1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP TÀI CHÍNH QUỐC TẾ

16 509 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 2,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cuối cùng toàn bộ hoạt động của nền kinh tế đều sụp đổ.theo Mishkin Khủng hoảng tài chính, nói một cách đơn giản, là sự mất khả năng thanh khoản của các tập đoàn tài chính, dẫn tới sự sụ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

HỆ TẠI CHỨC KHÓA K2012/TP1

………… o0o…………

KHỦNG HOẢNG KINH TẾ, NHỮNG BÀI HỌC TỪ QUÁ KHỨ

GVHD: TRƯƠNG TRUNG TÀI

SV THỰC HIỆN: TRẦN MINH HÙNG

LỚP: NGÂN HÀNG

KHÓA K2012/TP1

SĐT: 0909341323

EMAIL: hungtm0604@gmail.com

Thành phố Hồ Chí Minh – 2014

MỤC LỤC

Trang 2

I KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH LÀ GÌ? 2

II KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH 2007 – 2009 2

2.1 NHỮNG NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN KHỦNG HOẢNG 2007 - 2009 2

2.1.1 Đổi mới tài chính trong thị trường thế chấp 2

2.1.2 Bong bóng thị trường nhà ở 2

2.1.3 Thông tin bất cân xứng và các cơ quan xếp hạng tín dụng 2

2.2 ẢNH HƯỞNG CỦA CUỘC ĐẠI KHỦNG HOẢNG 2

2.2.1 Giá nhà đất: phình to và nổ tung 2

2.2.2 Sự suy giảm tài sản trên bản cân đối của các tổ chức tài chính: 2

2.2.3 Sự tháo chạy của hệ thống ngân hàng – Shadow banking System 2

2.2.4 Thị trường tài chính toàn cầu 2

2.2.5 Sự thất bại của các doanh nghiệp hàng đầu 2

2.3 ĐỈNH ĐIỂM CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG 2

2.4 SỰ CAN THIỆP CỦA CHÍNH PHỦ VÀ SỰ HỒI PHỤC 2

2.4.1 Những cuộc giải cứu tại Mỹ và Châu Âu 2

2.4.2 Bài học nhận được từ cuộc khủng hoảng trong cách điều hành vĩ mô: 2

III TÁC ĐỘNG CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG ĐỐI VỚI VIỆT NAM 2

3.1 Tác động khủng hoảng đến nền kinh tế Việt Nam 2

3.1.1 Đối với tốc độ tăng trưởng kinh tế 2

Trang 3

I KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH LÀ GÌ?

Chúng ta thấy được rằng một nền kinh tế hoạt động hiệu quả thì cần phải giải quyết được vấn đề bất cân xứng trong thông tin để các luồng vốn có thể được sử dụng một cách có hiệu quả Vấn đề thông tin bất cân xứng là một rào cản cho việc luân chuyển vốn một cách có hiệu quả và thường được các nhà

kinh tế học miêu tả như là những trở ngại tài chính Khi những trở ngại về tài chính tăng lên, thị

trường tài chính kém hiệu quả hơn trong việc điều chuyển vốn từ người tiết kiệm tới các hộ gia đình và các công ty có cơ hội đầu tư sản xuất, kết quả là các hoạt động của nền kinh tế suy giảm Một cuộc khủng hoảng tài chính xảy ra khi mà luồng thông tin trên thị trường tài chính chịu một biến động đặc biệt nghiêm trọng, dẫn đến những trở ngại tài chính tăng vọt và thị trường tài chính ngưng hoạt động

Cuối cùng toàn bộ hoạt động của nền kinh tế đều sụp đổ.(theo Mishkin)

Khủng hoảng tài chính, nói một cách đơn giản, là sự mất khả năng thanh khoản của các tập đoàn tài chính, dẫn tới sự sụp đổ và phá sản dây chuyền trong hệ thống tài chính

Dấu hiệu của Khủng hoảng tài chính là:

- Các NHTM không hoàn trả được các khoản tiền gửi của người gửi tiền

- Các khách hàng vay vốn, gồm cả khách hàng được xếp loại A cũng không thể hoàn trả đầy đủ các khoản vay cho ngân hàng

- Chính phủ từ bỏ chế độ tỷ giá hối đoái cố định

II KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH 2007 – 2009

2.1 NHỮNG NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN KHỦNG HOẢNG 2007 - 2009

Cuộc khủng hoảng đầu tiên nổ ra tại Mỹ mà không có bất cứ dấu hiệu cảnh báo nào, sau đó lan sang các nước công nghiệp Tây Âu - những trung tâm tài chính lớn của thế giới và nhanh chóng lan rộng ra toàn cầu Một số nhận định cho rằng nguyên nhân sâu xa của cuộc khủng hoảng là do chính sách phi điều tiết các hoạt động đầu tư của ngành ngân hàng và đặc biệt là chính sách lãi suất quá thấp trong một thời gian quá lâu của FED Và các công cụ tài chính trực tiếp gây ra thảm họa này là các món nợ có thế chấp bất động sản dưới chuẩn, chứng khoán đảm bảo bằng tài sản thế chấp (MBS- Mortage- Back Security) hoặc CDOs Bên cạnh đó, sự suy sụp của thị trường bất động sản và “vỡ nợ tín dụng” hàng lọat các ngân hàng thua lỗ cũng là nguyên nhân trực tiếp gây ra đại khủng hoảng

2.1.1 Đổi mới tài chính trong thị trường thế chấp

Trước năm 2000, chỉ có vài tài khoản vay tín dụng xếp hạng tín dụng tốt mới có thể được thế chấp nhà ở Tuy nhiên, những tiến bộ trong công nghệ máy tính và kỹ thuật thống kê mới, được gọi là khai thác dữ liệu, đã dẫn đến việc mở rộng tín dụng, cho phép đánh giá định lượng rủi ro tín dụng cho một tầng lớp mới các tài khoản thế chấp nhà ở rủi ro cao Các hộ gia đình có hồ sơ tín dụng bây giờ có thể được chỉ định một số điểm tín dụng, được biết đến như là điểm FICO (đặt theo tên nơi phát triển nó Fair Isaac Corporation), giúp dự đoán khả năng họ sẽ có thể bị mất khả năng chi trả các khoản thanh toán nợ cho vay Ngoài ra, bằng cách giảm chi phí giao dịch, công nghệ máy tính cho phép gói các khoản vay nhỏ hơn lại với nhau vào chứng khoán nợ tiêu chuẩn, một quá trình được gọi là chứng khoán hóa Những yếu tố này đã giúp cho các ngân hàng có thể cung cấp các khoản thế chấp dưới chuẩn cho khách hàng vay với các hồ sơ tín dụng chưa hoàn hảo Do những đặc tính như vậy nên rủi ro của nợ dưới chuẩn rất cao song bù lại thì lãi suất của các khoản vay nợ dưới chuẩn cũng cực kỳ hấp dẫn

Khả năng định lượng với giá rẻ rủi ro vỡ nợ của các khoản thế chấp có rủi ro cơ bản cao và đóng gói

lại thành một khoản nợ chuẩn an toàn được gọi là các chứng khoán đảm bảo thế chấp (MBS) (Chứng

khoán bảo đảm bằng thế chấp là loại chứng khoán được phát hành dựa trên cơ sở một hoặc một nhóm các khoản thế chấp Về bản chất, chứng khoán bảo đảm bằng thế chấp là một loại trái phiếu Thay vì, trả cho nhà đầu tư một khoản trái tức cố định và tiền gốc, thì người phát hành chứng khoán thanh toán bằng dòng tiền phát sinh từ những khoản thế chấp được dùng để đảm bảo cho số chứng khoán đó.

Trang 4

Dạng đơn giản nhất của chứng khoán bảo đảm bằng thế chấp là kiểu "sang tay thế chấp", trong đó tất cả

số tiền gốc và lãi thanh toán hàng tháng (sau khi đã trừ đi phí dịch vụ) trong một hợp đồng thế chấp sẽ được "sang tay" cho nhà đầu tư.) là nguồn cung cấp mới tài chính cho các khoản thế chấp).

Đổi mới tài chính không dừng lại ở đó Kỹ thuật tài chính, là sự phát triển của công cụ tài chính phức tạp mới, đã dẫn đến các sản phẩm tín dụng có cấu trúc có thể chi trả ra dòng thu nhập từ một tập hợp các tài sản cơ bản, được thiết kế để có những đặc điểm nguy cơ đặc biệt mà nó tạo sự hấp dẫn đối với các nhà đầu tư với các sở thích khác nhau Trong các sản phẩm này nổi tiếng nhất là nghĩa vụ nợ thế chấp (CDOs)

2.1.2 Bong bóng thị trường nhà ở

Bong bóng thị trường nhà ở là hiện tượng giá trị thị trường của nhà ở tăng quá cao, vượt xa giá trị thực của nó do các hoạt động đầu cơ thái quá vào thị trường này Bong bóng nhà ở xảy ra bắt nguồn từ tháng 2001, tại Mỹ Vào giai đoạn suy thoái kinh tế 2001- 2002 do việc các quỹ đầu tư mạo hiểm vào các công ty công nghệ cao (dot.com) không hiệu quả, cộng thêm chi phí của hai cuộc chiến tranh Iraq

và Afganistan nền kinh tế Mỹ trở nên mất cân đối nghiêm trọng Giá nhà đất trở nên đắt đỏ, phần lớn dân lao động nhập cư và người da màu phải ở nhà thuê với chi phí cao Để giúp nền kinh tế thoát khỏi tình trạng trì trệ, FED đã liên tục hạ thấp lãi suất, dẫn đến các ngân hàng cũng hạ lãi suất để cho vay mua bất động sản Cụ thể, lãi suất cơ bản của FED bị cắt giảm từ 6%/năm xuống chỉ còn 1%/năm từ

2000 đến 2003 Đồng thời, chính sách của Chính phủ Mỹ lúc bấy giờ là tạo điều kiện cho cư dân nghèo được vay tiền dễ dàng hơn để mua nhà Tóm lại, lãi suất thấp, chính sách của Chính Phủ, sự mạo hiểm của các ngân hàng khi nới lỏng các điều kiện cho vay để giúp người dân mua địa ốc dễ dàng hơn, cộng thêm sự liều lĩnh của khu vực đầu tư tư nhân khi vay tiền để đầu tư hoặc mua bất động sản, chính các yếu tố này đã dẫn đến giá nhà đất tại Mỹ tăng cao vùn vụt Việc này tiếp tục gây ra hiệu ứng dây chuyền là sự ỷ lại là giá nhà tiếp tục tăng, nên đầu cơ càng mạnh hơn

Hình 1 Giá nhà đất tăng cao, đỉnh điểm là cuối năm 2005 – đầu 2006

Trang 5

Hệ quả là người ta sẵn sàng mua nhà với giá cao, bất kể giá trị thực và khả năng hoàn trả vì họ ỷ lại nếu cần sẽ bán căn nhà để trả nợ ngân hàng và vẫn có lời Từ đó các ngân hàng cũng chạy đua cạnh tranh và tìm mọi cách để ưu đãi khách hàng, đẩy mạnh các khoản vay dưới chuẩn (subprime) vì người vay nợ không đủ tiêu chuần để đi vay Do đó, bong bong đã hình thành và dần phình to trên thị trường

bất động sản

Hình 2 Nợ dưới chuẩn tăng rõ rệt từ 2004 - 2006

Sau đó, do lo lắng về làm phát, FED bắt đầu tăng dần lãi suất từ 1 % lên đến 5.25% giữa năm 2006, động thái này buộc NHTM phải tăng lãi suất cho vay mua nhà Cường độ mua nhà giảm, giá nhà trượt dốc vì cung vượt quá cầu Những người vay mua nhà bắt đầu lo lắng khi giá trị căn nhà họ mua giảm thấp hơn khoản nợ họ đã vay Một ảnh hưởng nữa là những người vay dưới chuẩn mất khả năng trả nợ

do lãi suất bị điều chỉnh cao hơn nhiều so với lãi suất ban đầu (họ đã chọn theo hình thức ARM – lãi suất điều chỉnh theo lãi suất thả nổi vì tin tưởng giá nhà đất sẽ tiếp tục tăng), thứ hai, giá trị căn nhà những người này đã mua bị tụt giảm thảm hại so với giá trị khoản vay nợ của họ, nên người vay muốn bán nhà để trả nợ cũng không được Từ đó, bong bong nhà đất đổ vỡ

Bong bóng nhà ở vỡ làm nhiều người vay tiền ngân hàng đầu tư nhà không trả được nợ dẫn tới bị tịch biên nhà thế chấp Nhưng giá nhà xuống khiến cho tài sản tịch biên không bù đắp nổi khoản ngân hàng cho vay, khiến các ngân hàng rơi vào khó khăn Nhiều tổ chức tín dụng cho vay mua nhà gặp khó

khăn vì không thu hồi được nợ Giá nhà ở giảm nhanh khiến cho các loại giấy nợ đảm bảo bằng tài

sản (CDO - viết tắt của collateralized debt obligations) và chứng khoán đảm bảo bằng tài sản thế chấp (MBS - viết tắt của mortgage-backed security) do các tổ chức tài chính phát hành bị giảm giá

nghiêm trọng Kết quả là bảng cân đối tài sản của các tổ chức này xấu đi và xếp hạng tín dụng của họ bị các tổ chức đánh giá đánh tụt Cuộc khủng hoảng tín dụng nhà ở thứ cấp nổ ra

Những rủi ro mang tính hệ thống đã tồn tại và một khi sự cố đối với bong bóng thị trường tài sản xảy

ra thì những rủi ro này sẽ làm mất lòng tin ghê gớm của các bên liên quan Thêm vào đó, việc cho vay liên ngân hàng sẽ làm cho những tổn thất tín dụng lây lan ra toàn hệ thống ngân hàng; một ngân hàng phá sản sẽ kéo theo nhiều ngân hàng khác phá sản Và mất lòng tin ở người gửi tiền gây ra đột biến rút tiền gửi còn làm cho tình hình thêm nghiêm trọng và diễn ra nhanh chóng hơn

Trang 6

2.1.3 Thông tin bất cân xứng và các cơ quan xếp hạng tín dụng

Các cơ quan xếp hạng tín dụng, người đánh giá chất lượng của các chứng khoán nợ về khả năng vỡ

nợ, là một nhân tố góp phần vào bất cân xứng thông tin trong thị trường tài chính.Các cơ quan xếp hạng tư vấn cho khách hàng về cách cấu trúc công cụ tài chính phức tạp, như CDOs, đồng thời họ đã xếp hạng các sản phẩm giống nhau Các cơ quan đánh giá do đó là các đối tượng xung đột lợi ích bởi vì nguồn lợi khổng lồ họ thu được từ tư vấn cho khách hàng về cách cấu trúc sản phẩm làm cho sự đánh giá của họ không còn chính xác nữa Kết quả đánh giá cực kỳ thổi phồng đó cho phép bán các sản phẩm tài chính phức tạp có khả năng xảy ra rủi ro vượt xa hơn các nhà đầu tư tính toán

Kết luận: Khủng hoảng đã xảy ra khi thị trường nhà đất Mỹ bị đóng băng từ khoảng tháng 7/2007 sau khi lãi suất cho vay thế chấp bị điều chỉnh tăng hàng loạt làm hàng triệu người vay tiền mua nhà đầu cơ không thể trả nợ Thị trường chứng khoán phái sinh từ nợ vay thế chấp dưới chuẩn mất khả năng thanh khoản gây ra khủng hoảng tín dụng và thiệt hại không nhỏ cho các ngân hàng lớn không chỉ bên trong nước Mỹ Thị trường bất động sản liên tục đi xuống trong giai đoạn này khi mà cầu thấp hơn lượng cung rất nhiều Giá tài sản cầm cố là nhà đất giảm liên tục làm cho những ngân hàng và nhà đầu tư đã bơm vốn vào thị trường nhà đất không thu hồi được số tiền này và bị mất trắng, chấp nhận phá sản; kéo theo thị trường chứng khoán suy sụp, kinh tế Mỹ đình trệ và chính phủ phải đưa ra nhiều biện pháp giải cứu

2.2 ẢNH HƯỞNG CỦA CUỘC ĐẠI KHỦNG HOẢNG

2.2.1 Giá nhà đất: phình to và nổ tung

Như đã đề cập ở phần nguyên nhân, Chính phủ Mỹ muốn nâng cao tỷ lệ dân chúng sở hữu nhà cũng như đẩy mạnh xuất khẩu để giảm thâm hụt ngân sách bằng cách hạ lãi suất cho vay Xã hội Mỹ vốn là

xã hội tiêu dùng, có được nguồn tín dụng giá rẽ, dân Mỹ bắt đầu mua nhà cửa, ban đầu xuất phát từ nhu cầu có thực Thông qua chứng khoán hóa các khoản vay đã làm gia tăng tính thanh khoản các MBS Các ngân hàng thu được khoản tiền cho vay mà không đợi đến khi đáo hạn Các tổ chức cho vay muốn quay vòng dòng tiền càng nhanh nên hạ thấp dần các tiêu chuẩn cho vay gây vì nghĩ rằng rũi ro đã được chuyển cho các nhà đầu tư Cho vay càng nhiều tiền thu về càng nhiều, các ngân hàng thương mại càng trở nên giàu có Dòng vốn từ khắp nơi trên thế giới đổ về càng đẩy giá nhà lên cao, xa rới giá trị thực của tài sản Hiện tượng đầu cơ này dẫn đến hình thành bong bóng bất động sản

Do dòng tiền không đổ vào đầu tư sản xuất để cao ra một lượng của cải cân bằng với lượng cung tiền tăng thêm, điều đó có thể gây nên lạm phát cao cho nền kinh tế Fed đã tăng lãi suất cứ 0.25% mỗi lần điều chỉnh kể từ quý 1/2005 Chi phí vay tăng lên, việc đầu cơ trở nên ít sinh lợi, nhà cửa bắt đầu khó bán nên giảm giá Nhà đầu tư khắp nơi bán cắt lỗ ào ạt Bong bóng bất động sản nổ tung!

Trang 7

Hình 3 Giá nhà đất và cuộc suy thoái 2007-2009

Không trả được nợ, hàng loạt người mua nhà bị xiết nợ và phát mãi tài sản Cleveland (Ohio) là thành phố đầu tiên châm ngòi cho cuộc khủng hoảng lan rộng ở nước Mỹ và trên toàn thế giới Theo số liệu thống kê, khoảng 1/10 số nhà mua tại Cleveland bị thu hồi để phát mãi Những người nhập cư mua nhà trở lại với giấc mơ tay trắng Giá nhà tại Mỹ giảm thảm hại trong quý 3/2007, mức tồi tệ nhất từ cuộc khủng hoảng tài chính 1930

2.2.2 Sự suy giảm tài sản trên bản cân đối của các tổ chức tài chính:

Tài sản của các tổ chức tài chính chủ yếu là các MBS, CDOs bị mất giá nghiêm trọng, có nguy cơ nuốt mất hoàn toàn vốn sở hữu của các tổ chức tài chính, khiến các tổ chức này có nguy cơ bị phá sản Bên cạnh đó, các công ty đứng ra bảo hiểm MBS, như AIG, cũng lâm vào cảnh khốn đốn khi phải đứng

ra bảo lãnh các khoản vay xấu Biện pháp đặt ra cho các tổ chức tài chính là thay đổi cơ cấu bằng cách bán bớt tài sản của mình, việc này sẽ tốn chi phí rất cao trong giai đoạn bất thị trường bất ổn

Việc tự cứu mình buộc các ngân hàng siết chặt tín dụng, tăng cường các rào cản cho vay trong đó có việc tăng cao lãi suất để bù vào rũi ro Điều này khiến những người có nhu cầu vốn thật sự như người tiêu dùng và các doanh nghiệp khó tiếp cận tín dụng, mặc dù họ là đối tượng có khả năng thanh toán cao nhất Rào cản tài chính ngày càng cao, việc điều tiết vốn của hệ thống tài chính trở nên không thông suốt

2.2.3 Sự tháo chạy của hệ thống ngân hàng – Shadow banking System.

Shadows banking system là hệ thống các ngân hàng đầu tư, quỹ đầu tư, các công ty bảo hiểm và các

tổ chức không chịu sự giám sát chặt chẽ như ngân hàng thương mại

Hệ thống này trước đây là các tổ chức chủ yếu thực hiện việc phát hành các khoản nợ thế chấp được chứng khoán hóa, bản thân hệ thống này cũng nắm giữ nhiều tài sản bằng các MBS, CDOs Bằng các nghiệp vụ repos chừng khoán, các Shadows banking systems đem tài sản thế chấp vào các tổ chức tài chính khác cho vay để hưởng lãi suất thấp dưới hình thức tự động chuyển đổi (nếu cất trữ MBS, CDOs thì không hưởng được lãi) Đây là kênh dẫn vốn quan trong cho nền kinh tế lúc chưa xảy ra khủng hoảng

Cũng như các tổ chức tài chính khác Shadow banking System cũng bị suy giảm tài sản Do hai nguyên nhân, thứ nhất, do trước đây các tổ chức này còn giữ lại phần lớn các khoản vay dưới chuẩn mà không bán cho các tổ chức tài chính khác, nên phải đương đầu với tỉ lệ mất khả năng trả nợ ngày càng cao của những khỏan vay này.Theo ước tính, khoản tiền vay này tăng vùn vụt từ 160 tỷ USD năm 2001 lên 540 tỷ vào năm 2004 và đạt đỉnh 1300 tỷ năm 2007 (Trần Văn Thọ và Lê Anh 2008) Thứ hai,

Trang 8

chính vì sự sụt giảm trong giá trị mà các MBS và CDOs trở nên khó thanh khoản nên khi cầm cố để vay người cho vay đòi hỏi trị giá tài sản phải cao hơn nhiều so với khoản cần vay đôi lúc giá trị chênh lệch

là 50% ( trước khủng hoảng khoảng này gần bằng 0%) Do việc cầm cố để lấy tiền như trước đây chịu một tỷ lệ chiết khấu cao như vậy, vả lại các ngân hàng này cũng cần tiền bù vào vốn sở hữu bị ăn gần hết nên buộc phải bán tháo tài sản của mình

Kênh dẫn vốn với lãi suất thấp dồi dào trước đây bị khóa, nguồn tín dụng càng khan hiếm hơn Doanh nghiệp lao đao, thất nghiệp tràn lan, cầu tiêu dùng giảm mạnh, giá cả hàng hóa sụt giảm do cầu giảm, giảm phát –nợ là đấy

2.2.4 Thị trường tài chính toàn cầu

Cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ bắt đầu từ năm 2007 và ngày càng trầm trọng hơn kéo theo sự sụp

đổ đối với thị trường tài chính, hệ thống tài chính ngân hàng Mỹ đồng loạt đổ vỡ, ngành dịch vụ sản xuất bắt đầu chững lại và đi xuống Tiếp tục từ sự tàn khốc này, cuộc đại khủng hoảng 2008 phát triền

và lan rộng ra các nước công nghiệp Châu Âu Đây là một khu vực quan trọng trên bản đồ kinh tế của thế giới với những nền kinh tế lớn như Đức, Anh, Pháp, đặc biệt là Liên minh Châu Âu Năm 2007, Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của toàn Châu Âu đạt 20.103 tỷ USD, chiếm 36% GDP của toàn thế giới Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu xảy ra tác động mạnh mẽ đến mọi khía cạnh của nền kinh tế Châu Âu từ thị trường chứng khoán, hệ thống ngân hàng đến vấn đề tăng trưởng kinh tế

Những đối tượng nhạy cảm và bị tác động đầu tiên đều liên quan đến trực tiếp đến hoạt động cho vay dưới chuẩn Điển hình là sự sụp đổ của Northern Rock vào tháng 9/2007, đây là ngân hàng lơn thứ năm có tuổi đời trên 100 năm tại Anh

Cuộc đại suy thoái lan nhanh từ Âu sáng Á, nhiều nền kinh tế lớn, bắt đầu từ Nhật và EU phải tuyên

bố rơi vào suy thoái Ngay cả Nga, một cường quốc kinh tế, cũng chịu chung số phận Giá dầu sụt giảm mạnh, cùng với nhu cầu xây dựng đang đi xuống ảnh hưởng đến hai mặt hàng xuất khẩu chiến lược của Nga là dầu mỏ và kim loại, góp phần đẩy quốc gia này lún vào suy thoái

Như một hiệu ứng dây chuyền, tình trạng đóng băng của hệ thống tài chính tiếp tục dẫn đến sụt giảm trong chi đầu tư và tiêu dùng, hệ quả là nhiều doanh nghiệp phá sản, tỷ lệ thất nghiệp tại nhiều quốc gia tăng cao, trong khi lòng tin của công chúng giảm đến đáy trong nhiều năm

Đỉnh điềm là sự phá sản trên hệ thống quốc gia của Ireland, một trong những nước được đánh giá là

có nên kinh tế thành công nhất Châu Âu vì tỉ lệ tăng trưởng kinh tế cao nhất thế giới với GDP thực tăng trưởng bình quân hằng năm là 6,3% từ 1995 tới 2007, trở thành một trong những nước giàu có nhất châu Âu với lượng vốn chủ sở hữu công ty Mercedes cao hơn cả Đức Vì vậy mà Ireland còn được goi

là :”con cọp vùng Celtic”

Trang 9

Hình 5 Tỷ lệ nợ lạm phát và thất nghiệp của Ireland qua các thời kì

Nhưng đằng sau đó thì với giá bất động sản cao ngất ngưởng cùng với sự bùng nổ của việc cho vay thế chấp đã trở thành gốc rễ của cuộc khủng hoảng tài chính lớn năm 2008 tại Ireland, khiến cho nên kinh tế nước này suy thoái trầm trọng và đứng trên bờ vực phá sản trên quy mô quốc gia Thất nghiệp tăng từ 4.5% trước khủng hoảng lên 12.5% trong khi GDP sụt hơn 10% Danh sách đóng thuế ít dần trong khi thất thoát từ khu vực ngân hàng tiếp tục tăng lên, dẫn đến thâm hụt ngân sách chính phủ với một con số đáng giật mình hơn 30% trong năm 2010 Do đó Ireland đã phải rút khỏi khỏi liên minh Châu Âu và quỹ tiền tệ IMF

Vì vậy, các nước Châu Âu chịu ảnh hưởng của cuôc suy thoái nặng nề hơn nhiều so với Hoa Kỳ

2.2.5 Sự thất bại của các doanh nghiệp hàng đầu

Tác động của cuộc khùng hoảng đến bảng cân đối của doanh nghiệp làm cho các doanh nghiệp hàng đầu điêu đứng Trước hết phải kể đến sự sụp đổ của mô hình ngân hàng đầu tư độc lập (investment bank) tại Phố Wall Cả 5 ngân hàng độc lập của con phố tài chính này đều trải qua bước ngoặt quan trọng trong năm 2008 Các ngân hàng này báo cáo tổng nợ trong năm tài khóa 2007 lên đến 4,100 tỷ, chiếm 30% GDP danh nghĩa của Mỹ năm 2007 (Nguồn: Edward Conard (2012) Unintended Consequences Penguin pp 145–155 ISBN 978-1470823573.): Lehman Brothers phá sản, Bear Sterms

và Merill Lynch bị thâu tóm, Morgan Stanley và Goldman Sachs trở thành ngân hàng thương mại,phải chịu các quy định nghiêm ngặt hơn Tính đến ngày 15/12/2008, số NHTM của Mỹ phải đóng cửa đã lên đến con số 25, so với số 3 ngân hàng bị ngưng hoạt động trong năm 2007 Phải kể những tên tuổi lớn như Washington Mutual, IndyMac Bank

Trong tháng 7/2008, đổ vỡ tài chính tại Fannie Mae và Freddie Mac, đây thực chất là 2 công ty tư nhân chuyên cho vay cầm cố nhưng được Chính phủ Mỹ bảo trợ (GSEs) Hai định chế này đã tập hợp các khoản vay có thế chấp dưới chuẩn thành một nhóm và chuyển đổi thành một loại “Chứng khoán đảm bảo bằng thế chấp” (MBS và cùng nhau bảo lãnh cho khoảng hơn 5 nghìn tỷ đồng thế chấp Khi thị trường cho vay dưới chuẩn ở Mỹ sụp đổ, hai tổ chức này hoàn toàn mất thanh khoản, không thể chi trả cho một lượng lớn các nhà đầu tư nắm giữ MBS Bộ tài chính Mỹ và Cục dự trữ liên bang phải ra tay vực dậy để cứu sống Fannie Mae và Freddie Mac Đầu tháng 9/2008, công ty này được đưa vào tiếp quản bởi Chính Phủ

để tránh nguy cơ phá sản

Sự kiện này châm ngòi cho những vụ đổ vỡ tiếp theo với những tên tuổi lớn khác

Hình 6: Hệ số nợ của một số ngân hàng đầu tư

Trang 10

Vào thứ hai, 15/9/2008, sau khi bị thua lỗ trong thị trường cho vay dưới chuẩn, Lehman Brothers, sau 158 năm tồn tại, ngân hàng đầu tư lớn thứ tư tại Mỹ với quy mô tài sản hơn 600 tỷ USD và hơn 25,000 công nhân, đã đệ đơn xin phá sản, trở thành công ty lớn nhất bị phá sản trong lịch sử Hoa Kỳ Một ngày trước

đó, Merrill Lynch, ngân hàng đầu tư lớn thứ ba, cũng phải chịu tổn thất lớn khi nắm giữ các chứng khoán dưới chuẩn, đã phải công bố bán cho Bank of America với cái giá thấp hơn 60% so với giá trị của nó một năm trước đó Đúng 10 ngày sau vụ Lehman Brothers, Washington Mutual tạo nên vụ phá sản ngân hàng lớn nhất trong lịch sử với tổng tài sản thiệt hại tới 307 tỷ USD

Thứ ba, 16 /09/2008 , AIG, một gã khổng lồ trong ngành bảo hiểm với tài sản hơn 1000 tỷ USD Cùng chung số phận, đã phải hứng chịu một cuộc khủng hoảng về thanh khoản khi xếp hạng tín dụng của công ty này bị hạ bậc Công ty này trước đó đã kí 400 tỷ USD hợp đồng bảo hiểm (giao dịch hoán đổi tín dụng mặc định), mà những hợp đồng này phải trả cho những khoản thua lỗ do chứng khoán thế chấp dưới chuẩn gây ra Cục dự trữ Liên bang đã nhảy vào với một khoản cho vay 85 tỷ USD để cứu AIG, làm cho tổng dư nợ Chính phủ sau đó tăng đến 173 tỷ USD

2.3 ĐỈNH ĐIỂM CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG

Tình trạng thị trường tài chính đóng băng ngày càng tồi tệ đã khiến Ngân hàng Trung ương Mỹ, Anh Nhật, EU và nhiều quốc gia khác phải cắt giảm lãi suất hàng loạt khơi thông dòng vốn Các quốc gia trên cũng tích cực bơm tiền nhằm hỗ trợ thanh khoản cho các tập đoàn tài chính, cũng như kích thích hoạt động tiêu dùng và cho vay Trong đó, FED quyết định dùng 700 tỷ USD để mua lại nợ xấu của các ngân hàng Trước khi được thông qua vào ngày 1/10/2008, kế hoạch hỗ trợ lớn chưa từng có trong lịch

sử đã vấp phải không ít phản đối tại Quốc hội Mỹ Đặc biệt tại vòng bỏ phiếu vào ngày 29/9/2008, Hạ viện bất ngờ không thông qua kế hoạch với tỷ lệ 228 phiếu chống và 205 phiếu thuận, Thị trường chứng khoáng sụp đỗ ngay lập tức khi thông tin này được truyền hình tực tiếp trên truyền hình, chỉ số Dow Jones giảm 6,98%

Đỉnh điểm vào tuần đầu tháng 10, từ ngày 6/10/2008, đánh dấu tuần suy giảm tồi tệ nhất trong lịch

sử Mỹ Ngày 15/10/2008, thị trường chứng khoán giảm kỷ lục 733 điểm (7.9%), mức giảm mạnh nhất

kể từ ngày thứ sáu đen tối 19/10/1987 Chênh lệch tính dụng đã vượt quá giới hạn trong 3 tuần tiếp theo, sự chênh lệch giữa lại suất trái phiếu các Côngty Baa (những công ty có mứa độ rủi ro trung bình theo xếp hạng của Moddy's) và lãi suất trái kho bạc Mỹ đã hơn 5.5 điểm phần trăm (550 điểm cơ bản)

Ngày đăng: 30/04/2017, 17:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w