ánh các năng lực chuyên biệt

- Sự khác biệt về lứa tuổi và các nhân tố (năng lực chuyên biệt)

- Tương quan xác định giữa những năng khiếu chung và chuyên môn

Ngày đăng: 04/05/2017, 09:51

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1. Hình ảnh đo chiều cao đứng của các VĐV - Xây dựng tiêu chuẩn tuyển chọn vđv năng khiếu chạy 400m giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu lứa tuổi 13 15
Hình 2.1. Hình ảnh đo chiều cao đứng của các VĐV (Trang 74)
Hình 2.3. Xác định phản xạ vận động đơn với tín hiệu âm thanh. - Xây dựng tiêu chuẩn tuyển chọn vđv năng khiếu chạy 400m giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu lứa tuổi 13 15
Hình 2.3. Xác định phản xạ vận động đơn với tín hiệu âm thanh (Trang 80)
Hình 2.4. VĐV thực hiện Test soát vòng tròn hở Landolt - Xây dựng tiêu chuẩn tuyển chọn vđv năng khiếu chạy 400m giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu lứa tuổi 13 15
Hình 2.4. VĐV thực hiện Test soát vòng tròn hở Landolt (Trang 82)
Bảng 3.3. Kết quả phỏng vấn thực trạng sử dụng các chỉ tiêu và tiêu chuẩn tuyển chọn VĐV chạy 400m - Xây dựng tiêu chuẩn tuyển chọn vđv năng khiếu chạy 400m giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu lứa tuổi 13 15
Bảng 3.3. Kết quả phỏng vấn thực trạng sử dụng các chỉ tiêu và tiêu chuẩn tuyển chọn VĐV chạy 400m (Trang 102)
Bảng 3.15. So sánh kết quả kiểm tra các chỉ tiêu tuyển chọn của VĐV Nam chạy 400m lứa tuổi  13-14-15 (n=58) - Xây dựng tiêu chuẩn tuyển chọn vđv năng khiếu chạy 400m giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu lứa tuổi 13 15
Bảng 3.15. So sánh kết quả kiểm tra các chỉ tiêu tuyển chọn của VĐV Nam chạy 400m lứa tuổi 13-14-15 (n=58) (Trang 127)
Bảng 3.16. So sánh kết quả kiểm tra các chỉ tiêu tuyển chọn của VĐV Nữ chạy 400m lứa tuổi  13-14-15 (n=58) - Xây dựng tiêu chuẩn tuyển chọn vđv năng khiếu chạy 400m giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu lứa tuổi 13 15
Bảng 3.16. So sánh kết quả kiểm tra các chỉ tiêu tuyển chọn của VĐV Nữ chạy 400m lứa tuổi 13-14-15 (n=58) (Trang 128)
Bảng 3.20. Bảng điểm tuyển chọn cho vận động viên chạy 400m lứa tuổi 13 - Xây dựng tiêu chuẩn tuyển chọn vđv năng khiếu chạy 400m giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu lứa tuổi 13 15
Bảng 3.20. Bảng điểm tuyển chọn cho vận động viên chạy 400m lứa tuổi 13 (Trang 140)
Bảng 3.21. Bảng điểm tuyển chọn cho vận động viên chạy 400m lứa tuổi 14 - Xây dựng tiêu chuẩn tuyển chọn vđv năng khiếu chạy 400m giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu lứa tuổi 13 15
Bảng 3.21. Bảng điểm tuyển chọn cho vận động viên chạy 400m lứa tuổi 14 (Trang 141)
Bảng 3.22. Bảng điểm tuyển chọn cho vận động viên chạy 400m lứa tuổi 15 - Xây dựng tiêu chuẩn tuyển chọn vđv năng khiếu chạy 400m giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu lứa tuổi 13 15
Bảng 3.22. Bảng điểm tuyển chọn cho vận động viên chạy 400m lứa tuổi 15 (Trang 142)
Bảng 3.27. Bảng đánh giá tiêu chuẩn tuyển chọn cho VĐV chạy 400m lứa - Xây dựng tiêu chuẩn tuyển chọn vđv năng khiếu chạy 400m giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu lứa tuổi 13 15
Bảng 3.27. Bảng đánh giá tiêu chuẩn tuyển chọn cho VĐV chạy 400m lứa (Trang 152)
Bảng 3.50. Kết quả kiểm tra các chỉ tiêu sau thời gian tuyển chọn VĐV chạy 400m lứa tuổi 13 n =37  (Nam=19); (Nữ =18) - Xây dựng tiêu chuẩn tuyển chọn vđv năng khiếu chạy 400m giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu lứa tuổi 13 15
Bảng 3.50. Kết quả kiểm tra các chỉ tiêu sau thời gian tuyển chọn VĐV chạy 400m lứa tuổi 13 n =37 (Nam=19); (Nữ =18) (Trang 166)
Bảng 3.51. Kết quả kiểm tra các chỉ tiêu sau thời gian tuyển chọn VĐV chạy 400m lứa tuổi 14 n =39 (Nam =19); (Nữ =20) - Xây dựng tiêu chuẩn tuyển chọn vđv năng khiếu chạy 400m giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu lứa tuổi 13 15
Bảng 3.51. Kết quả kiểm tra các chỉ tiêu sau thời gian tuyển chọn VĐV chạy 400m lứa tuổi 14 n =39 (Nam =19); (Nữ =20) (Trang 168)
Bảng 3.52. Kết quả kiểm tra các chỉ tiêu sau thời gian tuyển chọn VĐV chạy 400m lứa tuổi 15 - Xây dựng tiêu chuẩn tuyển chọn vđv năng khiếu chạy 400m giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu lứa tuổi 13 15
Bảng 3.52. Kết quả kiểm tra các chỉ tiêu sau thời gian tuyển chọn VĐV chạy 400m lứa tuổi 15 (Trang 170)
Bảng 3.44. Kết quả kiểm tra các chỉ tiêu sau thời gian tuyển chọn VĐV chạy 400m lứa tuổi 15 của - Xây dựng tiêu chuẩn tuyển chọn vđv năng khiếu chạy 400m giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu lứa tuổi 13 15
Bảng 3.44. Kết quả kiểm tra các chỉ tiêu sau thời gian tuyển chọn VĐV chạy 400m lứa tuổi 15 của (Trang 238)
Bảng 3.45. Kết quả kiểm tra các chỉ tiêu sau thời gian tuyển chọn VĐV chạy 400m lứa tuổi 15 của - Xây dựng tiêu chuẩn tuyển chọn vđv năng khiếu chạy 400m giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu lứa tuổi 13 15
Bảng 3.45. Kết quả kiểm tra các chỉ tiêu sau thời gian tuyển chọn VĐV chạy 400m lứa tuổi 15 của (Trang 240)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w