1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TÀI CHÍNH QUỐC TẾ NĂM 2017

15 295 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 58,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dựa vào những hệ thống lý thuyết trong quá khứ và các tư liệu khác tham khảo được tôi sẽ phân tích về những nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng kinh tế trong từng thời kỳ, ảnh hưởng của nó v

Trang 1

Tiểu luận:

GVHD: Trương Trung Tài

Họ và tên: Nguyễn Công Đông Phương

Lớp: Ngân hàng 2012 TP1

Điện thoại: 0968704308

Email : phuonglnsro6@gmail.com

KHỦNG HOẢNG KINH TẾ,

NHỮNG BÀI HỌC TỪ QUÁ KHỨ

Trang 2

I Tóm tắ t

 Xuất phát từ yêu cầu làm bài tập môn tài chính quốc tế, và mong muốn được tìm hiểu thêm về sự khủng hoảng kinh tế của toàn thế giới, nên hôm nay với kiến thức của mình và tài liệu tham khảo

từ nhiều nguồn khác nhau đã làm bài tiểu luận này Vì kiến thức còn có hạn nên sẽ không thể thiếu được nhiều thiều sót trong lúc làm tiểu luận Nên mong được thầy chỉ ra những khuyết điểm

để em rút kinh nghiệm cho những lần làm tiểu luận tiếp theo

 Cả thế giới vừa trải qua một cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất trong lịch sử, đển hiện nay hậu quả của

nó vẫn còn đang ảnh hưởng đến tình hình kinh tế của toàn thế giới Trong bài tiểu luận này tôi sẽ giới thiệu đến cho các bạn biết khái niệm về khủng hoảng kinh tế Dựa vào những hệ thống lý thuyết trong quá khứ và các tư liệu khác tham khảo được tôi sẽ phân tích về những nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng kinh tế trong từng thời kỳ, ảnh hưởng của nó và những cuộc khủng hoảng

đã từng xảy ra trong lịch sử phát triển của nền kinh tế thị trường Qua đó giúp các bạn hình dung được một phần nào đó cơ bản nhất về những cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới trong quá khứ Tôi cũng sẽ giới thiệu cho các bạn về tình hình nền kinh tế thế giới và đất nước chúng ta hiện nay như thế nào sau đợt khủng hoảng kinh tế tồi tệ bắt đầu từ năm 2008 vừa qua cho đến nay Và quan trọng là sau khi phân tích, tìm hiểu về các cuộc khủng hoảng đó, chúng ta sẽ rút ra những bài học gì để giúp cho nền kinh tế của chúng ta và thế giới trong tương lại tránh được những thiệt hại tồi tệ nhất khi một lần nữa khủng hoảng lại xảy ra

 Tài liệu tham khảo

• Giáo trình kinh tế chính trị Mác Lênin

• Giáo trình kinh tế học phổ thong

II Giới thiệu

 Như thế nào gọi là khủng hoảng kinh tế?

 Khủng hoảng kinh tế là khái niệm dùng để chỉ những hiện tượng kinh tế mất ổn định và kéo dài

mà không điều chỉnh được trong quá trình tái sản xuất, gây ra những hậu quả nghiêm trọng (hay những cú sốc) cho nền kinh tế xã hội trong quy mô rộng hoặc hẹp.

 Khủng hoảng kinh tế xảy ra trong mọi lĩnh vực của sản xuất xã hội trong tất cả các khâu của quá trình tái sản xuất.

 Khủng hoảng kinh tế bao gồm 4 giai đoạn:

Khủng hoảng: đây là giai đoạn đầu của một chu kỳ kinh tế Xuất hiện đầu tiên là khủng hoảng

tiêu thụ, dự trữ hàng hóa trong kho của các xí nghiệp tăng lên, giá cả hang hóa bị giảm xuống do quy luật cung cầu ( lúc này lượng cung lớn hơn cầu) có khả năng thanh toán cuộc cạnh tranh để tiêu thụ hang hóa trở nên gay gắt, các nhà sản xuất buộc phải thu hẹp hoặc đình chỉ sản xuất Do các xí nghiệp không có khả năng thanh toán nợ, tâm lý hoảng loạn, bán trái phiếu, cổ phiếu, rút tiền khỏi ngân hàng,… làm giá cả thị trường giảm mạnh Tín dụng thương mại và ngân hàng bị thu hẹp trong khi nhu cầu về tín dụng lại tang lên làm cho tỉ suất lợi tức tăng lên rất cao Khủng hoảng công nghiệp và thương nghiệp đưa đến khủng hoảng tiền tệ tín dụng khủng hoảng đã phá hỏng nghiêm trọng lực lượng sản xuất, người thất nghiệp đông đảo, tình trạng đời sống hết sức khó khăn Nhưng nghiêm trọng hơn, đó lại là điều kiện để nhà tư bản tăng cường bóc lột công nhân Do đó công nhân phải chấp nhận lao động trong những điều kiện nặng nhọc, tiền lương thấp mà cường độ lao động lại cao

Tiêu điều: là giai đoạn sau khủng hoảng Đặc điểm của giai đoạn này là sản xuất cũng không tiếp

tục sụt giảm nữa nhưng cũng không tăng lên Tình hình sản xuất ở trong trường hợp bị trì trệ Để thoát khỏi tình trạng này, các nhà tư bản tăng cường bóc lột công nhân bằng cách tăng cường độ

và thời gian lao động, hạ thấp tiền lương, để giảm bớt chi phí sản xuất và thay đổi mới tư bản cố

Trang 3

định, cải tiến kỹ thuật Việc đổi mới tư bản cố định đã làm tăng về nhu cầu tư liệu sản xuất làm cho kinh tế dẩn dần thoát khỏi tình trạng khủng hoảng, có bước chuyển biến bức ra khỏi trạng thái trì trệ để tiến vào trạng thái phục hồi

Phục hồi: là giai đoạn nối tiếp sau giai đoạn tiêu điều Từ tiêu điều chuyển sang dần dần phục hồi

và bắt đầu mở rộng quy mô sản xuất nhờ thay đổi tư bản cố định Sản xuất được mở rộng đạt mức trước khủng hoảng Số người lao động tăng lên, giá cả hàng hóa cũng tăng lên, lợi nhuận thu được cũng tăng lên Kinh tế bước sang một giai đoạn mới, giai đoạn hưng thịnh

Hưng thịnh: là giai đoạn phát triển cao nhất của chu kì kinh tế ở giai đoạn này, cung cấp về hàng

hóa tăng lên, sản xuất mở rộng và phát triển vược mức cao nhất của chu kì trước Nhưng như vậy lại tạo điều kiện chuẩn bị cho một chu kì khủng hoảng mới bắt đầu và chín mùi

III Hệ thống lý thuyết

 Lý thuyết về khủng hoảng kinh tế của Marx:

• Khủng hoảng kinh tế là, là sự suy giảm các hoạt động kinh tế kéo dài và trầm trọng hơn cả suy thoái trong chu kỳ kinh tế

• Trong lý thuyết của Marx, Marx nhấn mạnh giới chủ làm giàu trên xương máu của họ, và giới trùm tư bản sẽ sụp đổ dưới những mâu thuẩn nội tại

• Trong phương thức trước chủ nghĩa tư bản vẫn thường xảy ra những biến động trong đời sống kinh tế Những biến động này là do thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh gây ra làm cho sản xuất bị tàn phá, nhân dân bị đói là do thiếu thốn về sản phẩm

• Các nhà kinh tế học tư sản đã giải thích nguyên nhân của cuộc khủng hoảng là do mất cân đối ngẫu nhiên giữa các nghành sản xuất hoặc do tiêu dùng tạm thời không theo kịp sản xuất Dựa trên kết luận vu vơ ấy họ bày ra các kế sách giúp cho tư bản thoát cho tư bản thoát ra các tai họa ghê gớm Nào là kinh tế chỉ huy, nào là công quỹ đặc biệt cho hàng hóa xuất khẩu, đi xâm chiếm thị trường nước ngoài, bán chiệu,…

• Mặc dù có thay đổi phương thuốc chủ nghĩa tư bản, từ hơn một thế kỉ nay, nó vẫn cứ định kỳ, không những không thuyên giảm mà ngày một trầm trọng lên Từ năm 1925 là năm đầu tiên xảy

ra khủng hoảng sản xuất thừa trong lịch sử chủ nghĩa tư bản cho đến nay Ít nhất chủ nghĩa tư bản

đã xảy ra 16 lần khủng hoảng Những cuộc khủng hoảng này bao trùm toàn bộ thế giới tư bản hoặc xảy ra ở một số nước tư bản

• Ở Anh xảy ra cuộc khủng hoảng kinh tế toàn quốc đầu tiên thì 11 năm sau, vào năm 1936 nổ ra cuộc khủng hoảng thư hai Năm 1947 – 1948 nổ ra cuộc khủng hoảng thứ ba Về cơ bản đây là những cuộc khủng hoảng thế giới đầu tiên trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa Năm 1957 nổ ra cuộc khủng hoảng chủ yếu bao trùm các quốc gia ở Châu Âu có cả Anh và Châu Mĩ Các cuộc khủng hoảng tiếp sau là: 1886, 1873, 1882, 1890, 1920 – 1921, 1929 – 1933: là thảm họa của chủ nghĩa tư bản, 1948 – 1949, 1958,… liên tiếp nổ ra ở các nước tư bản chủ nghĩa

• Khủng hoảng kinh tế là chủ nghĩa của tư bản mới có và đã là cố tật thì không thể nào cứu chữa được nên nguyên nhân không thể đi tìm ở những nhân tố bên ngoài, ngẫu nhiên Nguyên nhân của nó chỉ có thể là mâu thuẩn đối kháng mà nền sản xuất tư bản chủ nghĩa từ khi ra đời vốn đã mang trong người nó

• Trước hết phải kề đến mâu thuẫn giữa tính tổ chức của sản xuất trong từng xí nghiệp riêng lẽ và tình trạng vô chính phủ của tổ chức sản xuất trong phạm vi toàn xã hội Mâu thuẫn này tạo ra tình trạng vô chính phủ cực kì nghiêm trọng, mọi người đều biết không chỉ riêng sản xuất tư bản mới

có tình trạng sản xuất vô chính phủ Bất cứ hàng hóa nào dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất đều có đặc điểm này Ở đây người sản xuất chỉ sản xuất theo ý của mình, không ai quan tâm và không ai biết nhu cầu của thị trường là như thế nào và cần bao nhiêu là đủ Chỉ tới

Trang 4

khi nào hàng hóa được mang ra thị trường thì số phận của nó mới được định đoạt, hàng hóa có thể bán được nếu nó đáp ứng được yêu cầu của thị trường và thị trường vẫn chưa bão hòa, và hàng hóa có thể không bán được vì không đáp ứng được yêu cầu của thị trường hoặc thị trường

đã bão hòa Như vậy tình trạng vô chính phủ của hàng hóa đã ấp ủ sẵn khả năng khủng hoảng Vì vậy những gián đoạn về tiêu thụ hàng hóa do sản xuất vô chính phủ của sản xuất hàng hóa gây ra một sự đỗ vỡ bao trùm toàn bộ nền sản xuất Tình thế luôn bị đảo lộn, tình trạng mất cân đối sản xuất giữa các nghành sản xuất với tiêu dùng Mâu thuẩn giữa sản xuất và tiêu dùng sinh ra từ bản chất của chủ nghĩa tư bản

• Sản xuất vô chính phủ không phải nguồn gốc duy nhất của khủng hoảng Chỉ khi nào khối lượng hàng hóa sản xuất ra vược xa sức mua của người tiêu dùng thì khi đó tình trạng mất cân đối sản xuất do vô chính phủ gây ra mới làm bùng phát khủng hoảng, do tác dụng mâu thuẩn giữa

khuynh hướng mở rộng sản xuất vô hạn của chủ nghĩa tư bản và sức mua có giới hạn của thị trường tiêu dùng

• Vì lòng thèm khát lợi nhuận vô hạn mà mỗi nhà tư bản đều ra sức tích lũy để mở rộng sản xuất, cải tiến kỹ thuật để làm gian tăng sản xuất hàng hóa ra thị trường Trong khi đó thì chính sự tích lũy của tư bản không gây ra hậu quả bần cùng hóa nhân dân lao động, vì vậy sức mua của người lao động nói riêng hay người tiêu dùng nói chung ngày càng suy giảm, dẫn đến tình trạng cung vược quá cầu gây dư thừa hàng hóa

• Hàng hóa không phải thừa tuyệt đối vì còn xa nó mới đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội Hàng hóa chỉ thừa tương đối, thừa so với mức tiêu dùng thấp kém của xã hội

• Như vậy khủng hoảng sản xuất thừa còn gắn liền với mâu thuẩn giữa người lao động và nha tư bản Sự ra đời của tư bản có nghĩa là sự tước đoạt tư liệu sản xuất của xã hội từ tay những người sản xuất và biến họ trở thành vô sản, đó là đặc điểm của chủ nghĩa tư bản Sự tách rời giữa hai nhân tố của quá trình sản xuất là sự đối lập giữa tư bản và lao động Như vậy khủng hoảng sản xuất thừa bắt nguồn từ những mâu thuẩn đối kháng của tái sản xuất tư bản chủ nghĩa Mâu thuẩn này đều sản sinh ra trên cơ sở của chế độ chiếm hữu tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất Những mâu thuẩn cơ bản của chủ nghĩa tư bản: mâu thuẩn giữa sản xuất và tình chất xã hội và chiếm hữu

có tính chất tư bản chủ nghĩa

• Chủ nghĩa tư bản ra đời đã tập trung những tư liệu sản xuất vào tay những nhà tư bản và biến những tư liệu cá nhân nhỏ mọn ấy thành những tư liệu sản xuất xã hội Khủng hoảng nổ ra vào lúc sản xuất đạt tới mức điểm cao nhất, lúc mà tình trạng mất cân đối giữa sản xuất và tiêu dùng đạt tới đỉnh điểm Một khi mà dòng lưu thông hàng hóa bị đầy ứ lại thì nó sẽ phá tan bất cứ chỗ nào một cách vô cùng đột ngột

• Một định nghĩa khác với cách hiểu ngày nay là trong học thuyết Kinh tế chính trị của Mác-Lênin

Từ ngữ này chỉ khoảng thời gian biến chuyển rất nhanh sang giai đoạn suy thoái kinh tế Bài viết này chủ yếu về khái niệm Khủng hoảng kinh tế của Karl Marx vốn vẫn được dùng thịnh hành trong Kinh tế chính trị Marx Khủng hoảng kinh tế đề cập đến quá trình tái sản xuất đang bị suy sụp tạm thời Thời gian khủng hoảng làm những xung đột giữa các giai tầng trong xã hội thêm căng thẳng, đồng thời nó tái khởi động một quá trình tích tụ tư bản mới

• Nhưng tự bản thân Karl Marx không đưa ra kết luận cuối cùng về bản chất của khủng hoảng kinh

tế trong chủ nghĩa tư bản Thực vậy, những nghiên cứu của ông gợi ý nhiều lý luận khác nhau mà tất cả chúng đều gây tranh cãi Một đặc điểm chủ yếu của những lý luận này là khủng hoảng không phải ngẫu nhiên và không tự nhiên mà nó bắt nguồn từ bản chất của chủ nghĩa tư bản với vai trò là một hình thái xã hội

 Những biện pháp để thoát khỏi khủng hoảng.

Trang 5

• Các nhà tư bản tìm mọi cách giảm chi phí sản xuất như: giảm tiền lương, tăng cường độ lao động, giảm chi phí đầu vào, đổi mới tư bản cố định, cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động

• Việc đổi mới tư bản cố định đã làm tăng nhu cầu về tư liệu sản xuất và sau đó là tư liệu sinh hoạt

Do đó đã thúc đẩy việc mở rộng sản xuất, làm cho nền kinh tế đã dần thoát ra trạng thái khủng hoảng, có bước chuyển biến khỏi trạng thái đình trệ, chuyển sang hồi phục Nền kinh tế dần dần

ổn định hơn

IV Cuộc đại khủng hoảng thế giới 2008 – 2010

1 Nguyên nhân

 Những dấu hiệu dự báo khủng hoảng từ trước.

• 1982 giá dầu tăng và sự kiểm soát chặc chẽ tín dụng đã kiềm hãm kinh tế phát triển; đồng thời làm tăng lạm phát Kết quả tiền lời tăng lên 21% cao nhất trong lịch sử Bắc Mĩ Ngân sách Hoa

Kỳ bị thâm hụt và thất nghiệp gia tăng

• Vào năm 2000 vì hệ thống kế toán không chính xác và thiếu minh bạch nên các hãng mạng lưới (dot.com) phóng đại các con số thu nhập; cộng thêm biến cố 9/11 đưa tới sự tụt dốc của thị trường chứng khoáng và làm mất hàng ngàn tỷ tiên đầu tư của dân chúng từ tháng 3 năm 2000 đến tháng 10 năm 2002

• Vào năm 2007 giá dầu và ngũ cốc tăng; cộng thêm chi phí quá nặng do chiến tranh Irak,

Afghanistan và sự cho vay dễ dãi của ngân hàng cho những người mua nhà (sub prime mortage) đưa tới khủng hoảng năm 2008

• Như vậy sub prime mortage là giọt nước làm tràn ly dẫn tới cuộc đại khủng hoảng

 Chứng khoáng hóa.

• Các sản phẩm chứng khoán hóa xuất hiện từ đầu thập niên 1970 và phát triển mạnh trong mội trường chính sách tiền tệ được nới lỏng từ năm 2001

• Chứng khoán hóa và việc ra đời các sản phẩm của quá trình này như chứng khoán đảm bảo bằng tài sản thế chấp (MBS), giấy nợ đảm bảo bằng tài sản (CDO) và các loại tương tự là một phát minh lớn về công cụ tài chính Tuy nhiên, vì có ít nhất tới 4 loại chủ thể kinh tế liên quan đến chứng khoáng hóa (thay vì hai loại chủ thể kinh tế là người thế chấp – đi vay và tổ chức tín dụng cho vay - nhận thế chấp như giao dịch tín dụng truyền thống), vì sự xuất hiện của bảo hiểm cho các sản phẩm chứng khoán như hợp đồng hoán đổi tổn thất tín dụng (CDS), vì sự ra đời của các thể chế như các thể chế mục đích đặc biệt (SPV) và những công cụ đầu tư kết cấu (SIV) để mua bán MBS và CDO, nên đã tồn tại những rủi ro hệ thống bao gồm cả rủi ro đạo đức và lựa chọn trái ý Trong khi đó, mô hình giám sát tài chính của Hoa Kỳ trước khủng hoảng không đủ năng lực giám sát các rủi ro này

• Những rủi ro mang tính hệ thống đã tồn tại và một khi sự cố đối với bong bóng thị trường xảy ra thì những rủi ro này sẽ làm mất lòng tin ghê gớm của các bên liên quan Thêm vào đó việc thực hành cho vay liên ngân hàng sẽ làm cho những tổn thất tín dụng lây lan ra toàn hệ thống ngân hàng ; một ngân hàng phá sản sẽ kéo theo nhiều ngân hàng khác phá sản Và mất niềm tin ở người gởi tiền gây ra đột biến rút tiền gửi làm cho tình hình thêm nghiêm trọng và diễn ra nhanh chóng hơn

• Thực tế, thị trường nhà ở bắt đầu tự điều chỉnh từ năm 2005 khiến cho giá nhà đất giảm và chất lượng tài sản đảm bảo cho các MBS và CDO giảm theo Rủi ro mang tính hệ thống đã làm cho khủng hoảng tín dụng nhà ở thứ cấp nổ ra tháng 5 năm 2006 khi mà nhiều tổ chức phát hành MBS và CDO cũng như một số tổ chức tài chính mà trong danh mục tài sản của mình có nhiều MBS và CDO sụp đổ Tiếp theo đó khủng hoảng tài chính nổ ra vào tháng 8 năm 2007 khi đến

Trang 6

lượt các SPV và SIV cũng sụp đổ rồi phát triển thành khủng hoảng tài chính toàn cầu từ tháng 9/2008 khi cả những tồ chức tài chính khổng lồ như Lehman Brother cũng sụp đổ

 Bong bóng thị trường nhà ở.

• Khi bong bóng dot.com bị bể, chính phủ và các kinh tế gia Hoa Kỳ bày ra chiến dịch “mỗi gia đình làm chủ một căn nhà” để phát triển kinh tế dựa trên chương trình cho vay với lãi suất thấp trong mấy năm đầu và cao cho các năm sau (sub prime rate), viết tắc SP Đôi khi các nhà tín dụng còn mạo hiểm cho các con nợ mua nhà có tên là Ninja tức là người vay tiên không cần có công ăn việc làm, không cần trả tiền vốn ban đầu, và không cần trả nợ trong các năm đầu Tóm lại, chỉ cần bất cứ ai kí tên vay tiền là có thể làm chủ căn nhà

• Chẳng hạn giá nhà bán 100$, ngân hàng cho vay 120$ (cao hơn giá nhà mua) 20$ được sử dụng

để chi trả tất cả các chi phí như tiền vốn ban đầu, tiền lời cho các năm đầu, kể cả các dịch vụ mua nhà cửa Các năm kế tiếp, người mua nhà sẽ trả tiền lời cao hơn Những người đầu tư hy vọng già nhà tăng, họ có thể bán lại căn nhà đầu tư để kiếm lời

• Bong bóng dot.com vỡ vào năm 2001 và suy thoái kinh tế hiện rõ sau sự kiện 11 tháng 9, cục dự trữ liên bang Hoa Kỳ đã có những biện pháp tiền tệ để cứu nên kinh tế nước này khỏi suy thoái,

đó là hạ lãi suất cho vay qua đêm liên ngân hàng Chỉ trong thời gian ngắn từ tháng 5 năm 2001 đến tháng 12 năm 2002, lãi suất liên ngân hàng giảm 11 đợt từ 6.5% xuống còn 1,75% Tín dụng thứ cấp cũng giảm lãi suất theo Điều này kích thích sự phát triển của khu vực bất động sản và nghành xây dựng làm động lực cho tăng trưởng kinh tế Trong môi trường tín dụng dễ dãi, những

tồ chức tài chính đã có xu hướng cho vay mạo hiểm kể cả cho những người nhập cư bất hợp pháp vay Hệ quả là vay và đi vay ồ ạc nhằm mục đích đầu cơ dẫn tới hình thành bong bóng nhà ở Năm 2005 có tới 28% số nhà được mua là để nhằm mục đích đầu cơ và 12% mua chỉ để không Năm này bong bóng nhà ở phát triển đến mức cực đại và bị vỡ từ quý IV năm 2005 đến quý I năm 2006, giá trị trung vị của giá nhà giảm 3.3% thời điểm đó, tổng giá trị tích lũy các khoản tín dụng nhà ở thứ cấp lên đến 600 tỷ đô-la

• Sau khi bong bóng nhà ở vỡ, các cá nhân khó khăn trong việc trả nợ Nhiều tổ chức tín dụng cho vay mua nhà gặp khó khăn vì không thu hồi được nợ Giá nhà ở giảm nhanh khiến cho các loại giấy nợ đảm bảo bằng tài sản (CDO) và chứng khoán đảm bảo bằng tài sản thế chấp(MBS) do các

tổ chức tài chính phát hành bị giảm giá nghiêm trọng Kết quả là bảng cân đối tài sản của các tổ chức này bị xấu đi và xếp hạng tín dụng của họ bị các tổ chức đánh giá đánh tụt Cuộc khủng hoảng tín dụng nhà ở thứ cấp nổ ra

• Theo hai định luật vô thường thịnh – suy và nhân duyên giữa các nhân, giá nhà và giá dầu tăng cao Các hãng, xưởng bắt đầu đóng cửa; số người thất nghiệp gia tăng Người vay tiên không đủ sức trả nợ Càng ngày càng nhiều người bán nhà hay chạy nợ, bỏ nhà lại cho ngân hàng

(foreclosure) Kết quả, già nhà đổ, nhà bán không có người mua, kéo theo sự suy sụp của các nghành kinh tế khác Thị trường chứng khoáng tụt dốc và thế giới bị lỗ trên 1000 tỷ đô-la trong năm 2008

• Điểm chót không kém quan trọng, các ngân hàng ngoại quốc ham lời nên đã chia sẽ với các ngân hàng Hoa Kỳ cho những người đi mua nhà vay tiền tại Hoa Kỳ Giá nhà bị sụp đổ kéo theo sự suy thoái của thị trường chứng khoán làm cho các ngân hàng ngoại quốc bị mất hàng tỷ đô-la; ví dụ: ING(Hà Lan) mất 4,5 tỷ, BNP(Pháp) mất 5 tỷ, Norther Rock (Anh) mất 25 tỷ,…

• Tóm lại sự cho vay dễ dãi của các ngân hàng tại Hoa Kỳ đã đưa tới sự sụp đổ của thị trường bất động sản, kéo theo sự lỗ lả của các ngân hàng, làm cho các nghành nghề khác bị đóng cửa, thợ thuyền thất nghiệp Tiền đầu tư, hưu trí của dân chúng bị bốc hơi

Trang 7

• Nhìn một cách khái quát hơn, nguyên nhân sâu xa chính từ cơ cấu và động lực tăng trưởng bất hợp lý của Mỹ nhưng nó đã bị bỏ qua bới các nhà hoạch định chính sách tự mãn và sự lạc quan thái quá của người Mỹ

2 Diễn biến cuộc khủng hoảng

 Nền kinh tế Mỹ

• Mỹ là điểm xuất phát và là trung tâm của cuộc khủng hoảng Truớc khi đi vào phân tích chi tiết, xin giới thiệu sơ qua diễn biến của cuộc khủng hoảng:

• Ngày 22/2/2007: HSBC sa thải người đứng đầu bộ phận cho vay thế chấp địa ốc tại Mỹ của ngân hàng này, chấp nhận những thiệt hại lên đến 10.8 tỷ USD

• Ngày 16/3/2007: Accredited Home Lender Holding đưa danh mục nợ dưới chuẩn đáng giá 2,7 tỷ USD của mình ra bán với mức giảm giá rất cao để lấy tiền mặt cho kinh doanh

• Ngày 2/4/2007: New Century Financial nộp đơn xin được bảo hộ theo chương 11 luật phá sản sau khi đã bị buộc phải mua lại hàng tỷ USD nợ xấu

• Tháng 9/2007, FED còn tiến hành giảm lãi suất cho vay qua đêm liên ngân hàng từ 5,25% xuống 4,75%

• Bên cạnh đó, FED cũng đã tiến hành các biện pháp nhằm tăng mức độ thanh khoản của thị truờng tín dụng như: thực hiện nghiệp vụ thị truờng mở mua vào các loại công trái Mỹ, trái phiếu cơ quan chính phủ Mỹ và Trái phiếu cơ quan chính phủ Mỹ đảm bảo theo tín dụng nhà

• Ngày 16/3/2008, JP Morgan đã thỏa thuận mua lại Ngân hàng Bear Stearns - một thương vụ đánh dấu kết thúc sự tồn tại độc lập trong khoảng thời gian 85 năm của Bear Stearns và khiến cơn ác mộng của thị trường tín dụng trở thành sự thật

• Ngày 11/7/2008, giá dầu chạm mức lịch sử: 147,27$/thùng

• Ngày 7/9/2008 khi hai nhà cho vay cầm cố vốn là trụ cột của Thị trường cho vay thế chấp của Mỹ

là Freddie Mac và Fannie Mac chiếm chiếm 40% thị phần, với tổng tài sản vào khoảng 5000 tỷ đã tuyên bố mất khả năng thanh toán gây chấn động thị trường tài chính thế giới và có nguy cơ làm tiêu tan toàn bộ những nỗ lực của FED trong suốt thời gian qua buộc FED phải chi 200 tỷ USD

để tiếp quản Đặc biệt có thể đẩy lạm phát của Mỹ lên cao hơn Sự kiện này khiến người ta không tránh khỏi những lo ngại về các định chế tài chính lớn khác sụp đổ

• Ngày 15/9/2008, ngân hàng đầu tư lớn thứ 4 của Mỹ, Lehman Brothers, sau 158 năm đã tuyên bố phá sản

• Tối 16/9/2008, FED cho biết chính phủ nước này vừa đồng ý chi một khoản tiền trị giá 85 tỷ USD cứu trợ khẩn cấp cho AIG, tập đoàn cung cấp dịch vụ tài chính và bảo hiểm hàng đầu thế giới

• Ngày 1/3/2009 AIG tiếp tục nhận được 30 tỷ Đây có thể sẽ là lần thứ tư chính phủ Mỹ phải bơm tiền để cứu tập đoàn bảo hiểm AIG Như vậy chính phủ Mỹ đã rót 150 tỷ USD vào AIG và hiện

đã trở thành cổ đông lớn nhất của AIG với 80% cổ phần

• Ngày 21/9/2009, Goldman Sachs và Morgan Stanley thay đổi mô hình hoạt động FED vừa bất ngờ cho phép hai ngân hàng đầu tư Goldman Sachs và Morgan Stanley chuyển đổi sang mô hình tập đoàn ngân hàng mẹ (bank holding company)

=>Với Lehman Brothers phá sản, Bear Stearns và Merill Lynch bị mua lại, sự chuyển đổi mô hình

của Goldman Sachs và Morgan Stanley đồng nghĩa với việc Phố Wall không còn ngân hàng đầu tư độc lập nào nữa

• 26/9/2008 Ngân hàng Washington Mutual với tổng Tài sản 327,9 tỷ nộp đơn xin bảo hộ phá sản

• Ngày 28/9/2008 Ngân hàng cho vay thế chấp Bradford & Bingley (Anh) sụp đổ

Trang 8

• Ngày 29/9/2008, Quốc hội Mỹ bác kế hoạch 700 tỷ USD, khiến Dow Jones có mức sụt giảm lớn nhất lịch sử, gần 778 điểm, và phố Wall mất 1.200 tỷ USD

• Ngày 3/10/2008: Hạ viện Mỹ thông qua gói 700 tỷ USD

• Ngày 7/10/2008: Anh chi 88 tỷ USD cứu hệ thống ngân hàng

• Ngày 8/10/2008: Các ngân hàng trung ương đồng loạt hạ lãi suất

• Ngày 12/10/2008: Chính phủ Iceland có nguy cơ sụp đổ vì khủng hoảng tài chính

• Ngày 27/10: IMF bơm tiền hỗ trợ hàng loạt nền kinh tế

• Ngày 5/11/2008: Ông Barack Obama đắc cử Tổng thống Mỹ, với đường lối kinh tế được thế giới

kỳ vọng thay đổi hiện trạng kinh tế Mỹ và toàn cầu

• Ngày 10/11/2008: Trung Quốc chi gần 600 tỷ USD kích thích kinh tế

• Ngày 14/11/2008: 15 nước châu Âu thừa nhận lâm vào suy thoái

• Ngày 17/11/2008: Nhật thông báo đã suy thoái

• Ngày 25/11/2008: Mỹ chi thêm 800 tỷ USD hỗ trợ kinh tế

• Ngày 1/12/2008: Mỹ thừa nhận đã suy thoái từ cuối năm 2007

• Ngày 11/12/2008: Vụ lừa đảo 50 tỷ USD của Bernard Madoff vỡ lở, với hàng nghìn nạn nhân: doanh nghiệp công nghiệp, các tập đoàn, các quỹ từ thiện, trường đại học, và một số quỹ đầu tư danh tiếng

• Dưới sự tác động của sự đỗ vỡ bong bóng nhà đất đã dẫn tới Khủng hoảng kinh tế FED bơm

1500 tỷ vào nền kinh tế đã khiến cho đồng dolar trở nên mất giá cùng hàng loạt các báo cáo kết quả kinh doanh không khả quan của các công ty, tập đoàn đã khiến cho Thị trường chứng khoán tụt dốc một cách thảm hại, thị trường kim loại trở nên hấp dẫn, hiện tượng đầu cơ làm giá…

 Trên thị truờng chứng khoán, chỉ số Dow Jones cũng biến động không ngừng

• Lần đầu tiên, ngày 10/7/2007, chỉ số công nghiệp Dow Jones đạt mức cao nhất 14.198 điểm Sau

đó là chuỗi những ngày giảm giá và đỉnh điểm nhất là ngày 29/9/2008 khi Quốc hội Mỹ bác kế hoạch 700 tỷ USD, khiến Dow Jones có mức sụt giảm lớn nhất lịch sử, gần 778 điểm, và phố Wall mất 1.200 tỷ USD

• Ngày 6/3/2009 DJ đã xuống mức thấp nhất 6470 điểm gần bằng mức 30/12/1996 Chỉ hơn 1.5 năm sau khi đạt mức kỷ lục DJ đã mất gần 8000 điểm đưa về mốc 6500 của hơn 10 năm trước Một màu đỏ bao trùm lên thị trường chứng khoán

 Trên thị trường tiền tệ, đồng USD mất giá nghiêm trọng.

• Từ đầu năm 2007, đồng tiền của kinh tế lớn nhất thế giới đã sụt giảm 13% so với các đồng tiền chủ chốt khác (EUR, GBP), trong đó giảm 5% so với đồng nhân dân tệ của Trung Quốc

• Đỉnh điểm là ngày 15/7/2009 tỷ giá EURUSD là 1.60373 từ mức EURUSD 0.8225 15/10/2000 đồng USD đã mất giá trị gần một nửa so với đồng EUR Điều này đồng nghĩa với tỷ lệ lạm phát tại Mỹ tăng cao, đồng USD mất giá, sức tiêu thụ hàng hóa của người dân giảm sút, giá cả tăng Khi đồng USD rẻ thì kích thích việc xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu Chính điều này khiến hàng hóa các nước trở nên đắt hơn và cũng không có lợi cho nền kinh tế của nước mình

• Tháng 10/2009 có tin cho rằng các nước quốc gia A-rập Vùng Vịnh – khu vực có mối quan hệ căng thẳng với Mỹ - đã bí mật thảo luận với Nga, Trung Quốc, Nhật Bản và Pháp về việc thay đồng USD bằng một loại tiền tệ khác trong mua bán dầu mỏ và một đồng tiền chung mới dự kiến phát hành cho các quốc gia thuộc Hội đồng Hợp tác Vùng Vịnh

• Hàng hóa Xuất – Nhập khẩu vào khu vực Europe sẽ được sử dụng đồng EUR hay vào Nhật thì sử dụng đồng JPY, hàng loạt hoạt động tẩy chay đồng USD diến ra

 Thị trường vàngliên tục đạt các mức kỷ lục.

• Khi tin Bear stearns phá sản vàng đã lập mức kỷ lục mới là 1.032.26 ounce

Trang 9

• Ngày 3/12/2009 kỷ lục mới là 1126.37 song song với sự suy thoái của nền kinh tế mỹ và hoạt động đầu cơ trên thị trường

• Thị trường vàng cuối năm nên hứa hẹn sẽ có nhiều biến động hơn khi nhu cầu vàng tăng cao Ngân hàng TW các nước đã tích cực mua vàng để tăng dự trữ ngoại hối khiến vàng tiếp tục tăng cao

• Cuối tháng 10/2009 Ấn Độ đã mua 200 tấn vàng trong hơn 400 tấn của IMF, sau Ấn độ đã có nhiều Ngân hàng TW đã đặt vấn đề mua vàng của IFM

• Chính sự biến động lớn của Thị trường vàng, sự mất giá của đồng USD, chứng khoán giảm đã khiến cho kênh đầu tư vào thị trường này trở nên hấp dẫn Thêm vào đó, những diễn biến trên thị trường vàng đen cùng những bất ổn về chính trị của các nước trên thế giới trong đó có vựa dầu lớn nhất thế giới Iran, Iraq càng đẩy giá vàng lên cao

 Thị trường lao động.

• bên cạnh thị trường Tài chính và Bất động sản, thị trường lao động Mỹ là một trong những mắt xích chịu tác động nặng nề

• Số lao động thất nghiệp trong Tháng 7/2009 tại Mỹ là 14.5 triệu người, tỷ lệ thất có sự sụt giảm

từ mức 9.5% trong Tháng 6 xuống còn 9.4%

• Cũng trong Tháng 7/2009, số lao động bị sa thải là 247,000 người, tính trung bình trong Quý II/2009 thì số lao động mất việc làm trong Quý chỉ còn 331,000 người, giảm hơn một nửa so với con số 645,000 trong Quý I/2009 trước đó Đặc biệt sau GM nộp đơn xin phá sản

• Trong tình hình hiện tại, không thể phủ nhận kinh tế Mỹ đã bước vào giai đoạn hồi phục và đã có những cải thiện khả quan hơn Tuy vậy, điểm đáng chú ý ở đây là mặc dù số lao động bị sa thải hàng tháng tại Mỹ đã có sự cải thiện đáng kể, nhưng theo số liệu thống kê cho thấy thị trường lao động Mỹ vẫn đang ở trạng thái sa thải nhân công chứ không phải là tuyển dụng

• Chính phủ Mỹ đã có những động thái tích cực để cứu nền kinh tế Mỹ, song do tính chất toàn cầu của nó mà đã có những ảnh huởng nghiêm trọng trên tất cả các mặt của nền kinh tế của một siêu cuờng quốc và các nuớc trên thế giới

• Khủng hoảng ngày càng lan rộng và mang tính chất ngày càng nghiêm trọng hơn

3 Tác động của cuộc khủng hoảng.

a Đối với Hoa Kỳ.

 Cuộc khủng hoảng này là nguyên nhân chính làm cho kinh tế Hoa Kỳ rơi vào suy thoái từ tháng

12 năm 2007 NBER ( National Bureau of Economic Research -Cục nghiên cứu kinh tế Mỹ) dự đoán đây sẽ là đợt suy thoái nghiêm trọng nhất ở Hoa Kỳ kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai Bình quân mỗi tháng từ tháng 1 tới tháng 9 năm 2008, có 84 nghìn lượt người lao động Hoa Kỳ

bị mất việc làm

• Hàng loạt tổ chức tài chính trong đó có những tổ chức tài chính khổng lồ và lâu đời bị phá sản đã đẩy kinh tế Hoa Kỳ vào tình trạng đói tín dụng

• Tình trạng đói tín dụng ảnh hưởng đến khu vực sản xuất khiến doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất, sa thải lao động, cắt giảm các hợp đồng nhập đầu vào

• Thất nghiệp gia tăng ảnh hưởng tiêu cực đến thu nhập và qua đó tới tiêu dùng của các hộ gia đình lại làm cho các doanh nghiệp khó bán được hàng hóa Nhiều doanh nghiệp bị phá sản hoặc có nguy cơ bị phá sản, trong đó có cả 3 nhà sản xuất ô tô hàng đầu của Hoa Kỳ là General Motors, Ford Motor và Chrysler LLC Các nhà lãnh đạo 3 hãng ô tô này đã nỗ lực vận động Quốc hội Hoa

Kỳ cứu trợ, nhưng không thành công Hôm 12 tháng 12 năm 2008, GM đã phải tuyên bố tạm thời đóng cửa 20 nhà máy của hãng ở khu vực Bắc Mỹ

• Tiêu dùng giảm, hàng hóa ế thừa đã dẫn tới mức giá chung của nền kinh tế giảm liên tục, đẩy kinh tế Hoa Kỳ tới nguy cơ có thể bị giảm phát

Trang 10

 Cuộc khủng hoảng còn làm cho dollar Mỹ lên giá Do dollar Mỹ là phương tiện thanh toán phổ biến nhất thế giới hiện nay, nên các nhà đầu tư toàn cầu đã mua dollar để nâng cao khả năng thanh khoản của mình, đẩy dollar Mỹ lên giá Điều này làm cho xuất khẩu của Hoa Kỳ bị thiệt hại

b Khu vực Châu Âu.

 Theo nhận định của Liên hiệp Châu Âu thì dưới tác động của khủng hoảng kinh tế, Liên hiệp

Châu Âu và các nền kinh tế trong khu vực:

• Đồng Euro sẽ co cụm 4% trong năm 2009, và sẽ tiếp tục co cụm thêm 0,1% trong năm 2010

• Tỷ lệ thất nghiệp sẽ tăng mạnh trong vòng 2 năm tới và sẽ làm mất hết những việc đã tạo ra ở Châu Âu trong vòng 2 năm qua

 Nga, một cường quốc kinh tế lớn thứ 4 trên thế giới cũng tuyên bố lâm vào tình trạng suy

thoái.

• Giá dầu sụt giảm, cùng với nhu cầu xây dựng đi xuống gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới hai mặt hàng xuất khẩu của Nga là dầu mỏ và kim loại

• Thị trường chứng khoán Nga sụt điểm trong nhiều tháng

• Cuộc khủng hoảng tài chính đã giảm 66% kho tài sản của 10 tỷ phú Nga

 Anh, từ tháng 9 năm 2007, Northern Rock bị rút tiền đột biến và hậu quả là phải chịu quốc

hữu hóa Bên cạnh đó là sự sụp đổ của một số các ngân hàng.

• Sang đến 2008, đến lượt Bradford và Bingley của Anh bị chia nhỏ thành 2 công ty riêng biệt Một

số các ngân hàng phải đổi chủ sở hữu là Catholic Building Society, Alliance & Leicester

• Riêng London Scottish Bank và Dunfermline Building Society phải chịu đặt dưới sự quản lý của

cơ qua giám sát tài chính quốc gia

• Quỹ tiền tệ Quốc tế cũng đã dự báo tài chính Anh sẽ ‘phát triển âm’ ở mức cao trong số các nước tiên tiến năm 2009, với nền kinh tế dự đoán sụt giảm 2,8%

• NH Anh còn cắt giảm lãi suất xuống còn 0,5% và 2 triệu người thất nghiệp là mức cao nhất ở Anh

kể từ năm 1997

• Trong lĩnh vực tài chính, CP Anh cũng phải ứng cứu một số các NH kể cả Royal Bank, và đã nắm 68% cổ phẩn

c Khu vực Châu Á.

 Trung Quốc:

• Trung Quốc năm 2007, đạt mức tăng trưởng kinh tế 11.4%, lên gần 24.662 tỷ nhân dân tệ (tương đương 4.430 tỷ USD), nhưng nguy cơ lạm phát và sự phát triển kinh tế quá nóng cũng ngày càng lớn

• Giá trị sản lượng của ngành sản xuất nguyên liệu là 2.890 tỷ nhân dân tệ, tăng 3,7%; của ngành chế biến là 12.140 tỷ nhân dân tệ, tăng 13,4%; của ngành dịch vụ là 9.630 tỷ nhân dân tệ, tăng 11,4%

• Chỉ số giá tiêu dùng CPI năm 2007 của TQ tăng 4,8%, mức tăng nhanh nhất trong một thập kỷ qua

• Dưới tác động của giá hàng hóa thế giới tăng mạnh cũng là một yếu tố đẩy CPI của TQ năm 2007 lên cao nhất kể từ năm 1997 Thêm vào đó là nguồn cung tiền - Cụ thể năm 2006, lượng cung tiền mặt M2 (gồm tiền mặt, séc du lịch, tiền gửi không kỳ hạn tại các ngân hàng thương mại,…) là 40 nghìn tỷ nhân dân tệ (khoảng 5.500 tỷ USD) - cũng là một yếu tố đẩy giá cả lên trong năm 2007

• Như vậy kinh tế TQ giai đoạn năm 2007 là nền kinh tế có một tốc độc tăng trưởng chóng mặt Song không vì thế mà TQ nằm ngoài tầm ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, thể hiện:

Ngày đăng: 01/05/2017, 11:29

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w