1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư và sự vận dụng vào công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa của nước ta hiện nay”

23 614 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 55,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A LỜI MỞ ĐẦU:Trong bài điếu văn của Ăngghen đọc trước mộ của Các Mác, một trong ba cống hiến vĩ đại của Mác được Ăngghen nhắc tới đó là việc tìm ra quy luật vận động của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa hiện nay và của xã hội tư sản do phương thức đó sinh ra. Phải nói rằng học thuyết giá trị thặng dư là “hòn đá tảng” trong toàn bộ lí luận kinh tế của C.Mác. Trong quyển I của bộ tư bản có tựa đề là “Về tư bản”, C.Mác đã trình bày một cách khoa học hệ thống các phạm trù kinh tế chính trị tư bản mà trước đó, chưa ai có thể làm được. Một trong số các học thuyết được nêu ra là thuyết giá trị thặng dư, nhờ có nó mà toàn bộ bí mật của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa được vạch trần, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa được nêu ra một cách chính xác, mà trong đó hai phương pháp sản xuất chính là phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và tương đối được áp dụng rộng rãi nhất, nhằm tạo ra tư bản để tích luỹ và tái mở rộng sản xuất, đưa xã hội tư bản ngày càng phát triển. Hai phương pháp này đã được đưa vào ứng dụng ở nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Nước ta đang trong công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa, để phù hợp với những vấn đề mà thực tiễn đòi hỏi chúng ta phải nhận thức lại, bổ sung và phát triển các học thuyết đặc biệt là học thuyết giá trị thặng dư. Đề tài này nghiên cứu lý luận và thực tiễn về “ Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư và sự vận dụng vào công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa của nước ta hiện nay” để từ đó tìm ra những kết luận mới phục vụ cho nhiệm vụ phát triển nền kinh tế đất nước. Bài tiểu luận này không thể tránh khỏi những hạn chế nhất định, vậy em kính mong các thầy cô đóng góp ý kiến để bài viết được hoàn chỉnh hơn. B NỘI DUNG. I. Sự phát triển lý luận giá trị thặng dư dựa trên cơ sở lý luận giá trị của Các mác. ( Cơ sở lý luận ): 1. Hoàn cảnh ra đời: Trên vũ đài kinh tế lúc bấy giờ xuất hiện một loại hàng hóa mới – đó là hàng hóa sức lao động,Khi sức lao động trở thành hàng hóa thì tiền tệ mang hình thái là tư bản và gắn liền với nó là một quan hệ sản xuất mới xuất hiện : quan hệ giữa nhà tư bản và lao động làm thuê.Thực chất của mối quan hệ này là nhà tư bản chiếm đoạt giá trị thặng sư của công nhân làm thuê.Giá trị thặng dư là nguồn gốc hình thành nên thu nhập của các nhà tư bản và các giai cấp bóc lột trong chủ nghĩa tư bản. Các nhà kinh tế trước Mác chưa ai đề cập tới giá trị thặng dư mà chỉ đề cập tới lợi nhuận và được biểu hiện dưới hình thức lợi tức và địa tô. Nhà kinh tế Thomson đã nêu ra phạm trù giá trị thặng dư, song ông lại cho rằng nếu tồn tại phạm trù giá trị thặng dư thì sẽ vi phạm quy luật giá trị. Vì vậy, ông chỉ thừa nhận quy luật giá trị mà không thừa nhận phạm trù giá trị thặng dư nữa.Trên cơ sở lý luận giá trị và với việc phát hiện ra phạm trù hàng hóa sức lao động và phạm trù tư bản bất biến và tư bản khả biến, C. Mác là người đầu tiên xây dựng hoàn chỉnh học thuyết giá trị thặng dư và khẳng địnhgiỏ trị thặng dư tồn tại và phát triển hoàn toàn tuân theo quy luật giá trị.Với phát minh này, C. Mác đã vạch rõ được bản chất cơ bản của chủ nghĩa tư bản, đó là quan hệ bóc lột của tư bản đối với lao động làm thuê, đồng thời vạch ra quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản, đó là quy luật giá trị thặng dư. 2. Khái niệm giá trị thặng dư và sản xuất giá trị thặng dư: Giá trị thặng dư là phần giá trị dôi ra bên ngoài giá trị sức lao động do công nhân làm thuê sáng tạo ra và bị nhà tư bản chiếm đoạt. Quá trình sản xuất gía trị thặng dư là quá trình sản xuất ra giá trị vượt khỏi điểm mà ở đó sức lao động của người công nhân đã tạo ra một lượng giá trị mới ngang bằng với giá trị sức lao động hay mức tiền công mà nhà tư bản đã trả cho họ.Thực chất của sản xuất giá trị thặng dư là sản xuất ra giá trị vượt khỏi giới hạn tại điểm đó sức lao động được trả ngang giá. 3. Bản chất giá trị thặng dư: Nói chung, trong nền sản xuất hàng hoá dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, giá trị sử dụng không phải là mục đích. Giá trị sử dụng được sản xuất chỉ vì nó là vật mang giá trị trao đổi.Nhà tư bản muốn sản xuất ra một giá trị sử dụng có một giá trị trao đổi, nghĩa là một hàng hoá. Hơn nữa, nhà tư bản muốn sản xuất ra một hàng hoá có giá trị lớn hơn tổng giá trị những tư liệu sản xuất và giá trị sức lao động mà nhà tư bản đã bỏ ra để mua, nghĩa là muốn sản xuất ra một giá trị thặng dư. Vậy quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa là sự thống nhất giữa quá trình sản xuất ra giá trị sử dụng và quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư. C. Mác viết: “ Với tư cách là sự thống nhất giữa hai quá trình lao động và quá trình tạo ra giá trị thì quá trình sản xuất là một quá trình sản xuất hàng hoá; với tư cách là sự thống nhất giữa quá trình lao động và quá trình làm tăng giá trị thì quá trình sản xuất là một quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa, là hình thái tư bản chủ nghĩa của nền sản xuất hàng hoá”. • Quá trình lao động với tư cách là quá trình nhà tư bản tiêu dùng sức lao động có hai đặc trưng:Một là, người công nhân lao động dưới sự kiểm soát của nhà tư bản giống như những yếu tố khác của sản xuất được nhà tư bản sử dụng sao cho có hiệu quả nhất.Hai là, sản phẩm làm ra thuộc sở hữu của nhà tư bản, chứ không phải của người công nhânC. Mác đã lấy ví dụ về việc sản xuất sợi ở nước Anh làm đối tượng nghiên cứu quá trình sản xuất giá trị thặng dư. Để nghiên cứu, Mác đã sử dụng phương pháp giả định khoa học thông qua giả thiết chặt chẽ để tiến hành nghiên cứu: Không xét đến ngoại thương, giá cả thống nhất với giá trị, toàn bộ giá trị tư liệu sản xuất đem tiêu dùng chuyển hết một lần vào giá trị sản phẩm và chỉ nghiên cứu trong nền kinh tế tái sản xuất giản đơn. 4. Ví dụ minh họa rõ về giá trị thặng dư :Giả sử để chế tạo 1 kg sợi,nhà tư bản phải ứng ra số tiền là 20.000 đơn vị tiền tệ mua 1 kg bông,3.000 đơn vị cho hao phí máy móc và 5.000 đơn vị mua sức lao động của công nhân điều khiển máy móc trong 10g.Tổng cộng số tiền ứng là 28.000 đơn vị tiền tệ.Trong quá trình sản xuất bằng lao động cụ thể công nhân sử dụng máy móc để chuyển 1 kg bông thành 1 kg sợi,Theo đó giá trị của bông và hao mòn của mát móc được chuyển vào sợi ,bằng lao dộng trừu tượng công nhân tạo ra giá trị mới nhập vào sợi .Trong 5 giờ công nhân đã chuyển được 1 kg bông thành 1 kg sợi thì giá trị của 1 kg sợi là : + Giá trị 1 kg bông chuyển vào : 20.000 đơn vị + Hao mòn máy móc : 3.000 đơn vị + Giá trị mới tạo ra ( = giá trị sức lao động ) : 5.000 đơn vịTổng cộng : 28.000 đơn vị Nếu quá trình lao động dừng ở đây thì nhà tư bản không thu được ít giá trị thặng dư nào.Nhưng nhà tư bản đã mua sức lao động trong 10 giờ nên 5 giờ tiếp theo nhà tư bản không phải trả công nữa mà chỉ cần phải chi them 2.000 đơn vị tiền tệ để mua 1 kg bông ra 3.000 đơn vị hao mòn máy móc nhưng sẽ có thêm 1 kg sợi.Tổng số tiền nhà tư bản bỏ ra để có 2 kg sợi :+ Tiền mua bông : 20.000 2 = 40.000 đơn vị+ Hao mòn máy móc trong 10 tiếng : 30.000 2 = 6000 đơn vị+ Tiền lương cả ngày 10 tiếng : = 5000 đơn vịTổng cộng : = 51.000 đơn vịGiá trị sợi nhà tư bản thu được 28.000 2 = 56.000 đơn vịNhư vậy nhà tư bản thu được giá trị thặng dư : 56000 – 51000= 5000 đơn vị.Từ ví dụ trên đây có thể thấy đích xác được giá trị thặng dư từ đâu mà có, cái mà nhà tư bản thu được là cái gì,nguồn gốc sâu xa của nó. Đó là cơ sở sự giàu có của giai cấp tư sản, cho nên C.Mác đã viêt “Bí quyết của sự tăng thêm giá trị của tư bản quy lại là ở chỗ tư bản chi phối được một số lượng lao động không công nhất định của người khác “.Nhà tư bản là được điều đó vì họ có trong tay tư liệu sản xuất,còn người lao động thì không,họ chỉ có sức khỏe.Điều duy nhất công nhân có thể làm là bán sức lao động để kiếm tiền nuôi sống bản thân và gia đình của họ.Khi đó sức lao động trở thành hàng hóa,giá trị sức lao động là điều kiện quan trọng để sản xuất ra giá trị thặng dư và được khái quát theo công thức sau : Trong đó : + c: giá trị tư liệu sản xuất + v: giá trị của sức lao động + m : giá trị thặng dư.II. Lý luận cơ bản về sản xuất và bóc lột giá trị thặng dư: 1.Lý luận cơ bản về hàng hóa và sức lao động:Sự biến đổi giá trị của số tiền cần phải chuyển hóa thành tư bản không thể xảy ra trong bản thân số tiền ấy, mà chỉ có thể xảy ra từ hàng hóa được mua vào (TH).Hàng hóa đó không thể là một hàng hóa thông thường, mà phải là một hàng hóa đặc biệt, hàng hóa mà giá trị sử dụng của nó có đặc tính là nguồn gốc sinh ra giá trị. Thứ hàng hóa đó là sức lao động mà nhà tư bản đã tìm thấy trên thị trường1.1 Sức lao động và điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa.Theo C.Mác: “ sức lao động, đó là toàn bộ các thể lực và trí lực ở trong thân thể một con người, trong nhân cách sinh động của con người, thể lực và trí lực mà con người phải làm cho hoạt động để sản xuất ra những vật có ích”Sức lao động chỉ có thể trở thành hàng hóa trong những điều kiện lịch sử nhất định sau đây.Thứ nhất, người có sức lao động phải được tự do về thân thể, làm chủ được sức lao động của mình và có quyền bán sức lao động của mình như 1 hàng hóa.Thứ hai, người có sức lao động phải bị tước đoạt hết mọi tư liệu sản xuất để tồn tại buộc anh ta phải bán sức lao động của mình để sống.Như vậy: khi sức lao động trở thành hàng hóa thì tiền tệ mang hình thái là tư bản. Hàng hóa sức lao động là một hàng hóa đặc biệt và là phạm trù lịch sử.1.2. Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động.Cũng giống như mọi hàng hóa khác, hàng hóa sức lao động cũng có hai thuộc tính: giá trị và giá trị sử dụng.Giá trị của hàng hóa sức lao động do thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động quyết định. Bao gồm:+ Một là, giá trị những tư liệu sinh hoạt về vật chất và tinh thần cần thiết để tai sản xuất sức lao động, duy trì đời sống của bản thân người công nhân.+ Hai là, phí tổn đào tạo người công nhân.+ Ba là, giá trị những tư liệu sinh hoạt vật chất và tinh thần cần thiết cho con cái người công nhân.Giá trị SLĐ cũng biến đổi theo thời gian do sự tăng nhu cầu trung bình của xã hội…, hoặc do sự tăng năng suất LĐXH.Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động: Khi nhà tư bản tiêu dùng hàng hóa SLĐ chính là quá trình buộc người công nhân sản xuất ra một lượng hàng hóa với giá trị lớn hơn giá trị của bản thân nó. Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động chỉ thể hiện ra trong quá trình tiêu dùng sức lao động, tức là quá trình lao động của công nhân. Quá trình đó là quá trình sản xuất ra một loạt hàng hóa nào đó đồng thời là quá trình tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân hàng hóa sức lao động.Hàng hóa thông thườngHàng hóa sức lao độngGiống nhauĐều là hàng hóa, do đó đều có 2 thuộc tính giá trị sử dụng và giá trị.Khác nhau Mua đứt, bán đứt Giá trị sử dụng thông thường là biểu hiện của của cải. Giá trị chỉ thuần túy yếu tố vật chất. Mua bán có thời hạn. Giá trị sử dụng đặc biệt: tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân nó, đó là giá trị thặng dư và là nguồn gốc của giá trị thặng dư. Giá trị bao hàm cả yếu tố vật chất, tinh thần và lịch sử.So sánh giữa hàng hoá thông thường và hang hoá sức lao động2.Lý luận cơ bản về quá trình sản xuất giá trị thặng dư. 2.1 : Về quá trình sản xuất giá trị thặng dư. 2.1.1: Bản chất của tư bản: Bản thân tư liệu sản xuất không phải là tư bản, chúng chỉ trở thành tư bản khi là tài sản của nhà tư bản và được dùng để bóc lột lao động làm thuê. Khi chế độ tư bản bị xóa bỏ thì tư liệu sản xuất không còn là tư bản nữa.Tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư bằng cách bóc lột lao động công nhân làm thuê. Bản chất của tư bản thể hiện quan hệ sản xuất xã hội mà trong đó giai cấp tư sản chiếm đoạt giá trị thặng dư do giai cấp công nhân sáng tạo ra.Vậy,quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa là sự thống nhất giữa quá trình sản xuất ra giá trị sử dụng và quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư.C.mác viết “ Với tư cách là sự thống nhất giữa quá trình lao động và quá trình tạo ra giá trị thì quá trình sản xuất là một quá trình sản xuất hàng hóa ; với tư cách là sự thống nhất giữa quá trình lao động và quá trình làm tang giái trị thì quá trình sản xuất là một quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa ,là hình thái tư bản chủ nghĩa của nền sản xuất hàng hóa “. 2.1.2. Tư bản bất biến và tư bản khả biến: TBBB (c) là bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thức tư liệu sản xuất (máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu) mà thông qua lao động cụ thể của người công nhân, giá trị của nó được bảo toàn và chuyển vào sản phẩm (không thay đổi giá trị).TBKB (v) là bộ phận tư bản dùng để mua sức lao động mà thông qua lao động trừu tượng của người công nhân, giá trị của nó không ngừng lớn lên, thay đổi về lượng.Căn cứ để phân chia TBBB và TBKB là dựa vào tính 2 mặt của lao động sản xuất hàng hóa: Lao động cụ thể bảo toàn và di chuyển giá trị của tư liệu sản xuất sang giá trị sản phẩm. Lao động trừu tượng tạo ra giá trị lớn hơn.Sự phân chia thành TBBB và TBKB dựa vào vai trò khác nhau của các bộ phận tư bản trong quá trình sản xuất giá trị thặng dư. TBBB là điều kiện cần thiết để sản xuất ra giá trị thặng dư còn TBKB có vai trò quyết định trong quá trình đó, vì nó chính là bộ phận tư bản đã lớn lên à Vạch rõ bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản, chỉ có lao động của công nhân làm thuê mới tạo ra giá trị thặng dư cho nhà tư bản.Đã có nhiều phương pháp được dùng để tạo ra giá trị thặng dư,nhưng hai phương pháp được sử dụng chủ yếu là phương pháp giá trị thặng dư tuyệt đối và phương pháp giá trị thặng dư tương đối.Mỗi phương pháp đại diện cho một trình độ khác nhau của giai cấp tư sản,cũng như những giai đoạn lịch sử khác nhau của xã hội.2.2 : Về sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối.Lấy cơ sở nghiên cứu là trường phái kinh tế chính trị c ổ đi ển, mà đ ại biểu chính là David Ricardo, Karx Marx và Engels đã xây dựng nên trường phái kinh tế chính trị Macxít và sau này được lênin củng cố thành kinh t ế chính trị Mac Lênin. Kinh tế chính trị Mac Lênin đã đưa ra nh ững lu ận chứng có tính chất quá độ lịch sử của chủ nghĩa tư bản và tất yếu của cách mạng xã hội chủ nghĩa và hướng tới chủ nghĩa cộng sản. Quyển I của bộ tư bản có tựa đề là “Về tư bản” được K.Marx cho xuất bản năm 1867, trong tác phẩm này K.Marx đã trình bày một cách khoa học hệ thống các phạm trù kinh tế chính trị tư bản mà trước đó, chưa ai có th ể làm được, nó được đánh giá như “tiếng sét nổ giữa bầu trời quang đãng của ch ủ nghĩa t ư bản”, một trong số các học thuyết được nêu ra là thuyết giá trị th ặng dư, nhờ có học thuyết này mà toàn bộ bí mật của nền kinh t ế t ư b ản ch ủ nghĩa được vạch trần, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa được nêu ra một cách chính xác, mà trong đó hai phương pháp sản xuất chính là phương pháp giá trị thặng dư tương đối và phương pháp giá trị thặng dư tuyệt đối được áp dụng rộng rãi nhất, nhằm tạo ra tư bản để tích luỹ và tái mở rộng sản xuất, đưa xã hội tư bản ngày càng phát triển.Giá trị thặng dư là phần giá trị dôi ra ngoài giá trị sức lao động, do công nhân làm thuê tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không.Để thu được giá trị thặng dư có hai phương pháp chủ yếu: phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối.Giá trị thặng dư tuyệt đối là khái niệm trong kinh tế chính trị MacLenin dùng để chỉ về giá trị thặng dư thu được do kéo dài thời gian lao động vượt quá thời gian lao động tất yếu, trong khi năng suất lao động, giá trị sức lao động và thời gian lao động tất yếu không thay đổi.Một ví dụ cụ thể: Ngày lao động là 8 giờ, thời gian lao động tất yếu là 4 giờ, thời gian lao động thặng dư là 4 giờ, mỗi giờ công nhân tạo ra một giá trị mới là 10 đơn vị, thì giá trị thặng dư tuyệt đối là 40 và tỷ suất giá trị thặng dư là:m = 4040 x 100 % = 100%Nếu kéo dài ngày lao động thêm 2 giờ nữa, mọi điều kiện khác vẫn như cũ, thì giá trị thặng dư tuyệt đối tăng lên 60 và m cũng tăng lên thành:m = 6040 x 100 % = 150 %Ý nghĩa việc kéo dài ngày lao động không thể vượt quá giới hạn sinh lý của công nhân (vì họ còn phải có thời gian ăn, ngủ, nghỉ ngơi, giải trí để phục hồi sức khoẻ) nên gặp phải sự phản kháng gay gắt của giai cấp công nhân đòi giảm giờ làm. Theo chủ nghĩa MácLenin thì vì lợi nhuận, khi độ dài ngày lao động không thể kéo dài thêm, nhà tư bản tìm cách tăng cường độ lao động của công nhân. Tăng cường độ lao động về thực chất cũng tương tự như kéo dài ngày lao động. Vì vậy, kéo dài thời gian lao động và tăng cường độ lao động là để sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối.Sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối là cơ sở chung của chế độ tư bản chủ nghĩa. Phương pháp này được áp dụng phổ biến ở giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản, khi lao động còn ở trình độ thủ công và năng suất lao động còn thấp.Nhà tư bản tìm mọi thủ đoạn để kéo dài ngày công lao động. Nhưng mặt khác do giới hạn tự nhiên sức lao động của con người; do đấu tranh của công nhân đòi rút ngắn ngày lao động, cho nên ngày lao động không thể kéo dài vô hạn. Tuy nhiên cũng không thể rút ngắn bằng thời gian lao động tất yếu. Một hình thức khác của sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối là tăng cường độ lao động. Vì tăng cường độ lao động cũng như kéo dài thời gian lao động trong ngày, trong khi thời gian lao động cần thiết không thay đổi.Có nghĩa là khi nhà tư bản muốn tăng giá trị thặng dư, thì nhà tư bản sẽ mua thêm máy móc mua, thêm tư liệu sản xuât, thuê thêm công nhân để sản xuất ra hàng hóa; nhưng móc, chỉ mua thêm nguyên liệu sản xuất, và bắt công nhân hiện có phải cung cấp thêm một lượng lao động, đồng thời tận dụng triệt để công suất của máy móc hiện có.Sản xuất giá trị thặng dư là mục đích duy nhất của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa. Các nhà tư bản sản xuất bất cứ loại hàng hoá nào, kể cả vũ khí giết người miễn là thu được nhiều giá trị thặng dư. Phương tiện để đạt được mục đích là tăng năng suất lao động, tăng cường bóc lột công nhân…Phương pháp giá trị thặng dư tuyệt đối được áp dụng ở giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản, thời kì này nền kinh tế sản xuất chủ yếu là sử dụng lao động thủ công, hoặc lao động với những máy móc giản đơn ở các công trường thủ công. Đó là sự gia tăng về mặt lượng của quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư.Cái lợi ở đây là nhà tư bản không cần ứng thêm tư bản, thuê thêm công nhân, mua thêm máy móc thiết bị, đồng thời máy móc sẽ được khấu hao nhanh hơn, hao mòn và chi phí bảo quản giảm đi rất nhiều, thời gian thu lợi nhuận sẽ dài hơn.VD: Một ngày người công nhân lao động 8 giờ, trong đó thời gian lao động tất yếu là 4 giờ, thời gian lao động thặng dư là 4 giờ, mỗi giờ công nhân tạo ra một giá trị mới là 10.000 đơn vị tiền tệ, thì trong một ngày người công nhân tạo ra một lượng giá trị mới là 80.000, bao gồm 40.000 là chi phí sản phẩm và 40.000 là giá trị thặng dư tuyệt đối, tỷ suất giá trị thặng dư là 100%. Nhưng khi kéo dài thời gian lao động ra thêm 2 giờ với điều kiện các yếu tố khác không đổi thì giá trị thặng dư tuyệt đối tăng lên là 60.000, nhà tư bản được lợi thêm 20.000 đơn vị so với trước đó, tỷ suất thặng dư là 150%.(Tỷ suất giá trị thặng dư biểu hiện của trình độ bóc lột giá trị thặng dư). Nhà tư bản nào cũng muốn kéo dài ngày công lao động của người công nhân làm thuê, nhưng thực tế thì không cho phép họ làm như vậy trong một thời gian quá dài. Vì những việc làm đó là vượt quá giớ hạn sinh lí của người công nhân, một người có thể duy trì mãi một cường độ lao động với năng suất cao trong một thời gian dài là điều không thể có được, họ cần phải có thời gian ăn ngủ, nghỉ ngơi giải trí nhằm hồi phục sức khoẻ. Thật dễ hiểu khi giai cấp tư bản gặp phải sự kháng cự của giai cấp công nhân. Giai cấp tư sản muốn kéo dài thời gian lao động trong ngày, còn giai cấp công nhân muốn rút ngắn thời gian lao động, do đó độ dài ngày lao động có thể co giãn và việc xác định độ dài ngắn ấy phụ thuộc vào so sánh lực lượng trong cuộc đấu tranh giữa hai giai cấp đó. Điểm dừng của độ dài ngày lao động là điểm mà ở đó lợi ích kinh tế của nhà tư bản và lợi ích kinh tế của người lao động được thực hiện theo một thoả hiệp tạm thời. Khi độ dài ngày lao động đã được xác định, nhà tư bản sẽ tìm mọi cách để tăng cường độ lao động của người công nhân. Tăng cường độ lao động có nghĩa là chi phí nhiều sức lao động trong một khoảng thời gian nhất định, nên về thực chất cũng giống như kéo dài thời gian lao động trong ngày. Nhà tư bản có thể tăng thêm tư liệu lao động, yêu cầu hay thoả thuận người lao động lao động với cường độ cao mức bình thường, yêu cầu khi người lao động là họ phải tập trung làm việc hơn, các thao tác làm việc phải nhanh hơn… những việc đó sẽ tốn nhiều sức lao động hơn so với bình thường, và cũng tạo ra nhiều sản phẩm hơn. Nhưng việc tăng cường độ lao động khó hơn việc tăng thời gian lao động của người công nhân. vì việc này muốn thực hiện đựoc thì nhà tư bản phải thay đổi máy móc.Việc áp dụng phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối ngoài việc gặp khó khăn như ở trên đã đề cập, theo D.Ricardo “với sự tăng thêm của một nhân tố sản xuất nào đó, trong điều kiện các nhân tố sản xuất khác là không thay đổi, năng suất của của nhân tố tăng thêm sẽ giảm đi”. Bởi vậy, việc gia tăng các nguyên liệu sản xuất trong khi các điều kiện sản xuất khác không đổi, là việc làm không hiệu quả khi mà nhà tư bản muốn tăng thu thêm giá trị thặng dư2.3 : Về sản xuât giá trị thặng dư tương đối.2.3.1 Khái niệm giá trị thặng dư tương đối.Giá trị thặng dư tương đối là khái niệm trong kinh tế chính trị MarxLenin dùng để chỉ về giá trị thặng dư thu được do rút ngắn thời gian lao động tất yếu bằng cách nâng cao năng suất lao động trong ngành sản xuất ra tư liệu sinh hoạt để hạ thấp giá trị sức lao động, nhờ đó tăng thời gian lao động thặng dư lên ngay trong điều kiện độ dài ngày lao động, cường độ lao động vẫn như cũ.Để hạ thấp giá trị sức lao động thì phải giảm giá trị các tư liệu sinh hoạt và dịch vụ cần thiết cho người công nhân. Muốn vậy phải tăng năng suất lao động xã hội trong các ngành sản xuất tư liệu tiêu dùng và các ngành sản xuất tư liệu sản xuất để trang bị cho ngành sản xuất ra các tư liệu tiêu dùng.2.3.2. Về sản xuất Giá trị thặng dư tương đối.Việc kéo dài ngày lao động bị giới hạn về thể chất và tinh thần của người lao động và vấp phải cuộc đấu tranh ngày càng mạnh mẽ của giai cấp công nhân. Mặt khác, khi sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển đến giai đoạn đại công nghiệp cơ khí, kỹ thuật đã tiến bộ làm cho năng suất lao động tăng lên nhanh chóng, thì các nhà tư bản chuyển sang phương thức bóc lột dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động, bóc lột giá trị thặng dư tương đối. Giá trị thặng dư được tạo ra bằng cách rút ngắn thời gian lao động tất yếu trong điều kiện độ dài của ngày lao động không đổi, nhờ đó kéo dài tương ứng thời gian lao động thặng dư, được gọi là giá trị thặng dư tương đối. Làm thế nào để có thể rút ngắn được thời gian lao động tất yếu? Thời gian lao động tất yếu có quan hệ với giá trị sức lao động. Muốn rút ngắn thời gian lao động tất yếu phải giảm giá trị sức lao động. Muốn hạ thấp giá trị sức lao động phải giảm giá trị những tư liệu sinh hoạt thuộc phạm vi tiêu dùng của công nhân. Điều đó chỉ có thể thực hiện được bằng cách tăng năng suất lao động trong các ngành sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt thuộc phạm vi tiêu dùng của công nhân hay tăng năng suất lao động trong các ngành sản xuất ra tư liệu sản xuất để sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt đó. Nếu trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản, sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối là phương pháp chủ yếu, thì đến giai đoạn tiếp sau, khi kỹ thuật phát triển, sản xuất giá trị thặng dư tương đối là phương pháp chủ yếu. Lịch sử phát triển của lực lượng sản xuất và của năng suất lao động xã hội dưới chủ nghĩa tư bản đã trải qua ba giai đoạn: hợp tác giản đơn, công trường thủ công và đại công nghiệp cơ khí, đó cũng là quá trình nâng cao trình độ bóc lột giá trị thặng dư tương đối. Hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư nói trên được các nhà tư bản sử dụng kết hợp với nhau để nâng cao trình độ bóc lột công nhân làm thuê trong quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản. Dưới chủ nghĩa tư bản, việc áp dụng máy móc không phải là để giảm nhẹ cường độ lao động của công nhân, mà trái lại tạo điều kiện để tăng cường độ lao động. Ngày nay, việc tự động hoá sản xuất làm cho cường độ lao động tăng lên, nhưng dưới hình thức mới, sự căng thẳng của thần kinh thay thế cho cường độ lao động cơ bắp. Ví dụ: Thời gian lao động cần thiết là 5h, ngày lao động là 10h thì thời gian lao động thặng dư là 5 giờ. Như vậy m’ sẽ là: m’ = 100% Nếu ngày lao động không đổi (10h) mà thời gian lao động cần thiết bị rút ngắn lại còn 3h thì thời gian lao động thặng dư tăng lên 7 giờ. Như vậy m’ sẽ là: m’ = 233% Ngày lao động là 10 giờ, trong đó 5 giờ là lao động tất yếu, 5 giờ là lao động thặng dư. Nếu giá trị sức lao động giảm đi 1 giờ thì thời gian lao động tất yếu xuống còn 4 giờ. Do đó, thời gian lao động thặng dư tăng từ 5 giờ lên 6 giờ và m tăng từ 100% lên 150%.2.4: Sản xuất giá trị thặng dư – quy luật kinh tế tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản:Mỗi phương thức sản xuất có một quy luật kinh tế tuyệt đối phản ánh mối quan hệ kinh tế bản chất nhất của phương thức sản xuất đó. Mục đích của sản xuất tư bản chủ nghĩa không phải là giá trị sử dụng mà là sản xuất ra giá trị thặng dư. Theo đuổi giá trị thặng dư tối đa là mục đích và động cơ thúc đẩy sự hoạt động của mỗi nhà tư bản cũng như của toàn bộ xã hội tư bản. Nhà tư bản cố gắng sản xuất hàng hóa với chất lượng tốt đi chăng nữa thì cũng chỉ vì họ muốn thu được nhiều giá trị thặng dư.Sản xuất giá trị thặng dư tối đa không chỉ phản ánh mục đích của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa mà còn vạch rõ phương tiện, thủ đoạn để đạt được mục đích đó: tăng cường bóc lột công nhân làm thuê bằng cách tăng cường độ lao động và kéo dài ngày lao động, tăng năng suất lao động và mở rộng sản xuất.Như vậy, sản xuất giá trị thặng dư là quy luật kinh tế tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản. Nội dung của nó là sản xuất ra giá trị thặng dư tối đa bằng cách tăng cường bóc lột công nhân làm thuê. Quy luật giá trị thặng dư ra đời và tồn tại cùng với sự ra đời và tồn tại của chủ nghĩa tư bản. Nó là động lực vận động, phát triển của chủ nghĩa tư bản, đồng thời nó cũng làm cho mọi mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản, đặc biệt là mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản ngày càng sâu sắc, đưa đến sự thay đổi tất yếu của chủ nghĩa tư bản bằng một xã hội cao hơn.Trong điều kiện hiện nay, sản xuất giá trị thặng dư có những đặc điểm mới: Kỹ thuật và công nghệ hiện đại được áp dụng rộng rãi nên khối lượng giá trị thặng dư được tạo ra chủ yếu nhờ tăng năng suất lao động. Nhờ vậy, chi phí lao động sống trong 1 đơn vị sản phẩm giảm nhanh. Cơ cấu lao động xã hội ở các nước tư bản phát triển hiện nay có sự biến đổi lớn: lao động phức tạp, lao động trí tuệ, tăng lên thay thế lao động giản đơn, lao động cơ bắp. Do đó, tỷ suất và khối lượng giá trị thặng dư đã tăng lên rất nhiều. Sự bóc lột của các nước TBCN phát triển trên phạm vi quốc tế ngày càng được mở rộng dưới nhiều hình thức: xuất khẩu tư bản và hàng hóa, trao đổi không ngang giá... Các nước TBCN phát triển đã bòn rút chất xám, hủy hoại môi sinh cũng như cội rễ đời sống văn hóa của các nước lạc hậu, chậm phát triển. Sự tách biệt giữa những nước giàu và những nước nghèo ngày càng tăng và trở thành mâu thuẫn nổi bật trong thời đại ngày nay. 2.5 : Giá trị thặng dư siêu ngạch: 2.5.1. Hoàn cảnh ra đời :Cạnh tranh giữa các nhà tư bản buộc họ phải áp dụng phương pháp sản xuất tốt nhất để tăng năng suất lao động trong xí nghiệp của mình nhằm giảm giá trị cá biệt của hàng hóa thấp hơn giá trị xã hội của hàng hóa , nhờ đó thu được giá trị thặng dư siêu ngạch.

Trang 1

MỤC LỤC

A/ LỜI MỞ ĐẦU: 2

B/ NỘI DUNG 3

I Sự phát triển lý luận giá trị thặng dư dựa trên cơ sở lý luận giá trị của Các- mác ( Cơ sở lý luận ): 3

1 Hoàn cảnh ra đời: 3

2 Khái niệm giá trị thặng dư và sản xuất giá trị thặng dư: 3

3 Bản chất giá trị thặng dư: 4

4 Ví dụ minh họa rõ về giá trị thặng dư : 5

II Lý luận cơ bản về sản xuất và bóc lột giá trị thặng dư: 6

1.Lý luận cơ bản về hàng hóa và sức lao động: 6

2.Lý luận cơ bản về quá trình sản xuất giá trị thặng dư 8

2.1 : Về quá trình sản xuất giá trị thặng dư 8

2.2 : Về sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối 9

2.3 : Về sản xuât giá trị thặng dư tương đối 12

2.4: Sản xuất giá trị thặng dư – quy luật kinh tế tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản: 14

2.5 : Giá trị thặng dư siêu ngạch: 15

C Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA PHƯƠNG PHÁP SẢN XUẤT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ ĐỐI VỚI NƯỚC TA NGÀY NAY 17

D LỜI KẾT 21

Trang 2

A/ LỜI MỞ ĐẦU:

Trong bài điếu văn của Ăng-ghen đọc trước mộ của Các- Mác, một trong bacống hiến vĩ đại của Mác được Ăng-ghen nhắc tới đó là việc tìm ra quy luật vận độngcủa phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa hiện nay và của xã hội tư sản do phươngthức đó sinh ra Phải nói rằng học thuyết giá trị thặng dư là “hòn đá tảng” trong toàn

bộ lí luận kinh tế của C.Mác Trong quyển I của bộ tư bản có tựa đề là “Về tư bản”,C.Mác đã trình bày một cách khoa học hệ thống các phạm trù kinh tế chính trị tư bản

mà trước đó, chưa ai có thể làm được Một trong số các học thuyết được nêu ra làthuyết giá trị thặng dư, nhờ có nó mà toàn bộ bí mật của nền kinh tế tư bản chủ nghĩađược vạch trần, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa được nêu ra một cách chínhxác, mà trong đó hai phương pháp sản xuất chính là phương pháp sản xuất giá trịthặng dư tuyệt đối và tương đối được áp dụng rộng rãi nhất, nhằm tạo ra tư bản đểtích luỹ và tái mở rộng sản xuất, đưa xã hội tư bản ngày càng phát triển Hai phươngpháp này đã được đưa vào ứng dụng ở nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có ViệtNam Nước ta đang trong công cuộc công nghiệp hóa- hiện đại hóa, để phù hợp vớinhững vấn đề mà thực tiễn đòi hỏi chúng ta phải nhận thức lại, bổ sung và phát triểncác học thuyết đặc biệt là học thuyết giá trị thặng dư

Đề tài này nghiên cứu lý luận và thực tiễn về “ Phương pháp sản xuất giá trịthặng dư và sự vận dụng vào công cuộc công nghiệp hóa- hiện đại hóa của nước tahiện nay” để từ đó tìm ra những kết luận mới phục vụ cho nhiệm vụ phát triển nềnkinh tế đất nước

Bài tiểu luận này không thể tránh khỏi những hạn chế nhất định, vậy em kínhmong các thầy cô đóng góp ý kiến để bài viết được hoàn chỉnh hơn

Trang 4

là tư bản và gắn liền với nó là một quan hệ sản xuất mới xuất hiện : quan hệ giữa nhà

tư bản và lao động làm thuê.Thực chất của mối quan hệ này là nhà tư bản chiếm đoạtgiá trị thặng sư của công nhân làm thuê.Giá trị thặng dư là nguồn gốc hình thành nênthu nhập của các nhà tư bản và các giai cấp bóc lột trong chủ nghĩa tư bản

Các nhà kinh tế trước Mác chưa ai đề cập tới giá trị thặng dư mà chỉ đề cập tớilợi nhuận và được biểu hiện dưới hình thức lợi tức và địa tô Nhà kinh tế Thomson đãnêu ra phạm trù giá trị thặng dư, song ông lại cho rằng nếu tồn tại phạm trù giá trịthặng dư thì sẽ vi phạm quy luật giá trị Vì vậy, ông chỉ thừa nhận quy luật giá trị màkhông thừa nhận phạm trù giá trị thặng dư nữa

Trên cơ sở lý luận giá trị và với việc phát hiện ra phạm trù hàng hóa sức laođộng và phạm trù tư bản bất biến và tư bản khả biến, C Mác là người đầu tiên xâydựng hoàn chỉnh học thuyết giá trị thặng dư và khẳng địnhgiỏ trị thặng dư tồn tại vàphát triển hoàn toàn tuân theo quy luật giá trị

Với phát minh này, C Mác đã vạch rõ được bản chất cơ bản của chủ nghĩa tưbản, đó là quan hệ bóc lột của tư bản đối với lao động làm thuê, đồng thời vạch raquy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản, đó là quy luật giá trị thặng dư

2 Khái niệm giá trị thặng dư và sản xuất giá trị thặng dư:

- Giá trị thặng dư là phần giá trị dôi ra bên ngoài giá trị sức lao động do công

nhân làm thuê sáng tạo ra và bị nhà tư bản chiếm đoạt

- Quá trình sản xuất gía trị thặng dư là quá trình sản xuất ra giá trị vượt khỏi

điểm mà ở đó sức lao động của người công nhân đã tạo ra một lượng giá trị mới

Trang 5

ngang bằng với giá trị sức lao động hay mức tiền công mà nhà tư bản đã trả chohọ.Thực chất của sản xuất giá trị thặng dư là sản xuất ra giá trị vượt khỏi giới hạn tạiđiểm đó sức lao động được trả ngang giá.

Vậy quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa là sự thống nhất giữa quá trình sảnxuất ra giá trị sử dụng và quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư C Mác viết: “ Với tưcách là sự thống nhất giữa hai quá trình lao động và quá trình tạo ra giá trị thì quátrình sản xuất là một quá trình sản xuất hàng hoá; với tư cách là sự thống nhất giữaquá trình lao động và quá trình làm tăng giá trị thì quá trình sản xuất là một quá trìnhsản xuất tư bản chủ nghĩa, là hình thái tư bản chủ nghĩa của nền sản xuất hàng hoá”

• Quá trình lao động với tư cách là quá trình nhà tư bản tiêu dùng sức lao động

có hai đặc trưng:

Một là, người công nhân lao động dưới sự kiểm soát của nhà tư bản giống như

những yếu tố khác của sản xuất được nhà tư bản sử dụng sao cho có hiệu quả nhất

Hai là, sản phẩm làm ra thuộc sở hữu của nhà tư bản, chứ không phải của

người công nhân

C Mác đã lấy ví dụ về việc sản xuất sợi ở nước Anh làm đối tượng nghiên cứuquá trình sản xuất giá trị thặng dư Để nghiên cứu, Mác đã sử dụng phương pháp giảđịnh khoa học thông qua giả thiết chặt chẽ để tiến hành nghiên cứu: Không xét đếnngoại thương, giá cả thống nhất với giá trị, toàn bộ giá trị tư liệu sản xuất đem tiêudùng chuyển hết một lần vào giá trị sản phẩm và chỉ nghiên cứu trong nền kinh tế táisản xuất giản đơn

Trang 6

4 Ví dụ minh họa rõ về giá trị thặng dư :

Giả sử để chế tạo 1 kg sợi,nhà tư bản phải ứng ra số tiền là 20.000 đơn vị tiền

tệ mua 1 kg bông,3.000 đơn vị cho hao phí máy móc và 5.000 đơn vị mua sức laođộng của công nhân điều khiển máy móc trong 10g.Tổng cộng số tiền ứng là 28.000đơn vị tiền tệ.Trong quá trình sản xuất bằng lao động cụ thể công nhân sử dụng máymóc để chuyển 1 kg bông thành 1 kg sợi,Theo đó giá trị của bông và hao mòn củamát móc được chuyển vào sợi ,bằng lao dộng trừu tượng công nhân tạo ra giá trị mớinhập vào sợi Trong 5 giờ công nhân đã chuyển được 1 kg bông thành 1 kg sợi thì giátrị của 1 kg sợi là :

+ Giá trị 1 kg bông chuyển vào : 20.000 đơn vị + Hao mòn máy móc : 3.000 đơn vị + Giá trị mới tạo ra ( = giá trị sức lao động ) : 5.000 đơn vịTổng cộng : 28.000 đơn vị Nếu quá trình lao động dừng ở đây thì nhà tư bản không thu được ít giá trịthặng dư nào.Nhưng nhà tư bản đã mua sức lao động trong 10 giờ nên 5 giờ tiếp theonhà tư bản không phải trả công nữa mà chỉ cần phải chi them 2.000 đơn vị tiền tệ đểmua 1 kg bông ra 3.000 đơn vị hao mòn máy móc nhưng sẽ có thêm 1 kg sợi

Tổng số tiền nhà tư bản bỏ ra để có 2 kg sợi :

+ Tiền mua bông : 20.000* 2 = 40.000 đơn vị

+ Hao mòn máy móc trong 10 tiếng : 30.000 * 2 = 6000 đơn vị

+ Tiền lương cả ngày 10 tiếng : = 5000 đơn vị

Tổng cộng : = 51.000 đơn vị

Giá trị sợi nhà tư bản thu được 28.000* 2 = 56.000 đơn vị

Như vậy nhà tư bản thu được giá trị thặng dư : 56000 – 51000= 5000 đơn vị

Từ ví dụ trên đây có thể thấy đích xác được giá trị thặng dư từ đâu mà có, cái

mà nhà tư bản thu được là cái gì,nguồn gốc sâu xa của nó Đó là cơ sở sự giàu có củagiai cấp tư sản, cho nên C.Mác đã viêt “Bí quyết của sự tăng thêm giá trị của tư bảnquy lại là ở chỗ tư bản chi phối được một số lượng lao động không công nhất địnhcủa người khác “.Nhà tư bản là được điều đó vì họ có trong tay tư liệu sản xuất,cònngười lao động thì không,họ chỉ có sức khỏe.Điều duy nhất công nhân có thể làm là

Trang 7

bán sức lao động để kiếm tiền nuôi sống bản thân và gia đình của họ.Khi đó sức laođộng trở thành hàng hóa,giá trị sức lao động là điều kiện quan trọng để sản xuất ra giátrị thặng dư và được khái quát theo công thức sau :

Trong đó : + c: giá trị tư liệu sản xuất

+ v: giá trị của sức lao động

+ m : giá trị thặng dư

II Lý luận cơ bản về sản xuất và bóc lột giá trị thặng dư:

1.Lý luận cơ bản về hàng hóa và sức lao động:

Sự biến đổi giá trị của số tiền cần phải chuyển hóa thành tư bản không thể xảy

ra trong bản thân số tiền ấy, mà chỉ có thể xảy ra từ hàng hóa được mua vào H).Hàng hóa đó không thể là một hàng hóa thông thường, mà phải là một hàng hóađặc biệt, hàng hóa mà giá trị sử dụng của nó có đặc tính là nguồn gốc sinh ra giá trị.Thứ hàng hóa đó là sức lao động mà nhà tư bản đã tìm thấy trên thị trường

(T-1.1 Sức lao động và điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa.

Theo C.Mác: “ sức lao động, đó là toàn bộ các thể lực và trí lực ở trong thânthể một con người, trong nhân cách sinh động của con người, thể lực và trí lực màcon người phải làm cho hoạt động để sản xuất ra những vật có ích”

Sức lao động chỉ có thể trở thành hàng hóa trong những điều kiện lịch sử nhấtđịnh sau đây

Thứ nhất, người có sức lao động phải được tự do về thân thể, làm chủ đượcsức lao động của mình và có quyền bán sức lao động của mình như 1 hàng hóa

Thứ hai, người có sức lao động phải bị tước đoạt hết mọi tư liệu sản xuất đểtồn tại buộc anh ta phải bán sức lao động của mình để sống

Như vậy: khi sức lao động trở thành hàng hóa thì tiền tệ mang hình thái là tưbản Hàng hóa sức lao động là một hàng hóa đặc biệt và là phạm trù lịch sử

1.2 Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động.

c + v +m

Trang 8

Cũng giống như mọi hàng hóa khác, hàng hóa sức lao động cũng có hai thuộctính: giá trị và giá trị sử dụng.

Giá trị của hàng hóa sức lao động do thời gian lao động xã hội cần thiết để sảnxuất và tái sản xuất ra sức lao động quyết định Bao gồm:

+ Một là, giá trị những tư liệu sinh hoạt về vật chất và tinh thần cần thiết để taisản xuất sức lao động, duy trì đời sống của bản thân người công nhân

+ Hai là, phí tổn đào tạo người công nhân

+ Ba là, giá trị những tư liệu sinh hoạt vật chất và tinh thần cần thiết cho concái người công nhân

Giá trị SLĐ cũng biến đổi theo thời gian do sự tăng nhu cầu trung bình của xãhội…, hoặc do sự tăng năng suất LĐXH

Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động: Khi nhà tư bản tiêu dùng hàng hóaSLĐ chính là quá trình buộc người công nhân sản xuất ra một lượng hàng hóa với giátrị lớn hơn giá trị của bản thân nó

Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động chỉ thể hiện ra trong quá trình tiêudùng sức lao động, tức là quá trình lao động của công nhân Quá trình đó là quá trìnhsản xuất ra một loạt hàng hóa nào đó đồng thời là quá trình tạo ra giá trị mới lớn hơngiá trị của bản thân hàng hóa sức lao động

Hàng hóa thông thường Hàng hóa sức lao động Giống nhau Đều là hàng hóa, do đó đều có 2 thuộc tính giá trị sử dụng và giá trị.

Trang 9

2.Lý luận cơ bản về quá trình sản xuất giá trị thặng dư.

2.1 : Về quá trình sản xuất giá trị thặng dư.

2.1.1: Bản chất của tư bản:

Bản thân tư liệu sản xuất không phải là tư bản, chúng chỉ trở thành tư bản khi

là tài sản của nhà tư bản và được dùng để bóc lột lao động làm thuê Khi chế độ tưbản bị xóa bỏ thì tư liệu sản xuất không còn là tư bản nữa

Tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư bằng cách bóc lột lao động côngnhân làm thuê Bản chất của tư bản thể hiện quan hệ sản xuất xã hội mà trong đó giaicấp tư sản chiếm đoạt giá trị thặng dư do giai cấp công nhân sáng tạo ra

Vậy,quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa là sự thống nhất giữa quá trình sảnxuất ra giá trị sử dụng và quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư.C.mác viết “ Với tưcách là sự thống nhất giữa quá trình lao động và quá trình tạo ra giá trị thì quá trìnhsản xuất là một quá trình sản xuất hàng hóa ; với tư cách là sự thống nhất giữa quátrình lao động và quá trình làm tang giái trị thì quá trình sản xuất là một quá trình sảnxuất tư bản chủ nghĩa ,là hình thái tư bản chủ nghĩa của nền sản xuất hàng hóa “

2.1.2 Tư bản bất biến và tư bản khả biến:

TBBB (c) là bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thức tư liệu sản xuất (máy móc,thiết bị, nguyên vật liệu) mà thông qua lao động cụ thể của người công nhân, giá trịcủa nó được bảo toàn và chuyển vào sản phẩm (không thay đổi giá trị)

TBKB (v) là bộ phận tư bản dùng để mua sức lao động mà thông qua lao độngtrừu tượng của người công nhân, giá trị của nó không ngừng lớn lên, thay đổi vềlượng

Căn cứ để phân chia TBBB và TBKB là dựa vào tính 2 mặt của lao động sảnxuất hàng hóa: Lao động cụ thể bảo toàn và di chuyển giá trị của tư liệu sản xuất sanggiá trị sản phẩm Lao động trừu tượng tạo ra giá trị lớn hơn

Sự phân chia thành TBBB và TBKB dựa vào vai trò khác nhau của các bộphận tư bản trong quá trình sản xuất giá trị thặng dư TBBB là điều kiện cần thiết đểsản xuất ra giá trị thặng dư còn TBKB có vai trò quyết định trong quá trình đó, vì nó

Trang 10

chính là bộ phận tư bản đã lớn lên à Vạch rõ bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản,chỉ có lao động của công nhân làm thuê mới tạo ra giá trị thặng dư cho nhà tư bản.

Đã có nhiều phương pháp được dùng để tạo ra giá trị thặng dư,nhưng haiphương pháp được sử dụng chủ yếu là phương pháp giá trị thặng dư tuyệt đối vàphương pháp giá trị thặng dư tương đối.Mỗi phương pháp đại diện cho một trình độkhác nhau của giai cấp tư sản,cũng như những giai đoạn lịch sử khác nhau của xã hội

2.2 : Về sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối.

Lấy cơ sở nghiên cứu là trường phái kinh tế chính trị c ổ đi ển, mà đ ại biểuchính là David Ricardo, Karx Marx và Engels đã xây dựng nên trường phái kinh tếchính trị Macxít và sau này được lênin củng cố thành kinh t ế chính trị Mac - Lênin.Kinh tế chính trị Mac - Lênin đã đưa ra nh ững lu ận chứng có tính chất quá độ lịch

sử của chủ nghĩa tư bản và tất yếu của cách mạng xã hội chủ nghĩa và hướng tới chủnghĩa cộng sản Quyển I của bộ tư bản có tựa đề là “Về tư bản” được K.Marx choxuất bản năm 1867, trong tác phẩm này K.Marx đã trình bày một cách khoa học hệthống các phạm trù kinh tế chính trị tư bản mà trước đó, chưa ai có th ể làm được, nóđược đánh giá như “tiếng sét nổ giữa bầu trời quang đãng của ch ủ nghĩa t ư bản”,một trong số các học thuyết được nêu ra là thuyết giá trị th ặng dư, nhờ có học thuyếtnày mà toàn bộ bí mật của nền kinh t ế t ư b ản ch ủ nghĩa được vạch trần, phươngthức sản xuất tư bản chủ nghĩa được nêu ra một cách chính xác, mà trong đó haiphương pháp sản xuất chính là phương pháp giá trị thặng dư tương đối và phươngpháp giá trị thặng dư tuyệt đối được áp dụng rộng rãi nhất, nhằm tạo ra tư bản để tíchluỹ và tái mở rộng sản xuất, đưa xã hội tư bản ngày càng phát triển

Giá trị thặng dư là phần giá trị dôi ra ngoài giá trị sức lao động, do công nhânlàm thuê tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không

Để thu được giá trị thặng dư có hai phương pháp chủ yếu: phương pháp sảnxuất giá trị thặng dư tuyệt đối và phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối

Giá trị thặng dư tuyệt đối là khái niệm trong kinh tế chính trị Mac-Lenin dùng

để chỉ về giá trị thặng dư thu được do kéo dài thời gian lao động vượt quá thời gian

Trang 11

lao động tất yếu, trong khi năng suất lao động, giá trị sức lao động và thời gian laođộng tất yếu không thay đổi.

Một ví dụ cụ thể: Ngày lao động là 8 giờ, thời gian lao động tất yếu là 4 giờ,thời gian lao động thặng dư là 4 giờ, mỗi giờ công nhân tạo ra một giá trị mới là 10đơn vị, thì giá trị thặng dư tuyệt đối là 40 và tỷ suất giá trị thặng dư là:

Sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối là cơ sở chung của chế độ tư bản chủ nghĩa.Phương pháp này được áp dụng phổ biến ở giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản, khilao động còn ở trình độ thủ công và năng suất lao động còn thấp

Nhà tư bản tìm mọi thủ đoạn để kéo dài ngày công lao động Nhưng mặt khác

do giới hạn tự nhiên sức lao động của con người; do đấu tranh của công nhân đòi rútngắn ngày lao động, cho nên ngày lao động không thể kéo dài vô hạn Tuy nhiêncũng không thể rút ngắn bằng thời gian lao động tất yếu Một hình thức khác của sảnxuất giá trị thặng dư tuyệt đối là tăng cường độ lao động Vì tăng cường độ lao độngcũng như kéo dài thời gian lao động trong ngày, trong khi thời gian lao động cần thiếtkhông thay đổi

Có nghĩa là khi nhà tư bản muốn tăng giá trị thặng dư, thì nhà tư bản sẽ muathêm máy móc mua, thêm tư liệu sản xuât, thuê thêm công nhân để sản xuất ra hànghóa; nhưng móc, chỉ mua thêm nguyên liệu sản xuất, và bắt công nhân hiện có phải

Ngày đăng: 03/05/2017, 16:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w