Đồng thời cũng thu thập số liệu để đánh giá ba khía cạnh của bộ ba bất khả thi: - Ổn định tỷ giá - Độc lập tiền tệ - Hội nhập tài chính Với những kiến thức còn hạn chế, sự thiếu sót là đ
Trang 1-
-BÀI TIỂU LUẬN
Bộ ba bất khả thi thực trạng và giải
pháp trong thời kì đổi mới
Giảng viên hướng dẫn: Trương Trung Tài
Sinh viên: Nguyễn Viết Quang Lâm
Lớp: Ngân Hàng 2012 TP1
Số đt: 01227904567
Email: nvqlam1504@gmail.com
Trang 2Mở Đầu
Như chúng ta đã biết, bộ ba bất khả thi là một lý thuyết rất quan trọng của lý thuyết tài chính quốc tế Vào thập niên 1960, Robert Mundell và Marcus Fleming đã cho ra đời lý thuyết mang tính kinh điển này Song, trải qua quá trình phát triển của nền kinh
tế cũng như các cuộc khủng hoảng kinh tế đã tạo ra nhiều phiên bản mới của lý thuyết này Nhận thức được tầm quan trọng của bộ ba bất khả thi và qua những hiểu biết về sách vở, tài liệu thu thập được, em xin đưa ra đề tài nghiên cứu “Bộ ba bất khả thi, thực trạng và giải pháp trong thời kì đổi mới ở Việt Nam”
Bài nghiên cứu này đánh giá mức độ mở cửa thị trường vốn của Việt Nam trong thực
tế, sau đó nói lên thực trạng Việt Nam vào thời điểm hiện tại,và nêu ra giải pháp cho Việt Nam trong thời kì đổi mới Đồng thời cũng thu thập số liệu để đánh giá ba khía cạnh của bộ ba bất khả thi:
- Ổn định tỷ giá
- Độc lập tiền tệ
- Hội nhập tài chính
Với những kiến thức còn hạn chế, sự thiếu sót là điều khó tránh khỏi, em mong được
sự góp ý từ Thầy, cũng như thông cảm cho em nếu nội dung em tìm hiểu có thể sai sót.
Em xin chân thành cảm ơn Thầy!
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN I: Lý Thuyết Bộ Ba Bất Khả Thi 4
1 Lý Thuyết Bộ ba bất khả thi cổ điển 4
2 Sự phát triển của bộ ba bất khả thi hiện đại 5
PHẦN II: Thực Trạng và Giải Pháp 7
1 Sơ Lược 7
2 Giai Đoạn 2000-2007 7
3 Giai Đoạn 2008-2012 11
Trang 4PHẦN I: LÝ THUYẾT BỘ BA BẤT KHẢ THI
1 Lý Thuyết bộ ba bất khả thi cổ điển:
Robert Mundell- là cha đẻ của lý thuyết Bộ ba bất khả thi, ông và cộng sự
J.M.Fleming đã xây dựng nên những nền tảng cơ bản về lý thuyết vào những năm
1960 trong thời gian làm việc tại quỹ tiền tệ quốc tế IMF Sau đó, vào năm 1980, khi vấn đề kiểm soát vốn bị thất bại ở nhiều quốc gia cùng với mâu thuẫn giữa việc cố định tỷ giá và độc lập trong chính sách tiền tệ ngày càng rõ nết thì lý thuyết Bộ ba bất khả thi đã trở thành nền tảng cho kinh tế học vĩ mô cả nền kinh tế hiện đại
Lý thuyết Bộ ba kinh tế được phát biểu như sau: Một quốc gia không thể đòng thời đạt được cả ba mục tiêu tỷ giá hối đoái cố định, hội nhập tài chính, và độc lập tiền tệ Tức
là, 1 quốc gia chỉ có thể lựa chọn cùng 1 lúc đồng thời hai trong ba mục tiêu kể trên:
“Độc lập tiền tệ + Tỷ giá hối đoái cố định + hội nhập tài chính = 2” Đó chính là lý thuyết cổ điển của Bộ ba bất khả thi
*Độc lập tiền tệ: chính là sự tự chủ về chính sách tiền tệ của chính phủ, giúp cho
chính phủ chủ động sử dụng các công cụ về chính sách tiền tệ, để thực hiên các chính sách kinh tế
*Ổn định tỉ giá: là tạo ra cái neo danh nghĩa để chính phủ tiến hành các biện pháp ổn
định giá cả Cái neo này giúp nhà đầu tư nhận thức về rủi ro của nền kinh tế, làm tăng thêm niềm tin của công chúng vào đồng nội tệ, tạo ra mục tiêu làm cho môi trường đầu
tư tốt lên
*Hội nhập tài chính: là xu thế khó có thể cưỡng lại được trong bối cảnh toàn cầu hóa,
lợi ích của hội nhập tài chính là giúp quốc gia tăng trưởng nhanh hơn và phân bổ nguồn lực tốt hơn Đồng thời giúp cho nhà đầu tư đa dạng hóa đầu tư, kéo theo nền kinh tế phát triển Hơn nữa, cũng tạo ra động lực giúp cho chính phủ tiến hành nhiều cải cách và đưa ra những chính sách tốt hơn để theo kịp hội nhập
Trang 5Hình 1.1 Lý thuyết Bộ ba bất khả thi
+
Ổn định tỷ giá và hội nhập tài chính được kết hợp bằng cách lựa chọn chế độ tỷ giá
cố định nhưng phải từ bỏ độc lập tiền tệ, làm cho chính phủ mất đi 1 công cụ để điều chỉnh lãi suất trong nước độc lập với lãi suất nước ngoài
+ Độc lập tiền tệ và hội nhập tài chính được kết hợp bằng cách lựa chọn tỷ giá thả nổi
nhưng phải từ bỏ mục tiêu ổn định tỷ giá, giúp cho NHTW được quyền tự do ấn định lãi suất nhưng đổi lại tỷ giá phải được vận hành theo những nguyên tắc thị trường
+ Ổn định tỷ giá và độc lập tiền tệ được kết hợp bằng cách lựa chọn thị trường vốn
đóng, nghĩa là chính phủ sẽ phải thiết lập kiểm soát vốn Khi có kiểm soát vốn thì mối liên hệ giữa lãi suất và tỷ giá sẽ bị phá vỡ, và quốc gia có thể thực hiện đồng thời 2 mục tiêu này
Theo hình 1.1, một nền kinh tế trong 1 thời điểm có thể lựa chọn một trong 3 đỉnh của tam giác với nguyên tắc: quốc gia sẽ thực hiện được đồng thời 2 mục tiêu trên 2 cạnh của đỉnh đó Đó chính là tiền đề quan trọng đề quan trọng nhất đối với việc nghiên cứu các mô hình phát triển của Bộ ba bất khả thi hiện đại
2 Sự phát triển của Lý Thuyết Bộ ba bất khả thi hiện đại:
Yigang và Tangxian ( 2001) đã tiếp tục phát triển lý thuyết Bộ ba bất khả thi của
GS Mundell Theo đó, tam giác bất khả thi của Mundell chỉ mới tập trung đến các cơ chế tỷ giá nằm ở các đỉnh của tam giác mà chưa đề cập đến một cơ chế tỷ giá trung gian nằm đâu đó trong vùng tam giác bất khả thi Yigang và Tangxian đã mở rộng mô hình này và kết luận rằng một quốc gia có thể có những phối hợp mục tiêu khác nhau
và không phải chấp nhận sự đánh đổi hoàn toàn như trong lý thuyết Bộ ba bất khả thi
cổ điển
Trang 6Hình 1.2 Lý thuyết Bộ ba bất khả thi mở rộng
Tương tự như hình 1.1, ba cạnh cũng chính là ba mục tiêu chính sách Tuy nhiên, trong phạm vi bộ ba bất khả thi, chúng ta xác định điểm O nằm tùy ý trong hình 1.2, khoảng cách từ điểm O đến các cạnh càng ngắn thì ưu tiên cho mục tiêu đại diện
đó càng cao và ngược lại Tại điểm O, có vẻ như nền kinh tế đang dàn trải thực hiên cả
ba mục tiêu, nhưng mỗi mục tiêu không được thực hiện hoàn toàn Đó chính là ưu điểm về sự thay đổi linh hoạt của Bộ ba bất khả thi hiện đại
*** Lưu ý: nếu cố gắng thực hiện 3 mục tiêu trong Bộ ba bất khả thi cùng nhau thì sẽ
dẫn đến khủng hoảng kinh tế trầm trọng, và Thái Lan năm 1997 là 1 ví dụ điển hình ( link tham khảo http://vi.wikipedia.org/wiki/Kh%E1%BB%A7ng_ho%E1%BA
%A3ng_t%C3%A0i_ch%C3%ADnh_ch%C3%A2u_%C3%81_1997 )
Trang 7PHẦN II: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
1 Sơ lược:
Tiền tệ, tỷ giá và hội nhập tài chính là bộ ba vấn đề kinh tế luôn xuất hiện trong bất kỳ nền kinh tế nào Trong bối cảnh hội nhập, mở cửa như hiện nay thì việc chu chuyển dòng vốn từ bên ngoài vào và từ trong ra là vấn đề hiển nhiên không tránh khỏi Bên cạnh đó, nhiều quốc gia tham gia vào nền kinh tế, mà mỗi quốc gia lại có một đồng tiền riêng, để việc trao đổi trở nên thuận tiện và có sự ngang giá hàng hóa giữa các nước thì tỷ giá hối đoái ra đời để thực hiện chức năng đó Ngoài ra, một quốc gia luôn muốn chủ động về vấn đề tiền tệ của mình mà không phụ thuộc vào bất kỳ tác động nào của nền kinh tế bên ngoài, ngân hàng trung ương có thể tăng cung tiền và giảm lãi suất khi nền kinh tế suy thoái hoặc thắt chặt tiền tệ và giảm lãi suất khi nền kinh tế quá nóng Chúng có quan hệ mật thiết và tác động lẫn nhau Làm thế nào để đạt được ba mục tiêu: độc lập tiền tệ, tỷ gía ổn định và hội nhập tài chính cùng một lúc? Vận dụng bộ ba bất khả thi trong nền kinh tế của nước mình như thế nào? Và làm thế nào để tối ưu hóa sự phát triển và tăng trưởng bền vững về kinh tế chính trị của một đất nước? Đây là vấn đề nan giải đối với các nhà hoạch định chính sách tài chính
Như ta đã đề cập phía trên, thì một quốc gia không thể cùng một lúc đạt được
cả ba mục tiêu: độc lập tiền tệ, tỷ giá ổn định và dòng vốn tự do ra vào nền kinh tế (hội nhập tài chính) Tuy nhiên dựa trên lý thuyết này, các quốc gia luôn dựa vào thực tiễn của quốc gia mình để đưa ra một chính sách kết hợp phù hợp nhằm phát triển kinh tế chính trị của mình một cách hiệu quả nhất Thực tiễn cho thấy các quốc gia phát triển như Mỹ, Canada, Anh,… đã lựa chọn chính sách tự do hóa dòng vốn, sử dụng chính sách tiền tệ để ổn định nền kinh tế nhưng chấp nhận sự thả nổi đồng tiền của mình Trái ngược với Mỹ, Trung Quốc lại lựa chọn một chính sách độc lập tiền tệ, ổn định tỷ giá tuy nhiên lại kiểm soát dòng vốn quốc tế Còn với Việt Nam, với sự tác động, biến chuyển của nền kinh tế trong và ngoài nước trong giai đoạn từ năm 2000-2012, Việt Nam đã lựa chọn chính sách kết hợp nào, chúng ta hãy phân tích tìm hiểu
2.Giai đoạn từ năm 2000-2007:
Giai đoạn 2000-2007, Việt Nam cho thấy rõ quan điểm của mình trong việc kiểm soát 2 trong 3 yếu tố của “bộ ba” là kiểm soát dòng vốn và cơ chế tỷ giá
Trang 8 Chứng minh:
Về chính sách hội nhập:
Sau khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997, thì dòng vốn FDI vào Việt Nam
có dấu hiệu chững lại, tuy nhiên dần phục hồi vào năm 2000 trở đi Dòng vốn FDI đặc biệt tăng vượt trội năm 2007 Theo đó ta thấy, đối với dòng vốn FDI, Việt Nam gần như mở của hoàn toàn
Number of projects
Total registered capital (Mill.
USD)(*)
Implementatio
n capital (Mill USD)
Trang 92009 1208 23107.5 10000.5
Vietnam FDI data ( http://www.vietnam-report.com/vietnam-fdi/ )
Dòng vốn FPI:
Từ năm 2000-2004, do trình độ còn yếu kém nên Việt Nam hạn chế các nguồn vốn đầu tư gián tiếp vào thị trường
Từ năm 2005-2007, nguồn đầu tư gián tiếp có xu hướng gia tăng nhưng vẫn thấp so với nguồn vốn đầu tư gián tiếp Từ năm 2005, các biện pháp kiểm soát về giao dịch tài khoản vốn và ngoại hối cho tài khoản vốn có nhiều thay đổi theo hướng nới lỏng tài khoản vốn Tháng 10/2005, nhà nước đã xóa bỏ về việc nhà đầu tư nước ngoài chuyển vốn vào Việt Nam sau một năm mới được rút ra, tiến hành tự do hóa tài khoản vãng lai, cho phép nhà đầu tư nước ngoài chuyển lợi nhuận về nước sau khi hoàn thành nghĩa vụ phí và thuế Năm 2006, cho phép nhà đầu tư nước ngoài được phép tham gia vào thị trường cứng khoán Việt Nam ở mức tỷ lệ 49% từ mức 30% thời giam trước đó, dẫn đến việc gia tăng FPI nhanh chóng trong năm 2006 Bên cạnh đó, sau khi gia nhập WTO, dòng vốn ngoại đầu tư vào Việt Nam gần như tăng đột biến FDI vào Việt Nam đạt gần như kỷ lục 21.3 tỷ USD, FPI là 5.6 tỷ USD
Từ phân tích trên ta có thể thấy, Việt Nam đang từng bước mở cửa thị trường vốn, dẫn đến chỉ số hội nhập có xu hướng tăng từ 0.22 (năm 2000) đến 0.41 (2008)
Từ việc mở cửa thị trường có kiểm soát chặt chẽ năm 2005 đến việc nới lỏng việc mở cửa hơn sau đó, đặc biệt năm 2007, sau khi gia nhập WTO, dòng vốn nước ngoài chạy vào Việt Nam quá nhiều gây áp lực cho nền kinh tế dẫn đến những bất ổn bắt đầu xuất hiện
Chính sách tỷ giá:
Năm 2000-2007, tỷ giá gần như là ổn định do áp dụng cơ chế tỷ giá thả nổi có kiểm soát (Nhà nước công bố tỷ giá thả nổi ngày hôm trước để NHTM làm cơ sở xác định giá ngày hôm sau theo biên độ giao động do nhà nước quy định, bên cạnh đó, nhà nước trực tiếp can thiệp trên thị trường liên ngân hàng, tác động đến tỷ giá bình quân liên ngân hàng) Chính sách tỷ giá của NHNN dần dần hoàn thiện các bước đi trong điều tiết tỷ giá, khiến tỷ giá trên thị trường liên ngân hàng càng gần hơn so với tỷ giá trên thị trường tự do Giai đoạn năm 2005-2007, NHNN vẫn duy trì chính sách ổn định
Trang 10tỷ giá vì thế trong 3 năm thì tỷ gía chỉ tăng chưa tới 3% (từ 15.750 đồng vào ngày 6/1/2005 lên 16.113 vào 15/12/2008)
Độc lập tiền tệ:
Theo công thức ta có được: ��=�− {����(�, ∗� )−(−�)/[�−(−�)]}
Giả sử chọn Mỹ là nước cơ sở đối với Việt Nam Ta biết rằng chỉ số MI sẽ cao nếu lãi suất của Việt Nam và Mỹ biến động ngược chiều nhau (có tương quan âm với nhau) và ngược lại Dựa vào bảng lãi suất tỷ lệ ta có:
Lãi suất của Mỹ và Việt Nam giai đoạn 1996-2008 ( http://luanvan.net.vn/luan-van/bo-ba-bat-kha-thi-o-cac-thi-truong-moi-noi-va-thuc-trang-tai-viet-nam-6168/ hình 26)
Vào thời điểm năm 2000-2001 thì lãi suất giữa Mỹ và Việt Nam biến động ngược chiều nhau dẫn đến MI trong giai đoạn này cao Năm 2002-2004, hai lãi suất biến động cùng chiều dẫn đến MI trong giai đoạn này giảm mạnh Năm 2005-2007, chỉ số MI có dấu hiệu phục hồi Tuy nhiên xét cho cả giai đoạn từ năm 2000-2007, chỉ
số MI giảm từ 0.83 xuống 0.77
Từ những nhận xét trên ta có thể thấy được, thực tiễn Việt Nam cũng chứng minh được có sự đánh đổi hai trong ba vấn đề “bộ ba” Việt Nam ngày càng mở cửa hội nhập (chỉ số KAOPEN) và chính sách tỷ giá càng ổn định (ERP càng tiến đến 1) thì càng mất sự độc lập về tiền tệ (MI giảm)
3.Giai đoạn 2008 – 2012:
Trang 11Kiểm định sự thay đổi của các chỉ số bộ ba bất khả thi của Việt Nam qua các sự kiện kinh tế quan trọng cho thấy: khủng hoảng kinh tế 2008 dẫn đến sự phá vỡ trong mẫu hình bộ ba bất khả thi của Việt Nam đối với hai chỉ số là độc lập tiền tệ (ERS) và hội nhập tài chính (KAOPEN)
Cùng với hội nhập tài chính và định hướng phát triển nền kinh tế, Việt Nam đã
có những chính sách để thu hút dòng vốn đầu tư Đầu tư nước ngoài ngày càng tăng và
hệ quả của độc lập tiền tệ giảm dần đó là lạm phát có xu hướng ngày một tăng cao Trong năm 2008, lạm phát nước ta tăng lên mức 19,9%, cao nhất trong giai đoạn 1996-2011 Lạm phát biến động mạnh chủ yếu do mức độ độc lập của chính sách tiền tệ suy giảm, dự trữ ngoại hối thấp và tỷ giá linh hoạt cùng các biện pháp vô hiệu hóa kém hiệu quả Với dòng vốn vào nhiều cộng với tung tiền ra để giữ tiền đồng không tăng giá đã làm chính sách tiền tệ không độc lập khi phải thực hiện các biện pháp bị động để kiềm chế lạm phát Một đỉnh của tam giác bất khả thi bị hi sinh
Từ năm 2008, sự đánh đổi mục tiêu chính sách trong "Bộ ba bất khả thi" của Việt Nam "nặng nề” hơn Sự ổn định tỷ giá giảm sút cùng với chính sách tiền tệ trở nên thiếu độc lập và nguyên nhân chính nằm ở hiệu quả của các biện pháp giải quyết của NHNN Thời gian sau đó, khi lượng vốn vào chậm dần đi và khủng hoảng kinh tế lan rộng, chính phủ phải tung ra gói kích cầu năm 2009 Giữ được chính sách tiền tệ độc lập với chính sách tài khóa và cho phép dòng vốn ra vào nhưng những nhà điều hành đã không thể duy trì được giá tiền đồng cố định Lại một lần nữa bộ ba bất khả thi xuất hiện
Giai đoạn 2007-2008 và năm 2012, NHNN đã mua ngoại tệ và gia tăng dự trữ ngoại hối ở quy mô lớn, khiến dư thừa thanh khoản tái diễn Để giảm nhẹ sự đánh đổi trong ràng buộc "Bộ ba bất khả thi", NHNN đã thực thi các biện pháp can thiệp mang tính thị trường thông qua thị trường mở (nghiệp vụ hợp đồng mua lại và phát hành tín phiếu NHNN) Tuy nhiên, các biện pháp hấp thụ dòng vốn thừa mang lại hiệu quả chưa cao và NHNN buộc phải từ bỏ một phần tính độc lập của chính sách tiền tệ
Một nguyên nhân quan trọng là do NHNN chỉ sử dụng biện pháp mang tính thị trường (thông qua thị trường mở) mà ít sử dụng biện pháp phi thị trường (thông qua dự trữ bắt buộc), trong khi dự trữ bắt buộc được coi là biện pháp mang lại kết quả tương
tự như gia tăng biện pháp dòng chu chuyển vốn ra vào nền kinh tế, tính độc lập của chính sách tiền tệ sẽ cao hơn
Công cụ dự trữ bắt buộc ít được áp dụng do hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) dễ bị tổn thương và đang đối diện với các rủi ro thanh khoản, rủi ro nợ xấu
Trang 12và rủi ro chéo Vì thế, khó có khả năng chống đỡ thêm cú sốc từ gia tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc
Điều này đồng nghĩa nếu NHNN muốn gia tăng tính độc lập của chính sách tiền
tệ thì cần có những động thái quyết liệt hơn để tái cơ cấu hệ thống NHTM, kiên quyết
xử lý những ngân hàng nhỏ, thanh khoản và quản trị rủi ro kém để có thể linh hoạt hơn trong việc sử dụng công cụ dự trữ bắt buộc
Thực tế, biện pháp "vô hiệu hóa" bằng dự trữ bắt buộc không hoàn toàn có ưu điểm, nếu lạm dụng, nó có thể bóp méo tài chính, cản trở sự phát triển của thị trường trái phiếu và thay đổi hành vi của các ngân hàng Vì vậy, cùng với biện pháp này, NHNN cần chấp nhận một mô hình "trung dung" hơn trong ràng buộc "Bộ ba bất khả thi"
Cụ thể là chấp nhận nới lỏng các quy định kiểm soát tỷ giá và lựa chọn cách thức kiểm soát vốn hiệu quả, liên quan đến mở cửa khu vực nào và mở đến đâu Trong bối cảnh các giao dịch về vốn cần được tự do hóa theo thông lệ và cam kết hội nhập,
có những khu vực có thể kiểm soát chặt chẽ hơn, ví dụ như kiểm soát nợ nước ngoài
Ước tính, hết năm 2011, tổng nợ công của Việt Nam đã tăng lên khoảng 58,7% GDP, trong đó nợ công nước ngoài là 31,1% và nợ công trong nước là 17,6% GDP
Tuy nhiên, những khoản nợ được sổ sách ghi nhận có lẽ không phải là rủi ro tiềm tàng lớn nhất, mà những khoản nợ xấu của khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) (rất có thể phải dùng ngân sách nhà nước để trả) mới là mầm mống đe dọa tính bền vững của nợ công, ảnh hưởng lớn đến hiệu quả kiểm soát nợ nước ngoài của Việt Nam
Khoản nợ nước ngoài của khu vực tư nhân và DNNN không được Chính phủ bảo lãnh đã chiếm tới 11,1% GDP Do đó, thời gian tới, cần kiểm soát nợ nước ngoài chặt chẽ song song với quyết tâm đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế, tái cơ cấu đầu
tư công, DNNN và hình thành cơ chế giám sát hữu hiệu đối với các tổ chức tài chính -ngân hàng, các tập đoàn, tổng công ty trong việc vay nợ nước ngoài
Trong dài hạn, cần lựa chọn một mô hình chính sách hợp lý hơn để tránh những hạn chế của các biện pháp vô hiệu hóa Với định hướng chính sách lạm phát mục tiêu
đã được Nhà nước công bố, việc duy trì ổn định tỷ giá thường xung đột với nguyên tắc lạm phát mục tiêu, đặc biệt là trong bối cảnh các luồng vốn nước ngoài luân chuyển liên tục, phức tạp và khó tiên định
Do đó, năng lực điều hành cơ chế tỷ giá linh hoạt cần được tăng cường, những can thiệp hành chính của NHNN cần được gỡ bỏ, biên độ tỷ giá cần được nới lỏng, tiến tới thả nổi tỷ giá có quản lý khi các điều kiện đã chín muồi