Các cuộc khủng hoảng này đều bắt nguồn từ những nguyên nhân tồn tại trong chính bản chất của tư bản chủ nghĩa, đó là mâu thuẫn gay gắt giữa sản xuất và tiêu dùng.. Nói cách khác, quan hệ
Trang 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM
NGÀNH NGÂN HÀNG
TIỂU LUẬN:
KHỦNG HOẢNG KINH TẾ VÀ
NHỮNG BÀI HỌC TỪ QUÁ KHỨ
Họ tên: Nguyễn Cẩm Hường
Lớp: Ngân hàng 2012
Điện thoại: 01225.737.747
Email: mayumi737747@gmail.com
Tp Hồ Chí Minh, năm 2014
Trang 2Mục lục
Trang 3Tóm tắt
Khủng hoảng kinh tế thế giới hiện nay là một vấn đề nan giải với tất cả các quốc gia, gây đau đầu cho các chuyên gia kinh tế Đây không còn là đề tài hiếm hoi nữa mà là một vấn đề hết sức quan trọng trong nền kinh tế của các quốc gia Các chuyên gia kinh tế đều đang trên con đường tìm giải pháp tối ưu để phục hồi nền kinh tế toàn cầu
Vậy khủng hoảng kinh tế là gì? Đâu là nguyên nhân chính gây ra khủng hoảng kinh tế? Việt Nam đứng trước khủng hoảng kinh tế khi vừa gia nhập WTO đã chịu ảnh hưởng như thế nào? Các giải pháp và phương thức để ngăn ngừa khủng hoảng kinh tế? Đó là lý do em thực hiện đề tài “Khủng hoảng kinh tế và những bài học từ quá khứ”
Bài tiểu luận này nhằm vào việc tìm hiểu rõ khái niệm, nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng hoảng và những tác động của khủng hoảng mà Việt Nam đã phải trải qua Đồng thời, cho phép chúng ta rút ra những bài học quý báu về chính sách tài chính lành mạnh, nhằm tận dụng được các cơ hội phát triển, hội nhập kinh
tế trong tương lai
I. Giới thiệu
Khủng hoảng và điều chỉnh của chủ nghĩa tư bản không còn là đề tài mới mẻ mà đã được nghiên cứu khá nhiều trong các tài liệu về chủ nghĩa tư bản hiện đại cả ở phương Đông và phương Tây. Đó luôn là một
mối đe dọa lớn trong nền kinh tế của thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới dù đã đi qua nhưng vẫn để lại những hậu quả nặng nề cho nền kinh tế của nhiều quốc gia Vì thế, khủng hoảng kinh tế trở thành một trong số những vấn đề mà các nhà kinh tế quan tâm nhất
Lịch sử đã chứng minh, cho dù nền kinh tế phát triển đến đâu thì các quốc gia đều không tránh khỏi khủng hoảng kinh tế Có thể nói, tìm hiểu về khủng hoảng kinh tế và rút ra bài học từ quá khứ là một vấn đề lớn mà mỗi công dân kinh tế nên biết đến Việc tìm hiểu rõ để tìm cách hạn chế và ngăn chặn khủng hoảng
là một vấn đề hết sức cấp bách đối với toàn thể nhân loại Nhận thức được vấn đề trên, em đã chọn “Khủng hoảng kinh tế và những bài học từ quá khứ” làm đề tài để viết tiểu luận này
Bài viết gồm hai phần:
- Hệ thống lý thuyết, trong đó bao gồm:
Khái niệm khủng hoảng kinh tế
Nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng hoảng kinh tế
Hậu quả do cuộc khủng hoảng kinh tế để lại
Cách khắc phục
- Tình hình Việt Nam, trong đó gồm:
Ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới đến sự phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam
Những bài học từ quá khứ
Mục tiêu nghiên cứu:
- Hiểu biết rõ ràng, chính xác về khái niệm, nguyên nhân, hậu quả cũng như cách khắc phục khủng hoảng kinh tế
- Phân tích được ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế đến sự phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam và rút ra được bài học từ cuộc khủng hoảng kinh tế đã trải qua
- Nâng cao kiến thức môn học, tăng cường hiểu biết kinh tế thế giới, đồng thời chia sẻ những thông tin đã tìm hiểu được
II. Hệ thống lý thuyết
Trang 41. Khái niệm khủng hoảng kinh tế
Khủng hoảng kinh tế là sự mất cân bằng trong nền kinh tế thị trường, là sự không ổn định trong quá trình tái sản xuất trong nền kinh tế Quá trình mất ổn định này kéo dài và không thể điều chỉnh được dẫn đến những chấn động nặng nề cho nền kinh tế Khủng hoảng kinh tế diễn ra trên mọi lĩnh vực của nền sản xuất xã hội
Khủng hoảng kinh tế đề cập đến quá trình tài sản xuất đang bị suy sụp tạm thời Thời gian khủng hoảng làm những xung đột giữa các giai cấp trong xã hội thêm căng thẳng, đồng thời nó tái khởi động một quá trình tích tụ tư bản mới
Karl Marx là người đã đưa ra học thuyết về khái niệm khủng hoảng kinh tế gây ra nhiều tranh cãi Những nghiên cứu của ông không đưa ra bản chất của khủng hoảng kinh tế trong chủ nghĩa tư bản mà chủ yếu gợi lên nhiều lý luận khác nhau Một đặc điểm chủ yếu của những lý luận này là khủng hoảng không phải ngẫu nhiên mà nó bắt nguồn từ bản chất của chủ nghĩa tư bản với vai trò là một hình thái xã hội Những lý luận này bao gồm:
- Xu hướng suy giảm tỷ suất lợi nhuận: Tích tụ tư bản gắn liền với xu hướng chung của mức độ tập trung
cơ bản Điều này tự nó làm giảm tỷ suất lợi nhuận rồi kìm hãm chủ nghĩa tư bản và có thể đưa đến khủng hoảng
- Tiêu thụ dưới mức: Nếu giai cấp tư sản thắng thế trong cuộc đấu tranh giai cấp với mục đích cắt giảm
tiền lương và bóc lột thêm lao động, nhờ đó tăng tỷ suất giá trị thặng dư, khi đó nền kinh tế tư bản đối mặt với vấn đề thường xuyên là nhu cầu tiêu dùng không tương xứng với quy mô sản xuất và tổng cầu không tương xứng với tổng cung
- Sức ép lợi nhuận từ lao động: Tích tụ tư bản có thể đẩy nhu cầu thuê mướn tăng lên và làm tăng tiền
lương Nếu tiền lương tăng cao sẽ ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận và khi đạt đến một mức độ nhất định
sẽ gây ra suy thoái kinh tế
Về mặt lý luận, ít nhất những quan điểm trên không mâu thuẫn với nhau và có thể đóng vai trò là những nội dung trong một học thuyết tổng hợp về khủng hoảng kinh tế
Chu kỳ kinh tế, hay còn gọi là chu kỳ kinh doanh, là sự biến động của GDP thực tế Chu kỳ này bao gồm 4 giai đoạn là: khủng hoảng, tiêu điều, phục hồi, phồn vinh diễn biến theo đồ thị dưới đây:
- Khủng hoảng: Đây là giai đoạn đầu của chu kỳ kinh tế Ở giai đoạn này, những dấu hiệu khủng hoảng
kinh tế sẽ xuất hiện, đầu tiên là khủng hoảng tiêu thụ Khủng hoảng tiêu thụ xảy ra khi lượng cung lớn hơn cầu, các doanh nghiệp dự trữ hàng hóa quá nhiều trong kho, giá cả hàng hóa giảm xuống, khi đó
Trang 5cuộc cạnh tranh tiêu thụ hàng hóa trở nên gay gắt Các doanh nghiệp hoặc sẽ thu hẹp, hoặc sẽ đình chỉ sản xuất Đối mặt với việc không có khả năng thanh toán nợ, doanh nghiệp bán trái phiếu, cổ phiếu, rút tiền khỏi ngân hàng làm giá trị thị trường giảm mạnh dẫn đến khủng hoảng tiền tệ tín dụng Cùng với sự phá sản của các doanh nghiệp, công nhân mất việc, đời sống nhân dân trở nên vô cùng khó khăn Khi đó, các nhà tư bản lại ra sức bóc lột công nhân, khiến mâu thuẫn của tư bản chủ nghĩa càng trở nên gay gắt
- Tiêu điều: Ở giai đoạn này, nền sản xuất ở trạng thái trì trệ Việc sản xuất không giảm sút nữa nhưng vẫn
không tăng lên Hàng hóa hoặc bị tiêu hủy hoặc bị bán phá giá Trong tình hình đó, các doanh nghiệp sẽ làm mọi cách để giảm chi phí sản xuất, đổi mới tư bản cố định và cải tiến kỹ thuật Nhờ vào đó, tư liệu sản xuất và tư liệu sinh hoạt được tăng lên đưa nền kinh tế dần thoát khỏi sự đóng băng, đi vào giai đoạn phục hồi
- Phục hồi: Nhờ các doanh nghiệp đổi mới tư bản cố định, sản xuất bắt đầu rộng mở, đây là giai đoạn sản
xuất dần đi vào ổn định như trước khủng hoảng Giá cả hàng hóa tăng, nhu cầu công việc tăng dẫn đến lợi nhuận tăng cao, khi đó, nền kinh tế sẽ bước sang giai đoạn mới, đó là giai đoạn phồn vinh
- Phồn vinh: Đây là giai đoạn phát triển cao nhất của chu kỳ kinh tế Cung cầu hàng hóa phát triển, nhu
cầu tín dụng tăng, tỷ suất lợi tức phát triển Lợi nhuận tăng cao, sản xuất vượt trội so với trước khủng hoảng Quy mô sản xuất và thương nghiệp rộng mở, nền kinh tế phục hồi, phát triển mạnh mẽ, làm tiền
đề cho một cuộc khủng hoảng kinh tế mới
Các giai đoạn của chu kỳ kinh tế liên quan mật thiết với nhau có sẽ thay đổi mức độ, quy mô hay phạm
vi khác nhau tùy theo từng quốc gia, từng thời điểm
2. Nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng hoảng kinh tế
- Nguyên nhân khách quan: là những nguyên nhân do các yếu tố bên ngoài như môi trường sinh thái, tác
động của thiên nhiên,… Thường những nguyên nhân khách quan là do thiên tai như lũ lụt, hạn hán, dịch bệnh hay động đất Bên cạnh đó, sự phá hủy môi trường sinh thái của con người cũng được xem như một nguyên nhân khách quan, tuy nhiên, từ nguyên nhân này sẽ tác động ngược trở lại công, nông nghiệp và chuyển hóa thành một nguyên nhân chủ quan
- Nguyên nhân chủ quan: là những nguyên nhân do quản lý kinh tế - xã hội gây ra Một quốc gia có sự
quản lý tốt về kinh tế - xã hội sẽ dễ khắc phục được khủng hoảng kinh tế hơn những quốc gia khác Một nền kinh tế thiếu thốn về sản phẩm sẽ dễ dẫn đến khủng hoảng kinh tế
Bên cạnh các nguyên nhân trên, theo dòng của lịch sử, ta còn có thể phân tích được một nguyên nhân khác Khủng hoảng kinh tế thế giới bắt đầu từ phương Tây, cụ thể là, từ năm 1825 ở Anh nổ ra cuộc khủng hoảng kinh tế đầu tiên, đến nay đã có hơn 16 cuộc khủng hoảng kinh tế bùng nổ Có thể nói, nguyên nhân khủng hoảng kinh tế chỉ bắt đầu ở các nước tư bản chủ nghĩa
Các cuộc khủng hoảng này đều bắt nguồn từ những nguyên nhân tồn tại trong chính bản chất của tư bản chủ nghĩa, đó là mâu thuẫn gay gắt giữa sản xuất và tiêu dùng Sản xuất vô chính phủ quá đông khiến lượng cung cầu liên tục thay đổi, gây ra sự mất ổn định Giá cả hàng hóa quá sức mua đối với người tiêu dùng khiến cho lượng hàng hóa tồn đọng tăng cao Cung càng tăng, cầu càng giảm, và khủng hoảng nổ ra vào lúc sản xuất đạt tới mức cao nhất Tình trạng giữa cung và cầu là không ổn định một cách nghiêm trọng
Giai đoạn của chu kì tư bản chủ nghĩa, được biểu hiện bằng hàng hoá sản xuất thừa so với nhu cầu có tiềm năng thanh toán, sản xuất giảm sút, vốn đầu tư cơ bản bị rút bớt, thất nghề và lạm phát tăng lên, những
tỷ lệ chủ yếu của tái sản xuất bị rối loạn Nguyên nhân chủ yếu là mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản;
từ đó nảy sinh một loạt mâu thuẫn phái sinh: mâu thuẫn giữa tư bản và lao động, mâu thuẫn giữa sản xuất
và tiêu dùng, mâu thuẫn giữa tính có tổ chức trong các xí nghề riêng biệt và tình trạng sản xuất không chính phủ trong toàn xã hội Những mâu thuẫn đó đưa nền kinh tế tư bản chủ nghĩa đến khủng hoảng kinh tế Khủng hoảng là giai đoạn cơ bản của chu kì kinh tế tư bản chủ nghĩa Khối lượng hàng hoá sản xuất vượt
Trang 6quá khối lượng nhu cầu có tiềm năng thanh toán Từ đó nảy sinh sự mất cân đối lớn trong nền kinh tế quốc dân
3. Hậu quả do cuộc khủng hoảng kinh tế để lại
Khủng hoảng kinh tế đi qua để lại hậu quả nặng nề cho toàn bộ nền kinh tế thế giới Khủng hoảng gây tổn thất và tạo ra sự bấp bênh trong nền kinh tế, khiến cho toàn bộ rơi vào sự suy thoái trầm trọng Khủng hoảng đồng thời phá hoại sản xuất và làm rối loạn lĩnh vực lưu thông
Doanh nghiệp phải ngừng sản xuất, quy mô bị thu hẹp, giá cả thị trường giảm sút mạnh, khối lượng mậu dịch trong và ngoài nước cũng bị thu hẹp, giá cổ phiếu hạ thấp, nhiều ngân hàng đóng cửa, thị trường tiền tệ tín dụng đóng băng
Tích tụ là yêu cầu căn bản của việc mở rộng sản xuất ứng dụng tiến bộ kỹ thuật Khối lượng giá trị thặng dư tăng lên trong quá trình phát triển sản xuất của tư bản chủ nghĩa tăng lên tạo khả năng hiện thực cho tích tụ tư bản tập trung Quá trình tích tụ và tập trung tư bản tăng nhanh, dẫn đến việc độc quyền tư bản Nền kinh tế suy thoái, tư bản càng ra sức bóc lột, công nhân lao động càng vất vả, khoảng cách giàu nghèo ngày càng cao, mâu thuẫn giữa tư bản và lao động ngày càng tăng Mâu thuẫn cơ bản của tư bản chủ nghĩa, chính là mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất ngày càng nặng nề Lực lượng sản xuất vượt quá giới hạn chịu đựng, nổi dậy chống lại quan hệ sản xuất
Sự suy giảm các hoạt động kinh tế kéo dài và trầm trọng hơn cả suy thoái của cả nền kinh tế Khi khủng hoảng kinh tế bị suy thoái, khủng hoảng sản xấu thừa làm cho tiêu dùng hàng hóa tăng dẫn đến nhu cầu sử dụng tiền vượt lên tới đỉnh điểm Khi đó, nhu cầu tiền vượt quá nguồn cung của xã hội và gây sức ép lên hệ thống ngân hàng và tổ chức tài chính, gây ra khủng hoảng tài chính
Mức độ rủi ro đầu cơ trên lĩnh vực bất động sản tại Mỹ bị tăng vọt, do giá cả các tài sản tài chính dao động mạnh và khó lường, toàn bộ môi trường vĩ mô bị bất ổn, các tổ chức tài chính và bảo hiểm không còn khả năng phân loại các khoản nợ theo từng lớp rủi ro
Dưới tác động của khủng hoảng kinh tế từ Mỹ, các toàn bộ các quốc gia gánh chịu hậu quả và tạo nên phản ứng dây chuyền trong thị trường bất động sản, kéo theo cuộc khủng hoảng kinh tế toàn thế giới Các quốc gia đứng trước ngã rẽ, hoặc bất động sản sẽ tiếp tục và các nhà đầu tư được lợi lớn, hoặc bất động sản
sẽ tiếp tục đóng băng và tất cả sẽ bị vỡ nợ
4. Cách khắc phục
Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất mang tính chất quyết định trong việc khắc phục cuộc khủng hoảng kinh tế Quan hệ sản xuất tùy theo mức độ phù hợp mà hoặc sẽ giúp lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ, hoặc sẽ biến thành trở ngại của lực lượng sản xuất Nói cách khác, quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất có mối liên quan mật thiết với nhau và tác động lẫn nhau trong nền kinh tế thị trường, đồng thời, ảnh hưởng đến việc khắc phục cuộc khủng hoảng kinh tế Điều này dẫn đến cách khắc phục khủng hoảng kinh tế đầu tiên đó là quan hệ sản xuất phải phù hợp với lực lượng sản xuất Hay nói cách khác, cần giải quyết mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
Thứ hai, giữa cung và cầu về hàng hóa phải có sự thích ứng cần thiết khách quan về hình thái hiện vật
và hình thái giá trị Đây là một tiền đề quan trọng vì quan hệ cung cầu có thể điều tiết được sự chênh lệch giữa giá cả và giá trị thị trường Sự thay đổi của giá cả thị trường và quan hệ cung cầu tác động lẫn nhau, giúp cho nền kinh tế có được sự cân đối Vì vậy cần định hướng và thực hiện một cách khôn khéo đối với
sự vận động của cơ chế thị trường
Thứ ba, cho dù các quốc gia đã sử dụng rất nhiều giải pháp để ứng phó với khủng hoảng, nhưng hiệu quả của các chính sách đó lại không thực sự được tin tưởng Để thị trường tài chính thế giới thoát được tình trạng đóng băng, cần tạo ra niềm tin cho các nhà đầu tư, người dân đối với chính sách của Chính phủ đối với cuộc khủng hoảng
Trang 7Thứ tư, cần phòng chống rủi ro đổ vỡ thanh khoản toàn hệ thống tài chính, đặc biệt là đổ vỡ khủng hoảng cho vay cầm đồ dưới tiêu chuẩn Đây là các biện pháp nhằm nâng cao năng lực tài chính của các ngân hàng cũng như các tổ chức tài chính, cụ thể là, quốc hữu hóa ngân hàng, khuyến khích sát nhập ngân hàng, mua lại các khoản nợ của các ngân hàng đang có vấn đề hoặc đang có chiều hướng phá sản
Cuối cùng, cần đưa ra biện pháp khắc phục vấn đề an sinh xã hội Tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế đã làm cho nhiều nhân công thất nghiệp, thu nhập ngày càng giảm và đầu tư hạn chế, vì vậy Chính phủ cần đưa ra các biện pháp giải quyết, cụ thể như sau:
- Tăng chi phí cho bảo hiểm xã hội, hỗ trợ những người bị thất nghiệp
- Hỗ trợ thanh khoản cho các khoản nợ dưới tiêu chuẩn, bên cạnh việc tăng tính thanh khoản và tăng năng lực tài chính cho ngân hàng, còn có thể giãn nợ cho người dân đang nợ tiền ngân hàng nhưng không trả được, góp phần hạn chế sự tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính lên nhóm đối tượng đang gặp khó khăn này
- Trong giai đoạn kinh tế khó khăn, thất nghiệp gia tăng này, nên tăng cường dạy nghề cho những người
bị thất nghiệp nhằm giúp họ chuyển hướng nghề nghiệp mới, góp phần vào việc tăng trình độ của lực lượng sản xuất
III. Tình hình Việt Nam
Như chúng ta đã biết, cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 2008-2009 đã làm sụp đổ toàn bộ hệ thống tiền tệ của các ngân hàng hàng đầu thế giới và dẫn đến sự phá sản của hàng loạt tập đoàn kinh tế.Tình trạng đói tín dụng, tình trạng sụt giá chứng khoán và mất giá tiền tệ quy mô lớn ở nhiều quốc gia trên thế giới, có nguồn gốc từ khủng hoảng tài chính ở Hoa Kỳ
Bong bóng nhà ở cùng với giám sát tài chính thiếu hoàn thiện ở Hoa Kỳ đã dẫn tới một cuộc khủng hoảng ở quốc gia này vào năm 2007 và bùng phát mạnh ở năm 2008 Cuộc khủng hoảng từ Hoa Kỳ đã lan rộng ra nhiều quốc gia khác, dẫn tới những đổ vỡ tài chính, suy thoái kinh tế, suy giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế ở nhiều quốc gia trên thế giới Dĩ nhiên, Việt Nam cũng không nằm ngoại lệ đó Chương này sẽ giúp chúng ta tìm hiểu những ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế đến sự phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam cũng như những bài học chúng ta rút ra được từ cuộc khủng hoảng này
1. Ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế đến sự phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam
Mở cửa kinh tế và hội nhập đã mang lại nhiều lợi ích cho Việt Nam nhưng đồng thời cũng khiến Việt Nam phải đối mặt với nhiều nguy cơ hơn khi xảy ra biến động Một đặc điểm không thể thay đổi của khủng hoảng kinh tế là xu hướng mở rộng toàn cầu hóa Do vậy, khi gia nhập WTO, Việt Nam cũng không thể không chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 2008-2009 Tuy không trực tiếp, nhưng cuộc khủng hoảng kinh tế đã có những tác động tiêu cực nhất định đến nền kinh tế Việt Nam
Sự ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế tài chính, nợ công toàn cầu đã góp phần làm ảnh hưởng đến này kinh tế Việt Nam như làm cho lạm phát và mặt bằng lãi suất ở mức cao, ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh, thu hút đầu tư giảm, thị trường chứng khoán và thị trường bất động sản giảm sút, đồng tiền Việt Nam giảm giá
Tất nhiên những vấn đề nêu trên không phải tất cả do khủng hoảng kinh tế, tài chính, nợ công gây nên
mà còn do nhiều nguyên nhân khác từ bản thân nền kinh tế với những khoản nợ xấu trong các doanh nghiệp Nhà nước
Cụ thể là trong những vấn đề sau:
Tác động đến sự tăng trưởng của nền kinh tế:
- Cuộc khủng hoảng toàn cầu giai đoạn 2008-2009 đã tác động đến kinh tế Việt Nam trên nhiều khía cạnh: hoạt động xuất nhập khẩu, đầu tư trực tiếp nước ngoài, sản xuất công nghiệp nông nghiệp, thị
Trang 8trường tài chính tiền tệ, thương mại, du lịch, an ninh xã hội Nhưng chịu ảnh hưởng nhiều nhất vẫn là tốc độ tăng trưởng GDP
- Năm 2007, tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam nằm ở mức cao nhất từ trước đến nay là 8,48% Nhưng đến năm 2008, kinh tế Việt Nam bắt đầu khủng hoảng, con số này chỉ đạt ở mức 6,23%, là mức thấp nhất trong 9 năm trước đó Tốc độ này đồng thời thấp hơn cả tốc độ dự kiến lúc đầu là 6,7%, và thấp hơn chỉ tiêu đã được Quốc hội thông qua là 7% Năm 2009, con số này tiếp tục giảm mạnh còn 5,3%
- Cũng như nền kinh tế của các quốc gia khác, khủng hoảng cũng tác động đến mọi tầng lớp của dân cư Việt Nam, trong đó tầng lớp công nhân phải chịu ảnh hưởng trực tiếp do sản xuất bị thu hẹp, số người thất nghiệp gia tăng, thu nhập bị giảm mạnh
Tác động đến xuất khẩu của Việt Nam:
- Hoạt động xuất nhập khẩu chịu ảnh hưởng nặng nề vì đây là hoạt động đóng góp khoảng 60% vào tăng trưởng GDP Việt Nam Bên cạnh đó, do Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, nên khi nền kinh tế Mỹ suy thoái đã tác động không ít đến hoạt động này
- Khi nền kinh tế Mỹ suy thoái, tăng trưởng kinh tế chậm lại, tỷ lệ thất nghiệp tăng, thu nhập giảm khiến sức mua hàng hóa của người dân giảm, đồng thời Chính phủ thực hiện chính sách đồng Đô la yếu nhằm giảm thâm hụt cán cân thương mại, những điều này đã khiến cho xuất khẩu của nhiều nước vào Mỹ giảm mạnh, trong đó có Việt Nam
Trang 9- Trong năm 2007, tốc độ kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ là 26,7% Nhưng trong 9 tháng đầu năm 2008, con số này chỉ đạt mức 16,7% Bên cạnh đó, Mỹ cũng là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Trung Quốc, khi tiêu dùng tại Mỹ giảm, khiến hàng Trung Quốc rẻ hơn và cạnh tranh với hàng Việt Nam tại thị trường Mỹ, gây áp lực lớn cho nền kinh tế Việt Nam
- Đồng thời, cuộc khủng hoảng này gây tác động trực tiếp đến xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Nhật Bản và châu Âu Tương tự như Mỹ chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế, tiêu dùng của các nước này giảm mạnh, kéo theo giảm xu hướng nhập khẩu từ Việt Nam Tỷ trọng của thị trường EU trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam cũng đã giảm, chỉ còn 16,5% trong khi năm 2007 là 18%
- Trong nửa năm đầu 2008, giá cả hàng hóa trên thị trường thế giới leo thang, làm tăng chi phí nhập khẩu
và đẩy nhập siêu lên cao Từ cuối tháng 7 năm 2008, toàn bộ giá cả tuột dốc mạnh, gây ra những biến động chưa từng có, kéo theo đó xuất nhập khẩu chịu ảnh hưởng nặng nề, ảnh hưởng đến việc kinh doanh của nhiều doanh nghiệp Các dự báo cũng như tính toán của doanh nghiệp trượt khỏi đường ray, đánh đổ tất cả hoạch định, dự kiến của nhà điều hành chính sách Điều này càng gây thêm khó khăn cho xuất khẩu Việt Nam
- Kết quả, xuất khẩu của Việt Nam chỉ nằm ở mức khoảng 64 tỉ USD Xuất khẩu đã giảm không chỉ về số lượng các đơn hàng, mà cả về giá cả hàng bán của hàng hóa xuất khẩu Nhiều doanh nghiệp trong nước, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ gặp khó khăn trong việc tiêu thụ hàng hóa giảm và thiếu vốn đầu tư
Tác động đến FDI:
- Tài chính bị khủng hoảng, các nhà đầu tư đứng trước mối lo ngại khi quyết định đầu tư Tuy nhiên, ở khía cạnh tích cực mà nói, do Việt Nam chịu ảnh hưởng của khủng hoảng nhẹ hơn so với các nước khác trong khu vực nên có thể tăng khả năng thu hút vốn đầu tư
- Hoạt động kinh doanh trong nước không còn hăng hái như trước, toàn bộ rơi vào tình trạng bị động Vốn
và tiền gửi tiết kiệm được chuyển hóa thành các ngoại tệ khác, đe dọa đến việc phá sản của Việt Nam đồng Đầu tư sản xuất bị thu hẹp, thất nghiệp lại tiếp tục gia tăng, thu nhập của người dân giảm mạnh
- Khi nghiên cứu tình hình FDI vào Việt Nam, nhiều ý kiến cho rằng,về ngắn hạn, khủng hoảng ở Mỹ chưa có tác động lớn đến Việt Nam, do dòng vốn đầu tư vào đây đa số đều bắt nguồn từ các nước và vùng lãnh thổ trong khu vực Các nướcchâu Á chiếm tới 80% dòng vốn đầu tư vào Việt Nam Mỹ chỉ đứng thứ 11 trong hơn 80 quốc gia và vùng lãnh thổ có hoạt động đầu tư trực tiếp tại Việt Nam với 419
dự án còn hiệu lực, tổng số vốn đăng ký 4,1 tỉ USD Mặt khác,dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam thường mang tính dài hạn nên sẽ không bị ảnh hưởng nhiều lắm Mặc dù vậy, về
Trang 10dài hạn, khủng hoảng tài chính thế giới có thể khiến dòng đầu tư nước ngoài cả trực tiếp và gián tiếp vào Việt Nam suy giảm vì những lo ngại về bất ổn kinh tế và sự suy thoái kinh tế toàn cầu
- Tuy nhiên, cũng có ý kiến to ra lo ngại hơn về nguồn vốn FDI vàoViệt Nam Thứ nhất, do nguồn tín dụng của thế giới đang dần trở nên cạn kiệt, nên các hoạt động đầu tư trực tiếp và gián tiếp sẽ suy giảm trên phạm vi toàn cầu và Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng Hơn nữa, do nhu cầu tiêu thụ giảm sút, nên việc giải ngân FDI sẽ chậm lại đáng kể.Theo ý kiến một số chuyên gia, trong hai năm 2006 và 2007 nguồn FDI vào Việt Nam đã tăng bất thường, không có cơ sở chắc chắn: Việt Nam không thể tiêu thụ quá 5 tỷ đôla/năm với hạ tầng, môi trường kinh doanh như hiện nay Bởi vậy trong tương lai,chính Việt Nam sẽ không thể tiếp nhận nhiều vốn FDI hơn những gì đã diễn ra
- Trái với tất cả nhiều dự đoán ban đầu, nếu nhìn trên các con số, tình hình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam năm 2008 đã tăng cao kỷ lục trong hơn 20 năm kể từ khi Việt Nam bắt đầu nỗ lực thu hút FDI Kết thúc năm 2008, tổng số vốn FDI đăng ký tại Việt Nam tính đến ngày 19/12/2008 đạt hơn 64 tỷ USD, tăng 199,9% so với năm 2007 Vốn giải ngân trong năm 2008 của các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam lên con số11,5 tỷ USD, tăng 43,2% so với năm 2007
2. Những bài học từ quá khứ
Với Việt Nam, một nước đi theo con đường kinh tế thị trường chưa lâu, cuộc khủng hoảng này có thể làm xói mòn niềm tin vào thị trường, nhất là khi vai trò của nhà nước đã được nhấn mạnh trở lại ngay cả ở
Mỹ và các nền kinh tế phát triển khác Tuy nhiên, sẽ là sai lầm lớn nếu Việt Nam không tiếp tục hoặc chệch hướng khỏi con đường cải cách đang đi Việt Nam nên coi cuộc khủng hoảng này là một cơ hội tái cơ cấu lại nền kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh của mình Cùng với các trào lưu biến đổi của thế giới đang diễn ra, Việt Nam cần lựa chọn cho mình một chiến lược phát triển khôn ngoan và bền vững
Chiến lược này cần tiếp tục phát triển các mối quan hệ kinh tế đa phương và song phương, đồng thời đẩy mạnh đầu tư vào các nguồn lực trong nước như cơ sở hạ tầng, nguồn vốn con người, vốn xã hội Vai trò của nhà nước sẽ phải đẩy mạnh ở hai mặt: chủ động hơn trong các hoạt động phối hợp quốc tế và nâng cao năng lực quản lý và giám sát hệ thống tài chính ngân hàng Các nỗ lực xoá đói giảm nghèo của Việt Nam cần được tiếp tục đẩy mạnh, song song với việc gia tăng các khoản trợ cấp và bảo hiểm xã hội Điều này có thể sẽ làm tăng kích cỡ và vai trò của nhà nước trong nền kinh tế