Để phát triển nền kinh tế, giữ vững sự ổn định chính trị xã hội cũng nhưng đảm bảo QP,AN của một quốc gia, đòi hỏi cần phải phát huy mọi yếu tố nội lực cũng như tận dụng các nguồn ngoại lực. Trong đó, vấn đề đầu tư phát triển công nghiệp được xem là một nhân tố quan trọng hàng đầu cho sự ổn định phát triển bền vững của đất nước. Lịch sử phát triển của nền kinh tế thế giới cũng như từng quốc gia đã chứng minh cho chúng ta thấy được vị trí, vai trò to lớn của công nghiệp đối với sự phát triển của xã hội, công nghiệp đã tạo ra nguồn của cải vật chất vô cùng to lớn đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người.
Trang 1“Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi lãnh đạo phát triển khu, cụm công nghiệp từ năm
ổn định phát triển bền vững của đất nước
Lịch sử phát triển của nền kinh tế thế giới cũng như từng quốc gia đãchứng minh cho chúng ta thấy được vị trí, vai trò to lớn của công nghiệp đốivới sự phát triển của xã hội, công nghiệp đã tạo ra nguồn của cải vật chất vôcùng to lớn đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người
Việt Nam là quốc gia đang phát triển, có những điều kiện thuận lợi vềnguồn tài nguyên cũng như yếu tố con người để phát triển công nghiêp Tuynhiên, do hậu quả của chiến tranh đã tàn phá nặng nề nền kinh tế nói chung vàcông nghiệp nước ta nói riêng Đồng thời, trong quá trình xây dựng đất nướcchúng ta còn mắc phải một số hạn chế trong nhận thức, quản lý dẫn đến côngnghiệp nước ta kém phát triển Nhận thức rõ vị trí của công nghiêp, từ khi đổimới đến nay Đảng, Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách phát triểncông nghiệp cũng như có những chỉ đạo cụ thể xây dựng và phát triển côngnghiệp phù hợp với điều kiện, yêu cầu cho từng địa phương
Quảng Ngãi là một tỉnh ven biển nằm ở vùng Duyên Hải Nam Trung
Bộ, nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung được Chính phủ chọnkhu vực Dung Quất để xây dựng nhà máy lọc dầu đầu tiên của nước ta.Những năm qua, thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước về pháttriển KT - XH, Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi đã có nhiều chủ trương, giải pháp vàhành động cụ thể để phát triển công nghiệp Trong đó tập trung đầu tư phát triển
Trang 2mạnh các K,CCN đã phát huy được thế mạnh của từng địa phương trong tỉnh.Chính những chủ trương đúng đắn trong lãnh đạo phát triển K,CCN đã trở thànhđộng lực to lớn cho sự phát triển KT - XH của tỉnh Quảng Ngãi Góp phần nângcao đời sống của nhân dân, đưa tỉnh Quảng Ngãi thoát khỏi tỉnh nghèo, kém pháttriển.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, việc phát triểnK,CCN của tỉnh Quảng Ngãi còn bộc lộ một số hạn chế yếu kém, chưa ngangtầm với yêu cầu, tiềm năng và thế mạnh của tỉnh Vì vậy nghiên cứu quá trìnhĐảng bộ tỉnh Quảng Ngãi lãnh đạo phát triển K,CCN, đánh giá kết quả, rút ranhững kinh nghiệm, từ đó đề xuất những giải pháp cụ thể để tiếp tục pháttriển K,CCN không chỉ là một yêu cầu cơ bản mà còn là vấn đề cấp bách đặt
ra đối với Đảng bộ và nhân dân tỉnh Quảng Ngãi hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Hiện nay đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về phát K,CCN trongphạm vi cả nước cũng như nghiên cứu phát triển K,CCN ở từng địa phương và ở tỉnhQuảng Ngãi đã được công bố
* Nhóm các công trình nghiên cứu những vấn đề chung về phát triển khu, cụm công nghiệp trong phạm vi cả nước
Viện Kinh tế học (1994), Kinh nghiệm thế giới về phát triển khu công
nghiệp, khu chế xuất và đặc khu kỉnh tế; Đề tài khoa học cấp Nhà nước của
Bộ Xây dựng, ký hiệu KX 11-13 (1996), Cơ sở hình thành các khu công nghiệp
tập trung ở Việt Nam; Trần Trọng Hanh (1998), Quy hoạch quản lý vù phát triển các khu công nghiệp ờ Việt Nam, Nxb Xây dựng, Hà Nội; Ngô Thế Bắc (2000),
“Khu chế xuất, khu công nghiệp ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Nghiên cứu
kinh tế, (5), tr.30-32; Đề tài cấp Bộ của Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2002), Nghiên cứu mô hình quản lý nhà nước về khu công nghiệp, khu chế xuất ở Việt Nam; Bộ Kế
hoạch và Đầu tư (2004), “Phát triển khu công nghiệp và khu chế xuất ở Việt
Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế”, Kỷ yếu hội thảo; Nguyễn Chơn Chung,
Trang 3Trương Giang Long (2004), Phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất trong
quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội;
Trương Thị Minh Sâm (2004), Các giải pháp nhằm nâng cao vui trò vù hiệu lực
quản lý nhà nước vể bảo vệ mỏi trường ở các khu công nghiệp, khu chế xuất, Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội; Vũ Anh Tuấn (2004), “Phát triển khu công nghiệp,
khu chế xuất, những vấn đề đặt ra”, Tạp chí Phát triển kinh tế, 2; Nguyễn Ngọc
Dũng (2005) “Một số vấn đề xã hội trong việc xây dựng và phát triển các khu
công nghiệp ở Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, 383, tr.33 - 35; Nguyễn
Hữu Dũng (2008), “Phát triển khu công nghiệp với vấn đề lao động việc làm ở
Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản, 149, tr.19-22; Nguyễn Văn Hùng (2009), Một số
vấn đề về đổi mới công tác quy hoạch và phát triển khu công nghiệp gắn với
bảo vệ môi trường ở nước ta”, Tạp chí Khu công nghiệp, 135, tr.37 - 39; Đỗ Đức Quân (2010), Một số giải pháp nhằm phát triển bền vững nông thôn vùng
đồng bằng Bắc Bộ trong quá trình xây dựng, phát triển các khu công nghiệp, Nxb
Chính tri quốc gia, Hà Nội; Võ Thanh Thu (2010), “Những giải pháp cho sự
phát triển bền vững các khu công nghiệp Việt Nam” Tạp chí Phát triển kinh tế, (77), tr.10-13; Vũ Quốc Huy (2011), “Quản lý nhà nước về môi trường khu công nghiệp, thực trạng và nhiệm vụ cần triển khai trong thời gian tới” Tạp chí
Khu công nghiệp, 162, tr.4-6.
Trong các công trình khoa học này hầu hết các tác giả đều đề cập đến vị
trí, vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng của K,CCN trong phát triển KT - XH.Đồng thời khẳng định phát triển K,CCN là một trong những nhân tố then chốtđẩy mạnh sự nghiệp CNH,HĐH đất nước Từ thực trạng khảo sát ở các địaphương, các tác giả tập trung làm rõ những vấn đề lý luận về phát triển bềnvững nông thôn trong quá trình xây dựng, phát triển K,CCN và đưa ra một sốgiải pháp phát triển bền vững nông thôn trong quá trình phát triển các K,CCN.Trên cơ sở đó các tác giả đưa ra một số kiến nghị và giải pháp có tính đặc thùnhằm nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường ở
Trang 4các KCN, CCN, khu chế xuất, để đảm bảo phát triển bền vững về KT - XHcho vùng đồng bằng Bắc Bộ nói riêng và cả nước nói chung Đặc biệt, trongcác công trình nghiên cứu trên, có công trình đã đi sâu phân tích, đánh giá,tổng kết công tác quản lý và phát triển K,CCN trong những năm qua Cùngvới đó là sự chỉ đạo quy hoạch tổng thể và một số quy hoạch chi tiết cácK,CCN ở nước ta giúp cho các nhà hoạch định kinh tế có cái nhìn tổng thể vềcác K,CCN trên phạm vi cả nước.
* Nhóm các công trình nghiên cứu về phát triển khu, cụm công nghiệp
ở các địa phương
Nguyễn Đức Phượng (2000), Phát triển các khu công nghiệp tập trung
trên địa bàn Đồng Nai và tác động của nó đến khu vực phòng thủ tỉnh, Luận
văn Thạc sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị quân sự; Võ Văn Một (2004), Tổng
kết quá trình xây dựng phát triển các khu công nghiệp và thu hút đầu tư trên địa bàn tỉnh Đồng Nai (1991- 2004), Nxb Tổng hợp, Đồng Nai; Phạm Văn
Thanh (2005), Một số giải pháp phát triển khu công nghiệp tập trung tại tỉnh
Đồng Nai đến năm 2010, Luận án tiến sĩ Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế
quốc dân, Hà Nội; Phạm Đắc Đương (2006), Tác động của khu công nghiệp
tập trung đối với củng cố quốc phòng trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị quân sự; Nguyễn Quốc
Nghi (2009), “Nhu cầu nhà ở của công nhân tại các khu công nghiệp trên địa
bàn thành phố Cần Thơ, thực trạng và giải pháp", Tạp chí Phát triển kinh tế,
192, tr.47-50; Nguyễn Ngọc Điệp (2009), “Một số giải pháp phát triển các khu công nghiệp ở tỉnh Thái Bình trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế ”, Tạp chí
Kinh tế và dự báo (11), tr.35-37; ; Trần Văn Liều (2009), “Các khu công nghiệp
tỉnh Bình Dương vững bước trên con đường phát triển”, Tạp chí Kinh tế và dự
báo, 17, tr.37-39; Nguyễn Thị Thanh Huyền (2012), Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo phát triển công nghiệp từ năm 2000 đến năm 2010, Luận văn thạc sĩ
Lịch sử Đảng, Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị, Đại
Trang 5học Quốc gia Hà Nội; Đỗ Văn Trịnh (2012), Phát triển khu, cụm công nghiệp
tỉnh Thái Bình hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế chính trị, Học viện Chính trị.
Những công trình trên, các tác giả đã trình bày tổng quan về sự pháttriển các K,CCN tập trung, đánh giá thực trạng phát triến K,CCN tập trung ởmột số địa phương Đồng thời, luận giải khá sâu sắc về cơ sở lý luận và thựctiễn của việc phát triển các K,CCN tập trung ở một số địa phương, trong đóchỉ ra những tác động của quá trình đó đến sự phát triển KT - XH, QP,ANtrên địa bàn địa phương trên cả phương diện thành tựu và hạn chế, từ đó đềxuất một số giải pháp nhằm phát huy tác động tích cực, hạn chế tác động tiêucực của phát triển các K,CCN Từ đó rút ra nhừng bài học kinh nghiệm và đề
ra các giải pháp nhằm tăng cường thu hút đầu tư vào phát triển các K,CCN ởcác địa phương trong những năm tiếp theo
* Nhóm những công trình nghiên cứu về phát triển khu, cụm công nghiệp ở tỉnh Quảng Ngãi
Phạm Thị Hồng (2011), Vai trò của Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi đối với
quá trình hình thành và phát triển khu công nghiệp Dung Quất 1996-2006,
Luận văn Thạc sĩ Lịch sử Đảng, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân
văn; Phạm Hồng Hạnh (2011), Phát triển công nghiệp nông thôn ở tỉnh
Quảng Ngãi đến năm 2020, Luận văn Thạc sỹ Kinh tế Phát triển, Đại học Đà
Nẵng; Trần Thị Mỹ Ái (2011), Phát triển công nghiệp Quảng Ngãi, Luận văn Thạc sỹ Kinh tế, Đại học Đà Nẵng; Trương Quang Dung (2011), Thu hút vốn
đầu tư phát triển công nghiệp tại tỉnh Quảng Ngãi, Luận văn Thạc sỹ Kinh tế,
Đại học Đà Nẵng; Nguyễn Duy Diễn (2012), Một số giải pháp thu hút đầu tư
vào khu kinh tế Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi, Luận văn Thạc sỹ Kinh tế, Đại
học Đà Nẵng; Đàm Yến Nhi (2015), Chính sách phát triển các khu công
nghiệp ở tỉnh Quảng Ngãi, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế Chính trị, Đại học Kinh
tế, Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 6Các công trình nghiên cứu K,CCN của tỉnh Quảng Ngãi trình bày vềvai trò của Đảng bộ tỉnh trong quá trình lãnh đạo phát triển khu công nghiệp,cũng như đánh giá thực trạng, đề ra giải pháp thu hút đầu tư cho phát triển côngnghiệp nói chung và các KCN của tỉnh nói riêng Tuy nhiên, các công trìnhnghiên cứu về K,CCN ở tỉnh Quảng Ngãi chưa nhiều, chỉ đi sâu vào nghiên cứutập trung các KCN Đồng thời, chưa tập trung làm rõ chủ trương và sự chỉ đạocủa Đảng bộ tỉnh đối với phát triển K,CCN từ khi tách tỉnh đến nay Những côngtrình này là những tài liệu có giá trị để tác giả tiếp cận, chắt lọc thông tin và sốliệu phục vụ cho quá trình nghiên cứu về Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi lãnh đạophát triển K,CCN từ năm 2005 đến năm 2015.
Từ các nhóm công trình nghiên cứu trên cho thấy, nhiều tác giả đã quantâm nghiên cứu về K,CCN nói chung, phát triển K,CCN ở tỉnh Quảng Ngãinói riêng Các công trình khoa học đã có những cách tiếp cận khác nhau để lýgiải cho tính tất yếu phát triển K,CCN; khẳng định vai trò của K,CCN trong
chiến lược phát triển kinh tế, đẩy mạnh CNH,HĐH ở nước ta và đề xuất
nhiều giải pháp có tính khả thi theo góc độ tiếp cận của từng ngành khoa
học, nhằm phát triển K,CCN tương xứng với tiềm năng, lợi thế của từng địa
phương Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên đều thống nhất nhận định
về đặc điểm, lợi thế của mỗi địa phương trong xây dựng, phát triển các K,CCN.Đánh giá về thực trạng, vai trò, hiệu quả, tác động và ảnh hưởng mạnh mẽ củaK,CCN đối với sự phát triển KT - XH Những công trình đó là tài liệu có giá trịquan trọng làm cơ sở để tác giả tham khảo, kế thừa, phát triển trong triển khainghiên cứu luận văn Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu nào đi sâu vàoquá trình lãnh đạo phát triển K,CCN của Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi từ năm
2005 đến năm 2015 Vì vậy đề tài là công trình nghiên cứu độc lập của tác giảkhông trùng lặp với bất kỳ công trình khoa học nào đã được công bố
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Trang 7Làm rõ quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi phát triểnK,CCN từ năm 2005 đến năm 2015 Nhận xét thành tựu, hạn chế và rút ra nhữngkinh nghiệm để vận dụng lãnh đạo phát triển K,CCN ở địa phương trong nhữngnăm tiếp theo.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ những nhân tố thuận lợi, khó khăn tác động đến quá trình Đảng
bộ tỉnh Quảng Ngãi lãnh đạo phát triển K,CCN ở địa phương
- Trình bày chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi trongquá trình lãnh đạo phát triển K,CCN ở địa phương từ năm 2005 đến năm 2015
- Nhận xét thành tựu, hạn chế và chỉ rõ nguyên nhân và đúc rút ra nhữngkinh nghiệm từ quá trình của Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi lãnh đạo phát triển K,CCNtrong những năm 2005 - 2015
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi phát triển K,CCN (2005 - 2015)
Về không gian
Đề tài tập trung nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng bộ Quảng Ngãi đốivới các K,CCN trên địa bàn của tỉnh
Trang 85 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận
Dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, phương pháp luận duyvật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin và phương pháp luận sử học mác xít
* Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic là chủ yếu.Ngoài ra đề tài còn áp dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống
kê, khảo sát thực địa, chuyên gia để làm rõ từng vấn đề cụ thể của đề tài
6 Ý nghĩa của đề tài
Đề tài bước đầu cung cấp một cách hệ thống quá trình lãnh đạo pháttriển KCCN của Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi từ năm 2005 đến năm 2015 Đánhgiá thành tựu, hạn chế, nêu ra những kinh nghiệm và giải pháp, góp phần xâydựng cơ sở cho công tác lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh về phát triển K,CCNtrong giai đoạn tiếp theo
Đề tài là tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu phát triển K,CCN chocác địa phương và công tác tuyên truyền, giáo dục trong tỉnh Quảng Ngãi.Đồng thời làm tài liệu tham khảo cho nghiên cứu, giảng dạy môn lịch sửĐảng nói chung và lịch sử Đảng bộ địa phương nói riêng
7 Kết cấu của đề tài
Luận văn gồm: Mở đầu, 3 chương (6 tiết), kết luận, danh mục tài liệutham khảo và phụ lục
Trang 10Chương 1
CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH QUẢNG NGÃI
PHÁT TRIỂN KHU, CỤM CÔNG NGHIỆP (2005 - 2015)
1.1 Những nhân tố tác động và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi phát triển khu, cụm công nghiệp (2005 - 2010)
1.1.1 Những nhân tố tác động đến quá trình phát triển khu, cụm công nghiệp ở tỉnh Quảng Ngãi (2005 - 2010)
* Khái niệm, vị trí, vai trò của K,CCN đối với phát triển KT - XH của tỉnh Quảng Ngãi
Theo Nghị định của Chính phủ số 29/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 03
năm 2008 quy định về KCN, khu chế xuất và khu kinh tế thì khái niệm vềKCN được hiểu như sau:
KCN là khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp chuyên sản xuấthàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp có ranhgiới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, do chính phủ hoặc thủ tướngchính phủ quyết định thành lập Trong KCN có thể có doanh nghiệp chế xuất.Doanh nghiệp KCN là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động trong KCN,gồm doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp dịch vụ
CCN là sự tập trung về vị trí địa lý của các ngành công nghiệp nhằm tậndụng các cơ hội qua liên kết địa lý Các công ty trong CCN sẽ chia sẻ các yêucầu và các mối quan hệ bên trong với nhà cung cấp và khách hàng Các mốiquan hệ bên trong công ty yêu cầu các dịch vụ bổ sung từ các nhà tư vấn, đàotạo và huấn luyện, các tổ chức tài chính, các công ty chủ chốt CCN sẽ tạo ralực lượng lao động, hàng hoá xuất khẩu và dịch vụ chất lượng cao, kết nối quan
hệ giữa các cơ quan quản lý nhà nước, các trường đại học, viện nghiên cứu, cácquỹ hỗ trợ và các bên hữu quan
Trong chủ trương chung của Đảng về tiếp tục đẩy mạnh CNH,HĐH đấtnước, việc phát triển các KCCN giữ vai trò quan trọng trong phát triển KT -
XH Do đó, các địa phương trong cả nước luôn tập trung đầu tư phát triển
Trang 11K,CCN phù hợp với điều kiện sẵn có, phát huy thế mạnh của mình Không nằmngoài xu thế phát triển đó, Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi chủ trương tập trung pháttriển K,CCN nhằm mục đích phát triển sản xuất công nghiệp, kêu gọi vốn đầu
tư nước ngoài, tiếp thu KH,CN Học tập kinh nghiệm và hình thành thói quen,phương pháp quản lý sản xuất tiên tiến, sử dụng nguyên, nhiên vật liệu và lựclượng lao động tại chỗ, tạo việc làm mới và hỗ trợ giải quyết các vấn đề KT -
XH của những vùng lạc hậu góp phần tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sốngvật chất và tinh thần cho nhân dân trong tỉnh Việc phát triển K,CCN còn là cầunối hội nhập, hợp tác giữa các tỉnh trong nước và quốc tế
Phát triển K,CCN góp phần quan trọng vào quá trình chuyển dịch cơcấu kinh tế từ một nền kinh tế nông nghiệp là chủ yếu, công nghiệp thô sơ lạchậu trở thành một tỉnh công nghiệp tương đối hiện đại và hiện đại, năng suấtlao động tăng cao Cùng với đó, thúc đẩy đổi mới cơ chế quản lý kinh tế củatỉnh theo hướng đồng bộ, minh bạch, hiệu lực, hiệu quả
Đầu tư phát triển K,CCN có vai trò quan trọng thúc đẩy quá trìnhCNHHĐH của tỉnh Là một tỉnh thuần nông, cơ sở HTKT kém phát triển, yếu
tố con người chưa được phát huy toàn diện Do đó để phát triển kinh tế đòihỏi cần phải nghiên cứu xây dựng các K,CCN hợp lý nhằm thu hút đầu tư vềvốn, KH,CN, nguồn nhân lực có chất lượng cao đáp ứng được mục tiêu của
sự nghiệp CNH,HĐH của tỉnh trong những năm tiếp theo
* Điều kiện tự nhiên và xã hội tác động đến phát triển K,CCN của tỉnh Quảng Ngãi
Điều kiện tự nhiên
Là tỉnh nằm ở duyên hải Nam Trung bộ, Quảng Ngãi trải dài từ14°32′ đến 15°25′ vĩ Bắc, từ 108°06′ đến 109°04′ kinh Đông, tựa vào dãynúi Trường Sơn hướng ra biển Đông với chiều dài bờ biển 130 km, phíabắc giáp tỉnh Quảng Nam với chiều dài đường địa giới 98 km, phía namgiáp tỉnh Bình Định với chiều dài đường địa giới 83 km, phía tây giáptỉnh Kon Tum với chiều dài đường địa giới 79 Km, phía đông giáp biển Đông
Trang 12Nằm ở vị trí trung độ của cả nước, Quảng Ngãi cách thủ đô HàNội 883 km về phía Bắc và cách Thành phố Hồ Chí Minh 838 km về phíaNam Có đường quốc lộ 1A và đường sắt thống nhất chạy qua tỉnh; Quốc
lộ 24 nối Quảng Ngãi với Kon Tum và Hạ Lào, đây là tuyến đường quantrọng trong quan hệ kinh tế văn hóa giữ Duyên hải và Tây Nguyên
Địa hình Quảng Ngãi có đặc điểm chung là núi lấn sát biển, địa hình
có tính chuyển tiếp từ đồng bằng ven biển ở phía Đông đến địa hình miềnnúi ở phía Tây Miền núi chiếm khoảng 3/4 diện tích tự nhiên toàn tỉnh,đồng bằng nhỏ hẹp chiếm 1/4 diện tích tự nhiên Cấu tạo địa hình của tỉnhgồm đá magma xâm nhập, phun trào Trên bình diện tự nhiên địa hìnhQuảng Ngãi phân theo 2 hướng chính: hướng kinh tuyến và hướng vĩ tuyến
Quảng Ngãi nằm trong vùng khí hậu miền Trung Trung bộ có 2 mùachính là mùa đông và mùa hè Vào mùa đông, thời tiết ít lạnh, nhiệt độngtrung bình 19ºc, vào mùa hè nhiệt cao khá đồng đều nhiệt động trung bìnhkhông vượt quá 28ºc Lượng mưa trung bình năm 2.195 mm, mùa mưa bắtđầu từ tháng 8, kết thúc vào tháng 1 năm sau Là vùng có độ ẩm khôngkhí cao trung bình 85%, giờ nắng từ 1.800-2000h/năm
Theo kết quả tổng kiểm kê đất đai năm 2004, Quảng Ngãi có tổng diệntích 513.688,14 ha [4 tr,36] Trong đó, đất nông nghiệp có 101.535,39 ha(chiếm 19,76% tổng diện tích tự nhiên của tỉnh); đất lâm nghiệp 150.456,72
ha (chiếm 29,28%); đất chuyên dùng 21.720,45 ha (4,22%); đất ở đô thị970,11 ha (0,18%); đất ở nông thôn 5.879,45 ha (1,14%) còn lại là đất chưa
sử dụng có 233.126,10 ha (chiếm 45,38%)
Tiềm năng đất chưa sử dụng còn nhiều Đây là địa bàn để phân bổ các
cơ sở công nghiệp, phát triển sản xuất nông - lâm - nghiệp Dự kiến có thểkhai thác thêm trong quỹ đất chưa sử dụng này khoảng 80 nghìn ha, trong đótrên đất bằng khoảng 6,5 nghìn ha, trên đất đồi núi khoảng 73 nghìn ha, trênvùng mặt nước khoảng 0,5 nghìn ha
Trang 13Rừng Quảng Ngãi là kho tài nguyên phong phú về lâm sản với nhiềuloại gỗ quý hiếm như: lim, chò, trắc, huỳnh đàng, kiền kiền, gõ Rừng QuảngNgãi trong những năm gần đây được bảo tồn và trồng mới các loại cây côngnghiệp lấy gỗ như keo, bạch đàn, thông là nguồn nguyên liệu cho ngành côngnghiệp sản xuất giấy, các làng nghề của tỉnh
Khoáng sản ở Quảng Ngãi rất phong phú về chủng loại với trữlượng tương đối lớn như: sắt, đồng, nhôm, arsen, wolfram, molybden,vàng; kim loại hiếm; phi kim loại vật liệu xây dựng, nước khoáng nóng.Tài nguyên khoáng sản là nguồn nguyên liệu trực tiếp cho các hoạt độngkhai thác, chế biến của các ngành công nghiệp ở tỉnh, phục vụ nhu cầutrong nước và xuất khẩu
Biển Quảng Ngãi có thềm lục địa tương đối hẹp, vùng biển ven bờ nằmbên vùng nước sâu của trũng biển Đông Biển Quảng Ngãi có ngư trườngrộng lớn Nguồn thủy sản biển bao gồm các cá tầng nổi, cá tầng đáy và cácloại giáp xác, thân mềm như: cua, ghẹ, tôm hùm, mực ống, mực nang cácloại thủy sản biển là thế mạnh của vùng biển Quảng Ngãi với trữ lượng trungbình khoảng 68.000 tấn, sản lượng cho phép khai thác trung bình hàng nămkhoảng 27.000 tấn Nguồn lợi thủy sản biển của tỉnh còn có các loài thực vậtbiển như: rau cau chỉ vàng, rong sụn tập trung chủ yếu ven bờ đảo Lý Sơn,hàng năm khai thác ước tính hàng chục tấn
Quảng Ngãi có đường bờ biển dài 130 km bị chia cắt bởi cửa sông,đầm phá ven biển, có nhiều đoạn giáp với vùng biển nước sâu nên thích hợpxây dựng các cảng biển phục vụ phát triển giao thông đường biển, kinh tếbiển
Tỉnh Quảng Ngãi có 6 cửa biển gồm: cửa Sa Cần, Sa Kỳ, Cổ Lũy, Cửa
Lở, Mỹ Á, Sa Huỳnh Những cửa biển này đa số kín gió, nước sâu nên thuậnlợi cho phát triển các cảng biển Trong đó, có cửa biển Sa Cần nằm trong địa
Trang 14phận của Khu kinh tế Dung Quất và cửa Sa Huỳnh là cảng dịch vụ nghề cánên được tỉnh đầu tư nâng cấp mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Trong xây dựng và phát triển kinh tế trước năm 2005 Quá trình thực hiệncác chỉ tiêu KT - XH tính từ năm 1991 đến năm 2005 tốc độ tăng trưởng kinh tếcủa tỉnh từng bước được nâng lên Sản lượng lương thực tăng ổn định Côngnghiệp luôn được chú trọng trong phát triển kinh tế của tỉnh, hướng phát triển lênniền núi để tận dụng tối đa nguồn nguyên liệu và lao động tại chỗ đồng thời giảmdần khoảng cách giữa miền núi và đồng bằng Tiêu biểu trong giai đoạn từ năm
2000 - 2005 GDP của tỉnh tăng bình quân 10,3%, cơ cấu kinh tế chuyển dịchtheo hướng tích cực, tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và dịch vụ tăng nhanh,nông nghiệp, lâm nghiệp giảm đúng định hướng
Cơ sở hạ tầng được quan tâm đầu tư Nhiều công trình, dự án lớn, cáctuyến đường liên xã liên huyện, giao thông nông thôn và hệ thống thủy lợi đãđược đầu tư thực hiện hoàn thành và đưa vào sử Riêng hệ thống giao thôngđường bộ từ chỗ chỉ có hệ thống các tuyến đường chính của tỉnh được nângcấp sửa chữa, đến năm 2005 100% tuyến đường từ trung tâm các huyện đếncác xã đã được nhựa hóa, bê tông hóa
Cùng với đường quốc lộ 1A, tuyến đường sắt Bắc - Nam đi qua tỉnhQuảng Ngãi có chiều dài hơn 90 km chạy dọc theo chiều dài của tỉnh với 11
ga, trong đó ga chính là ga Quảng Ngãi, tuyến đường sắt chạy qua hầu hết cáchuyện ven biển góp phần vận chuyển số lượng lớn hành khách và hàng hóa
Trang 15Về đường thủy, tỉnh Quảng Ngãi có điều kiện thuận lợi để phát triển cả
về đường thủy nội địa và đường biển Với hệ thống sông phong phú, đường
bờ biển dài và các vịnh nước sâu rất thuận tiện cho tàu biển có trọng tải lớn.Tỉnh đã đầu tư hoàn thiện như cảng biển nước sâu Dung Quất với lợi thế kíngió, cách tuyến hàng hải quốc tế 90km, tuyến nội hải 30km và độ sâu từ 10 -19m, Cảng Dung Quất đã được thiết kế với hệ thống cảng đa chức năng.Ngoài ra còn có các cảng biển khác như cảng Sa Kỳ, Sa Cần, Mỹ Á, BìnhChâu Hệ thống đường thủy của tỉnh là yếu tố quan trọng trong vận chuyểnhàng hóa của tỉnh đến các địa phương khác trong cả nước và quốc tế
Song song với đầu tư phát triển kinh tế Tỉnh Quảng Ngãi luôn chútrọng đến công tác xã hội, phát triển nguồn nhân lực, chăm lo đời sống sứckhỏe, văn hóa tinh thần cho nhân dân
Dân số tỉnh Quảng Ngãi năm 2009 là 1.216.773 người [7, tr.27] Toàntỉnh có khoảng 324.000 hộ gia đình, bình quân 3.75 nhân khẩu/hộ Trong cơcấu dân số phân theo giới tính, nữ chiếm 50,7%, nam chiếm 49,3%; phân theo
độ tuổi, từ 0 - 59 tuổi chiếm khoảng 88,51%, chỉ tiêu này cho thấy đây là cơcấu dân số trẻ, riêng dân số dưới 15 tuổi chiếm 25,55%, đây là lực lượng laođộng dự trữ dồi dào đáp ứng nhu cầu lao động cho phát triển KT - XH của
tỉnh nói chung và các K,CCN nói riêng.
Từ năm 1999 đến năm 2010, chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh đượcnâng lên đáng kể Nếu như năm 2005, có trên 26% lao động trong các ngànhkinh tế quốc dân qua đào tạo, thì đến năm 2009, tỷ lệ lao động qua đào tạochiếm trên 35% Chất lượng giáo dục từ bậc mầm non đến phổ thông trên địabàn tỉnh trong những năm qua được nâng lên đáng kể Tổng số học sinh cácbậc học đến trường bình quân đạt 98,4%, trong đó tỷ lệ trẻ em trong độ tuổiđến trường đạt 97,3% Tỷ lệ học sinh trúng tuyển vào các trường đại học, caođẳng tương đối cao, đạt tỷ lệ bình quân khoảng 23% trên năm Trong nhữngnăm qua, việc làm trên địa bàn tỉnh tăng cao, bình quân mỗi năm giải quyết việclàm trên 35.000 lao động Trong đó, lao động chuyển dần từ nông nghiệp chuyểnsang công nghiệp và dịch vụ; đến nay, tỷ lệ lao động công nghiệp, dịch vụ chiếm
Trang 1651%, Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị ngày càngđược nâng lên Trong số lực lượng công chức viên chức toàn tỉnh có trên 50% cótrình độ đại học, sau đại học và 5,9% có trình độ cao cấp lý luận chính trị.
Bên cạnh đó, các lĩnh vực văn hóa - xã hội luôn được quan tâm, y tếđược cải thiện, công tác QP,AN luôn được đảm bảo, giữ vững ổn định chínhtrị xã hội Khối đại đoàn kết toàn dân được tăng cường Công tác dân tộc, tôngiao luôn được quan tâm đúng mức
Điều kiện tự nhiên và xã hội của tỉnh tạo điều kiện thuận lợi choQuảng Ngãi mở rộng giao lưu kinh tế với các tỉnh trong vùng, đặc biệt làVùng kinh tế trọng điểm miền Trung, Tây Nguyên và cả nước; kích thích vàlôi kéo các ngành kinh tế và các địa phương trong tỉnh Quảng Ngãi pháttriển Đồng thời, cũng đặt cho tỉnh cần thiết phát triển nhanh nền kinh tế nhất
là các ngành mũi nhọn theo thế mạnh đặc thù và các ngành kinh tế khác
* Thực trạng phát triển K,CCN của tỉnh Quảng Ngãi trước năm 2005
Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ và sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, HĐND,UBND tỉnh Quảng Ngãi trong việc xây dựng và phát triển KCCN trên địa bàncủa tỉnh Nhìn chung, trước năm 2005 thực trạng xây dựng phát triển KCCNđạt được những thành tựu cơ bản sau:
Công tác lãnh đạo, cơ chế chính sách luôn tạo điều kiện để phát triển K,CCNNhận thức rõ vị trí vai trò của phát triển công nghiệp nói chung vàK,CCN nói riêng Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi luôn chú trọng, quan tâm công táclãnh đạo phát triển K,CCN trên địa bàn tỉnh Là một tỉnh nghèo, nền kinh tếcủa tỉnh sau đổi mới chủ yếu phụ thuộc vào nông nghiệp, khai thác thủy hảisản, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn Để khắc phục những hạn chếtrên, các cấp ủy Đảng đã có những nhận thức mới trong phát triển kinh tế, xácđịnh phát triển công nghiệp luôn là mũi nhọn, với các K,CCN là “đầu tàu”kéo các ngành kinh tế khác của tỉnh đi lên Với nhận thức đúng đắn đó, Đảng
bộ tỉnh đã tập trung lãnh đạo phát triển K,CCN thông qua các văn kiện Nghị
Trang 17quyết Đại hội, Nghị quyết chuyên đề Đồng thời, trong quá trình lãnh đạo, chỉđạo xây dựng phát triển K,CCN, Đảng bộ và chính quyền tỉnh Quảng Ngãi đã
có những, chính sách đúng đắn, thúc đẩy phát triển sản xuất
Đầu tư, cải tiến đổi mới công nghệ nâng cao chất lượng các K,CCNTrước năm 2005, tỉnh Quảng Ngãi đã có nhiều doanh nghiệp chú trọngđầu tư mua sắm thiết bị nhằm đổi mới công nghệ, xây dựng thương hiệu, sảnphẩm đủ sức cạnh tranh trên thị trường nội địa và xuất khẩu Tuy còn nhiều khókhăn nhưng nhiều doanh nghiệp trong các K,CCN đã mạnh dạn đầu tư cải tiếncông nghệ bước đầu đạt được kết quả khả quan Nếu như trong giai đoạn từ năm
1995 đến năm 2000 các ngành công nghiệp của tỉnh chủ yếu là sản xuất theophương thức truyền thống, máy móc lạc hậu thì đến những năm 2001 - 2005năng lực tiếp thu ứng dụng KH,CN của các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp
đã có sự phát triển tích cực, xuất hiện một số doanh nghiệp có năng lực tiếpnhận, làm chủ công nghệ nhập ngoại Cùng với việc đầu tư đổi mới thiết bị côngnghệ sản xuất, các doanh nghiệp công nghiệp đã chú trọng áp dụng hệ thốngquản lý chất lượng quốc tế Năm 2005, toàn tỉnh có 19 doanh nghiệp được cấpchứng chỉ hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001: 2000
Đối với CCN, tỉnh Quảng Ngãi đã quy hoạch và đầu tư 8 CCN trên địabàn các huyện, thành phố Với mục tiêu khai thác hiệu quả các nguồn lực vềtài nguyên, lao động, vốn tài sản, kỹ thuật của từng địa bàn, tạo thuận lợi để
Trang 18thu hút đầu tư trong và ngoài tỉnh, kể cả nguồn vốn của người dân sở tại Bắtđầu từ năm 2003, Quảng Ngãi đầu tư phát triển các CCN tại các địa phươngtrong tỉnh, phân bố theo từng huyện, thành phố.
Sự phát triển của các K,CCN trên địa bàn tỉnh đã thu hút số lượng lớnvốn đầu tư trong nước và nước ngoài Đến cuối năm 2005 KCN Dung Quất
đã thu hút 70 dự án được cấp phép và chấp thuận đầu tư, với tổng số vốn đăng
ký trên 2 tỉ USD (chưa kể vốn đầu tư của dự án Nhà máy Lọc dầu Dung
Quất) KCN Tịnh Phong và KCN Quảng Phú đã có 71 dự án đầu tư còn hiệu lực,
với tổng vốn đăng ký 1.438 tỷ đồng (riêng từ năm 2003 đến 2005 cấp phép cho 41
dự án) Đã có 51 dự án đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh
Đào tạo nguồn nhân lực, giải quyết việc làm
Để đáp ứng nguồn nhân lực tại chỗ cũng như thu hút nguồn nhân lực cóchất lượng cao cho các K,CCN của tỉnh Đối với đào tạo nguồn nhân lực trựctiếp cho sản xuất công nghiệp nói chung và K,CCN trong tỉnh nói riêng, tỉnh
“đã sắp xếp, nâng cao chất lượng đào tạo của các trường, trung tâm dạy nghề,hình thành Trường dạy nghề Dung Quất, nhờ đó loại hình, ngành và cơ cấunghề đào tạo được mở rộng, phù hợp với yêu cầu phát triển” [13, tr.32] Tỷ lệlao động qua đào tạo nghề năm 2001 là 13,5% , năm 2005 tăng lên 18,7%.Đối với thu hút nguồn nhân lực có chất lượng cao trong và ngoài tỉnh, Đảng
bộ và chính quyền các cấp đã có nhiều chính sách tiến bộ về tạo môi trườnglàm việc, chính sách tiền lương Đặc biệt, các K,CCN đã thu hút số lượng lớnnhân lực tham gia vào quá trình sản xuất
Đối với công tác đảm bảo QP,AN, việc phát triển các K,CCN của tỉnhluôn được gắn kết chặt chẽ với QP,AN từ khâu quy hoạch đến triển khai xâydựng, xem đó là hai nhiệm vụ song song không tách rời nhau Thực tế chothấy các K,CCN là nơi thu hút nhiều lao động trong và ngoài tỉnh, làm nảysinh những vấn đề về xã hội Do đó, tỉnh luôn quan tâm làm tốt công tác đảmbảo an ninh trật tự, ổn định tình hình chính trị - xã hội trên địa bàn Đồng thời
Trang 19trong nghiên cứu, khảo sát xây dựng kế hoạch, triển khai xây dựng cácK,CCN không làm ảnh hưởng đến thế trận phòng thủ mà còn góp phần tăngcường sức mạnh phòng thủ của địa phương.
Trong gia đoạn từ năm 2001 đến năm 2005 bên cạnh những kết quả đãlàm được, trong công tác lãnh đạo phát triển K,CCN trên địa bàn của tỉnh còn
có những mặt hạn chế
Các KCN phát triển còn chậm, đến năm 2005 chỉ có 2 KCN làKCN Quảng Phú và KCN Tịnh Phong đi vào hoạt động, còn các KCNkhác đang triển khai xây dựng, đồng thời các KCN còn thiếu bền vững,chưa tương xứng với tiềm năng của tỉnh Giá trị sản xuất còn chưa cao
Các CCN chậm phát triển.
Những yếu tố quan trọng ảnh hướng đến kết quả thu hút đầu tư nhưHTKT, tiện ích công nghiệp, thủ tục hành chính, trách nhiệm hỗ trợ và giúp đỡdoanh nghiệp của bộ máy hành chính nhà nước các cấp, nội dung, phương thứccủa công tác xúc tiến đầu tư chuyển biến chậm, nhiều mặt còn yếu kém
Số lượng dự án đăng ký đầu tư vào các K,CCN tăng khá, nhưng phần lớntriển khai xây dựng và đi vào sản xuất chậm, có dự án đầu tư kém hiệu quả Đa
số các doanh nghiệp có qui mô nhỏ, thiết bị, công nghệ lạc hậu, khả năng cạnhtranh thấp Chưa có nhiều doanh nghiệp sản xuất được những sản phẩm có khảnăng chi phối thị trường nội tỉnh và xâm nhập sâu vào các thị trường ngoài tỉnh;khả năng hội nhập kinh tế quốc tế của các doanh nghiệp là rất thấp
HTKT cho phát triển K,CCN chưa đáp ứng yêu cầu phát triển Việcđầu tư phát triển hạ tầng các KCCN đều phụ thuộc vào ngân sách nhà nước,chưa huy động từ các nguồn vốn khác Nhìn chung, sự phát triển HTKT củacác K,CCN trên địa bàn tỉnh chưa đạt mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra
Công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư ở các KCN cònnhiều bất cập Đời sống nhân dân các khu tái định cư nhìn chung chưa ổnđịnh, còn nhiều khó khăn
Trang 20Sự lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra của các cấp uỷ đảng đối với việc triểnkhai, tổ chức thực hiện chủ trương của chính quyền các cấp chưa thườngxuyên, kịp thời Nguồn vốn đầu tư của ngân sách tỉnh có hạn, nhưng các cấp,các ngành chưa thực hiện được các biện pháp huy động mọi nguồn lực trongtoàn xã hội Việc xây dựng và thực hiện các cơ chế, chính sách khuyến khíchđầu tư còn chậm, thiếu đồng bộ, hiệu quả chưa cao Đội ngũ cán bộ quản lý
và khoa học của tỉnh trên lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp còn yếu
về trình độ, năng lực, thiếu và chưa đồng bộ nên việc tham mưu và tổ chứcthực hiện chủ trương của tỉnh còn bất cập, thiếu chủ động
* Chủ trương phát triển K,CCN của Đảng
Nhận thức sâu sắc về vị trí, vai trò của phát triển công nghiệp đối với nềnkinh tế đất nước, trên cơ sở những thành tựu đã đạt được tư duy về con đườngCNH,HĐH nói chung và công nghiệp nói riêng luôn được Đảng nghiên cứu bổsung và hoàn thiện Để phát triển công nghiệp, Đảng có những chủ trương, chỉđạo sát đúng với yêu cầu, nhiệm vụ của từng địa phương trong cả nước Tạo ranền tảng cho sự phát triển, tác động đến sự thay đổi cơ cấu của nền kinh tế theohướng công nghiệp và dịch vụ chiếm tỉ lệ cao trong nền kinh tế
Từ kết quả đạt được của kế hoạch 5 năm (2001 - 2005), sự phát triểnK,CCN trong cả nước có những tiến bộ vượt bật, đóng góp to lớn vào sự pháttriển của nền công nghiệp nước nhà Trước những yêu cầu mới của tình hình KT -
XH, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã thông qua kế hoạch 5năm (2006 - 2010) nhằm “Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển
Trang 21kinh tế tri thức tạo nền tảng để đưa nước ta cơ bản trở thành một nước côngnghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020” [18, tr.186] Đại hội đã có những chủtrương và chính sách mới nhằm tiếp tục thúc đẩy sự phát triển của các K,CCN.Đại hội xác định: “Hoàn chỉnh quy hoạch phát triển các khu, cụm, điểm côngnghiệp trên cả nước; hình thành các vùng công nghiệp trọng điểm; gắn việc sảnxuất với đảm bảo nhà ở và các điều kiện sinh hoạt cho người lao động” [18,tr.198] Để hoàn thành được nhiệm vụ đó, Đại hội đặt ra yêu cầu khuyến khíchphát triển công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp chế tác, công nghiệp phầnmềm và công nghiệp bổ trợ có lợi thế cạnh tranh, tạo nhiều sản phẩm xuấtkhẩu và thu hút nhiều lao động; phát triển một số khu kinh tế mở và đặc khukinh tế, nâng cao hiệu quả của các KCN, khu chế xuất.
Khuyến khích, tạo điều kiện để các thành phần kinh tế tham gia pháttriển mạnh các ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu,sản xuất tư liệu sản xuất quan trọng theo hướng hiện đại; ưu tiên thu hút đầu
tư của các tập đoàn kinh tế lớn nước ngoài và các công ty lớn xuyên quốc gia
Khẩn trương thu hút vốn trong nước và ngoài nước để đầu tư thực hiệnmột số dự án quan trọng về khai thác dầu khí, lọc dầu và hóa dầu, luyện kim,
cơ khí chế tạo, hóa chất cơ bản, phân bón, vật liệu xây dựng Có chính sáchhạn chế xuất khẩu tài nguyên thô Thu hút những chuyên gia giỏi, cao cấp củanước ngoài và trong cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài
Trên cơ sở bổ sung và hoàn chỉnh quy hoạch, huy động các nguồn lựctrong và ngoài nước để xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng nhất là sân bayquốc tế, cảng biển, đường cao tốc, đường ven biển, đường đông tây, mạnglưới cung cấp điện, HTKT ở các đô thị lớn Phát triển năng lượng đi đôi vớicông nghệ tiết kiệm năng lượng
Tập trung nguồn lực cho phát triển mạnh các ngành công nghiệp có lợithế cạnh tranh, tạo ra sản phẩm xuất khẩu và thu hút nhiều lao động như: Chếbiến nông - lâm - thuỷ sản, may mặc, giày dép, đồ gỗ gia dụng, cơ khí đóng
Trang 22tàu, công nghiệp chế tạo thiết bị đồng bộ, thiết bị điện, cơ - điện tử, thiết bịxây dựng, máy nông nghiệp, công nghiệp bổ trợ, công nghiệp công nghệ thôngtin, sản xuất phần mềm.
Chủ trương và chính sách của Đảng về phát triển công nghiệp nói chung
và K,CCN nói riêng đã thể hiện nhận thức của Đảng ta về vị trí vai trò củaK,CCN trong sự phát triển chung của nền kinh tế, ổn định chính trị xã hội Vớichủ trương đúng đắn, các địa phương trong cả nước đã quán triệt và triển khaithực hiện, đẩy mạnh nghiên cứu, quy hoạch, xây dựng các K,CCN, các K,CCN
đã thực sự phát huy được thế mạnh, thu hút nguồn nhân lực, giải quyết laođộng tại chỗ, đóng góp tích cực vào sự phát triển của từng vùng, địa phương
Những chủ trương của Đảng về phát triển K,CCN là cơ sở để Đảng bộtỉnh Quảng Ngãi đề ra phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đểphát triển K,CCN của tỉnh trong những năm 2005 - 2010
1.1.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi phát triển khu, cụm công nghiệp (2005 - 2010)
Từ chủ trương của Đảng cùng với những thành tựu đã đạt được trong pháttriển công nghiệp trước năm 2005, Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi đã chú trọng pháttriển K,CCN từ năm 2005 - 2010
Quán triệt đường lối CNH,HĐH mà trực tiếp là chủ trương, chínhsách về phát triển công nghiệp được thể hiện trong Văn kiện Đại hội đại biểutoàn quốc lần thứ X của Đảng Chủ trương phát triển K,CCN của Đảng bộtỉnh Quảng Ngãi từ năm 2005 đến năm 2010 được thể hiện trong các vănkiện, nghị quyết cụ thể như: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh QuảngNgãi lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2005 - 2010; Tỉnh uỷ khoá XVII đã ban hànhNghị quyết số 02-NQ/TU “Về tăng cường sự lãnh đạo Đảng, phát huy sứcmạnh của cả hệ thống chính trị đẩy nhanh tốc độ phát triển công nghiệp -tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh trong giai đoạn mới”
* Mục tiêu
Trang 23Mục tiêu tổng quát
Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII đã đặt ra mục tiêu tổngquát về phát triển KCCN: Cùng với phát triển các thành phố, thị xã và Khukinh tế Dung Quất “các khu công nghiệp thực sự trở thành các trung tâm kinh
tế - văn hóa, có đóng góp quyết định vào sự tăng trưởng và chuyển dịch cơcấu kinh tế, tăng thu ngân sách, giải quyết lao động, tạo động lực thúc đẩy cácngành, vùng kinh tế khác phát triển nhanh, bền vững” [13, tr.74] Đồng thờitập trung đầu tư phát triển CCN cùng với phát triển dịch vụ và thương mạinhằm chuyển biến mạnh cơ cấu kinh tế nông thôn
Mục tiêu cụ thể
Trên cơ sở mục tiêu tổng quát về phát triển KCCN trên địa bàn của tỉnhtrong 5 năm (2005 - 2010) Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi đã xác định những mụctiêu cụ thể cần đạt được như sau:
Các KCN chú trọng phát triển các ngành công nghiệp đáp ứng yêu cầutiêu dùng trong nước và hướng mạnh vào xuất khẩu như: công nghiệp hóachất, cơ khí luyện kim và đóng tàu biển; khai thác mỏ và vật liệu xây dựng;chế biến đường và sản phẩm sau đường; chế biển thủ hải sản, súc sản; sảnxuất hàng tiêu dùng; phát triển một số ngành công nghiệp phụ trợ
Các CCN ở các địa phương, tập trung phát triển các ngành nghề sử dụngtài nguyên, nguyên liệu và lao động tại chỗ như: sản xuất vật liệu xây dựng, dagiày, may mặc, chế biến nông, lâm, thủy sản; phục hồi và phát triển các mặt hàngthủ công mỹ nghệ truyền thống
Coi trọng đổi mới công nghệ, tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp vàsản phẩm công nghiệp, tạo được nhiều mặt hàng chủ lực có sức cạnh tranhcao đối với thị trường trong nước và tham gia xuất khẩu
Trang 24“Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho các cấp uỷđảng, chính quyền, mặt trận, đoàn thể, cán bộ, đảng viên và nhân dân nhậnthức đúng đắn vai trò, ý nghĩa, phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và giảipháp” [50, tr.11] về K,CCN của tỉnh trong giai đoạn mới; thấy được thời cơ,điều kiện thuận lợi và xây dựng được niềm tin trong nhân dân.
Phát huy tính chủ động sáng tạo trong lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷđảng, chính quyền Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tháo gỡ những khó khăn,vướng mắc trong quá trình tổ chức thực hiện, trước hết là tháo gỡ các vấn đề
về vốn đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, đào tạo nguồn nhân lực, hoàn thiện
cơ chế quản lý, đẩy mạnh xúc tiến thu hút đầu tư
Thường xuyên kiểm tra, đôn đốc việc tổ chức thực hiện các chươngtrình, kế hoạch về phát triển K,CCN đã được xác định
Về tổ chức quản lý, cải cách hành chính.
Triển khai thực hiện về cải cách hành chính, làm chuyển biến căn bảnnhận thức về thực hiện chức năng quản lý, phục vụ doanh nghiệp của các cơquan quản lý hành chính nhà nước và từng cán bộ, công chức
Tổ chức thực hiện tốt các cơ chế quản lý và chính sách ưu đãi các KCN củatỉnh đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và các cơ chế chính sách của tỉnh đãban hành, nhằm tạo bước chuyển biến đột phá về cải thiện môi trường đầu tư
Tiếp tục “thực hiện cải cách thủ tục hành chính, cung cấp các dịch vụhành chính như: đăng ký kinh doanh, cấp phép đầu tư, các thủ tục cho vay,cấp đất, giao đất, cho thuê đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng theo hướnggọn nhẹ, đồng bộ, công khai, tạo thuận lợi nhất cho sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp” [50, tr.11]
Củng cố kiện toàn các cơ quan chuyên môn và đội ngũ cán bộ thựchiện chức năng quản lý nhà nước về KCCN ở tỉnh, huyện, thành phố bảo đảmviệc nâng cao năng lực hoạch định cơ chế, chính sách và tổ chức thực hiện
Về chính sách đầu tư:
Trang 25Bằng nhiều hình thức, huy động và tập trung vốn cho phát triển côngnghiệp bao gồm vốn từ ngân sách nhà nước, vốn vay, vốn ODA, FDI, vốn từquỹ đất, vốn của doanh nghiệp và các nguồn vốn khác.
Hằng năm phải có kế hoạch cân đối vốn từ ngân sách tỉnh để đầu tưphát triển HTKT của K,CCN
Lựa chọn, ưu tiên đầu tư hoàn thiện kết cấu hạ tầng các CCN có điềukiện phát triển nhanh để thu hút đầu tư, sớm đưa các doanh nghiệp đi vào sảnxuất kinh doanh, tạo ra giá trị sản xuất, đem lại nguồn thu cho ngân sách;tránh tình trạng đầu tư dàn trải, hiệu quả kinh tế thấp Thực hiện cơ chế phốihợp đầu tư theo hướng tỉnh hỗ trợ 40 - 50% vốn đầu tư hạ tầng các CCN củahuyện, thành phố; phần còn lại huyện và thành phố chủ động
Đẩy mạnh xúc tiến đầu tư
Đẩy mạnh công tác xúc tiến đầu tư, coi đây là nhiệm vụ của các cấp,các ngành, của cả hệ thống chính trị, của từng cán bộ đảng viên và nhân dân.Kiện toàn tổ chức xúc tiến đầu tư của tỉnh theo hướng một đầu mối quản lý,
có quy chế, chương trình, kế hoạch hoạt động cụ thể Xúc tiến đầu tư phải bảođảm tính đồng bộ, thống nhất, toàn diện trong việc cung cấp thông tin, kêugọi đầu tư bằng nhiều hình thức nhằm tạo niềm tin cho nhà đầu tư
Phát triển nguồn nhân lực phục vụ phát triển K,CCN
Thực hiện tốt chủ trương phát triển nguồn nhân lực “Có chính sách
và kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, thu hút để xây dựng đội ngũ cán bộ giỏi,chuyên nghiệp và năng động đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước trên lĩnhvực công nghiệp Đào tạo đội ngũ quản lý doanh nghiệp trẻ, đáp ứng yêucầu của các nhà đầu tư” [50, tr.13] Đặc biệt chú trọng đào tạo công nhân
kỹ thuật, đào tạo các ngành nghề thủ công mỹ nghệ cho lao động nôngnhàn, gắn với các dự án, góp phần giải quyết việc làm Phấn đấu nâng tỷ lệlao động qua đào tạo đến năm 2010 đạt 28 - 30%
Triển khai ứng dụng KH,CN và bảo vệ môi trường:
Trang 26Tăng cường đầu tư ứng dụng KH,CN phục vụ cho phát triển K,CCN.Xây dựng chương trình KH,CN hỗ trợ doanh nghiệp để áp dụng hệ thốngquản lý tiên tiến, bảo hộ sở hữu công nghiệp, khuyến khích đổi mới thiết bị -công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh Triển khai xây dựng đề án, chươngtrình ứng dụng công nghệ mới để phục vụ K,CCN
Đánh giá tác động môi trường của các K,CCN; kiểm soát, xử lý ônhiễm và triển khai các giải pháp về công nghệ để phòng, chống ô nhiễm môitrường
Đẩy mạnh công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, gắn với việc xây dựng khu tái định cư và chăm lo đời sống nhân dân tái định cư
Thực hiện tốt công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng phục vụ cho việcđẩy nhanh tiến độ xây dựng kết cấu hạ tầng, nhằm thu hút đầu tư vào các K,CCN.Chú trọng việc xây dựng khu tái định cư và có các chính sách cụ thể chăm lo đờisống cho nhân dân tái định cư
1.2 Sự chỉ đạo phát triển khu, cụm công nghiệp của Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi (2005 - 2010)
1.2.1 Chỉ đạo xây dựng, điều chỉnh bổ sung quy hoạch các khu, cụm công nghiệp của tỉnh
* Xây dựng quy hoạch các K,CCN
Trên cơ sở chủ trương của Đảng bộ tỉnh về xây dựng quy hoạch mớicác K,CCN Giai đoạn 2005 - 2010, tỉnh Quảng Ngãi đã có những chỉ đạotriển khai xây dựng quy hoạch các KCCN đáp ứng yêu cầu phát triển côngnghiệp cũng như từng vùng, địa phương của tỉnh Thực hiện nội dung trên,UBND tỉnh đã xây dựng Đề án phát triển công nghiệp giai đoạn 2006 - 2010,
Đề án chỉ ra mục tiêu của phát triển công nghiệp của tỉnh, đồng thời đề ranhiệm vụ trong công tác quy hoạch các K,CCN mới
Đối với KCN, tỉnh đã “Tổ chức việc quy hoạch Khu công nghiệp PhổPhong trong năm 2007 - 2008 và tiến hành xây dựng hạ tầng để từ năm 2008 -
Trang 272010 thu hút các dự án đầu tư vào Khu công nghiệp này” [26, tr.13 ] Ngày 14tháng 5 năm 2007, Chủ tịch UBND tỉnh đã phê duyệt quy hoạch chi tiết KCNPhổ Phong theo Quyết định số 1026/QĐ-UBND, quy mô diện tích của KCN
là 143,7 ha trong đó diện tích đất xí nghiệp công nghiệp là 76,06 ha (chiếm52,93%) và được thành lập tại Quyết định số 312/QĐ-UBND ngày 27 tháng 2năm 2010 của Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi Đây là KCN tập trung ưutiên thu hút các dự án sử dụng nguồn nguyên liệu địa phương như chế biếnnông - lâm - thủy sản, các ngành công nghiệp nhẹ ít gây ô nhiễm môi trường
Đối với các CCN, Đề án nhấn mạnh: “Quy hoạch và khuyến khích cácđịa phương hình thành và phát triển các cụm công nghiệp - làng nghề mà sảnphẩm đáp ứng yêu cầu tiêu dùng và xuất khẩu Đối với các huyện miền núicần xây dựng cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp theo hướng đa ngànhnghề một cách hợp lý” [26, tr.13] Thực hiện giải pháp tích cực xây dựng vàphê duyệt các CCN ở huyện, thành phố Chú trọng nâng cao chất lượng quyhoạch, đảm bảo khả thi, toàn diện, bền vững nhằm định hướng đầu tư phù hợpvới đặc điểm từng ngành, từng vùng
* Điều chỉnh, bổ sung quy hoạch K,CCN
Trước yêu cầu của phát triển KTXH cũng như nhằm đảm bảo công tácbảo vệ môi trường đồng thời ứng yêu cầu phát triển của các K,CCN trong giaiđoạn mới Công tác điều chỉnh, bổ sung quy hoạch các K,CCN trên địa bàntỉnh là nội dung luôn được tỉnh quan tâm thường xuyên
Đối với các KCN, Đề án phát triển công nghiệp đề ra mục tiêu đổi vớicông tác điều chỉnh quy hoạch các KCN trong tỉnh Điều chỉnh quy hoạch 2KCN Tịnh Phong và KCN Quảng Phú một cách hợp lý, đến năm 2008 đầu tưhoàn thành đồng bộ HTKT giai đoạn I
Đối với CCN đến năm 2010, cơ bản hoàn thành đầu tư kết cấu hạ tầng giaiđoạn I một số CCN; đồng thời, thu hút các dự án vào các CCN tại các địa phương
Từ năm 2005 đến năm 2010, tỉnh Quảng Ngãi tiếp tục điều chỉnh bổ sung quy
Trang 28hoạch các CCN trên địa bàn như quy hoạch phát triển CCN Phổ Phong lên thànhKCN, bổ sung nới rộng diện tích CCN Đồng Dinh - Huyện Nghĩa Hành.
1.2.2 Cải cách hành chính, chính sách thu hút đầu tư và phát triển nguồn nhân lực cho khu, cụm công nghiệp
* Cải cách hành chính, chính sách thu hút đầu tư
Cải cách hành chính thông thoáng, chính sách tiến bộ là một nội dungquan trọng nhằm thu hút đầu tư của các doanh nghiệp trong và ngoài nước, huyđộng được nguồn vốn sẵn có trong nhân dân Đó cũng là xu thế chung tronghoạt động quản lý, sản xuất kinh doanh của cả nước nhằm khắc phục nhữnghạn chế trong cơ chế, chính sách đặc biệt cải cách thủ tục hành chính theohướng đơn giản, nhanh chóng và hiệu quả Trong quá trình chỉ đạo về hoànthiện cơ chế, chính sách, cải cách hành chính tạo môi trường thuận lợi thu hútđầu tư cho các K,CCN HĐND, UBND tỉnh đã ra nghị quyết, quyết định,chương trình triển khai tổ chức thực hiện trên thực tế
Về cải cách hành chính
Thực hiện chủ trương chung của cả nước và những tồn tại cần phải tháo
gỡ trong thủ tục hành chính, tạo ra yêu tố thuận lợi liên quan đến công tác đầu
tư Giải quyết thủ tục hành chính đối với các dự án đầu tư vào các K,CCNtheo cơ chế quản lý “một cửa, một đầu mối” Ngày 10 tháng 10 năm 2006,HĐND tỉnh đã ra Nghị quyết “Về cải cách hành chính tỉnh Quảng Ngãi giaiđoạn 2006 - 2010”, với mục tiêu xây dựng nền hành chính của tỉnh từng bướchiện đại, thực sự dân chủ, trong sạch vững mạnh, chuyên nghiệp, hoạt động cóhiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu quản lý trong quá trình phát triển và hộinhập Tiếp đó, UBND tỉnh ra Quyết định số 13/2009/QĐ-UBND ngày 16 tháng
3 năm 2009 “Ban hành Quy chế phối hợp thực hiện cơ chế một cửa liên thôngtại các Khu công nghiệp Quảng Ngãi trong giải quyết công việc liên quan trựctiếp tới các tổ chức, cá nhân” và Chỉ thị số 10/2009/CT-UBND ngày 24 tháng 6
Trang 29năm 2009 “Về việc triển khai thực hiện Nghị định số 66/2008/NĐ-CP ngày 28tháng 5 năm 2008 của Chính phủ về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp”
Chính sách thu hút đầu tư
Nhằm mục đích tạo những điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư vàocác K,CCN trên địa bàn Tỉnh Quảng Ngãi đã có những chính sách hỗ trợ chocác doanh nghiệp khi đầu tư vào các K,CCN của tỉnh Cụ thể đối với các KCN,UBND tỉnh Quảng Ngãi ra Quyết định số:13/2006/QĐ-UBND “Ban hànhQuy định một số cơ chế và chính sách hỗ trợ đầu tư vào các Khu công nghiệpcủa tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2006 - 2008” quy định mức hỗ trợ, đảm bảo
về HTKT; được đầu tư đồng bộ, duy tu bảo dưỡng, chiếu sáng công cộngtrong KCN bằng nguồn vố tư ngân sách bố trí theo kế hoạch hàng năm, vốn
do UBND vay từ nguồn vốn hỗ trợ đầu tư phát triển Đồng thời các KCNđược hỗ trợ tiền thuê hạ tầng, các doanh nghiệp trong KCN sẽ được miễntiền thuê hạ tầng trong thời hạn 05 năm kể từ khi bắt đầu ký hợp đồng thuêthuê lại đất, sau khi hết thời gian hưởng ưu đãi các doanh nghiệp chỉ trảtiền thuê hạ tầng với giá thấp
Đối với các CCN, UBND tỉnh có Quyết định số: 55/2008/QĐ-UBNDngày 31 tháng 3 năm 2008 “Ban hành Quy định về hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầngCụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp - làng nghề trên địa bàn tỉnh QuảngNgãi” quy định chi tiết về mức hỗ trợ vốn để phát triển cơ sở hạ tầng đượcchia theo 2 giai đoạn Với mức hỗ trợ kinh phí theo địa bàn như các CCN ởđồng bằng là 40%, ở miền núi hải đảo là 50%
* Phát triển nguồn nhân lực
Xác định rõ nguồn nhân lực là động lực cho sự phát triển của cácK,CCN, trước sự phát triển nhanh chóng của KH,CN và yêu cầu về chấtlượng sản phẩm đòi hỏi tỉnh Quảng Ngãi cần phải có nguồn nhân lực có chấtlượng cao để đáp ứng được các yêu cầu đó Trong nhiệm kỳ từ năm 2005 đếnnăm 2010 thực hiện chủ trương về phát triển nguồn nhân lực của Đảng bộ
Trang 30Quảng Ngãi, ngày 16 tháng 7 năm 2007 HĐND tỉnh đã ra Nghị quyếtsố:07/2007/NQ-HĐND “Về phát triển nguồn nhân lực tỉnh Quảng Ngãi giaiđoạn 2007 - 2010 và định hướng đến năm 2015 Nghị quyết đã đánh giá thựctrạng nhân lực trong các K,CCN một cách khách quan và đề ra mục tiêu: “Đàotạo, thu hút đáp ứng cơ bản nhu cầu nhân lực quản lý doanh nghiệp; cung cấpkịp thời lao động qua đào tạo nghề, công nhân lành nghề” [27, tr.1].
Để phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao cho các K,CCN, tỉnhQuảng Ngãi chú trọng phát triển giáo dục đào tạo với chủ trương “Nâng caochất lượng giáo dục - đào tạo; tiếp tục mở rộng quy mô và thực hiện xã hội hóagiáo dục” [13, tr.78] Đặc biệt là trong lĩnh vực dạy nghề - đào tạo lao động trựctiếp cho các KCCN, giải quyết việc làm cho người lao động tại địa phương Tỉnhtriển khai thực hiện biện pháp “nâng cao chất lượng dạy và học ở các cấp học,làm tốt công tác hướng nghiệp, tạo tiền đề cho phát triển nguồn nhân lực củatỉnh đúng định hướng Tạo được sự gắn kết chặt chẽ giữa các trường trunghọc phổ thông với hệ thống trường chuyên nghiệp nói chung và các trườngdạy nghề trên địa bàn tỉnh nói riêng” [27, tr.5] Đồng thời, tiếp tục mở rộngquy mô, nâng cao chất lượng đào tạo của các trường đại học, cao đẳng, trunghọc chuyên nghiệp và các trường, trung tâm dạy nghề trên địa bàn tỉnh Tiếnhành quy hoạch mạng lưới cơ sở dạy nghề; xây dựng và đầu tư nâng cấp một
số trường dạy nghề có chất lượng Chú trọng nâng cao trình độ của giáo viên
và trang thiết bị dạy nghề theo trình độ KH,CN ngày càng phát triển của thếgiới và phù hợp với yêu cầu thị trường lao động
Bên cạnh tăng cường đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ cho phát triển cácK,CCN trên địa bàn Tỉnh Quảng Ngãi đã có những chỉ đạo nhằm thu hútnguồn nhân lực có chất lượng cao với những chính sách ưu đãi tiến bộ, Vớichủ trương: “Thu hút sinh viên tốt nghiệp đại học, cao đẳng, ưu tiên nhữngsinh viên tốt nghiệp loại khá, giỏi để tạo nguồn, từng bước thay thế những cán
bộ, công chức, viên chức không đủ tiêu chuẩn Thu hút nguồn nhân lực có
Trang 31trình độ chuyên môn cao để đào tạo cán bộ lãnh đạo, quản lý lâu dài và phục
vụ lĩnh vực sản xuất kinh doanh ở những ngành nghề quan trọng” [27, tr.3]
Ngày 26 tháng 12 năm 2006, UBND tỉnh Quảng Ngãi ra Quyết định số:460/2008/QĐ-UBND “Ban hành Quy định chính sách thu hút cán bộ, côngchức viên chức và những người có trình độ đến công tác tại tỉnh QuảngNgãi” Quy định về đối tượng áp dụng đối với sinh viên đã tốt nghiệp, cán bộ,công chức, viên chức và những người có trình độ cao với những ngành nghề
mà tỉnh đang thực sự có nhu cầu Bên cạnh đó Quy định còn có những chínhsách tiến bộ nhằm thu hút nhân lực, quy định rõ chính sách, mức ưu đãi phùhợp với từng đối tượng cả về tài chính, môi trường làm việc, nhà ở và chínhsách với người thân trong gia đình đến làm việc tại tỉnh
1.2.3 Chỉ đạo phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật, ứng dụng khoa học công nghệ và hệ thống dịch vụ đảm bảo cho các khu, cụm công nghiệp
* Xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông
Hạ tầng giao thông phát triển, thuận tiện cho vận chuyển hàng hóa, cơđộng các trang thiết bị là một tiêu chí để đầu tư của doanh nghiệp Do vậy,phát triển hạ tầng giao thông có vai trò quan trọng tạo ra môi trường thuận lợithu hút đầu tư của các doanh nghiệp vào các K,CCN Tỉnh Quảng Ngãi luônquan tâm đầu tư phát triển hệ thống giao thông, đặt biệt là hệ thống giaothông đường bộ, đường thủy, đường biển từ các vùng nguyên liệu, đầu mốigiao thông nối Quốc lộ 1A với các K,CCN, thuận tiện cho vận chuyển nguyênliệu, sản phẩm hàng hóa và tiêu thụ trong tỉnh, các vùng lân cận và xuất khẩu.Quyết định số 3855/QĐ-UBND ngày 23/12/2005 của UBND tỉnh QuảngNgãi đã phê duyệt Dự án Quy hoạch điều chỉnh, bổ sung phát triển giao thôngvận tải tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 Dự ántập trung phát triển hệ thống đường bộ, bến cảng, bến xe Đối với hệ thốnggiao thông đường bộ, tập trung phát triển các tuyến đường theo trục dọc:Tuyến ven biển Dung Quất - Sa Huỳnh; tuyến Quốc lộ 1A - Xây dựng 2 tuyến
Trang 32đường tránh; tuyến đường cao tốc Huế - Đà Nẵng - Quảng Ngãi; đường caotốc Quảng Ngãi - Nha Trang - Phan Thiết; tuyến trục dọc Trung du; tuyếntrục dọc miền núi; tuyến trục dọc Đông Trường Sơn Tuyến trục ngang: DungQuất - Trà Bồng - Trà Thanh - Trà My; Cảng Sa Kỳ - cầu Trà Khúc II - Thịtrấn Sơn Tịnh- Thị trấn Di Lăng - Thị trấn Sơn Tây - UBND xã Sơn Bua(giáp tỉnh Quảng Nam); Phổ An - Thạch Trụ - QL24 đến Kon Tum Đối vớiphát triển cảng biển vận tải biển, tỉnh chỉ đạo quy hoạch phát triển Cảng DungQuất, cảng Sa Kỳ và các bến cảng nhỏ Các cảng này trực tiếp phục vụ pháttriển giao thông đường biển nội địa và quốc tế.
* Xây dựng kết cấu hạ tầng K,CCN
Nhằm thút đẩy sự phát triển các K,CCN đã được quy hoạch, thu hútđầu tư, đi vào sản xuất theo đúng kế hoạch đã đề ra, tỉnh đã tập trung xâydựng hoàn thiện kết cấu hạ tầng trong các K,CCN Mục tiêu đến năm 2008,đầu tư hoàn thành đồng bộ HTKT giai đoạn I của KCN Tịnh Phong và KCNQuảng Phú Tổ chức việc quy hoạch KCN Phổ Phong trong năm 2007 - 2008
và tiến hành xây dựng hạ tầng để từ năm 2008 - 2010 thu hút các dự án đầu
tư Đến năm 2010, cơ bản hoàn thành đầu tư kết cấu hạ tầng giai đoạn I một
số CCN
Để thực hiện mục tiêu trên tỉnh đã tăng cường đầu tư, hỗ trợ vốn xâydựng kết cấu HTKT cho các K,CCN Hàng năm tỉnh cân đối nguồn vốn đểgiải quyết kịp thời nhu cầu vốn đầu tư xây dựng hạ tầng Hoàn thành cơ bảnHTKT cho các K,CCN đúng với ý nghĩa của nhiệm vụ đột phá Riêng đối vớicác CCN, ngân sách tỉnh sẽ bố trí từ 40% đến 50% vốn đầu tư kết cấu hạ tầngngoài hàng rào theo tiêu chí hoạt động có hiệu quả
* Phát triển, ứng dụng KH,CN trong các K,CCN
Với mục tiệu nâng cao chất lượng sản xuất kinh doanh, tính cạnh tranhcao, tiết kiệm chi phí sản xuất trong các K,CCN Thực hiện chủ trương củaĐảng bộ Quảng Ngãi về phát triển ứng dụng các thành tựu KH,CN vào phát
Trang 33triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh Trong công tác chỉđạo thực hiện nội dung này, UBND tỉnh đã có Chỉ thị số: 17/2007/CT-UBNDngày 19 tháng 6 năm 2007 “Về việc đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng cácthành tựu khoa học và công nghệ trong quản lý, sản xuất kinh doanh” Đối vớicác K,CCN, đặt ra yêu cầu cần xây dựng kế hoạch nghiên cứu, ứng dụng cácthành tựu KH,CN phục vụ cho nhiệm vụ phát triển các ngành công nghiệp.Chú trọng nghiên cứu ứng dụng công nghệ tiết kiệm năng lượng, công nghệvật liệu mới, công nghệ chế biến.
Bằng nguồn vốn Trung ương hỗ trợ và của tỉnh Trong giai đoạn 2005
- 2010, tỉnh Quảng Ngãi tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng một số tổ chứcKH,CN và các hoạt động trong nghiên cứu, ứng dụng KH,CN Tiêu biểu như
dự án đầu tư xây dựng nhà vận hành thiết bị Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng hoàn thành đưa vào sử dụng năm 2010, Đại học Công nghiệp TP
-Hồ Chí Minh (cơ sở Miền Trung), Trung tâm ứng dụng và thông tin KH,CN
* Phát triển dịch vụ bảo đảm cho phát triển K,CCN
Việc phát triển các K,CCN trên địa bàn tỉnh có tác động lan tỏa đến cáchoạt động dịch vụ và ngược lại, các hoạt động dịch vụ sẽ đáp ứng các yêu cầucủa doanh nghiệp giúp doanh nghiệp phát triển sản xuất Các dịch vụ liênquan trực tiếp đến phát triển K,CCN như dịch vụ tính dụng, ngân hàng; dịch
vụ bưu chính viễn thông, điện lực; dịch vụ kinh doanh cung cấp nhà ở côngnhân, cung cấp lương thực thực phẩm, thương mại và các dịch vụ khác nhưtiếp cận đất đai, tư vấn pháp lý doanh nghiệp, các dịch vụ vui chơi giải trí
Là bộ phận quan trọng trong sự phát triển các K,CCN, tỉnh Quảng Ngãi
đã có chỉ đạo “phát triển công nghiệp gắn liền với phát triển nông nghiệp vàdịch vụ” [27, tr.1] Với quan điểm trên, tỉnh đã chỉ đạo phát triển các loại dịch
vụ bảo đảm cho các K,CCN trên địa bàn tỉnh như: Quy hoạch quỹ đất khu dân
cư và xây dựng các công trình công cộng phục vụ dân sinh gồm: nhà trẻ,trường học, nhà văn hóa cộng đồng và khu vui chơi giải trí; xây dựng cơ sở hạ
Trang 34tầng viễn thông, mạng lưới điện đảm bảo cho hoạt động sản xuất; các loạihình dịch vụ ăn uống, dịch vụ vệ sinh công nghiệp, dịch vụ đảm bảo an ninhtrật tự ở các K,CCN.
1.2.4 Chỉ đạo các biện pháp bảo vệ môi trường trong các khu, cụm công nghiệp
Đi đôi với quan tâm đầu tư phát triển các K,CCN, tỉnh Quảng Ngãiluôn đặt ra yêu cầu cao về công tác bảo vệ môi trường Với chủ trương “quản
lý, khai thác, sử dụng hợp lý và có hiệu quả các nguồn tài nguyên, gắn vớibảo vệ môi trường đảm bảo cho kinh tế - xã hội phát triển nhanh, bềnvững”[13, tr.6] Công tác chỉ đạo thực hiện bảo vệ môi trường trong hoạtđộng xây dựng, sản xuất của các K,CCN được quan tâm thường xuyên, hiệuquả từ khâu quy hoạch, đăng ký đầu tư và xử lý nghiêm túc các vi phạm.UBND tỉnh Quảng Ngãi đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo về bảo vệ môitrường Như Kế hoạch bảo vệ môi trưởng tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2006 -
2010 và định hướng đến năm 2020; Kế hoạch thực hiện Chỉ thị số 29-CT/TƯngày 21/01/2009 của Ban Bí thư Trung ương về tiếp tục đẩy mạnh thực hiệnNghị quyết số 41-NQ/TƯ của Bộ Chính trị (Khóa IX) về bảo vệ môi trườngtrong thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH; Quyết định số 1049/QĐ-UBND về việcphê duyệt danh mục và kế hoạch xử lý các cơ sở gây ô nhiệm môi trường, ônhiễm môi trường nghiệm trọng và kế hoạch xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môitrường, ô nhiễm môi trường nghiêm trọng năm 2008
Đối với các KCN, tỉnh chỉ đạo công tác thanh tra, kiểm tra các cơ sởsản xuất, kinh doanh, đồng thời xử lý nghiêm những cơ sở có những hành vi
vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường Công tác thẩm định đánh giá tácđộng môi trường luôn được cải tiến nâng cao chất lượng hiệu quả, công táchậu thẩm định được đẩy mạnh cả về số lượng và chất lượng để giảm sát việctuân thủ các nôi dung cam kết của chủ dự án về bảo vệ môi trường Tỉnh yêu
Trang 35cầu các doanh nghiệp trước khi đầu tư vào các KCN phải tiến hành lập hồ sơmôi trường, được phê duyệt thông qua mới được triển khai thực hiện dự án.
Trong xử lý các doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường, tỉnh đã chỉ đạo
cơ quan liên quan như Sở tài nguyên và Môi trường, cảnh sát phòng chống tộiphạm về môi trường xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm Riêng trong năm
2008, UBND tỉnh đã lập danh sách và kế hoạch xử lý 04 cơ sở doanh nghiệpchủ yếu hoạt động trong các KCN gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, cóbiện pháp xử lý hiệu quả
Đối với các CCN, công tác chỉ đạo về bảo vệ môi trường được tỉnh quyđịnh chặt chẽ ngay khi đầu tư vào CCN chủ dự án có trách nhiệm thực hiệnđúng những nội dung đã được nêu trong báo cáo đánh giá tác động môitrường và thực hiện những yêu cầu: Chỉ tiếp nhận vào CCN các dự án đầu tưthuộc những ngành công nghiệp như đã được phê duyệt trong báo cáo tácđộng môi trường; thiết kế và xây dựng hệ thống cấp thoát nước và xử lý nướcthải hợp lý, đảm bảo chất lượng không khí theo tiêu chuẩn Nhà nước quyđịnh, thu gom và vận chuyển, xử lý chất thải rắn công nghiệp, rác thải sinhhoạt, đảm bảo kinh phí để thực hiện các hoạt động bảo vệ môi trường Đồngthời phải có báo cáo bằng văn bản về những thay đổi nội dung báo cáo đánhgiá tác động môi trường đã được phê duyệt và chỉ được hoạt động khi đã có
sự đồng ý bằng văn bản của cơ quan quản lý nhà nước về môi trường
Những hoạt động chỉ đạo của tỉnh Quảng Ngãi về bảo vệ môi trường ởcác K,CCN trên địa bàn của tỉnh trong giai đoạn 2005 - 2010 đã đạt đượcnhững kết quả quan trọng trong thực tế xây dựng và phát triển K,CCN Hạnchế thấp nhất tác hại đến môi trường trong các hoạt động của các K,CCN đốivới môi trường của tỉnh
*
* *Xác định phát triển công nghiệp là nhiệm vụ đột phá của tỉnh, trong đóphát triển các K,CCN làm trụ cột cho sự phát triển của công nghiệp Trong
Trang 36giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2010, Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi đã quán triệttriển khai chủ trương của Đảng và sự chỉ đạo của Trung ương về phát triểncông nghiệp; đánh giá đúng tiềm năng, thế mạnh của tỉnh, tranh thủ nhữngthời cơ thuận lợi đề ra chủ trương phát triển các K,CCN Đồng thời, trong côngtác chỉ đạo luôn bám sát mục tiêu, nhiệm vụ của phát triển K,CCN, thực hiện cóhiệu quả cao trong xây dựng quy hoạch, điều chỉnh bổ sung; phát triển cơ sởHTKT, đào tạo thu hút nguồn nhân lực có chất lượng cao; cải cách thủ tục hànhchính tạo môi trường đầu tư thuận lợi Do đó, trong giai đoạn 2005 - 2010, cácK,CCN trên địa bàn của tỉnh luôn phát triển cả về số lượng và chất lượng Hiệuquả trong sản xuất kinh doanh của các KCCN đã có những đóng góp to lớn vào
sự phát triển KT - XH, nâng cao đời sống nhân dân và đảm bảo QP,AN trên địabản của tỉnh Thành tựu đó cũng là tiền đề cho của Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãitiếp tục lãnh đạo đẩy mạnh phát triển KCCN trong những năm tiếp theo
Trang 37Chương 2
ĐẢNG BỘ TỈNH QUẢNG NGÃI LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN
KHU, CỤM CÔNG NGHIỆP (2011 - 2015)
2.1 Yêu cầu mới và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi về đẩy mạnh phát triển khu, cụm công nghiệp (2011 - 2015)
2.1.1 Yêu cầu mới về đẩy mạnh phát triển khu, cụm công nghiệp của tỉnh Quảng Ngãi (2011 - 2015)
* Chủ trương của Đảng phát triển công nghiệp và KCCN (2011 2015)
-Trên cơ sở đánh giá khách quan tình hình thế giới tạo ra những thời cơ,thách thức mới và kết quả thực hiện các mục tiêu KT - XH kế hoạch 5 năm doĐại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đề ra cơ bản hoàn thành, bêncạnh vẫn còn tồn tại những hạn chế, yếu kém Đại hội Đại biều toàn quốc lầnthứ XI của Đảng đã rút ra những kinh nghiệm, chỉ ra nguyên nhân tồn tại vàtìm cách khắc phục Trong giai đoạn mới, Đại hội tiếp tục đề ra mục tiêu chiếnlược trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường trong 10 năm 2011
- 2020 Với mục tiêu tổng quát là: “Phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản
trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; chính trị - xã hội ổn định, dân chủ, kỷ cương, đồng thuận; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế tiếp tục được nâng lên; tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn trong giai đoạn sau” [19,
tr.103]
Đối với phát triển công nghiệp, Đại hội chủ trương cần cơ cấu lại sảnxuất công nghiệp cả về ngành kinh tế - kỹ thuật, vùng và giá trị mới Tănghàm lượng KH,CN và tỷ trọng giá trị nội địa trong sản phẩm Phát triển cóchọn lọc công nghiệp chế biến, chế tác, công nghiệp công nghệ cao, côngnghiệp năng lượng, khai khoáng, luyện kim, hoá chất, công nghiệp quốcphòng Ưu tiên phát triển các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh, sản phẩm có khả
Trang 38năng tham gia mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu thuộc các ngành côngnghiệp công nghệ cao, công nghiệp cơ khí, công nghiệp công nghệ thông tin
và truyền thông, công nghiệp dược phát triển mạnh công nghiệp hỗ trợ Chútrọng phát triển công nghiệp phục vụ nông nghiệp, nông thôn, năng lượng sạch
và vật liệu mới đi đôi với áp dụng công nghệ tiết kiệm năng lượng, nguyênliệu Từng bước phát triển công nghiệp sinh học và công nghiệp môi trường.Tiếp tục phát triển phù hợp các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động
Đối với phát triển K,CCN, Đại hội nhấn mạnh: “Phát huy hiệu quả cáckhu, cụm công nghiệp và đẩy mạnh phát triển công nghiệp theo hình thức cụm,nhóm sản phẩm tạo thành các tổ hợp công nghiệp quy mô lớn và hiệu quả cao;hoàn thành việc xây dựng các khu công nghệ cao và triển khai xây dựng một sốkhu nghiên cứu cải tiến kỹ thuật và đổi mới công nghệ Thực hiện phân bốcông nghiệp hợp lý trên toàn lãnh thổ, bảo đảm phát triển cân đối và hiệu quảgiữa các vùng” [19, tr.113]
* Những thuận lợi, thời cơ mới để tỉnh Quảng Ngãi tiếp tục đẩy mạnh phát triển K,CCN
Trong 5 năm (2005 - 2010) tỉnh Quảng Ngãi đã đạt được những kếtquả khả quan trong phát triển KT - XH Riêng trong lĩnh vực công nghiệp,Quảng Ngãi là tỉnh đứng thứ 2 trong thu hút vốn đầu tư FDI trong toàn vùng
Từ kết quả đã đạt được, ngày 10 tháng 11 năm 2010, Thủ tướng Chính phủ đã
ký Quyết định số: 2052/QĐ-TTg Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển KT
- XH tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2020 Với quan điểm phát triển nhằm pháthuy cao nhất tiểm năng, lợi thế của địa phương; sử dụng có hiệu quả mọinguồn lực tập trung vào các ngành then chốt để phát triển KT - XH, đồng thờikhông ngừng hoàn thiện thể chế và cơ chế điều hành, thực hiện mục tiêu pháttriển hướng ngoại, mở cửa, chủ động hội nhập, mở rộng giao lưu kinh tế trướchết với các tỉnh Duyên hải Trung bộ và Tây nguyên và Tam giác phát triển banước Việt Nam - Lào - Campuchia Phấn đấu thực hiện mục tiêu đưa Quảng
Trang 39Ngãi lên vị trí cao về phát triển trong số các tỉnh thuộc Vùng kinh tế trọngđiểm miền Trung vào năm 2020.
Ngày 13 tháng 10 năm 2014, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định
số1874/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển KT - XH vùngKinh tế trọng điểm miền Trung đến năm 2020, định hướng đến năm 2030.Trong định hướng trong phát triển công nghiệp của Vùng, Quảng Ngãi đượcTrung ương xác định là một trong ba tỉnh phát triển các trung tâm côngnghiệp lớn Trong đó, chú trọng phát triển các ngành công nghiệp có tiềmnăng, lợi thế gắn với biển như cơ khí, đóng mới và sửa chữa tàu thuyền Từngbước phát triển ngành điện tử và công nghệ thông tin hiện đại để hỗ trợ chocác ngành công nghiệp khác phát triển; đẩy mạnh phát triển các ngành côngnghiệp hỗ trợ, công nghiệp chế biến; ngành dệt may, giầy da
Với chủ trương của Trung ương tập trung phát triển Vùng kinh tế trọngđiểm Miền Trung là cơ sở quan trọng để tỉnh Quảng Ngãi tiếp tục tận dụngthời cơ, tập trung lãnh đạo phát triển các K,CCN trong giai đoạn mới
* Vai trò các K,CCN đối với sự phát triển KT - XH của tỉnh trong giai đoạn tiếp theo
Trong giai đoạn 2005 - 2010, các K,CCN trên địa bàn tỉnh đã có nhữngđóng góp to lớn vào sự phát triển chung của nền KT - XH, nâng cao đời sốngvật chất, tinh thần của nhân dân, đảm bảo QP,AN của tỉnh Các K,CCN đãtừng bước khẳng định vị trí nòng cốt trong sự phát triển công nghiệp của tỉnhtrong thời gian qua Trong giai đoạn 2010 - 2015, với những điều kiện thuậnlợi về tiềm năng, thế mạnh, sự ưu tiên phát triển của Trung ương cho tỉnhQuảng Ngãi và những kết quả, kinh nghiệm đã đạt được trong lãnh đạo, chỉđạo phát triển K,CCN trong giai đoạn trước, Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi tiếptục đẩy mạnh phát triển các K,CCN nhằm đạt được kết quả cao hơn nữa, gópphần thực hiện đến năm 2020 đưa Quảng Ngãi trở thành tỉnh công nghiệp
2.1.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi đẩy mạnh phát triển khu, cụm công nghiệp từ năm 2011 đến năm 2015
Trang 40Quán triệt nội dung Đại hội Đại biểu lần thứ XI của Đảng về phát triểncông nghiệp, căn cứ vào tình hình và nhiệm vụ cụ thể của tỉnh Trong giaiđoạn từ năm 2011 đến năm 2015, Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi tiếp tục lãnh đạođẩy mạnh phải triển các K,CCN trên địa bàn tỉnh Nội dung chủ trương của Đảng
bộ tỉnh lãnh đạo phát triển K,CCN được thể hiện trong các văn kiện như: Vănkiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi lần thứ XVIII, nhiệm kỳ 2010 -2015; Tỉnh ủy khoá XVIII ban hành Nghị quyết số 01 “Về đẩy mạnh phát triểncông nghiệp trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2011 - 2015 và định hướng đến năm2020”
* Mục tiêu
Mục tiêu tổng quát
Trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2015, Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãixác định phát triển công nghiệp tiếp tục là nhiệm vụ đột phá của tỉnh Do đó,Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi đã đề ra mục tiêu tổng quát phát triển công nghiệp
đó là: “Tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng bộ, phát huy sức mạnh của
cả hệ thống chính trị, đẩy mạnh phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh vớinhịp độ cao, hiệu quả và bền vững, không ngừng nâng cao đời sống nhân dân,thực sự là nhiệm vụ đột phá trong phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh tronggiai đoạn 2011 - 2015; tạo nền tảng vững chắc để phấn đấu đến năm 2020Quảng Ngãi cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại” [51, tr.5]
Đối với các K,CCN trong tỉnh, Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi chủ trương:
“Tập trung phát triển công nghiệp ở các khu công nghiệp và các các cụm côngnghiệp làng nghề” [14, tr.59] Phát huy tiềm năng về đất đai, tài nguyên, laođộng để phát triển các ngành có giá trị gia tăng cao như: gia công kim loại,đóng tàu, khai khoáng ; đồng thời phát triển công nghiệp nhẹ trong các KCNvới các ngành sử dụng nhiều lao động và nguyên liệu tại chỗ như công nghiệpchế biến nộng, lâm, thủy sản; công nghiệp dệt may, điện tử, tin học, vật liệuxây dựng và các ngành công nghiệp phụ trợ khác