1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em trong luật hình sự việt nam

115 250 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 1,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 VỀ TỘI MUA BÁN, ĐÁNH TRÁO HOẶC CHIẾM ĐOẠT TRẺ EM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG .... các tội phạ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

BÙI THANH PHƯƠNG

TộI MUA BáN, ĐáNH TRáO HOặC CHIếM ĐOạT TRẻ EM

TRONG LUậT HìNH Sự VIệT NAM (trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Hà Giang)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT

HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

BÙI THANH PHƯƠNG

TộI MUA BáN, ĐáNH TRáO HOặC CHIếM ĐOạT TRẻ EM

TRONG LUậT HìNH Sự VIệT NAM (trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Hà Giang)

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn bảo đảm độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận vănchưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

TÁC GIẢ CỦA LUẬN VĂN

Bùi Thanh Phương

Trang 4

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các từ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các biểu đồ

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU

1

C h ƣ ơ n g 1 : M Ộ T

S Ố

V Ấ

Trang 5

Ề CHUNG VỀ

TỘI MUA BÁN,

ĐÁNH

TRÁO

HOẶC

CHIẾM

ĐOẠT

TRẺ EM

THEO

LUẬT

HÌNH

SỰ VIỆT

NAM

8

1 1 1 1 1 1 1.2 1.3 1.3.1 1.3.2 1.3.3 1.3.4 1.3.5 K C S V K Đ T T

22

Luật hình sự Liên bang Nga

22

Luật hình sự Cộng hoà nhân dân Trung Hoa

24 Luật hình sự Malaysia

25 Luật KẾT LUẬ N CHƢ ƠNG 1

32

Trang 6

Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 VỀ

TỘI MUA BÁN, ĐÁNH TRÁO HOẶC CHIẾM ĐOẠT TRẺ

EM VÀ THỰC TIỄN ĐIỀU TRA, TRUY TỐ VÀ XÉT XỬ TỘI PHẠM NÀY TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ GIANG TỪ NĂM 2010 ĐẾN NĂM 2015 34

CÁC DẤU HIỆU PHÁP LÝ ĐẶC TRƯNG CỦA TỘI MUA

BÁN, ĐÁNH TRÁO HOẶC CHIẾM ĐOẠT TRẺ EM VÀ

ĐƯỜNG LỐI XỬ LÝ ĐỐI VỚI TỘI NÀY 34 Các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của Tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em 34 Đường lối xử lý đối với tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt

trẻ em 41 THỰC TIỄN ĐIỀU TRA, TRUY TỐ, XÉT XỬ TỘI MUA BÁN, ĐÁNH TRÁO, CHIẾM ĐOẠT TRẺ EM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH

HÀ GIANG TỪ NĂM 2010 ĐẾN NĂM 2015 45

T ì n h h ì n h c ó l i ê n q u a n đ ế n t ộ i mu a b á n , đ á n h t r á o h o ặ c chiếm đoạt trẻ em trên địa bàn tỉnh Hà Giang 45 Thực tiễn điều tra các vụ án tội mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt

trẻ em trên địa bàn tỉnh Hà Giang (số liệu từ năm 2010 - 2015) 48 Thực tiễn truy tố, xét xử đối với tội mua bán, đánh tráo, chiếm

đoạt trẻ em trên địa bàn tỉnh Hà Giang từ năm 2010 - 2015 57 MỘT SỐ TỒN TẠI VÀ HẠN CHẾ TRONG ĐIỀU TRA,

TRUY TỐ, XÉT XỬ VỀ TỘI MUA BÁN, ĐÁNH TRÁO,

CHIẾM ĐOẠT TRẺ EM VÀ NGUYÊN NHÂN 65 Một số tồn tại, hạn chế trong điều tra, truy tố, xét xử về Tội mua

bán, chiếm đoạt trẻ em 65 Một số nguyên nhân cơ bản của tồn tại, hạn chế trong điều tra, truy tố, xét xử các vụ án mua bán, chiếm đoạt trẻ em trên địa

bàn tỉnh Hà Giang 68 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 70

Trang 7

Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH

CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 VỀ TỘI MUA BÁN,

ĐÁNH TRÁO HOẶC CHIẾM ĐOẠT TRẺ EM VÀ GIẢI

PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG 72

3.1 3.2 3.3 3.3.1 3.3.2 3.3.3 3.3.4 3.3.5 3.3.6 TÌNH HÌNH TỘI MUA BÁN, ĐÁNH TRÁO, CHIẾM ĐOẠT TRẺ EM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ GIANG TRONG THỜI GIAN TỚI 72

HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI MUA BÁN, ĐÁNH TRÁO HOẶC CHIẾM ĐOẠT TRẺ EM 75

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI MUA BÁN, ĐÁNH TRÁO, CHIẾM ĐOẠT TRẺ EM 84

Tăng cường công tác hướng dẫn của các cơ quan chức năng về áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự 84

Đẩy mạnh công tác đào tạo cho đội ngũ cán bộ làm công tác điều tra, truy tố, xét xử các cấp 86

Tăng cường phối hợp chặt chẽ của các ban, ngành, đoàn thể, chính trị xã hội 87

Nâng cao hiệu quả công tác thông tin, tuyên truyền cho nhân dân 90

Đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác phối hợp giữa các cơ quan tố tụng 91

Nâng cao hiệu quả các hoạt động hợp tác quốc tế 92

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 95

KẾT LUẬN 97

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLHS: Bộ luật hình sự

C H N D: Cộ n g h ò a n h ân d ân

MBCĐTE: Mua bán, chiếm đoạt trẻ em

MBĐTCĐ: Mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em TNHS: Trách nhiệm hình sự

Trang 9

quan

công

anp

t hiệnvàkh

ởi

tố điềutratrê

n địa bàn tỉnh HàGiang từ năm

2010 - 2015

Số vụ truy tố,

số vụ xét xử đối với tội mua bán, B

ản

g 2

3:

ch

Trang 10

bị cáo tội mua bán, B

ảng2.7:

chiếm đoạt trẻ em tỉnh Hà Giang năm 2010 - 2015

56

58

60

62

63

65

Trang 11

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu 2.1: Tỷ lệ số vụ án mua bán, chiếm đoạt trẻ em trên

địa bàn tỉnh Hà Giang từ năm 2011 đến năm 2015 55 Biểu 2.2: Tỷ lệ số đối tƣợng phạm tội mua bán trẻ em trên

địa bàn tỉnh Hà Giang từ năm 2011 đến năm 2015 55

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Trong những năm gần đây, tình hình An ninh chính trị và trật tự an toàn

xã hội trên thế giới có nhiều biến động, diễn biến phức tạp, khó lường Tình hình xung đột vũ trang, xung đột sắc tộc, tôn giáo, khủng bố đã mang tính chất toàn cầu buộc các quốc gia phải cùng nhau liên kết để giải quyết, tháo gỡ và tìm tiếng nói chung Tình hình tội phạm diễn ra ngày càng phức tạp, nghiêm trọng và có xu hướng gia tăng đột biến, có nhiều loại tội phạm mới xuất hiện với thủ đoạn ngày càng tinh vi và xảo quyệt hơn, tính chất của tội phạm ngày càng manh động, đặc biệt là tội phạm buôn bán người, buôn bán trẻ em Tình hình buôn bán trẻ em, buôn bán người đã vi phạm nghiêm trọng quyền con người - một trong những quyền cơ bản nhất của công dân Tình hình buôn bántrẻ em xảy ra trên phạm vi nhiều nước và là một trong những thách thức lớn đối với các quốc gia đang phát triển và đang ngày càng mang tính chất quốc tế hóa

Ở Việt Nam, tình hình tội phạm ngày càng biến động, có xu hướng gia tăng, có nhiều loại tội phạm mới xuất hiện, đặc biệt tội buôn bán trẻ em có những diễn biến phức tạp, có xu hướng gia tăng và quốc tế hóa Một bộ phận trẻ

em bị lừa, chiếm đoạt, buôn bán… ở trong nước, chủ yếu từ các vùng nông thôn, miền núi ra thành phố, thị xã để làm gái mại dâm; bóc lột sức lao động; phần lớn

số còn lại bị buôn bán ra nước ngoài với nhiều hình thức và mục đích khác nhau Tệ nạn buôn bán trẻ em đã trở thành vấn đề nóng bỏng, nhức nhối ảnh hưởng xấu đến đời sống sinh hoạt của nhân dân, phong tục tập quán, đạo đức xãhội, pháp luật của nhà nước, phá vỡ, cướp đi hạnh phúc của nhiều gia đình và tiềm ẩn những nhân tố mất ổn định về an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội

Trang 13

Ở nước ta, trẻ em luôn là đối tượng được toàn xã hội quan tâm, chăm sóc đặc biệt Phát huy đạo lý truyền thống của dân tộc và thấm nhuần sâu sắc tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh coi việc chăm lo, bồi dưỡng cho các thế hệ cách mạng đời sau để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là một nhiệm vụ hết sức quan trọng và cần thiết Trong những năm qua, Đảng, Nhà nước, các tổ chức xã hội,

tổ chức xã hội nghề nghiệp và nhân dân ta luôn luôn dành cho trẻ em - chủ nhân tương lai của đất nước - những gì tốt đẹp nhất Đảng ta đã đưa ra nhiều chủ trương, đường lối và Nhà nước cũng đã xây dựng, ban hành nhiều văn bản pháp luật quy định về vấn đề chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em Nhiều chương trình hành động vì trẻ em đã và đang được các gia đình, nhà trường, các tổ chức, đoàn thể cũng như toàn xã hội hưởng ứng và tham gia một cách tích cực, có hiệu quả Việt Nam là một trong những quốc gia đi tiên phong trong việc ký và phê chuẩn Công ước quốc tế về quyền trẻ em của Liên hợp quốc ngày 20/2/1990

Qua nhiều năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, đất nước ta đang tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện, sâu sắc trên tất cả các mặt, các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Diện mạo đất nước đã thay đổi rõ rệt, vị trí của Việt Nam được nâng cao trên trường quốc tế Nhà nước đã xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn thiện để nâng cao hiệu quả công tác quản lý và điều hành đất nước, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; các quyền cơ bản của con người, đặc biệt là của trẻ em luôn được tôn trọng và ngày càng được đảm bảo bằng các thiết chế kinh tế, giáo dục, pháp luật Chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trong công tác chăm sóc, giáo dục, bảo vệ trẻ em và được cộng đồng quốc tế công nhận

Tuy nhiên, việc chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em ở nước ta hiện nay cũng còn có nhiều thách thức như: nhiều trẻ em phải lao động vất vả để mưu

Trang 14

sinh thay vì được cắp sách đến trường; nhiều trẻ em do gia đình nghèo không

đủ điều kiện đi học; nhiều quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của các em bị xâm hại nghiêm trọng; tình trạng trẻ em bị xâm hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm đang có xu hướng gia tăng Đặc biệt, trong những năm gần đây tội mua bán, chiếm đoạt trẻ em xảy ra nhiều tại khu vực các tỉnh biên giới (nhất là các tỉnh biên giới phía Bắc giáp Trung Quốc) gây ra những lo

lắng, tổn thất cho các gia đình bị hại và gây bức xúc trong dư luận xã hội

Hà Giang là một tỉnh miền núi cực bắc của đất nước với địa bàn rộng, địa hình phức tạp, nhiều núi đá hiểm trở, đi lại khó khăn, có trên 277,525 km

đường biên giới giáp với Trung Quốc, 7/11 huyện biên giới với 34 xã biên giới Với đặc điểm địa hình như vậy, tại vùng biên giới Hà Giang gần đây đang nóng lên tội phạm mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em để bán qua biên giới Chỉ trong một thời gian ngắn, trên địa bàn các huyện biên giới tỉnh

Hà Giang đã liên tiếp xảy ra các vụ chiếm đoạt trẻ em để bán sang Trung Quốc Các đối tượng thực hiện hành vi phạm tội một cách liều lĩnh, táo bạo,

có sử dụng hung khí với phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt

Các vụ án chiếm đoạt trẻ em xảy ra ở khu vực biên giới tỉnh Hà Giang đã

và đang gây hoang mang, lo lắng, bức xúc và lên án mạnh mẽ trong dư luận nhân dân, thể hiện sự coi thường tính mạng, sức khỏe của con người, là sự thách thức đối với các cơ quan thực thi pháp luật Đó cũng là lý do tác giả

chọn vấn đề "Tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em trong Luật

hình sự Việt Nam (Trên cơ sở thực tiễn tại địa bàn tỉnh Hà Giang)" làm đề tài

luận văn thạc sĩ luật học

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong thời gian qua, đã có nhiều đề tài khoa học về tội mua bán người, mua bán trẻ em được các nhà nghiên cứu lý luận và cán bộ thực tiễn thực

hiện Có một số đề tài nghiên cứu như: Trần Minh Hưởng, Phát hiện điều tra

Trang 15

các tội phạm buôn bán phụ nữ trẻ em qua biên giới của Lực lượng CSND,

Luận văn tiến sĩ Luật học của giảng viên Học viện CSND (2006); Thượng

Tiến Dũng (2010), Điều tra tội phạm mua bán phụ nữ, trẻ em qua biên giới

do người dân tộc thiểu số gây ra trên địa bàn tỉnh Hà Giang, Luận văn Thạc

sĩ Luật học, Hà Nội…

Tuy nhiên, đối với tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em có rất ít

đề tài nghiên cứu với tư cách là một tội danh độc lập

Về phương diện lý luận, tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em được phân tích trong trong các giáo trình, các sách chuyên khảo như: Lê Cảm

(2003), Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm), NXB Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội; Lê Cảm (chủ biên) (2001), Giáo trình Luật Hình sự

Việt Nam (Phần chung), NXB Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội; Trường Đại học

Luật Hà Nội (2010), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, 2 tập, NXB Công an nhân dân, Hà Nội

Về phương diện nghiên cứu kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, có một

số công trình khoa học như: Lê Việt Hà (2009), Tội mua bán, đánh tráo

hoặc chiếm đoạt trẻ em trong Luật hình sự Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ Luật

học; Trần Thị Quế (2014), Tội mua bán người, mua bán trẻ em trên địa bàn

tỉnh Hà Giang - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sỹ Luật

học, Hà Nội

Hà Giang là một trong những tỉnh giáp biên giới với Trung Quốc, có đường biên giới dài, tình hình tội mua bán, đánh tráo chiếm đoạt trẻ em diễn ra phức tạp và có chiều hướng gia tăng cả về số vụ, số đối tượng phạm tội Đối với địa bàn tỉnh Hà Giang, chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện và chuyên sâu về tình hình tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em để từ đó đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả đối với loại tội này Vì vậy tác giả đã chọn đề tài này làm luận văn Thạc sỹ Luật học của mình

Trang 16

Quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả có kế thừa, khai thác kết quả các công trình nói trên, đồng thời tập trung đi sâu nghiên cứu những vẫn đề lý luận và thực tiễn về tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em trên địa bàn tỉnh Hà Giang

3 Mục đích, nhiệm vụ và đối tƣợng của luận văn

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt đƣợc mục đích nghiên cứu, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau đây:

- Phân tích, làm rõ cơ sở lý luận về trẻ em, về tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em và thực tiễn quy định tội này trong Luật hình sự Việt Nam;

- Phân tích thực trạng tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em vùng biên giới tỉnh Hà Giang trong những năm qua; thực trạng công tác xử lý Tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em trên địa bàn tỉnh Hà Giang từ năm 2010 đến năm 2015;

- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 trong xử lý Tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em

3.3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn đúng nhƣ tên gọi của nó: Tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em trong Luật hình sự Việt Nam (Trên cơ

sở thực tiễn tại địa bàn tỉnh Hà Giang)

Trang 17

4 Cơ sở lý luận và các phương pháp nghiên cứu

4.2 Các phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp lịch sử, phân tích và tổng hợp, khái quát hóa, hệ thống hóa để nghiên cứu các vấn đề lý luận; sử dụng phương pháp thu thập các thông tin,

số liệu thực tế ở địa phương phục vụ cho việc đánh giá thực trạng, nguyên nhân của vấn đề nghiên cứu và luận chứng tính khả thi của các giải pháp mà luận văn đề xuất

5 Những điểm mới của luận văn

- Luận văn đã nghiên cứu lý luận một cách tương đối toàn diện, có hệ thống về Tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em;

- Đánh giá được tình hình tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ

em ở vùng biên giới tỉnh Hà Giang giai đoạn 2010 - 2015, thực trạng xét xử loại tội này của các cơ quan chức năng tỉnh Hà Giang trong những năm qua, chỉ

ra được những thành công cũng như những hạn chế, bất cập còn tồn tại và nguyên nhân của nó trong công tác này;

- Đề xuất những giải pháp hoàn thiện pháp luật và những giải pháp khác nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự về tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em ở khía cạnh lập pháp và việc áp dụng trong thực tiễn

Trang 18

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương

Chương 1 Một số vấn đề chung về Tội mua bán, đánh tráo hoặc

chiếm đoạt trẻ em theo Luật hình sự Việt Nam

Chương 2 Quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 về Tội mua bán,

đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em và thực tiễn điều tra, truy

tố, xét xử tội phạm này trên địa bàn tỉnh Hà Giang từ năm

2010 đến năm 2015

Chương 3 Một số kiến nghị hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình

sự năm 1999 về Tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ

em và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng

Trang 19

Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG

VỀ TỘI MUA BÁN, ĐÁNH TRÁO HOẶC CHIẾM ĐOẠT TRẺ EM

THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.1 KHÁI NIỆM TỘI MUA BÁN, ĐÁNH TRÁO, CHIẾM ĐOẠT

TRẺ EM VÀ SỰ CẦN THIẾT BẢO VỆ TRẺ EM BẰNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.1.1 Khái niệm Tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em

Ở tất cả các quốc gia trên toàn thế giới, trẻ em luôn là đối tượng đặc biệt, nhận được sự quan tâm đặc biệt về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục của gia đình, nhà nước và xã hội Trong Tuyên ngôn Thế giới về Quyền con người và các Công ước quốc tế về Quyền con người, Liên Hợp Quốc đã công bố rằng, trẻ em có quyền được chăm sóc và giúp đỡ đặc biệt Tuyên ngôn về Quyền trẻ

em đã chỉ ra rằng: "do còn non nớt về thể chất và trí tuệ, trẻ em cần được bảo vệ

và chăm sóc đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đời" [38] Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em đã được Đại Hội

đồng Liên Hợp Quốc thông qua và mở cho các nước ký, phê chuẩn theo Nghị quyết số 44/25 ngày 20/11/1989

Ở Việt Nam, việc nuôi dưỡng, bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em để các

em phát triển toàn diện, trở thành người công dân có ích cho xã hội, được xem là quốc sách hàng đầu Bên cạnh đó, một hệ thống các văn bản pháp luật

về quyền trẻ em đã lần lượt được Quốc hội phê chuẩn, thông qua, tạo nên một

hệ thống pháp luật về trẻ em, có được sự hài hòa nhất định giữa pháp luật quốc gia và Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em, xây dựng được một khung pháp lý bảo đảm cho việc thực thi có hiệu quả các quyền cơ bản của trẻ em trong cuộc sống

Trang 20

Trong hệ thống pháp luật hiện hành của nước ta, có rất nhiều Bộ luật, Luật đề cập tới trẻ em nhằm đảm bảo các quyền, lợi ích hợp pháp của các em cũng như sự quan tâm, ưu đãi nhất định mà Nhà nước và xã hội dành cho các

em trong nhiều lĩnh vực, như Bộ Luật Hình sự, Bộ Luật Lao động, Luật Bảo

vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Luật Giao thông đường bộ Tuy nhiên, cũng chính trong các luật này, giới hạn đến một độ tuổi nhất định để xác định một người là trẻ em lại đang có sự chênh lệch nhau khá nhiều; thậm chí, cùng một độ tuổi, ở luật này được xác định là trẻ em, nhưng ở luật khác thì không còn là trẻ em nữa, mà đã thành người lớn, điều đó đã gây những khó khăn, vướng mắc nhất định cho việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn vấn đề trẻ em Theo Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, trẻ em được hiểu là người dưới 16 tuổi [56]; theo Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính (quy định không xử phạt trẻ em dưới 14 tuổi) thì độ tuổi của một người để được coi là trẻ

em lại là dưới 14 tuổi Như vậy, ngay trong các văn bản quy phạm pháp luật của nước ta đã không có sự thống nhất xung quanh cách hiểu về trẻ em

Theo quy định tại Điều 1 Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em

ngày 20/11/1989: "Trong phạm vi của Công ước này, trẻ em có nghĩa là mọi

người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn" [43] Các văn kiện, công ước quốc tế liên quan đến việc

bảo vệ quyền con người, quyền của phụ nữ và trẻ em mà Việt Nam đã tham gia

ký kết và là thành viên như: Công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ, Công ước về Quyền trẻ em, Nghị định thư không bắt buộc (bổsung cho Công ước về Quyền trẻ em) về buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em, các thỏa thuận, ghi nhớ với một số nước có chung đường biên giới với nước ta về hợp tác chống buôn bán phụ nữ, trẻ em, và hiện Việt Nam đang nghiên cứu các điều kiện để phê chuẩn Công ước về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia và các Nghị định thư

Trang 21

bổ sung về chống buôn bán phụ nữ, trẻ em và chống đưa người di cư trái phép cũng đều quy định trẻ em là những người dưới 18 tuổi Trong khi đó, định nghĩa trẻ em của pháp luật Việt Nam vẫn coi trẻ em là người dưới 16 tuổi Đây chính là một dạng xung đột pháp luật và nhất thiết phải có sự hóa giải để đảm bảo tính khả thi của pháp luật

Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam không quy định cụ thể độ tuổi để xác định một người là trẻ em Trong hệ thống pháp luật hiện hành của nước

ta, đạo luật dành riêng cho trẻ em là Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ

em Vì vậy, trong khi chờ Nhà nước hóa giải những xung đột pháp luật liên quan tới quy định về độ tuổi trẻ em, tạo sự tương thích giữa pháp luật quốc nội và pháp luật quốc tế, để tạo sự thống nhất trong quan niệm về trẻ em, chúng ta nên căn cứ vào định nghĩa trẻ em được nêu trong Luật bảo vệ, chăm sóc

và giáo dục trẻ em: "Trẻ em quy định trong Luật này là công dân Việt Nam

dưới mười sáu tuổi" [56]

Điều 120 Bộ luật hình sự 1999 không đưa ra định nghĩa về các hành vi

mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em, mà chỉ đưa ra điều văn "người nào mua

bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em dưới bất kỳ hình thức nào" [59, tr 97]

đều bị coi là tội phạm

Ngoài ra, các văn bản hướng dẫn, cũng không có một văn bản nào đưa ra khái niệm mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em Theo Thông tư 01/2013/TTLB- TANDTC-VKSNDTC- BCA- BQP -BTP, tại Điều 4, các thuật ngữ ở đây cần được hiểu như sau:

1 Mua bán trẻ em là hành vi dùng tiền, tài sản hoặc lợi ích

vật chất khác để trao đổi trẻ em (người dưới 16 tuổi) như một loại hàng hóa; cụ thể là một trong các hành vi sau đây:

a) Bán trẻ em cho người khác, không phụ thuộc vào mục đích của người mua;

Trang 22

b) Mua bán trẻ em để bán lại cho người khác, không phân biệt bán lại cho ai và mục đích của người mua sau này như thế nào;

c) Dùng trẻ em làm phương tiện để trao đổi, thanh toán;

d) Mua trẻ em để bóc lột, cưỡng bức lao động hoặc vì mục đích trái pháp luật khác

2 "Đánh tráo trẻ em" là hành vi thay thế trẻ em này bằng trẻ

em khác ngoài ý muốn của cha mẹ, người nuôi dưỡng hoặc người quản lý hợp pháp của một hoặc cả hai đứa trẻ

3 "Chiếm đoạt trẻ em" là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ

lực, bắt trộm, lừa đảo, lợi dụng tình trạng khó khăn, sự lệ thuộc của cha mẹ hoặc của người nuôi dưỡng trẻ em nhằm chiếm giữ đứa trẻ hoặc giao cho người khác chiếm giữ đứa trẻ đó

4 Người tổ chức, người xúi dục, người giúp sức cho người thựchiện một trong các hành vi được hướng dẫn tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này bị truy cứu trách nhiệm hình sự với vai trò đồng phạm [65] Trong số ba hành vi quy định tại Điều 120, chỉ có hành vi chiếm đoạt trẻ em nhà làm luật mới quy định "dưới bất kỳ hình thức nào", còn hành vi mua bán và hành vi đánh tráo thì không thể quy định mua bán hoặc đánh tráo dưới bất kỳ hình thức nào Quy định "chiếm đoạt trẻ em dưới bất kỳ hình thức nào" [59, tr 97] là để phân biệt với trường hợp "bắt trộm trẻ em" quy định trong Bộ luật hình sự năm 1985 mới chỉ nói lên hình thức lén lút; còn trên thực tế, người phạm tội không chỉ lén lút, mà còn dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, dùng thủ đoạn gian dối, công nhiên hoặc thủ đoạn khác để chiếm đoạt trẻ em

Từ Điều 120 Bộ luật hình sự năm 1999, qua nghiên cứu lý luận và thực tiễn về tội phạm mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em, có thể đưa ra định nghĩa như sau:

Trang 23

Tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý xâm phạm quyền tự do thân thể, tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm và quyền được quản lý, bảo vệ, chăm sóc và giáo dục của trẻ em Người phạm tội mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em phải bị xử lý bằng hình phạt [59]

1.1.2 Sự cần thiết bảo vệ trẻ em bằng các quy định của Luật hình

sự Việt Nam

Trẻ em luôn là đối tượng được quan tâm của gia đình, nhà nước và xã hội, trẻ em là đối tượng đặc biệt cần được sự bảo vệ của pháp luật Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan niệm "trẻ em như búp trên cành" và đó cũng

là quan niệm của cả dân tộc ta về thiếu niên nhi đồng Chăm sóc, giáo dục và bảo

vệ trẻ em là chăm lo cho hạnh phúc của chính chúng ta hôm nay, của tương lai chúng ta mai sau, và mãi là truyền thống, đạo lý tốt đẹp của dân tộc ta Việc quan tâm, chăm sóc, bồi dưỡng thế hệ trẻ đã được Đảng và Nhà nước ta chú ý từ rất sớm thể hiện trong nhiều Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng trong đó đều thống nhất khẳng định đây là trách nhiệm to lớn của Đảng, toàn dân

Từ năm 1945 đến nay, trải qua nhiều năm xây dựng và phát triển của đất nước, cùng với việc dần hoàn thiện hệ thống pháp luật, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách hướng tới mục tiêu vì lợi ích tốt nhất cho sự phát triển toàn diện về thể chất, tinh thần và đạo đức của trẻ em; đã tổ chức thực hiện nhiều chính sách tầm chiến lược, nhiều chương trình đào tạo, bồi dưỡng để đảm bảo mọi trẻ em đều có quyền được sống, phát triển, tham gia và được bảo vệ không bị xâm hại trong môi trường an toàn, lành mạnh và thân thiện, không bị phân biệt đối xử Năm 1990, Nhà nước ta đã phê chuẩn Công ước quốc tế về Quyền trẻ em (ngày 20 tháng 2 năm 1990), Việt Nam là quốc gia đầu tiên ở Châu Á và thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước này [43]

Trang 24

Với quan điểm coi đầu tư nguồn lực con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng Xã hội chủ nghĩa và trẻ em là chủ nhân tương lai của đất nước, Nhà nước ta đã luôn đặt lợi ích tốt nhất của trẻ em lên hàng đầu trong các quyết định liên quan đến phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, cộng đồng và gia đình Công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là đảm bảo cho an toàn xã hội, phát triển con người và cho sự phát triển bền vững của đất nước Có thể khẳng định, bảo

vệ trẻ em là bảo vệ quyền con người

Hệ thống pháp luật Việt Nam bao gồm nhiều ngành luật, có đối tượng điều chỉnh là các nhóm quan hệ xã hội thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau Trẻ

em với tính cách là một chủ thể pháp luật, các quan hệ xã hội về trẻ em cũng

là một trong những đối tượng điều chỉnh của các ngành luật thuộc hệ thống pháp luật nước ta Pháp luật về trẻ em có phạm vi điều chỉnh rộng, liên quan đến nhiều nhóm quan hệ xã hội, đến nhiều ngành luật khác nhau Các ngành luật thuộc hệ thống pháp luật Việt Nam đều bảo vệ quyền trẻ em theo một đặc thù riêng của ngành luật mình "Ví dụ: trong lĩnh vực Luật Hiến pháp, trẻ em được xem như một công dân đặc biệt, vấn đề bảo vệ quyền trẻ em được điều chỉnh dưới góc độ phạm trù quyền con người Do vậy, Luật Hiến pháp bảo vệ quyền trẻ em bằng việc quy định các quyền cơ bản nhất của trẻ em, bao gồm quyền được bảo vệ, chăm sóc, giáo dục Đồng thời, Luật Hiến pháp cũng quy định trách nhiệm của gia đình, Nhà nước và xã hội trong việc bảo vệ các quyền cơ bản này" [30, tr 10]

Quốc tịch là một trong những quyền cơ bản và thiêng liêng nhất của trẻ em; là căn cứ để trẻ em được hưởng sự bảo hộ pháp lý của Nhà nước, là một trong những điều kiện cơ bản để xác định tình trạng nhân thân của một con người từ khi sinh ra cho đến khi chết Rõ ràng, Luật Quốc tịch có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo vệ quyền trẻ em

Trang 25

Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 là văn bản chuyên biệt có hiệu lực pháp lý cao nhất quy định cụ thể về quyền và bổn phận của trẻ

em, trách nhiệm của gia đình, nhà trường và của toàn xã hội trong việc bảo

vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Luật này đã xác định:

Trẻ em, không phân biệt gái, trai, con trong giá thú, con ngoài giá thú, con đẻ, con nuôi, con riêng, con chung; không phân biệt dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội, chính kiến của cha mẹ hoặc người giám hộ, đều được bảo vệ, chăm sóc và

giáo dục, được hưởng các quyền theo quy định của pháp luật [56]

Tình hình vi phạm về quyền của trẻ em diễn ra ngày càng phức tạp và

có chiều hướng gia tăng như: nạn bạo hành trẻ em xảy ra nhiều nơi như ở nhà (thậm chí ngay trong chính gia đình của các em), ở nơi làm thuê, trong các trường học và cơ sở nuôi dạy trẻ, trẻ em bị bắt cóc, lừa bán… gây nên những lànsóng bức xúc mạnh mẽ trong công luận và trong xã hội

Trẻ em là một chủ thể đặc biệt của pháp luật hình sự Pháp luật hình sự

có chính sách hình sự riêng đối với trẻ em nhằm bảo vệ trẻ em khi họ là đối tượng bị tội phạm xâm hại, đồng thời cũng quy định TNHS nhưng theo hướng giảm nhẹ đối với người chưa thành niên khi họ chính là người thực hiện tội phạm Chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội thể hiện thống nhất trong những quy định cụ thể của pháp luật hình sự về TNHS, về nguyên tắc xử lý, về hệ thống hình phạt và các biện pháp tư pháp khác Đặc biệt, luật hình sự quy định những hình phạt nghiêm khắc đối với các tội phạm xâm hại đến quyền của trẻ em

Một trong những quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ em có nguy cơ lớn và trên thực tế bị xâm hại khá nặng nề bởi các loại tội phạm là xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của các em Công cụ pháp lý quan trọng nhất được Nhà nước ta sử dụng để bảo vệ trẻ em tránh khỏi những nguy cơ

Trang 26

xâm hại kể trên, đồng thời cũng là căn cứ pháp lý để trừng phạt nghiêm khắc các đối tượng phạm tội trong lĩnh vực này là các tội phạm quy định tại

chương XII Bộ luật hình sự năm 1999, bao gồm: Điều 93 Tội giết người, khoản 1, điểm c, giết trẻ em; Điều 94 Tội giết con mới đẻ; Điều 103 Tội đe dọa giết người, khoản 2, điểm c, đối với trẻ em; Điều 104 Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác, khoản 1, điểm d, đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai ; Điều 110 Tội hành hạ người khác, khoản 2, điểm a, đối với người già, trẻ em, phụ nữ có thai hoặc người tàn tật; Điều 112 Tội hiếp dâm trẻ em; Điều 114 Tội cưỡng dâm trẻ em; Điều 115 Tội giao cấu với trẻ em; Điều 116 Tội dâm ô đối với trẻ em và Điều 120 Tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em [59]

Trong những năm gần đây, tình trạng mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em diễn biến ngày càng phức tạp và có chiều hướng gia tăng cả về số vụ và

số đối tượng phạm tội với tính chất ngày càng nghiêm trọng, nhất là tại các tỉnh biên giới phía Bắc giáp Trung Quốc Đảng và Nhà nước đã có các chính sách, biện pháp mạnh mẽ nằm ngăn chặn, phòng ngừa loại tội phạm này Ngày 17/9/1997, Thủ tướng Chính phủ đã ra Chỉ thị 776/TTg về "Tăng cường trách nhiệm thực hiện các biện pháp ngăn chặn việc đưa trái phép phụ nữ và trẻ em ranước ngoài" Trong Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm được ban hành theo Nghị quyết số 09/1998/NQ-CP ngày 31/7/1998 của Chính phủ đã đưa

ra 4 Đề án; trong đó có Đề án 4 quy định một số nội dung về đấu tranh phòng chống các tội phạm xâm phạm trẻ em và tội phạm do người chưa thành niên gây ra Đặc biệt, Quyết định số 130/2004/QĐ-TTg ngày 14/7/2004 của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình hành động phòng chống tội phạm buôn bán phụ nữ và trẻ em từ năm 2004 đến 2010 đã quy định cụ thể chức năng, nhiệm

vụ của các cơ quan, ban, ngành trong phòng chống tội phạm mua bán phụ nữ, trẻ

em Ngày 30 tháng 11 năm 2005 Thủ tướng Chính phủ đã có

Trang 27

Quyết định số 312/2005/QĐ-TTg về việc phê duyệt các đề án thuộc Chương trình hành động phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em từ năm 2005 đến năm 2010

Việc trẻ em bị chiếm đoạt, mua bán, đánh tráo trẻ em thực sự là tội ác, gây nhức nhối cho toàn xã hội và là sự quan tâm đặc biệt của cả xã hội Trẻ em

bị buôn bán đã phải rơi vào những hoàn cảnh sống rất thương tâm, bị méo mónhân cách và ảnh hưởng nặng nề về tâm lý, ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống, sức khỏe, nhân phẩm, tinh thần của trẻ mà còn tác động tiêu cực đến xã hội Bên cạnh đó, hiện nay đã xuất hiện những tổ chức, đường dây buôn bán người hoạt động xuyên quốc gia, đe dọa nghiêm trọng đến quyền được bảo vệ, được sống hạnh phúc của con người nói chung và của trẻ em nói riêng Trước thực trạng đó, việc tiếp tục áp dụng chế tài pháp lý của các ngành luật tương ứng khác ít nghiêm khắc hơn luật hình sự đối với hành vi mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em sẽ không còn đủ sức ngăn chặn nữa Do đó, việc bảo vệ trẻ

em bằng Luật Hình sự với các chế tài nghiêm khắc là hết sức cần thiết BLHS năm 1985 đã tội phạm hóa những hành vi này thành tội bắt trộm, mua bán hoặc đánh tráo trẻ em quy định tại Chương các tội xâm phạm chế độ hôn nhân gia đình và các tội phạm đối với người chưa thành niên Đến lần pháp điển hóa thứ hai, BLHS năm 1999 đã đưa tội này về Chương các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người với tội danh mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em cho phù hợp với khách thể loại bị xâm phạm Việc quy định tội phạm này trong BLHS là hết sức quan trọng, tạo cơ sở pháp lý cho công tác phòng, chống, bảo vệ trẻ em khỏi nạn buôn bán người BLHS năm

1999 coi tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em là tội phạm hết sức nghiêm trọng xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người thể hiện ở mức hình phạt quy định đối với tội phạm này rất nghiêm khắc, hình phạt cao nhất được quy định là tù chung thân

Trang 28

1.2 KHÁI QUÁT LỊCH SỬ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM QUY ĐỊNH

TỘI MUA BÁN, ĐÁNH TRÁO, CHIẾM ĐOẠT TRẺ EM

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, sau khi giành được chính quyền những tàn dư, hủ tục của xã hội phong kiến từng bước bị xoá bỏ, thay vào đó là các quyền cơ bản của công dân được pháp luật ghi nhận và đảm bảo, mọi công dân bình đẳng trước pháp luật, trong đó có trẻ em

Ngay tại Điều 1, Hiến pháp năm 1946 - Hiến pháp đầu tiên của nước ta quy định:

"Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, trai, gái, giàu, nghèo, giai cấp, tôn giáo" [49, tr 316]

Trong những ngày đầu mới thành lập, Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa vừa phải đối phó với thù trong, giặc ngoài, vừa từng bước tổ chức xây dựng

xã hội mới Để ổn định tình hình đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 47/SL ngày 10/10/1945 cho phép áp dụng một số văn bản pháp luật của

đế quốc, phong kiến với điều kiện là không trái với nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam và chính thể Dân chủ cộng hòa Đây là biện pháp mang tính tình thế cấp bách để ổn định tình hình đất nước Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, những khu căn cứ cách mạng, những vùng do cách mạng quản lý thì những vụ phạm tội được áp dụng theo Sắc lệnh số 27/SL ngày 28/2/1946 truy tố các tội bắt cóc, tống tiền và ám sát; Thông tư số 442/TTg ngày 19/1/1955 về trừng trị một số tội phạm Những vùng thuộc chính quyền thực dân Pháp quản lý thì áp dụng theo ba bộ luật cũ ở ba miền: Bắc, Trung, Nam Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc ta đã thắng lợi, hoà bình được lập lại, cách mạng chuyển sang giai đoạn mới, vì vậy, những văn bản pháp luật của đế quốc và phong kiến mặc dù được áp dụng với tinh thần mới vẫn không còn thích hợp nữa Vì vậy, Bộ Tư pháp đã có Thông tư số 19/VHH-HS ngày 30/6/1955 yêu cầu các toà án không áp

Trang 29

dụng luật lệ của đế quốc và phong kiến nữa Văn bản pháp lý này đã tạo cho pháp luật hình sự Việt Nam nói chung cũng như pháp luật quy định các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm con người sang một giai đoạn mới Toà án xét xử tội phạm này căn cứ vào đường lối, chính sách và những văn bản pháp luật do Toà án nhân dân tối cao ban hành

Nhìn chung, pháp luật trong giai đoạn sau cách mạng tháng Tám đến trước khi ban hành BLHS năm 1985, do những điều kiện lịch sử hạn chế nên còn thiếu nhiều, chủ yếu là xét xử theo án lệ thông qua công tác tổng kết và hướng dẫn của Toà án nhân dân tối cao Nghiên cứu pháp luật hình sự Việt Nam giai đoạn này, chưa có điều luật cụ thể quy định về tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em

Bộ luật Hình sự năm 1985 ra đời và qua bốn lần sửa đổi là công cụ quan trọng góp phần xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc

Xã hội chủ nghĩa Bộ luật Hình sự được Quốc hội thông qua ngày 27 - 6 -

1985 và có hiệu lực từ ngày 01/01/1985 (gọi tắt là BLHS năm 1985) là một dấumốc quan trọng nhất trong sự phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam Nó là công cụ quan trọng để đấu tranh chống tội phạm trong đó có tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em Trong BLHS năm 1985, tại Chương các tộixâm phạm chế độ hôn nhân gia đình và các tội phạm đối với người chưa thành niên, điều 149 quy định về tội bắt trộm, mua bán hoặc đánh tráo trẻ em Tội này xâm phạm trực tiếp quan hệ gia đình giữa cha mẹ và con cái (quyền của các em được sống yên vui và phát triển lành mạnh trong sự chăm sóc của gia đình, quyền và nghĩa vụ của cha mẹ về việc chăm sóc, giáo dục và bảo vệ con cái) cũng như trật tự an toàn xã hội Trẻ em quy định tại điều luật này bao gồm

"các em từ mới sinh đến 15 tuổi" [53]

Điều 149 BLHS năm 1985 quy định về tội này như sau:

Người nào bắt trộm, mua bán hoặc đánh tráo trẻ em thì bị phạt

Trang 30

tù từ một năm đến bảy năm; phạt tù từ năm năm đến hai mươi năm

nếu thuộc một trong các trường hợp: có tổ chức; để đưa ra nước ngoài; bắt trộm, mua bán hoặc đánh tráo nhiều trẻ em hoặc gây ra hậu quả nghiêm trọng khác; tái phạm nguy hiểm [53, Điều 149]

Về mặt khách quan, Điều 149 BLHS năm 1985 quy định các hành vi sau đây:

- Hành vi bắt trộm trẻ em: Là hành vi làm cho trẻ em phải rời

bỏ hẳn gia đình hoặc nơi đang ở đi theo mình mà không có sự thoả thuận của cha, mẹ hoặc của người có trách nhiệm chăm sóc, quản lý với mục đích lấy con của người khác không kể thủ đoạn thực hiện như thế nào Hành vi này thông thường và phổ biến được thực hiện một cách lén lút, bí mật đối với gia đình hoặc người chăm sóc đứa trẻnhư lợi dụng lúc người lớn vắng mặt, trẻ em không có ai trông coi hoặc lợi dụng lúc trẻ em bị lạc mà bắt đi, hành vi này được gọi là bắt trộm trẻ em, xét về bản chất, hành vi này mang tính chất chiếm đoạt là chủ yếu Việc bản thân trẻ em có đồng ý đi theo hay không cũng không có ý nghĩa về mặt định tội Tội phạm coi như hoàn thành khi đã thực hiện hành vi bắt trẻ em

- Hành vi mua bán trẻ em: là hành vi mua hoặc bán trẻ em nhằm kiếm lời, không kể là mua của chính người có con mang bán hoặc mua bán của kẻ đã bắt trộm Cũng có thể chỉ là hành vi mua như trường hợp mua trẻ em biết rằng đã bị bắt trộm dù rằng chỉ để về nuôi hoặc chỉ là hành vi bán như trường hợp dì ghẻ bán con riêng của chồng vì thù ghét hay như trường hợp người bố do ăn chơi sa đoạ đã mang bán con mình cho bọn biết rõ là buôn trẻ em để lấy tiềnrượu chè, cờ bạc Tội phạm hoàn thành khi đã có hành vi mua hoặc bán

Trang 31

- Hành vi đánh tráo trẻ em: là hành vi đổi trẻ em của người này lấy trẻ em của người khác Trên thực tế, việc đánh tráo này chỉ có thể thực hiện đối với trẻ mới sinh và ở những nơi có nhiều sản phụ nằm đẻcùng một thời gian như ở các nhà hộ sinh, bệnh viện Thông thường

là đổi trẻ em gái mới sinh lấy trẻ em trai mới sinh hoặc ngược lại, hoặc đổi một em có tật bẩm sinh lấy một em khoẻ mạnh hơn Tội phạm hoànthành khi đã có hành vi đánh tráo [53, Điều 149]

Theo quy định của Điều 149 BLHS năm 1985, chủ thể của các tội này là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự theo nguyên tắc chung Riêngđối với tội đánh tráo trẻ em thì trên thực tế, chủ thể chủ yếu là người có trách nhiệm ở các nơi có sản phụ sinh nở (nhân viên y tế, các hộ sinh ở bệnh viện) vì chỉ có họ mới có điều kiện đánh tráo được trẻ em Người có hành vi mua chuộc người đó, thường là sản phụ hoặc người thân của sản phụ là đồng phạm Ngoài

ra, họ còn có thể phạm thêm cả tội đưa và nhận hối lộ để làm một việc mà theotrách nhiệm không được phép làm [53]

Về mặt chủ quan, các tội này được thực hiện do lỗi cố ý Động cơ rất đadạng, không ảnh hưởng đến việc định tội nhưng có ý nghĩa quan trọng đến việc quyết định biện pháp và mức độ xử lý Thông thường là vì tư lợi như bắt trộm trẻ em để mang bán, mua trẻ em để bán kiếm lời, nhận đánh tráo trẻ em để đượctiền hoặc vì lạc hậu như bắt trộm trẻ em hay mua trẻ em bị bắt trộm để về nuôi

vì hiếm con, thuê đánh tráo lấy con trai vì tư tưởng trọng nam khinh nữ Cũng có những trường hợp vì động cơ đê hèn như do thù hằn mà bắt trộm conngười khác để phá hoại hạnh phúc gia đình họ… Trường hợp bắt trộm trẻ em không nhằm chiếm đoạt mà chỉ nhằm đòi tiền chuộc thì không phạm tội bắt trộm trẻ em mà là phạm tội "bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản của công dân" (Điều

132 BLHS năm 1985) [53]

Về hình phạt, theo quy định tại Điều 149 BLHS năm 1985, các tội nói

Trang 32

trên có hai khung hình phạt và là những tội có mức hình phạt nặng nhất (đến

20 năm tù) so với tất cả các tội ở chương này, do tính chất rất nguy hiểm, không chỉ có khả năng gây tác hại lớn đối với sự phát triển lành mạnh của trẻ em

và đối với hạnh phúc gia đình mà còn cả đối với trật tự an toàn xã hội, gây căm phẫn chính đáng trong dư luận quần chúng

Đối tượng bị xử lý nghiêm khắc là bọn vì tư lợi hoặc vì động cơ đê hèn

mà gây nên những cảnh chia ly Những người vì lạc hậu mà phạm tội bị xử lý nhẹ hơn và cách thức họ nuôi dưỡng đứa trẻ bị bắt trộm như thế nào thường là một tình tiết được xem xét để cân nhắc mức xử phạt thích hợp

Trên tinh thần chính sách xử lý có phân biệt các đối tượng nói trên khoản 2 Điều 149 BLHS năm 1985 có quy định những trường hợp phải xử phạt nặng Trong số này, ngoài những tình tiết thường gặp ở một số tội phạm khác như phạm tội có tổ chức, tái phạm nguy hiểm, đáng chú ý là tình tiết "để đưa ra nước ngoài" nhằm vào bọn bắt trộm hoặc mua trẻ em để bán ra nước ngoài, kể cả trường hợp bán cho người nước ngoài biết rõ để họ đưa ra nước ngoài và tình tiết "gây hậu quả nghiêm trọng khác" nhằm vào bọn tội phạm đãgây tác hại lớn đến sự phát triển lành mạnh của các em bị bắt trộm (như gây

ốm đau, bệnh tật, thất học, sa đoạ…) hoặc đến hạnh phúc gia đình của người thân (như vì con bị bắt trộm, bị mua bán, bị đánh tráo mà bố mẹ của đứa trẻ bị lâm bệnh nặng, ảnh hưởng đến sức khoẻ và sức lao động, ảnh hưởng đến cuộc sống bình thường của gia đình nạn nhân…)

Ngoài ra, Điều 150 BLHS năm 1985 còn quy định hình phạt bổ sung đối với trường hợp tái phạm nguy hiểm quy định tại điểm d khoản 2 Điều 149thì "bị phạt quản chế từ một năm đến năm năm" [53] Đến khi ban hành BLHS năm 1999, do việc nhìn nhận lại khách thể loại của tội phạm này không chỉ xâm hại đến quan hệ gia đình giữa cha mẹ và con cái mà còn xâm hại một cách trực tiếp đến quyền của trẻ em được chăm sóc, bảo vệ về tính

Trang 33

mạng, sức khỏe và được phát triển trong môi trường lành mạnh, hạnh phúc nên tội phạm này đã được đưa về Chương "Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm" [59]

1.3 TỘI MUA BÁN, ĐÁNH TRÁO, CHIẾM ĐOẠT TRẺ EM TRONG

LUẬT HÌNH SỰ MỘT SỐ NƯỚC

1.3.1 Luật hình sự Liên bang Nga

Bộ luật hình sự Liên bang Nga (có hiệu lực từ ngày 01-01-1997) tội buôn bán trẻ em và tội đánh tráo trẻ em có hai điều luật được quy định tại Chương các tội xâm phạm gia đình và người chưa thành niên [63]

Tại Điều 152 Bộ luật hình sự Liên bang Nga quy định về tội buôn bán trẻ em như sau:

Mua, bán người chưa thành niên hoặc thực hiện các hợp đồng khác liên quan đến người chưa thành niên dưới hình thức chuyển giao và chiếm đoạt người chưa thành niên thì bị phạt lao động bắt buộc từ 180 giờ đến 240 giờ hoặc bị phạt lao động cải tạo từ 1 năm đến

2 năm hoặc bị phạt hạn chế tự do đến 3 năm hoặc bị phạt tù đến 5 năm

[63, tr 90]

Cũng hành vi mua, bán người chưa thành niên hoặc thực hiện các hợp đồng khác liên quan đến người chưa thành niên nếu được thực hiện nhiều lần; hoặc được thực hiện đối với hai người chưa thành niên trở lên; hoặc do một nhóm người, một nhóm người có thoả thuận trước hoặc một nhóm người có tổ chức thực hiện; hoặc do người lợi dụng cương vị công tác của mình thực hiện; hoặc đưa trái pháp luật người chưa thành niên ra nước ngoài hoặc đưa trái pháp luật người chưa thành niên từ nước ngoài về; hoặc được thực hiện với mục đích lôi kéo người chưa thành niên thực hiện tội phạm hoặc thực hiện các hành vi chống đối xã hội; hoặc được thực hiện nhằm mục đích chiếm một cơ quan hoặc các mô của cơ thể người chưa thành niên để

Trang 34

cấy ghép, "thì bị phạt tù từ 3 năm đến 10 năm" Những hành vi nêu trên nếu

làm chết người chưa thành niên hoặc gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tù

từ 5 năm đến 15 năm [30]; [63]

Tại Điều 153 Bộ luật hình sự Liên bang Nga quy định về tội đánh tráo

trẻ em như sau: "Đánh tráo trẻ em vì động cơ vụ lợi hoặc động cơ bất chính

khác thì bị phạt tù đến 5 năm, kèm theo bị phạt tiền từ 200 lần đến 500 lần mức thu nhập tối thiểu hay mức lương hay thu nhập khác của người bị kết án trong thời gian từ 2 tháng đến 5 tháng" [30]; [63, tr 90]

Bộ luật hình sự Liên bang Nga quy định các hành vi mua bán, đánh tráo trẻ em thành những điều luật riêng biệt và không có tội chiếm đoạt trẻ em mà

"chiếm đoạt" là một trong hai hình thức của tội mua, bán trẻ em (cùng với hình thức"chuyển giao") Khoảng cách giữa các khung hình phạt cũng không quá lớn như quy định tại Điều 120 BLHS năm 1999 của nước ta Khoản 2 Điều 152 BLHS Liên bang Nga quy định khá đầy đủ các tình tiết định khung tăng nặng Hình phạt cao nhất đối với tội mua bán trẻ em theo quy định của BLHS Liên bang Nga là "đến 15 năm tù" [30, tr 28]

Tuy nhiên, Điều 152 BLHS Liên bang Nga cũng chưa quy định đầy đủ các hành vi của tội mua bán trẻ em theo quy định của pháp luật quốc tế cũng như không quy định mục đích "để bóc lột" là một trong những yếu tố bắt buộc để cấu thành tội mua bán trẻ em Đối với tội đánh tráo trẻ em, Điều 153

BLHS Liên bang Nga quy định yếu tố mục đích "vì động cơ vụ lợi hoặc động

cơ bất chính khác" là yếu tố bắt buộc để cấu thành tội đánh tráo trẻ em Hình phạt cao nhất đối với tội này là "phạt tù đến 5 năm, kèm theo bị phạt tiền từ

200 lần đến 500 lần mức thu nhập tối thiểu hay mức lương hay thu nhập kháccủa người bị kết án trong thời gian từ 2 tháng đến 5 tháng" So với Điều 120 BLHS năm 1999 của Việt Nam thì quy định của BLHS Liên bang Nga nhẹ hơn rất nhiều [30, tr 29]

Trang 35

1.3.2 Luật hình sự Cộng hoà nhân dân Trung Hoa

B ộ l u ậ t Hì n h s ự C HN D T r u n g Ho a đ ư ợ c Q u ố c h ộ i t h ô n g q u a n g à y 1 - 7-1979, đã được sửa đổi, bổ sung vào năm 1982 Tội mua bán trẻ em được q u

y đ ị n h t ại Ch ư ơn g 4 " Tộ i xâ m p h ạ m q u y ền t ự d o cá n h â n và q u yền d â n chủ

của công dân" [30, tr 29]

Tại điều 240 quy định:

Người nào buôn bán phụ nữ, trẻ em thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm và phạt tiền; bị phạt tù từ mười năm trở lên, hoặc tù chung thân, phạt tiền và tịch thu tài sản nếu phạm tội thuộc một trong những tình tiết dưới đây: người cầm đầu tổ chức buôn bán phụ nữ, trẻ em; buôn bán phụ nữ, trẻ em từ ba người trở lên; hiếp dâm phụ nữ

bị đem bán; lừa gạt, cưỡng bức những phụ nữ bị đem bán phải bán dâm hoặc bán họ cho người khác mà những người này cưỡng bức họ phải bán dâm; dùng bạo lực, ép buộc hoặc các biện pháp gây mê để bắt cóc phụ nữ, trẻ em để bán họ; bắt cóc trẻ em vì mục đích để đem bán; nếu gây ra cho phụ nữ, trẻ em bị đem bán hoặc những người thân của họ bị chết hoặc những hậu quả nghiêm trọng khác; đưa phụ

nữ, trẻ em đem bán ra nước ngoài Nếu có tình tiết đặc biệt nghiêm trọng thì bị xử tử hình và tịch thu tài sản [30, tr 29]

Tội buôn bán phụ nữ, trẻ em theo BLHS CHND Trung Hoa là một trong những tội lừa gạt, bắt cóc, mua chuộc, tiếp đón, trung chuyển phụ nữ, trẻ em

Điều 241 BLHS CHND Trung Hoa quy định hình phạt đối với hành vi

mua phụ nữ, trẻ em như sau: "người nào phạm tội mua phụ nữ, trẻ em bị đem

bán thì bị phạt tù đến ba năm, bị giam giữ hoặc quản chế" [50] Phạm tội mua

phụ nữ bị đem bán, cưỡng chế để quan hệ tình dục với họ thì bị xử phạt theo quy định của Điều 236 Bộ luật này Người nào có những hành vi phạm tội như mua phụ nữ, trẻ em bị đem bán rồi tước đoạt, hạn chế trái phép quyền

Trang 36

tự do thân thể hoặc làm tổn hại, làm nhục nạn nhân, thì bị xử phạt theo quy định của những điều luật có liên quan của Bộ luật này Người nào mua phụ

nữ, trẻ em bị đem bán và phạm các tội quy định ở các khoản 2 và 3 của Điều này sẽ bị trừng phạt về phạm nhiều tội cùng một lúc Phạm tội mua phụ nữ, trẻ em và bán họ, thì bị xử phạt theo quy định của Điều 240 Bộ luật này Người nào mua phụ nữ, trẻ em bị đem bán nhưng không cản trở phụ nữ bị đem bán trở về quê cũ theo nguyện vọng của họ, hoặc không lạm dụng trẻ em

bị đem bán hoặc không ngăn cản các nỗ lực giải thoát số trẻ em đó thì có thể không bị truy cứu trách nhiệm hình sự [63]; [30, tr 29]

Bộ luật hình sự của nước CHND Trung Hoa không quy định riêng về tội mua bán trẻ em, tội đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em mà quy định chung thành tội buôn bán phụ nữ, trẻ em Ngoài ra, luật còn có quy định đối với hành vi ngăn cản việc giải thoát cho phụ nữ, trẻ em bị đem bán; trừng phạt rất nghiêm khắc đối với loại tội phạm này, hình phạt cao nhất được quy định là tử hình Ngoài

ra người phạm tội còn bị tịch thu tài sản [30, tr 29]

1.3.3 Luật hình sự Malaysia

Trong BLHS Malaysia, có hai điều luật quy định về tội bán trẻ em và tội mua trẻ em cho mục đích mại dâm là Điều 372 và Điều 373 - trẻ em trong luật hình sự của Malaysia là người dưới 21 tuổi

Điều 372 quy định về tội bán trẻ em cho mục đích mại dâm cụ thể như sau:

Người nào bán, cho thuê hoặc có các hành vi tương tự khác đối với người dưới 21 tuổi với dụng ý để người đó bị sử dụng vào mục đích mại dâm hoặc giao cấu bất hợp pháp với người khác hoặc

vì các mục đích trái pháp luật hoặc phi đạo đức khác, thì bị phạt tù đến 10 năm kèm theo hình phạt tiền [30]; [63, tr 37]

Điều 373 quy định về tội mua trẻ em cho mục đích mại dâm :

Người nào mua, thuê hoặc bằng cách khác có được người

Trang 37

dưới 21 tuổi với dụng ý để người đó bị sử dụng vào mục đích mại dâm hoặc giao cấu bất hợp pháp với người khác hoặc vì các mục đích trái pháp luật hoặc phi đạo đức khác, thì bị phạt tù đến 10 năm kèm theo hình phạt tiền [30]; [63, tr 37]

Bộ luật Hình sự Malaysia chỉ quy định hai tội bán và mua trẻ em mà không quy định tội đánh tráo và chiếm đoạt trẻ em Phạm vi điều chỉnh của haitội này cũng rất hẹp, chỉ điều chỉnh hành vi mua và bán trẻ em "cho mục đích mại dâm" [30, tr 31]

Malayxia là điểm đến của nạn buôn bán người, hiện tại chưa có báo cáo

về cấp độ và quy mô tình trạng buôn bán người ở Malayxia nhưng các báo cáo của Ủy ban quyền con người Malayxia (SUHAKAM) đã cảnh báo về một số lượng lớn người nước ngoài bị tạm giam tại các nhà tù dành cho phụ nữ Khuôn khổ chính sách quốc gia của Malayxia chủ yếu giải quyết vấn đề buôn bán người qua các vấn đề nhập cư

V ề h ợ p t á c q u ố c t ế , M a l a yx i a đ ã t h a m g i a n h i ề u Hi ệ p ư ớ c l i ê n q u a n đ

ế n b u ô n b á n n g ườ i n h ư: C ô n g ướ c c ủ a L i ê n h ợ p q u ố c v ề c h ố n g t ộ i p h ạ m có

tổ chức xuyên quốc gia; Công ước về quyền trẻ em; Công ước số 182 về n g h i

ê m c ấ m v à h àn h đ ộ n g k h ẩn cấp x o á b ỏ cá c h ì n h t h ứ c l ao đ ộ n g t r ẻ e m tồi tệ nhất [52, tr 46]

Tuy nhiên trong luật pháp Malayxia không có tội danh buôn bán người, chỉ có những hành vi liên quan đến buôn bán người có thể được sử dụng như:

- Thường xuyên buôn bán nô lệ

- Buôn bán trẻ em, bắt cóc trẻ em và tham gia vào mại dâm trẻ em - Thuê mướn trẻ em thành lực lượng lao động

1.3.4 Luật hình sự Campuchia

Campuchia là đất nước trung gian thường nằm trong đường dây vận chuyển người của các đối tượng mua bán người, mua bán trẻ em trái phép,

Trang 38

Campuchia phải đối mặt với nhiều nguy cơ liên quan đến bóc lột người nhằm phục vụ nhu cầu tình dục, lao động cưỡng bức Phụ nữ và trẻ em Campuchia bị bóc lột để phục vụ ngành công nghiệp tình dục ở nước này cũng như các quốc gia Đông Nam Á khác Bên cạnh đó, phụ nữ, nam giới và trẻ em còn bị đưa sang các đô thị ở Thái Lan để ăn xin, bán dâm hoặc cưỡng ép lao động [52, tr 42]

Chính từ thực trạng đó, Campuchia là một trong những nước tích cực trong công tác phòng chống mua bán người, mua bán trẻ em Campuchia là thành viên ký kết nhiều Công ước, hiệp định liên quan đến phòng chống mua bánngười như Hiệp ước quốc tế về quyền chính trị và dân sự, Công ước về quyền trẻ em, Công ước xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ, Côngước liên quan đến cưỡng bức lao động, Công ước số 182 của ILO về nghiêm cấm và hành động khẩn cấp xoá bỏ các hình thức lao động trẻ em

tồi tệ nhất …

Hiến pháp Campuchia bảo vệ quyền của mọi công dân và ngăn chặn buôn bán người, khai thác qua mại dâm và khiêu dâm Luật nghiêm cấm các hành vi bắt cóc, buôn bán và bóc lột con người năm 1996 quy định các hành

- Là chủ chứa mà nạn nhân là một trong những thành phần sau: trẻ em

Trang 39

dưới 15 tuổi; bị bạo lực, bị ép buộc hoặc đe dọa bạo lực; chồng/ vợ hoặc con của chủ chứa; người mang quốc tịch nước ngoài bị buộc hành nghề mại dâm trong địa phận Campuchia; công dân Campuchia bị buộc hành nghề mại dâm ngoài biên giới Campuchia (với hình phạt từ 10 đến 20 năm tù giam)

- Có những hành vi trụy lạc đối với trẻ em dưới 15 tuổi hoặc mua trẻ

em từ chủ chứa (với hình phạt từ 10 đến 20 năm tù giam)

Luật hôn nhân và gia đình năm 1989 của Campuchia cấm hôn nhân cưỡng ép, cho phép một nạn nhân được hủy hôn nhân nếu có đơn trong vòng

06 tháng sau khi kết hôn Như vậy, xét về tính chặt chẽ trong các quy định của luật pháp về phòng chống mua bán người, mua bán trẻ em ở Campuchia có thể thấy các quy định vẫn nghiêng về bảo vệ nạn nhân trước nguy cơ xâm hại tình dục Điều này là dễ hiểu ở một quốc gia chịu áp lực của nạn buôn bán phụ nữ và trẻ em vì mục đích mại dâm Mặt khác, pháp luật Campuchia chưa có luật bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân buôn bán người Đây là một thiệt thòi lớn cho các nạn nhân và Chính phủ Campuchia cần nhanh chóng bổ sung để hoàn chỉnh hệ thống luật pháp, nâng cao hiệu quả chống mua bán người, mua bán trẻ em

1.3.5 Luật hình sự Thái Lan

Thái Lan là một điểm nóng trong khu vực Đông Nam Á về buôn bán người, là nơi xuất phát, trung chuyển và là điểm đến của các nạn nhân bị buôn bán Thái Lan đã trở thành một địa điểm phức tạp của nạn buôn bán người với nhiều mục đích trong đó chủ yếu phục vụ ngành "công nghiệp tình dục" của Thái Lan Do vậy, Thái Lan là một trong các quốc gia tiến hành làm việc với cácvấn đề về buôn bán người sớm nhất trên thế giới Chính sách quốc gia của Thái Lan hiện thức hóa bằng Kế hoạch và chính sách quốc gia ngăn chặn, giải quyết các vấn đề buôn bán phụ nữ và trẻ em trong nước và qua biên giới năm 2003 Thái Lan có một tiểu ban phòng chống buôn bán phụ nữ và trẻ em xuyên quốc gia dưới sự chỉ đạo của Bộ phát triển xã hội và an ninh con người

Trang 40

Thái Lan tham gia rất nhiều Hiệp ước quốc tế về buôn bán người như: Nghị định thư về phòng ngừa, trấn áp và trừng trị tội phạm buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em, bổ sung cho Công ước của Liên hợp quốc về chống tội

phạm có tổ chức xuyên quốc gia; Nghị định thư không bắt buộc bổ sung cho

Công ước về quyền trẻ em, về buôn bán trẻ em, mua dâm trẻ em và văn hoá phẩm khiêu dâm trẻ em; Công ước về quyền trẻ em; Công ước về xoá bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ; Công ước số 182 về nghiêm

cấm và hành động khẩn cấp xoá bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất

Về pháp luật quốc gia, Thái Lan có một Bộ luật riêng về buôn bán phụ

nữ, trẻ em và hệ thống luật liên quan Bộ luật hình sự năm 1997 bổ sung các tội danh liên quan buôn bán người đó là:

- Đẩy trẻ em vào các hành vi tình dục đồi bại, thậm chí đứa trẻ có thể đồng ý (hình phạt 07 năm tù)

- Đẩy một người vào các hành vi tình dục đồi bại bằng cách sử dụng các hình thức lừa dối, dọa nạt, tra tấn về thể xác, tác động trái đạo lý, hoặc ép buộc về tinh thần (hình phạt từ 01 đến 10 năm)

- Tiếp nhận, bán, dẫn dắt, dụ dỗ hoặc buôn bán người dưới 18 tuổi, ngay cả khi có sự đồng tình của nạn nhân (hình phạt 07 năm)

Bên cạnh Luật phòng chống buôn bán người, Thái Lan còn có Luật nhận con nuôi năm 1979

Như vậy, trên phương diện luật pháp quốc tế, sự ra đời của Nghị định thư Palermo về đấu tranh chống tội phạm buôn bán người đặc biệt là phụ nữ vàtrẻ em được Liên hợp quốc thông qua ngày 15 tháng 11 năm 2000 và có hiệu lực từ ngày 25 tháng 12 năm 2003 là một bước phát triển về mặt lý luận, cung cấp khái niệm mang tính chuẩn mực làm cơ sở cho các quốc gia đưa ra quy địnhpháp luật riêng phù hợp với điều kiện của nước mình Theo đó, khách thể của tội phạm trẻ em là Con người (cả nam và nữ) bị coi là hàng hóa

Ngày đăng: 02/05/2017, 12:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w