Để phát triển nền kinh tế, giữ vững sự ổn định chính trị xã hội, đảm bảo QP, AN của một quốc gia, đòi hỏi cần phải phát huy mọi yếu tố nội lực và ngoại lực. Trong đó, vấn đề đầu tư phát triển công nghiệp là một nhân tố quan trọng cho sự ổn định phát triển bền vững của đất nước. Lịch sử phát triển của nền kinh tế thế giới cũng như từng quốc gia đã chứng minh cho chúng ta thấy được vị trí, vai trò to lớn của công nghiệp đối với sự phát triển của xã hội, nó đã tạo ra ng
Trang 1“Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo phát triển khu, cụm công nghiệp
cả nước và của từng địa phương Mặt khác, K,CCN là nơi thu hút vốn đầu tư nước ngoài và đầu tư trong nước nhằm thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế Bên cạnh
đó K,CCN còn là nơi thu hút và tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động, góp phần giải quyết một số vấn đề KT - XH khác, tạo điều kiện cho chúng ta tiếp cận với kỹ thuật và công nghệ hiện đại của các nước tiên tiến thông qua đó chúng ta học hỏi cách quản lý khoa học và nâng cao tay nghề của đội ngũ công nhân
Hưng Yên là một Tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng, có vị trí quan trọng trong phát triển KT - XH và củng cố QP, AN; nằm trong vùng ảnh hưởng trực tiếp của vùng động lực tăng trưởng kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh Những năm qua, thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển KT -
XH, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Hưng Yên đã có nhiều chủ trương, giải pháp và hành động cụ thể để phát triển mạnh các ngành kinh tế Trong đó, tập trung đầu tư
Trang 2phát triển mạnh các K,CCN trên cơ sở khai thác và phát huy tiềm năng, lợi thế của từng địa phương trong Tỉnh Chính những chủ trương đúng đắn trong lãnh đạo phát triển K,CCN đã trở thành động lực to lớn cho sự phát triển KT - XH của tỉnh Hưng Yên trong những năm qua, góp phần nâng cao đời sống của nhân dân trong tỉnh, đưa Hưng Yên thoát khỏi tình trạng Tỉnh nghèo, kém phát triển.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, việc phát triển K,CCN của tỉnh Hưng Yên còn bộc lộ một số hạn chế yếu kém, chưa ngang tầm với yêu cầu, tiềm năng và thế mạnh của Tỉnh Vì vậy nghiên cứu quá trình Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo phát triển K,CCN, đánh giá kết quả, rút ra những kinh nghiệm, từ đó đề xuất những chủ trương, biện pháp cụ thể
để tiếp tục phát triển K,CCN không chỉ là một yêu cầu cơ bản mà còn là vấn
đề cấp bách đặt ra đối với Đảng bộ và nhân dân tỉnh Hưng Yên hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Nhóm các công trình nghiên cứu những vấn đề chung về phát triển K,CCN ở Việt Nam
Viện Kinh tế học (1994), Kinh nghiệm thế giới về phát triển khu công
nghiệp, khu chế xuất và đặc khu kinh tế; Đề tài khoa học cấp Nhà nước của
Bộ Xây dựng, ký hiệu KX 11-13 (1996), Cơ sở hình thành các khu công nghiệp tập trung ở Việt Nam; Trần Trọng Hanh (1998), Quy hoạch quản
lý và phát triển các khu công nghiệp ở Việt Nam, Nxb Xây dựng, Hà Nội; Ngô Thế Bắc (2000), “Khu chế xuất, khu công nghiệp ở Việt Nam hiện nay”,
Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, (5), tr.30-32; Đề tài cấp Bộ của Bộ Kế hoạch và
nghiệp, khu chế xuất ở Việt Nam; Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2004), “Phát triển khu công nghiệp và khu chế xuất ở Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế”, Kỷ yếu hội thảo; Nguyễn Chơn Chung, Trương Giang Long
Trang 3(2004), Phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Trương Thị Minh Sâm (2004), Các giải pháp nhằm nâng cao vai trò và hiệu lực quản
lý Nhà nước vể bảo vệ môi trường ở các khu công nghiệp, khu chế xuất,
Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội; Vũ Anh Tuấn (2004), “Phát triển khu công nghiệp, khu chế xuất, những vấn đề đặt ra”, Tạp chí Phát triển kinh tế, (2); Nguyễn Ngọc Dũng (2005) “Một số vấn đề xã hội trong việc xây dựng và phảt triển các khu công nghiệp ở Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế và dự báo,
(383), tr.33- 35; Nguyễn Hữu Dũng (2008), “Phát triển khu công nghiệp với vấn đề lao động việc làm ở Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản, (149), tr.19-22; Nguyễn Văn Hùng (2009), Một số vấn đề về đổi mới công tác quy hoạch và phát triển khu công nghiệp gắn với bảo vệ môi trường ở nước ta”, Tạp chí Khu công nghiệp (135), tr.37-39; Đỗ Đức Quân (2010), Một số giải pháp nhằm phát triển bền vững nông thôn vùng đồng bằng Bắc Bộ trong quá trình xây dựng, phát triển các khu công nghiệp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
vững các khu công nghiệp Việt Nam” Tạp chí Phát triển kinh tế,
(77), tr.10-13.
* Nhóm các công trình nghiên cứu về phát triển K,CCN ở các địa phương
Võ Văn Một (2004), Tổng kết quá trình xây dựng phát triển các khu
công nghiệp và thu hút đầu tư trên địa bàn tỉnh Đồng Nai (1991- 2004), Nxb
Tổng hợp, Đồng Nai; Phạm Văn Thanh (2005), Một số giải pháp phát triển
khu công nghiệp tập trung tại tỉnh Đồng Nai đến năm 2010, Luận án tiến sĩ
Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội; Phạm Đắc Đương (2006),
Tác động của khu công nghiệp tập trung đối với củng cố quốc phòng trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay, Luận văn cao học Kinh tế, Học viện Chính
Trang 4trị quân sự; Nguyên Khắc Thanh (2007), Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lãnh đạo
xây dựng khu công nghiệp trong những năm đổi mới từ năm 1986 đến năm
2005, Luận án tiến sĩ Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị quân sự; Nguyễn Quốc Nghi (2009), “Nhu cầu nhà ở của công nhân tại các khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Cần Thơ, thực trạng và giải pháp", Tạp chí
Phát triển kinh tế (192) tr.47- 50; Nguyễn Ngọc Điệp (2009), “Một số giải
pháp phát triển các khu công nghiệp ở tỉnh Hưng Yên trong điều kiện
hội nhập kinh tế quốc tế ”, Tạp chí Kinh tế và dự báo (11) tr.35-37; Đinh Phi Hổ (2010), “Các yếu tố tác động đến sự hài lòng của cộng đồng dân cư đối với sự phát triển các khu công nghiệp - trường hợp nghiên cứu điển hình ở
tỉnh Bến Tre”, Tạp chí Phát triển kinh tế, (7), tr.2-9; Trần Văn Liều (2009),
“Các khu công nghiệp tỉnh Bình Dương vững bước trên con đường phát
triển", Tạp chí Kinh tế và dự báo, (17), tr.37-39; Nguyễn Thị Thanh Huyền
(2012), Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo phát triển công nghiệp từ năm
2000 đến năm 2010, Luận văn thạc sĩ Lịch sử Đảng, Trung tâm đào tạo,
bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị, Đại học Quốc gia Hà Nội; Phạm Thị
Hồng (2011), Vai trò của Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi đối với quá trình hình
thành và phát triển khu công nghiệp Dung Quất 1996-2006, Luận văn Thạc sĩ
Lịch sử Đảng, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn; Đỗ Văn Trịnh
(2012), Phát triển khu, cụm công nghiệp tỉnh Thái Bình hiện nay, Luận văn cao học Kinh tể chính trị, Học viện Chính trị; Nguyễn Duy Diễn (2012), Một
số giải pháp thu hút đầu tư vào khu kinh tế Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi,
Luận văn Kinh tế phát triển, Đại học Đà Nẵng
* Nhóm những công trình nghiên cứu về phát triển công nghiệp và K,CCN ở tỉnh Hưng Yên
Bùi Thế Cử (2016) Tác động của phát triển các khu công nghiệp đến
nông thôn qua nghiên cứu thực tiễn tại tỉnh Hưng Yên, Luận án tiến sĩ
chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, Đại học Kinh tế Quốc dân Luận án đã
Trang 5xem xét sự tác động qua lại của phát triển KCN đến chính sách phát triển nông thôn nhằm làm rõ sự thay đổi của chính sách do tác động của phát triển các KCN và ngược lại Đồng thời, nghiên cứu sâu kinh nghiệm phát triển KCN của một số nước và một số địa phương ở nước ta, từ đó khái quát bài học bổ ích về phát huy những tác động qua lại tích cực và hạn chế những tác động qua lại tiêu cực giữa phát triển KCN với phát triển KT - XH nông thôn
và giữa phát triển KCN với chính sách phát triển nông thôn có thể áp dụng
trong thực tiễn phát triển KCN ở nước ta Trần Tiến Dũng (2007) Tác động
của các khu công nghiệp đến sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Hưng Yên,
Luận văn thạc sĩ Kinh tế Chính trị, Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng giảng viên
lý luận chính trị, Đại học Quốc gia Hà Nội Đề tài đã hệ thống hóa một số vấn
đề lý luận về KCN và bước đầu nghiên cứu kinh nghiệm thực tiễn trong nước
về việc hình thành, phát triển các KCN; phân tích những tác động chủ yếu của KCN đến sự phát triển KT - XH ở Hưng Yên giai đoạn 1997 - 2005; đề xuất một số định hướng và giải pháp sửa đổi, hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển của Tỉnh để quản lý các KCN theo hướng phát triển bền vững Nguyễn
Hữu Thắng (2012) Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo phát triển công
nghiệp từ năm 2001 đến năm 2010, Luận văn thạc sĩ Lịch sử Đảng, Học
viện Chính trị Đề tài đã trình bày về vai trò của Đảng bộ Tỉnh trong quá trình lãnh đạo phát triển công nghiệp nói chung, có đề cập khái quát tới việc phát triển K,CCN, cũng như đáng giá thực trạng đề ra giải pháp thu hút đầu tư cho các K,CCN của tỉnh Hưng Yên nói riêng Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về K,CCN ở tỉnh Hưng Yên chưa nhiều, đồng thời chưa tập trung làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ Tỉnh đối với phát triển K,CCN từ khi tách Tỉnh đến nay Công trình này là tài liệu có giá trị để tác giả tiếp cận, chắt lọc thông tin, số liệu phục vụ cho quá trình nghiên cứu đề tài về Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo phát triển K,CCN từ năm 2005 đến năm 2015
Chương 1
CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH HƯNG YÊN
Trang 6PHÁT TRIỂN KHU, CỤM CÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2010
1.1 Những yếu tố tác động đến phát triển khu, cụm công nghiệp ở tỉnh Hưng Yên (2005 - 2010)
1.1.1 Vị trí, vai trò của khu, cụm công nghiệp đối với phát triển kinh
tế - xã hội của tỉnh Hưng Yên
* Quan niệm về KCN và CCN
Theo Nghị định của Chính phủ số 29/2008/NĐ-CP ngày 14/03/2008 quy định
về KCN, khu chế xuất và khu kinh tế thì khái niệm về KCN được hiểu như sau:
Khu công nghiệp: là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực
hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định của Chính phủ
Khu chế xuất: là KCN chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch
vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục áp dụng đối với KCN theo quy định của Chính phủ
Khu công nghệ cao: là khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp kỹ
thuật cao và các đơn vị hoạt động phục vụ cho phát triển công nghệ cao bao gồm nghiên cứu triển khai, khoa học - công nghệ, đào tạo và các dịch vụ có liên quan, có ranh giới xác định
Như vậy, theo Nghị định này, cả KCN, khu chế xuất và khu công nghệ cao đều được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục áp dụng đối với KCN quy định tại Nghị định này và được gọi chung là KCN
Ngày 19/8/2009 Thủ tướng đã ban hành Quyết định số TTg về việc ban hành Quy chế thành lập và quản lý CCN thống nhất trên cả nước Theo Quy chế này, CCN được hiểu như sau:
105/2009/QĐ-Cụm công nghiệp: là khu vực tập trung các doanh nghiệp, cơ sở sản
xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, cơ sở dịch vụ phục vụ sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp; có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; được đầu tư xây dựng chủ yếu nhằm di dời, sắp xếp, thu hút các cơ
Trang 7sở sản xuất, các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các cá nhân, hộ gia đình ở địa phương vào đầu tư sản xuất, kinh doanh; do UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định thành lập.
Quan niệm về phát triển K,CCN của tỉnh Hưng Yên
Phát triển K,CCN của tỉnh Hưng Yên là tổng thể các biện pháp, cách thức mà Đảng bộ, chính quyền, nhân dân, các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế trong Tỉnh thực hiện nhằm lấp đầy, mở rộng quy mô, đầu tư về chiều sâu các K,CCN của Tỉnh, làm cho các K,CCN ngày càng có vị trí quan trọng trong sự phát triển KT - XH, QP, AN của Tỉnh
* Vị trí, vai trò của K,CCN đối với sự phát triển của KT - XH của tỉnh Hưng Yên
Thứ nhất, K,CCN góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo đúng định hướng phát triển KT - XH của Tỉnh
Là một tỉnh thuần nông tiến hành CNH, HĐH từ điểm xuất phát tương đối thấp, nền kinh tế của Tỉnh có tỷ trọng ngành nông nghiệp lớn Do vậy, phát triển K,CCN sẽ góp phần làm chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp, làm tăng tỷ trọng của các ngành công nghiệp, dịch vụ và làm giảm tỷ trọng nông nghiệp của Tỉnh Các K,CCN phát triển sẽ đóng vai trò là “đầu tàu” cho sự phát triển ngành công nghiệp, làm tăng khả năng cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường trong và ngoài nước, đẩy nhanh tốc độ và kim ngạch xuất khẩu, tăng nguồn thu ngoại tệ cho doanh nghiệp, nhằm mở rộng sản xuất, đổi mới trang thiết bị, tích lũy kinh nghiệm trong quản lý, điều hành sản xuất kinh doanh, làm cho hiệu quả sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp ngày càng cao
Thứ hai, các K,CCN góp phần giải quyết việc làm cho một bộ phận lớn người lao động
Phát triển K,CCN là con đường đúng đắn và hiệu quả để phát triển công nghiệp theo hướng hiện đại nhằm phát huy tối đa tiềm năng, thế mạnh của Tỉnh, tạo ra sản phẩm có tính cạnh tranh mạnh, hàm lượng công nghệ cao
và có đóng góp lớn vào ngân sách của Tỉnh Đặc điểm nổi bật của K,CCN là thu hút rất nhiều lao động, do vậy sẽ tạo ra nhiều việc làm cho người lao
Trang 8động, làm giảm tỷ lệ thất nghiệp Đồng thời tham gia tích cực vào quá trình phân công lao động và làm giảm các tiêu cực xã hội Thực tiễn công tác lãnh đạo phát triển K,CCN của tỉnh Hưng Yên đã cho thấy, khi các K,CCN bắt đầu vào hoạt động (2003) mới chỉ giải quyết việc làm cho 2.300 lao động thì đến năm 2015, các K,CCN trong Tỉnh đã giải quyết việc làm cho 45.694 người, gấp 1,4 lần so với năm 2010, chiếm 24,20% tổng số lao động công nghiệp toàn Tỉnh, trong đó chủ yếu là lao động địa phương [101, tr.2] Việc thu hút nhiều lao động làm việc tại các K,CCN cho thấy hiệu quả xã hội đem lại từ các K,CCN của Tỉnh là rất lớn
Thứ ba, phát triển K,CCN tạo ra các ngành công nghiệp mũi nhọn có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường
Để nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh thì phải hình thành và phát triển được các ngành công nghiệp, đặc biệt là các ngành mũi nhọn có hàm lượng công nghệ cao như công nghiệp cơ khí chế tạo, luyện kim, thiết bị điện, điện tử, tin học Các ngành công nghiệp mũi nhọn này sẽ tạo ra các sản phẩm hàng hóa
có giá trị cao trên thị trường K,CCN chính là nơi thuận lợi nhất để các doanh nghiệp công nghiệp thực hiện quá trình sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao nhất, có điều kiện khai thác lợi thế và phát huy hiệu quả các yếu tố đầu vào của sản xuất như vốn, công nghệ, lao động, đồng thời thúc đẩy quá trình nghiên cứu
và ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ mới Từ đó, tạo điều kiện nâng cao năng suất, giảm thiểu các chi phí giúp cho các doanh nghiệp nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường, góp phần gia tăng giá trị kim ngạch xuất khẩu của Tỉnh, đưa nền kinh tế tỉnh Hưng Yên tham gia hội nhập vào nền kinh tế quốc tế thông qua trao đổi thương mại và thu hút đầu tư
Thứ tư, Các K,CCN thu hút lượng vốn lớn từ nhiều nguồn để phát triển KT - XH
Việc phát triển K,CCN sẽ tạo môi trường thuận lợi thu hút các doanh nghiệp công nghiệp cả trong nước và ngoài nước vào đầu tư sản xuất kinh doanh Chính vì vậy, các K,CCN sẽ là điểm đến hấp dẫn của các dòng vốn từ nhiều thành phần kinh tế trong tỉnh và ngoài tỉnh, đặc biệt là khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Khi các doanh nghiệp trong K,CCN sử dụng tốt nguồn vốn sẽ trực
Trang 9tiếp nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh, từ đó giải quyết tốt việc làm cho người lao động, tham gia đóng góp tích cực vào tổ chức đời sống xã hội; thúc đẩy phát triển hạ tầng xã hội như trường học, bệnh viện, nhà ở, dịch vụ, ngân hàng…, góp phần không nhỏ vào sự phát triển KT - XH của Tỉnh
1.1.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Hưng Yên tác động đến phát triển khu, cụm công nghiệp
* Vị trí địa lý
Hưng Yên là một tỉnh có vị trí địa lý tương đối thuận lợi, đặc biệt vừa
là tỉnh thuộc Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc và là một trong 8 tỉnh thuộc Vùng kinh tế Hà Nội Tỉnh có tọa độ địa lý từ 2006’ đến 21000’ vĩ độ Bắc và
từ 105085’ đến 106003’ Kinh Đông Hưng Yên nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, là một trong 7 tỉnh, thành thuộc Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, tiếp giáp với các vùng sau: phía Bắc giáp tỉnh Bắc Ninh, phía Tây và Tây Bắc giáp Thủ đô Hà Nội, phía Đông giáp tỉnh Hải Dương, phía Nam giáp tỉnh Thái Bình, phía Tây Nam giáp tỉnh Hà Nam
Hưng Yên có 10 đơn vị hành chính gồm: thành phố Hưng Yên và 9 huyện
đó là: Phù Cừ, Tiên Lữ, Kim Động, Ân Thi, Khoái Châu, Mỹ Hào, Yên Mỹ, Văn Giang, Văn Lâm Tổng diện tích tự nhiên khoảng 923.1 km2 [phụ lục 1]
Dân số toàn Tỉnh năm 2011 có 1.150.000 người, mật độ dân số 1.242 người/km2 Tốc độ tăng dân số năm 2011 khoảng 1,1% so với năm 2010 Hưng Yên là tỉnh có mật độ dân số đông Dân số thành thị chiếm 11% tổng dân số của Tỉnh, dân số nông thôn chiếm 89%
* Tiềm năng và các nguồn lực cho phát triển công nghiệp:
Tài nguyên đất
Theo số liệu thống kê, kiểm kê đất 1/10/2005, tổng diện tích đất tự nhiên là 92.309,5 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp là 60.993,9 ha chiếm 66,08% tổng diện tích đất tự nhiên của Tỉnh; đất chuyên dùng là 15.273,9 ha chiếm 16,55% tổng diện tích đất tự nhiên; đất ở là 9.138,3 ha chiếm 9,9%
Trang 10tổng diện tích đất tự nhiên, đất chưa sử dụng và sông suối chiếm 7,47% Diện tích đất phi nông nghiệp năm 2010 tăng lên 36.824, 32 ha, chiếm 39,89% tổng diện tích đất tự nhiên, trong đó: diện tích đất chuyên dùng là 21.040,96
ha, chiếm 22,79% tổng diện tích đất tự nhiên của Tỉnh; riêng đất dành cho KCN năm 2005 đạt 2.034,24 ha, chiếm 2,2%, năm 2010 đạt 3.350,37 ha, chiếm 3,63% và đến năm 2015 đạt 3.658 ha, chiếm 3,97% tổng diện tích đất
tự nhiên của Tỉnh [98, tr.1] Diện tích đất nông nghiệp phong phú, nhưng đất xây dựng công nghiệp và đô thị còn hạn chế Vì vậy, trong quá trình phát triển công nghiệp không tránh khỏi việc sử dụng thêm phần đất nông nghiệp
Nguồn nước và thủy văn:
Hưng Yên có mạng lưới sông ngòi khá dày đặc với 2 hệ thống sông lớn chảy qua là sông Hồng, sông Luộc Bên cạnh đó, Hưng Yên còn có hệ thống sông nội địa như: sông Cửu An, sông Kẻ Sặt, sông Hoan Ái, sông Nghĩa Trụ, sông Điện Biên, sông Kim Sơn, là điều kiện thuận lợi không chỉ cho sản xuất nông nghiệp mà còn cho sự phát triển công nghiệp, sinh hoạt và giao thông đường thuỷ Nguồn nước ngầm của Tỉnh khá phong phú và dồi dào có trữ lượng lớn, ước tính khoảng 160 triệu m3 Các mỏ nước ngầm tốt nhất đều nằm ở 2 huyện Văn Lâm và Mỹ Hào có trữ lượng khoảng 60 triệu m3, có thể khai thác phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt và phát triển công nghiệp
Tài nguyên khoáng sản:
Tỉnh Hưng Yên rất hạn chế về nguồn khoáng sản, khoáng sản chủ yếu chỉ là nguồn cát đen và đất sét do sông Hồng và sông Luộc có lượng phù sa cao chảy qua, nên dọc hai con sông này hình thành nhiều mỏ cát với trữ lượng lớn Theo số liệu của Liên hiệp khảo sát Bộ Xây dựng cho thấy, trữ lượng cát của các mỏ cát lớn ven sông khoảng 6,35 triệu m3 cát xây dựng và khoảng 3,65 triệu m3 cát san nền Nguồn đất sét ở Hưng Yên khá lớn, gần như toàn bộ diện tích của Tỉnh đều có mỏ đất sét, trong đó có các mỏ lớn như: Đồng Than, Nghĩa Giang, Tân Việt… Trữ lượng đất sét cấp B ở khu vực có thể khai thác sản xuất vật liệu xây dựng ước đạt khoảng 67,7 triệu m3 Chất lượng đất sét ở
Trang 11các mỏ được đánh giá tốt có thể dùng cho sản xuất vật liệu xây dựng như: gạch, ngói, gốm dân dụng… Ngoài ra, Hưng Yên còn có nguồn than nâu (thuộc bể than nâu vùng đồng bằng sông Hồng) có trữ lượng rất lớn (hơn 30
tỷ tấn) hiện chưa được khai thác Trong bối cảnh các nguồn tài nguyên năng lượng sơ cấp đang bị cạn kiệt dần, thì nguồn tài nguyên này là vô cùng quý giá, góp phần định hướng trong tương lai về phát triển công nghiệp khai thác khoáng sản năng lượng và sản xuất nhiệt điện
Nguồn nhân lực:
Tổng số lao động trong độ tuổi hiện có của Tỉnh năm 2005 là 580.910 người, chiếm 51,2 dân số của Tỉnh Trong đó lao động công nghiệp chiếm 14% lực lượng lao động và chiếm 8% dân số của Tỉnh Quan sát số liệu phân bố lực lượng lao động theo các ngành kinh tế từ năm 2000 đến năm 2005 cho thấy có sự chuyển dịch mạnh về cơ cấu lao động theo các ngành kinh tế Lực lượng lao động ngành nông nghiệp giảm từ 448.395 người năm 2000 xuống còn 412.090 người năm 2005, tương ứng tỷ lệ lao động trong nông nghiệp giảm mạnh từ 82,57% năm 2000 xuống còn 70,94% năm 2005 Lực lượng lao động trong công nghiệp tăng mạnh từ 41.777 người năm 2000 lên 81.467 người năm 2005, làm tăng tỷ lệ lao động công nghiệp từ 7,69% năm 2000 lên 14,02% năm 2005 Như vậy, Hưng Yên là tỉnh có tiềm năng về phát triển đội ngũ lao động có trình độ, tạo điều kiện thuận lợi cho khả năng phát triển những ngành kỹ thuật cao trong sản xuất công nghiệp như nhóm ngành cơ khí chế tạo, sản xuất thiết bị điện, điện tử, tin học… tại các K,CCN trong toàn Tỉnh
* Về kết cấu hạ tầng đảm bảo phát triển các K,CCN trên địa bàn Tỉnh Giao thông vận tải
Đường bộ: Tỉnh có nhiều tuyến giao thông quan trọng chạy qua (cao tốc Hà Nội – Hải Phòng, quốc lộ 5, 38, 39, 39B), gần các sân bay (Gia Lâm, Nội Bài), gần các cảng biển (Hải Phòng, Cái Lân) Đến nay (2015) đã trải nhựa 100% đường tỉnh và cơ bản đường huyện; xây dựng được 1.600km đường giao thông nông thôn và 56 cầu [30, tr.17]
Trang 12Đường thủy: Hưng Yên là tỉnh thuộc châu thổ sông Hồng, vì vậy mạng lưới sông ngòi khá phát triển Trên địa bàn Tỉnh có 2 con sông lớn chảy qua
có tổng chiều dài 92km (sông Hồng: 64km và sông Luộc: 28km), các sông này có khả năng lưu thông cho các phương tiện sà lan có tải trọng 1.200-1.600 tấn, tàu thủy 400 - 600 tấn Còn lại là mạng lưới đường thủy ở các sông địa phương có tổng chiều dài 113km
Đây chính là điều kiện thuận lợi về mặt giao thông vận tải để Hưng Yên đón nhận và tận dụng sự phát triển chung của vùng động lực tăng trưởng kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh nhằm phát triển K,CCN
Hệ thống điện
Hưng Yên có mạng lưới cấp điện phát triển tương đối hoàn chỉnh theo quy hoạch trong hệ thống cấp điện miền Bắc; mật độ lưới điện của Tỉnh khá phát triển Thường xuyên xây dựng, cải tạo hệ thống đường dây, bảo đảm cơ bản đủ đáp ứng cho các nhu cầu sử dụng điện trong công nghiệp, nông nghiệp, đời sống và các nhu cầu khác trong Tỉnh Đến nay, Hưng Yên có 1 trạm biến áp 220 KVA và 3 trạm biến áp 110 KVA, công suất 218.000 KW đảm bảo cung cấp điện liên tục, ổn định và an toàn cho nhu cầu sử dụng điện của mọi thành phần kinh tế Điện năng thương phẩm bình quân đầu người năm 2015 đạt 2.162 kWh/người Đây chính là tiêu chí rất quan trọng về hạ tầng công nghiệp để Hưng Yên xây dựng và phát triển các K,CCN
Mạng lưới bưu chính viễn thông - công nghệ thông tin
Mạng lưới và dịch vụ bưu chính viễn thông của Hưng Yên đến năm 2010 đã chuyển mạnh theo hướng công nghệ thế hệ mới, phát triển các dịch vụ thông minh, đa chức năng Đường truyền internet tốc độ cao và mạng di động phủ sóng toàn Tỉnh có khả năng đáp ứng mọi nhu cầu sử dụng thông tin của các doanh nghiệp và nhân dân trong Tỉnh, là điều kiện thuận lợi để phát triển K,CCN
Quy hoạch sử dụng đất
Trang 13Hưng Yên đã quy hoạch 19 KCN với tổng diện tích 6.550 ha; trong đó,
có 13 KCN với tổng diện tích 3.535 ha đã được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận đưa vào quy hoạch KCN của cả nước, 9 KCN với diện tích 2.485 ha đã được phê duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng Tổng diện tích đất KCN chiếm 3,83% tổng diện tích đất tự nhiên toàn Tỉnh Đã hình thành một số CCN để thu hút và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhỏ đầu tư sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy phát triển công nghiệp của Tỉnh, nhất là ở các huyện phía Nam [72, tr.2]
Như vậy, tỉnh Hưng Yên có lợi thế không nhỏ để phát triển K,CCN, là địa phương có nhiều tiềm năng và thế mạnh thu hút dự án đầu tư trong và ngoài nước vào các K,CCN tập trung Những tiềm năng về tự nhiên, KT - XH
đã nêu chính là sự hội tụ điều kiện cần để Hưng Yên phát triển công nghiệp nói chung và phát triển K,CCN nói riêng Điều kiện đủ để phát triển K,CCN đạt được hiệu quả như mong muốn hoàn toàn phụ thuộc vào nhân tố con người, trong đó sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên luôn giữ vai trò mang tính quyết định
1.1.3 Chủ trương phát triển khu, cụm công nghiệp của Đảng
Phát triển K,CCN là nhân tố quyết định làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất, chuyển nền kinh tế từ sản xuất nông nghiệp truyền thống, tiểu nông sang phương thức mới sản xuất hiện đại Về mặt kinh tế, phát triển K,CCN làm thay đổi phương thức sản xuất và cơ cấu kinh tế sang một bước phát triển mới về chất,
đó là nền kinh tế dựa trên nền đại công nghiệp tập trung, trình độ cao Về mặt xã hội phát triển K,CCN góp phần chuyển một số vùng nông thôn thành đô thị
Quan điểm phát triển K,CCN được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001) Đảng Cộng sản Việt Nam, thể hiện trong Chiến lược phát triển KT - XH (2001 - 2010) đã xác định: “Quy hoạch phân bố hợp lý công nghiệp trên cả nước Phát triển có hiệu quả các khu công nghiệp, khu chế xuất, xây dựng một số khu công nghệ cao, hình thành các cụm công nghiệp lớn
và khu kinh tế mở” [33, tr.136]
Trang 14Triển khai thực hiện kế hoạch phát triển KT - XH 5 năm (2006 - 2010) cùng với việc “đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế tri thức tạo nền tảng để đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm năm 2020” [34, tr.186] Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng (4/2006) đã có những định hướng phát triển K,CCN: “Hoàn chỉnh quy hoạch phát triển các khu, cụm, điểm công nghiệp trên cả nước; hình thành các vùng công nghiệp trọng điểm; gắn việc phát triển sản xuất với bảo đảm nhà ở và các điều kiện sinh hoạt cho người lao động ” [34, tr.198] Chuyển các cơ sở công nghiệp trong nội thành, nội thị, gần khu đông dân cư không bảo đảm tiêu chuẩn môi trường vào các KCN tập trung hoặc các vùng ít dân cư Huy động các nguồn lực (nhà nước, doanh nghiệp, nhân dân, cộng đồng) để xoá nhà ở dột nát, nhà ở tạm bợ cho người nghèo; phát triển nhanh quỹ nhà để đáp ứng cơ bản nhu cầu nhà ở cho công chức, viên chức, người lao động, sinh viên, học sinh, nhất là công nhân các K,CCN.
Có thể khẳng định, quan điểm của Đảng là phát triển các K,CCN theo hướng nâng cao chất lượng; phát triển các K,CCN gắn với phát triển khu đô thị, khu dân cư và các dịch vụ khác Yêu cầu đối với các K,CCN là phải tạo ra
cơ sở vật chất kỹ thuật đáp ứng yêu cầu của các doanh nghiệp, mang hình ảnh tập trung nhất mô hình CNH, HĐH; K,CCN phải tập trung mật độ cao nhất lực lượng lao động lành nghề của đất nước, tiếp nhận trình độ quản lý tiên tiến từ các quốc gia khác nhau nhằm không ngừng nâng cao trình độ lực lượng lao động và quản lý kinh tế trong nước Đồng thời K,CCN phải thể hiện tập trung nhất vai trò quản lý vĩ mô, các quan điểm và định hướng chiến lược phát triển KT - XH của Quốc gia
Những chủ trương đúng đắn của Đảng và từ thực tiễn quá trình lãnh đạo, chỉ đạo phát triển K,CCN ngay từ khi tái lập Tỉnh chính là cơ sở để Đảng bộ
Trang 15tỉnh Hưng Yên đề ra phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp phát triển K,CCN của Tỉnh trong giai đoạn 2005 - 2015.
1.1.4 Thực trạng phát triển khu, cụm công nghiệp của tỉnh Hưng Yên trước năm 2005
Quy hoạch các KCN tập trung, CCN, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề và công bố rộng rãi cho nhân dân biết để cùng thực hiện, tham gia đóng góp đầu tư phát triển Từng bước giải quyết những vấn đề về môi trường, trước mắt các KCN, các làng nghề đang bị ô nhiễm nặng, có phương án di chuyển xa các khu dân cư
Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng ngoài hàng rào tại các KCN tập trung, CCN, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề để thu hút đầu tư Đối với các dự án đầu tư vào các huyện còn gặp nhiều khó khăn, công nghiệp tâp trung chưa phát triển được ưu đãi nhiều hơn
Sớm công khai giá thuế đất, quy hoạch chi tiết các K,CCN và hình thành Ban quản lý các dự án công nghiệp làm tiền đề cho Ban quản lý các KCN, khi được Chính phủ phê chuẩn KCN
Đa đạng hóa các hình thức đào tạo, bồi dưỡng, kết hợp với các trường đào tạo chuyên nghiệp, các trung tâm dạy nghề của Trung ương và địa phương Khuyến khích các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế trong và ngoài nước tham gia đào tạo cán bộ quản lý, đào tạo nghề
Trang 16Có qui định, cam kết giải quyết việc làm và điều tiết lao động đối với các dự án đầu tư phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, trong đó qui định rõ trách nhiệm đối với hộ dân có đất bị thu hồi, trách nhiệm và mối quan
hệ trong giải quyết việc làm và điều tiết lao động trên địa bàn giữa chủ đầu tư, các ngành, huyện và cơ sở, tạo điều kiện giải phóng mặt bằng nhanh để chủ doanh nghiệp triển khai thực hiện dự án có hiệu quả
Cải cách thủ tục hành chính vừa đảm bảo đúng pháp luật, vừa tạo điều kiện cho việc thành lập doanh nghiệp, cấp đăng ký kinh doanh, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giải phóng mặt bằng, thực hiện chính sách ưu đãi đầu tư [61, tr.7-8]
Thứ hai, Các K,CCN được thành lập đi vào hoạt động đã bước đầu có đóng góp nhất định vào sự phát triển KT - XH của Tỉnh
Từ chủ trương và giải pháp đúng đắn, kịp thời của Tỉnh ủy, Nghị quyết
đã sớm đi vào thực tiễn cuộc sống, trở thành quyết tâm của cả hệ thống chính trị toàn Tỉnh, tạo bước đột phá quan trọng đối với sự phát triển của ngành công nghiệp Tỉnh nói chung và sự phát triển của K,CCN nói riêng Kết quả đạt được trong kế hoạch 5 năm 2001 - 2005: 2 KCN đã đi vào hoạt động theo qui chế quản lý KCN là KCN Phố Nối A (390 ha) và KCN Phố Nối B (250 ha); 3 KCN được qui hoạch đang hoàn chỉnh thủ tục trình duyệt; 5 KCN phía Nam Tỉnh đang được qui hoạch và trình duyệt để phát huy hiệu quả sử dụng cầu Yên Lệnh và tuyến vành đai 5 của phát triển công nghiệp Thủ đô; 7 CCN làng nghề đã được phê duyệt trong số 10 cụm đã được qui hoạch Hiệu quả đóng góp của các K,CCN đối với sự phát triển KT - XH của Tỉnh tăng đáng kể, trong 5 năm từ 2001 đến 2005, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phát triển nhanh, bình quân hàng năm tăng 26,7%, có năm tăng trên 60% Công tác vận động và thu hút đầu tư được đẩy mạnh, có 250
dự án với tổng số vốn đạt trên 700 triệu USD (trong đó có 37 dự án đầu tư
Trang 17từ nguồn vốn nước ngoài), 98 dự án đi vào hoạt động với sản lượng chiếm 80% giá trị sản xuất công nghiệp hàng năm của Tỉnh, thu hút thêm 2,5 vạn lao động, chủ yếu là lao động địa phương [63, tr.2-3].
Nguyên nhân của những ưu điểm đó là:
Nguyên nhân khách quan: Tỉnh có nhiều tiềm năng và thế mạnh cả về điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội mà không phải địa phương nào cũng có, đặc biệt là Tỉnh thuộc Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và vùng động lực tăng trưởng kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, là điểm thu hút khá hấp dẫn đối với các nhà đầu tư
Nguyên nhân chủ quan: Đảng bộ, chính quyền, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế và nhân dân trong Tỉnh có sự đồng thuận cao về chủ trương, chính sách phát triển K,CCN, đã tạo được môi trường đầu tư tương đối hấp dẫn các doanh nghiệp đầu tư xây dựng, phát triển các K,CCN và đầu
tư vào sản xuất, kinh doanh trong các K,CCN trong Tỉnh
* Khuyết điểm
Mặc dù kết quả đã đạt được trong phát triển K,CCN là quan trọng, góp phần thúc đẩy tăng trưởng KT - XH nhưng vẫn còn chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của Tỉnh Những hạn chế yếu kém làm kìm hãm đến việc phát triển các K,CCN của Tỉnh nổi lên đó là:
Một là, cơ chế, chính sách còn thiếu và chưa tạo được động lực đủ
mạnh để các chủ đầu tư hăng hái đầu tư vào xây dựng hạ tầng các K,CCN
Hai là, tỷ lệ lấp đầy trong các K,CCN còn ở mức chậm do cơ sở hạ
tầng kỹ thuật K,CCN còn thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng yêu cầu cần thiết của việc sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp, nhất là những doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài
Ba là, công tác quy hoạch, đền bù giải phóng mặt bằng các KCN còn
chậm và lúng túng, công tác quản lý nhà nước về công nghiệp còn nhiều hạn chế, bất cập
Trang 18Bốn là, dự án đăng ký đầu tư vào các K,CCN khá nhiều nhưng dự án có
qui mô lớn, hàm lượng công nghệ cao còn ít, nhiều dự án triển khai chậm, hiệu quả KT - XH còn hạn chế, còn một số cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường
Nguyên nhân của những khuyết điểm đó là:
Nguyên nhân khách quan:
Thời kỳ từ năm 1997 đến năm 2005 mới tái lập Tỉnh, do khó khăn trong kêu gọi các nhà đầu tư xây dựng hạ tầng nên việc tiếp nhận, bố trí các
dự án đầu tư vào các KCN đều dựa trên cơ sở hạ tầng sẵn có, chưa có hạ tầng chung Cơ sở vật chất thiếu thốn, xuống cấp do nhiều năm không được quan tâm đầu tư; các đơn vị kinh tế phát triển nhỏ lẻ, manh mún; các nhà máy, xí nghiệp, nhất là các nhà máy có hàm lượng công nghệ cao còn ít Do vậy hiệu quả đóng góp của K,CCN vào tốc độ tăng trưởng GDP của Tỉnh còn hạn chế
Nguyên nhân chủ quan:
Thứ nhất, nhận thức và sự quan tâm chỉ đạo của cấp ủy Đảng ở một số
nơi còn hạn chế; công tác quản lý của chính quyền các cấp thiếu chặt chẽ và chưa kiên quyết
Thứ hai, cơ chế, chính sách khuyến khích, hỗ trợ cho các doanh nghiệp
đầu tư vào các K,CCN chậm được cụ thể hóa; việc cải cách thủ tục hành chính mặc dù đã được tiến hành nhưng kết quả vẫn còn nhiều hạn chế
Thứ ba, đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về K,CCN còn
yếu và thiếu, chủ yếu là kiêm nhiệm vừa làm vừa rút kinh nghiệm
Thứ tư, một số địa phương, cấp ủy, chính quyền chưa thấy hết được vai trò,
trách nhiệm của mình trong việc giải quyết những vướng mắc giữa chủ đầu tư với nhân dân địa phương, đặc biệt là vấn đề đền bù giải phóng mặt bằng các K,CCN
Những hạn chế yếu kém cũng như những nguyên nhân nêu trên đặt ra yêu cầu Đảng bộ Hưng Yên phải khẩn trương khắc phục để phát triển K,CCN nhanh và bền vững trong những năm tiếp theo
Trang 191.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên về phát triển khu, cụm công nghiệp (2005 - 2010)
Chủ trương phát triển K,CCN trong 5 năm (2005 - 2010) được thể hiện trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên Cụ thể như: Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2005 - 2010; Tỉnh uỷ khoá XVI đã ban hành Nghị quyết số 03 về phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp giai đoạn 2006 - 2010
1.2.1 Mục tiêu, phương hướng
* Mục tiêu, phương hướng chung
Mục tiêu chung
Tiếp tục đổi mới quản lý và cải cách thủ tục hành chính, hoàn thiện cơ chế trong việc thu hút đầu tư nước ngoài, tỉnh ngoài, khai thác tốt lợi thế, đẩy mạnh CNH, HĐH đạt mức tăng trưởng kinh tế cao và bền vững Phấn đấu đến năm 2010, Hưng Yên trở thành tỉnh khá trong cả nước, tạo cơ sở để trở thành tỉnh công nghiệp phát triển theo hướng hiện đại trước năm 2020 [29, tr.30]
Phương hướng
Xây dựng các KCN thực sự trở thành các trung tâm kinh tế - văn hóa,
có đóng góp quyết định vào sự tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng thu ngân sách, giải quyết lao động, tạo động lực thúc đẩy các ngành, vùng kinh tế khác phát triển nhanh, bền vững Gắn chặt qui hoạch phát triển CCN với phát triển thị trường, vùng nguyên liệu, giải quyết việc làm và bảo vệ môi trường Phát triển CCN phù hợp với qui mô theo từng giai đoạn, bảo đảm sự hài hòa cân đối giữa các khu vực kinh tế trong Tỉnh [63, tr.2-3]
* Mục tiêu cụ thể
Trên cơ sở mục tiêu chung và phương hướng về phát triển K,CCN trên địa bàn của Tỉnh trong 5 năm (2005 - 2010) Đảng bộ tỉnh Hưng Yên đã xác định những mục tiêu cụ thể cần đạt được như sau:
Quy hoạch và xây dựng 14 KCN, diện tích đất KCN toàn Tỉnh dự kiến 2.330 ha, cho thuê 1.445 ha Trong đó hoàn thiện 3 - 5 KCN tập trung, hoàn thiện
Trang 20hạ tầng các KCN làng nghề, đồng thời quy hoạch thêm một số CCN tại các huyện: Ân Thi, Khoái Châu, Phù Cừ, Tiên Lữ, Kim Động [63, tr.3].
Hoàn thành xây dựng và sử dụng cơ bản diện tích đất trong các KCN, làng nghề, phát triển thêm nhiều làng nghề mới Phấn đấu đến năm
2010, giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp tăng trung bình trên 13%/ năm, mỗi năm có 7-10 làng được công nhận đạt tiêu chuẩn làng nghề, xây dựng
và phát huy hiệu quả các CCN làng nghề Phát triển mới cơ sở sản xuất công nghiệp ở các huyện, hình thành một số CCN làng nghề nhằm phân công lại lao động trên địa bàn Trên cơ sở đó đảm bảo tốc độ tăng trưởng công nghiệp ổn định ở mức trên 20%/năm [63, tr.3]
1.2.2 Nhiệm vụ và giải pháp
Nghị quyết 03/NQ-TU ngày 13 tháng 7 năm 2006 đã xác định những nhiệm vụ giải pháp nhằm thực hiện hiệu quả các mục tiêu đã xác định đó là:
Thứ nhất, quy hoạch, xây dựng mới các K,CCN, mở rộng qui mô KCN hiện có
Hoàn chỉnh quy hoạch chi tiết xây dựng theo phê duyệt của Chính phủ đối với 3 KCN gồm: KCN Thăng Long II, KCN Minh Đức theo hướng bảo đảm bố trí diện tích đất công nghiệp mang tính khả thi; lập quy hoạch KCN Ngọc Long, KCN Tân Tạo và KCN LINKINGPARK trình Chính phủ phê duyệt Triển khai xây dựng giai đoạn 2 mở rộng đối với 2 KCN: KCN Phố Nối A và KCN dệt may Phố Nối
Tiếp tục quy hoạch xây dựng và phê duyệt các CCN - tiểu thủ công nghiệp
ở các huyện, thành phố Hưng Yên Hoàn thành xây dựng và sử dụng cơ bản diện tích đất trong các CCN, làng nghề, phát triển thêm nhiều làng nghề mới [63, tr.4]
Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển K,CCN
Tiếp tục nghiên cứu, ban hành các cơ chế chính sách đồng bộ, thông thoáng bảo đảm đúng quy định của pháp luật, đồng thời có những ưu đãi đủ sức hấp dẫn các nhà đầu tư như: Hoàn thiện cơ chế, chính sách của Tỉnh về khuyến khích, hỗ trợ, ưu đãi đầu tư sản xuất kinh doanh các ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, khuyến khích đầu tư vào các K,CCN Trong đó, chú ý ưu đãi các mặt về mức, thời hạn và phương
Trang 21thức miễn, giảm tiền thuê đất; kinh phí hỗ trợ xây dựng kết cấu hạ tầng, sử dụng lao động, bồi thường, giải phóng mặt bằng [63, tr.3].
Ban hành chính sách khuyến khích các doanh nghiệp của các thành phần kinh tế đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng các K,CCN, làng nghề Có chính sách thu hút lao động có trình độ quản lý và kỹ thuật cao để tham gia làm việc trong những nhà máy công nghiệp mới mà Hưng Yên chưa có nguồn lao động đáp ứng và những nghệ nhân có tay nghề cao đến truyền nghề để phát triển các làng nghề trong Tỉnh [63, tr.4].
Xác định rõ cơ chế quản lý các CCN, làng nghề, trong đó chú ý đến cơ chế quản lý đất đai, phân phối nguồn thu ngân sách từ các CCN theo hướng tạo điều kiện cho các địa phương có vốn để tiếp tục đầu tư nâng cao chất lượng hạ tầng CCN [63, tr.4]
Thứ ba, tăng cường thu hút vốn đầu tư phát triển các K,CCN, khuyến khích đầu tư vào các vùng, các lĩnh vực trọng điểm
Hoàn thiện cơ chế trong việc thu hút đầu tư nước ngoài, tỉnh ngoài đầu tư vào K,CCN của Tỉnh, ưu tiên các dự án lớn, dự án áp dụng công nghệ tiên tiến, dự án hiệu quả cao, đóng góp nhiều cho ngân sách, dự án chế biến nông sản thực phẩm sử dụng nguyên liệu địa phương, dự án sử dụng nhiều lao động tại chỗ [63, tr.3]
Tập trung đầu tư hoàn thiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật tại 4 KCN: KCN Phố Nối A, KCN Dệt may Phố Nối, KCN Thăng Long II và KCN Minh Đức để bảo đảm 100% diện tích đất khu công nghiệp nằm trong quy hoạch được cho thuê Đầu tư hạ tầng và thu hút đầu tư vào 4 KCN gồm: KCN Minh Quang, KCN Tân Tạo, KCN
LINKINGPARK và KCN Ngọc Long theo phương thức “cuốn chiếu” Trên cơ sở đánh giá quy mô, tính chất và
hiệu quả của các dự án để định hướng, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào các KCN của Tỉnh.
Đầu tư phát triển các CCN ở các huyện, thành phố Trước mắt, ưu tiên thu hút các dự án đầu tư vào các huyện phía Nam của Tỉnh như huyện Ân Thi, Khoái Châu, Kim Động, Phù Cừ, Tiên Lữ Quy hoạch và khuyến khích các địa phương hình thành và phát triển các CCN làng nghề mà sản phẩm đáp ứng được yêu cầu tiêu dùng và xuất khẩu [63, tr.3].
Thứ tư, phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn, các ngành nghề địa phương có lợi thế so sánh vào các K,CCN
Phát triển công nghiệp cơ khí, luyện kim, gia công kim loại, chế tạo máy, động cơ, sản xuất thiết bị điện, điện
tử, tin học, vật liệu xây dựng Phát triển hợp lý công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản, sản xuất dệt may, da giầy Đồng thời phát triển công nghiệp sản xuất và phân phối điện, nước bảo đảm nhu cầu phục vụ sản xuất cho các K,CCN và nhu cầu sinh hoạt của nhân dân
Trang 22Đẩy mạnh phát triển tiểu thủ công nghiệp, làng nghề ở thị trấn, thị tứ
và khu vực nông thôn Chú trọng phát triển các ngành nghề chế biến thuỷ sản, nông sản, lâm sản; sản xuất các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, sản phẩm mộc dân dụng và xuất khẩu, vật liệu xây dựng trong các CCN [63, tr.4]
1.3 Đảng bộ tỉnh Hưng Yên chỉ đạo phát triển khu, cụm công nghiệp (2005 - 2010)
1.3.1 Chỉ đạo về xây dựng, điều chỉnh bổ sung quy hoạch các khu, cụm công nghiệp
Chỉ đạo xây dựng quy hoạch các K,CCN
Trên cơ sở chủ trương của Đảng bộ Tỉnh về xây dựng quy hoạch mới các K,CCN Giai đoạn 2005 - 2010, UBND Tỉnh đã ban hành Quyết định 2032/QĐ-
UB, ngày 07 tháng 11 năm 2007 phê duyệt mạng lưới các KCN, CCN, trong đó:
Đối với KCN: Quy hoạch 8 KCN với tổng diện tích 1.337,37 ha, gồm: KCN Phố Nối A giai đoạn I (391,6 ha), KCN Dệt may Phố Nối giai đoạn I (25,17 ha), KCN Thăng Long II giai đoạn I (219,6 ha), KCN Minh Đức (200 ha), KCN Tân Tạo (197 ha), KCN LINKINGPARK (50 ha), KCN Ngọc Long (100 ha), KCN Minh Quang (153 ha) Giai đoạn này, Tỉnh mới chỉ có 3 KCN nằm trong mạng lưới KCN của cả nước là: KCN Phố Nối A, KCN Dệt may Phố Nối và KCN Thăng Long II Để tiếp tục phát triển các K,CCN của Tỉnh, Tỉnh ủy, UBND Tỉnh đã chỉ đạo tập trung quy hoạch chi tiết một số KCN chính: KCN Phố Nối A, KCN dệt may Phố Nối, KCN Thăng Long II; KCN Minh Đức [85, tr.7]
Đối với CCN: Đề án nhấn mạnh “Quy hoạch và khuyến khích các địa phương hình thành và phát triển các cụm công nghiệp - làng nghề mà sản phẩm đáp ứng yêu cầu tiêu dùng và xuất khẩu” [93, tr.5] Triển khai quy hoạch 12 CCN với tổng diện tích 410 ha Trong đó một số CCN được quy hoạch chi tiết như: CCN Tân Quang, CCN Minh Khai (Văn Giang), CCN Đình Cao (Phù Cừ), CCN Liên Khê (Khoái Châu)
Trang 23Như vậy, Quy hoạch theo Quyết định số 2032/QĐ-UBND đã thể hiện quyết tâm chính trị của Tỉnh ủy trong việc phát triển K,CCN Quy hoạch đã thể hiện chủ trương phát triển K,CCN ở những vùng bám sát các trục giao thông chính, khai thác tiềm năng lợi thế so sánh về tài nguyên lao động, đất đai tại địa phương.
Chỉ đạo điều chỉnh, bổ sung quy hoạch K,CCN
Trước yêu cầu phát triển KT - XH trong giai đoạn mới, công tác điều chỉnh, bổ sung quy hoạch các K,CCN trên địa bàn luôn được Tỉnh ủy và UBND Tỉnh quan tâm chỉ đạo thường xuyên Sự điều chỉnh, bổ sung quy hoạch K,CCN được thể hiện trong Báo cáo số 92/BC-UBND ngày 17 tháng 7 năm 2007 của UBND tỉnh Hưng Yên, theo đó:
Đối với các KCN, điều chỉnh quy hoạch mở rộng 3 KCN gồm: KCN Phố Nối A, KCN Dệt may Phố Nối và KCN Thăng Long II, đến năm 2008 đầu tư hoàn thành đồng bộ hạ tầng kỹ thuật giai đoạn I [84, tr 8]
Đối với CCN, Tỉnh đề ra mục tiêu đến năm 2010, cơ bản hoàn thành đầu tư kết cấu hạ tầng giai đoạn I một số cụm, điểm công nghiệp; đồng thời,
di dời các cơ sở sản xuất công nghiệp nhỏ lẻ vào các CCN tại các địa phương
Từ năm 2005 đến năm 2010, tỉnh Hưng Yên tiếp tục điều chỉnh bổ sung quy hoạch các CCN trên địa bàn như quy hoạch mở rộng CCN Đình Cao, Như Quỳnh… Theo Quyết định 105/2009/QĐ-TTg ngày 19/8/2009 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Quy chế quản lý cụm công nghiệp [84, tr.9]
Chỉ đạo đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật các K,CCN
Về thu hồi đất: Trong tổng diện tích đất đã quy hoạch chi tiết là 1.747,8 ha thì
diện tích đất công nghiệp là 1.589,6 ha, diện tích đất đã thu hồi 1.457,6 ha, đất đã cho thuê là 963,7 ha (chỉ tính các nhà đầu tư thứ cấp thuê sản xuất); đạt tỷ lệ lấp đầy 60,6% đất công nghiệp cho thuê, 66,1% diện tích đất thu hồi [8, tr.6], trong đó:Đối với KCN: Diện tích quy hoạch là 1.337,37 ha, đất công nghiệp là 1.086 ha, diện tích đất đã thu hồi 1.081,3 ha, đất đã cho thuê là 656,7 ha, đạt tỷ lệ lấp đầy 81,8% đất công nghiệp cho thuê, 60,7% diện tích đất thu hồi [8, tr.6]
Trang 24Đối với CCN: Tổng diện tích đất quy hoạch là 410 ha, diện tích đất đã thu hồi 376,3 ha, đất đã cho thuê là 307 ha, đạt tỷ lệ lấp đầy 74,9% đất công nghiệp cho thuê, 81,6% diện tích đất thu hồi [8, tr.6].
Về xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật K,CCN
Đối với KCN: Để thu hút đầu tư vào KCN, tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư trong việc triển khai nhanh dự án, rút kinh nghiệm từ những năm trước, ngay từ đầu năm 2005, UBND Tỉnh đã khẩn trương triển khai công tác đền bù, giải phóng mặt bằng KCN theo hình thức “cuốn chiếu”, nhà đầu tư vào đến đâu thu hồi đất và xây dựng hạ tầng đến đó UBND Tỉnh chỉ đạo các nhà đầu tư hạ tầng KCN phải xây dựng bảo đảm các hạng mục cơ bản gồm: đường giao thông nội bộ KCN; hệ thống cấp nước, thoát nước, cấp điện; hệ thống phòng cháy, chữa cháy; cây xanh; nhà máy xử lý nước thải tập trung, xử lý bụi và tiếng ồn…[85, tr.11] Trong giai đoạn 2005 - 2010 đã có 4 KCN được xây dựng hạ tầng kỹ thuật tương đối đồng bộ, đủ tiêu chuẩn để tiếp nhận các nhà đầu tư thứ cấp vào sản xuất, kinh doanh gồm: KCN Phố Nối A, KCN Dệt may Phố Nối, KCN Thăng Long II giai đoạn I và KCN Minh Đức với tổng số vốn đăng ký 1.522,5 tỷ đồng
và 51 triệu USD, vốn đã thực hiện 766,2 tỷ đồng và 51 triệu USD Các KCN còn lại gồm: KCN Minh Quang, KCN Tân Tạo, KCN LINKINGPARK, KCN Ngọc Long với tổng số vốn đăng ký theo dự án 3.609 tỷ đồng, vốn đã thực hiện là 134
tỷ đồng, các chủ đầu tư đang triển khai công tác đền bù, giải phóng mặt bằng và bước đầu xây dựng hạ tầng kỹ thuật KCN [8, tr 5]
Đối với CCN: Cùng với sự phát triển các KCN tập trung, Tỉnh ủy, UBND
tỉnh đã chỉ đạo phát triển các làng nghề, CCN huyện, thị Sự phát triển này đã đáp ứng được sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở trong khu vực làng nghề Theo số liệu báo cáo của các huyện, thị tính đến hết tháng 11/2009 trên địa bàn các huyện, thành phố có 9 CCN, diện tích đã quy hoạch là 410 ha Số dự án đăng ký đầu tư vào là 76 dự án với tổng diện tích đã đăng ký là 378,3 ha [87, tr.3]
1.3.2 Chỉ đạo cải thiện môi trường đầu tư và phát triển nguồn nhân
lực khu, cụm công nghiệp
Trang 25* Chỉ đạo cải thiện môi trường đầu tư K,CCN
Cải thiện hạ tầng KT - XH, nhất là hạ tầng giao thông
Năm 2005, Tỉnh ủy, UBND đã chỉ đạo tập trung đầu tư xây dựng xong cầu Yên Lệnh nối liền với Quốc lộ 1A, Quốc lộ 39A, 39B và các tuyến đường huyết mạch quan trọng khác, trong đó có các tuyến liên tỉnh, tuyến từ tỉnh đến huyện và tuyến đường vào các KCN, CCN được đầu tư xây dựng, nâng cấp
Kể từ khi hệ thống giao thông được cải thiện, hệ thống điện, viễn thông và các công trình nước sạch được nâng cấp đã cải thiện rất nhiều lợi thế cạnh tranh của Tỉnh và đã tạo ra kết quả thu hút đầu tư khá vào Tỉnh Đây chính là động lực quan trọng tạo cơ hội cho tỉnh Hưng Yên phát triển mạnh các K,CCN
Cải cách thủ tục hành chính, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh
Về đăng ký doanh nghiệp và cấp giấy phép kinh doanh
Ngày 27 tháng 9 năm 2007, UBND Tỉnh đã ban hành Quyết định số 05/2007/QĐ-UBND về Quy chế phối hợp giữa các cơ quan giải quyết đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và đăng ký con dấu đối với các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp trên địa bàn Tỉnh, trong đó quy định thực hiện “một cửa liên thông” tại Sở Kế hoạch và Đầu tư để cải cách thủ tục hành chính và tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp Đối với doanh nghiệp chỉ phải đến một nơi (Sở Kế hoạch và Đầu tư) đề nộp hồ sơ và nhận kết quả, thời gian giải quyết thủ tục đăng
ký kinh doanh và đăng ký thuế hoặc thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp rút ngắn đáng kể (còn không quá 7 ngày
so với quy định cũ là 10 ngày) Đã thực hiện việc cấp thay đổi đăng ký doanh nghiệp qua mạng trên hệ thống đăng ký kinh doanh quốc gia
Về thực hiện thủ tục đầu tư
Giai đoạn trước năm 2005: Việc thực hiện các thủ tục đầu tư vào Tỉnh chưa thống nhất về một đầu mối: Sở Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan đầu mối hướng dẫn, tiếp nhận và giải quyết các thủ tục đầu tư đối với các dự án đầu tư ngoài các KCN Ban Quản lý các KCN là đầu mối hướng dẫn, tiếp nhận và giải quyết các thủ tục đầu tư đối với các dự án đầu tư vào các KCN Các huyện, thành phố thành lập Ban Quản lý CCN và Ban Quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng để làm đầu mối hướng dẫn, giải quyết thủ tục cho các doanh nghiệp đầu tư vào địa bàn huyện, thành phố Do vậy không tránh khỏi nhiều vướng mắc về các thủ tục hành chính và mất nhiều thời gian chờ đợi của nhà đầu tư
Trang 26Giai đoạn 2006 - 2010: UBND Tỉnh đã ban hành Quyết định số 1307/QĐ-UBND ngày 15 tháng 7 năm 2009 Qui định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Ban quản lý KCN tỉnh Hưng Yên Theo đó, nhà đầu tư có dự án đăng ký đầu tư, đề nghị cấp giấy chứng nhận đầu tư được thực hiện thông qua bộ phận “một cửa liên thông” của Tỉnh đặt tại Sở Kế hoạch và Đầu tư Thời gian giải quyết đối với hồ sơ đề nghị chấp thuận chủ trương đầu tư trung bình là 3 ngày và hồ sơ đề nghị cấp hoặc thay đổi giấy chứng nhận đầu tư không quá 13 ngày Như vậy, việc thực hiện thủ tục đầu tư của các doanh nghiệp vào các K,CCN được cải thiện rõ rệt, giảm thiểu thời gian chờ đợi của các nhà đầu tư.
* Chỉ đạo phát triển nguồn nhân lực cho K,CCN
Ngày 28 tháng 9 năm 2005, UBND Tỉnh đã xây dựng Đề án phát triển nguồn nhân lực tỉnh Hưng Yên đến năm 2020 Theo đó, việc phát triển nguồn nhân lực có sự quan tâm chỉ đạo và cụ thể hóa như nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động để làm việc trong các doanh nghiệp thuộc K,CCN; sử dụng hợp lý nguồn lao động được đào tạo; xây dựng cơ chế, chính sách về thu hút lao động vào các K,CCN tập trung; cơ chế, chính sách hỗ trợ giải quyết chỗ ở cho lao động tại các K,CCN
Nhằm thực hiện tốt các chính sách đó, UBND Tỉnh chỉ đạo thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn bồi dưỡng kiến thức về quản lý nhà nước, quản lý sản xuất kinh doanh cho đội ngũ cán bộ quản lý Có cơ chế, chính sách hỗ trợ cho các cơ sở trong Tỉnh đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, công nhân kỹ thuật lành nghề; phát triển các trung tâm đào tạo ngành nghề công nghiệp chủ lực của Tỉnh, như: công nghiệp cơ khí, điện, điện tử, công nghệ thông tin… hàng năm dành một phần nguồn kinh phí từ ngân sách
và huy động từ các nguồn khác để hỗ trợ cho đào tạo nghề, truyền nghề, du nhập nghề mới nhằm đáp ứng nhu cầu lao động tại các KCN, CCN
1.3.3 Chỉ đạo công tác quản lý nhà nước đối với các khu, cụm công nghiệp
Trang 27Để thống nhất quản lý các KCN, Ban quản lý các KCN tỉnh Hưng Yên được thành lập theo Quyết định số 183/2003/QĐ-TTg ngày 08 tháng 9 năm
2003 của Thủ tướng Chính Phủ Ban Quản lý các KCN tỉnh Hưng Yên trực thuộc UBND Tỉnh Trong giai đoạn 2005 - 2010, Ban quản lý các KCN tỉnh Hưng Yên đã bước đầu phát huy những hiệu quả tích cực của cơ chế quản lý
"một cửa, tại chỗ”, góp phần nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản lý nhà nước đối với KCN, thúc đẩy các KCN phát triển Tuy nhiên, công tác quản lý nhà nước đối với các K,CCN tỉnh Hưng Yên còn một số vấn đề tồn tại cần phải giải quyết đó là: chất lượng công tác quy hoạch K,CCN có mặt chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển; cơ chế, chính sách về K,CCN còn một số vướng mắc; hàm lượng công nghệ trong cơ cấu đầu tư chưa cao; công tác đền bù giải phóng mặt bằng, xây dựng kết cấu hạ tầng và công tác bảo vệ môi trường K,CCN còn bất cập Tỉnh ủy, UBND đã nhanh chóng chỉ đạo nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập nêu trên, thể hiện ở những nội dung sau:
Hoàn thiện tổ chức bộ máy nhà nước đối với các K,CCN
Để nâng cao chất lượng công tác quản lý nhà nước đối với các K,CCN, UBND Tỉnh đã ban hành Quyết định số 1307/QĐ-UB ngày 15 tháng 9 năm
2009 xác định chức năng, quyền hạn và tổ chức biên chế của Ban quản lý các KCN tỉnh Hưng Yên, theo đó Ban quản lý các KCN của Tỉnh là cơ quan chịu trách nhiệm trực tiếp quản lý đối với các KCN tập trung trên địa bàn tỉnh Tiếp nhận dự án và tổ chức thẩm định, cấp, điều chỉnh và thu hồi các loại giấy phép chứng chỉ theo nguyên tắc “một cửa”, theo ủy quyền của UBND Tỉnh, của các
Bộ, Ngành Trung ương tạo điều kiện thuận lợi nhất để nhà đầu tư triển khai dự
án và sản xuất kinh doanh tại các KCN trên địa bàn Tỉnh Đối với CCN, các huyện, thành phố đã thành lập Ban Quản lý dự án CCN và Ban Quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng để làm đầu mối hướng dẫn giải quyết các thủ tục cho các doanh nghiệp đầu tư vào huyện, thành phố đảm bảo nhanh chóng và thuận lợi Tỉnh đã có chỉ đạo giao quyền tự chủ cho UBND cấp huyện, thành phố
Trang 28trong việc thành lập và duy trì hoạt động của Ban quản lý CCN trên địa bàn theo đúng Quy chế về quản lý CCN
Hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý nhà nước đối với K,CCN là vấn
đề quan trọng, song UBND Tỉnh luôn quan tâm chỉ đạo minh bạch hóa các thủ tục hành chính; quan tâm đào tạo, bồi dưỡng và có chính sách đãi ngộ thỏa đáng đối với đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác quản lý K,CCN nhằm khắc phục căn bản tình trạng nhũng nhiễu, tham nhũng ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường đầu tư và hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp trong các K,CCN
Thiết lập các tổ chức chính trị - xã hội trong K,CCN
Trên cơ sở nhận thức đúng vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội trong các doanh nghiệp tại các K,CCN là rất quan trọng Tỉnh ủy đã tổ chức gặp mặt, tiếp xúc với lãnh đạo doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp có triển vọng thành lập tổ chức đảng, đoàn thể qua đó nắm bắt tình hình, tìm hiểu những khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp; tuyên truyền, vận động, thuyết phục chủ doanh nghiệp và công nhân, người lao động về ý nghĩa của việc thành lập tổ chức đảng, đoàn thể đối với việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh; chăm lo, bảo vệ quyền lợi và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động; đồng thời để tạo sự đồng thuận, ủng hộ việc thành lập tổ chức đảng trong doanh nghiệp; chuyển sinh hoạt đảng cho đảng viên đang sinh hoạt ở nơi cư trú đến sinh hoạt ở các doanh nghiệp Chính vì vậy, hoạt động của các tổ chức đảng, công đoàn, đoàn thanh niên, hội phụ nữ trong các doanh nghiệp đang hoạt động tại các K,CCN từng bước được kiện toàn và dần dần phát huy khá tốt vai trò của mình, khắc phục tâm lý e ngại, cho rằng việc thành lập tổ chức đảng, đoàn thể sẽ ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.3.4 Chỉ đạo công tác bảo vệ môi trường trong các khu, cụm công nghiệp
Nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác bảo vệ môi trường đối với sự phát triển bền vững của địa phương, trong giai đoạn 2005 - 2010, Đảng bộ, chính quyền và các ban ngành, đoàn thể quan tâm cả trong lãnh đạo và tổ
Trang 29chức thực hiện Vì vậy, UBND Tỉnh đã ra Chỉ thị số 04/2009/CT-UBND ngày 31 tháng 3 năm 2009 về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Hưng Yên; Quyết định số 829/QĐ-UBND ngày 19 tháng 4 năm
2010 về việc ủy quyền cho Ban quản lý các KCN tổ chức thẩm định và phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường của các dự án đầu tư trong các KCN trên địa bàn Tỉnh nhằm cụ thể hóa các chỉ thị, nghị quyết, văn bản pháp quy của Trung ương về bảo vệ môi trường, tạo những chuyển biến tích cực trong hoạt động bảo vệ môi trường tại các K,CCN
Theo đó, để ngăn ngừa tình trạng gây ô nhiễm môi trường trong các K,CCN, Tỉnh ủy, UBND chỉ đạo như sau:
Chủ đầu tư các K,CCN và các doanh nghiệp chịu trách nhiệm thực hiện đầy đủ các cam kết trong báo cáo đánh giá tác động môi trường của các K,CCN; xây dựng và hoàn thiện các hệ thống xử lý nước thải tập trung, các hạng mục này cần được thiết kế đúng và phù hợp điều kiện thực tế, xây dựng
và lắp đặt đúng thiết kế, duy trì hoạt động ổn định và hiệu quả trong suốt quá trình hoạt động của các doanh nghiệp trong các K,CCN; tham gia ứng phó các
sự cố môi trường trong các K,CCN
Tất cả các doanh nghiệp trong các K,CCN có nước thải phải xử lý sơ
bộ đạt tiêu chuẩn trước khi thải vào hệ thống thu gom nước thải của các K,CCN, trường hợp chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung thì từng doanh nghiệp phải xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn cho phép trước khi thải ra ngoài Các doanh nghiệp có phát sinh khí thải phải có hệ thống xử lý khí thải đạt quy chuẩn Việt Nam trước khi xả thải Các doanh nghiệp trong các K,CCN có phát sinh chất thải nguy hại phải có hợp đồng với các đơn vị có chức năng và
đủ năng lực để thu gom và xử lý đúng cách
Tăng cường công tác nắm tình hình, thanh tra, kiểm tra, giám sát về môi trường (thường xuyên, định kỳ, đột xuất); phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chuyên môn, nhất là giữa lực lượng thanh tra môi trường với lực lượng cảnh sát môi trường các cấp, nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử lí kịp thời, triệt
Trang 30để những hành vi gây ô nhiễm môi trường của các tổ chức, cá nhân
*
Tỉnh Hưng Yên có vị trí kinh tế, chính trị quan trọng trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, cửa ngõ phía Đông Bắc của Vùng kinh tế Thủ đô, cầu nối huyết mạch của Vùng kinh tế động lực tăng trưởng Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh nên sở hữu tiềm năng, lợi thế lớn để phát triển K,CCN Nhận thức đầy đủ vai trò của việc phát triển K,CCN sẽ là đòn bẩy trung tâm để phát triển công nghiệp theo hướng hiện đại, góp phần đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Tỉnh theo hướng tăng tỷ trọng sản xuất công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng sản xuất nông nghiệp, phát triển KT - XH, nâng cao đời sống nhân dân trong Tỉnh, nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu đưa Hưng Yên trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại trước năm 2020
Giai đoạn 2005 - 2010 các K,CCN của Tỉnh từng bước được hình thành
và phát triển cả về qui mô và chất lượng, tuy số lượng chưa nhiều song hiệu quả hoạt động đã được khẳng định Quá trình lãnh đạo phát triển K,CCN của Đảng
bộ tỉnh Hưng yên ngày càng toàn diện hơn, sâu sát hơn Đây chính là cơ sở, tiền
đề cho giai đoạn 2011 - 2015, Đảng bộ tỉnh Hưng Yên có bước phát triển mới trong hoạch định chủ trương đẩy mạnh phát triển các K,CCN với phương hướng, mục tiêu và nhiệm vụ, giải pháp cụ thể, rõ ràng, nhằm thúc đẩy các K,CCN không ngừng phát triển, có đóng góp ngày càng lớn trong sự phát triển KT - XH của Tỉnh, đáp ứng yêu cầu đòi hỏi trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế của đất nước
Trang 31Chương 2
CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH HƯNG YÊN
ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN KHU, CỤM CÔNG NGHIỆP
TỪ NĂM 2011 ĐẾN NĂM 2015
2.1 Yêu cầu mới về phát triển khu, cụm công nghiệp của tỉnh Hưng Yên (2011 - 2015)
* Chủ trương của Đảng về đẩy mạnh phát triển K,CCN (2011 - 2015)
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đề ra mục tiêu chiến lược trong phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2011 - 2020 với mục tiêu tổng quát là: Phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo
hướng hiện đại; chính trị - xã hội ổn định, dân chủ, kỷ cương, đồng thuận; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế tiếp tục được nâng lên; tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn trong giai đoạn sau [35, tr.103]
Đối với phát triển K,CCN, Đại hội nhấn mạnh:
Phát huy hiệu quả các khu, cụm công nghiệp và đẩy mạnh phát triển
công nghiệp theo hình thức cụm, nhóm sản phẩm tạo thành các tổ hợp công nghiệp quy mô lớn và hiệu quả cao; hoàn thành việc xây dựng các khu công nghệ cao và triển khai xây dựng một số khu nghiên cứu cải tiến kỹ thuật và đổi mới công nghệ Thực hiện phân bố công nghiệp hợp
lý trên toàn lãnh thổ, bảo đảm phát triển cân đối và hiệu quả giữa các vùng [35, tr.113]
Như vậy, chủ trương của Đảng về phát triển K,CCN đã có sự phát triển mới, bên cạnh việc tiếp tục đặt ra yêu cầu phát huy hiệu quả các K,CCN phục
vụ cho đẩy mạnh phát triển công nghiệp theo hướng CNH, HĐH và bố trí cân đối, hợp lý các vùng công nghiệp trên cả nước Để đáp ứng nhanh và hiệu quả
Trang 32trước tình hình mới khi Việt Nam chủ động hội nhập quốc tế sâu và rộng hơn, Đảng chủ trương đẩy mạnh phát triển công nghiệp theo hình thức cụm, nhóm sản phẩm tạo thành các tổ hợp công nghiệp quy mô lớn và hiệu quả cao Đây chính là yêu cầu mới đặt ra đối với các tỉnh, thành trong cả nước trong việc lựa chọn các ngành công nghiệp mũi nhọn, phát huy tối đa tiềm năng, thế mạnh của địa phương nhằm tạo ra sản phẩm có giá trị gia tăng cao, hàm lượng công nghệ lớn, đồng thời đẩy nhanh quá trình liên kết giữa các vùng, các trung tâm công nghiệp nhằm tăng sức cạnh tranh của sản phẩm ở thị trường trong nước và xuất khẩu
* Đẩy mạnh phát triển công nghiệp, K,CCN ở tỉnh Hưng Yên ngày càng có vai trò quan trọng của Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc
Trong 5 năm (2005 - 2010) tỉnh Hưng Yên đã đạt được những kết quả quan trọng trong phát triển KT - XH.Các dự án đầu tư vào KCN góp phần quan trọng duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế và giá trị sản xuất công nghiệp của Tỉnh Giai đoạn 2005 - 2010, tổng sản phẩm (GDP) của tỉnh tăng bình quân 11,78%/năm và giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân trên 21%/năm; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp - dịch vụ: năm 2005 tỷ trọng nông nghiệp 30,5% - công nghiệp, xây dựng 38% - thương mại, dịch vụ 31,5%; năm 2010 tỷ trọng trên là 25% - 44% - 31% [30, tr.14]
Định hướng trong phát triển công nghiệp của Vùng, Hưng Yên tiếp tục được Trung ương xác định thuộc Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, là cầu nối quan trọng của Vùng động lực tăng trưởng kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, là một trong tám tỉnh thuộc Vùng kinh tế Thủ đô Trong đó, chú trọng phát triển các ngành công nghiệp có tiềm năng, lợi thế đó là: ngành cơ khí, luyện kim, chế tạo máy, thiết bị điện, điện tử và tin học để hỗ trợ cho các ngành công nghiệp khác phát triển; đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ, công nghiệp chế biến; ngành dệt may, giầy da Như vậy, đẩy mạnh phát triển K,CCN tiếp tục
là nhiệm vụ có ý nghĩa quan trọng đặc biệt của tỉnh Hưng Yên nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển KT - XH của địa phương và của Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc
Trang 33* Nửa cuối giai đoạn 2005 - 2010, tình hình đầu tư phát triển K,CCN trên địa bàn tỉnh Hưng Yên có dấu hiệu chững lại
Cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ thế giới năm 2008 đã tác động tiêu cực đến tình hình đầu tư vào phát triển công nghiệp nói chung và đầu tư kinh doanh hạ tầng K,CCN ở nhiều địa phương trên cả nước, trong đó có Hưng Yên Trong vòng xoáy của khủng hoảng đã gây tâm lý bất an đối với các nhà đầu tư, nhiều dự án đã đăng ký nhưng chậm chễ kéo dài hoặc không thể thực hiện được, nhất là các dự án đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, nhiều K,CCN đã được quy hoạch nhưng do thiếu vốn nên không bảo đảm tiến độ xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật, xảy ra tình trạng quy hoạch “treo” gây lãng phí đất nông nghiệp trong thời gian dài Trước diễn biến xấu của tình hình đặt ra yêu cầu mới đối với Đảng bộ tỉnh Hưng Yên phải có chủ trương và chỉ đạo kịp thời, sát đúng, tìm ra hướng đi mới vừa giảm thiểu những tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ, vừa nâng cao hiệu quả phát triển K,CCN theo hướng bền vững
Với chủ trương của Trung ương tập trung phát triển Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ là cơ sở quan trọng để tỉnh Hưng Yên tiếp tục tận dụng thời cơ, phát huy tốt các nguồn lực để tập trung phát triển các K,CCN trong tình hình mới
2.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên đẩy mạnh phát triển khu, cụm công nghiệp (2011 - 2015)
Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2015; Tỉnh ủy khoá XVII ban hành Nghị quyết số 03-NQ/TU ngày 25/7/2011
2010-về đẩy mạnh phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp giai đoạn 2011-2015, định hướng đến năm 2020 đã chỉ rõ mục tiêu, nhiệm vụ giải pháp phát triển K,CCN của Tỉnh như sau:
2.2.1 Mục tiêu
Mục tiêu chung:
Trong giai đoạn 2011 - 2015, Đảng bộ tỉnh Hưng Yên xác định phát triển công nghiệp tiếp tục là nhiệm vụ đột phá của Tỉnh Do đó, Nghị quyết số 03-NQ/TU của Tỉnh ủy Hưng Yên đã đề ra mục tiêu tổng quát đó là:
Trang 34Phát triển công nghiệp nhanh theo hướng hiện đại, thích ứng và hội
nhập với kinh tế quốc tế; ưu tiên tiếp nhận các dự án lớn, có hàm lượng công nghệ tiên tiến, sản phẩm có sức cạnh tranh cao, thân thiện với môi trường, tạo nguồn thu lớn cho ngân sách Coi trọng đúng mức tiểu thủ công nghiệp, làng nghề, công nghiệp phụ trợ nhằm phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đồng bộ và bền vững Phấn đấu đến trước năm 2020, Hưng Yên trở thành tỉnh công nghiệp phát triển theo hướng hiện đại [72, tr.3-4]
Về nhiệm vụ phát triển K,CCN, Nghị quyết chỉ rõ:
Tập trung xây dựng hạ tầng, phát huy hiệu quả các khu công nghiệp đã
quy hoạch Khuyến khích phát triển nghề truyền thống và hình thành nghề mới, đưa các cụm công nghiệp vào hoạt động hiệu quả Có kế hoạch đầu
tư từng năm để đến năm 2015 thành lập và hoàn thiện đầu tư xây dựng hạ tầng 23 cụm công nghiệp trên địa bàn các huyện, thành phố nhằm đáp ứng tốt nhu cầu phát triển tiểu thủ công nghiệp [72, tr 4]
Đẩy nhanh quá trình phát triển các KCN tập trung và hình thành các ngành công nghệ sạch (công nghệ cao) Tạo điều kiện thuận lợi để thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư phát triển trên địa bàn Tỉnh, góp phần chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế, giải quyết tốt vấn đề lao động, việc làm, nâng cao đời sống của nhân dân trong Tỉnh
Mục tiêu cụ thể:
Đối với các KCN
Tập trung đầu tư xây dựng và hoàn thiện kết cấu hạ tầng công nghiệp tại các KCN: KCN Phố Nối A mở rộng, KCN Thăng Long II mở rộng và KCN Minh Đức theo quy hoạch Đẩy nhanh đầu tư xây dựng hạ tầng tại các KCN còn lại gồm: KCN Minh Quang, KCN LINKINGPARK, KCN Tân Tạo, KCN Ngọc Long Quy hoạch và triển khai xây dựng mới các KCN: KCN Kim Động, KCN MEGASTAR, KCN Tân Dân, KCN Lý Thường Kiệt
Trang 35Phấn đấu giai đoạn 2011 - 2015, thu hút đầu tư vào các KCN đạt khoảng 2.000 tỷ đồng; tỷ lệ lấp đầy KCN đạt khá; giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân trên 19%/năm; tỷ trọng công nghiệp chiếm trên 50% GDP toàn Tỉnh; giải quyết việc làm mới đạt 15.000 lao động [72, tr.5].
Đối với các CCN
Tiếp tục đầu tư hoàn thiện kết cấu hạ tầng các CCN, làng nghề, chú trọng các CCN, làng nghề đã có nhiều dự án đi vào sản xuất, mở rộng các CCN khi có nhu cầu đầu tư, phát triển và đạt các tiêu chuẩn cần thiết
Khuyến khích thu hút các doanh nghiệp nhỏ và vừa đầu tư các ngành nghề: Cơ khí phục vụ nông nghiệp và nông thôn; công nghiệp hỗ trợ; chế biến nông, lâm, thuỷ sản; sản xuất sản phẩm mới, thay thế hàng nhập khẩu, sử dụng nhiều nguyên liệu, lao động tại chỗ [72, tr.6]
2.2.2 Nhiệm vụ và giải pháp
Nghị quyết 03-NQ/TU ngày 25 tháng 7 năm 2011 đã đề ra những nhiệm
vụ, giải pháp cơ bản để thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển K,CCN đó là:
Thứ nhất, về công tác quy hoạch và xây dựng hạ tầng các K,CCN
Tổ chức thực hiện và quản lý tốt quy hoạch phát triển K,CCN đến năm
2015, định hướng đến năm 2020 Gắn quy hoạch phát triển K,CCN với quy hoạch phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, quy hoạch phát triển điện lực, quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng và quy hoạch phát triển các ngành của Tỉnh Chú trọng phát triển công nghiệp công nghệ cao, thân thiện với môi trường, nhất là phát triển công nghiệp phục vụ nông nghiệp và nông thôn
Thực hiện tốt công tác giải phóng mặt bằng và huy động các nguồn vốn đẩy nhanh tiến độ xây dựng hạ tầng các KCN tạo mặt bằng thu hút các dự án đầu tư Tiếp tục quan tâm đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật ngoài KCN, nhất
là hệ thống giao thông, điện lực, bưu chính viễn thông, xử lý chất thải… đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, phát triển công nghiệp trong giai đoạn tới
Tập trung xây dựng và phát triển các CCN đã quy hoạch để chuyển các
cơ sở sản xuất nhỏ, gây ô nhiễm ra khỏi khu dân cư, khắc phục tình trạng ô
Trang 36nhiễm môi trường hiện nay Phát triển các nghề mới trong các làng nghề phải phù hợp với quy hoạch phát triển KT - XH của vùng và ngành.
Thứ hai, về nguồn lực cho phát triển K,CCN
Tích cực huy động các nguồn vốn cho đầu tư phát triển K,CCN bao gồm vốn ngân sách Nhà nước, vốn trong các thành phần kinh tế trong nước, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), vốn vay ưu đãi và các nguồn vốn hợp pháp khác
Triển khai thực hiện tốt Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2011-2020 và Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” Phát triển nguồn nhân lực phải bảo đảm chất lượng chuyên môn, nghiệp vụ, tay nghề, có khả năng tiếp thu có hiệu quả các phương pháp quản lý khoa học hiện đại, công nghệ cao, tiên tiến Đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm và tạo ra cơ cấu lao động hợp lý cho các giai đoạn phát triển công nghiệp
Chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho công nhân lao động các doanh nghiệp, nhất là người lao động tại các KCN, chú trọng bảo đảm về nhà ở, nơi sinh hoạt văn hóa, thể thao, học hành, khám chữa bệnh
Thứ ba, về đất đai và bảo vệ môi trường trong các K,CCN
Ưu tiên dành quỹ đất để phát triển K,CCN phù hợp với từng giai đoạn, đồng thời trên cơ sở cơ chế, chính sách của Nhà nước về đất đai, Tỉnh cần có
cơ chế đồng bộ về giá thuê đất, hỗ trợ đền bù giải phóng mặt bằng… nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư về mặt bằng thực hiện dự án
Tăng cường quản lý nhà nước về đất đai, kiên quyết thu hồi các dự
án vi phạm Luật đất đai, Luật đầu tư, sử dụng không hiệu quả, gây bức xúc trong nhân dân
Tăng cường công tác quản lý và kiên quyết xử lý các trường hợp vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường tại các K,CCN, các doanh nghiệp và các làng nghề, cơ sở sản xuất Khuyến khích hỗ trợ các doanh nghiệp, làng nghề đầu tư xây dựng các cơ sở xử lý rác thải, chất thải rắn, lỏng trước khi xả thải
ra môi trường
Trang 37Thứ tư, về cơ chế, chính sách khuyến khích, hỗ trợ phát triển K,CCN
Điều chỉnh, bổ sung, xây dựng mới các cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư phát triển K,CCN trên địa bàn Tỉnh trong các lĩnh vực: đất đai, vốn, đào tạo nghề, đổi mới công nghệ, giải quyết ô nhiễm môi trường; các dự án đầu tư quy mô lớn, công nghệ cao; các doanh nghiệp làm đầu mối cung cấp nguyên liệu hoặc bao tiêu sản phẩm cho làng nghề; công nghiệp phụ trợ, gia công chi tiết, bán thành phẩm cho các doanh nghiệp, tập đoàn lớn
Thực hiện công khai về cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư cũng như các tài liệu về quy hoạch phát triển KT - XH của Tỉnh Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, công khai, minh bạch, đơn giản về thủ tục, tạo môi trường đầu tư thông thoáng hơn để thu hút đầu tư
Tăng cường các hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, làng nghề, khuyến công, xúc tiến thương mại, chuyển giao công nghệ, áp dụng các tiến bộ kỹ thuật, hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến, xác lập bảo hộ quyền
sở hữu công nghiệp
Thứ năm, về vai trò của hệ thống tổ chức Đảng và chính quyền các cấp trong phát triển K,CCN
Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy; hiệu lực, hiệu quả quản lý của chính quyền các cấp; sự phối hợp đồng bộ giữa các sở, ban ngành với Ban quản lý các KCN, Ban quản CCN các huyện, thành phố trong việc tạo môi trường thuận lợi cho các thành phần kinh tế phát triển K,CCN có hiệu quả
Chăm lo phát triển đảng viên, xây dựng củng cố tổ chức đảng và các đoàn thể chính trị xã hội trong các doanh nghiệp tại các K,CCN Xây dựng đội ngũ công nhân đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH Chú trọng tuyên truyền chủ doanh nghiệp thực hiện tốt chính sách, pháp luật, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho công nhân lao động trong doanh nghiệp
Trang 382.3 Đảng bộ tỉnh Hưng Yên chỉ đạo đẩy mạnh phát triển khu, cụm công nghiệp (2011 - 2015)
Trên cơ sở đánh giá đúng tiềm năng và thế mạnh của Tỉnh, phát huy những thành tựu đã đạt được, đồng thời nghiên cứu khắc phục những khó khăn, hạn chế trong phát triển K,CCN giai đoạn 2005 - 2010 Đảng bộ tỉnh Hưng Yên tiếp tục tập trung chỉ đạo đẩy mạnh phát triển K,CCN trên địa bàn của tỉnh thông qua các Nghị quyết chuyên đề về phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp; các báo cáo giám sát kết quả thực hiện Nghị quyết giữa nhiệm kỳ HĐND và UBND tỉnh Hưng Yên đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo nhằm tiếp tục phát triển K,CCN trên địa bàn của Tỉnh Sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên đẩy mạnh phát triển K,CCN từ năm 2011 - 2015 được thể hiện trên những nội dung cụ thể sau:
2.3.1 Chỉ đạo nâng cao chất lượng công tác quy hoạch và đẩy mạnh đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật các khu, cụm công nghiệp
Trên cơ sở các K,CCN đã được quy hoạch trong giai đoạn 2005 - 2010, tỉnh Hưng Yên tiếp tục có những chỉ đạo về công tác quy hoạch, quản lý việc triển khai quy hoạch các K,CCN trên địa bàn của Tỉnh
Chỉ đạo nâng cao chất lượng công tác quy hoạch các K,CCN
Trong giai đoạn 2011 - 2015, Ủy ban nhân dân Tỉnh có Quyết định số 1589/QĐ-UBND ngày 07 tháng 11 năm 2011 “Phê duyệt chương trình phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp giai đoạn 2011 - 2015” Tỉnh đã rà soát, điều chỉnh bổ sung quy hoạch các K,CCN cho phù hợp với điều kiện thực tế và sự phát triển KT-XH Theo Quyết định số 248/QĐ-UBND ngày 16 tháng 2 năm 2012, Tỉnh đã phê duyệt mạng lưới các KCN, CCN trên địa bàn
Tỉnh, bao gồm: 19 KCN, 31 CCN tổng diện tích là 7.796 ha, trong đó: 13
KCN, diện tích 3.684,6 ha đã được Thủ tướng chấp thuận đưa vào quy hoạch KCN của cả nước, 10 KCN với diện tích 2.610,2 ha đã được phê duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng; 31 CCN với tổng diện tích 1.246 ha (đã quy hoạch chi tiết 12 CCN, diện tích 723,4 ha) [Phụ lục 2]
Trang 39Quyết định 248/QĐ - UBND đã giúp cho việc quản lý và phát triển công nghiệp tập trung của Tỉnh, hạn chế tình trạng sản xuất phân tán Quy hoạch đề
ra nhiều K,CCN với diện tích cao, phát triển nhanh theo chủ trương tăng trưởng kinh tế cao và thu hút đầu tư thuận lợi
Chỉ đạo đẩy mạnh đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật các K,CCN
Về thu hồi đất: Căn cứ vào tình hình thực tế, UBND Tỉnh chỉ đạo không
tiến hành thu hồi đất, giải phóng mặt bằng, tạo quỹ đất "sạch" toàn bộ các K,CCN để kêu gọi đầu tư Ngoài một số K,CCN do có nhà đầu tư hạ tầng đã thực hiện xong việc giải phóng mặt bằng như: KCN Phố Nối A mở rộng, KCN Thăng Long II mở rộng, CCN Như Quỳnh, CCN Liên Khê và CCN Minh Khai, còn lại các K,CCN thực hiện thu hồi đất theo dự án Trong tổng diện tích
đã quy hoạch chi tiết thì diện tích đất công nghiệp là 2580,55 ha, diện tích đất
đã thu hồi 1.573,7 ha, đất đã cho thuê là 888,39 ha (chỉ tính các nhà đầu tư thứ cấp thuê sản xuất); đạt tỷ lệ lấp đầy 34,4% đất công nghiệp cho thuê, 56,5% diện tích đất thu hồi, trong đó:
Về KCN: Diện tích quy hoạch là 2.313,95 ha, đất công nghiệp là 1.557,55
ha, diện tích đất đã thu hồi 916,3 ha, đất đã cho thuê là 487,39 ha, đạt tỷ lệ lấp đầy 31,3% đất công nghiệp cho thuê, 53,2% diện tích đất thu hồi [11, tr.3]
Về CCN: Tổng diện tích đất quy hoạch là 1.246 ha, đất công nghiệp là 1.023 ha, diện tích đất đã thu hồi 657,4 ha, đất đã cho thuê là 401 ha, đạt tỷ lệ lấp đầy 39,2% đất công nghiệp cho thuê, 61% diện tích đất thu hồi [100, tr.5]
Trang 40Thăng Long II mở rộng, tổng vốn đăng ký đầu tư theo dự án là 72,4 triệu USD, vốn đã thực hiện đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng KCN là 65 triệu USD KCN Minh Quang, tổng vốn đăng ký đầu tư theo dự án là 897 tỷ đồng, vốn đã thực hiện đầu
tư xây dựng cơ sở hạ tầng KCN là 89,7 tỷ đồng KCN Tân Tạo, tổng vốn đăng ký đầu tư theo dự án là 908 tỷ đồng, vốn đã thực hiện đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng KCN là 45 tỷ đồng Các hạng mục xây dựng bao gồm: San lấp mặt bằng, xây dựng hệ thống đường giao thông, rãnh thoát nước, vỉa hè, điện chiếu sáng, cây xanh Các KCN còn lại với tổng số vốn đăng ký là 2.138 tỷ đồng hiện đang trong quá trình xây dựng kết cấu hạ tầng KCN [100, tr.4]
2.3.2 Chỉ đạo đẩy mạnh cải thiện môi trường đầu tư và phát triển
nguồn nhân lực khu, cụm công nghiệp
* Chỉ đạo đẩy mạnh cải thiện môi trường đầu tư
Trong giai đoạn 2011-2015, quán triệt chủ trương của Đảng bộ Tỉnh về xây dựng và thực hiện cơ chế chính sách phát triển công nghiệp nhằm tạo môi trường hấp dẫn thu hút đầu tư trong và ngoài nước Tỉnh Hưng Yên đã có nhiều chính sách đúng đắn, kịp thời tạo sức hút lớn đối với các doanh nghiệp tham gia đầu tư vào các K,CCN trên địa bàn của Tỉnh
Phát triển hạ tầng giao thông
Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông là điều kiện quan trọng để phát triển K,CCN Đây là vấn đề được Tỉnh chỉ đạo quyết liệt