1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP TÀI CHÍNH QUỐC TẾ

11 344 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN 1 : GIỚI THIỆU VẤN ĐỀ Mục tiêu nghiên cứu Theo số liệu do “The Economist” cập nhật tính đến đầu tháng 3/2013, những khu vực và quốc gia có tổng mức nợ công tuyệt đối cao nhất hiện n

Trang 1

ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

- -BÀI TIỂU LUẬN

Đề tài :

TH ỰC TRẠNG VÀ GIẢI

PHÁP CHO VẤN ĐỀ NỢ CÔNG

Giáo viên hướng dẫn : Trương Trung Tài

Họ và Tên : Nguyễn Thị Hương Hiền

Lớp : Ngân Hàng 2012TP1

Điện Thoại : 0919 997 475

Email :minhminhngheo@gmail.com

Tháng 12 - 2014

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

PHẦN 1 GIỚI THIỆU VẤN ĐỀ

PHẦN 2 HỆ THỐNG LÝ THUYẾT

Nợ công là gì?

PHẦN 3 TÌNH HÌNH VIỆT NAM

1.Thực trạng nợ công ở Việt Nam hiện nay

2 Nguyên nhân

3.Giải pháp

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Don P Clark, “FDI, Technology Spillovers, Growth, and Income Inequality: A Selective Survey”, Global Economy Journal, Volume 11, Issue, 2011

2 Eiteman, D., K, Arthur I Stonehill, and Micheal H Multinational Business Finance 12th Boston, Massachusetts: Prentice Hall, 2010

3 Gonzales H, Brenda, “Investors’ Risk Appetite and Global Financial Market Conditions,” IMF Working Paper 08/85 (Washington: International Monetary Fund), 2008

4 Jaimovich D and Panizza U, “Public debt around the world: a new data set of central government debt”, Applied Economics Letters, 2010

5 Madura, J International Corporate Finance 9th Mason, Ohio: South-Western, a part of Cengage Learning, 2008

6 Shapiro C, “Multinational Financial Management”, Sixth Edition, Prentice Hall, 1999 7.Tạp chí khoa học kiểm toán

8.Vietbao.vn

Page 2 of 50

Trang 3

Tóm tắt

Cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính nổ ra tháng 9/2008 đang chồng chất lên

vai các quốc gia gánh nặng nợ nần do họ phải đi vay để chi tiêu và cứu trợ kinh tế Lựa chọn tối

ưu nhất đối với nợ công là làm thế nào để quản lý nó một cách hiệu quả Theo định nghĩa, nợ công không xấu nếu một quốc gia có khả năng thanh toán nó Tuy nhiên, nhiều nước đã thất bại Trên thực tế, các nước này không thất bại về mặt nguyên tắc, mà lý do thất bại là do không

có phương pháp thích hợp Cả thế giới đã thất bại vì các nước không thông hiểu lẫn nhau Nói chung, vấn đề để các quốc gia thỏa hiệp cùng một chính sách tương tự là rất khó khăn Mỗi quốc gia có xu hướng phát hành trái phiếu và cố gắng để có lấy được nguồn vốn trên thị trường quốc tế mà họ không có khả năng trả được (Gonzales, 2008).Vì vậy,ta cần nghiên cứu nợ công trên thế giới để tìm hiểu và có thể đưa ra một số giảỉ pháp cho tình hình thực tế hiện nay

Trang 4

PHẦN 1 : GIỚI THIỆU VẤN ĐỀ

Mục tiêu nghiên cứu

Theo số liệu do “The Economist” cập nhật tính đến đầu tháng 3/2013, những khu vực và quốc gia có tổng mức nợ công tuyệt đối cao nhất hiện nay là Bắc Mỹ, Brazil, châu Âu, Trung Quốc,

Ấn Độ, Nhật Bản và Australia

Trong đó, Nhật Bản là nước có số nợ công khổng lồ nhất, lên tới hơn 12,5 nghìn tỷ USD (tương đương 226,1% GDP), tiếp theo là Mỹ nợ hơn 11,8 nghìn tỷ USD (tương đương 75,2% GDP) Nhiều quốc gia trong khối sử dụng đồng tiền chung châu Âu cũng đang có mức nợ công hàng nghìn tỷ USD như Đức nợ gần 2,7 nghìn tỷ USD (tương đương 83% GDP), Italy nợ trên 2,4 nghìn tỷ USD (tương đương 120,8% GDP), Pháp nợ hơn 2,3 nghìn tỷ USD (tương đương 90,5% GDP), Anh nợ hơn 2,2 nghìn tỷ USD (tương đương 91,4% GDP), … Hy Lạp, “tâm bão”

nợ công của châu Âu hiện nợ gần 395 tỷ USD (tương đương 157,5% GDP)

Trung Quốc cũng đang là nước có mức nợ công cao trên thế giới Tổng mức nợ công của Trung Quốc tính tới cuối năm 2010 là gần 1,03 tỷ nghìn tỷ USD, nhưng nợ công cũng chỉ chiếm có

17% GDP của Trung Quốc

Việt Nam hiện nằm trong nhóm nước có mức nợ công trung bình của thế giới Tổng mức nợ công của Việt Nam hiện vào khoảng 71,6 tỷ USD, tương đương 49,4% GDP, tăng 12,7% so với

năm trước Mức nợ công bình quân đầu người của Việt Nam đang là 798,92 USD

Việt Nam cũng xếp vào nhóm những nước có nợ công ở mức trung bình, khá thấp so với các nước khu vực Đông Nam Á như Indonesia (231 tỷ USD), Thái Lan (185 tỷ USD), hay Malaysia (175 tỷ USD) Tuy nhiên, nợ công Việt Nam lại chiếm tới 49,4% GDP, xếp hàng cao nhất trong

châu Á

Đề cập đến vấn đề này giúp cho chúng ta thấy được rằng nợ công hiện nay trên thế giới nói chung và của Việt Nam nói riêng đang là vấn đề nhức nhối của xã hội.Vậy đâu là giải pháp cho thực trạng hiện nay?

Page 4 of 50

Trang 5

PHẦN 2 : HỆ THỐNG LÝ THUYẾT

Nợ công là gì?

Một cách khái quát, có thể hiểu nợ chính phủ, nợ công hoặc nợ quốc gia là tổng giá trị các khoản tiền mà chính phủ thuộc mọi cấp từ trung ương đến địa phương đi vay nhằm tài trợ cho các khoản thâm hụt ngân sách Vì thế, nợ công là thâm hụt ngân sách luỹ kế tính đến một thời điểm nào đó Thông thường khoản nợ này được đo bằng bao nhiêu phần trăm so với tổng sản phẩm quốc nội (GDP)

Nợ chính phủ thường được phân thành : Nợ trong nước (các khoản vay từ người cho vay trong nước) và nợ nước ngoài (các khoản vay từ người cho vay ngoài nước) Việc đi vay của chính phủ có thể được thực hiện thông qua phát hành trái phiếu chính phủ để vay từ các tổ chức, cá nhân Trái phiếu chính phủ phát hành bằng nội tệ được coi là không có rủi ro tín dụng vì chính phủ vì có thể tăng thuế thậm chí in thêm tiền để thanh toán cả gốc lẫn lãi khi đáo hạn So với trái phiếu chính phủ phát hành bằng nội tệ, trái phiếu chính phủ phát hành bằng ngoại tệ (thường là các ngoại tệ mạnh có cầu lớn) có rủi ro tín dụng cao hơn vì chính phủ có thể không

có đủ ngoại tệ để thanh toán, thêm vào đó còn có thể xảy ra rủi ro về tỉ giá hối đoái

Nợ công rất quan trọng đối với bất kỳ quốc gia nào vì nó là nguồn tài chính quan trọng cho sự phát triển kinh tế Bên cạnh đó, các nhà đầu tư cũng sẽ xem xét đến nợ công khi quyết định đầu

tư vốn

Bất cứ ai cũng đã, đang, hoặc sẽ mắc nợ vào một lúc nào đó Điều tương tự cũng xảy đến trong phạm vi lớn hơn: một gia đình, một thành phố, hay một quốc gia.Và bất cứ chủ nợ nào cũng sẽ chỉ cho bạn vay đến một “mức tối đa” nào đó, bởi sẽ tồn tại một điểm mà bạn không thể trang trải nổi tiền lãi, không thể trả nợ và phá sản.Chúng ta cũng đã chứng kiến việc các quốc gia mắc

nợ quá nhiều khiến nền kinh tế thế giới bị cuốn vào vòng xoáy khủng hoảng năm 2008.Nếu như đối với cá nhân, “mức tối đa” được đo bằng tiền lương tháng, các tài sản thế chấp, lịch sử tín dụng cá nhân, thì ở phạm vi quốc gia, một trong những yếu tố rất lớn ảnh hưởng tới “mức tối đa” chính là tỷ lệ Nợ công so với Tổng sản phẩm quốc nội (GDP).Nhật Bản đứng đầu danh sách này với tỷ lệ Nợ công/GDP là hơn 227% Theo sau là Hy Lạp (175%), Italy (133%) Mỹ đứng thứ 6 trong danh sách với số Nợ công bằng 101,5% GDP.Có một điểm chung thú vị giữa các quốc gia này, đó là lãi suất cho vay dài hạn được giữ ở mức rất thấp: Lãi suất cho vay dài hạn ở Nhật Bản là 0,0%, các nước thuộc Liên minh châu Âu như Hy Lạp, Italy, Bồ đào Nha, Bỉ

có lãi suất chung là 0,05%; Singapore 0,17% và Mỹ với mức lãi suất cho vay cao nhất cũng chỉ 0,25%.Nợ càng nhiều thì áp lực trả nợ càng lớn, và vấn đề mà tất cả các quốc gia mắc nợ nhiều nhất gặp phải chính là nợ ngày càng nhiều hơn Xu hướng nợ nhiều hơn đã bắt nguồn từ cả chục năm nay

Trang 6

PHẦN 3:TÌNH HÌNH VIỆT NAM

1 Thực trạng nợ công ở Việt Nam hiện nay

Trong bối cảnh nợ công châu Âu đang lan rộng và cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu chưa tìm

ra lối thoát, nhiều chuyên gia nghiên cứu đã cảnh báo nợ công của Việt Nam cũng đang ở mức nguy hiểm và có xu hướng gia tăng nhanh Có rất nhiều rủi ro tiềm ẩn trong chi tiêu công, trả

nợ công và quản lý nợ công ở Việt Nam, đòi hỏi phải có cái nhìn nghiêm túc về vấn đề này để

có những giải pháp quản lý nợ công một cách hiệu quả trong thời gian tới Nợ công đã trở thành một trong những vấn đề quan trọng và phức tạp trong nền kinh tế của mỗi quốc gia cũng như toàn cầu trong giai đoạn hiện nay Nhiều nước có mức nợ công rất lớn đang phải đối mặt với nhiều khó khăn trong việc cân đối tài chính và thực hiện các nghĩa vụ trả nợ Việt Nam cũng không phải ngoại lệ với những món nợ công đang ngày càng gia tăng Theo báo cáo về tình hình nợ công của Chính phủ số 305/BC-CP ngày 30/10/2012 thì nợ Chính phủ năm 2010 là 882.750 tỷ đồng, năm 2011 là 1.095654 tỷ đồng, năm 2012 ước là 1.270.784 tỷ đồng; nợ được Chính phủ bảo lãnh năm 2010 là 225.514 tỷ đồng, năm 2011 là 285.124 tỷ đồng, năm 2012 ước

là 345.875 tỷ đồng; nợ chính quyền địa phương năm 2010 là 6.776 tỷ đồng, năm 2011 là 10.699

tỷ đồng, năm 2012 ước là 15,650 tỷ đồng; nợ công của Việt Nam năm 2010 là 56,3% GDP, năm 2011 là 54,9% GDP và năm 2012 ước khoảng 55,4% GDP

Page 6 of 50

Trang 7

Theo Ths Nguyễn Tấn Tú -Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế và Kinh doanh 28 (2012) 200‐208,ông đã nghiên cứu về vấn đề nợ công tại Việt Nam , đề cập đến thực trạng và giải pháp.Tuy nhiên đó là con số trước đây.Hiện tại,con số nợ công đó lớn hơn rất nhiều,dù không đưa ra số liệu cụ thể song người đứng đầu Chính phủ khẳng định hiện các tỷ lệ nợ công, nợ Chính phủ, nợ nước ngoài của Việt nam đều trong giới hạn cho phép Tỷ lệ này, theo quy định hiện hành là không quá 65% GDP Từ trước đến nay, trong các báo cáo của Chính phủ luôn khẳng định nợ công vẫn ở ngưỡng an toàn dù những năm gần đây áp lực trả nợ có tăng lên và

Trang 8

khả năng trả nợ là khó khăn Tuy nhiên, giới phân tích đều lo ngại khi cho rằng nợ công đã đến mức báo động

Tuy vậy, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng nhận định khi thay mặt Chính phủ báo cáo trước

Quốc hội về tình hình kinh tế - xã hội năm 2014, trong phiên khai mạc kỳ họp thứ 8, Quốc hội

khóa XIII sáng 20/10.Đó là nợ công đang tăng nhành trong thời gian gần đây Chính phủ

ước tính 64,5% GDP, tức đã chạm mức trần.Theo đó, tỷ lệ trả nợ trực tiếp từ ngân sách của

Chính phủ hiện tương ở mức 14,2%, vẫn trong ngưỡng cho phép tại chiến lược Quản lý nợ công là không quá 25% Tuy nhiên, nếu tính cả phần vay đảo nợ, con số này hiện đã ở mức 26,2% GDP Vì bản chất của nợ công không chỉ nằm ở tỉ lệ nợ công/GDP mà quan trọng là cơ cấu nợ, khả năng trả nợ và hiệu quả sử dụng các khoản vay (đầu tư công) Cho nên, có những quốc gia nợ công lên đến 200% GDP vẫn an toàn, trong khi có nơi chỉ quá 50% GDP đã vỡ nợ Theo thông lệ quốc tế, trần trả nợ công được giới hạn là 25% thu ngân sách nhưng tỉ lệ này của Việt Nam đang là 25,9% và dự kiến lên mức 31,9% năm 2015 Đặc biệt, từ năm 2012, Việt Nam bắt đầu phải thực hiện vay để đảo nợ, tức là phải dành một phần vốn vay mới để trả nợ cũ Mức đảo nợ ngày càng lớn, năm 2014 Chính phủ phải vay hơn 70.000 tỉ đồng để đảo nợ thì năm 2015 dự kiến tăng gần gấp đôi, đạt mức 130.000 tỉ đồng Số tiền lãi phải trả nợ hằng năm cũng đang tăng rất nhanh

Số liệu của Viện Chiến lược và Chính sách tài chính (Bộ Tài chính) cho thấy năm 2010, ngân sách phải trả cả gốc và lãi 1.323,65 triệu USD và gần 24.503 tỉ đồng thì đến năm 2012 đã phải trả 2.673,75 triệu USD và hơn 50.520 tỉ đồng Riêng quý I/2014, số tiền trả nợ đã gần 30.000 tỉ đồng

Theo chuyên gia kinh tế Đinh Tuấn Minh, khi nợ công của một quốc gia đến mức báo động đỏ, khả năng trả nợ khó khăn mà không thể cắt giảm vốn vay thì sẽ lâm vào tình trạng chủ nợ không cho vay nữa hoặc cho vay lãi suất rất cao

Khi đó người dân sẽ phải gồng mình trả nợ, ngân sách làm ra đồng nào trả nợ đồng ấy, không còn tiền dành cho đầu tư phát triển hay chi cho các mục tiêu an sinh xã hội, đẩy nền kinh tế lâm vào tình trạng trì trệ

Ở góc độ vĩ mô, nợ công gia tăng sẽ làm giảm uy tín của Chính phủ trong vấn đề cải cách nền kinh tế Việc vay mượn nhiều cũng khiến nhà đầu tư nước ngoài lo ngại khi quyết định rót vốn

Còn theo chuyên gia kinh tế Ngô Trí Long, những con số trên chỉ là phương pháp tính Ông lấy

ví dụ ở các nước châu Âu xem lạm phát vượt qua 3% và nợ công trên 60% là rất xấu "Còn Việt Nam quy định lớn hơn 65% mất an toàn", ông Long nói

Tuy nhiên, ông Long khẳng định các con số báo cáo của Chính phủ chỉ tính nợ Chính phủ, chưa tính các khoản nợ doanh nghiệp nhà nước, các bảo lãnh ngành, địa phương

Page 8 of 50

Trang 9

Thực tế, theo thẩm tra của Ủy ban tài chính - Ngân sách Quốc hội, nếu cộng thêm 85 nghìn tỷ đồng trái phiếu Chính phủ, bội chi đã là 7% GDP, lớn hơn nhiều con số của báo cáo Chính phủ

"Tính trung bình, mỗi người dân Việt Nam đang nợ gần 1.000 USD" , ông Long nói Song ông lại cho rằng, con số đó không đáng báo động, điều lo ngại nhất là tốc độ nợ công tăng nhanh, trong khi chưa tìm thấy nguồn trả nợ hợp lý.

Bên cạnh đó, theo quan điểm của Ths Bùi Ngọc Sơn, Trưởng phòng Kinh tế Quốc tế, Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính trị Thế giới về tình hình nợ công của Việt Nam hiện nay thì ông cho rằng cách tính nợ công khác thế giới: “Điều nguy hiểm là cách tính nợ công của Việt Nam khác thế giới rất nhiều Nợ công của Việt Nam chỉ nói đến nợ của Chính phủ và

bộ máy công quyền, chứ chưa hề nói tới nợ của doanh nghiệp nhà nước, các xí nghiệp công ích mà nhà nước phải chịu trách nhiệm, bảo hiểm xã hội Tức là nếu có trục trặc khó khăn

gì đó ở các khu vực trên thì nhà nước phải bỏ ngân sách ra trả Nhưng trong định nghĩa nợ công không có các khoản đó nên không chuẩn bị tiềm lực để giải quyết vấn đề xấu xảy ra Như vậy rất lộn xộn, mà trách nhiệm đó không đẩy vào ai được Nói cách khác, chúng ta chỉ công nhận từ nợ công của thế giới chứ không công nhận tiêu chuẩn nợ công của thế giới Nên có sự khác biệt là trong năm ngoái, chúng ta báo cáo nợ công chiếm 54% GDP, thì có nguồn tính ra lên tới 106% GDP Còn năm nay, con số đó có thể cao hơn nhiều Con số 64% chỉ phản ánh một nửa thực tế.”

2 Nguyên nhân gây nợ công ở Việt Nam hiện nay:

-Ngân sách đang bị bội chi

-Quản lý và sử dụng vốn vay không hiệu quả

-Đầu tư dàn trải

3 Giải pháp :

- Cần thay đổi cách tính nợ công, trong đó tính cả nợ của các doanh nghiệp nhà nước được bảo lãnh trong cơ cấu nợ công Với cách tính mới này, chúng ta mới có thể tính chính xác số nợ công hiện tại là bao nhiêu, có ở ngưỡng rủi ro cao hay không, từ đó mới có thể quản lý hiệu quả

nợ công

- Nhà nước phải đi vay để đảo nợ.

Trang 10

- Phải có những lĩnh vực ưu tiên rõ ràng trong chi tiêu sử dụng nợ công Những ưu

tiên cần đặt ra là: các cơ sở hạ tầng công ích, các dịch vụ an sinh xã hội, các doanh nghiệp nhà nước không vì mục đích thương mại Các doanh nghiệp nhà nước vì thế cũng cần phải thu hẹp theo hướng: tiếp tục phát triển các doanh nghiệp nhà nước vì lợi ích công ích và được Chính phủ bảo lãnh, đồng thời bán các doanh nghiệp nhà nước kinh doanh thương mại cho nhà đầu tư nước ngoài và tư nhân trong nước.

- Cần phải đánh giá lại đầu tư công đầu tư công trình nào cần thiết và phải có nguồn lực tài chính đảm bảo.

- Không vay nợ nữa (giải pháp này đối với Việt Nam là khó vì hiện nay chúng ta đã đến mức phải vay để đảo nợ, không vay nữa sẽ không có nguồn trả nợ cũ đến hạn.)

- Tăng GDP nhanh hơn tỉ lệ vay nợ ( khó thực hiện vì đây là giải pháp dài hạn.)

- Cần kiểm soát tốt nợ công, không nên chỉ đặt vấn đề tỉ lệ nợ công trên GDP ở mức bao nhiêu

mà phải xem xét tính bền vững của nợ công, khả năng trả nợ và tốc độ gia tăng

- Phải nâng cao hiệu quả đầu tư của khu vực doanh nghiệp nhà nước Bên cạnh đó, quản lý nợ công phải gắn chặt với quản lý kinh tế vĩ mô, dự đoán được các nhân tố tác động đến quy mô

nợ như lãi suất và tỷ giá, để giảm thiểu rủi ro

- Cần thay đổi cơ cấu nợ công theo hướng tăng tỷ trọng nợ trong nước nhiều hơn nợ nước ngoài Nợ trong nước có thể huy động thông qua các đợt phát hành trái phiếu với lãi

suất phù hợp để huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong người dân Nếu không thay đổi được cơ cấu nợ công theo hướng tăng cao nợ trong nước, Việt Nam sẽ rất khó khăn trong việc trả

nợ nước ngoài bởi trong thời gian tới những ưu đãi từ nguồn vốn ODA cho Việt Nam sẽ giảm mạnh, buộc Chính phủ tiếp tục phải đi vay nợ tại các ngân hàng thương mại nước ngoài với lãi suất cao và thời gian ngắn hạn hơn rất nhiều Hơn nữa, việc vay nợ các ngân hàng nước ngoài rất nguy hiểm nếu gặp những biến động bất lợi về tỷ giá

- Cẩn trọng hơn đối với quản lý rủi ro nợ công của khu vực doanh nghiệp nhà nước

- Cần xây dựng một cơ chế quản lý nợ công hiệu quả

KẾT LUẬN:

Vấn đề nợ công giờ không chỉ là vấn đề của thế giới mà ngay tại Việt Nam, nếu cứ theo đà tăng như hiện nay thì sớm muộn cũng phải đối mặt với bài toán hóc búa như nhiều quốc gia đang phải đối mặt

Tuy nhiên, điều mà giới chuyên gia lo lắng hơn cả không hẳn chỉ nằm ở tỷ lệ nợ công/GDP như thế nào là ở giới hạn an toàn mà là cơ cấu nợ như thế nào, khả năng trả nợ đến đâu và đặc biệt

là hiệu quả, chất lượng đầu tư của các khoản vay Nói cách khác, chất lượng đầu tư công mới quyết định sự an toàn hay rủi ro của nợ công Mà đầu tư công kém hiệu quả lâu nay vẫn là vấn

đề nhức nhối tại Việt Nam Đây cũng chính là nguyên nhân quan trọng nhất gây ra tình trạng lạm phát đang hoành hành hiện nay Nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng: Nhìn từ nợ của Việt Nam, thấy rằng hiệu quả của đầu tư công quá thấp, đầu tư 1 đồng nhưng tài sản cố định chỉ tạo

Page 10 of 50

Ngày đăng: 30/04/2017, 17:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w