Tôi xin cam đoan Luận văn “Nâng cao hiệu quả của việc thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn Quận 5 Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020”, là công trình nghiên cứu của chính
Trang 2LÊ THỊ BÍCH HẠNH
NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 5 TP.HCM
ĐẾN NĂM 2025
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số : 60310102
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học PGS.TS NGUYỄN MINH TUẤN
TP Hồ Chí Minh - Năm 2016
Trang 4Tôi xin cam đoan Luận văn “Nâng cao hiệu quả của việc thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn Quận 5 Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020”, là công trình nghiên cứu của chính tác giả, nội dung được đúc kết từ quá trình học tập và nghiên cứu thực tiễn trong thời gian qua, số liệu sử dụng là trung thực và có trích dẫn rõ ràng Luận văn được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Minh Tuấn
Tác giả Luận văn
LÊ THỊ BÍCH HẠNH
Trang 51 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 4
5 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Kết cấu của luận văn 11
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGHÈO VÀ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG 12
1.1 Một số khái niệm cơ bản 12
1.1.1 Nghèo .12
1.1.2 Nghèo đơn chiều 13
1.1.3 Nghèo đa chiều 13
1.1.4 Giảm nghèo bền vững 13
1.2 Phương pháp xác định chuẩn nghèo 13
1.3 Phương pháp đo lường 14
1.3.1 Sự cần thiết chuyển đổi phương pháp đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều 14
1.3.2 Xu hướng chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo tại Việt Nam 16
1.4 Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng, Nhà nước về giảm nghèo 19
1.5 Kinh nghiệm của Quận 6 TP.HCM trong thực hiện hiệu quả chương trình giảm nghèo 24
Trang 6ĐỊA BÀN QUẬN 5 TP HCM GIAI ĐOẠN 1992 – 2015 29
2.1 Tổng quan về Quận 5 và tình hình xoá đói, giảm nghèo trên địa bàn Quận 29
2.1.1 Tổng quan về Quận 5 29
2.1.2 Tổng quan tình hình xoá đói, giảm nghèo trên địa bàn Quận 29
2.2 Thực trạng thực hiện chương trình giảm nghèo trên địa bàn Quận 5 TP HCM 31
2.2.1 Công tác triển khai thực hiện các chính sách giảm nghèo 31
2.2.2 Thực trạng huy động nguồn lực và các giải pháp hỗ trợ cho hộ nghèo, hộ cận nghèo 32
2.2.3 Công tác giảm nghèo trên địa bàn Quận 39
2.2.4 Hoạt động giảm nghèo của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể trên địa bàn Quận 43
2.3 Nhận xét của tác giả về hoạt động giảm nghèo trên địa bàn Quận 5 giai đoạn 2009 – 2015 46
2.3.1 Những kết quả đạt được 46
2.3.2 Những hạn chế và tồn tại……….….47
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2……….…49
CHƯƠNG 3 MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG TRÊN ĐI ̣A BÀN QUẬN 5 TP HCM GIAI ĐOẠN 2016 – 2025 50
3.1 Mục tiêu giảm nghèo bền vững trên địa bàn Quận 5 TP HCM giai đoạn 2016 – 2025 50
3.1.1 Mục tiêu tổng quát………50
3.1.2 Mục tiêu cụ thể……….50
Trang 7
TP HCM giai đoạn 2016 – 2025 53
3.3.1 Chính sách và giải pháp nhằm tạo việc làm, tăng thu nhập cho hộ nghèo trên địa bàn Quận……….………53
3.3.2 Chính sách và giải pháp nhằm tăng cường khả năng tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản cho hộ nghèo……… 55
3.3.3 Chính sách và giải pháp hỗ trợ giảm thiểu rủi ro và những nguy cơ dễ làm tổn thương người nghèo, hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn Quận….……57
3.3.4 Chính sách và giải pháp tạo cơ hội nâng cao vị thế, tiếng nói của người nghèo, tăng cường khả năng tiếp cận thông tin……… ……… 58
3.3.5 Chính sách và giải pháp đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, hỗ trợ phát triển sản xuất cho người nghèo trên địa bàn Quận……….…60
3.4 Phối hợp chặt chẽ giữa các phòng, ban của Quận để thực hiện những chính sách và giải pháp nên trên……… …… ……… 60
3.5 Một số kiến nghị đối với Quận 5 68
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 70
KẾT LUẬN 71
Trang 8UBND: Uỷ ban nhân dân
UN: Tổ chức Liên hiệp quốc
UNDP: Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc
WB: Ngân hàng Thế giới
XĐGN: Xoá đói, giảm nghèo
Trang 9Bảng 1.1 Danh mục chiều nghèo và chỉ số đo lường nghèo và
ngưỡng nghèo thiếu hụt đa chiều cấp quốc gia 17
Bảng 2.1 So sánh số hộ nghèo và tỷ lệ hộ nghèo của thành phố và
Quận 5 giai đoạn 1992 – 2015 30
Bảng 2.2 Tổng hợp nguồn quỹ xoá đói giảm nghèo Quận 5 TP HCM
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu
Việt Nam luôn xác định việc thực hiện các Mục tiêu Thiên niên kỷ là mục tiêu quốc gia, có tầm quan trọng đặc biệt và liên quan đến toàn bộ đời sống kinh tế - xã hội, lấy việc cải thiện điều kiện sống của con người làm trọng tâm Việt Nam đã có nhiều sáng kiến, cách làm phù hợp với hoàn cảnh, phát huy sức mạnh tổng hợp và tham khảo các bài học kinh nghiệm của các nước trong quá trình thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỷ Việt Nam xây dựng mô hình tăng trưởng toàn diện, kết hợp phát triển kinh tế với phát triển xã hội và bảo vệ môi trường, phát triển vì người nghèo 8 mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ mà Việt Nam đã ký cam kết với LHQ gồm: Xóa bỏ tình trạng nghèo đói cùng cực và thiếu đói; Phổ cập giáo dục tiểu học; Bình đẳng giới và nâng cao vị thế cho phụ nữ; Giảm tử vong ở trẻ em; Tăng cường sức khỏe bà mẹ; Phòng chống HIV/AIDS, sốt rét và các bệnh dịch nguy hiểm; Đảm bảo bền vững môi trường; Thiết lập mối quan hệ đối tác toàn cầu vì mục đích phát triển Trong 8 Mục tiêu trên, Việt Nam đã hoàn thành trước thời hạn 3 mục tiêu, trong đó đặc biệt là mục tiêu Xóa bỏ tình trạng nghèo đói cùng cực và thiếu đói [26], đạt được những thành tựu mới có ý nghĩa đột phá, hướng tới Mục tiêu phát triển bền vững – Vì một thế giới không ai bị bỏ lại phía sau
Thành phố Hồ Chí Minh là địa phương đầu tiên của Việt Nam khởi xướng
"Chương trình Xóa đói giảm nghèo" (nay là «Chương trình Giảm nghèo, tăng hộ khá») từ đầu năm 1992 đến nay Thành tựu của chương trình giảm nghèo, tăng hộ khá của thành phố trong 24 năm qua rất quan trọng và có ý nghĩa trên nhiều mặt, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân, trực tiếp là người nghèo, hộ nghèo, hộ cận nghèo theo từng giai đoạn của chương trình, góp phần phát triển kinh tế, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, trong đó có sự nỗ lực của các Sở ngành, quận huyện, đi đầu là Quận 5 Tính đến nay, Quận 5 đã hoàn thành mục tiêu không còn hộ cận nghèo có mức thu nhập từ 21 triệu đồng/người/năm trở xuống theo chuẩn thành phố giai đoạn 2014 - 2015, trước thời hạn 1 năm
Trang 11Tuy nhiên, kết quả chương trình giảm nghèo mang lại mới chỉ là bước đầu, chưa thực sự bền vững do tiềm ẩn nguy cơ tái nghèo và thực tiễn cho thấy cách xác định chuẩn hộ nghèo theo tiêu chí thu nhập đã không đo lường được thiếu hụt về nhiều khía cạnh quan trọng trong đời sống con người như: giáo dục, y tế, nước sạch,
vệ sinh môi trường Vì thế, «Chương trình giảm nghèo» của thành phố nói chung và Quận 5 nói riêng chưa thật sự bền vững, đòi hỏi cần có phương pháp tiệm cận đo lường chuẩn nghèo khoa học hơn, từ đó có thể nghiên cứu hoạch định các chính sách, giải pháp cho giai đoạn mới 2016-2025 một cách toàn diện và bền vững
«Chương trình xóa đói giảm nghèo», nay được đổi tên là «Chương trình Giảm nghèo, tăng hộ khá» Chương trình này đã triển khai thực hiê ̣n được 24 năm và đã trải qua 4 giai đoạn: 1992 – 2003; 2004 – 2008; 2009 – 2013 và 2014 – 2015
Từ giai đoa ̣n 2 (2004 – 2008) đến nay, Thành phố đã tâ ̣p trung chỉ đa ̣o quyết liê ̣t, huy đô ̣ng mo ̣i nguồn lực, sức ma ̣nh của cả hê ̣ thống chính tri ̣: Đảng - chính quyền - các đoàn thể cùng tham gia, đă ̣c biê ̣t là nỗ lực tự vươn lên của người nghèo,
hô ̣ nghèo nên Thành phố luôn hoàn thành mu ̣c tiêu giảm nghèo trước thời ha ̣n từ 1 đến 2 năm ở từng giai đoa ̣n
Cùng với sự phát triển kinh tế – xã hội, thành tựu giảm nghèo của Thành phố Hồ Chí Minh trong 24 năm qua rất đáng tự hào Trong bối cảnh Viê ̣t Nam trở thành nước thu nhâ ̣p trung bình thấp vào năm 2010, tỷ lê ̣ nghèo thu nhâ ̣p giảm đáng kể và gần như bằng 0, tại Thành phố Hồ Chí Minh đã cho thấy cách tiếp câ ̣n nghèo theo phương pháp đơn chiều theo thu nhâ ̣p ngày càng tỏ ra bất câ ̣p do không đo lường hết được thiếu hu ̣t về nhiều khía ca ̣nh quan tro ̣ng trong đời sống con người như giáo du ̣c,
y tế, nước sa ̣ch, vê ̣ sinh, nhà ở Nhiều người nghèo, hô ̣ nghèo có thể thoát ra khỏi chuẩn nghèo thu nhâ ̣p ở từng giai đoa ̣n nhưng vẫn còn gă ̣p khó khăn và thiếu hu ̣t ở các chiều khác Tuy nhiên, do đã vượt khỏi chuẩn nghèo và chuẩn câ ̣n nghèo nên ho ̣ không thể nằm trong diê ̣n được chính sách hỗ trợ Chính vì thế, viê ̣c giảm nghèo chưa thực sự bền vững Bên ca ̣nh đó, những năm gần đây, tốc đô ̣ đô thi ̣ hóa và di cư từ nông thôn ra thành thi ̣ tăng rất nhanh ta ̣i Thành phố Hồ Chí Minh làm nảy sinh những thách thức mới cho công tác giảm nghèo Đồng thời, các chương trình và hoa ̣t
Trang 12đô ̣ng hỗ trợ giảm nghèo trên đi ̣a bàn thành phố bi ̣ chồng chéo về đối tượng và nô ̣i dung hỗ trợ, có khi la ̣i phân tán và manh mún, làm cho hiê ̣u quả giảm nghèo chưa cao, chưa toàn diê ̣n và bền vững
Để góp phần thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn Quận 5
TP HCM, tác giả đã lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Nâng cao hiê ̣u quả của việc thực
hiện chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn quận 5 TP HCM đến năm 2025”
2 Mục tiêu nghiên cứu:
Mục tiêu tổng quát:
Phân tích một cách khoa học cơ sở lý luận và thực tiễn để xác định mức chuẩn
hộ nghèo và hộ cận nghèo trên địa bàn Quận 5 TP HCM giai đoạn 1992 – 2015
Đề xuất những chính sách và giải pháp nhằm giảm nghèo tăng hộ khá, thực hiện có hiệu quả “Chương trình giảm nghèo, tăng hộ khá” với các chính sách, giải pháp khuyến khích hỗ trợ để người nghèo, hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn Quận
5 TP HCM có điều kiện và cơ hội tiếp tục nâng dần thu nhập, đảm bảo tiếp cận được các dịch vụ xã hội cơ bản, vượt qua ngưỡng nghèo mới, giảm nghèo bền vững
Mục tiêu cụ thể:
-Nghiên cứu cơ sở lý luận về nghèo và nghèo đa chiều
-Đánh giá thực trạng nghèo và chuẩn nghèo cũng như kết quả thực hiện chương trình giảm nghèo Quận 5 qua các giai đoạn, đă ̣c biê ̣t là giai đoạn 2009 - 2015; xác định những vấn đề đạt ra và thách thức đối với các hoạt động giảm nghèo bền vững của quận 5 trong giai đoạn 2016 - 2025
-Đề xuất các giải pháp giảm nghèo bền vững trên đi ̣a bàn quận 5 giai đoạn
2016 – 2020
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu:
Hộ nghèo và hộ cận nghèo có mã số do Ban Giảm nghèo – tăng hộ khá của Quận 5 và 15 Phường thuộc Quận 5 hiện đang quản lý
Trang 13Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi về không gian: trên địa bàn Quận 5, TP.HCM
Phạm vi về thời gian: nghiên cứu kết quả thực hiện Chương trình Giảm nghèo,
tăng hộ khá của Quận 5 trong từng giai đoa ̣n, tâ ̣p trung giai đoạn 2009 - 2015 và Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ quận 5 lần thứ X (nhiệm kỳ 2010 - 2015), đặc biệt là Chương trình Giảm nghèo, tăng hộ khá giai đoạn 2014 - 2015 trên địa bàn quận 5 để đề ra giải pháp hiệu quả cho giai đoạn tiếp theo (2016 -2025)
4 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
4.1 Các công trình nghiên cứu ngoài nước
Amartya Sen, nhà kinh tế ho ̣c người Ấn Đô ̣ nhâ ̣n giải thưởng Nobel về Kinh
tế năm 1999 đã đưa ra thuyết “Phát triển là mở rộng quyền lựa chọn” thay cho thuyết “Phát triển là tăng trưởng kinh tế” Theo đó, sự phát triển bền vững bao hàm
sự phát triển văn hóa, giáo du ̣c, sức khỏe; là sự mở rô ̣ng quyền tham gia quản lý xã
hô ̣i, quyền lựa cho ̣n các cơ hô ̣i, là nâng cao năng lực thực hiê ̣n các quyền và thực hiê ̣n các quyết đi ̣nh đã lựa cho ̣n cho mo ̣i người Amartya Sen cho rằng đói nghèo chỉ xảy ra đối với những người dân không có cơ hô ̣i, không có khà năng lựa cho ̣n, không có tiếng nói đối với ai Chính phủ và giới lãnh đa ̣o, quản lý sẽ rất ít quan tâm tới xóa đói giảm nghèo chừng nào mà ho ̣ không có thông tin về chúng, không chi ̣u sức ép của dư luâ ̣n xã hô ̣i đòi hỏi ho ̣ phải chi ̣u trách nhiê ̣m về na ̣n đói nghèo Mô ̣t lý do rất đơn giản của sự thờ ơ đối với sự nghèo khổ là bản thân ho ̣ chưa bao giờ bi ̣ nghèo đói hoă ̣c đơn giản là ho ̣ đã quên sự nghèo đói mà chính ho ̣ đã trải qua Do đó, người nghèo cần phải lên tiếng về sự nghèo khổ và các nhà nghiên cứu cần thông tin chính xác và đầy đủ về tình tra ̣ng phân hóa giàu nghèo và xu hướng biến đổi cơ cấu phân tầng xã hô ̣i để các nhà hoa ̣ch đi ̣nh chính sách điều chỉnh, đổi mới các chương trình hành đô ̣ng cho phù hợp [24] Có thể nói, Amartya Sen là người có công mở ra trào lưu xem xét vấn đề bất bình đẳng xã hô ̣i và tăng trưởng kinh tế từ góc đô ̣ xã hô ̣i ho ̣c kinh tế liên ngành ở cuối thế kỷ XX Bởi vì ông đã nhấn ma ̣nh tới quyền của con người, tới vai trò của viê ̣c mở rô ̣ng quyền và nâng cao năng lực thực hiê ̣n các quyền tự do
Trang 14kinh doanh, ho ̣c tâ ̣p, chăm sóc sức khỏe và tham gia vào các quá trình chính tri ̣ – xã
hô ̣i trong xóa đói giảm nghèo, tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hô ̣i
Một số nhà kinh tế học nổi tiếng khác như Joseph Eugene Stiglitz, đã phát triển hướng tiếp cận khi đưa ra thuyết phát triển toàn diện trong đó nhấn mạnh vai trò của thông tin và sự tham gia của người dân trong các quá trình của xã hội Không chỉ người nghèo mà tất cả các tầng lớp xã hội đều cần được tham gia vào các quá trình quản lý xã hội để thực hiện các mục tiêu phát triển xã hội Tương tự như việc phát triển năng lực con người là mục tiêu của sự phát triển bản thân, sự tham gia xã hội cũng trở thành mục tiêu của sự phát triển xã hội Tính cơ động và sự di động xã hội
sẽ tăng lên và các cơ hội phát triển sẽ mở ra nhiều hơn với sự tham gia chủ động và tích cực của các cá nhân, gia đình, tổ chức, tầng lớp, giai tầng xã hội [9], Do đó, việc tôn trọng quyền con người trong quá trình phát triển xã hội và nhất là việc nâng cao năng lực thực hiện các quyền đã được pháp luật qui định, việc thực hiện dân chủ hoá, việc mở rộng các cơ hội tham gia vào quá trình xã hội là những yếu tố mới góp phần xoá đói, giảm nghèo và cải thiện đời sống của các giai tầng xã hội
4.2 Các công trình nghiên cứu trong nước:
-Chương trình «Chiến lược toàn diê ̣n về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo
(CPRGS)» năm 2002 củ a Viê ̣t Nam được thông qua, dưới sự hỗ trợ về tài chính của Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tê ̣ Quốc tế đã gắn chă ̣t chẽ mu ̣c tiêu tăng trưởng kinh tế với xóa đói giảm nghèo, đảm bảo công bằng xã hô ̣i và phát triển bền vững CPRGS tiếp tu ̣c nhấn ma ̣nh “giảm đói nghèo không chỉ là mô ̣t trong những chính sách xã hô ̣i cơ bản, được Nhà nước Viê ̣t Nam đă ̣c biê ̣t quan tâm, mà còn là mô ̣t bô ̣ phâ ̣n quan tro ̣ng của mu ̣c tiêu phát triển, đồng thời thực hiê ̣n đổi mới, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh đi đôi với tiến hành công tác xóa đói giảm nghèo, thực hiê ̣n công bằng xã hô ̣i nhằm ha ̣n chế sự phân cách giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư, giữa các vùng” [17]
-Hội nghi ̣ tư vấn các nhà tài trợ Viê ̣t Nam ta ̣i Hà nô ̣i có “Báo cáo phát triển Viê ̣t Nam 2004: Nghèo, báo cáo chung của các nhà tài trợ” tháng 12 năm 2003 đã đề
câ ̣p các đă ̣c trưng của người nghèo, lý do nghèo, mức đô ̣ nghèo của ho ̣ và viê ̣c thực
Trang 15hiê ̣n các chính sách công đối với người nghèo về những vấn đề như cải cách kinh tế, cung cấp di ̣ch vu ̣, đầu tư, các ma ̣ng lưới an ninh Báo cáo đề xuất giảm nghèo bằng các chính sách công, thực hiê ̣n chiến lược toàn diê ̣n về tăng trưởng và giảm nghèo ở cấp tỉnh, cải thiê ̣n cơ chế xác đi ̣nh đối tượng ưu tiên, tăng cường tiếng nói và sự tham gia của người dân
-Báo cáo “Đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng tại Thành phố Hồ Chí Minh” Năm 2004 của Ngân hàng Thế giới cho thấy thực tế chỉ xét người nghèo
trên khía ca ̣nh thu nhâ ̣p mà chưa nhìn về nhiều khía ca ̣nh nên số lượng hô ̣ nghèo ít hơn so với thực tế Đồng thời, Báo cáo đề câ ̣p đến các nô ̣i dung như nhâ ̣n thức về nghèo, đô ̣ng thái nghèo, viê ̣c làm, những rủi ro và tính dễ tổn thương; tham gia và tăng cường năng lực trong viê ̣c đưa ra các quyết đi ̣nh ta ̣i đi ̣a phương, vấn đề cải cách hành chính công và các vấn đề đô thi ̣ khác
-Đề tài “Giảm nghèo ở Viê ̣t Nam: thành tựu và thách thức” năm 2006 của
Viê ̣n nghiên cứu xã hô ̣i Viê ̣t Nam cho thấy nghèo thể hiê ̣n qua sự thiếu hu ̣t về thu nhâ ̣p và viê ̣c khó tiếp câ ̣n với hê ̣ thống an sinh xã hô ̣i chính thức, cũng như sự thiếu
hu ̣t trong tiếp câ ̣n với chất lượng và di ̣ch vu ̣ nhà ở
-Công trình nghiên cứu“Cuô ̣c chiến chống nghèo đói – thực trạng và giải pháp” (tác giả Nguyễn Hải Dũng Nxb Khoa ho ̣c Xã hô ̣i, năm 2009), cho rằng Nhà
nước cần nâng mức đầu tư công vào viê ̣c đa da ̣ng hóa các hình thức khám chữa bê ̣nh cho người nghèo, khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong nước và quốc tế khám chữa bê ̣nh nhân đa ̣o, miễn phí và mua bảo hiểm y tế cho người nghèo, đă ̣c biê ̣t là phu ̣ nữ và trẻ em
-Dự án “Hỗ trợ đánh giá sâu về tình trạng nghèo đô thị ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2008 – 2011» do UNDP tài trợ, đề cập đến các khái
niệm nghèo kinh tế và nghèo đa chiều, trong đó các thiếu hụt mà hộ gia đình và các
cá nhân có thể phải chịu như giáo dục, y tế, việc làm, nhà ở, an ninh Kết quả nghiên cứu cho thấy Thành phố Hồ Chí Minh có tỉ lệ nghèo cao hơn so với Hà Nội đối với tất cả các chiều thiếu hụt khía cạnh xã hội Ngoài ra, thu nhập hoàn toàn không phải
là yếu tố quan trọng phản ánh tình trạng nghèo đói đa chiều ở Thành phố Hồ Chí
Trang 16Minh Nghiên cứu này cho thấy cần xét nghèo đói trên nhiều khía cạnh thì mới đưa ra được giải pháp chính xác cho từng loại nghèo
-Báo cáo “Khởi đầu tốt, nhưng chưa phải đã hoàn thành: Thành tựu ấn tượng của Việt Nam trong giảm nghèo và những thách thức mới” do Ngân hàng Thế giới
thực hiện với sự hợp tác của Trung tâm Phân tích và Dự báo thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, năm 2012, thì Việt Nam đã đạt được hầu hết các mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ và một số trường hợp còn vượt chỉ tiêu đề ra Mặc dù vậy, nhiệm vụ giảm nghèo của Việt Nam còn chưa hoàn thành Chuẩn nghèo nhằm đáp ứng “những nhu cầu cơ bản” được đặt ra ở mức thấp so với chuẩn mực quốc tế; nhiều hộ nghèo thoát nghèo trong thập kỷ qua có thu nhập rất sát so với chuẩn nghèo và rất dễ tái nghèo nếu bị các cú sốc đặc thù như mất việc, tai nạn, bệnh tật Dù Việt Nam đã vượt qua cơn bão kinh tế toàn cầu sau khủng hoảng tài chính năm 2008 nhưng mức
độ dễ bị tổn thương ở người dân thành thị do phải chịu ảnh hưởng của lạm phát và các vấn đề thất nghiệp, kinh doanh trì trệ, sức khoẻ suy giảm, nhất là những người sống nhờ vào các khoản tiền tiết kiệm hoặc thu nhập cố định, không điều chỉnh theo lạm phát như người hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, người không thể làm việc vì lý do sức khoẻ [18]
5 Phương pháp nghiên cứu:
5.1 Phương pháp luận duy vật biện chứng
Do đối tượng nghiên cứu của luận văn thuộc chuyên ngành Kinh tế Chính trị,
vì vậy tác giả sử dụng phép duy vật biện chứng là phương pháp tiếp cận chính của nghiên cứu
Phép biện chứng duy vật biện chứng là phương pháp luận triết học về các nguyên lý cơ bản và mối quan hệ giữa các phạm trù bản chất với hiện tượng, nội dung với hình thức, quy luật thống nhất đấu tranh giữa các mặt đối lập, phủ định của phủ định, lượng biến và chất biến Sử dụng phương pháp này trong nghiên cứu đề tài
“Nâng cao hiệu quả của việc thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn Quận 5 TP HCM” đòi hỏi phải xem xét sự vật, hiện tượng khách quan tồn tại
trong mối liên hệ, ràng buộc lẫn nhau tác động, ảnh hưởng lẫn nhau giữa các sự vật,
Trang 17hiện tượng hay giữa các mặt của một sự vật, của một hiện tượng trong thế giới Khi
phân tích chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn Quận 5, không thể nghiên cứu một cách đơn lẻ mà phải đặt trong tổng thể chính sách giảm nghèo bền vững của TP.HCM Những kết quả của việc thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững của Quận 5 như việc làm, thất nghiệp, nâng cao thu nhập cho người nghèo, thực hiện
chính sách an sinh xã hội… có mối quan hệ tác động biện chứng qua lại lẫn nhau
Nguyên lý của sự phát triển là nguyên tắc lý luận mà trong đó khi xem xét sự vật, hiện tượng khách quan phải luôn đặt chúng vào quá trình luôn luôn vận động và phát triển (vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật) Luận văn nghiên cứu về nâng cao hiệu quả chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn Quận 5 TP HCM, không phải trong trạng thái đứng im mà nghiên cứu trong trạng thái luôn vận động và phát triển Luận văn nghiên cứu, đánh giá thực trạng của chính sách giảm nghèo trên địa bàn Quận 5 trong thời gian qua, từ đó đề xuất những chính sách và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác giảm nghèo bền vững trên địa bàn Quận trong thời gian tới, góp phần thực hiện có hiệu quả công tác xoá đói, giảm nghèo trên địa bàn TP HCM
Theo quan điểm Mác - xít thì, lịch sử bắt đầu từ đâu, quá trình tư duy củ a loài người cũng bắt đầu từ đó, nhưng lịch sử thường xuất hiện những bước nhảy quanh co khúc khuỷu, vì vậy cần phải vận dụng phương pháp logic kết hợp với lịch sử trong nghiên cứu chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn Quận 5, thấy được logic và bản chất bên trong, đồng thời đặt trong bối cảnh lịch sử cụ thể để có những nhận định đánh giá chính xác về chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn Quận
5.2 Phương pháp trừu tượng hóa khoa học
Trừu tượng hóa khoa học có vai trò quan trọng trong nhận thức Bất kỳ một ngành khoa học nào, nếu muốn chỉ ra bản chất của sự vật, đều phải trải qua quá trình trừu tượng hóa khoa học Đối với chuyên ngành Kinh tế chính trị phép trừu tượng hóa khoa học là phương pháp tiếp cận quan trọng Vì khi phân tích các vấn đề kinh
tế, xã hội không thể sử dụng kính hiển vi, lại cũng không thể sử dụng thuốc thử trong thí nghiệm hóa học, mà cần sử dụng năng lực tư duy trừu tượng, vận dụng trí não đối
Trang 18với đối tượng nghiên cứu Phương pháp trừu tượng hóa khoa học đòi hỏi gạt bỏ khỏi đối tượng nghiên cứu những cái ngẫu nhiên không thuộc bản chất của nó, chỉ giữ lại những quá trình, hiện tượng vững chắc, ổn định, điển hình tiêu biểu cho đối tượng nghiên cứu, nhờ vậy mà nắm được bản chất của quá trình kinh tế, xã hội cần nghiên cứu Vận dụng phương pháp này trong nghiên cứu chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn Quận 5 TP HCM đòi hỏi xác định rõ những nguyên nhân cơ bản tác động đến chính sách giảm nghèo bền vững, từ đó đề xuất những chính sách và giải pháp có tính đột phá nhằm nâng cao hiệu quả công tác giảm nghèo bền vững trên địa bàn Quận
5.3 Phương pháp phân tích – tổng hợp
Trên cơ sở thu thập những thông tin, số liệu cập nhật, có căn cứ khoa học, tác giả đi sâu phân tích thực trạng công tác giảm nghèo bền vững trên địa bàn Quận 5, từ
đó rút ra những kết quả đạt được, những hạn chế, những cơ hội và thách thức để từ
đó đề ra những chính sách và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn Quận trong thời gian tới
5.4 Phương pháp nghiên cứu thống kê, mô tả
Được tác giả sử dụng để thu thập thông tin, các công trình nghiên cứu liên quan đến luận văn, thu thập số liệu thứ cấp đáng tin cậy từ Cục Thống kê TP HCM, UBND Quận 5, các ban ngành trên địa bàn Quận, đặc biệt là từ Phòng Lao động - Thương binh xã hội Quận…và các bộ phận liên quan, từ đó tác giả lựa chọn những thông tin và tài liệu phù hợp làm cơ sở cho việc nghiên cứu luận văn
5.5 Phương pháp thu thập dữ liệu:
Thu thập dữ liệu thứ cấp:
+ Thu thập kết quả dữ liệu theo dõi tình hình nghèo qua các năm của Ban chỉ đạo chương trình giảm nghèo, tăng hộ khá Quận 5 (thông qua báo cáo của cơ quan Thường trực Chương trình Giảm nghèo – tăng hộ khá: Phòng Lao động – Thương binh xã hội Quận 5)
+ Thu thập các dữ liệu thứ cấp từ các nghiên cứu trước, số liệu liên quan từ các sở ngành, quận huyện
Trang 19Thu thập dữ liệu sơ cấp:
+ Khảo sát mức sống hộ gia đình giai đoạn 2014 – 2015, đă ̣c biê ̣t là năm 2016, đồng thời đánh giá mức sống, điều kiện sống và những vấn đề liên quan đến các nhóm hộ nghèo, hộ cận nghèo
+ Có thể sử dụng thêm phương pháp phỏng vấn sâu đối với các lãnh đạo quận, phường am hiểu về chương trình giảm nghèo và khảo sát trực tiếp các hộ nghèo, hộ cận nghèo để thực hiện các nghiên cứu tác động của chính sách đến hộ nghèo, hộ cận nghèo và đề xuất các chính sách, giải pháp phù hợp
5.6 Phương pháp phỏng vấn, khảo sát
Mục đích phỏng vấn, khảo sát:
+ Đánh giá khả năng, mức độ tiếp cận của các nhóm hộ đối với các chính sách
giảm nghèo theo khía cạnh đa chiều (giáo dục, y tế, việc làm, vay vốn, nhà ở)
+ Đánh giá tác động của các chính sách hỗ trợ cho nhóm hộ, tính hiệu quả của các chính sách đối với tình trạng việc làm, sức khỏe, giáo dục, thu nhập của hộ
+ Đánh giá tính phù hợp của các chính sách hỗ trợ với nhu cầu củ a các nhóm
hộ nghèo, cận nghèo
Đối tượng phỏng vấn, khảo sát:
+ Phỏng vấn các chuyên gia (lãnh đạo các phòng ban thuộc Ủy ban nhân dân quận có liên quan, lãnh đạo Ban Giảm nghèo – tăng hộ khá quận và 15 phường thuộc
Quận 5) trong các lĩnh vực liên quan đến từng chính sách giảm nghèo của thành phố
+ Khảo sát hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ đã vượt chuẩn nghèo
Nội dung phỏng vấn:
+ Khả năng tiếp cận các chính sách: chính sách y tế, chăm sóc sức khỏe, chính sách hỗ trợ giáo dục, chính sách tín dụng cho hộ nghèo, chính sách hỗ trợ học nghề, giải quyết việc làm, chính sách nhà ở của các hộ nghèo, hộ cận nghèo
+ Hiểu biết của hộ về các chính sách
+ Việc thụ hưởng các chính sách của hộ
+ Đánh giá của hộ về tác động của các chính sách đến hộ, khuyến nghị để các chính sách trên đáp ứng được đúng yêu cầu và nguyện vọng của người dân
Trang 20+ Kết quả của chương trình? Những vấn đề tâm đắc?
+ Giải pháp thực hiện chương trình những năm tiếp theo?
5.7 Phương pháp phân tích và xử lý dữ liệu:
Để thực hiện nội dung đánh giá tác động trực tiếp và hiệu quả của chương trình giảm nghèo; nghiên cứu đặc điểm của các nhóm hộ nghèo, hộ cận nghèo, xác định các nhân tố tích cực tác động đến giảm nghèo, nâng cao đời sống của các hộ gia đình; đánh giá việc tiếp cận, thụ hưởng chính sách giảm nghèo của các hộ nghèo, hộ cận nghèo; đề xuất các giải pháp giảm nghèo phù hợp
6 Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và phụ lục, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về nghèo và giảm nghèo bền vững
Chương 2: Thực trạng công tác giảm nghèo trên địa bàn Quận 5 TP HCM giai đoạn 1992 - 2015
Chương 3: Mục tiêu và giải pháp thực hiện công tác giảm nghèo trên địa bàn Quận 5 TP HCM đến năm 2025
Trang 21CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGHÈO VÀ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG 1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Nghèo
Hiện nay có nhều quan niệm về nghèo đói đang được các quốc gia thừa nhận Theo Amartya Kumar Sen, nhà Kinh tế học Ấn Độ (đạt giải Nobel Kinh tế) để tồn tại, con người cần có những nhu cầu vật chất và tinh thần tối thiểu, dưới mức tối thiểu này, con người sẽ bị coi là đang sống trong nghèo nàn
Tại Hội nghị về chống nghèo đói do Uỷ ban Kinh tế Xã hội khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (ESCAP) tại Bangkok, Thái Lan vào tháng 9 năm 1993, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cao rằng: Nghèo khổ là tình trạng một bộ phận dân
cư không có khả năng thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận
Theo tổ chức Liên hiệp quốc (UN): “Nghèo là thiếu năng lực tối thiếu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được đi khám bệnh, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ của các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng Nghèo có nghĩa là dễ bị bạo hành, phải sống ngoài lề xã hội hoặc trong các điều kiện rủi ro, không được tiếp cận nước sạch và công trình vệ sinh
an toàn” (Tuyên bố Liên hiệp quốc, tháng 6 năm 2008, được lãnh đạo của tất cả các
tổ chức UN thông qua)
Những quan niệm về nghèo nêu trên đều phản ánh ba khía cạnh chủ yếu của người nghèo, đó là:
-Có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư
-Không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho con người
-Thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng
Trang 22Các khái niệm trên cũng cho thấy sự thống nhất cao của các quốc gia, các tổ chức quốc tế cho rằng nghèo là một hiện tượng đa chiều, tình trạng nghèo cần được nhìn nhận là sự thiếu hụt/ không được thoả mãn các nhu cầu cơ bản của con người
1.1.2 Nghèo đơn chiều
Phương pháp đánh giá nghèo mà chỉ căn cứ vào một tiêu chí/ một chiều – nghèo đơn chiều Chỉ tiêu thu nhập thường được chọn để đánh giá nghèo theo phương pháp đơn chiều
1.1.3 Nghèo đa chiều
Khái niệm nghèo đa chiều là một cách tiếp cận nghèo mới đang được nghiên cứu, xây dựng và áp dụng tại hơn 30 nước trên thế giới, theo đó thước đo đa chiều xem xét mức sống của dân cư một cách đầy đủ hơn, toàn diện hơn Nó đo lường mức sống cả mặt kinh tế lẫn chất lượng cuộc sống theo các chiều khác nhau như: giáo dục,
y tế, an sinh xã hội, nhà ở, dịch vụ cơ bản, tình trạng dễ bị tổn thương, rủi ro [25]
1.2 Phương pháp xác định chuẩn nghèo
Việc đo lường mức độ nghèo là một yếu tố quan trọng cho biết tình trạng nghèo ở cấp quốc gia và địa phương, từ đó giúp xác định các mục tiêu cụ thể và xây dựng chính sách giảm nghèo Cách phổ biến nhất để thiết lập chuẩn nghèo là tiếp cận
“Chi phí cho các nhu cầu cơ bản” được áp dụng rộng rãi ở các nước trên thế giới, bao gồm xác định trước tiên một rổ hàng lương thực, thực phẩm và phí lương thực, thực phẩm thích hợp để thoả mãn nhu cầu tiêu dùng cơ bản của một hộ và sau đó tính chi phí/ trị giá của rổ hàng này
Về mặt khái niệm, chuẩn nghèo “Chi phí cho các nhu cầu cơ bản” đo lường thu nhập tối thiểu cần thiết để các hộ mua rổ lương thực thực phẩm và các hàng hoá
Trang 23khác phục vụ nhu cầu thiết yếu, để các thành viên trong hộ có đủ lương thực, thực phẩm để duy trì sức khoẻ và sản xuất để tham gia đầy đủ vào xã hội
Trong thực tế, chuẩn nghèo được xây dựng trước hết dựa vào một rổ lương thực thực phẩm tham khảo, phản ánh mô hình tiêu dùng của người nghèo; và gắn nó trong một chuẩn dinh dưỡng đã được thống nhất (ví dụ 2.100 kcal/ngày/người); sau
đó cộng thêm một khoản chi tiêu phí lương thực thực phẩm dành cho hàng hoá thiết yếu (chăm sóc sức khoẻ, giáo dục, nhà ở và đồ dùng lâu bền) phù hợp với mô hình chi tiêu của người nghèo
Ngân hàng Thế giới (WB) xác định chuẩn nghèo trên quy mô toàn cầu trên cơ
sở các đánh giá về tiền tệ Chuẩn nghèo WB tính và sử dụng để đo lường mức độ nghèo chung trên thế giới là 1,25 USD/ngày/người và của các nước phát triển là 2 USD/ngày/người với mức giá năm 2005
Chuẩn nghèo hiện tại của Việt Nam vẫn thấp hơn chuẩn nghèo của thế giới và không được tăng tương ứng với mức lạm phát Ngoài ra, chuẩn nghèo của Việt Nam củng là một trong những chuẩn thấp nhất ở Đông Nam Á tính theo bình quân sức mua
1.3 Phương pháp đo lường
1.3.1 Sự cần thiết chuyển đổi phương pháp đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều
Cách xác định hộ nghèo theo phương pháp thu nhập được xem là chuẩn của nhiều quốc gia trong nhiều năm nhưng gần đây đã được các chuyên gia thế giới đánh giá là không ổn và đã đưa ra thêm cách tính mới khác về nghèo được gọi là nghèo đa chiều
Sở dĩ gọi là nghèo đa chiều vì không chỉ nghèo trong thu nhập, người nghèo,
hộ nghèo còn nghèo trong chiều tiếp cận các dịch vụ xã hội như: giáo dục, y tế, nhà
ở, điều kiện sống dù cho thu nhập của hộ đã vượt qua chuẩn nghèo thu nhập Phương pháp đo lường nghèo theo thu nhập giống như các đo lường GDP của một quốc gia chỉ tính theo thu nhập chứ không tính đến các khoản tăng trưởng khác về mặt xã hội
Trang 24Trên cơ sở đánh giá, rút kinh nghiệm từ kết quả thực tiễn giảm nghèo của các quốc gia và cụ thể là «Chương trình giảm nghèo, tăng hộ khá» của Thành phố dựa vào tiêu chí thu nhập bình quân đầu người để xác định chuẩn nghèo, cận nghèo đã cho thấy cách tiếp cận nghèo thu nhập ngày càng bất cập, bộc lộ những mặt yếu và không phù hợp nên kết quả giảm nghèo chưa thực sự bền vững, nguy cơ tái nghèo cao Những mặt yếu và bất cập đó là:
Thứ nhất, mức chuẩn nghèo theo tiêu chí thu nhập được xác định theo từng
giai đoạn (có giai đoạn kéo dài 5 – 7 năm) nên không ổn định (do tác động bởi yếu tố trượt giá hàng năm) và phải thường xuyên điều chỉnh nâng lên cho phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội, làm cho số lượng, danh sách, tỷ lệ hộ nghèo phải luôn cập nhật, thay đổi; số hộ nghèo giai đoạn trước vừa thoát chuẩn nghèo, giai đoạn mới điều chỉnh nâng mức chuẩn nghèo mới thì lại là hộ nghèo
Thứ hai, mức chuẩn nghèo theo tiêu chí thu nhập quy ra bằng tiền, nhưng có
một số nhu cầu cơ bản của con người không thể quy đổi ra tiền (như tham gia xã hội,
an ninh, vị thế xã hội ) hoặc không thể mua được bằng tiền (tiếp cận giao thông, thị trường, môi trường, một số dịch vụ y tế, giáo dục công )
Thứ ba, những hộ nghèo, hộ cận nghèo vừa thoát khỏi chuẩn nghèo theo thu
nhập thì đưa ra khỏi danh sách đối tượng nghèo tại địa phương và không được giải quyết tiếp các chính sách hỗ trợ của chương trình, nên họ dễ gặp khó khăn, dễ tái nghèo và không giảm nghèo bền vững
Thứ tư, mặc dù các chính sách hỗ trợ giảm nghèo đã và đang tác động được
nhiều mặt đời sống của người nghèo (các nhóm chính sách về tín dụng ưu đãi, đào tạo nghề, giải quyết việc làm, hỗ trợ tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, giáo dục, nhà ở, trợ giúp pháp lý, thông tin ), nhưng cách tiếp cận xác định hộ nghèo theo phương pháp đo lường bằng thu nhập như hiện tại đã dẫn đến tình trạng bỏ sót đối tượng, nhận diện nghèo và phân loại đối tượng nghèo chưa chính xác; ranh giới chuẩn nghèo giữa hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ dân không thuộc đối tượng nghèo rất monh manh Tiêu chí thu nhập thường xác định theo chủ quan, không đảm bảo chính xác nên việc thực hiện các chế độ chính sách chưa thực sự công bằng Các hộ
Trang 25dân có thu nhập trên mức chuẩn nghèo nhưng còn thiếu hụt một số nhu cầu tối thiểu hoặc thu nhập của họ không thể chi cho các nhu cầu tối thiểu vì không thể tiếp cận được dịch vụ nơi sinh sống, hoặc phải chi cho những mục đích khác
Thứ năm, mức chuẩn nghèo theo thu nhập không đánh giá được mức độ thay
đổi khả năng tiếp cận các nhu cầu xã hội cơ bản của người dân nên không thể giúp các cơ quan quản lý nhìn nhận rõ hơn các địa phương, cơ sở trên địa bàn quận có người dân bị thiếu hụt các nhu cầu tối thiểu cao để làm cơ sở cho việc nghiên cứu, hoạch định các chính sách hỗ trợ làm giảm mức độ thiếu hụt gắn với trách nhiệm của ngành đó cho từng địa phương để tổ chức thực hiện có hiệu quả và giảm nghèo được bền vững
1.3.2 Xu hướng chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo tại Việt Nam
Việt Nam đang chuyển đổi cách nhận diện nghèo từ đơn chiều sang đa chiều nhằm xoá nghèo hiệu quả và bền vững hơn Quốc hội Khoá 13, kỳ họp thứ 7 đã thông qua Nghị quyết về đẩy mạnh thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững đến
năm 2020, trong đó nêu rõ: xây dựng chuẩn nghèo mới theo phương pháp tiếp cận đa chiều nhằm bảo đảm mức sống tối thiểu và đáp ứng các dịch vụ xã hội cơ bản
Cách nhận diện nghèo đa chiều căn cứ vào quyền được đảm bảo an sinh xã hội của công dân được nêu trong Hiến pháp sửa đổi năm 1993 (Điều 34) Cụ thể hơn, Nghị quyết 15-NQ/TW, Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khoá XI về chính sách xã hội giai đoạn 2012 – 2020 đã đưa ra các nhiệm vụ về đảm bảo an sinh
xã hội, chú trọng đến việc làm, bảo hiểm xã hội, trợ giúp xã hội những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, đáp ứng các nhu cầu tối thiểu về y tế , giáo dục, nhà ở, nước sạch và thông tin
Ngày 15 tháng 9 năm 2015, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1614/QĐ-TTg phê duyệt Đề án tổng thể “Chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020”
Trang 26Bảng 1.1 Danh mục chiều nghèo và chỉ số đo lường nghèo và ngưỡng nghèo
thiếu hụt đa chiều cấp quốc gia
giáo dục của
người lớn
Hộ gia đình có ít nhất 1 thành viên từ đủ 15 tuổi sinh từ năm 1986 trở lại không tốt nghiệp THCS
và hiện không đi học
Hiến pháp năm 2013
Nghị quyết số 15/NQ-TW về một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020
Nghị quyết 41/2000/ QH (bồ sung bởi NĐ số 88/2001/NĐ- CP)
Hiến pháp năm 2013
Luật Bảo hiểm y tế 2014
NQ 15/NQ-TW một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012 -2020
10
Trang 273.Nhà ở 3.1 Chất
lượng nhà ở
Hộ gia đình đang ở trong nhà thiếu kiên cố hoặc nhà đơn sơ (Nhà ở chia thành 4 cấp độ: nhà kiên cố, bán kiên cố, nhà thiếu kiên cố, nhà đơn sơ)
Luật Nhà ở
NQ 15/NQ-TW một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012 -2020
gia đình nhỏ hơn 8 m2
Luật Nhà ở
Quyết định 2127/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030
10
4.2 Hố xí/
nhà tiêu
Hộ gia đình không sử dụng hố xí/ nhà tiêu hợp
vệ sinh
NQ 15/NQ-TW một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012 -2020
Luật Viễn thông
NQ 15/NQ-TW một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012 -2020
Luật Thông tin truyền thông
NQ 15/NQ-TW một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012 -2020
10
Nguồn: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội 2015
Trang 281.4 Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng, Nhà nước về giảm nghèo
Khi mớ i lâ ̣p nên Nhà nước Viê ̣t Nam Dân chủ Cô ̣ng hòa Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra chính sách chống giă ̣c đói và chống giă ̣c dốt Người chỉ rõ: Chúng ta giành được tự do, độc lập mà dân cư chết đói, chết rét thì tự do, độc lập cũng không làm gì Dân chỉ biết rõ giá tri ̣ của tự do, của độc lập khi mà dân được ấm no, mặc đủ Chúng ta phải thực hiê ̣n ngay: (1) Làm cho dân có ăn (2) Làm cho dân có mặc (3) Làm cho dân có chỗ ở (4) Làm cho dân có học hành
Thực hiê ̣n nhất quán tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã đề ra và thực hiê ̣n rất nhiều chính sách giúp người dân, đă ̣c biê ̣t là người nghèo làm ăn sinh sống để phát triển kinh tế, ổn đi ̣nh chính tri ̣ xã hô ̣i Đa ̣i hô ̣i Đảng toàn quốc lần thứ VII năm 1991, Đảng đã có chủ trương «thực hiê ̣n xóa đói giảm nghèo» Đến năm 1995, xóa đói giảm nghèo đã trở thành Chương trình mu ̣c tiêu quốc gia, được xác đi ̣nh vừa có tính cấp bách trước mắt, vừa cơ bản lâu dài và được triển khai sâu rô ̣ng trong cả nước cho đến nay
Tại Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 1991, Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ V đã thông qua Nghị quyết về phương hướng nhiệm vụ chủ yếu 5 năm 1991 – 1995, trong đó xác định mục tiêu: Từng bước thu hẹp dần số hộ nghèo bằng việc tạo điều kiện vật chất để mở mang sản xuất, làm dịch vụ; mở rộng và quản lý tốt các hoạt động từ thiện để giúp đỡ những người tàn tật, cô đơn, trẻ mồ côi Tháng 2 năm
1992, Ban Thường vụ Thành uỷ (khoá V) chỉ đạo tổ chức triển khai thực hiện chương trình “phấn đấu thu hẹp và từng bước xoá hộ đói nghèo” ở nông thôn Đầu tháng 11 năm 1992 tổ chức sơ kết và mở rộng ra toàn địa bàn thành phố Mục tiêu phấn đấu trong giai đoạn năm 1992 đến năm 1995 là xoá hộ đói, cơ bản giải quyết cái
ăn hàng ngày, chống tái đói Tháng 3 năm 1994, Nghị quyết Hội nghị đại biểu Đảng
bộ thành phố giữa nhiệm kỳ khoá V đã cụ thể hoá chủ trương: Tiếp tục mở rộng cuộc vận động và đi vào chiều sâu chương trình xoá đói giảm nghèo, gắn với kế hoạch, quy hoạch có trọng điểm trên từng địa bàn Qua công tác vận động, gây dựng được
Trang 29phong trào tương trợ giúp đỡ số hộ đói, nghèo trên từng địa bàn bằng việc làm thiết thực, có hiệu quả để họ tự vươn lên Phấn đấu đến ngày kỷ niệm 20 năm giải phóng thành phố cơ bản không còn hộ đói
Tháng 5 năm 1996, Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ VI thông qua Nghị quyết về phương hướng nhiệm vụ 5 năm 1996 – 2000, trong đó tiếp tục khẳng định:
mở rộng và đẩy mạnh hơn nữa cuộc vận động thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo Có chính sách vay vốn với lãi suất ưu đãi và thực hiện một số chính sách khuyến khích giúp đỡ các hộ nghèo như miễn giảm thuế, miễn giảm viện phí, học phí Để phòng tái đói, mở rộng diện giảm nghèo bằng các hình thức làm ăn hợp tác, đồng thời, đề ra mục tiêu đến năm 2000 là: tập trung đầu tư làm chuyển biến cơ bản các xã – phường nghèo; phấn đấu giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 10% tổng số hộ dân toàn thành phố
Tháng 12 năm 2000, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ VII xác định mục tiêu “Tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện Chương trình xoá đói giảm nghèo”, chủ động xoá đói giảm nghèo, tiêu thụ nông sản phẩm, giải quyết việc làm, xoá mù chữ, trang bị kiến thức khoa học kỹ thuật Tạo điều kiện để nông dân phát triển ngành nghề, tạo ra sản phẩm hàng hoá chất lượng cao, khuyến khích làm ăn hợp tác, tích cực xây dựng nông thôn mới
Ngày 27 tháng 9 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt «Chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo giai đoạn 2001-2005» xác định chuẩn nghèo theo Quyết định số 143/2001/QĐ-TTg như sau: những hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người ở khu vực nông thôn miền núi và hải đảo từ 80.000 đồng/người/tháng (960.000 đồng/người/năm) trở xuống; ở khu vực nông thôn đồng bằng những hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người từ 100.000 đồng/người/tháng (1.200.000 đồng/người/năm) trở xuống; ở khu vực thành thị những
hộ có thu nhập bình quân đầu người từ 150.000 đồng/người/tháng (1.800.000 đồng/người/năm) trở xuống
Từ năm 2001, thành phố tăng cường mở rộng quy mô «Chương trình giảm nghèo, chống tái nghèo», phấn đấu cơ bản không còn hộ nghèo theo chuẩn nghèo
Trang 30thành phố thu nhập dưới 3 triệu đồng/người/năm ở các quận nội thành và 2,5 triệu đồng/người/năm ở các quận ven, huyện ngoại thành Ưu tiên tập trung đầu tư xây dựng và hoàn thành công trình hạ tầng thiết yếu cho 20 xã – phường nghèo, đảm bảo giảm nghèo toàn diện, bền vững
Trong 3 năm (2001-2003), thành phố đã tập trung chỉ đạo với tinh thần quyết liệt, mang tính đột phá, thể hiện rõ ở các mục tiêu, chỉ tiêu giảm hộ nghèo năm sau cao hơn năm trước Tháng 8/2002, Ban Thường vụ Thành uỷ đề ra chủ trương về mục tiêu đến cuối năm 2003 phải “phấn đấu không còn hộ nghèo” theo tiêu chí thành phố (thay vì phải đến cuối năm 2005) và cho phép thực hiện chính sách bảo lưu cho
số hộ vừa vượt nghèo trong thời hạn 24 tháng, nhằm giúp số hộ này tiếp tục ổn định cuộc sống, chống tái nghèo; đồng thời chuẩn bị cho bước điều chỉnh nâng lên mức chuẩn nghèo mới để áp dụng trên địa bàn thành phố trong giai đoạn tiếp theo
Đầu năm 2004, thành phố đã tổ chức Tổng kết 11 năm thực hiện «chương trình xoá đói giảm nghèo thành phố giai đoạn 1 (1992 -2003)» và chỉ đạo tiếp tục đẩy mạnh triển khai «chương trình mục tiêu xoá đói giảm nghèo thành phố giai đoạn 2 (2004 -2010)», với mục tiêu tổng quát là: tạo sự chuyển biến thật sự của đại đa số dân nghèo và hộ nghèo, tập trung đẩy mạnh tiến độ giảm hộ nghèo theo tiêu chí mới với mức thu nhập bình quân đầu người trong hộ từ 6 triệu đồng/người/năm trở xuống không phân biệt nội thành và ngoại thành; tiếp tục đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng ở các vùng nghèo; phát triển các chương trình an sinh xã hội, giảm dần khoảng cách giữa hộ giàu và hộ nghèo; giữa thành thị và nông thôn” Giai đoạn 2 được thực hiện theo lộ trình 2 bước: (1) trong 2 năm đầu (2004-2005), phấn đấu cơ bản không còn
hộ nghèo có mức thu nhập bình quân dưới 4 triệu đồng/người/năm; (2) trong 5 năm tiếp theo (2006-2010), phấn đấu cơ bản không còn hộ nghèo có mức thu nhập bình quân dưới 6 triệu đồng/người/năm
Ngày 08 tháng 7 năm 2005 Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về «Ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006-2010» ở khu vực nông thôn những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000 đồng/người/tháng (2.400.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo; ở khu vực thành thị những hộ có
Trang 31thu nhập bình quân từ 260.000 đồng/người/tháng (3.120.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo
Xuất phát từ căn cứ trên Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh lần thứ VIII đã đề ra một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong giai đoạn 5 năm
2006 – 2010 là Giải quyết tốt các vấn đề xã hội, thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội đồng bộ với phát triển kinh tế, Phát huy thành quả các chương trình xã hội, phấn đấu đến năm 2010 cơ bản xoá hộ nghèo theo tiêu chí mới của thành phố Tháng 11 năm 2007, Hội nghị lần thứ 9 Ban chấp hành Đảng bộ thành phố (khoá VIII) đã thông qua chủ trương và Uỷ ban nhân dân thành phố đã ban hành kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội thành phố năm 2008 với mục tiêu: Hoàn thành cơ bản chương trình xoá đói giảm nghèo theo tiêu chí mới (thu nhập dưới 6 triệu đồng/người/năm) và chuyển thành “Chương trình giảm hộ nghèo, tăng hộ khá giả” Giữ vững thành quả
và ổn định thu nhập cho các hộ cận nghèo; phấn đấu đến năm 2010 nâng dần thu nhập của hộ nghèo lên mức 10 triệu đồng/người/năm, tiếp cận dần với chuẩn nghèo của thế giới hiện nay
Từ những kết quả và kinh nghiệm trong quá trình thực hiện «Chương trình Xoá đói giảm nghèo thành phố» trong 16 năm (1992 -2008), ngay sau khi về trước 2 năm các mục tiêu xoá đói giảm nghèo giai đoạn 2004 -2010 vào cuối năm 2008, thành phố Hồ Chí Minh chuyển sang tổ chức triển khai ngay «Chương trình Giảm nghèo, tăng hộ khá» giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2015 Đây là Chương trình kế thừa và phát huy những thành quả tích cực đạt được từ «Chương trình Xoá đói giảm nghèo» những năm qua, đồng thời nâng mục tiêu «Chương trình Xoá đói giảm nghèo» lên một bước tiến mới cao hơn, xa hơn; đẩy nhanh hơn nữa tốc độ giảm hộ nghèo, tăng dần hộ khá trên tổng số hộ dân toàn thành phố; phấn đấu hoàn thành với kết quả cao nhất các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội thành phố 5 năm 2006 –
2010 và 2011 – 2015, góp phần giành nhiều thắng lợi hơn nữa trong mục tiêu vì sự nghiệp “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”
Hội nghị lần thứ 24 Ban chấp hành Đảng bộ Thành phố khoá IX đã thảo luận
và kết luận chỉ đạo về chương trình giảm nghèo bền vững của Thành phố giai đoạn
Trang 322016 -2020 là: tiếp tục điều chỉnh chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo cho phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - văn hoá – xã hội là rất cần thiết Trong điều kiện hiện nay, việc nâng cao chất lượng sống cho người nghèo không chỉ giải quyết nâng cao thu nhập mà còn tạo điều kiện cho người nghèo tiếp cận tốt nhất các dịch vụ xã hội
cơ bản như: giáo dục đào đạo, y tế, việc làm, bảo hiểm xã hội, nhà ở, thông tin và các điều kiện sống khác Phấn đấu đến cuối năm 2020, bình quân thu nhập của hộ nghèo Thành phố tăng gấp 3,5 lần so với năm 2011
Đặc biệt, Đại hội Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh lần thứ X đã biểu quyết thông qua Nghị quyết đại hội với mục tiêu tổng quát là: Xây dựng Đảng bộ thành phố thật trong sạch, vững mạnh, tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; không ngừng đổi mới, năng động, sáng tạo, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, nâng cao chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh của kinh tế thành phố; gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá, xây dựng con người, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, nâng cao phúc lợi xã hội và chất lượng sống của nhân dân Xây dựng thành phố Hồ Chí Minh có chất lượng sống tốt, văn minh, hiện đại, nghĩa tình; có vai trò động lực trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, sớm trở thành một trong những trung tâm lớn về kinh tế, tài chính, thương mại, khoa học - công nghệ của khu vực Đông Nam Á
Có thể nói, «Chương trình giảm nghèo» được sự quan tâm đặc biệt của toàn Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố Việc tổ chức triển khai chương trình luôn được Thành uỷ, Uỷ ban nhân dân thành phố theo dõi, chỉ đạo sâu sát, linh hoạt, kịp thời; các cấp, các ngành, mặt trận và các tổ chức đoàn thể phối hợp đồng bộ, chặt chẽ, thực hiện thường xuyên, kiên trì, liên tục; hàng năm đều có kiểm tra, đánh giá kết quả, đề ra mục tiêu, chỉ tiêu giảm nghèo rõ ràng, cụ thể và trong từng giai đoạn có
sơ kết, tổng kết tình hình, rút kinh nghiệm thực tiễn, tiếp tục bổ sung hoàn thiện cơ chế, chính sách, giải pháp để tiếp tục phấn đấu, từng bước nâng cao chất lượng, hiệu quả của chương trình Đây chính là những cơ sở đảm bảo cho triển khai chương trình theo đúng mục tiêu, định hướng và mang lại những thành tựu có ý nghĩa quan trọng trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội
Trang 331.5 Kinh nghiệm của Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh trong thực hiện hiệu quả chương trình giảm nghèo [6] :
Quận 6 có diện tích 7,14 km2, có 56.674 hộ dân với 256.489 nhân khẩu, người Hoa chiếm tỉ lệ trên 26%; là một trong những quận đầu tiên của thành phố hoàn thành chương trình trước thời hạn qua từng giai đoạn của chương trình giảm nghèo, tăng hộ khá
Bước vào giai đoạn 2014 - 2015, qua điều tra khảo sát, quận 6 có 1.946 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 3,43% và 1.396 hộ cận nghèo, tỷ lệ 2,46% dân số có thu nhập chưa ổn định, bên cạnh đó, tỷ lệ người lao động có tay nghề còn thấp; điều kiện hạ tầng cơ sở, vệ sinh môi trường của quận còn nhiều hạn chế, thường xuyên ngập nước khi mưa lớn hoặc triều cường… làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người dân, đặc biệt là hộ nghèo, người nghèo… Với xuất phát điểm thấp, tỷ lệ hộ nghèo còn cao, thời gian thực hiện giai đoạn ngắn (chỉ có 02 năm) nhưng quyết tâm chính trị cao, Quận ủy, Ủy ban nhân dân, Ban chỉ đạo chương trình giảm nghèo, tăng hộ khá quận 6 đã tập trung chỉ đạo, triển khai thực hiện quyết liệt những chủ trương, chính sách, giải pháp giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội, giúp các hộ nghèo, người nghèo an tâm ổn định cuộc sống, từng bước nâng cao thu nhập hướng đến giảm nghèo bền vững, không để tái nghèo
Về cách làm: Thường trực Quận ủy Quận 6 đã trực tiếp làm việc, chỉ đạo Ban chấp hành Đàng bộ 14 phường thuộc quận 6 về chương trình giảm nghèo, tăng hộ khá; Ban chấp hành Đảng bộ quận đã ban hành Nghị quyết về lãnh đạo nâng cao chất lượng cuộc sống và mức thu nhập hộ cận nghèo giai đoạn 2013 -2015, nghị quyết lãnh đạo thực hiện chương trình giảm nghèo, tăng hộ khá giai đoạn 2014 -2015 với mục tiêu đến cuối năm 2014 cơ bản hoàn thành không còn hộ nghèo có thu nhập từ
16 triệu đồng/người/năm trở xuống
Ban chỉ đạo chương trình giảm nghèo, tăng hộ khá cùng với Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quận – Trưởng ban vận động “Vì người nghèo” quận đã trực tiếp làm việc với Ban chỉ đạo các phường đề nghe báo cáo việc triển khai thực hiện tại 14 phường trong quận, giải quyết những khó khăn ở từng phường; trên cơ sở
Trang 34đó xây dựng kế hoạch thực hiện cụ thể tại cấp quận và đồng loạt tại các phường Chủ trương chung của thành phố và các kế hoạch của quận, phường được quán triệt, phổ biến mục tiêu, lộ trình, chính sách và giải pháp thực hiện giảm nghèo đến cán bộ công chức, đảng viên, đoàn viên, hội viên, đến từng khu phố, tổ dân phố và các hộ nhân dân trên địa bàn làm cho mọi người hiểu đầy đủ hơn, xem việc thực hiện giảm nghèo là nhiệm vụ chung của mọi người và của toàn xã hội
Quận 6 cũng đã tập trung tăng cường công tác tuyên truyền, xem đây là giải pháp tâm lý có ý nghĩa quan trọng; phát huy vai trò của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể, tổ chức nhiều cuộc họp, phát thanh, thông tin, thông báo…đến từng hộ dân, nhất là các hộ trong diện nghèo để họ tìm hiểu, thảo luận, tự nguyện tham gia thực hiện chương trình một cách có ý thức và tích cực; giải thích cặn kẽ chủ trương, mục đích, cách làm của địa phương để họ đồng thuận và yên tâm, phấn đấu vượt nghèo Bên cạnh đó, Quận và Phường nhận nhiều ý kiến đồng thuận, nhiều thông tin
từ nhân dân đóng góp về các giải pháp thực hiện, cụ thể như phản ánh số hộ nghèo cần được hỗ trợ xây nhà tình nghĩa, nhà tình thương, chống ngập, chống dột, số hộ cần được trợ vốn làm ăn, số người cần được giải quyết việc làm, số hộ cần được giúp
đỡ các phương tiện cần thiết trong gia đình…
Kết quả: 170/194 căn nhà thuộc diện nghèo đã xuống cấp nhưng chưa xây dựng hoặc sửa chữa được do nằm trong lộ giới, dự án giải tỏa, nhà thuộc Nhà nước quản lý, nhà đang tranh chấp… đã được tháo gỡ vướng mắc về mặt pháp lý, về kinh phí, về sự đồng thuận của các thành viên trong gia đình; đã xây mới 170 căn, 24 căn đang được tiếp tục xem xét để có hướng giải quyết Trong năm 2014, quận 6 đã xây dựng 20 căn và sửa chữa được 42 căn nhà tình thương với tổng kinh phí 1.330.351.000 đồng Quỹ “Vì người nghèo” của quận đã hỗ trợ kinh phí 738.780.000 đồng cho 14 phường để tiến hành sửa chữa, xây mới 27 căn Quận cũng đã chi trợ cấp để nâng thu nhập cho 50 hộ nghèo đặc biệt khó khăn (là hộ người già yếu, bệnh tật nhưng thiếu hoặc không có lao động) với số tiền 651.130.000 đồng; vận động chăm lo hiện vật như xe đạp, xe nước mí, xe bánh mì, đồ điện tử (ti vi, radio ), thực phẩm (gạo, mì gói, nước tương, dầu ăn…) cho 3.730 lượt hộ nghèo với tổng trị giá
Trang 351.253.941.250 đồng, đạt 895% kế hoạch năm Hỗ trợ các nguồn vốn tín dụng ưu đãi
để giúp các hộ làm thêm kinh tế phụ gia đình, cải thiện thu nhập; trao học bổng hỗ trợ đi học văn hóa, học nghề…
Việc điều tra khảo sát tình hình thu nhập, nguyện vọng cần trợ giúp của các hộ nghèo là vấn đề tế nhị nhưng hết sức quan trọng Chủ yếu là nắm bắt nguyện vọng, nhu cầu, tình trạng, hoàn cảnh các hộ để phục vụ cho việc xem xét, đánh giá, ước lượng và tính toán các giải pháp giúp hộ nghèo tăng thu nhập theo hướng ổn định bền vững Khi phân công điều tra viên tiến hành khảo sát hộ nghèo phải là những người
có kinh nghiệm, đã tham gia công tác điều tra, nắm được hoàn cảnh thu nhập của hộ Đối với khu vực có đông người Hoa sinh sống, phải cử điều tra viên biết tiếng Hoa
và am hiểu phong tục tập quán người Hoa để tiếp cận và thu thập thông tin chính xác
Từ cách làm trên, Quận 6 đã hoàn thành Chương trình giảm nghèo, tăng hộ khá giai đoạn 2014 -2015, không còn hộ nghèo có thu nhập bình quân đầu người từ
16 triệu đồng/người/năm trở xuống trước thời hạn một năm và kéo giảm tỷ lệ hộ cận nghèo xuống dưới 2% Bài học kinh nghiệm thực tiễn mà Quận 6 rút ra được như sau:
1 Sự quan tâm, tập trung lãnh chỉ đạo của Thường trực Quận ủy, Ban Thương
vụ Quận ủy, các cấp ủy Đảng, chính quyền, ban ngành, Mặt trận, đoàn thể, cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu phải nhận thức đúng đắn công tác giảm nghèo là chủ trương, chương trình lớn của thành phố nên phải tập trung thực hiện với quyết tâm chính trị cao, kịp thời xây dựng Chương trình trọng điểm, Nghị quyết, kế hoạch
để lãnh đạo thực hiện; quan tâm giải quyết các vấn đề bức xúc, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân
2 Xác định đây là công việc khó khăn nên phải tập trung lãnh đạo, chỉ đạo huy động cả hệ thống chính trị tham gia thực hiện chương trình giảm nghèo, tăng hộ khá; đồng thời phải huy động mọi nguồn lực xã hội, lấy sức dân chăm lo cho dân thì chương trình mới đạt hiệu quả cao nhất
3 Phải quan tâm lãnh đạo thực hiện tốt công tác vận động nhân dân, nhất là tuyên truyền vận động tạo sự đồng thuận trong cả hệ thống chính trị, cán bộ, đảng
Trang 36viên, đoàn viên, hội viên và nhân dân, nhất là các hộ nghèo, người nghèo có ý chí vươn lên thoát nghèo bền vững; đồng thời phải vận độntg, huy động mọi nguồn lực trong xã hội (cán bộ, đảng viên, doanh nghiệp, người dân, cơ sở tôn giáo…) để chăm
lo cho người nghèo, hộ nghèo
4 Phải tập trung thực hiện tốt công tác điều trqa, khảo sát thu nhập và nhu cầu cần trợ giúp của từng hộ nghèo, qua đó nắm bắt nguyện vọng, tình trạng, hoàn cảnh các hộ, xem xét, đánh giá, ước lượng và đề ra các giải pháp giúp hộ nghèo tăng thu nhập theo hướng ổn định, bền vững; phải đảm bảo vượt nghèo thực chất, không chạy theo thành tích, không để cho người nghèo bị sụt giảm mức sống; thực hiện cuốn chiếu nâng dần thu nhập cho hộ nghèo tăng dần theo hàng năm, đảm bảo hiệu quả vững chắc từng bước, từng năm trong cả giai đoạn
5 Phải tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy, của người đứng đầu trong thực hiện Chương trình để đánh giá kết quả những mặt làm được, chưa làm được, chỉ đạo giải quyết tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, nhất là chính sách hỗ trợ cho các hộ đặc biệt khó khăn
Trên cơ sở kế thừa những công trình nghiên cứu ở trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài, từ việc tham khảo kinh nghiệm trong tổ chức triển khai thực hiện chương trình giảm nghèo, tăng hộ khá trên địa bàn quận 6, thành phố Hồ Chí Minh, một dịa bàn có những điểm tương đồng với quận 5, tác giả sẽ phân tích thực trạng thực hiện “Chương trình giảm hộ nghèo, tăng hộ khá” trên địa bàn quận 5 TP HCM,
từ đó đưa ra những giải pháp giảm nghèo bền vững trên địa bàn Quận trong thời gian tới
Trang 37KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 đã trình bày những khái niệm liên quan đến nghèo, nghèo đơn chiều, nghèo đa chiều, giảm nghèo bền vững; phương pháp xác định chuẩn nghèo của thế giới và Việt Nam, đồng thời cũng xác định phương pháp đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều, làm căn cứ cho việc đo lường chuẩn nghèo tại TP HCM và Quận 5, từ đó làm cơ sở cho tác giả đi sâu phân tích thực trạng nghèo đa chiều và đưa
ra những giải pháp nhằm giảm nghèo đa chiều, bền vững trên địa bàn Quận
Ngoài ra, trong chương 1 tác giả cũng đã làm rõ tư tưởng của Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, Nhà nước cũng như quan điểm của Đảng bộ và Chính quyền thành phố về giảm nghèo bền vững; đồng thời tác giả cũng đã trình bày mô hình giảm nghèo tiêu biểu tại Quận 6, TP.HCM; địa phương có những nét đặc thù tương
tự quận 5, từ đó làm cơ sở cho việc nghiên cứu, đề xuất chính sách giảm nghèo đa chiều, bền vững trên địa bàn Quận 5 Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 38CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIẢM NGHÈO TRÊN ĐỊA BÀN
QUẬN 5 TP HCM GIAI ĐOẠN 1992 – 2015
2.1 Tổng quan về Quận 5 và tình hình xoá đói, giảm nghèo trên địa bàn Quận
2.1.1 Tổng quan về Quận 5
Quận 5 là quận trung tâm của thành phố, diện tích đất hẹp 4,27 km2, mật độ dân số cao với trên 191.000 người Quận có 15 phường, 99 khu phố và 825 tổ dân phố, có 41.135 hộ gia đình, trong đó có 4.401 hộ có sổ tạm trú KT3 Kinh tế của quận được xác định chủ yếu là phát triển theo hướng thương mại, dịch vụ, xuất nhập khẩu
và sản xuất tiểu thủ công nghiệp
Trên địa bàn quận 5, tỷ lệ người Hoa chiếm 35%, đại bộ phận là thành phần lao động, có tinh thần đoàn kết tương thân tương ái, cần cù siêng năng, chịu khó làm
ăn, biết thích nghi nhanh với hoàn cảnh cuộc sống, có sở trường thế mạnh về kinh doanh mua bán, mạnh về tay nghề truyền thống gia đình, sản xuất tiểu thủ công nghiệp, nhà hàng ăn uống, thuốc Đông y
2.1.2 Tổng quan tình hình xoá đói, giảm nghèo trên địa bàn Quận 5
Trước năm 1992, số hộ lao động nghèo trên địa bàn quận là 3.974 hộ, chiếm
tỷ lệ 9.9% so với tổng số hộ dân toàn quận (thời điểm đó là 40.203 hộ) [1] Các hộ nghèo sống chủ yếu bằng nghề mua gánh bán bưng, không có việc làm ổn định, thiếu công cụ, phương tiện làm ăn, rủi ro trong cuộc sống, gia đình đông con, bệnh tật kéo dài, có trường hợp vướng vào tệ nạn xã hội, có không ít trường hợp hộ nghèo do nhu cầu cuộc sống đã đi vay ngoài nặng lãi, dẫn đến tình trạng nghèo khó càng thêm túng quẫn Đây là những vấn đề bức xúc mà Đảng bộ, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các ban ngành đoàn thể quận hết sức quan tâm, đã có nhiều kế hoạch tổ chức chăm lo cho các hộ nghèo khó khăn
Thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo giai đoạn 1 (1992 – 2003): quận 5
đã đưa 3.974 hộ nghèo có mức thu nhập dưới 3 triệu đồng/ người/năm vượt chuẩn,
hạ tỷ lệ hộ nghèo từ 9,9% còn 0% vào cuối năm 2003 Năm 2004, triển khai thực
Trang 39hiện Chương trình mục tiêu xoá đói giảm nghèo giai đoạn 2 (2004 – 2010) theo tiêu chí mới của Thành phố, qua khảo sát, quận 5 có tổng số 1.554 hộ nghèo thu nhập
bình quân dưới 6 triệu đồng/người/năm, chiếm tỷ lệ 3,51% so với tổng số hộ dân của
quận, với 7.767 nhân khẩu, trong đó có 548 hộ nghèo là người Hoa Có 813 hộ mức thu nhập dưới 4 triệu đồng/người/năm, chiếm tỷ lệ 52,32%; 741 hộ thu nhập từ 4 đến dưới 6 triệu đồng/người/năm; 3.834 người trong độ tuổi lao động; 2.783 người có việc làm ổn định: sản xuất kinh doanh, lao động phổ thông; 598 người có việc làm không ổn định: chạy xe ôm, buôn bán nhỏ, lao động theo thời vụ; 453 người không
có việc làm, tỷ lệ 9,08% có 135 người già yếu bệnh tật; 1.980 trẻ em từ 6 – 18 tuổi, đang đi học 1.535 em, nghỉ học 372 em [2] Về điều kiện sống, một bộ phận lao động nghèo nhà ở chật hẹp hoặc được sử dụng làm nơi sản xuất tiểu thủ công nghiệp
Căn cứ chuẩn nghèo giai đoạn 3 (2009 – 2013) của Thành phố và Hướng dẫn
số 02/HD-XĐGN-VL ngày 30 tháng 10 năm 2008 của Ban Chỉ đạo Xóa đói giảm nghèo và Việc làm Thành phố về việc hướng dẫn rà soát lập danh sách hộ nghèo thành phố theo chuẩn nghèo giai đoạn 3 (2009 – 2013), Quận đã khảo sát và đưa vào chương trình 1.659 hộ nghèo (tỷ lệ 4%) với 7.533 nhân khẩu có mức thu nhập bình
quân từ 12 triệu đồng/người/năm trở xuống Trong đó, có 1.169 hộ vừa vượt chuẩn
nghèo giai đoạn 2 và 490 hộ nghèo mới phát sinh [3]
Giai đoạn 4 (2014 – 2015): Qua khảo sát đầu giai đoạn, quận 5 có 90 hộ nghèo (tỷ lệ 0,21% trên tổng số hộ dân thời điểm 31/12/2013 là 42.040 hộ) với 310 nhân khẩu và 228 hộ cận nghèo (tỷ lệ 0,54%) với 906 nhân khẩu Trong đó, có 304 hộ giai đoạn 3 chuyển sang và 14 hộ cận nghèo mới phát sinh [4]
Bảng 2.1 So sánh số hộ nghèo và tỷ lệ hộ nghèo của thành phố và Quận 5
giai đoạn 1992 - 2015
Số hộ Giai đoạn 1
(1992-2003)
Giai đoạn 2 (2004-2008)
Giai đoạn 3 (2009-2013)
Giai đoạn 4 (2014-2015)
Tổng hộ nghèo TP 121.722 hộ 89.090 hộ 152.328 hộ 83.031 hộ
Tỷ lệ hộ nghèo TP/
tổng hộ dân TP 17% 7,72% 8,4% 4,23%
Trang 402.2.1 Công tác triển khai thực hiện các chính sách giảm nghèo
Giai đoạn (2009 -2013), Quận ủy Quận 5 đã ban hành Nghị quyết chỉ đạo đến các cấp ủy Đảng và Ủy ban nhân dân Quận đã ban hành Đề án số 39/ĐA-UBND ngày 12 tháng 5 năm 2009 về Chương trình mục tiêu “Giảm hộ nghèo, tăng hộ khá giai đoạn 2009 – 2015”; Chương trình số 82/Ctr-UBND ngày 21 tháng 12 năm 2010
về Chương trình “Giảm nghèo, tăng hộ khá giai đoạn 2011 – 2015”
Giai đoạn (2014 – 2015), Ủy ban nhân dân Quận 5 đã ban hành Chương trình
số 74/CTr-UBND ngày 29 tháng 5 năm 2014 về thực hiện mục tiêu “Giảm nghèo, tăng hộ khá giai đoạn 2014 – 2015” và Kế hoạch 78/KH-UBND ngày 09 tháng 6 năm
2014 về thực hiện Chương trình “Giảm nghèo - tăng hộ khá” với những giải pháp thiết thực, sát với nhu cầu cần trợ giúp của người nghèo
Ủy ban nhân dân Quận 5 đã chỉ đạo 15 phường xây dựng kế hoạch thực hiện điều tra khảo sát, phân loại nắm chắc mức sống, điều kiện sống, lao động việc làm của hộ nghèo, hộ cận nghèo để có biện pháp hỗ trợ cụ thể, thiết thực, trong đó, tập trung giải quyết việc làm cho số lao động chưa có việc làm, mở rộng các hình thức
hỗ trợ vốn, giới thiệu việc làm, dạy nghề cho người lao động và hộ nghèo, đặc biệt là bảo trợ thường xuyên hàng tháng cho các hộ có hoàn cảnh khó khăn và hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, không có điều kiện để thoát nghèo
Bên cạnh đó, Ban chỉ đạo Quận 5 duy trì tổ chức họp giao ban định kỳ hàng tháng giữa Ban Giảm nghèo tăng hộ khá Quận và Ủy ban nhân dân 15 phường, nhằm