1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TÀI LIỆU THAM KHẢO QUAN điểm của CHỦ TỊCH hồ CHÍ MINH về PHÁT TRIỂN cơ cấu KINH tế NGÀNH TRONG THỜI kỳ QUÁ độ lên CHỦ NGHĨA xã hội và sự vận DỤNG của ĐẢNG CỘNG sản VIỆT NAM

13 757 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quan điểm của Hồ Chí Minh về nền kinh tế mà chúng ta xây dựng là “ một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa với công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, khoa học kỹ thuật tiên tiến” … “trên cơ sở kinh tế ngày càng phát triển, cách bóc lột theo chủ nghĩa tư bản được xóa bỏ dần, đời sống vật chất và văn hóa nhân dân ngày càng được cải thiện

Trang 1

ịnh hướng phát triển của của cách mạng Việt Nam đã được khẳng định ngay từ đầu nhưng năm 20 của thế kỷ XX khi Nguyễn Ái Quốc tìm thấy con đường giải phóng dân tộc theo con đường các mạng vô sản Giữa năm 1923, Người đến Liên Xô, lần đầu

tiên được biết đến hiệu quả tích cực của “chính sách kinh tế mới” của Lê

Nin, được chứng kiến thành tựu bước đầu của nhân dân Xô Viết trên con đường xây dựng một chế độ mớ7i Tư duy về kinh tế của Hồ Chí Minh được hình thành từ những năm 1920, nhưng đến năm 1954 mới thực sự phát triển

Hồ Chí Minh đã phổ thông hóa các quan điểm kinh tế, cơ sở kinh tế dưới nhiều hình thức giản dị, mộc mạc nhưng vẫn chứa đựng khoa học, phù hợp với điều kiện lịch sử của đất nước Nghiên cứu tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh, không nghiên cứu câu chữ mà chúng ta cần thấy tinh thần tư tưởng cuả người Thông qua, quan điểm về cơ cấu kinh tế thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; sự vận dụng sáng tạo của Đảng ta về các thành phần kinh tế trong quá trình xây dựng và bảo vệ tổ quốc

xã hội chủ nghĩa Trên hai vấn đề cơ bản sau:

Đ

I.QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ PHÁT TRIỂN CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở NƯỚC TA.

1.Quan điểm của Hồ Chí Minh về nền kinh tế mà chúng ta xây dựng

là “ một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa với công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, khoa học kỹ thuật tiên tiến”1… “trên cơ sở kinh tế ngày càng phát triển, cách bóc lột theo chủ nghĩa tư bản được xóa bỏ dần, đời sống vật chất và văn hóa nhân dân ngày càng được cải thiện”.2

Đối với các nước lạc hậu chưa trải qua chế độ tư bản thì công nghiệp

hóa, hiện đại hóa là một quy luật tất yếu và phổ biến, đến nay vẫn hoàn toàn

1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập10,Nxb,Chính trị quôc gia,HN 2002,tr310, 40- 41.

2 , 7 , 8 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập9,Nxb,Chính trị quôc gia,HN 2002,tr 588,592,588

Trang 2

đúng với tình hình nước ta, tuy công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở thời đại hiện nay có thể thực hiện bằng hiều con đường khác nhau

Quan điểm của Hồ Chí Minh về thời kỳ quá độ xuất phát từ quan điểm Mác - Lênin và không thể tách rời quan điểm đang ngự trị trong hệ thống xã hội chủ nghĩa lúc bấy giờ Trước hết, Hồ Chí Minh đã lưu ý chúng ta cần

nhận thức rõ tính quy luật chung và đặc điểm lịch sử cụ thể của mỗi nước

khi bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội: “Nhưng tùy hoàn cảnh, mà các dân tộc phát triển theo con đường khác nhau… có nước thì đi thẳng đến chủ nghĩa

xã hội,…có nước thì phải kinh qua chế độ dân chủ mới, rồi tiến lên chủ nghĩa

xã hội”3 Nói cách khác, Hồ Chí Minh đã chỉ ra hai phương thức quá độ chủ

yếu: Phương thức quá độ trực tiếp (từ chủ nghĩa tư bản phát triển lên chủ nghĩa xã hội ) và phương thức quá độ gián tiếp (từ nghèo nàn, lạc hậu, tiền

tư bản chủ nghĩa, qua dân chủ nhân dân đi lên chủ nghĩa xã hội)

Mác, Ăngghen chủ yếu đề cập đến phương thức quá độ trực tiếp từ chủ nghĩa từ chủ nghĩa tư bản phát triển cao lên chủ nghĩa xã hội Lênin đề cập đến cả hai loại hình quá độ, nhưng ở loại hình thứ hai, Lênin cũng mới chỉ nêu ở dạng khái quát, mang tính định hướng lý luận chung; còn Hồ Chí Minh

đã căn cứ vào cụ thể của Việt Nam để xây dựng các quan niệm và lý giải những vấn đề của phương thức quá độ gián tiếp ở một nước chậm phát triển

đi lên chủ nghĩa xã hội và những tìm tòi lý luận của người gắn liền với loại hình quá độ này ở Việt Nam

- Hồ Chí Minh đã chỉ ra những đặc điểm mâu thuẫn của thời kỳ quá

độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Viêt Nam Sau năm 1954 miền bắc nước ta

bước vào thời kỳ quá độ, trong bối cảnh trong nước tương đối thuân lợi Về tình hình trong nước ta đồng thời phải thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược, vừa

có hòa bình, vừa có chiến tranh ,….nhưng bao chùm lên to nhất là đặc điểm “

Từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”4 Đặc điểm này thâu tóm đầy

3 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập7,Nxb,Chính trị quôc gia,HN 2000,tr.247.

4 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập10,Nxb,Chính trị quôc gia,HN 2002,tr13.

Trang 3

đủ những mâu thuẫn, khó khăn phức tạp, chi phối toàn bộ quá trình lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta Nó đặt ra hàng loạt vấn đề lý luận và thực tiễn mà chú

ta cần nhận thức và giải đáp đúng đắn để tìm ra con đường với hình thức,

bước đi và cách làm chủ nghĩa xã hội phù hợp đặc điểm Việt Nam.

Dựa vào công thức của Lênin, Hồ Chí Minh cũng nói “tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”5 Cách nói này có phần thiên về mặt thuận lợi, nghĩa là tránh cho nhân dân không phải trải qua một chế độ bùn đầy và máu là chế độ tư bản chủ nghĩa đã

bị lịch sử lên án và bác bỏ

Nhưng cách nói này chưa giúp cho nhân dân và cán bộ ta nhận thức được đầy đủ những khó khăn, thiếu hụt do chưa trải qua nên chưa đạt tới trình độ phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa tư tưởng….mà loài người đạt được trong thời đại tư bản

Từ một nước nông nghiệp lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá, bỏ qua chế độ

tư bản, quá độ gián tiếp lên chủ nghĩa xã hội, đã đặt ra bao khó khăn, phức tạp kiến chúng ta không thể chủ quan, nóng vội, đốt cháy giai đoạn phiêu lưu, duy ý chí

Do đó, mặc dầu nói “tiến thẳng”, nhưng Hồ Chí Minh cũng đã điều chỉnh lại: “Tiến lên chủ nghĩa xã hội, không phải một sớm một chiều Đó là cả một công tác tổ chức và giáo dục”.6 “Việt Nam ta là một nước là một nước nông nghiệp lạc hậu, công cuộc đổi xã hội cũ thành xã hội mới, gian nan phức tạp hơn việc đánh giặc”.7 “Chủ nghĩa không thể làm nhanh được mà phải dân dân”8

Về độ dài của thời kỳ quá độ, lúc đầu dựa theo kinh nghiệm Liên xô và

Trung Quốc, Hồ Chí Minh cung dự đoán “ chắc sẽ đòi hỏi ba, bốn kế hoạch dài hạn, nếu nhân dân ta cố gắng thì có thể rút ngắn hơn”9 Nhưng quan niệm

5 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập10,Nxb,Chính trị quôc gia,HN 2002,tr13.

6 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập8,Nxb,Chính trị quôc gia,HN 2002,tr228.

7 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập9,Nxb,Chính trị quôc gia,HN 2002,tr176.

8 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập8,Nxb,Chính trị quôc gia,HN 2002,tr226

9 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập9,Nxb,Chính trị quôc gia,HN 2002,tr2.

Trang 4

này, chỉ sau đó ít lâu đã được Hồ Chí Minh điều chỉnh lại Người nói: “ Xây dựng chủ nghĩa xã hội là một cuộc cách mạng phức tạp, gian khổ và lâu dài”

Vì vậy, Hồ Chí Minh đã khẳng định lại: thời kỳ quá độ là thời kỳ lâu dài khó khăn

Về nhiệm vụ của thời kỳ quá độ là một thời kỳ quá độ, người chỉ rõ: “… phải xây dựng nền tẩng vật chât… ”

Về nhân tố bảo đảm thực hiện thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam người chỉ rõ:

+ Giữa vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng

+ Nâng cao vai trò quản lý của nhà nước

+ Phát huy tính tích cực, chủ động của tổ chức chính trị xã hội

+ Xây dựng đội ngũ cán bộ đủ đức và tài, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạnh xã hội chủ nghĩa

2 Quan điểm của Hồ Chí Minh về phát triển cơ cấu nghành kinh tế trong thời kỳ quá độ.

Xuất phát từ điều kiện cụ thể của nước ta, Hồ Chí Minh đã lữa chọn một

cơ cấu nghành kinh tế bảo đảm kết hợp chặt chẽ và thúc đẩy lẫn nhau cùng phát triển giữa công nghiệp, nông nghiệp và thương nghiệp dựa trên vị trí, vai trò của các nghành kinh tế trong thời kỳ quá độ Trong đó, Người nhấn mạnh đến công nghiệp và nông nghiệp: “công nghiệp và nông nghiệp là như hai chân của nền kinh tế nước nhà”10 hạng nghành kinh tế chủ yếu của nền kinh tế Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa

Về vai trò của nông nghiệp, Hồ Chí Minh chú trọng phát triển một nền nông nghiệp toàn diện, trong đó hết sức chú trọng sản xuất lương thực, thực phẩm Người nói: “nước ta là một nước nông nghiệp, phát triển kinh tế nói chung phải lấy việc phát triển nông nghiệp làm gốc, làm chính Nếu không phát triển thì không phát triển nông nông nghiệp thì không có cở để phát triển

10 Hồ Chí Minh ,Toàn tập, tập 8,Nxb,Chính trị quôc gia,HN 2002,tr84.

Trang 5

công nghiệp và nông nghiệp cấp nguyên liệu, lương thực cho công nghiệp vad tiêu thụ hàng hóa công nghiệp làm ra”11

Hồ Chí Minh rất coi trọng phát triển nông nghiệp nhưng xét về mặt lâu dài thì công nghiệp có vai trò quyết định với sự phát triển của kinh tế nước ta Công nghiệp phát triển mạnh để cung cấp hàng tiêu dùng cho nhân dân, trước hết là cho nông dân: Cung cấp máy bơm, cải tiến công cụ sản xuất,chế biến phân bón, thuốc trừ sâu Công nghiệp phát triển thì nông nghiệp mới phát triển Trong bài: “con đường phiá trước” , ngày 20 tháng 01 năm 1960, Hồ Chí Minh chỉ rõ: Nước ta vốn là một nước nông nghiệp lạc hậu, năm 1959 trong nền sản xuất của miền Bắc, công nghiệp chỉ chiếm chưa đầy 2 phần, còn công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp chiếm già tám phần Người ta đặt câu hỏi: “ như vậy thì làm sao cho đời sống nhân dân có thể thật dồi dào được?” và Người khẳng định: “Đời sống nhân dân chỉ có thể thật dồi dào, khi chúng ta dùng máy móc để sản xuất rộng rãi: dùng máy móc cả trong công nghiệp và trong nông nghiệp Máy móc sẽ chắp thêm tay cho người, làm cho sức người tăng lên gấp trăm, nghìn lần và giúp người làm những việc phi thường

Muốn có nhiều máy, thì phải mở mang các nghành công nghiệp…Đó là côn đường phải đi của chúng ta, con đường công nghiệp hóa nước nhà

Hiện nay, chúng ta lấy sản xuất nông nghiệp làm chính Vì muốn mở mang công nghiệp thì phair có đủ lương thực, nguyên liệu Nhưng công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa vẫn là mục tiêu phấn đấu chung, là con đường thực sự cả nhân dân ta” 12

Về quan hệ giữa công nghiệp và nông nghiệp, Hồ Chí Minh coi đó là hai cái chân của nền kinh tế nước nhà, giữa chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau: cho nên công nghiệp và nông nghiệp phải giúp giúp đỡ nhau cùng phát triển như đi hai chân mới khỏe, mới đều thì bước càng nhanh và nhanh chóng đi đế

11 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập10,Nxb,Chính trị quôc gia,HN 2002,tr180, 40,41.

12 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập10,Nxb,Chính trị quôc gia,HN 2002,tr180, 40- 41.

Trang 6

mục địch Thế là thực hiện liên minh công nông để xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng đời sống ấm no, sung sướng cho nhân dân

Về vai trò của thương nghiệp, Hồ Chí Minh xác định rõ là cầu nối giữa công nghiệp và nông nghiệp, giữa giai cấp công nhân và nông dân Nói chuyện tại đại hội chiến sỹ thi đua nghành thương nghiệp lần thứ nhất(từ 31-5 đến 05-06-1956), Người nói: “Về nhiệm vụ thì phải hiểu rõ trong nền kinh tế quốc dân có ba mặt quan trọng: nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp Ba mặt công tác có quan hệ mật thiết với nhau Thương nghiệp là cái khâu giữa công nghiệp và nông nghiệp Thương nghiệp đưa hàng đến nông thôn phục vụ nông dân, thương nghiệp lại đưa nông sản, nguyên liệu ch thành thị tiêu dùng Nếu khâu thương nghiệp bị đứt thì không liên kết được nông nghiệp với công nghiệp, không củng cố được công nông liên minh Công tác thương nghiệp không chạy thì hoạt động nông nghiệp, công nghiệp sẽ bị rời rạc ”13

Thật vậy, Chủ nghĩa xã hội chỉ có thể thắng chủ nghĩa tư bản khi nó tạo

ra được một nền kinh tế phát triển cao, gắn liền với sự phát triển của sản xuất, của khoa học và công nghệ Không có một nền công nghiệp hiện đại thì không có chủ nghĩa xã hội

3 Nền kinh tế xã hội chủ nghĩa phải được tao trên cơ sở chế độ công hữu về tư liệu sản xuất

Người khẳng định rằng: Ở thời kỳ quá độ, nền kinh tế đó còn tồn tại bốn

hình thức sở hữu chính: “ Sở hữu của nhà nước tức là của toàn dân.

- Sở hữu của hợp tác tức là sở hữu tập thể của nhân dân lao động

- Sở hữu của người lao động riêng lẻ

Một ít tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của nhà tư bản”14, trong đó “kinh tế quốc doanh là hình thức sở hữu toàn dân, nó lãnh đạo nền kinh tế quốc dân và nhà nước phải đảm bảo cho nó phát triển ưu tiên”.15

Sau khi nước nhà giành được độc lập và trong suốt 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm chỉ đạo

13 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập8,Nxb,Chính trị quôc gia,HN 2002,tr174.

14

15

Trang 7

phát triển các thành phần kinh tế của đất nước ta để phục vụ cho “kháng chiến, kiến quốc” Theo Hồ Chí Minh lúc này, ở nước ta có các thành phần kinh tế sau:

-Kinh tế địa chủ phong kiến bóc lột địa tô

-Kinh tế quốc doanh

-Các hợp tác xã tiêu thụ và hợp tác xã cung cấp

-Kinh tế cá nhân

-Kinh tế tư bản của tư nhân

-Kinh tế tư bản quốc gia

Sau năm 1954 miền bắc được hoàn toàn giải phóng bước vào thời kỳ quá

độ lên chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ vẫn còn tồn tại nhiều thành phần kinh tế và các hình thức sở hữu sau:

-Về các thành phần kinh tế, Người xác định: Trong chế độ dân chủ mới,

có năm loại kinh tế khác nhau:

- Kinh tế quốc doanh

- Các hợp tác xã

- Kinh tế của cá nhân, nông dân và thủ công nghệ

- Tư bản của tư nhân

- Tư bản của nhà nước

Trong đó kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo, cho nên kinh tế nước ta

sẽ phát triển theo hướng chủ nghĩa xã hội chứ không theo hướng chủ nghĩa tư bản

Tương ứng với năm thành phần kinh tế là bốn hình thức sở hữu: sở hữu của nhà nước; sở hữu hợp tác xã; sở hữu của người lao động riêng lẻ và sở hữu của các nhà tư bản

Không chỉ xác định sự tồn tại của các thành phần kinh tế mà Hồ Chí Minh còn xác định rõ vị trí và xu hướng vận động của các thành phần kinh tế.Và ở từng giai đoạn lịch sử khác nhau lại có các thành phần kinh tế khác nhau, tùy thuộc vào tình hình, đặc điểm của từng thời kỳ

Trang 8

II SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG TRONG THỰC HIỆN CƠ CẤU NHIỀU THÀNH PHẦN KINH TẾ HIỆN NAY.

Đảng ta đã vận dụng đúng đắn, sáng tạo quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh về cơ cấu kinh tế trong thời kỳ quá độ vào xây dựng nền kinh tế phát triển các thành phần kinh tế vững chắc đáp ứng với yêu cầu cách mạng đặt ra, nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho quần chúng nhân dân lao động, sớm đưa nước ta thoát khỏi tình trạng nước nghèo kém phát triển thể nghiệm qua kết quả 20 năm đổi mới đất nước (1986 - 2006) mà đại hội Đảng 10 tổng kết đồng thời đề ra phương hướng phát triển kinh tế và phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp

Nhìn lại lịch sử cách mạng Việt Nam từ trước tới ngày nay, đặc biệt là từ năm 1986 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã đưa ra chủ trương đổi mới toàn diện trên các mặt của đời sống xã hội, nhưng tập trung đổi mới về kinh tế Có thể nói đây là nghị quyết đã mở đường cho nền kinh tế đất nước phát triển Và trong mỗi giai đoạn lịch sử của đất nước cơ cấu nền kinh tế cũng có sự khác nhau và sự phát triển của các thành phần kinh tế đó trong các giai đoạn lịch sử cũng khác nhau, điều đó phụ thuộc vào tính chất của từng giai đoạn lịch sử của đất nước

Đại hội VIII của Đảng xác định, ở nước ta có 5 thành phần kinh tế: kinh

tế nhà nước; kinh tế hợp tác mà nòng cốt là hợp tác xã; kinh tế tư bản nhà nước; kinh tế cá thể, tiểu chủ; và kinh tế tư bản tư nhân

Việc phân định các thành phần kinh tế là vấn đề lớn, khó, hệ trọng và hết sức phức tạp, đã được Ban chấp hành trung ương khóa IX khẳng định nước ta hiện nay có các thành phần kinh tế như sau: Kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân(cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân), kinh tế tư bản nhà nước, kinh

tế có vốn đầu tư nuuwocs ngoài Trông đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chỉ đạo, kinh tế nhà nước với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững trắc của nền kinh tế quốc dân Kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng, là một trong những đọng lực của nền kinh tế Doanh nghiệp cổ phần ngày càng phát

Trang 9

triển, trở thành nhình thức kinh doanh phổ biến, thúc đẩy xã hội sản xuất kinh doanh và sở hữu Còn vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước không phải thể hiện ở số lượng doanh nghiệp nhiều hay ít, tỉ trọng đóng góp GDP cao hay thấp mà ở chỗ, đó là lực lược vật chất quan trọng để nhà nước định hướng và điều tiết kinh tế, tạo môi trường và điều kiện thúc đẩy các thành phân kinh tế phát triển

Đại hội X, vừa có kế thừa, vừa có bổ sung, phát triển thêm một số điểm cho phù hợp với tình hình mới (như để chung kinh tế cá thể, tiểu chủ, tư bản

tư nhân vào thành phần kinh tế tư nhân; khẳng định vai trò của kinh tế tư nhân, doanh nghiệp cổ phần; nhận thức sâu hơn nội hàm vai trò chủ đạo kinh

tế nhà nước )

Thời kỳ quá độ, nền kinh tế nước ta có nhiều thành phần kinh tế: 1 kinh

tế nhà nước, kinh tế hợp tác xã mà lòng cốt là hợp tác xã, 3 kinh tế tư nhân nhà nước, Kinh tế cá nhân, 5 kinh tế tư bản tư nhân

Như vậy, chúng ta thấy từ đại hội Đảng VIII trở về trước, trong cơ cấu thành phần kinh tế, Đảng ta xác định chưa có thành phần kinh tế có vốn đầu

tư nước ngoài, nhưng từ đại hội IX trở lại đây, Đảng ta xác định có thêm thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là vì, thực tế trong những năm gần đây bộ phận đầu tư kinh doanh của nước ngoài chiếm tỉ trọng ngày càng cao Có vị trí quan trọng trong nền kinh tế nước ta Trong 10 năm (1991-2000) các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phát triển khá nhanh Trong 5 năm (1996-2000) vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được thực hiện khoảng 10 tỷ USD, chiếm 23% tổng số vốn đầu tư toàn xã hội Như vậy sự thay đổi của các thành phần kinh tế phụ thuộc vào đặc điểm, tình hình cụ thể của từng thời kỳ lịch sử của đất nước Xong để nền kinh tế đất nước phát triển vững chắc, ngoài việc sử dụng một cách linh hoạt các thành phần kinh tế, Đảng ta còn xác định rõ vai trò của từng loại hình kinh tế trong từng thời kỳ, từng giai đoạn lịch sử Trong các nền kinh tế đó thì kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày cảng trở thành nền

Trang 10

tảng vững chắc cho nền kinh tế quốc dân kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế Doanh nghiệp cổ phần ngày càng phát triển, trở thành hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh và sở hữu Còn vai trò chủ đạo của nền kinh tế nhà nước không phải thể hiện ở số lượng doanh nghiệp nhiều hay ít, tỉ trọng đóng góp vào GDP cao hay thấp mà

ở chỗ, đó là lực lượng vật chất quan trọng để nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, tạo môi trường và điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển

Việc xác định các loại hình sở hữu và phân định các thành phần kinh tế là rất cần thiết để làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách phát triển nền kinh

tế nói chung, cho việc phát triển từng thành phần kinh tế nói riêng, nhằm không phải đề phân biệt đối xử mà là để có chính sách đúng đắn, giải phóng mọi lực lượng sản xuất, thúc đẩy nền kinh tế - xã hội phát triển phù hợp với định hướng xã hội chủ nghĩa

Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh Thực tiễn đã chứng minh chủ trương đó là đúng và được sự đồng tình nhất trí cao trong toàn Đảng và nhân dân đưa nền kinh tế của đất nước từng bước phát triển vững chắc, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân góp phần không nhỏ trong việc xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội

Thực tiễn vận dụng chiến đấu và trưởng thành của mình quân đội ta luôn luôn thể hiện rõ vai trò là lực lược chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy cảu Đảng, nhà nước và nhân dân, hoàn thành tốt chức năng đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân sản xuất; đã tôi luyện và trưởng thành trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ tổ quốc, trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của đất nước Quân đội đã đào luyện được lớp lớp các thế hệ người quân nhân cách mạng sống có lý tưởng, một lòng,

Ngày đăng: 02/05/2017, 21:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w