TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ KHOA SINH HỌC ỨNG DỤNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN MÃ SỐ: D620301 THỬ NGHIỆM ƯƠNG CÁ CHẠCH BÙN ĐÀI LOAN Misgurnus anguillicaudatus
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ KHOA SINH HỌC ỨNG DỤNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
MÃ SỐ: D620301
THỬ NGHIỆM ƯƠNG CÁ CHẠCH BÙN ĐÀI LOAN
Misgurnus anguillicaudatus Cantor, 1842)
GIAI ĐOẠN HƯƠNG ĐẾN CÁ GIỐNG
Ở CÁC ĐỘ MẶN KHÁC NHAU
SINH VIÊN THỰC HIỆN:
NGUYỄN THỊ MỊ MSSV: 1053040010 Lớp: ĐH NTTS 5
Cần Thơ,
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ KHOA SINH HỌC ỨNG DỤNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
MÃ SỐ: D620301
THỬ NGHIỆM ƯƠNG CÁ CHẠCH BÙN ĐÀI LOAN
Misgurnus anguillicaudatus Cantor, 1842)
GIAI ĐOẠN HƯƠNG ĐẾN CÁ GIỐNG
Ở CÁC ĐỘ MẶN KHÁC NHAU
MSSV: 1053040010 Lớp: ĐH NTTS 5
Cần Thơ,
2014
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp đã giúp tôi có được những kinh nghiệm, kĩnăng bổ ích và thiết thực cho công việc sau này Để đạt được những kết quả trên, tôixin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc đến:
Ban Giám Hiệu trường Đại học Tây Đô đã tạo điều kiện để tôi được học tập, trao dồikiến thức và kỹ năng chuyên môn trong thời gian qua
Thầy Nguyễn Văn Kiểm đã hướng dẫn, tận tình giúp đỡ và đóng góp nhiều ý kiến quýbáu trong suốt thời gian thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Ban Chủ Nhiệm Khoa Sinh học ứng dụng, Thầy Nguyễn Hữu Lộc cố vấn học tập vàcác thầy cô bộ môn đã quan tâm và truyền đạt kiến thức cho tôi trong 4 năm đại học.Tập thể lớp NTTS 5 đã quan tâm, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng đến gia đình đã tạo mọi điều kiện thuận lợinhất cả về vật chất và tinh thần để tôi hoàn thành khóa học
Chân thành cảm ơn!
Trang 4TÓM TẮT
Đề tài: “Thử nghiệm ương cá Chạch bùn Đài Loan (Misgurnus anguillicaudatus
Cantor, 1842) giai đoạn hương đến cá giống ở các độ mặn khác nhau” được thực hiệntại trại thực nghiệm - Trường Đại học Tây Đô
Với hai nội dung nghiên cứu chính là xác định ngưỡng độ mặn của cá Chạch bùn ĐàiLoan và thử nghiệm ương cá Chạch bùn Đài Loan trong các độ mặn khác nhau Cácnghiệm thức thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 lần lặp lại
Kết quả nghiên cứu đã ghi nhận, tại độ mặn 20‰ có 50% cá chết sau 4 giờ 30 phút và
cá chết 100% sau 48 giờ 15 phút Trong khi đó, ở các độ mặn thấp hơn 15‰ không ghinhận cá chết sau 72 giờ
Đối với thí nghiệm ương cá Chạch bùn Đài Loan trong các độ mặn khác nhau cũng đãghi nhận: tốc độ tăng trưởng của cá có xu hướng giảm dần khi độ mặn tăng Tốc độtăng trưởng về khối lượng của cá ở nghiệm thức 5‰ nhanh nhất và khác biệt có ý
nghĩa thống kê (p < 0,05) so với tốc độ tăng trưởng về khối lượng của cá ở các nghiệm
thức còn lại Tốc độ tăng trưởng về khối lượng của cá giữa các nghiệm thức 10‰,
13‰ và 15‰ khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) Ngoài ra, kết quả
nghiên cứu cũng ghi nhận tỷ lệ sống của cá ở các nghiệm thức tương đối cao và daođộng từ 83,1% đến 95%
Từ khóa: cá Chạch bùn Đài Loan, Misgurnus anguillicaudatus, độ mặn
Trang 5CAM KẾT KẾT QUẢ
Tôi xin cam kết luận văn này được hoàn thành dựa trên các kết quả nghiên cứu củatôi và các kết quả của nghiên cứu này chưa được dùng cho bất cứ khóa luận cùng cấpnào khác
Cần Thơ, ngày 26 tháng 6 năm 2014
Ký tên
Nguyễn Thị Mị
Trang 6MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM TẠ i
TÓM TẮT ii
CAM KẾT KẾT QUẢ iii
MỤC LỤC iv
DANH SÁCH BẢNG v i DANH SÁCH HÌNH v ii DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT viii
CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Giới thiệu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 1
1.3 Nội dung nghiên cứu 2
CHƯƠNG 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3
2.1 Đặc điểm sinh học của cá Chạch bùn Đài Loan 3
2.1.1 Đặc điểm phân loại, hình thái và phân bố 3
2.1.1.1 Phân loại 3
2.1.1.2 Hình thái 3
2.1.1.3 Phân bố 3
2.1.2 Tập tính sống 3
2.1.3 Đặc điểm dinh dưỡng 4
2.1.4 Đặc điểm sinh trưởng 4
2.1.5 Đặc điểm sinh sản 4
2.2 Một số kết quả nghiên cứu về ương giống cá Chạch bùn Đài Loan 5
2.3 Ảnh hưởng của độ mặn lên tăng trưởng và tỷ lệ sống của động vật thủy sản 5
CHƯƠNG 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU… ……….8
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 8
3.2 Vật liệu nghiên cứu 8
3.2.1 Dụng cụ ………… 8
3.2.2 Đối tượng nghiên cứu 8
3.2.3 Thức ăn 8
3.3 Phương pháp nghiên cứu 8
Trang 73.3.1 Hệ thống thí nghiệm 8
3.3.2 Bố trí thí nghiệm 9
3.3.2.1 Thí nghiệm 1: Xác định ngưỡng độ mặn của cá Chạch bùn Đài Loan 9
3.3.2.2 Thí nghiệm 2: Thử nghiệm ương cá Chạch bùn Đài Loan 10
3.4 Chăm sóc và quản lý 11
3.4.1 Quản lý cho ăn 10
3.4.2 Quản lý bể ương 10
3.5 Theo dõi các chỉ tiêu 10
3.5.1 Các yếu tố môi trường 10
3.5.2 Các chỉ tiêu của cá 11
3.6 Xử lý số liệu 12
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 13
4.1 Thí nghiệm 1: Xác định ngưỡng độ mặn của cá Chạch bùn Đài Loan 13
4.2 Thí nghiệm 2: Thử nghiệm ương cá Chạch bùn Đài Loan 14
4.2.1 Các yếu tố môi trường 14
4.2.1.1 Nhiệt độ 14
4.2.1.2 pH 15
4.2.1.3 NH3 16
4.2.2 Ảnh hưởng của độ mặn lên tỷ lệ sống của cá Chạch bùn Đài Loan 17
4.2.3 Ảnh hưởng của độ mặn lên tăng trưởng của cá Chạch bùn Đài Loan 19
4.2.3.1 Tăng trưởng theo khối lượng của cá 19
4.2.3.2 Tăng trưởng theo chiều dài của cá 21
4.2.4 Ảnh hưởng của độ mặn lên sự phân hóa tăng trưởng của cá Chạch bùn Đài Loan 22
4.2.4.1 Sự phân hóa tăng trưởng theo khối lượng 22
4.2.4.2 Sự phân hóa tăng trưởng theo chiều dài 23
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 25
5.1 Kết luận 25
5.2 Đề xuất 25
TÀI LIỆU THAM KHẢO 25
PHỤ LỤC A A1
PHỤ LỤC B B1
PHỤ LỤC C C1
Trang 8DANH SÁCH BẢNG
Trang
Bảng 4.1 Kết quả xác định ngưỡng độ mặn của cá trong thời gian thí nghiệm 13
Bảng 4.2 Biến động nhiệt độ nước trong thời gian thí nghiệm 14
Bảng 4.3 Biến động pH trong thời gian thí nghiệm 25
Bảng 4.6 Tăng trưởng khối lượng của cá Chạch bùn Đài Loan 19
Bảng 4.7 Tăng trưởng chiều dài của cá Chạch bùn Đài Loan 25
Trang 9DANH SÁCH HÌNH
Trang
Hình 2.1 Hình thái bên ngoài cá Chạch bùn Đài Loan 2
Hình 3.1 Hệ thống bể thí nghiệm 8
Hình 3.2 Sơ đồ thuần hóa độ mặn 9
Hình 3.3 Hệ thống bể thí nghiệm 10
Hình 4.4 Biến động NH3 trong thời gian thí nghiệm 17
Hình 4.5 Tỷ lệ sống của cá Chạch bùn Đài Loan 18
Hình 4.8 Tỷ lệ phân hóa sinh trưởng theo khối lượng của cá ở các nghiệm thức 23
Hình 4.9 Tỷ lệ phân hóa sinh trưởng theo chiều dài của cá ở các nghiệm thức 24
Trang 10DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ĐBSCL: Đồng Bằng Sông Cửu Long
ASTT: Áp suất thẩm thấu
Trang 11CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Giới thiệu
Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) có khí hậu khá ổn định, nguồn thức ăn tự nhiêndồi dào, hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt và nhiều đầm, lầy, ao, hồ, ruộngtrũng… nên ĐBSCL được xem là vùng có tiềm năng khá lớn về nuôi thủy sản nướcngọt và lợ, đặc biệt là phát triển nghề nuôi cá
Ngoài những loài cá nội địa đang được nuôi phổ biến ở ĐBSCL hiện nay: cá Tra, cáBasa, cá Trê…những năm gần đây, một số loài cá mới được di nhập vào nước ta, trong
đó có cá Chạch bùn Đài Loan (Misgurnus anguillicaudatus Cantor, 1842) Cá Chạch
bùn Đài Loan có nhiều tố chất để phát triển ở Việt Nam nói chung và ĐBSCL nóiriêng: thịt thơm ngon, xương mềm, thời gian nuôi ngắn và có giá trị thương phẩm caonên được thị trường nội địa tiêu thụ mạnh Ngoài ra, cá Chạch bùn Đài Loan cũng đangđược các quốc gia Châu Á đặc biệt quan tâm: Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc Sảnphẩm cá Chạch bùn Đài Loan được xuất khẩu dưới nhiều hình thức: sống, đông lạnh,sấy khô…
Cá Chạch bùn Đài Loan là loài mới được di nhập vào Việt Nam năm 2010 theo conđường không chính thức nhưng đang được nhân rộng và phát triển ở các tỉnhĐBSCL: An Giang, Đồng Tháp, Hậu Giang, Cần Thơ… Tuy nhiên, số lượng chưanhiều chủ yếu nuôi nhỏ và lẻ (Lê Hoàng Vũ, 2013)
Đa số các cơ sở sản xuất giống cá Chạch bùn Đài Loan ở trong nước chỉ quan tâm đếnvấn đề kích thích cá đẻ Một số nơi cũng đã ương cá giống và nuôi thương phẩm,nhưng chủ yếu chỉ phát triển ở vùng nước ngọt Vì thế, xu hướng trong tương lai vềđối tượng mới này là cần phải được mở rộng ra quy mô lớn hơn ở vùng nước lợ nhằm
chủ động được nguồn giống Vì vậy, đề tài: “Thử nghiệm ương cá Chạch bùn Đài
Loan (Misgurnus anguillicaudatus Cantor, 1842) giai đoạn hương đến cá giống ở
các độ mặn khác nhau” được thực hiện.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Xác định ngưỡng độ mặn của cá Chạch bùn Đài Loan (Misgurnus anguillicaudatus
Cantor, 1842) giai đoạn hương (2 tuần tuổi)
Xác định độ mặn thích hợp để chủ động ương cá Chạch bùn Đài Loan (Misgurnus
anguillicaudatus Cantor, 1842) giai đoạn hương đến cá giống ở những vùng nước lợ.
Cung cấp một số thông tin khoa học về ương cá Chạch bùn Đài Loan (Misgurnus
anguillicaudatus Cantor, 1842) giai đoạn hương đến cá giống ở các độ mặn khác nhau.
Trang 121.3 Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu ngưỡng độ mặn của cá Chạch bùn Đài Loan (Misgurnus anguillicaudatus
Cantor, 1842) giai đoạn hương (2 tuần tuổi)
Nghiên cứu ảnh hưởng của các độ mặn khác nhau lên tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá
Chạch bùn Đài Loan (Misgurnus anguillicaudatus Cantor, 1842) giai đoạn hương đến
cá giống
Theo dõi sự biến động của các chỉ tiêu trong môi trường nước ương: nhiệt độ, pH và
NH3 trong thời gian ương
Trang 13CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU2.1 Đặc điểm sinh học của cá Chạch bùn Đài Loan
2.1.1 Đặc điểm phân loại, hình thái và phân bố
có nhiều chấm, mỗi chấm do rất nhiều chấm nhỏ hợp thành Ở gốc vây đuôi, có mộtchấm to màu đen, trên vây có nhiều sọc đen song song (Kim Văn Vạn, 2012)
Hình 2.1 Hình thái bên ngoài cá Chạch bùn Đài Loan
(Nguồn: http://www.tepbac.com.vn)
2.1.1.3 Phân bố
Trên thế giới, cá Chạch bùn Đài Loan phân bố chủ yếu ở châu Á như Trung Quốc,Lào, Thái Lan và Nhật Bản Ở Việt Nam, cá Chạch bùn Đài Loan phân bố ở vùng đồngbằng, trung du và miền núi các tỉnh phía Bắc, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên (NguyễnVăn Hảo, 2005) Cá Chạch bùn Đài Loan có thể sống ở sông, hồ, ao và ruộng lúa, nơi
có đáy bùn và nước chảy nhẹ (Bộ Thủy sản, 1996)
2.1.2 Tập tính sống
Cá Chạch bùn Đài Loan là một loài cá sống đáy ở khu vực nông của sông, hồ, ao,
Trang 14ruộng, kênh mương Cá Chạch bùn Đài Loan có sức thích nghi nhanh ở môi trườngxấu Khi nhiệt độ nước quá cao hoặc quá thấp cá rúc xuống bùn Khi thời tiết thay đổibất thường hay khi có triệu chứng bệnh, cá nổi lên mặt nước Ngoài hô hấp bằng da,mang, cá còn có thể hô hấp bằng ruột, khi nước thiếu ôxy cá ngoi lên trực tiếp mặtnước để đớp không khí, thực hiện trao đổi khí ở trong ruột sau đó khí được thải quahậu môn ra ngoài (Kim Văn Vạn, 2012).
2.1.3 Đặc điểm dinh dưỡng
Cá Chạch bùn Đài Loan là loài ăn tạp, lúc nhỏ ăn động vật là chính, về sau chuyển dầnsang ăn tạp Giai đoạn trưởng thành cá ăn thực vật là chủ yếu Thân cá nhỏ hơn 5cmchủ yếu ăn luân trùng, râu ngành, chân chèo và các động vật phù du khác Thân cá dàikhoảng 5 - 8cm ngoài thức ăn động vật phù du, cá Chạch bùn Đài Loan còn ăn giunnhỏ và ấu trùng muỗi lắc Thân cá dài khoảng 8 - 9cm ăn tảo khuê, thân lá cây cỏ non
và hạt ngũ cốc và trên 9cm cá chuyển sang ăn thực vật là chính Ngoài ra, nuôi cáChạch bùn Đài Loan có thể sử dụng nhiều loại thức ăn khác nhau như khô đậu, cámgạo, nhộng tằm, thức ăn công nghiệp, cá tạp, ốc xay Cho cá ăn đầy đủ lượng thức ănbằng 5 - 8% khối lượng thân (Kim Văn Vạn, 2012)
2.1.4 Đặc điểm sinh trưởng
Nhiệt độ phù hợp cho cá Chạch bùn Đài Loan sinh trưởng từ 15 - 300C, thích hợp nhất
từ 25 - 270C Ở nhiệt độ này cá ăn khỏe và mau lớn Cá Chạch bùn Đài Loan mới nởchỉ to bằng đầu kim khâu, sau 1 tháng chiều dài của cá khoảng 2 - 3cm Cá Chạch bùnĐài Loan trưởng thành nặng khoảng 30 - 60g, cá thể to nhất nặng 100g và dài 20cm
Cá Chạch bùn Đài Loan có kích thước cá thể nhỏ, trung bình 15cm, chiều dài lớn nhất
là 28cm (Bộ Thủy sản, 1996)
2.1.5 Đặc điểm sinh sản
Mùa vụ sinh sản của cá Chạch bùn Đài Loan vào tháng 4 - 10, thường tập trung từ
tháng 6 - 8 hàng năm (Bùi Huy Cộng và ctv., 2011) Sức sinh sản thay đổi theo chiều
dài thân của cá cái Thân cá cái dài 8cm, 15cm và 20cm có sức sinh sản lần lượt:khoảng 7000 trứng, 12.000 - 18.000 trứng và 16.000 - 24.000 trứng (Kim Văn Vạn,2012)
Dựa vào quan sát ngoại hình, khi vuốt nhẹ thấy dịch có màu trắng nhạt là cá Chạchbùn Đài Loan đực đã thành thục Giải phẫu, quan sát bằng mắt thường thấy có hai dảitinh màu trắng nằm ở sát cơ lưng, hai dải tinh dính nhau ở phía cuối của hệ niệu sinhdục Đối với cá Chạch bùn Đài Loan cái, khi thành thục hai buồng trứng có màu hơihồng là phát triển tốt Trứng đã rời và tròn đều thì cá có khả năng tham gia sinh sản
(Bùi Huy Cộng và ctv., 2011).
Trang 15Trứng cá có dạng hình tròn, đường kính 1,2 - 1,5 mm, màu vàng, có tính dính nhưnglực bám không mạnh Khi đẻ trứng cá đực dùng miệng kích thích vào bụng cá cái, cácái ngoi lên mặt nước, cá đực đuổi theo và quấn chặt vào thân cá cái, lúc này cá cái đẻtrứng, cá đực phóng tinh Trứng cá dính trên cỏ nước hoặc các vật bám khác, sau 2 - 3ngày trứng nở thành cá bột (Kim Văn Vạn, 2012).
2.2 Một số kết quả nghiên cứu về ương giống cá Chạch bùn Đài Loan
Bùi Huy Cộng và ctv (2011), đã nghiên cứu về ương giống cá Chạch bùn Đài Loan (Misgurnus anguillicaudatus Cantor, 1842) và đạt một số kết quả sau:
Kết quả ương cá Chạch bùn Đài Loan từ giai đoạn bột lên hương
Thử nghiệm ương cá Chạch bùn Đài Loan trong bể xi măng với các mật độ khác nhau,cho kết quả tăng trưởng cũng khác nhau Sau 21 ngày ương, ở mật độ 100 con/m2 cókết quả tốt nhất, tỷ lệ sống của cá đạt 60% và chiều dài trung bình đạt 2,5 ± 0,04cm/con Ương ở mật độ 150 con/m2 và 200 con/m2, cá có chiều dài trung bình và tỷ lệsống tương ứng 2,3 ± 0,05 cm/con; 2,1 ± 0,05 cm/con và 58%, 55% Kết quả ương cáChạch bùn Đài Loan giai đoạn bột ở các mật độ khác nhau có sự sai khác có ý nghĩa
thống kê (p < 0,05) về chiều dài trung bình của cá Từ kết quả trên cho thấy, khi mật
độ càng cao thì tốc độ tăng trưởng của cá càng chậm
Kết quả ương cá Chạch bùn Đài Loan từ giai đoạn hương lên giống
Kết quả ương cá Chạch bùn Đài Loan trong 3 bể xi măng (lặp lại 3 lần) từ giai đoạn cáhương lên cá giống ở mật độ 100 con/m2 Cá thả có khối lượng trung bình 0,146 g/con,sau 43 ngày ương bằng thức ăn viên 35% protein cá đạt khối lượng trung bình 2,6g/con Kết quả tốc độ sinh trưởng trung bình của cá Chạch bùn Đài Loan đạt 0,057g/con/ngày; tỷ lệ sống dao động ở các bể 60 - 68%; Chỉ số FCR là 1,5
2.3 Ảnh hưởng của độ mặn lên tăng trưởng và tỷ lệ sống của động vật thủy sản
Trong tự nhiên, nồng độ muối là một giới hạn sinh thái tương đối lớn đối với thủy sinhvật Tùy theo đặc điểm sinh thái, sinh lý của từng loài mà có thể sống ở những nơi cónồng độ muối thích hợp khác nhau, phù hợp với sự tăng trưởng và phát triển của từngloài Độ mặn có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình tăng trưởng và tỷ lệ sống của động vậtthuỷ sản (Nguyễn Văn Thường, 2006)
Theo Boeuf et al (2001), thống kê các nghiên cứu báo cáo từ năm 1971 đến năm 1995
của nhiều tác giả về ảnh hưởng của độ mặn lên sự sinh trưởng và phát triển của một sốloài cá nước ngọt và nước lợ cho rằng: trong phần lớn các loài, sự thụ tinh của trứng,
sự phát triển của phôi, sự sinh trưởng của ấu trùng là tùy thuộc vào độ mặn, tỷ lệchuyển hóa thức ăn lấy vào và thức ăn tiêu thụ Các số liệu cũng đã cho thấy giới hạncủa thức ăn lấy vào và kích thích sự chuyển đổi thức ăn phụ thuộc rất lớn vào độ mặncủa môi trường Nhiệt độ và độ mặn có sự tương tác qua lại với nhau Tác giả cũng cho
Trang 16rằng ngoài các yếu tố môi trường khác thì nồng độ muối cũng ảnh hưởng đến quá trìnhsinh trưởng của cá.
Nhu cầu về muối của cơ thể thủy sinh vật và quan hệ về nồng độ muối giữa cơ thể vớimôi trường ngoài thể hiện rõ nhất ở giới hạn phân bố theo nồng độ muối ở thủy sinhvật, mỗi loài sinh vật nói chung chỉ sống ở nơi có nồng độ muối phù hợp, khi nồng độmuối thay đổi sẽ làm thay đổi ASTT và ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất Giữa cơthể thủy sinh vật và môi trường nước có một quan hệ nhất định về thành phần và nồng
độ muối hay gọi là quan hệ thẩm thấu, đó là điều kiện để sinh vật sống bình thường(Đặng Ngọc Thanh, 1974)
Theo kết quả nghiên cứu của Gavin et al (2001), cá Vền đen (Acanthopagrus
butcheri) tiền trưởng thành có thể sống và tăng trưởng ở độ mặn từ 0 đến 48‰ Ở độ
mặn 60‰ cá bị sốc, tuy nhiên ảnh hưởng đến tỷ lệ sống thì không ý nghĩa Cá nuôi ở
độ mặn 24‰ có tỷ lệ tăng trưởng (SGR) là 2,34 %/ngày và tỷ lệ này thì lớn hơn có ý
nghĩa (p < 0,05) so với cá nuôi ở độ mặn 60‰ (2,16%/ngày) Ở độ mặn 24‰ cá tăng
trưởng nhanh nhất, lượng thức ăn ăn vào và chỉ số FCR cũng rất hiệu quả
Theo kết quả nghiên cứu của Phan Quốc Thoại (2000), cho biết khi ương cá Chẽm
(Lates calcarifer) giai đoạn hương đến cá giống ở độ mặn 0‰, tốc độ tăng trưởng của
cá cao nhất (0,018 g/ngày)
Nguyễn Văn Kiểm và Trang Văn Phước (2011), cho rằng khi ương cá Sặc rằn
(Trichogaster pectoralis) ở môi trường nước ngọt (0‰) có tỷ lệ sống cao nhất
(80,45%) và tỷ lệ sống của cá giảm (2,45%) khi ương cá ở độ mặn 13‰ Và mức tăngtrưởng của cá cũng giảm khi độ mặn tăng
Theo Nguyễn Thị Hồng Thắm (2002), độ mặn có ảnh hưởng lên tăng trưởng và tỷ lệ
sống của cá Chẽm mõm nhọn (Psammoperca waigiensis) Ở độ mặn 10‰, tỷ lệ sống
của cá cao nhất và thấp nhất ở độ mặn 30‰
Theo Matthew et al (2006), khi nuôi cá Bớp (Rachycentron canadum) ở độ mặn thấp
có khả năng giảm tỷ lệ mắc bệnh và đơn giản hoá khâu quản lý nước Tỷ lệ sống của
cá hương ở nghiệm thức 5‰ là 68,3% thấp hơn nghiệm thức 15‰ là 90% và nghiệmthức 30‰ là 92,5% Chỉ số FCR cao với tất cả các nghiệm thức nằm trong khoảng 1,05
- 1,13 Cá nuôi ở độ mặn 5‰ tăng trưởng bằng hoặc tốt hơn cá nuôi ở độ mặn 15‰ và30‰ Nghiên cứu này cho thấy, cá Bớp ở giai đoạn hương nên nuôi ở độ mặn thấpkhoảng 5‰
Trang 17CHƯƠNG 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian thực hiện đề tài từ ngày 5/03/2014 đến 13/04/2014
Đề tài được thực hiện tại trại thực nghiệm thuộc khoa Sinh học ứng dụng, Trường
Đại học Tây Đô, khu vực Thạnh Mỹ, phường Lê Bình, quận Cái Răng, thành phố
Cân điện tử, thước đo;
Ống nhựa dùng siphon đáy, vợt thu mẫu, thau, xô;
Khúc xạ kế, nhiệt kế, pH test kit, NH4 /NH3 test kit;
Và một số vật liệu khác cần thiết cho nghiên cứu
3.2.2 Đối tượng nghiên cứu
Cá Chạch bùn Đài Loan (Misgurnus anguillicaudatus) giai đoạn cá hương (2 tuần
tuổi)
3.2.3 Thức ăn
Thức ăn sử dụng cho ương cá: thức ăn công nghiệp có hàm lượng protein thô 42%,
thức ăn dạng viên nổi với kích cỡ 0,8 li và được mua từ đại lý thức ăn thủy sản Mỹ
Dung, Thị Trấn Cái Tắc - Huyện Châu Thành A - Tỉnh Hậu Giang
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Hệ thống thí nghiệm
Nguồn nước
Nước ngọt được sử dụng trong thí nghiệm là nước máy thành phố được chứa trong
bể 500L qua túi lọc và có sục khí trước khi sử dụng
Nước ót có độ mặn 80 - 100 ppt được mua từ trại sản xuất tôm giống Đăng Khoa,
phường An Bình - quận Cái Răng - TP Cần Thơ, sau đó nước ót được xử lý bằng
chlorine 60 ppm và kết hợp sục khí liên tục cho hết chlorine
Nước lợ mặn được pha từ nước ngọt và nước ót
Nguồn cá thí nghiệm
Trang 18Nguồn cá Chạch bùn Đài Loan giai đoạn hương (1 tuần tuổi) được mua tại trại cágiống Tiện, Thị Trấn Cái Tắc - Huyện Châu Thành A - Tỉnh Hậu Giang Sau khivận chuyển về, cá được giữ trong bể composite 500L khoảng 1 tuần để loại bỏnhững cá thể yếu và cá không đồng đều kích cỡ.
3.3.2 Bố trí thí nghiệm
Cá được bố trí thí nghiệm ở giai đoạn hương, chọn cá có kích cỡ đồng đều khỏemạnh và màu sắc sáng để tiến hành bố trí thí nghiệm Các nghiệm thức được bố trícùng nguồn nước, cùng thể tích nước, cùng chế độ chăm sóc và quản lý Trước khi
bố trí thí nghiệm, 30 con cá hương được cân và đo ngẫu nhiên để xác định khốilượng và chiều dài trung bình ban đầu
3.3.2.1 Thí nghiệm 1: Xác định ngưỡng độ mặn của cá Chạch bùn Đài Loan giai đoạn hương (2 tuần tuổi)
Thí nghiệm được bố trí vào bể composite 20L có thể tích nước 2L/bể Thí nghiệmđược bố trí trong nhà có mái che và sục khí liên tục Thời gian kết thúc thí nghiệmkhi cá chết 50% Thí nghiệm gồm 5 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức được lặp lại 3lần (ương với mật độ 4 con/L) và được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên
Nghiệm thức đối chứng: nước ngọt
Áp dụng công thức: C1V1 = C2V2 Trong đó:
Trang 19C1: độ mặn nước ban đầu (‰)
V1: thể tích nước ban đầu dùng để pha (lít)
Ghi nhận thời gian cá bắt đầu chết đến khi cá chết 50% và 100%
Ghi nhận giá trị độ mặn tại đó cá chết và độ mặn có tỷ lệ sống cao nhất
3.3.2.2 Thí nghiệm 2: Thử nghiệm ương cá Chạch bùn hương từ 21 ngày tuổi đến 50 ngày tuổi
Thí nghiệm 2 được rút ra từ thí nghiệm 1 sau khi xác định được thời gian gây chết
cá 50% và 100% tại độ mặn nào đó Như vậy, thí nghiệm thử nghiệm ương cáChạch bùn phải có độ mặn thấp hơn độ mặn gây chết cá của thí nghiệm 1 Điềukhác biệt là các độ mặn gần với ngưỡng gây chết 50% cá và được thuần hóa vớibước nhảy độ mặn nhỏ hơn
Thí nghiệm được bố trí vào bể nhựa 60L có thể tích nước 30L/bể Thí nghiệm được
bố trí trong nhà có mái che và sục khí liên tục Thí nghiệm gồm 5 nghiệm thức, mỗinghiệm thức được lặp lại 3 lần (ương với mật độ 4 con/L) và được bố trí hoàn toànngẫu nhiên
Dự kiến độ mặn ở thí nghiệm 2 như sau:
Nghiệm thức đối chứng: nước ngọt
‰
Trang 20Cá Chạch bùn Đài Loan hương được trữ trong bể nước ngọt có thể tích nước 0,5m3
với số lượng cá dự kiến trong thí nghiệm khoảng 2.000 con Sau 2 giờ tăng độ mặn1‰ nâng dần lên tới 5‰ và giữ cá trong 24 giờ ở độ mặn này Sau đó, bố trí cá vàocác bể thí nghiệm ở nghiệm thức 1 với mật độ 4 con/L Các nghiệm thức còn lại,tăng độ mặn tương tự như trên và bố trí cá vào các nghiệm thức độ mặn tương ứng
Hình 3.3 Hệ thống bể thí nghiệm 3.4 Chăm sóc và quản lý
3.4.1 Quản lý cho ăn
Thức ăn công nghiệp có kích cỡ phù hợp với cỡ miệng của cá và cho cá ăn theo nhucầu (7 giờ, 12 giờ, 17 giờ)
Trước khi cho cá ăn cần giảm sục khí, thức ăn được cho vào nơi cá tập trung nhiềugiúp cá bắt mồi dễ dàng và thỏa mãn nhu cầu cá ương
3.4.2 Quản lý bể ương
Định kì siphon đáy 2 ngày/lần vào buổi sáng trước khi cho ăn và thay khoảng 10 - 20%nước trong bể ương
Thường xuyên theo dõi và ghi nhận các hoạt động bắt mồi, bơi lội và phản ứng của cá
để có cách chăm sóc và điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp
3.5 Theo dõi các chỉ tiêu
3.5.1 Các yếu tố môi trường
Độ mặn: được kiểm tra 1 lần/tuần bằng khúc xạ kế (tùy theo nghiệm thức).
Nhiệt độ: Đo bằng nhiệt kế 2 lần/ngày (7 giờ và 14 giờ).
pH: Đo bằng bộ pH test kit (Việt Nam), 2 lần/ngày (7 giờ và 14 giờ).
NH 3: Đo bằng bộ NH4 /NH3 test kit (Việt Nam) vào buổi sáng trước khi thay nước.Hàm lượng NH3 được xác định dựa vào công thức sau:
Trang 21Hàm lượng NH3 (mg/L) = Tổng TAN x tỷ lệ % của NH3 (giá trị được tra trong bảng
Trang 22ΣnnWi
Wi (%) = - x 100 (3.8)
Σnn
Giải thích các đại lượng
WG: Tăng trưởng khối lượng( g)
Wđ, Wc: lần lượt là khối lượng cá trước và sau thí nghiệm (g)
DWG: Tốc độ tăng trưởng trọng lượng tuyệt đối (g/ngày)
SGR: Tốc độ tăng trưởng tương đối (%/ngày)
LG: Tăng trưởng chiều dài (cm)
Lđ, Lc: lần lượt là chiều dài cá trước và sau thí nghiệm (cm)
DLG: Tăng trưởng chiều dài theo ngày (cm/ngày)
T: Thời gian thí nghiệm (ngày)
Li: cá thể có chiều dài thuộc nhóm i (cm)
ΣnnLi: tổng số cá thể có chiều dài thuộc nhóm i (cm)
Wi: cá thể có khối lượng thuộc nhóm i (g)
ΣnnWi: tổng số cá thể có khối lượng thuộc nhóm i (g)
Σnn: tổng số cá thể thu được trên mỗi nghiệm thức (cá thể)
3.6 Xử lý số liệu
Số liệu được tính toán theo giá trị trung bình và độ lệch chuẩn bằng chương trìnhMicrosoft Excel Phân tích và xử lý thống kê số liệu bằng phần mềm thống kê SPSS16.0 với mức ý nghĩa 5% (hay độ tin cậy 95%)
Trang 23CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN4.1 Thí nghiệm 1: Xác định ngưỡng độ mặn của cá Chạch bùn Đài Loan giai đoạn hương (2 tuần tuổi)
Theo Lê Văn Cát và ctv (2006), độ mặn là một trong những yếu tố môi trường quan
trọng có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của thủy sinh vật, các thay đổi về độ mặn cóthể dẫn đến sinh vật phải điều hòa ASTT nhằm thích nghi với điều kiện môi trường
Bảng 4.1 Kết quả xác định ngưỡng độ mặn của cá trong thời gian thí nghiệm
Thời gian (giờ) Tỷ lệ cá chết (%)
h30’(50)
h15’(100)
Ghi chú: Các giá trị thể hiện trong dấu ngoặc đơn là tỷ lệ cá chết (%).
Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng, khi độ mặn thấp hơn 15‰ không ghi nhận cá chếtsau 72 giờ thí nghiệm Tuy nhiên, tại độ mặn 15‰ có 12,5% cá chết sau 48giờ 30 phútnhững cá còn lại bơi lội chậm chạp và tập trung dưới đáy bể nhưng không ghi nhận cáchết sau 72giờ Riêng độ mặn 20‰, sau 3giờ 50 phút đã có 12,5% cá chết, tỷ lệ cá chếttăng lên rất nhanh (50%) sau 4 giờ 30 phút và chết 100% sau 48giờ 15 phút
Theo Trương Quốc Phú và ctv (2006), độ mặn có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình
điều hòa ASTT của cá Khi độ mặn trong môi trường sống của thủy sinh vật tăng haygiảm vượt quá sự thích ứng của cá thì chúng sẽ bị sốc làm ảnh hưởng đến tỷ lệ sống vàtăng trưởng của cá Mặt khác, khi ở độ mặn quá cao, ASTT trong cơ thể cá thấp hơn sovới môi trường, cá cần điều tiết nhiều bằng cách thải muối và lấy nước đồng thời cá tiếtnhiều nhớt để điều hoà với môi trường Ngoài ra, cá cũng phải mất nhiều năng lượngcho việc điều hòa ASTT giữa máu và môi trường ngoài, cá tăng cường đào thải các ion
ra môi trường làm rối loạn trong việc trao đổi các ion trong cơ thể với môi trường ngoài.Điều này giải thích vì sao ở nghiệm thức 20‰ cá chết hoàn toàn so với các nghiệm thứccòn lại
Kết quả trên thể hiện, khi cá tiếp xúc trực tiếp với độ mặn cao hơn 10‰, khả năng chịuđựng của cá giảm do cá không thích ứng kịp với sự thay đổi độ mặn đột ngột Do đó,
tỷ lệ chết cũng cao hơn và thời gian gây chết cũng ngắn hơn Điều này chứng tỏ rằng,khi thay đổi độ mặn đột ngột làm cá phải tiêu hao năng lượng nhiều cho quá trình điềuhòa ASTT để thích nghi với môi trường đã làm giảm khả năng chịu đựng của cá
Trang 24Kết quả nghiên cứu cho thấy, khả năng chịu đựng với độ mặn của cá Chạch bùn ĐàiLoan cao hơn một số loài cá nước ngọt khác Theo kết quả nghiên cứu của Đặng
Thanh Sơn (2006), ngưỡng độ mặn của cá Chạch lấu (Mastacembelus armatus) ở giai đoạn hương là 11 ± 0,6‰ Ngưỡng độ mặn của cá Sặc rằn (Trichogaster pectoralis) ở giai đoạn hương là 12,3 ± 0,3‰ (Ngô Đinh Thị Phương Thảo, 2011) Đối với cá Chép (Cyprinus carpio L.), ngưỡng độ mặn của cá ở giai đoạn hương là 13,17 ± 0,29‰
(Nguyễn Bích Ngọc Đan Thanh, 2011) Theo Nguyễn Quế Thanh (2011), cá Mè trắng
(Hypophthalmichthys molitrix) ở giai đoạn hương có ngưỡng độ mặn là 10,9 ± 0,1‰.
Vậy, cá Chạch bùn Đài Loan là loài rộng muối hơn cá Chạch lấu, cá Sặc rằn, cá Chép
và cá Mè trắng, hay nói cách khác cá Chạch bùn Đài Loan có phạm vi thích ứng độmặn rộng hơn các loài cá trên
Như vậy có thể nhận định rằng, ngưỡng độ mặn của cá Chạch bùn Đài Loan giai đoạnhương (2 tuần tuổi) là 20‰ Tuy nhiên, từ kết quả nghiên cứu cũng có thể suy ra cáChạch bùn Đài Loan chỉ có thể sinh trưởng bình thường khi độ mặn của môi trườngthấp hơn 20‰
4.2 Thí nghiệm 2: Thử nghiệm ương cá Chạch bùn Đài Loan hương từ 21 ngày tuổi đến 50 ngày tuổi
4.2.1 Các yếu tố môi trường
4.2.1.1 Nhiệt độ
Cá là động vật biến nhiệt, nhiệt độ cơ thể cá thay đổi theo nhiệt độ môi trường nước.Nhiệt độ là yếu tố môi trường có tác động trực tiếp và gián tiếp đối với cá Tác độngtrực tiếp lên quá trình trao đổi chất và tiêu thụ oxy trong cơ thể Trong ao nuôi, sự tácđộng gián tiếp của nhiệt độ gây ảnh hưởng đến hàm lượng oxy hòa tan trong nước, visinh và khí độc trong ao Ngoài ra nhiệt độ có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sinh
trưởng, phát triển, sinh sản và di cư của tôm cá (Trương Quốc Phú và ctv., 2006).
Sự biến động của nhiệt độ nước trong thời gian thí nghiệm ương cá Chạch bùn ĐàiLoan ở các độ mặn khác nhau được trình bày ở Bảng 4.2
Bảng 4.2 Biến động nhiệt độ nước trong thời gian thí nghiệm
Ghi chú: Các giá trị thể hiện là giá trị trung bình và độ lệch chuẩn
Qua Bảng 4.2 xét trong cùng thời gian thí nghiệm, nhiệt độ giữa các nghiệm thứctương đối ổn định và chênh lệch nhau không đáng kể Nhiệt độ trung bình trong ngày
Trang 25dao động trong khoảng 26,3 ± 0,320C đến 29,8 ± 0,550C Trong suốt thời gian thínghiệm, nhiệt độ buổi sáng dao động từ 26,3 - 26,40C, nhiệt độ buổi chiều dao động từ29,7 - 29,80C Theo Nguyễn Quang Linh (2008), nhiệt độ là yếu tố rất cần thiết vàkhông thể loại trừ ra khỏi đời sống của thủy sinh vật, nhiệt độ trung bình thích hợp cho
sự tăng trưởng và phát triển của cá là 25 - 320C Vậy sự chênh lệch nhiệt độ sáng vàchiều (26,3 - 29,80C) nằm trong khoảng tương đối thích hợp cho sự tăng trưởng và pháttriển của cá
4.2.1.2 pH
Theo Lê Văn Cát và ctv (2006), pH là một trong những nhân tố môi trường quan
trọng, có ảnh hưởng rất lớn trực tiếp và gián tiếp đối với đời sống thủy sinh vật: sinhtrưởng, tỷ lệ sống, sinh sản và dinh dưỡng, nhưng thường pH ảnh hưởng trực tiếp làchủ yếu thông qua NH3, NH4 pH thích hợp cho sinh trưởng của cá là 6,5 - 9 Khi pHmôi trường quá cao hay quá thấp đều không thuận lợi cho quá trình phát triển của cá
pH ảnh hưởng đến cân bằng các quá trình hóa học, sinh học trong nước: cân bằngammoniac, sunfua hydro, clo hay ion kim loại…
Sự biến động của pH trong thời gian thí nghiệm được trình bày ở Bảng 4.3
Bảng 4.3 Biến động pH trong thời gian thí nghiệm
Nghiệm thức Độ mặn Buổi sáng Buổi chiều pH
Ghi chú: Giá trị thể hiện là giá trị trung bình và độ lệch chuẩn
Qua Bảng 4.3 xét trong cùng thời gian thí nghiệm, pH giữa các nghiệm thức tương đối
ổn định và chênh lệch nhau không đáng kể
Trong suốt thời gian thí nghiệm, pH trung bình trong ngày dao động trong khoảng từ7,71 ± 0,14 đến 8,13 ± 0,17 pH buổi sáng dao động từ 7,71 - 7,76, pH buổi chiều daođộng từ 7,98 - 8,13 Vậy pH ở thí nghiệm này nằm trong khoảng tương đối thích hợpcho sự phát triển của cá
Trang 26Boyd, 1990) Theo Colt và Armstrong (1979) (trích dẫn bởi Boyd, 1990), tác dụng độchại của NH3 đối với cá là khi hàm lượng NH3 trong nước cao, cá khó được bài tiết NH3
từ máu ra môi trường ngoài NH3 trong máu và các mô tăng làm pH máu tăng dẫn đếnrối loạn những phản ứng xúc tác của enzyme và độ bền vững của màng tế bào, làmthay đổi độ thẩm thấu của màng tế bào đưa đến cá chết vì không điều khiển được quátrình trao đổi muối giữa cơ thể và môi trường ngoài
Sự biến động của NH3 trong thời gian thí nghiệm ương cá Chạch bùn Đài Loan ở các
độ mặn khác nhau được trình bày ở Hình 4.4
Hình 4.4 Biến động NH 3 trong thời gian thí nghiệm
Theo Boyd (1990), nồng độ NH3 được xem là an toàn cho cá là 0,13 mg/L Do đó, việctheo dõi hàm lượng NH3 trong nuôi thủy sản là rất cần thiết để nâng cao năng suất.Qua Hình 4.4 cho thấy, hàm lượng NH3 trung bình trong thời gian thí nghiệm dao độngtrong khoảng 0,002 - 0,006 mg/L Ở nghiệm thức đối chứng và nghiệm thức 1 (5‰),hàm lượng NH3 cao nhất 0,006 mg/L, thấp nhất (0,002 mg/L) ở nghiệm thức 4 (15‰).Các nghiệm thức còn lại dao động trung bình từ 0,003 - 0,005 mg/L Qua quá trìnhchăm sóc và quản lí trong suốt thời gian thí nghiệm cho thấy, mức độ sử dụng thức ăncủa cá giảm khi độ mặn trong môi trường nước tăng, do đó chất bài tiết của cá ra môitrường nước cũng giảm theo Mặt khác, hàm lượng NH3 cũng phụ thuộc vào nhiệt độ
và pH trong môi trường nước Khi nhiệt độ và pH nước tăng cao, độc tính của NH3
cũng tăng theo và ngược lại (Trương Quốc Phú và ctv., 2006) Tuy nhiên, nhiệt độ và
pH trong suốt thời gian thí nghiệm đều nằm trong khoảng tương đối thích hợp cho sự
Trang 27phát triển của cá Vì vậy, hàm lượng NH3 trong thí nghiệm được xem là an toàn khôngảnh hưởng đến sự phát triển của cá.
4.2.2 Ảnh hưởng của độ mặn lên tỷ lệ sống của cá Chạch bùn Đài Loan hương từ
21 ngày tuổi đến 50 ngày tuổi
Trong quá trình thí nghiệm tất cả các điều kiện môi trường có thể ảnh hưởng đến tỷ lệsống cá Chạch bùn Đài Loan đều được duy trì trong điều kiện thích hợp Như vậy, tỷ lệsống của cá Chạch bùn Đài Loan trong các nghiệm thức của thí nghiệm này đượcquyết định bởi độ mặn
Kết quả nghiên cứu tỷ lệ sống của cá ương trong các độ mặn khác nhau được trình bày
ở Hình 4.5
(%)
88.1ab90.3ab
89.2ab
95b83.1a
Hình 4.5 Tỷ lệ sống của cá Chạch bùn Đài Loan
Qua Hình 4.5 cho thấy, sau 30 ngày ương tỷ lệ sống của cá dao động từ 83,1 - 95,0%
Tỷ lệ sống của cá cao nhất (95,0%) ở nghiệm thức 1 (5‰) và khác biệt có ý nghĩa
thống kê (p < 0,05) so với nghiệm thức đối chứng (83,1%) Tỷ lệ sống của cá ở các
nghiệm thức 10‰, 13‰ và 15‰ có xu hướng giảm dần nhưng khác biệt không có ý
nghĩa thống kê (p > 0,05) so với nghiệm thức đối chứng và 5‰
Ở môi trường nước ngọt, tỷ lệ sống của cá thấp nhất (83,1%) so với các nghiệm thứccòn lại, do trong quá trình ương nuôi cá có hiện tượng bụng trương to và chết, cácnghiệm thức còn lại thì cá không có hiện tượng trên Trong khi đó, tỷ lệ sống cao nhất(95%) ở nghiệm thức 1 (5‰) Theo Đặng Ngọc Thanh (1974), cá nước ngọt có nồng
độ muối của dịch cơ thể ở trong khoảng 5 - 8‰ tùy loài Cho nên, tại độ mặn gần điểmđẳng áp cá có ASTT cân bằng so với môi trường ngoài nên cá dễ dàng thích nghi Mặt
Trang 28khác, cá cũng tốn năng lượng ít cho việc điều hòa ASTT và đào thải các ion ra môitrường nên cá có tỷ lệ sống cao.
Nhìn chung, tỷ lệ sống của cá ở các nghiệm thức cao là do cá hương được thuần hóa độmặn Thuần hóa là một quá trình liên quan đến những phản ứng về sinh lý và đặc tínhcủa động vật thủy sản đối với những thay đổi của môi trường Thuần hóa sẽ giúp độngvật thủy sản thích nghi dần với những thay đổi bên ngoài của môi trường nhất là nhiệt
độ và độ mặn Khi môi trường sống thay đổi đột ngột sẽ làm rối loạn quá trình sinh lýbên trong cơ thể của động vật thủy sản như quá trình điều hòa ASTT hay quá trình hấpthu oxy Nếu không thích ứng kịp với những thay đổi bất thường sẽ dẫn đến tử vonghoặc ảnh hưởng đến quá trình tăng trưởng sau này (Đỗ Thị Thanh Hương và Trần ThịThanh Hiền, 2000) Theo Đặng Ngọc Thanh (1974), phương hướng điều hòa muối ởmột loài thủy sinh vật (tăng hay giảm) không phải cố định mọi lúc mọi nơi, mà tùy vàođiều kiện cụ thể về nồng độ muối của môi trường ngoài mà thay đổi Khi nồng độ muốibên ngoài giảm thấp, nước sẽ có xu hướng ngấm vào cơ thể và làm giảm nồng độ muối
cơ thể, do đó thủy sinh vật cần điều hòa tăng để giữ được nồng độ muối cần thiết.Ngược lại, khi nồng độ muối bên ngoài tăng cao, nước có xu hướng thoát ra ngoài vàlàm tăng nồng độ muối cơ thể, do đó sinh vật sẽ điều hoà để thích nghi Điều này giảithích vì sao tỷ lệ sống của cá ở các nghiệm thức cao và chênh lệch nhau không đángkể
Theo kết quả nghiên cứu của Vương Học Vinh và ctv (2011), tỷ lệ sống của cá Tra nghệ (Pangasius kunyit) giai đoạn bột đến 30 ngày tuổi cao nhất (69,9%) ở nghiệm
thức 6‰ và thấp nhất (29,6%) ở nghiệm thức đối chứng 0‰
Nguyễn Thị Oanh (2009), cho rằng khi ương cá Sặc rằn (Trichogaster pectoralis) giai
đoạn bột lên giống có tỷ lệ sống cao nhất (22%) ở nghiệm thức độ mặn 3‰ và thấpnhất (3%) ở nghiệm thức độ mặn 11‰
Theo Trần Quang Nhị (2009), tỷ lệ sống của cá Trê vàng (Clarias macrocephalus) giai
đoạn bột đến 30 ngày tuổi ở nghiệm thức 6‰ là cao nhất (81,3%) và thấp nhất (4%) ởnghiệm thức độ mặn 14‰
Kết quả trên cho thấy, cá Tra nghệ, cá Sặc rằn và cá Trê vàng là loài sống ở nước ngọtmặc dù đã được thuần hóa ở các độ mặn khác nhau nhưng tỷ lệ sống vẫn thấp hơn sovới cá Chạch bùn Đài Loan
Như vậy, có thể cho rằng cá Chạch bùn Đài Loan có phạm vi thích ứng độ mặn rộnghơn các loài cá trên và có thể ương nuôi cá Chạch bùn Đài Loan ở độ mặn 15‰ nếu cáđược thuần hóa trong độ mặn tăng dần
4.2.3 Ảnh hưởng của độ mặn lên tăng trưởng của cá Chạch bùn Đài Loan hương
từ 21 ngày tuổi đến 50 ngày tuổi
Trang 294.2.3.1 Tăng trưởng theo khối lượng của cá Chạch bùn Đài Loan
Theo Lê Văn Cát và ctv (2006), môi trường sống có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình
tăng trưởng của cá, trong đó có yếu tố về độ mặn, cá sống trong môi trường ưu trương(Hypertonic) hay nhược trương (Hypotonic) đều phải sử dụng một phần năng lượng đểđiều hòa ASTT
Kết quả nghiên cứu sự tăng trưởng khối lượng của cá ương trong các độ mặn khácnhau được trình bày ở Bảng 4.6
Bảng 4.6 Tăng trưởng khối lượng của cá Chạch bùn Đài Loan
(g/ngày)
SGR (%/ngày)
Qua Bảng 4.6 cho thấy, mức gia tăng khối lượng của cá có sự giảm dần khi độ mặntăng Tăng trưởng khối lượng (WG) của cá ở các nghiệm thức độ mặn (đối chứng, 5‰
và 10‰) có sự khác nhau rõ rệt Tăng trưởng cao nhất là cá ương ở nghiệm thức 5‰(1,47 g/con) và chậm nhất là cá ương ở nghiệm thức 10‰ (0,65 g/con) Trong khi đó,mức gia tăng khối lượng của cá ở hai nghiệm thức 13‰ và 15‰ tăng chậm hơn và
không có sự sai khác (p > 0,05).
Nguyên nhân dẫn đến mức tăng trưởng khối lượng của cá ương ở nghiệm thức 5‰ caonhất có thể do nồng độ muối trong cơ thể cá gần tương đương với nồng độ muối bênngoài, cá tiêu hao năng lượng ít để điều hòa ASTT nên cá lớn nhanh hơn Trong khi
đó, ở các độ mặn 10‰, 13‰ và 15‰ cá tiêu hao năng lượng nhiều hơn nên cá lớnchậm hơn
Kết quả nghiên cứu ghi nhận, cá Chạch bùn Đài Loan có tốc độ tăng trưởng nhanh nhấttrong môi trường có độ mặn thấp (5‰) và điều cần chú ý là ở môi trường có độ mặn5‰ không thấy xuất hiện bệnh trên cá
Theo Lưu Văn Cảnh (2011), khi ương cá Sặc rằn (Trichogaster pectoralis) giai đoạn
bột lên hương ở nghiệm thức 0‰ và 5‰ cá có mức gia tăng khối lượng cao nhất lầnlượt là 0,255 g/con và 0,217 g/con Trong khi đó, mức gia tăng khối lượng của cá ởnghiệm thức 15‰ thấp nhất (0,046 g/con)
Trang 30Theo kết quả nghiên cứu của Trần Quang Nhị (2009), tốc độ tăng trưởng khối lượng
của cá Trê vàng (Clarias macrocephalus) giai đoạn bột đến 30 ngày tuổi cao nhất ở
nghiệm thức 0‰ (1,44 g/con) Trong khi đó, tốc độ tăng trưởng khối lượng của cá ởnghiệm thức 14‰ thấp nhất (0,44 g/con)
Tương tự các loài cá trên, cá Chạch bùn Đài Loan có thể tăng trưởng tốt ở độ mặn thấphơn 5‰, nhưng khi độ mặn cao hơn 5‰ thì mức tăng trưởng của cá bị ảnh hưởng rõrệt, hay nói cách khác mức tăng trưởng của cá giảm
Tốc độ tăng trưởng khối lượng theo ngày (DWG) của cá ở các nghiệm thức độ mặndao động từ 0,01 - 0,05 g/ngày: cao nhất ở nghiệm thức 1 (0,05 g/ngày) và khác biệt có
ý nghĩa thống kê (p < 0,05) so với các nghiệm thức còn lại Kế đó là tốc độ tăng
trưởng khối lượng theo ngày (DWG) của cá ở nghiệm thức đối chứng (0,04 g/ngày) và
khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) so với các nghiệm thức còn lại Trong khi đó,
tốc độ tăng trưởng khối lượng theo ngày (DWG) của cá ở nghiệm thức 3 và nghiệm
thức 4 thấp nhất (0,01g/ngày) và khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) so với
nghiệm thức đối chứng và nghiệm thức 1 nhưng khác biệt không có ý nghĩa thống kê
(p > 0,05) so với nghiệm thức 2.
Tốc độ tăng trưởng đặc biệt (SGR) của cá ở các nghiệm thức độ mặn dao động từ 0,17
- 1,39%/ngày, cao nhất (1,39 %/ngày) ở nghiệm thức 1 và khác biệt có ý nghĩa thống
kê (p < 0,05) so với các nghiệm thức còn lại Kế đó là tốc độ tăng trưởng đặc biệt
(SGR) của cá ở nghiệm thức đối chứng (1,12 %/ngày) và khác biệt có ý nghĩa thống kê
(p < 0,05) so với các nghiệm thức còn lại Trong khi đó, tốc độ tăng trưởng đặc biệt
(SGR) của cá ở nghiệm thức 4 thấp nhất (0,17 %/ngày) và khác biệt có ý nghĩa thống
kê (p < 0,05) so với các nghiệm thức còn lại.
Qua quá trình quan sát và ghi nhận ở tuần ương thứ nhất, khả năng bắt mồi của cá ởmôi trường nước ngọt và 5‰ tốt nhất, điều đó chứng tỏ độ mặn này phù hợp với quátrình sống của cá Các nghiệm thức còn lại, mức độ bắt mồi của cá kém hơn
Từ tuần ương thứ hai, cá đã thích nghi với môi trường, cá ở độ mặn 10‰ bắt mồi linhhoạt và tốt hơn Đối với nghiệm thức độ mặn 13‰ và 15‰, cá bắt mồi rất ít Điều nàygiải thích rõ một điều, khi ương cá ở độ mặn càng cao thì sự phát triển của cá cànggiảm do nồng độ muối quá cao có ảnh hưởng đến hoạt động sống và khả năng bắt mồicủa cá (cá không bắt mồi hoặc bắt mồi yếu) Trong môi trường sống có độ mặn càngcao, cá càng mất nhiều năng lượng cho quá trình điều hòa ASTT từ trữ muối sang trữnước Nếu thời gian cá sống trong môi trường có độ mặn cao càng kéo dài sẽ dẫn đến
cá bắt mồi kém, bỏ ăn, cá sẽ bị suy kiệt về năng lượng dự trữ, từ đó tốc độ tăng trưởngcủa cá chậm lại và có thể cá sẽ chết Từ kết quả nghiên cứu cho thấy, độ mặn từ 0 -5‰ là khoảng độ mặn phù hợp cho sự tăng trưởng cá Chạch bùn Đài Loan giai đoạnhương đến cá giống, có thể đáp ứng nhu cầu ương nuôi cá Chạch bùn ở vùng nước lợ
Trang 314.2.3.2 Tăng trưởng theo chiều dài của cá Chạch bùn Đài Loan
Bên cạnh tăng trưởng về khối lượng thì tăng trưởng về chiều dài của cá ở các nghiệmthức cũng có sự khác nhau
Tốc độ tăng trưởng chiều dài của cá Chạch bùn Đài Loan ở các nghiệm thức có độ mặnkhác nhau được trình bày ở Bảng 4.7
Bảng 4.7 Tăng trưởng chiều dài của cá Chạch bùn Đài Loan
Ghi chú: Giá trị thể hiện là giá trị trung bình và độ lệch chuẩn Các ký tự giống nhau trên cùng một cột thể hiện
sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) và các ký tự khác nhau trên cùng một cột thể hiện sự khác biệt
có nghĩa thống kê (p < 0,05).
Qua Bảng 4.7 cho thấy, mức tăng trưởng về chiều dài (LC) của cá giữa các nghiệmthức độ mặn có sự biến đổi nhất định Mức tăng trưởng về chiều dài của cá ở độ mặn5‰ là nhanh nhất (1,00 cm/con), trong khi đó mức tăng trưởng về chiều dài của cá ởcác nghiệm thức còn lại giảm dần theo độ mặn và biểu hiện rõ nhất là khi độ mặn caohơn 5‰, chiều dài của cá không đáng kể
Tốc độ tăng trưởng chiều dài theo ngày (DLG) của cá ở các nghiệm thức độ mặn daođộng từ 0,02 - 0,03 cm/ngày Cao nhất ở nghiệm thức đối chứng và nghiệm thức 1
(0,03cm/ngày) và khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) so với tốc độ tăng trưởng
chiều dài theo ngày của cá ở các nghiệm thức còn lại Trong khi đó, tốc độ tăng trưởngchiều dài theo ngày (DLG) của cá ở nghiệm thức 2, nghiệm thức 3 và 4 thấp nhất (0,02
cm/ngày) và khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) so với nghiệm thức đối chứng và
nghiệm thức 1
Nhìn chung sau 30 ngày thí nghiệm, chiều dài của cá tăng khi độ mặn trong môitrường nước giảm dần Khi độ mặn càng cao, khả năng bắt mồi của cá càng giảm vì thếtăng trưởng khối lượng của cá sẽ giảm kéo theo tăng trưởng chiều dài của cá cũnggiảm Mặt khác, cá mất khoảng 10% năng lượng cho quá trình điều hòa ASTT cơ thể,cho nên tại độ mặn gần điểm đẳng áp cá sẽ ít tốn năng lượng hơn cho quá trình điều
hòa ASTT cơ thể và ngược lại (Boeuf et al., 2001) Vì thế, ở nghiệm thức đối chứng và
nghiệm thức 5‰ tốc độ tăng trưởng chiều dài của cá cao hơn so với tốc độ tăng trưởngchiều dài của cá ở các nghiệm thức còn lại
Trang 32Kết quả nghiên cứu này phù hợp với kết quả nghiên cứu của Ngô Huỳnh Anh Võ
(2011), kết quả ghi nhận mức tăng trưởng về chiều dài của cá Tra (Pangasianodon
hypophthalmus) giai đoạn bột lên hương cao nhất (4,49 cm/con) ở nghiệm thức 1‰ và
3‰; thấp nhất (3,78 cm/con) ở nghiệm thức 9‰ Quách Thị Hồng Vân (2012), cho
rằng độ mặn có ảnh hưởng lên tăng trưởng chiều dài của cá Chốt (Mystus gulio) giai
đoạn bột đến 30 ngày tuổi Sự gia tăng về chiều dài của cá cao nhất (2,68 cm/con) ở độmặn 5‰ và thấp nhất (2,30 cm/con) ở độ mặn 15‰
4.2.4 Ảnh hưởng của độ mặn lên sự phân hóa tăng trưởng của cá Chạch bùn Đài Loan hương từ 21 ngày tuổi đến 50 ngày tuổi
4.2.4.1 Sự phân hóa tăng trưởng theo khối lượng
Phân hóa tăng trưởng là thuộc tính của sinh vật Tuy nhiên, tùy điều kiện sống khácnhau, mức độ phân hóa tăng trưởng sẽ khác nhau Nếu điều kiện môi trường sốngthuận lợi thì tăng trưởng của cá sẽ đồng đều hơn và ngược lại
Kết quả nghiên cứu sự phân hóa tăng trưởng theo khối lượng của cá ương ở độ mặnkhác nhau được trình bày ở Hình 4.8
Hình 4.8 Tỷ lệ phân hóa tăng trưởng theo khối lượng của cá
ở các nghiệm thức độ mặn
Nhìn chung, ở tất cả các nghiệm thức độ mặn đều có sự phân hóa khối lượng và cóthể chia thành 3 nhóm cá có khối lượng khác nhau: nhóm cá có khối lượng nhỏ hơn 3g/con; nhóm cá có khối lượng từ 3 - 5 g/con; nhóm cá có khối lượng lớn hơn 5 g/con.Đối với nhóm cá có khối lượng nhỏ hơn 3 g/con: tỷ lệ nhóm cá này tăng dần khi độ
10,4 77,3 12,3
4,96 74,2 20,8
34,3
58,9 6,86
53,6
44,2 2,15
69,7
30 0,28
Trang 33mặn tăng, ở độ mặn 13‰ và 15‰ cá nhỏ chiếm hơn 50%, trong khi đó nhóm cá cókhối lượng lớn hơn 5 g/con chiếm tỷ lệ rất thấp lần lượt là 2,15% và 0,28%.
Nhóm cá có khối lượng lớn hơn 5 g/con cao nhất (20,8%) ở nghiệm thức 5‰, kế đó
là nghiệm thức đối chứng (12,3%), còn nghiệm thức 10‰ là 6,86%
Như vậy, do cá sống ở độ mặn cao nên tốn nhiều năng lượng để điều hòa ASTT (đãgiải thích ở phần tăng trưởng) nên tỷ lệ cá nhỏ hơn 3 g/con chiếm tỷ lệ cao hơn.Kết quả nghiên cứu ghi nhận, sự phân hóa khối lượng của cá ở nghiệm thức 1 (5‰)thể hiện thấp nhất, với 4,96% nhóm cá có khối lượng nhỏ hơn 3 g/con; 74,2% nhóm
cá có khối lượng từ 3 - 5 g/con; 20,8% nhóm cá có khối lượng lớn hơn 5 g/con Cácnghiệm thức còn lại, phân hóa khối lượng của cá có sự chênh lệch không đáng kể.Mặc dù ở nghiệm thức 1 (5‰), cá có khối lượng và chiều dài tăng trưởng cao nhấtnhưng tính phân hóa của cá thể hiện thấp nhất Vì ở độ mặn 5‰, gần điểm đẳng áp cá
sẽ tốn năng lượng ít hơn cho quá trình điều hòa ASTT cơ thể, cá có sự thích nghi vớimôi trường ương, khả năng bắt mồi và trao đổi chất của cá tốt hơn
4.2.4.2 Sự phân hóa tăng trưởng theo chiều dài
Bên cạnh sự phân hóa tăng trưởng về khối lượng thì phân hóa tăng trưởng về chiềudài của cá ở các nghiệm thức cũng có sự khác nhau
Kết quả nghiên cứu sự phân hóa tăng trưởng theo chiều dài của cá ương trong các độmặn khác nhau được trình bày ở Hình 4.9
Hình 4.9 Tỷ lệ phân hóa tăng trưởng theo chiều dài của cá
ở các nghiệm thức độ mặn
14 63,8 22,3
4,37 61,1 34,6
14,1 51,9 34
17,9 73,1 9,05
1,24 94,5 4,23
< 7,5cm
Trang 34Sự phân hóa chiều dài của cá cũng diễn ra tương tự như sự phân hóa về khối lượng.Nhưng có đặc điểm chung là chiều dài nhóm cá từ 7,5 - 8,5cm ở tất cả các nghiệmthức có xu hướng tăng theo độ mặn, nhưng chiều dài cá lớn hơn 8,5cm lại có xuhướng giảm theo độ mặn
Trang 35CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT5.1 Kết luận
Ngưỡng độ mặn của cá Chạch bùn Đài Loan giai đoạn hương (2 tuần tuổi) được xácđịnh ở độ mặn 20‰
Trong giới hạn độ mặn từ 0 đến 15‰, tỷ lệ sống của cá dao động từ 83,1 - 95,0%, caonhất (95,0%) ở độ mặn 5‰ và thấp nhất (83,1%) ở nghiệm thức đối chứng
Tốc độ tăng trưởng về khối lượng và chiều dài của cá giảm dần khi độ mặn tăng Tốc
độ tăng trưởng của cá ở nghiệm thức 5‰ cao nhất, kế đó là tốc độ tăng trưởng của cá
ở nghiệm thức đối chứng và thấp nhất là tốc độ tăng trưởng của cá ở nghiệm thức15‰
Sự phân hóa tăng trưởng của cá xảy ra ở tất cả các nghiệm thức độ mặn Nhưng khi độmặn càng tăng thì tỷ lệ cá nhỏ càng tăng và ngược lại
5.2 Đề xuất
Cần lặp lại các thí nghiệm về tăng trưởng của cá để có kết luận chính xác hơn về sựphân hóa tăng trưởng của cá Chạch bùn Đài Loan trong các độ mặn khác nhau
Trang 36TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bộ Thủy sản, 1996 Nguồn lợi thủy sản Việt Nam Nhà xuất bản Nông nghiệp
2 Boeuf, Gilles and Patrick Payan, 2001 How should salinity influence fish growth.Comparative biochemistry and physiology part C 130:411 - 423
3 Boyd, C.E, 1990 Water quality in pond for aquaculture Part 1: Principles of waterquality Temperature and Stratification
4 Bùi Huy Cộng, Ngô Thị Dịu và Nguyễn Thị Diệu Phương, 2011 Nghiên cứu thăm
dò sinh sản cá Chạch bùn (Misgurnus anguillicaudatus Cantor, 1842) Viện Nghiên
cứu nuôi trồng thủy sản 1 Tạp chí Khoa học và Phát triển 2011: Tập 9, số 5: 787 794
-5 Đặng Ngọc Thanh, 1974 Thủy sinh học đại cương Nhà xuất bản Đại học và Trunghọc chuyên nghiệp
6 Đặng Thanh Sơn, 2006 Một số chỉ tiêu sinh lý, sinh thái của cá Chạch lấu
(Mastacembelus armatus) giai đoạn phôi, cá bột và cá hương Khóa luận tốt nghiệp
đại học - Khoa Thủy sản - Trường Đại học Cần Thơ
7 Đỗ Thị Thanh Hương và Trần Thị Thanh Hiền, 2000 Bài giảng sinh lý động vậtthủy sản Khoa Thủy sản - Trường Đại học Cần Thơ
8 Gavin J Partridge and Greg I Jenkins, 2001 The effect of salinity on growth and
survival of juvenile black bream (Acanthopagrus butcheri) Aquaculture
Development Unit, WA Maritime Training Centre
9 Kim Văn Vạn, 2012 Đặc điểm sinh học của cá Chạch bùn (Misgurnus
anguillicaudatus Cantor, 1842) Đại Học Nông nghiệp Hà Nội Truy cập ngày
19/08/2012 Trang web: http://www.tepbac.com.vn
10 Lê Hoàng Vũ, 2013 Nuôi cá Chach bùn (Misgurnus anguillicaudatus Cantor,
1842) Truy cập ngày 31/12/2013 Trang web: http://nongnghiep.vn/nongnghiepvn/ vi-vn/25/119652/khuyen-nong/nuoi-ca-chach bun
11 Lê Văn Cát, Đỗ Thị Hồng Nhung và Ngô Ngọc Cát, 2006 Nước nuôi thủy sản(chất lượng và giải pháp cải thiện chất lượng) Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật,
Hà Nội
12 Lưu Văn Cảnh, 2011 Thử nghiệm ương cá Sặc rằn (Trichogaster pectoralis) giai
đoạn bột lên hương với các độ mặn khác nhau Tiểu luận tốt nghiệp đại học - KhoaSinh học ứng dụng - Trường Đại học Tây Đô
13 Matthew J Resly, Kenneth A Webb Jr., G Joan Holt (2006) Growth and survival
of juvenile cobia, Rachycentron canadum, at different salinities in a recirculatingaquaculture system, Aquaculture 253, 398 - 407
14 Ngô Đinh Thị Phương Thảo, 2011 Tìm hiểu một số chỉ tiêu sinh lý, sinh thái của
cá Sặc rằn (Trichogaster pectoralis) giai đoạn phôi, cá bột và cá hương Khóa luận
tốt nghiệp đại học - Khoa Sinh học ứng dụng - Trường Đại học Tây Đô
Trang 3715 Ngô Huỳnh Anh Võ, 2011 Ảnh hưởng của độ mặn lên sự phát triển phôi và tăng
trưởng của cá Tra (Pangasianodon hypopthalmus) giai đoạn bột Khóa luận tốt
nghiệp đại học - Khoa Thủy sản - Trường Đại học Cần Thơ
16 Nguyễn Quế Thanh, 2011 Tìm hiểu về khả năng thích ứng môi trường của cá Mè
trắng (Hypophthalmichthys molitrix) từ bột lên giống Khóa luận tốt nghiệp đại học
- Khoa Thủy sản - Trường Đại học Cần Thơ
17 Nguyễn Bích Ngọc Đan Thanh, 2011 Tìm hiểu một số chỉ tiêu về sinh lý, sinh thái
cá Chép (Cyprinus carpio L.) giai đoạn phôi, cá bột và cá hương Khóa luận tốt
nghiệp đại học - Khoa Sinh học ứng dụng - Trường Đại học Tây Đô
18 Nguyễn Quang Linh, 2008 Cẩm nang nuôi cá nước ngọt Nhà xuất bản khoa học tựnhiên công nghệ, Hà Nội
19 Nguyễn Thị Hồng Thắm, 2002 Tìm hiểu một số chỉ tiêu sinh lý của cá Chẽm mõm
nhọn (Psammoperca waigiensis ) trong môi trường ương nuôi với các nồng độ
muối khác nhau Tiểu luận tốt nghiệp đại học - Khoa Thủy sản - Trường Đại họcCần Thơ
20 Nguyễn Thị Oanh, 2009 Ảnh hưởng của độ mặn đến quá trình phát triển phôi, sinh
trưởng và tỷ lệ sống cá Sặc rằn (Trichogaster pectoralis) giai đoạn bột lên giống.
Khóa luận tốt nghiệp đại học - Khoa Thủy sản - Trường Đại học Cần Thơ
21 Nguyễn Văn Hảo, 2005 Cá nước ngọt Việt Nam Tập 2 Nhà xuất bản Nôngnghiệp, Hà Nội
22 Nguyễn Văn Kiểm và Trang Văn Phước, 2011 Ảnh hưởng của độ mặn đến sinh
trưởng, tỷ lệ sống và biến đổi áp suất thẩm thấu của cá Sặc rằn (Trichogaster
pectoralis) Trường Đại học Cần Thơ Tạp chí Khoa học 2011: 19b 219 - 224.
23 Nguyễn Văn Thường, 2006 Giáo trình sinh thái thủy sinh vật Trường Đại học CầnThơ
24 Phan Quốc Thoại, 2000 Ảnh hưởng của thức ăn và nồng độ muối lên sinh trưởng
và tỷ lệ sống của cá Chẽm từ giai đoạn cá hương lên cá giống Khóa luận tốt nghiệpđại học - Khoa Nông Nghiệp - Trường Đại học Cần Thơ
25 Quách Thị Hồng vân, 2012 Thử nghiệm ương cá chốt (Mystus gulio) giai đoạn bột
đến 30 ngày tuổi ở các độ mặn khác nhau Khóa luận tốt nghiệp đại học - Khoa
Sinh học ứng dụng - Trường Đại học Tây Đô
26 Trần Quang Nhị, 2009 Nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn lên quá trình phát triển
phôi, sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá Trê vàng (Clarias macrocephalus) từ sau khi
nở đến 30 ngày tuổi Khóa luận tốt nghiệp đại học - Khoa Thủy sản - Trường Đại
học Cần Thơ
27 Trương Quốc Phú, Nguyễn Lê Hoàng Yến và Huỳnh Trường Giang, 2006 Quản lýchất lượng nước nuôi thủy sản Khoa Thủy sản - Trường Đại học Cần Thơ
Trang 3828 Vương Học Vinh, Lê Hoàng Quốc và Tống Minh Chánh, 2001 Thử nghiệm khả
năng thích nghi nồng độ muối của cá Tra nghệ (Pangasius kunyit) Bộ môn thủy
sản - Khoa Nông Nghiệp và Tài Nguyên Thiên Nhiên - Trường Đại học An Giang
Trang 39PHỤ LỤC APhụ lục A.1: Biến động nhiệt độ buổi sáng ( 0 C)