Theo lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh sự tồn tại và phát triển kinh tế tư nhân trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là tất yếu khách quan. “Cho đến nay trong lịch sử loài người, về lý luận cũng như trong thực tiễn các quốc gia, không thể thay thế sở hữu tư nhân bằng một động lực khác có hiệu quả hơn trong phát triển kinh tế” 66, tr.27.
Trang 1“Đảng bộ tỉnh Hải Dương lãnh đạo phát triển thành phần kinh tế tư nhân từ năm 2001 đến năm 2010”
Theo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh sự tồntại và phát triển kinh tế tư nhân trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là tấtyếu khách quan “Cho đến nay trong lịch sử loài người, về lý luận cũng nhưtrong thực tiễn các quốc gia, không thể thay thế sở hữu tư nhân bằng một độnglực khác có hiệu quả hơn trong phát triển kinh tế” [66, tr.27]
Ở Việt Nam, cùng với quá trình ra đời, phát triển và khẳng định vị thếtrong nền kinh tế nhiều thành phần, thành phần kinh tế tư nhân đã được toàn xãhội ghi nhận và ngày càng có vai trò to lớn Từ chỗ là lực lượng “nhỏ yếu”, bịcoi là “đối tượng” cần “cải biến” trong quá trình “cải tạo xã hội chủ nghĩa”,
thành phần kinh tế tư nhân có bước phát triển vượt bậc trong tiến trình đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, được thừa nhận là bộ phận cấuthành của nền kinh tế quốc dân
Vì vậy phát triển thành phần kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường
định hướng XHCN là xu hướng tất yếu, một chủ trương đúng đắn và nhất quán củaĐảng ta Với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất thì sự tồn tại của thành phần
kinh tế tư nhân ở nước ta vẫn là yêu cầu khách quan Hơn nữa, thành phần kinh tế
tư nhân đã và đang tiếp tục chứng tỏ vai trò động lực của nó đối với sự phát triểnkinh tế - xã hội của đất nước
Tuy nhiên, thành phần kinh tế tư nhân chỉ phát triển đúng hướng khi
Đảng và Nhà nước có chính sách và biện pháp quản lý phù hợp, không làmmất động lực phát triển của nó, nhưng cũng không để nó vận động một cách
tự phát Thực hiện chủ trương của Đảng, Đảng bộ và nhân dân các tỉnh, thànhphố trong cả nước đã phát huy tối đa nội lực, tập trung lãnh đạo thành phầnkinh tế tư nhân phát triển theo định hướng XHCN, đạt được nhiều thành tựu
to lớn Góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
ở các địa phương nói riêng, cả nước nói chung
Trang 2Hải Dương là một tỉnh nằm ở trung tâm vùng kinh tế trọng điểm phíaBắc, trong những năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, thành
phần kinh tế tư nhân đã phát triển nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng,
có nhiều đóng góp quan trọng cho kinh tế - xã hội của địa phương Tuy nhiên,
quá trình lãnh đạo phát triển thành phần kinh tế tư nhân vẫn còn nhiều bất
cập, cơ chế, chính sách chưa theo kịp sự biến đổi nhanh chóng của thực tiễn,môi trường kinh doanh còn bất lợi, tình trạng phát triển tự phát vẫn chưa được
khắc phục triệt để, vị trí, vai trò của thành phần kinh tế tư nhân trong nền kinh
tế chưa rõ ràng.v.v Đã gây nhiều trở ngại cho sự phát triển của thành phầnkinh tế tư nhân
Thực trạng trên đặt ra yêu cầu khách quan là cần tiếp tục làm tốt côngtác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn quá trình lãnh đạo phát triển thành
phần kinh tế tư nhân của Đảng bộ tỉnh Hải Dương trong giai đoạn 2001 - 2010,
rút ra những kinh nghiệm góp thêm những luận cứ quan trọng để Đảng bộ tỉnh
tiếp tục hoàn thiện sự lãnh đạo phát triển thành phần kinh tế tư nhân trong
những năm tiếp theo
Chương 1
CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH HẢI DƯƠNG
VỀ PHÁT TRIỂN THÀNH PHẦN KINH TẾ TƯ NHÂN
TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005 1.1 Yêu cầu khách quan và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hải Dương
về phát triển thành phần kinh tế tư nhân
1.1.1 Yêu cầu khách quan phát triển thành phần kinh tế tư nhân ở tỉnh Hải Dương
* Vị trí, vai trò của thành phần kinh tế tư nhân đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở Hải Dương
- Quan niệm về thành phần kinh tế tư nhân
Thành phần kinh tế tư nhân vốn là một lực lượng kinh tế đã có từ lâu ở
nước ta, nhưng trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hoá tập trung, thành phần kinh
tế này bị xem nhẹ, không những vậy, còn bị dư luận xã hội có nhiều “ác cảm”
Trang 3thậm chí muốn xoá bỏ hẳn thành phần kinh tế này
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, thành phần kinh tế tư nhân đã
được khẳng định về mặt chính trị và pháp lý Về mặt chính trị, các Nghị quyết
của Đảng đã coi thành phần kinh tế tư nhân là một hướng phát triển chiến
lược, là một bộ phận hợp thành của nền kinh tế nhiều thành phần vận hành
theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó kinh tế nhà nước
giữ vai trò chủ đạo Về mặt pháp lý, các chủ trương, chính sách của Nhà nước
ta đối với thành phần kinh tế tư nhân được khẳng định trong Hiến pháp và các
Luật có liên quan, các nghị định của Chính phủ, các quyết định của Thủ tướng
Chính phủ Môi trường chính trị và pháp lý đã hướng dư luận xã hội thay đổithái độ đối với thành phần kinh tế tư nhân
Xã hội đã nhìn nhận thành phần kinh tế này là một động lực mới để thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa, để xây dựng đất nước giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
Căn cứ vào quan niệm của Đảng về thành phần kinh tế tư nhân từ Đại hội
lần thứ VI đến nay, tác giả đưa ra khái niệm về thành phần kinh tế tư nhân là:
Thành phần kinh tế tư nhân được hình thành và phát triển trên cơ sở chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản
tư nhân, hoạt động dưới hình thức hộ kinh doanh và các loại hình doanh nghiệp của tư nhân (chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ) Trong đó, các chủ thể tiến hành sản xuất kinh doanh một cách tự chủ vì lợi ích của bản thân, hoạt động theo Hiến pháp và Pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Vị trí, vai trò của thành phần kinh tế tư nhân đối với sự phát triển kinh
tế - xã hội ở Hải Dương
Trải qua hơn 25 năm đổi mới, thành phần kinh tế tư nhân đã và đang chứng
tỏ vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh Cụ thể:
Một là, thành phần kinh tế tư nhân góp phần quan trọng giải phóng
năng lực sản xuất, huy động nguồn lực xã hội vào đầu tư, tăng nguồn thu chongân sách đồng thời góp phần khắc phục tình trạng thiếu vốn trong quá trình
Trang 4công nghiệp hoá, hiện đại hoá của tỉnh Hải Dương Quá trình công nghiệphoá, hiện đại hoá, đất nước nói chung, Hải Dương nói riêng luôn đòi hỏi vốnđầu tư lớn Tuy nhiên, trong điều kiện vốn đầu tư Trung ương và địa phươngkhó khăn, tích luỹ từ nội bộ hạn chế thì tranh thủ vốn của kinh tế tư nhân là
hết sức cần thiết Cùng với các nguồn thu từ xuất khẩu, thành phần kinh tế tư
nhân còn tạo ra các nguồn thu từ các hoạt động dịch vụ, góp phần tăng thungân sách của Tỉnh
Hai là, thành phần kinh tế tư nhân góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Tỉnh Thành phần kinh tế tư nhân hoạt
động tạo nên sự kết hợp tối ưu giữa các yếu tố sản xuất và sử dụng triệt để cácnguồn lực nhàn rỗi trong Tỉnh tạo ra một khối lượng sản phẩm lớn Để tổ chứchoạt động các doanh nghiệp phải thuê lao động, mua nguyên liệu, hàng hoá, dịch
vụ cần thiết và các yếu tố đầu vào tại chỗ những hoạt động này sẽ kích thích các
ngành, các thành phần kinh tế toàn xã hội phát triển Thành phần kinh tế tư nhân
trên địa bàn Tỉnh chủ yếu tập trung trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp, thiểuthủ công nghiệp và dịch vụ theo đó cơ cấu các ngành, cơ cấu vùng, cơ cấu laođộng của Tỉnh chuyển dịch tích cực theo hướng tăng tỷ trọng ngành công nghiệp
và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng ngành nông nghiệp
Ba là, thành phần kinh tế tư nhân tạo ra một khối lượng lớn việc làm và nâng cao chất lượng lao động của Tỉnh Thành phần kinh tế tư nhân phát triển
sẽ thu hút một lượng lớn lao động tại địa phương Hoạt động của các doanhnghiệp cũng gián tiếp tạo ra khối lượng việc làm lớn cho người lao động tạiđịa phương thông qua các ngành gia công, phụ trợ, dịch vụ phục vụ cho hoạtđộng của kinh tế Đặc biệt, do đòi hỏi cao ở người lao động về trình độ, nănglực, tác phong làm việc của các doanh nghiệp tư nhân nên chất lượng nguồnlao động của Tỉnh từng bước được nâng cao
Bốn là, thành phần kinh tế tư nhân góp phần nâng cao trình độ khoa học và công nghệ của địa phương Thông qua phát triển thành phần kinh tế tư
nhân, Hải Dương có điều kiện và cơ hội nâng cao trình độ khoa học - công
Trang 5nghệ Thực tế cho thấy, phần lớn các doanh nghiệp có kỹ thuật và công nghệkhá hiện đại, có đội ngũ chuyên gia quản lý tốt, có kinh nghiệm Do đó, quá
trình phát triển thành phần kinh tế tư nhân cũng đồng thời là quá trình tiếp
thu, sử dụng những công nghệ hiện đại, tiên tiến của thế giới Các doanhnghiệp áp dụng mô hình quản lý tiên tiến, phương thức kinh doanh hiện đại,điều đó thúc đẩy quá trình đổi mới kỹ thuật và công nghệ trên địa bàn Tỉnhngày càng phát triển
Năm là, thành phần kinh tế tư nhân góp phần mở rộng thị trường, nâng
cao kim ngạch xuất khẩu và tăng thêm nguồn thu ngoại tệ, đồng thời thúc đẩyquá trình toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế của Tỉnh Thông qua pháttriển kinh tế tư nhân, Hải Dương có điều kiện thuận lợi để gắn kết quá trìnhsản xuất của Tỉnh với hệ thống sản xuất, phân phối, trao đổi quốc tế Đối tácđầu tư thường là những công ty, tập đoàn xuyên quốc gia với mạng lưới chinhánh toàn cầu Do vậy, thông qua hoạt động kinh tế tư nhân, Hải Dương cóthể tiếp cận và mở rộng thị trường xuất khẩu, nâng cao kim ngạch xuất khẩu
và tăng thêm nguồn thu ngoại tệ cho địa phương
* Thực trạng hoạt động của thành phần kinh tế tư nhân ở Hải Dương trước năm 2001.
- Những tiềm năng, lợi thế phát triển thành phần kinh tế tư nhân ở Hải Dương
Điều kiện tự nhiên, Hải Dương là tỉnh nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc
Bộ có diện tích tự nhiên là 1.660,9 km2, tái lập ngày 01/01/1997 trên cơ sở tách
ra của tỉnh Hải Hưng cũ (bao gồm Hải Dương và Hưng Yên ngày nay) Là mộttỉnh nằm trong khu vực tam giác kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, HảiDương nằm giữa cảng Hải Phòng và Thủ đô Hà Nội, tiếp giáp với 6 tỉnh: BắcNinh, Bắc Giang, Quảng Ninh, Thái Bình, Hưng Yên, Hải Phòng
Địa hình Hải Dương khá đa dạng, phần lớn là đồng bằng; vùng bán sơn
địa và rừng núi thuộc phía bắc Tỉnh, chiếm 11% diện tích tự nhiên, vùng đồng
Trang 6bằng còn lại chiếm 89% diện tích tự nhiên, đất đai màu mỡ Địa hình bằngphẳng đã tạo cho Hải Dương điều kiện thuận lợi để phát triển giao thông, yếu
tố quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội
Sông ngòi của Tỉnh khá dày đặc, chiếm 6,6% diện tích tự nhiên tạo điềukiện tốt cho sản xuất cũng như vận tải đường sông là yếu tố thuận lợi để giaolưu, vận chuyển hàng hóa giữa Hải Dương và các tỉnh khác trong khu vực
Khoáng sản, mặc dù không có nhiều nhưng Hải Dương có một sốkhoáng sản với giá trị kinh tế cao như đá vôi, xi măng, cao lanh, đất sétchịu lửa Đây là nguồn nguyên liệu quý giá, không chỉ là cơ sở để pháttriển công nghiệp mà còn là lợi thế so sánh của tỉnh Hải Dương trong thuhút các đối tác đầu tư
Các yếu tố tự nhiên của tỉnh Hải Dương tạo điều kiện thuận lợi chophát triển kinh tế với một cơ cấu đa ngành, đa nghề, trong quá trình côngnghiệp hoá, hiện đại hoá nói chung và phát triển kinh tế tư nhân nói riêng
Điều kiện kinh tế - xã hội, điểm nổi bật về kinh tế - xã hội của Hải Dương,
mà ít địa phương khác có được để phát triển thành phần kinh tế tư nhân đó là
về giao thông và cơ sở hạ tầng Tỉnh Hải Dương có hệ thống giao thông và cơ
sở hạ tầng khá hoàn chỉnh Hệ thống giao thông gồm đường bộ, đường thuỷ
và đường sắt, phân bố hợp lý, giao lưu rất thuận lợi tới các tỉnh khác trongkhu vực Hệ thống Quốc lộ qua địa phận tỉnh Hải Dương có 7 tuyến: Đường
số 5, 183,18, 37, 38, 10, đây đều là những tuyến đường cấp I, cho 4 làn xe đilại thuận tiện Hệ thống giao thông đường thuỷ của Hải Dương khá thuận lợivới 400km đường sông cho tàu thuyền 500 tấn qua lại dễ dàng; cảng CốngCâu với công suất 300.000 tấn/năm, cùng hệ thống bến bãi và cảng nội địa đãđảp ứng tốt nhu cầu tập kết và vận tải hàng hoá một cách thuận lợi Đường sắtchạy qua địa bàn tỉnh Hải Dương dài 68,17km với 7 ga, gồm 3 tuyến: Hà Nội
- Hải Phòng, Kép - Hạ Long và Chí Linh - Cổ Thành Với hệ thống giaothông đa dạng, khá hoàn chỉnh và hiện đại, Hải Dương có nhiều thuận lợi
Trang 7trong phát triển kinh tế - xã hội nói chung và kinh tế tư nhân nói riêng.
Về dân số năm 2005, dân số của Hải Dương là 1.711.364 người, trong
đó người trong độ tuổi lao động chiếm 49% Với quy mô dân số trên, HảiDương có mật độ dân số đông (1.038 người/km2), đứng thứ 11/63 tỉnh, thànhtrong cả nước và thứ 5/11 tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng Với quy mô dân
số và tỷ lệ lao động như trên, Hải Dương có nhiều tiềm năng phục vụ sựnghiệp phát triển kinh tế - xã hội
Hải Dương tổ chức hành chính gồm thành phố Hải Dương, thị xã ChíLinh và 10 huyện: Thanh Hà, Nam Sách, Thanh Miện, Kinh Môn, Kim Thành,Cẩm Giàng, Bình Giang, Gia Lộc, Tứ Kỳ, Ninh Giang, là quê hương của nhiềulàng nghề danh tiếng như rượu nếp Phú Lộc, chạm khắc gỗ Đông Giao, gốmChu Đậu, thủ công mỹ nghệ vàng bạc ở Bình Giang, chạm khắc đá ở Kinh Môn,bánh đậu xanh, bánh gai Ninh Giang, vải thiều Thanh Hà Hơn nữa, HảiDương nằm trong vùng du lịch Bắc Bộ, sản phẩm du lịch đặc trưng là du lịchvăn hóa và du lịch tham quan, nghiên cứu Hải Dương có những địa danh du lịchnổi tiếng như quần thể di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc, Phượng Hoàng (Chí Linh),núi An Phụ, động Kính Chủ, đảo Cò (Thanh Miện) Đây là điều kiện thuận lợitạo lợi thế so sánh của Hải Dương trong phát triển kinh tế - xã hội nói chung vàkinh tế tư nhân nói riêng
- Thành tựu đạt được của thành phần kinh tế tư nhân trước năm 2001
Hơn 10 năm, thực hiện đường lối, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà
nước, được sự đồng tình hưởng ứng tích cực của nhân dân, thành phần kinh tế
tư nhân hoạt động dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanhnghiệp của tư nhân đã phát triển rộng khắp trong Tỉnh, nhất là từ khi thực hiệnLuật doanh nghiệp Đến 30/12/2001:
Đã có 425 doanh nghiệp đăng ký với tổng số vốn là 383,3 tỷ đồng(trong đó có: 166 doanh nghiệp tư nhân với vốn đăng ký là 56,4 tỷđồng; 241 công ty trách nhiệm hữu hạn, vốn 283,5 tỷ đồng; 18 công ty
Trang 8cổ phần, vốn 43,4 tỷ đồng) và hơn 22.000 hộ cá thể với tổng số vốnkhoảng 286 tỷ đồng, tạo thêm việc làm cho 49.225 lao động (doanhnghiệp của tư nhân: 19.225 người; hộ cá thể: 30.000 người) [80, tr.28]
Cơ cấu doanh nghiệp và vốn hoạt động trong các ngành có sự chuyển biếntích cực: “Công nghiệp - xây dựng chiếm 45,9% tổng số doanh nghiệp, vốn chiếm61% tổng số vốn đăng ký; thương mại - dịch vụ chiếm 42%, vốn chiếm 37%;nông nghiệp - ngư nghiệp chiếm 12,1%, vốn chiếm 2%” [80, tr.29]
Thành phần kinh tế tư nhân ngày càng góp phần quan trọng vào sự phát
triển kinh tế, huy động các nguồn lực xã hội vào sản xuất, kinh doanh, duy trìtốc độ tăng trưởng kinh tế của Tỉnh, cải thiện đời sống Nhân dân, tăng thu chongân sách Nhà nước, giữ vững ổn định chính trị - xã hội trên địa bàn Tỉnh
Cùng với các thành phần kinh tế khác, kinh tế tư nhân đã góp phần giảiphóng lực lượng sản xuất, thúc đẩy phân công lao động xã hội, thu hút ngàycàng nhiều lao động từ khu vực nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theohướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa, nâng cao nội lực trong hội nhập kinh tế quốc tế
- Những khó khăn, hạn chế
Bên cạnh những thành tựu đạt được, quá trình phát triển thành phần kinh tế
tư nhân ở Hải Dương trước năm 2001 vẫn còn những hạn chế, bất cập:
Thành phần kinh tế tư nhân chiếm tỷ trọng chưa nhiều trong GDP củaTỉnh: “Gần 25% tổng giá trị sản xuất và khoảng 12% tổng GDP của Tỉnh), phầnlớn có quy mô nhỏ (vốn bình quân chỉ có 900 triệu đồng / doanh nghiệp: 77,2%
số doanh nghiệp có vốn dưới 1 tỷ đồng; 20,2% số doanh nghiệp từ 1 tỷ đến 5 tỷđồng; 2,6% số doanh nghiệp có vốn trên 5 tỷ đồng” [80, tr.34]
Hiệu quả và sức cạnh tranh yếu, đầu tư vào sản xuất chưa nhiều(41,2% tổng số doanh nghiệp), cơ cấu ngành nghề, vùng chưa hợp lý, ít đầu
tư vào lĩnh vực nông- ngư nghiệp, vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh
tế - xã hội khó khăn, vùng kinh tế thuần nông (chỉ có 6,8% tổng số doanh
Trang 9nghiệp, với 5,2% tổng số vốn đăng ký của các doanh nghiệp ở các huyện Tứ
Kỳ, Thanh Miện, Ninh Giang, Cẩm Giàng) Chưa giúp đỡ được nông dân về
ứng dụng khoa học kỹ thuật và tiêu thụ sản phẩm Quan hệ làm ăn với nước ngoài chưa nhiều.
Một bộ phận đơn vị kinh tế tư nhân chưa thực hiện tốt Luật lao động,pháp lệnh kế toán - thống kê, chưa chú trọng đến các biện pháp bảo vệ môitrường, một số đơn vị, cá nhân vi phạm luật thuế, gian lận thương mại, kinhdoanh trái phép…
Thực trạng trên đòi hỏi Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Hải Dươngtiếp tục quán triệt đường lối của Đảng, phát huy tối đa thế mạnh của địaphương phát triển thành phần kinh tế tư nhân mạnh mẽ hơn theo hướngnhanh, hiệu quả và bền vững
* Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển thành phần kinh
tế tư nhân giai đoạn (2001-2010)
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) với đường lối đổi mới toàndiện đất nước theo định hướng XHCN, trước hết là đổi mới tư duy, với tinh
thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật, Đảng ta đã thừa nhận sai lầm trong bố trí cơ cấu kinh tế, “các thành phần kinh tế phi xã
hội chủ nghĩa chưa được sử dụng và cải tạo tốt, trong nhận thức cũng nhưtrong hành động, chúng ta chưa thực sự thừa nhận cơ cấu kinh tế nhiều thành
phần ở nước ta còn tồn tại trong một thời gian tương đối dài” [49, tr.43]
Trải qua các kỳ Đại hội, cho đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
IX(2001) của Đảng, thành phần kinh tế tư nhân đã được Đảng ta xác định là
thành phần kinh tế có vai trò quan trọng trong nền kinh tế: Khuyến khích tư
bản tư nhân đầu tư vào sản xuất, yên tâm làm ăn lâu dài, bảo hộ quyền sở hữu
và lợi ích hợp pháp
Hội nghị lần thứ Năm Ban Chấp hành Trung ương khóa IX (từ ngày
18/2 đến ngày 2/3/2002), đã thông qua Nghị quyết Về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích, tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân Nghị quyết
Trang 10Hội nghị chỉ rõ: Kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh
tế quốc dân Phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong pháttriển nền kinh tế nhiều thành phần đinh hướng XHCN, góp phần quan trọngthực hiện thắng lợi nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế, công nghiệp hóa,hiện đại hóa, nâng cao nội lực của đất nước trong hội nhập kinh tế quốc tế Đó
là quan điểm chỉ đạo nhất quán của Đảng ta về phát triển kinh tế tư nhântrong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay
Như vậy, từ công cuộc đổi mới cho đến nay, đặc biệt là Nghị quyết Đại
hội lần thứ IX, Nghị quyết Trung ương lần thứ Năm (khóa IX), nhận thức của Đảng ta về vị trí và vai trò của thành phần kinh tế tư nhân trong nền kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần đã có bước phát triển mới Thành phần kinh tế tư
nhân được thừa nhận là bộ phận cấu thành hữu cơ quan trọng của nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Phát triển thành phần kinh tế tư nhân
là vấn đề có tầm chiến lược lâu dài trong quá trình xây dựng và phát triển nềnkinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa
1.1.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hải Dương về phát triển thành phần kinh tế tư nhân
Thực hiện nhất quán chính sách phát triển thành phần kinh tế tư nhân.Phát huy được nguồn lực của kinh tế tư nhân Khuyến khích kinh tế tư nhân pháttriển vào các ngành, lĩnh vực và địa bàn có ưu thế của địa phương
* Quan điểm phát triển thành phần kinh tế tư nhân
Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Hải Dương lần thứ XIII (2001) nêu rõ:Thực hiện nhất quán chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần.Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấuthành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh,…kinh tế cá thể,tiểu chủ được tạo điều kiện và giúp đỡ phát triển, kinh tế tư bản tư nhânđược khuyến khích rộng rãi trong những ngành nghề sản xuất, kinh
Trang 11doanh mà luật pháp không cấm [80, tr.36].
Chương trình hành động số 22 - CTr/TU ngày 08/5/2002 của Tỉnh ủykhẳng định:
Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi về chính sách, pháp lý để kinh
tế tư nhân phát triển trên những định hướng ưu tiên của Nhà nước, kể cả
đầu tư ra nước ngoài; khuyến khích chuyển thành doanh nghiệp cổ phần,
bán cổ phần cho người lao động, liên doanh, liên kết với nhau, với kinh tế
tập thể và kinh tế Nhà nước, mang lại lợi ích thiết thực cho các bên đầu tư
kinh doanh Căn cứ vào quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của
Tỉnh đến năm 2010, các quy hoạch ngành, quy hoạch sản phẩm để khaithác tiềm năng và lợi thế của Tỉnh Phát huy được nguồn lực của kinh tế
tư nhân, khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển vào các ngành, lĩnh vực
và địa bàn có ưu thế của địa phương [72, tr.14]
Mặc dù trên thực tế, kinh tế tư nhân đã được tự do thực hiện các hoạtđộng sản xuất kinh doanh và đầu tư vào nhiều lĩnh vực như: Thương mại, dịch
vụ, chế biến nông, lâm, thủy sản Nhưng nhiều cá nhân, tổ chức còn có biểu hiệntâm lý e ngại, chưa mạnh dạn đầu tư vào các lĩnh vực đòi hỏi vốn lớn, rủi ro cao.Hải Dương có nhiều ưu thế về phát triển kinh tế, tuy nhiên vẫn chưa được khaithác hết tiềm năng, sự phát triển mất cân đối giữa thành thị, nông thôn, miền núi;trong khi các thành phần kinh tế khác hoặc chỉ tập trung ở vùng đô thị và cáckhu công nghiệp mà ở đó chủ yếu là lĩnh vực công nghiệp, thương mại, dịch vụ,hoặc là không thể đầu tư vào toàn bộ lĩnh vực kinh tế nông nghiệp do bị chế ướcbởi quy mô tổ chức, vốn, lực lượng lao động Chính vì vậy, việc xác định nhấtquán quan điểm trên là phù hợp với tình hình mới và điều kiện, tiềm năng củathành phần kinh tế tư nhân ở địa phương
* Phương hướng phát triển thành phần kinh tế tư nhân
Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Hải Dương lần thứ XIII (nhiệm kỳ 2001 2005) xác định:
Trang 12-Tập trung bám sát chủ trương chỉ đạo của Đảng, tiếp tục bổ sung, tạodựng môi trường kinh doanh thuận lợi, có biện pháp cụ thể hỗ trợ doanhnghiệp phát triển đồng đều ở các địa phương nhằm giải phóng sản xuất,tăng thu nhập cho người lao động Đồng thời ưu tiên các doanh nghiệptrong lĩnh vực nông nghiệp, biến các doanh nghiệp này trở thành độnglực kích thích các địa phương xây dựng nền nông nghiệp phát triển theohướng sản xuất hàng hóa Phát triển kinh tế theo diện rộng phải kết hợpphát triển theo chiều sâu, tập trung ứng dụng khoa học - công nghệ vàosản xuất, bảo vệ môi trường [80, tr.26]
Tạo điều kiện phát huy tiềm năng và vai trò tích cực của doanh nhântrong phát triển sản xuất kinh doanh; mở rộng đầu tư trong nước và ở nướcngoài; nâng cao chất lượng sản phẩm; tạo dựng và giữ gìn thương hiệu hànghoá Việt Nam
Tiếp đó, Chương trình hành động số 22 - CTr/TU của Tỉnh ủy khẳng định:
“Liên kết rộng rãi các hộ sản xuất, kinh doanh với các doanh nghiệpnhỏ và vừa, không giới hạn quy mô, lĩnh vực và địa bàn; khuyến khích cáchình thức tổ chức hợp tác tự nguyện, làm vệ tinh cho các doanh nghiệp hoặcphát triển lớn hơn” [72, tr.13] Khuyến khích kinh tế hộ nông thôn làm vệ tinhcho các doanh nghiệp hoặc phát triển thành kinh tế trang trại.“Tập trung đầu tưmạnh vào các loại cây trồng dài ngày, chăn nuôi gia súc, gia cầm với quy mô vừa
và lớn (hộ và trang trại) ở các vùng có điều kiện như huyện Tứ Kỳ, Kinh Môn, ChíLinh, Nam Sách, Gia Lộc ” [72, tr.16]
Đến năm 2005, phấn đấu thành phần kinh tế tư nhân ngày càng đóng vaitrò quan trọng đối với phát triển kinh tế địa phương, là thành phần kinh tế năngđộng, sử dụng vốn có hiệu quả, đạt tốc độ phát triển trên 15% %/năm, tiếp tụcchứng tỏ vai trò động lực của kinh tế tư nhân đối với sự phát triển kinh tế - xãhội của địa phương, phấn đấu toàn Tỉnh có khoảng 1.500 doanh nghiệp hoạtđộng theo Luật Doanh nghiệp và 15.000 hộ cá thể, số vốn đăng ký trên 15.000
tỷ đồng, tạo việc làm cho trên 15 vạn lao động Mỗi năm đăng ký mới trên 500
Trang 13doanh nghiệp và 2.000 hộ kinh doanh cá thể, giải quyết việc làm cho trên 5.000lao động Trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh, lợi thế cạnh tranh của địaphương, tiếp tục quan tâm, tạo điều kiện để xây dựng một số thương hiệumạnh, các lĩnh vực sản xuất kinh doanh đòi hỏi công nghệ cao và một số mặthàng chủ yếu của địa phương, đẩy mạnh xuất khẩu.
* Nhiệm vụ và giải pháp phát triển thành phần kinh tế tư nhân
Tiếp tục cải cách hành chính tạo môi trường thông thoáng phát triển thành phần kinh tế tư nhân.
Khẩn trương ban hành các quy định để cải cách về thủ tục hành chínhtrong các lĩnh vực thay thế cho các quy định không còn phù hợp; công khaihoá các thủ tục về chấp thuận đầu tư, cho thuê đất, đền bù, giải phóng mặtbằng, cấp giấy phép xây dựng, tín dụng, thuế, đăng ký kinh doanh, thanh tra,
kiểm tra Đây là những vấn đề đang còn nhiều vướng mắc trong hoạt động
đầu tư, sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp và nhân dân
Thực hiện cơ chế “ một cửa” với thời gian không quá 10 ngày đối với việc
cấp đăng ký kinh doanh Thực hiện quy định tạm thời về chấp thuận dự án đầu tưtrong nước theo Quyết định số 487/2002/QĐ-UB ngày 03/3/2002 của UBNDtỉnh Tạo môi trường đầu tư thuận lợi, xây dựng dự án mẫu, tiếp tục cải tiến thủtục chấp thuận đầu tư, cho thuê đất, đền bù, giải phóng mặt bằng, đảm bảo trongthời hạn 30 ngày, kể từ ngày nộp đủ hồ sơ hợp lệ tại Sở Kế hoạch - Đầu tư, nhàđầu tư có thể nhận được mặt bằng
Thực hiện đúng Luật Doanh nghiệp Tiến tới cấp đăng ký kinh doanhqua mạng công nghệ thông tin để nhà đầu tư chỉ đến Sở Kế hoạch - Đầu tưmột lần khi nhận kết quả
Tăng cường quản lý của Nhà nước đối với thành phần kinh tế tư nhân
Các ngành, các địa phương cần phối hợp chặt chẽ trong quản lý nhằmtăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động của các doanh nghiệp Nắm bắt, giảiquyết kịp thời các khó khăn, vướng mắc ảnh hưởng đến phát triển sản xuất,
Trang 14kinh doanh của doanh nghiệp Mặt khác phát hiện và xử lý kịp thời những viphạm của doanh nghiệp theo quy định của Pháp luật.
Định kỳ tổng kết, đánh giá và rút kinh nghiệm về quản lý Nhà nước đốivới thành phần kinh tế tư nhân, tuyên truyền, động viên khen thưởng kịp thờicác điển hình tiên tiến trong sản xuất kinh doanh Gắn việc xây dựng và pháttriển các doanh nghiệp với việc tổ chức, triển khai các đề án, dự án, chươngtrình kinh tế xã hội có liên quan
Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến và trợ giúp phát triển doanh nghiệp, các sở,ngành, chính quyền địa phương các cấp chủ động nắm bắt, giải quyết kịp thời cáckhó khăn, vướng mắc cản trở đến đầu tư, hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp và hỗ trợ phát triển doanh nghiệp trong phạm vi thuộc thẩm quyền
Đài phát thanh truyền hình Tỉnh, Báo Hải Dương đẩy mạnh công táctuyên truyền, phổ biến đường lối, chính sách, pháp luật của Nhà nước liênquan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, khuyến khíchđầu tư, để các nhà đầu tư thực hiện nhằm chấp hành đúng các chủ trươngđường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước tạo môi trường đầu tưkinh doanh lành mạnh
Nhiệm vụ và giải pháp về các chính sách liên quan đến phát triển thành phần kinh tế tư nhân
Chương trình hành động số 22-CTr/TU ngày 08/5/2002 cuả Tỉnh ủy chủtrương ban hành các chính sách phát triển kinh tế tư nhân:
Chính sách về lao động, tiền lương: Lãnh đạo, chỉ đạo, tăng cường giámsát các doanh nghiệp, chủ sử dụng lao động trong việc thực hiện chế độ, chínhsách đối với người lao động đã được quy định tại Bộ luật Lao động và LuậtBảo hiểm như: Các chính sách về tiền lương, tiền thưởng, chính sách bảohiểm xã hội đối với người lao động , tạo sự gắn bó giữa người lao động vàngười sử dụng lao động
Chính sách đất đai: Giải quyết nhanh chóng thủ tục cấp đất cho các doanh
Trang 15nghiệp có nhu cầu đất để xây dựng cơ sở sản xuất kinh doanh nói riêng và cấpgiấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người dân nói chung Tạo điều kiện chocác doanh nghiệp được chấp thuận thuê đất trong các khu, cụm công nghiệp, cáclàng nghề nhanh chóng xây dựng cơ sở, sớm đi vào sản xuất
Chính sách tài chính tín dụng: Thực hiện đúng các chế độ ưu đãi của nhànước đối với doanh nghiệp như: Miễn giảm thuế, hỗ trợ lãi xuất vay vốn , tạohành lang pháp lý thông thoáng, tạo mọi nguồn vốn cho phát triển Thành lậpQuỹ bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Tỉnh để giải quyếtnhu cầu về tín dụng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa
Chính sách thương mại và thị trường: Đẩy mạnh công tác xúc tiếnthương mại cho các doanh nghiệp, thường xuyên cung cấp thông tin giá cả thịtrường, khoa học - công nghệ, các mô hình sản xuất tiên tiến; giới thiệu địnhhướng chỉ đạo phát triển của ngành, địa phương, giới thiệu các đối tác có nhucầu liên kết liên doanh để doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh
Chính sách khoa học - công nghệ: Hỗ trợ kinh phí theo các chươngtrình nghiên cứu khoa học - công nghệ tạo điều kiện cho các doanh nghiệpnghiên cứu và áp dụng những tiến bộ khoa học - công nghệ mới vào phát triểnsản xuất kinh doanh Hình thành mạng lưới các tổ chức tư vấn, dịch vụ côngnghệ thuộc các thành phần kinh tế, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thamgia các Hội chợ công nghệ, các Hội thảo, trao đổi kinh nghiệm, giới thiệuthành tựu công nghệ trong và ngoài nước
Như vậy, những nhiệm vụ, giải pháp trên đã đáp ứng kịp thời nhu cầu củakinh tế tư nhân, phù hợp với thực tiễn của địa phương Đó là cơ sở, nền tảng đểgiải phóng mọi năng lực sản xuất của thành phần kinh tế này, kích thích kinh tế
tư nhân phát triển với tính chất và quy mô ngày càng cao
1.2 Sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Hải Dương về phát triển thành phần kinh tế tư nhân (2001- 2005)
1.2.1 Chỉ đạo đổi mới các chính sách cho thành phần kinh tế tư
Trang 16nhân phát triển
* Chỉ đạo về chính sách khoa học - công nghệ
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII (nhiệm kỳ 2001 2005) Ngày 18/5/2002, UBND tỉnh ban hành Quyết định 745/QĐ-CT-UBT
-“Về chính sách ưu tiên phát triển, ứng dụng khoa học - công nghệ” Theo đó:
Ngân sách nhà nước đầu tư cho hoạt động khoa học - công nghệ củaTỉnh trong 5 năm (2001 - 2005) là 141 tỷ đồng Trong đó kinh phí quản lý
là 21 tỷ đồng, bằng 14,2%, kinh phí sự nghiệp khoa học - công nghệ là 11
tỷ đồng bằng 80,1%; kinh phí từ nguồn sự nghiệp môi trường là 6.9 tỷđồng, bằng 4,7% Kinh phí trung bình hằng năm là 28.2 tỷ đồng, đạtkhoảng 0,45% tổng chi ngân sách của Tỉnh, tăng 0,11% so với năm 2000,trong đó kinh phí đầu tư tăng cường tiềm lực khoa học - công nghệ và đầu
tư phát triển cho các tổ chức khoa học - công nghệ của Tỉnh đạt trên 20 tỷđồng Trong 5 năm (2001 - 2005) có 151 nhiệm vụ khoa học - công nghệ,trong đó 147 nhiệm vụ phát huy tác dụng ở mức độ khác nhau, chiếm97,3% [88 tr.22]
Dự án: “Xây dựng và phát triển nhãn hiệu tập thể Nếp cái hoa vàngKinh Môn” đã khôi phục lại vùng sản xuất nếp cái hoa vàng đặc sản tập trungvới diện tích trên 500 ha với hình thức chủ yếu là các trang trại
Dự án: “Tuyên truyền, phổ biến kiến thức về Sở hữu trí tuệ trên ĐàiPhát thanh và Truyền hình tỉnh Hải Dương” đã góp phần nâng cao nhận thứccủa cán bộ, nhân dân và các doanh nghiệp về ý nghĩa to lớn của việc xâydựng, bảo hộ, quảng bá thương hiệu
Dự án: “Ứng dụng công nghệ SAIBON xử lý ô nhiễm môi trường sauchăn nuôi lợn quy mô trang trại” đã được triển khai thực hiện với sự hỗ trợcủa Nhật Bản và nguồn đối ứng của Tỉnh
Trang 17Một số tổ chức khoa học - công nghệ và doanh nghiệp của Tỉnh đã vàđang thực hiện có hiệu quả Chương trình quốc gia ứng dụng khoa học - côngnghệ xây dựng các làng nghề ở Chí Linh, Kinh Môn, Nam Sách
Những năm qua, tỉnh Hải Dương đã phối hợp có hiệu quả với cáctrường Đại học, Viện nghiên cứu, tổ chức khoa học - công nghệ trong nghiêncứu, triển khai ứng dụng khoa học - công nghệ, trong đó tiêu biểu là sự phốihợp với Viện Cây lương thực trong nghiên cứu chọn tạo nhiều giống câytrồng, biện pháp kỹ thuật được ứng dụng vào sản xuất nông nghiệp thí điểm ởcác huyện Thanh Hà, Kinh Môn, Nam Sách
Các doanh nghiệp công nghiệp như: Công ty Cổ phần chế tạo bơm HảiDương, Công ty Cổ phần Nhiệt điện Phả Lại, Công ty Xi măng Vicem HoàngThạch và các doanh nghiệp trên địa bàn Tỉnh đã tích cực đầu tư nghiên cứuđổi mới công nghệ, nghiên cứu tiết kiệm năng lượng, giảm thiểu ô nhiễm môitrường và các giải pháp nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm giá thành, tạosức cạnh tranh trên thị trường
* Chỉ đạo thực hiện quy hoạch đất đai và mặt bằng kinh doanh
Ngày 12/6/2002, UBND tỉnh ban hành Công văn số 3149-QĐ/UB, Phê duyệt quy hoạch chi tiết các khu, cụm công nghiệp, khẳng định: Đến năm
2006 phải đầu tư cơ sở hạ tầng cho một số khu công nghiệp, cụm công nghiệpthuộc địa bàn khuyến khích đầu tư ở các huyện miền núi, các cụm côngnghiệp phát triển ngành nghề, làng nghề truyền thống như: Gốm, gạch ngói với phương thức thích hợp và giá cả ưu đãi cho các doanh nghiệp, trong đó cókinh tế tư nhân thuê để sản xuất kinh doanh Đối với đất ở của tư nhân đãđược cấp quyền sử dụng đất, đất đang làm trụ sở, mặt bằng sản xuất kinhdoanh của tư nhân do được chuyển nhượng lại một cách hợp pháp quyền sửdụng hoặc được Nhà nước giao đã nộp tiền sử dụng đất theo quy định củapháp luật, thì được tiếp tục sử dụng mà không phải nộp thêm tiền thuê đất choNhà nước khi dùng đất này vào sản xuất kinh doanh
Trang 18Chương trình hành động số 22-CTr/TU của BCH Đảng bộ tỉnh (khóaXIII) khẳng định:
“Khuyến khích các công ty kinh doanh hạ tầng xây dựng nhà xưởngtrong các khu quy hoạch cho nhà đầu tư thuê sản xuất kinh doanh nhằm rútngắn thời gian xây dựng và giảm được chi phí đầu tư ban đầu cho kinh tế tưnhân” [72, tr.13]
Từ năm 2002, Tỉnh đã xúc tiến quy hoạch các khu, cụm công nghiệp.Đến nay đã quy hoạch xong 7 khu, trong đó có 6 khu được Chính phủ đưavào danh mục các khu công nghiệp tập trung trong cả nước với tổng diện tích642,75 ha, trong đó 3 khu công nghiệp đã được đầu tư xây dựng kết cấu hạtầng tương đối tốt như: Nam Sách, Đại An và Việt Hoà, thu hút 24 nhà đầu tưthuê 130 ha đất, chiếm khoảng 30% tổng diện tích Các khu công nghiệp tậptrung khác đang trong tiến trình triển khai xây dựng cơ sở hạ tầng và có 20 dự
án bỏ vốn vào đầu tư
Ngoài ra, đã có 9 cụm công nghiệp, với diện tích 504,97 ha được Tỉnhphê duyệt, hiện đã thu hút 102 dự án với tổng diện tích cho thuê là 141,74 ha
và số vốn đăng ký là 1797 tỷ đồng, sử dụng được 22.896 lao động: CấmThượng, Việt Hoà, phía tây Ngô Quyền (Thành phố Hải Dương), Hưng Thịnh(Bình Giang), Cộng Hoà (Chí Linh), An Đồng (Nam Sách), Lai Cách (CẩmGiàng) và cụm Tầu Thuỷ (Kim Thành)
Như vậy, vấn đề chỉ đạo thực hiện chính sách đất đai được thể hiện rõtrong hai văn bản nêu trên Nếu như Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh tậptrung vào xây dựng, quy hoạch mặt bằng sản xuất đối với kinh tế cá thể, tiểuchủ trong lĩnh vực nông nghiệp thì Chương trình hành động số 22-CTr/TU lạichủ yếu chỉ đạo quy hoạch mặt bằng sản xuất đối với kinh tế tư bản tư nhân ởcác khu công nghiệp, điều này đã tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế tư nhân
có thêm cơ sở để phát triển, mở rộng sản xuất - kinh doanh
* Chỉ đạo thực hiện chính sách lao động, việc làm và bảo hiểm xã hội.
Trang 19Để bảo vệ quyền lợi của người lao động, và giải quyết việc làm cho ngườilao động Ngày 08/5/2002, Chương trình hành động số 22-CTr/TU của Tỉnh ủykhẳng định: “Bằng mọi biện pháp và hình thức giải quyết việc làm cho phần lớnlao động xã hội, bảo đảm việc làm có đủ thu nhập để người lao động nuôi sốngđược bản thân và gia đình họ; đồng thời, đóng góp một phần cho xã hội Có chếtài và quy định cụ thể trong sử dụng lao động cho chủ doanh nghiệp” [72, tr.23]
Vì vậy, trong những năm 2001-2005 Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh, các cấp,
các ngành đã có những hoạt động thiết thực trong công tác giải quyết việclàm.Trong 4 năm từ 2001- 2004, thành phần kinh tế tư nhân đã giải quyếtviệc làm mới cho 94.023 lao động (đạt 95,05% so với kế hoạch 5 năm 2001-2005), số lao động được thu hút vào các lĩnh vực kinh tế như: Công nghiệp -xây dựng: 37.889 lao động, nông - lâm- ngư nghiệp: 21.814 lao động (kể cảcho vay vốn hỗ trợ giải quyết việc làm), dịch vụ và các hoạt động khác:17.092 lao động Ước thực hiện giai đoạn 2001-2005, toàn Tỉnh giải quyếtviệc làm cho 123.823 lao động (đạt 125,18% kế hoạch 5 năm)
Về thực hiện Luật lao động của doanh nghiệp, đến cuối năm 2003, mới
có 1.055 doanh nghiệp tham gia mua bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế chongười lao động với số lao động tham gia là 25.862 người, chiếm khoảng34,2% % doanh nghiệp và 23,5 % tổng số lao động làm trong các doanhnghiệp dân doanh đóng bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế Thời gian qua đãxảy ra 6 cuộc đình công, lãn công ở 4 đơn vị là: Chi nhánh Công ty Sao Sáng(03 cuộc); Chi nhánh Công ty Cường Ngoan (01), Chi nhánh Công ty SaoVàng (01 cuộc) và Chi nhánh Công ty may và quảng cáo Việt (01 cuộc)
Để khắc phục những hạn chế còn tồn đọng trên, Kết luận số 02- KL/TU ngày 05/5/2005, Về kết quả 3 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa IX), về tiếp tục đổi mới cơ chế chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân, khẳng định: “Phải bổ sung chế tài xử lý vi phạm của các
doanh nghiệp trong thực hiện Luật lao động, nhất là những quy định về tiền
Trang 20lương, tiền công, tiền thưởng và phụ cấp đối với người lao động” [76, tr.26]
1.2.2 Chỉ đạo đổi mới cơ chế quản lý cho thành phần kinh tế tư nhân phát triển
Quyết định số 487 - QĐ/UB, ngày 03 tháng 03 năm 2002, Về cải cách thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động kinh doanh, đầu tư của doanh nghiệp của UBND tỉnh Hải Dương đã sớm chỉ đạo thực hiện cải cách thủ tục hành chính theo
cơ chế “một cửa, một đầu mối” trong giải quyết các thủ tục hành chính trên tất cảcác lĩnh vực đời sống, xã hội nhất là trong lĩnh vực liên quan đến đầu tư, hoạtđộng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Đến năm 2005, 100% các Sởngành, Uỷ ban nhân các huyện, thành phố và UBND các xã phường, thị trấn củaTỉnh đã thực hiện cơ chế “một cửa” tập trung vào những vấn đề: Thẩm định dự ánđầu tư; chấp thuận đầu tư cho thuê đất; cấp giấy phép xây dựng; cấp giấy chứngnhận ưu đãi đầu tư; đăng ký kinh doanh, giấy phép hành nghề, v.v Đã tạo điềukiện cho doanh nghiệp nhanh chóng đi vào hoạt động sản xuất - kinh doanh
Về thủ tục đăng ký kinh doanh: Tỉnh ủy đã chỉ đạo sâu sát thực hiện cảicách hành chính theo cơ chế một cửa ngay từ đầu 2002, các mẫu biểu đã đượcđơn giản hoá, đã công khai, minh bạch về hồ sơ, phí, thời gian giải quyết, đãgiảm bớt phiền hà cho các nhà đầu tư, giải quyết cấp Giấy chứng nhận đăng
ký kinh doanh, cấp dấu và mã số thuế đặt tại Sở Kế hoạch và Đầu tư đi vàohoạt động từ tháng 3/2004, thời gian giải quyết các thủ tục trên đã rút ngắn rấtnhiều so với luật quy định, đến nay chỉ còn 5 ngày (so với luật định là 15ngày), là Tỉnh đi đầu trong cả nước thực hiện cấp Đăng ký kinh doanh chodoanh nghiệp sớm sử dụng mã số thuế làm mã số doanh nghiệp
Ngày 18/3/2003 BCH Đảng bộ tỉnh “Báo cáo kiểm tra Sơ kết một năm thực hiện Nghị quyết 14 - NQ/TW của BCH Trung ương Đảng (khóa IX)
số 64 - BC/TU và Chương trình hành động số 22 của Tỉnh ủy về phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh Hải Dương”, trong đó nêu rõ:
Xây dựng, định hướng ngành nghề, lĩnh vực ưu tiên đầu tư cũng như xác
Trang 21định những địa bàn khuyến khích đầu tư Cải cách hành chính và đơn giảnhóa thủ tục cấp phép đầu tư và thuế Phát triển một số dịch vụ hỗ trợ doanhnghiệp về: Tư vấn pháp lý, chuyển giao công nghệ, đào tạo, sở hữu côngnghiệp, tín dụng, xúc tiến thương mại, xúc tiến đầu tư [74, tr.14].
Giao cho UBND tỉnh chỉ đạo Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì và UBNDcác huyện và thành phố Hải Dương củng cố, tăng cường bộ máy giúp việc đểtham mưu, hướng dẫn triển khai thực hiện các chính sách khuyến khích thànhphần kinh tế tư nhân, đồng thời tăng cường công tác quản lý Nhà nước để hướngthành phần kinh tế tư nhân phát triển theo đúng pháp luật và phù hợp với chiếnlược phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh
Chỉ đạo ưu đãi đầu tư, hỗ trợ doanh nghiệp
Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương (2003), Quyết định số 920 - QĐ/UB, ngày 24 tháng 2 năm 2003, Ban hành quy định về ưu đãi khuyến khích đầu tư vào các cụm công nghiệp và làng nghề trên địa bàn Tỉnh.
Quyết định nêu rõ: ‘‘Miễn giảm thuế, miễn giảm tiền thuê đất, cho vayvốn, hỗ trợ lãi suất sau đầu tư, áp dụng thẻ một giá, miễn thuế nhập khẩu máymóc thiết bị tạo tài sản cố định, hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng, giải phóng mặtbằng, đào tạo lao động, thông tin quảng cáo và vận động đầu tư” [93, tr.12].Tính đến 31/12/2005, đã cấp giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư, xác nhận ưu đãiđầu tư (ghi trong Giấy chứng nhận đầu tư) cho 252 dự án với tổng số vốn
đăng ký là 6.404 tỷ 337 triệu đồng (trong đó, số dự án cấp giấy chứng nhận,
xác nhận ưu đãi đầu tư từ năm 2002 đến nay chiếm 88 %)
Tỉnh luôn tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân tiếp cận các thông tin vềthị trường, giá cả hàng hoá, mở rộng thị trường, tiêu thụ sản phẩm thông qua cáchình thức như tổ chức, hỗ trợ cho tham gia các hội chợ triển lãm, giới thiệudoanh nghiệp trên các phương tiện thông tin, đặc biệt là trên trang thông tin điện
tử của Tỉnh trên mạng Internet, tổ chức cho các doanh nghiệp cùng tham gia cácđoàn của Tỉnh ra nước ngoài để nghiên cứu tìm hiểu thị trường
Trang 22Như vậy, với việc chỉ đạo quyết liệt, sâu sát của Tỉnh ủy, UBND tỉnh
về đổi mới cơ chế quản lý trong những năm 2001 - 2005, thì cơ chế quản lýtrên địa bàn tỉnh Hải Dương đã có sự đổi mới căn bản theo hướng “nhanh,gọn, minh bạch” Cơ chế đó đã tạo động lực thúc đẩy thành phần kinh tế tưnhân phát triển cả về quy mô tổ chức, ngành nghề kinh doanh
1.2.3 Chỉ đạo xây dựng kết cấu hạ tầng thuận lợi thu hút đầu tư
Thực hiện mục tiêu xây dựng môi trường đầu tư thuận lợi, để thu hút tối
đa các nguồn vốn, Tỉnh ủy, UBND đã chỉ đạo thực hiện nhiều biện pháp, giảipháp xây dựng kết cấu hạ tầng thu hút đầu tư
Ngày 26 tháng 9 năm 2002, Tỉnh ủy Hải Dương ra Chương trình số CTr/TU Về xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa giai đoạn 2001-2005 Với 4 đề án, Chương trình số 13 - CTr/TU của Tỉnh ủy
13-đã xác định: “Đường bộ là phương thức vận tải chủ đạo phục vụ các mục tiêuthúc đẩy các lĩnh vực kinh tế đột phá gồm phát triển công nghiệp, nôngnghiệp, dịch vụ và du lịch” [73, tr.15]
Các Quốc lộ đạt tiêu chuẩn cấp I, II, III, các tuyến đường tỉnh chủ yếuđạt cấp III, một số đoạn tuyến có lưu lượng vận tải lớn được quy hoạch cấp II,cầu cống được thiết kế bảo đảm tải trọng khai thác H30- XB80 đồng bộ với cấpđường Xây dựng, hoàn thiện hệ thống trục ngang gồm các tuyến đường caotốc Hà Nội - Hải Phòng, Nội Bài - Hạ Long, Quốc lộ 5, Quốc lộ 18 và một sốtuyến đường liên tỉnh đóng vai trò là các trục ngang, kết nối các huyện nhưđường 392, 396… Hệ thống trục dọc bao gồm Quốc lộ 37, Quốc lộ 38, đườngvành đai 5 Hà Nội, trục Bắc – Nam, các đường tỉnh 390, 388…
Giao thông: Đảm bảo quỹ đất giành cho giao thông đô thị đạt 20-23%,quan tâm đầu tư xây dựng hệ thống giao thông thôn, xã, các bến xe khách, bãi
đỗ xe Các tuyến đường đô thị được nâng cấp, cải tạo bảo đảm 100% mặtđường bê tông nhựa, rải nhựa, bê tông xi măng Xây dựng đường vành đai 1
và 2 của thành phố Hải Dương và đường vành đai của Tỉnh liên kết các huyện
Trang 23Bình Giang, Thanh Miện, Ninh Giang, Tứ Kỳ, Thanh Hà Cải tạo các nút giaothông, chiếu sáng đô thị.
Đường thủy nội địa: Phát triển luồng, cảng, bến, kho bãi và phương tiện
để nâng cao năng suất vận tải, tiết kiệm thời gian, tăng khả năng cạnh tranhcủa phương thức vận tải thủy so với các phương thức vận tải khác Ưu tiêntập trung đầu tư nâng cấp cảng Cống Câu, cảng Tiên Kiều, xây mới cảngPhúc Thành (Kinh Môn)
UBND tỉnh giao cho các huyện quy hoạch mạng lưới chợ, trung tâmthương mại, siêu thị trên địa bàn và ban hành chính sách ưu đãi nhằm khuyếnkhích các tổ chức và cá nhân đầu tư xây dựng các chợ Hỗ trợ nguồn vốn ngânsách đầu tư xây dựng một số chợ đầu mối trong Tỉnh, tạo điều kiện cho việc giaolưu buôn bán và tiêu thụ nhanh sản phẩm hàng hoá Tổ chức các hoạt động xúctiến thương mại, kịp thời cung cấp những thông tin về thị trường, giới thiệu sảnphẩm, tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm cho các hộ và các doanh nghiệp Thực hiện Chương trình số 13-CTr/TU của Tỉnh ủy, ngày 22 tháng 10năm 2002, UBND tỉnh ra Quyết định số 324/QĐ-UB về việc đầu tư mở rộngChi cục hải quan Hải Dương và xây dựng cảng nội địa Hải Dương Việc mởrộng Chi cục hải quan và xây dựng cảng nội địa Hải Dương đã tạo ra diệnmạo mới cho hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế- k ỹ thuật của Tỉnh đồng thờigóp phần cải thiện môi trường đầu tư, thúc đẩy quá trình thu hút vốn đầu tưtrong và ngoài Tỉnh
Chương trình số 13-CTr/TU của Tỉnh ủy Hải Dương đã chỉ đạo tăngcường đầu tư phát triển hệ thống điện phục vụ phát triển kinh tế - xã hội nóichung và phát triển các khu, cụm công nghiệp nói riêng Theo đó, Tỉnh ủyHải Dương đã đề ra mục tiêu đầu tư 720 tỷ đồng để xây dựng, phát triển hệthống lưới điện bao gồm xây dựng hệ thống trạm biến áp công xuất lớn, nângcấp hệ thống dây dẫn, bảo đảm đáp ứng đủ và ổn định cho nhu cầu cho sảnxuất kinh doanh của các doanh nghiệp
Trang 241.2.4 Chỉ đạo tăng cường vai trò lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân và Hiệp hội doanh nghiệp đối với
sự phát triển thành phần kinh tế tư nhân
* Chỉ đạo tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng đối với việc phát triển thành phần kinh tế tư nhân
Về quán triệt và tổ chức thực hiện chủ trương của Đảng, ngày 18/4/2002
Tỉnh ủy đã ra Chỉ thị số 11- CT/TU Về việc nghiên cứu quán triệt và tổ chức thực hiện các Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm của Ban Chấp hành Trung ương.
Trong đó, Tỉnh ủy chỉ thị cho các Đảng uỷ các cấp, Thành uỷ, các Đảng uỷ khối
cơ quan, đảng đoàn, ban cán sự đảng các ngành, đoàn thể chính trị cần tổ chứcviệc học tập cho đội ngũ cán bộ chủ chốt trong ngành, đoàn thể, địa phươngmình Giao cho Ban Tư tưởng - Văn hoá tổ chức các lớp nghiên cứu, quán triệttheo phạm vi chức năng, nhiệm vụ Giao cho hệ thống trường chính trị, cáctrường đại học, cao đẳng đưa nội dung Nghị quyết số 14-NQ/TW vào chươngtrình nghiên cứu, giảng dạy Yêu cầu các cơ quan nghiên cứu xây dựng cácchương trình nghiên cứu phục vụ thực hiện Nghị quyết số 14-NQ/TW
Ngày 09/05/2003 Tỉnh ủy ban hành Kết luận số 64 - KL/TU trong đóđánh giá sâu sắc việc thực hiện Nghị quyết số 14-NQ/TW ngày 18/3/2002 vàđưa ra nhiều giải pháp nhằm tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyếnkhích và tạo điều kiện phát triển thành phần kinh tế tư nhân trong bối cảnh
mới Tiếp đó, ngày 05/5/2005, Tỉnh ủy có Kết luận 02-KL/TU Sơ kết 3 năm
thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa IX) về “Tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển thành phần kinh tế tư nhân” Hội nghị đã đánh giá toàn diện thành tựu và những hạn chế, bất cập
sau 3 năm triển khai Nghị quyết, từ đó đưa ra nhiều nhiệm vụ giải pháp mớinhằm tiếp tục khuyến khích phát triển thành phần kinh tế tư nhân
Về công tác xây dựng đảng trong doanh nghiệp tư nhân, trên cơ sở Báo
cáo của Ban Tổ chức tỉnh, và tổng kết việc thực hiện Quy định số 16-QĐ/TW,
Trang 25ngày 04/6/2004, Tỉnh ủy đã ra Quy định số 100-QĐ/TU Về chức năng, nhiệm
vụ của đảng bộ, chi bộ cơ sở trong doanh nghiệp tư nhân Quy định trên đã
góp phần đổi mới phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng trong doanhnghiệp tư nhân, phù hợp hơn với những quy định của Đảng và yêu cầu pháttriển kinh tế tư nhân trong điều kiện mới
Tính đến 30/09/2005 toàn Tỉnh có 1.323 doanh nghiệp đăng ký kinhdoanh hoạt động Đảng bộ khối Doanh nghiệp hiện có 25 tổ chức cơ sở Đảngvới 585 đảng viên Cùng với việc lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị củađơn vị doanh nghiệp, công tác xây dựng Đảng được các cấp uỷ Đảng trongdoanh nghiệp quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Công tác tạo nguồn, kếtnạp đảng viên được đẩy mạnh (kết nạp đảng viên mới đạt 206% so với Nghịquyết nhiệm kỳ 1996-2000 đề ra, tham mưu Tỉnh ủy xây dựng Đề án thành lập
tổ chức Đảng, đoàn thể trong các doanh nghiệp ngoài khu vực Nhà nước; thànhlập 01 chi bộ cơ sở; kiện toàn 07 chi, đảng bộ trực thuộc Tập trung nâng caochất lượng sinh hoạt chi bộ, đổi mới nội dung, hình thức sinh hoạt gắn vớinhiệm vụ và mục tiêu sản xuất, kinh doanh của đơn vị, doanh nghiệp Hằngnăm tỷ lệ tổ chức Đảng đạt trong sạch vững mạnh trên 55%, không có tổ chứcđảng yếu kém, đảng viên đủ tư cánh hoàn thành tốt nhiệm vụ đạt 95%
* Chỉ đạo phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các Đoàn thể và Hiệp
hội doanh nghiệp trong phát triển kinh tế tư nhân
Đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Hải Dương, Tỉnh ủy đã ban
hành Chỉ thị số 21-CT/TU ngày 20/02/2003 yêu cầu các cấp uỷ đảng tậptrung chỉ đạo Đại hội Mặt trận các cấp và Đại hội VI, Đại hội VII Mặt trận Tổquốc tỉnh Tỉnh ủy yêu cầu phương hướng, nhiệm vụ và chương trình hànhđộng trong nhiệm kỳ mới của Mặt trận cần quán triệt sâu sắc mọi đường lối,chủ trương của Đảng bộ tỉnh, trong đó có chủ trương khuyến khích phát triểnthành phần kinh tế tư nhân
Trang 26Đối với Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tỉnh Hải Dương, chấp hành chủ
trương và sự chỉ đạo của Tỉnh ủy Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn Tỉnh lần thứ IX(2002) xác định mục tiêu phấn đấu đến năm 2006 là: 80% trở lên số hộ đóinghèo do phụ nữ làm chủ hộ được Hội giúp đỡ xoá đói giảm nghèo, phát triểnkinh tế; hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế hộ gia đình và đầu tư sản xuất kinhdoanh theo hướng kinh tế trang trại, phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, phấnđấu đến năm 2010 có ít nhất 90% hộ nghèo do phụ nữ làm chủ được giúp, trong
đó 40% - 50% thoát nghèo; mỗi huyện có ít nhất 01 Câu lạc bộ doanh nhân nữ
Trong phong trào “Phụ nữ làm kinh tế giỏi” không thể không kể đếncác doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ Năm 2003, toàn Tỉnh có 15 câu lạc bộdoanh nghiệp nữ, với 901 thành viên
Bên cạnh đó, các cấp hội phụ nữ đẩy mạnh phối hợp với chính quyền vàcác ngành chức năng tuyên truyền, vận động, hỗ trợ hội viên phụ nữ về cáckiến thức trong phát triển kinh tế Cụ thể từ năm 2003-2005, các cấp hội phụ
nữ đã phối hợp tổ chức 180 lớp tập huấn kiến thức sản xuất cho trên 7.000 lượtcán bộ, hội viên, đã hỗ trợ hội viên phụ nữ xây dựng 20 loại mô hình kinh tếtrong các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, kinh doanh dịch vụ… Cùng với đó, cáccấp hội cũng đứng ra nhận uỷ thác với Ngân hàng Chính sách và các nguồnkhác với số vốn vay là 755 tỷ đồng cho gần 47 nghìn lượt hộ gia đình hội viênvay Đặc biệt là, từ năm 2004, Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh vận động hội viênphụ nữ tạo nguồn tiết kiệm tại chi hội trên 21 tỷ đồng, cho trên 6,5 nghìn lượthội viên nghèo, khó khăn vay phát triển kinh tế gia đình
Với nhiều hoạt động thiết thực trong phong trào “Phụ nữ làm kinh tếgiỏi”, từ năm 2001-2005, các cấp hội phụ nữ đã giúp 2.400 hội viên phụ nữthoát nghèo, vươn lên làm giàu chính đáng
Đối với các Hiệp hội doanh nghiệp, tiếp tục thực hiện Thông báo số
25-TB/TU, ngày 25/6/2002 của Tỉnh ủy Về phát huy vai trò của các Hiệp hội doanh nghiệp trong phát triển kinh tế, Tỉnh ủy đã giao cho UBND ban hành
quy định số 4137/QĐ-UB ngày 27/6/2002 Về tổ chức hoạt động và quản lý
Trang 27Hiệp hội Quán triệt sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, trải qua hơn 9 năm họat động với
chức năng, nhiệm vụ của mình
“Vai trò Hiệp hội còn được in dấu đậm nét trong những năm qua vớinhững việc làm cụ thể như đóng vai trò liên kết, liên doanh hỗ trợ giữa cácdoanh nghiệp, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, năng lực cạnh tranh vàbảo vệ quyền lợi hợp pháp cho các hội viên” [86, tr.4]
Vì vậy, đến năm 2006 đã quy tụ hơn 450 hội viên trong ngôi nhàchung Trong những năm nền kinh tế gặp khó khăn, Hiệp hội doanh nghiệpTỉnh vẫn chủ động, phối hợp thành lập được 4 tổ chức hội viên: Hội mỹ nghệkim hoàn, đá quý; Hội khoa học-kỹ thuật an toàn vệ sinh lao động; Hội nữdoanh nhân; Hội doanh nghiệp trang trại huyện Cẩm Giàng Thông qua cácHội này giúp doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn, công nghệ, thị trường mới đểhoạch định chiến lược kinh doanh, phát triển doanh nghiệp Bên cạnh việc tưvấn pháp luật, Hiệp hội liên tục mở 57 lớp tập huấn với trên 5000 lượt cán bộquản lý doanh nghiệp tham gia học tập về Luật thuế, Luật Doanh nghiệp mớisửa đổi, bổ sung Tổ chức các Hội thảo cho doanh nghiệp trong và ngoài Tỉnh
để thu hút đầu tư mở rộng thị trường
Được sự chỉ đạo hoạt động sâu sát của Tỉnh ủy, Hiệp hội đã phát triểnnhanh cả về số lượng và chất lượng, hoạt động ngày càng quy củ và hiệuquả, tạo được mạng lưới liên kết có sức lan tỏa rộng lớn Những đóng gópthiết thực của Hiệp hội đã khẳng định tính đúng đắn và vai trò của Tỉnh ủytrong chỉ đạo phát triển kinh tế nói chung và phát triển thành phần kinh tế tưnhân nói riêng
*
* *Hải Dương là một tỉnh có nhiều tiềm năng, thế mạnh trong phát triểnkinh tế-xã hội nói chung và kinh tế tư nhân nói riêng Quán triệt đường lối, chủtrương, chính sách của Đảng và Nhà nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh,trong 5 năm (2001- 2005), kinh tế tư nhân trên địa bàn Hải Dương có những
Trang 28bước phát triển quan trọng, tạo sự chuyển biến tích cực về số lượng, quy mô vàbước đầu có những đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội củađịa phương Trong những năm 2001-2005, tăng trưởng kinh tế tư nhân bìnhquân là 12,4%, tăng 6% so với bình quân giai đoạn 1996-2000 Đó là nhữngtiền đề thực tiễn quan trọng để Đảng bộ tỉnh tiếp tục lãnh đạo đẩy mạnh pháttriển thành phần kinh tế tư nhân trong những năm tiếp theo.
Chương 2 ĐẢNG BỘ TỈNH HẢI DƯƠNG LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN
THÀNH PHẦN KINH TẾ TƯ NHÂN ( 2006 - 2010 ) 2.1 Yêu cầu mới và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hải Dương về đẩy mạnh phát triển thành phần kinh tế tư nhân
2.1.1 Yêu cầu mới trong phát triển thành phần kinh tế tư nhân ở Hải Dương
* Thời cơ và thách thức đối với sự phát triển thành phần kinh tế tư nhân ở tỉnh Hải Dương
Nghị quyết Đại hội X (2006) chỉ rõ: 5 năm 2006 - 2010 là hết sức quantrọng, kết thúc thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001-2010 Trên
cơ sở phân tích tình hình và xu hướng phát triển của thế giới, Đại hội X (2006)
đã chỉ rõ những thời cơ thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
nói chung và thành phần kinh tế tư nhân nói riêng Sự phát triển có tính chất
nhảy vọt của khoa học và công nghệ cùng với quá trình toàn cầu hoá kinh tế
Trang 29thế giới diễn ra mạnh mẽ trong xu thế hoà bình, hợp tác và phát triển là những
điều kiện quốc tế thuận lợi, tạo ra thời cơ lớn cho phát triển thành phần kinh tế
tư nhân trên phạm vi cả nước trong đó có Hải Dương
Với tinh thần đổi mới mạnh mẽ, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X(2006) của Đảng tiếp tục xây dựng và phát triển đường lối đổi mới toàn diệnđất nước Nghị quyết Đại hội X của Đảng, chỉ rõ: Các thành phần kinh tế hoạtđộng theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát
triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh Đặc biệt, với thành phần kinh
tế tư nhân, Đại hội X của Đảng khẳng định: “Phát triển mạnh các hộ kinhdoanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp của tư nhân Đẩy mạnh hơn nữacông nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn, giải quyết đồng bộcác vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân” [52, tr.129]
Cùng với chủ trương đúng đắn của Đảng, hệ thống cơ chế, chính sách
khuyến khích phát triển thành phần kinh tế tư nhân từng bước được hoàn thiện
Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của sự nghiệp đổi mới đã tạotiềm lực, vị thế mới cho đất nước trong quá trình phát triển và hội nhập Nhữngđiều kiện thuận lợi đó sẽ tạo ra những thời cơ mới cho thành phần kinh tế tưnhân phát triển Thành phần kinh tế tư nhân sẽ phát triển mạnh mẽ cả số lượng
và chất lượng, sẽ gia tăng cả về quy mô và hiệu quả theo hướng tập trung hoá,hiện đại hóa và dần ổn định theo khuôn khổ pháp luật
0Bên cạnh những thời cơ, trong những năm 2006-2010 vẫn còn nhiều thách thức mới, đối với sự phát triển thành phần kinh tế tư nhân
Tình hình thế giới phức tạp, khó lường, năm 2007 khủng hoảng kinh tếthế giới cùng với những tác động tiêu cực của quá trình toàn cầu hoá kinh tếquốc tế là những thách thức không nhỏ cho sự phát triển của các thành phần
kinh tế trong đó có thành phần kinh tế tư nhân ở nước ta
Những hạn chế yếu kém môi trường kinh doanh của Tỉnh chậm được cải
Trang 30thiện, chi phí lao động rẻ dần mất ưu thế bởi yếu tố tri thức, công nghệ và kỹ thuậtgiỏi Giai đoạn 2001-2005, kinh tế tư nhân phát triển mạnh theo diện rộng, đếngiai đoạn này đã bộc lộ những hạn chế, khả năng phát triển theo chiều sâu gặp rấtnhiều khó khăn về phát triển năng suất, chất lượng, quy mô và sức cạnh tranh.Những yếu tố trên sẽ ảnh hưởng và đặt ra những yêu cầu mới đối với quá trình
phát triển thành phần kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh Hải Dương.
* Một số yêu cầu mới đối với sự phát triển thành phần kinh tế tư nhân ở tỉnh Hải Dương
Một là, tiếp tục đẩy mạnh thu hút nguồn vốn đầu tư vào Tỉnh, phát huy khả năng, nguồn lực của địa phương.
Nhu cầu thu hút đầu tư phát triển kinh tế tư nhân là đòi hỏi tất yếu,khách quan của quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Hải Dương Đặc biệt
là nhu cầu về vốn đầu tư đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững ngàycàng gia tăng Tuy nhiên, để thu hút, phát triển kinh tế tư nhân, đòi hỏi địaphương phải có sự chuẩn bị về cơ sở hạ tầng, chất lượng nguồn nhân lực và
cơ chế, chính sách
Hệ thống cơ sở hạ tầng của Hải Dương đã được đầu tư nhiều nhưngnhìn chung chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế theo bề rộng, đặcbiệt hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông, điện nước nhanh chóng bị xuống cấp,lạc hậu và luôn trong tình trạng quá tải Chất lượng nguồn nhân lực của Tỉnhnhìn chung còn thấp, chưa đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp có quy môlớn Bên cạnh đó, thủ tục hành chính còn rườm rà, chưa theo kịp yêu cầu,chưa đáp ứng mục tiêu nhanh chóng, thuận tiện hoạt động kinh doanh Đây làmột mâu thuẫn lớn đòi hỏi địa phương phải tập trung giảỉ quyết trong thờigian tới đáp ứng yêu cầu phát triển của kinh tế tư nhân
Hai là, đảm bảo yêu cầu giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế tư nhân.
Thực chất của việc giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong pháttriển thành phần kinh tế tư nhân là đảm bảo xây dựng một nền kinh tế độc lập
Trang 31tự chủ, vì mục tiêu dân giầu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.Trong quá trình phát triển thành phần kinh tế tư nhân phải hướng vào thựchiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của địa phương, trực tiếp phát triển lựclượng sản xuất, nâng cao đời sống nhân dân Phát huy vai trò quản lý của Nhànước xã hội chủ nghĩa đối với thành phần kinh tế tư nhân Khuyến khíchtham gia thực hiện phúc lợi xã hội, bảo vệ môi trường vì sự phát triển nhanh
ô nhiễm môi trường, một số doanh nghiệp triển khai hoạt động chậm, gâylãng phí đất đai, sử dụng đất được thuê chưa thực sự hiệu quả; tình trạng tranhchấp lao động và đình công còn diễn ra ở một số doanh nghiệp, ảnh hưởngkhông tốt đến môi trường kinh doanh Ngoài ra, có một số doanh nghiệp xâydựng hạ tầng không theo đúng quy hoạch được duyệt nhất là chậm xây dựng
và đưa vào vận hành hệ thống xử lý nước thải, chất thải Thực tiễn đó đặt rayêu cầu mới khi phát triển thành phần kinh tế tư nhân trong những năm 2006-
2010 là tiếp tục đổi mới mô hình phát triển, kết hợp chặt chẽ giữa phát triểntheo chiều rộng với phát triển theo chiều sâu, bảo đảm phát triển nhanh, bềnvững và hiện đại
2.1.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hải Dương về đẩy mạnh phát triển thành phần kinh tế tư nhân
* Quan điểm chỉ đạo đẩy mạnh phát triển thành phần
Trang 32kinh tế tư nhân
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Hải Dương lần thứ XIV (nhiệm kỳ
2006 - 2010) nêu rõ:
Kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân được khuyến khích pháttriển mạnh; khuyến khích phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, kinh tế trangtrại; khuyến khích có chính sách ưu đãi kinh tế tư nhân tham gia đầu tư pháttriển sản xuất công nghiệp với nhiều quy mô, nhiều trình độ; tham gia đàotạo nghề, hoạt động dịch vụ giới thiệu việc làm và xuất khẩu lao động;nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ vào sản xuất, kinhdoanh; khuyến khích và tôn vinh những người làm giàu chính đáng đi đôivới chống làm giàu phi pháp, tham nhũng, gian lận thương mại [81, tr.88] Như vậy, trong quan điểm chỉ đạo phát triển kinh tế tư nhân trong nhữngnăm 2006-2010 của Đảng bộ tỉnh Hải Dương đã có sự phát triển mới trong phânloại ưu đãi đối với doanh nghiệp Theo đó, Đảng bộ tỉnh chủ trương tạo mọi điềukiện thuận lợi và áp dụng những cơ chế ưu đãi nhất đối với các doanh nghiệp cócông nghệ cao Đồng thời hỗ trợ cao nhất về ưu đãi đầu tư cho doanh nghiệp đầu
tư ở khu vực nông thôn Chú trọng xây dựng mối quan hệ bình đẳng, tương trợ,thúc đẩy nhau cùng phát triển giữa các thành phần kinh tế Đây là sự phát triểnmới trong quan điểm chỉ đạo phát triển kinh tế tư nhân của Đảng bộ tỉnh, pháttriển kinh tế tư nhân vào những ngành công nghiệp mũi nhọn và có tính cạnhtranh cao của địa phương Đồng thời quan điểm trên cũng thể hiện sự quan tâmcủa Đảng bộ tỉnh đối với khu vực nông thôn, khu vực giàu tiềm năng nhưngcũng đòi hỏi sự đầu tư nhiều hơn để thay đổi bộ mặt trong thời kỳ đẩy mạnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa, bước đầu khắc phục sự chênh lệch, mất cân đốitrong phát triển kinh tế vùng, ngành của địa phương
* Phương hướng và mục tiêu phát triển thành phần kinh tế tư nhân Phương hướng
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ XIV của Tỉnh nêu rõ:
Trang 33Chú trọng phát triển kinh tế trang trại, khuyến khích mạnh các doanhnghiệp tư nhân, trước hết là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các hộ giàu đầu tưvốn phát triển sản xuất ở nông thôn, nhất là nông thôn vùng núi; đầu tư vàocác lĩnh vực tạo nhiều sản phẩm xuất khẩu và việc làm, đổi mới, chuyển giao
và ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ vào sản xuất và đời sống “Tiếp tục phát triển mạnh các hộ kinh doanh cá thể và các loại hìnhdoanh nghiệp của tư nhân” [81, tr.52]
Khuyến khích phát triển các tập đoàn kinh tế tư nhân có nhiều chủ sởhữu với hình thức công ty cổ phần; khuyến khích tư nhân mua cổ phần của cácdoanh nghiệp Nhà nước, tham gia đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanhquan trọng của nền kinh tế; khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân lớn bán cổphần cho người lao động, hợp tác, liên doanh với các doanh nghiệp nước ngoài
và mạnh dạn đầu tư ra nước ngoài,
“Thực sự tôn vinh các doanh nhân có tài và thành đạt, đóng góp nhiềucho xã hội và Nhà nước” [81, tr.54]
Mục tiêu
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ XIV của Tỉnh xác định mục tiêu
tổng quát phát triển thành phần kinh tế tư nhân:
Mục tiêu tổng quát phát triển thành phần kinh tế tư nhân là: “Không
ngừng nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh, tạo thêm nhiều việc làm, cómức tăng trưởng bình quân hàng năm cao hơn hiện nay, đầu tư nhiều hơnvào khu vực sản xuất, tham gia ngày càng nhiều vào các hoạt động côngích, sản xuất ngày càng nhiều các sản phẩm xuất khẩu, hợp tác liên doanhvới nhau, với các doanh nghiệp thuộc mọi thành phản kinh tế [81, tr.21].Khuyến khích phát triển kinh tế hộ gia đình và kinh tế trang trại, phát triểnmạnh các doanh nghiệp nhỏ và vừa, góp phần xoá hộ đói, giảm nhanh hộ nghèo
Mục tiêu cụ thể được Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ XIV của
Tỉnh xác định:
Trang 34Một là, “phấn đấu đạt tốc độ phát triển trên 20%/năm Đến năm 2010,
toàn Tỉnh có khoảng 4.500 doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp
và 23.000 hộ cá thể, số vốn đăng ký trên 25.000 tỷ đồng Mỗi năm phấn đấuđăng ký mới trên 500 doanh nghiệp và 2.000 hộ kinh doanh cá thể, giải quyếtviệc làm cho trên 10.000 lao động” [81, tr.34]
Hai là, tạo mọi điều kiện thuận lợi, tăng cường cơ sở vật chất cho thành
phần kinh tế tư nhân, xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách để giải quyếttốt các vấn đề về đất đai, mặt bằng, nhà xưởng, tiền vốn, tiêu thụ sản phẩm, đàotạo nhân lực, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ ; hỗ trợ thành phần kinh tế
tư nhân chủ động tham gia hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế
Ba là, phát triển mạnh kinh tế hộ gia đình ở những vùng, lĩnh vực thích
hợp Tăng thêm vốn và nâng cao trình độ của những hộ kinh doanh nhỏ Nhânrộng mô hình hợp tác, liên kết công nghiệp và nông nghiệp, doanh nghiệpNhà nước và kinh tế hộ nông thôn Phát triển các loại hình trang trại với quy
mô phù hợp trên từng địa bàn
Bốn là, tăng nhanh số doanh nghiệp mới, mở rộng và phát triển những
doanh nghiệp hiện có Đổi mới công nghệ sản xuất và quản lý nhằm nâng caonăng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp tư nhân Xây dựng được một sốdoanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao, đủ khả năng tham gia các tập đoànkinh tế mạnh do kinh tế Nhà nước làm nòng cốt và từng bước hình thành một
số tập đoàn kinh tế mạnh
Năm là, phát triển rộng khắp các cơ sở sản xuất công nghiệp nhỏ và vừa
với ngành, nghề đa dạng, tăng tỷ trọng kinh tế tư nhân trong công nghiệp,khuyến khích thành phần kinh tế tư nhân tham gia các hoạt động công ích vàcác dịch vụ có giá trị gia tăng cao như: Dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảohiểm, viễn thông Từng bước mở rộng hoạt động đầu tư ra nước ngoài củakinh tế tư nhân
So với giai đoạn 2001 - 2005 thì ở giai đoạn này, việc xác định mục
Trang 35tiêu cụ thể, các chỉ số phát triển thành phần kinh tế tư nhân đều cao hơn giaiđoạn trước Xác định mục tiêu cao hơn bắt nguồn từ những cơ sở từ thực tiễn,kinh nghiệm lãnh đạo phát triển kinh tế tư nhân giai đoạn 2001 - 2005; thànhphần kinh tế tư nhân không ngừng lớn mạnh thể hiện được vai trò đáng kểtrong thúc đẩy kinh tế - xã hội của địa phương, đóng góp ngày càng nhiều chongân sách Nhà nước Chính vì vậy, xác định các chỉ tiêu cao hơn trước là phùhợp và có tính khả thi.
Tăng cường quản lý Nhà nước đối với phát triển thành phần kinh tế tư nhân
Phát triển kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa là một xu hướng tất yếu, một chủ trương đúng đắn và nhất quán củaĐảng ta và Nhà nước ta Cần tiếp tục quán triệt và đẩy mạnh công tác tuyêntruyền Nghị quyết Trung ương 5 (khoá IX) về tiếp tục đổi mới cơ chế chínhsách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân, Luật Doanhnghiệp năm 2000 và các chủ trương, đường lối, chính sách pháp luật khác củaĐảng và Nhà nước về phát triển kinh tế tư nhân đến toàn thể cán bộ, đảngviên và các tầng lớp nhân dân trong Tỉnh nhằm đổi mới và nâng cao nhậnthức về vị trí, vai trò và tính tất yếu của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa
Làm tốt công tác phát triển tổ chức cơ sở đảng trong các doanh nghiệp
tư nhân, các cấp uỷ Đảng cần làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đẩymạnh công tác tuyên truyền về Đảng, về truyền thống lịch sử vẻ vang của dântộc, giác ngộ ý thức rèn luyện, tự giác phấn đấu trở thành đảng viên cho mỗiquần chúng ưu tú Tổ chức đảng cần giúp đỡ, vận động thuyết phục chủ
Trang 36doanh nghiệp chưa phải là đảng viên hiểu rõ nếu chủ doanh nghiệp có tổ chứcđảng không chỉ có lợi cho doanh nghiệp mà còn có lợi cho người lao động vàtập thể Vì họ là những người có trách nhiệm, tiền phong gương mẫu trong laođộng, đạo đức, lối sống trong sáng và các phong trào thi đua, góp phần thúcđẩy hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao Từ đó chủ doanh nghiệptạo điều kiện thuận lợi để tổ chức đảng hoạt động, quan tâm tạo nguồn pháttriển trong doanh nghiệp.
Phát triển ngành nghề kinh doanh và quy mô sản xuất.
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ XIV của Tỉnh xác định:
Xây dựng các phương án và có biện pháp cụ thể để khuyến khíchthành phần kinh tế tư nhân đầu tư vào các ngành chế biến vừa và nhỏ ởnông thôn gắn với vùng nguyên liệu, nhằm vừa tăng giá trị sử dụng củanông sản vừa giải quyết việc làm và bố trí lại lao động tại chỗ trongnông nghiệp và nông thôn, tạo điều kiện để đẩy nhanh quá trình đô thịhóa nông thôn [81, tr.65]
Đẩy mạnh việc các cơ sở kinh tế tư nhân sản xuất tham gia xuất khẩu, nhất là
hàng thủ công mỹ nghệ, nông sản thực phẩm và các sản phẩm truyền thống khác.Đồng thời mở ra các sản phẩm mới có nhu cầu tiêu thụ trên thị trường thế giới
Cơ chế tổ chức của các Hiệp hội
Hoàn thiện tổ chức và cơ chế hoạt động của các Hội, phát huy vai tròlàm cầu nối giữa doanh nghiệp và các cơ quan quản lý Nhà nước, nhất là vaitrò của liên minh các hợp tác xã, Hội nông dân Hỗ trợ tư vấn pháp luật, giảiđáp thông tin thực thi các yêu cầu của thị trường trong nước và thế giới chocác doanh nghiệp Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò của các
tổ chức đoàn thể nhân dân đối với sự phát triển của kinh tế tư nhân Đối vớicác ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng (sơn, bao bì, quạt điện, giấy,
gỗ dân dụng, các mặt hàng từ cao su, cần tạo sự liên doanh giữa các doanhnghiệp, một mặt để hỗ trợ cho nhau về vốn, kinh nghiệm sản xuất, từ đó tạo ra
Trang 37những sản phẩm có chất lượng đáp ứng không chỉ nhu cầu của thị trườngtrong nước, mà còn hướng ra xuất khẩu.
Các chính sách kinh tế
Kết luận số 02- KL/TU ngày 05 tháng 5 năm 2005, Về kết quả 3 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa IX), Về tiếp tục đổi mới cơ chế chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân, đã tập
trung những giải pháp thực hiện các chính sách kinh tế để hỗ trợ cho kinh tế
tư nhân: “Chính sách đất đai, mặt bằng cho sản xuất kinh doanh; thực hiện tốtchính sách tài chính - tín dụng; hỗ trợ đắc lực về đào tạo nguồn nhân lực,khoa học công nghệ để kinh tế tư nhân đầu tư mạnh vào các lĩnh vực thếmạnh của địa phương; thực hiện có hiệu quả việc hỗ trợ về thông tin và xúctiến thương mại ” [76, tr.33] Tiếp tục rà soát và hoàn thiện các văn bản đãban hành nhằm không ngừng minh bạch hóa hành lang pháp lý và môi trườngkinh doanh, kiện toàn và củng cố các cơ quan đăng ký kinh doanh, tăngcường gặp gỡ các doanh nghiệp để giải quyết kịp thời các vướng mắc chodoanh nghiệp với thời gian tổ chức là ít nhất một năm 1 lần
Giảm thiểu rủi ro cho kinh tế tư nhân trong quá trình phát triển
Sản xuất kinh doanh trong quá trình hội nhập, các DNTN thường xuyênphải đối mặt với những biến động của thị trường trong nước và quốc tế
Báo cáo số 54- BC/TU ngày 17/11/2009, Về tiếp tục đổi mới cơ chế chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân Đã có chỉ đạo kịp
thời để tháo gỡ những vướng mắc:
Về phía chính quyền Tỉnh cần hỗ trợ và tư vấn các doanh nghiệp ápdụng mô hình quản trị doanh nghiệp tiên tiến; ban hành những quy địnhkhuyến khích các doanh nghiệp công khai thông tin hoạt động sản xuất
và kinh doanh Thâm nhập thị trường từng bước để điều chỉnh kịp thời;
đa dạng hóa sản phẩm và ngành kinh doanh để hỗ trợ cho nhau; dự trữnguồn lực ở mức hợp lý [78, tr.25]
Trang 38Có như vậy, kinh tế tư nhân mới hạn chế tối đa được các rủi ro, đứngvững được trên thị trường.
2.2 Sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Hải Dương về đẩy mạnh phát triển thành phần kinh tế tư nhân (2006 - 2010)
2.2.1 Chỉ đạo đổi mới các chính sách đẩy mạnh thành phần kinh tế tư nhân phát triển
Chỉ đạo đổi mới thực hiện chính sách khoa học và công nghệ
Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hải Dương lầnthứ XIV nhiệm kỳ (2006 - 2010)
Quyết định số 3799 - QĐ/UB, ngày 12 tháng 02 năm 2006, Về chính sách
ưu tiên phát triển, ứng dụng khoa học và công nghệ 2006 - 2010.
Theo đó, hoạt động khoa học và công nghệ của Tỉnh phải tập trung
nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ phục vụ phát triểnsản xuất và đời sống Nhiều kỹ thuật tiến bộ về giống, biện pháp canh tác,chăn nuôi phải nhanh chóng được đưa vào trong sản xuất nông nghiệp, gópphần nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị sản phẩm nông nghiệp (cácgiống lúa lai, lúa thuần, cây rau mầu, cây công nghiệp, cây ăn quả, hoa, câydược liệu, giống gia súc, gia cầm, thuỷ sản…), một số đề tài đã công bốđược áp dụng và mở rộng ngay trong thực tiễn [95 tr.13]
Vì vậy, chỉ sau 5 năm triển khai, nhiều giải pháp đổi mới công nghệ,thiết bị được ứng dụng trong sản xuất tạo ra các sản phẩm làm lợi hàng trăm tỷđồng, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp; nghiên cứu và
áp dụng công nghệ sinh học để giải quyết vấn đề bức xúc về ô nhiễm môitrường nông nghiệp và nông thôn
Tỉnh đã khai thác nguồn lực khoa học và công nghệ của Trung ương và
hợp tác khoa học và công nghệ với nước ngoài thực hiện các công trình khoa
học và công nghệ như:
Trang 39Thực hiện Chương trình “Xây dựng mô hình ứng dụng và chuyển giaokhoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội nông thôn và miền
núi giai đoạn 2005- 2010” với các kết quả: Đầu tư về cơ sở vật chất, đội ngũ
cán bộ kỹ thuật làm chủ công nghệ, từng bước sản xuất các chế phẩm sinhhọc Fito - Biomix RR xử lý rơm, rạ thành phân bón hữu cơ được ứng dụng 8/12huyện trong đó 3 huyện Thanh Hà, Nam Sách, Kinh Môn đã thực hiện 100% xã;sản xuất chế phẩm xử lý đáy ao nuôi thủy sản (BIOF) tiêu biểu huyện Tứ Kỳ,Chí Linh, Kinh Môn…, góp phần tăng hiệu quả sản xuất nông nghiệp và bảo vệmôi trường Các đề tài, dự án khác thuộc Chương trình đã phát huy tác dụng tốtgóp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh
Dự án: “Quản lý và Phát triển chỉ dẫn địa lý Thanh Hà cho sản phẩm vải thiều” đã tạo tập quán sản xuất đảm bảo chất lượng theo chuỗi giá trị từ
khâu lựa chọn giống, kỹ thuật canh tác, chăm bón, sử dụng thuốc bảo vệ thựcvật an toàn, thu hái, sơ chế, bảo quản, quảng bá và tiêu thụ sản phẩm vảithiều Kết quả năm 2010 sản phẩm vải thiều tươi đã vào thị trường khó tínhnhư Mỹ, Úc, châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc và một số nước khác góp phầnthúc đẩy phát triển thị trường nội địa Đây là thành công tiêu biểu trong gắnnghiên cứu với sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
Tỉnh ủy cũng rất quan tâm tới phát triển nguồn nhân lực khoa học và côngnghệ Trên địa bàn tỉnh hiện có 4 trường đại học, 1 phân hiệu Trường Đại học Sưphạm Kỹ thuật Hưng Yên, 8 trường Cao đẳng, 7 trường trung cấp nghề, 17 cơ sởđào tạo ngoại ngữ, tin học, 3 cơ sở liên kết đào tạo từ xa và 8 trung tâm kỹ thuậttổng hợp hướng nghiệp, dạy nghề hằng năm đã đào tạo ra hàng nghìn sinh viên cótrình độ cao đẳng, đại học thuộc các ngành chuyên môn, kỹ thuật khác nhau Đây
là một lực lượng đáng kể đóng góp cho sự phát triển kinh tế của Tỉnh
Đội ngũ cán bộ khoa học của Tỉnh ngày càng tăng, năm 2009 số người
có trình độ từ cao đẳng trở lên là 66.165 người (trong đó trình độ cao đẳng
Trang 4027.788 người, trình độ từ đại học trở lên là 38.377 người) chiếm 4,98% dân số
từ 15 tuổi trở lên
Như vậy, chính sách khoa học và công nghệ trong nhiệm kỳ này có nhiềuđiểm mới hơn so nhiệm kỳ trước Có nhiều dự án lớn được đầu tư, và hợp tác,chuyển giao công nghệ với nước ngoài Tiếp tục ưu tiên phát triển khoa học vàcông nghệ, song tập trung hơn vào lĩnh vực nông nghiệp Nâng cao chất lượng sảnxuất và chế biến, bảo quản các nông sản như cây lương thực, cây ăn trái…, nhằmkhơi dậy và phát huy nhiều tiềm năng sẵn có của địa phương
Chỉ đạo đổi mới chính sách đất đai
Chính sách đất đai trong giai đoạn 2001 - 2005 đã đạt được những thànhtựu đáng kể, nhưng vẫn còn những bất cập như: Chính sách quản lý, công tác quyhoạch, sử dụng đất còn hạn chế; tình trạng khiếu nại tố cáo, tranh chấp đất đai vẫntồn tại.v.v Hơn nữa để phù hợp với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế tư nhângiai đoạn 2006 - 2010, đòi hỏi Đảng bộ tỉnh phải có những đổi mới trong công tácchỉ đạo chính sách đất đai để phù hợp với tình hình mới
Toàn Tỉnh đã quy hoạch 170 trang trại, sử dụng 1.514,56 ha đất và 28vùng chuyên canh rau của 10 huyện theo định hướng Nghị quyết số 53-NQ/TWngày 29/8/2005 của Bộ Chính trị gắn với việc tăng cường sử dụng giống câymới Khuyến khích phát triển các làng nghề truyền thống: Mộc Cúc Bồ (NinhGiang), gỗ Đông Giao (Cẩm Giàng), vàng bạc Châu Khê (Bình Giang), rượuPhú Lộc (Cẩm Giàng), thêu ren Xuân Nẻo (Tứ Kỳ), giày da Tam Lâm (GiaLộc), gốm Chu Đậu (Nam Sách), sứ Cậy (Bình Giang), bánh đậu xanh (Hải
Dương), bánh gai (Ninh Giang)… Báo cáo số 54- BC/TU ngày 17 tháng 11 năm
2009, Tỉnh ủy khẳng định: “Cần tập trung chỉ đạo tốt chính sách đất đai, giao
quỹ đất cho các hộ gia đình để họ mở rộng sản xuất, rà soát lại các dự án đã quyhoạch, chỉ thực hiện những dự án cần thiết, còn lại làm quỹ đất cho kinh tế cá thểtiểu chủ (nhất là ở nông thôn) phát triển các làng nghề, các trang trại” [78, tr.22]
Phát triển thị trường bất động sản, hỗ trợ các hộ sản xuất và doanh nghiệp,