1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TÀI LIỆU THAM KHẢO ĐẢNG bộ THÀNH PHỐ hà nội LÃNH đạo bồi DƯỚNG lí LUẬN CHÍNH TRỊ CHO cán bộ ở cấp cơ sở từ năm 2008 đến năm 2015

92 297 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho đội ngũ cán bộ nói chung và CBCCS nói riêng là công tác thường xuyên, quan trọng của Đảng nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ có phẩm chất, năng lực trí tuệ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của từng giai đoạn cách mạng. Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ. Trong quá trình lãnh đạo, nhất là thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế, việc đào tạo, bồi dưỡng LLCT, xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất và năng lực tốt là một trong những khâu quan trọng, có ý nghĩa đặc biệt trong công tác cán bộ của Đảng.

Trang 1

“Đảng bộ thành phố Hà Nội lãnh đạo công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận

chính trị cho cán bộ cấp cơ sở từ năm 2008 đến năm 2015”

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho đội ngũ cán bộ nói chung và CBCCS nóiriêng là công tác thường xuyên, quan trọng của Đảng nhằm xây dựng đội ngũcán bộ có phẩm chất, năng lực trí tuệ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của từng giaiđoạn cách mạng Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, làkhâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng, gắn liền với vận mệnh của Đảng,của đất nước và chế độ Trong quá trình lãnh đạo, nhất là thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH và hội nhập quốc tế, việc đào tạo, bồi dưỡng LLCT, xây dựng đội ngũ cán

bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất và năng lực tốt là một trong nhữngkhâu quan trọng, có ý nghĩa đặc biệt trong công tác cán bộ của Đảng

Thủ đô Hà Nội là Trung tâm chính trị - Hành chính quốc gia, nơi đặt trụ

sở của các cơ quan Trung ương Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội,

cơ quan đại diện ngoại giao, tổ chức quốc tế, là trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa,giáo dục, khoa học và công nghệ và giao dịch quốc tế của các nước Nhận thức rõ

vị thế của Thủ đô và tầm quan trọng của công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT chocán bộ, Đảng bộ thành phố Hà Nội thường xuyên quan tâm chỉ đạo các cấp ủyĐảng, các cơ quan chức năng không ngừng bồi dưỡng về chính trị, tư tưởng vànăng lực cho đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là đội ngũ CBCCS Tuy nhiên, do nhiềunguyên nhân, đội ngũ cán bộ nói chung, đội ngũ CBCCS nói riêng vẫn còn nhiềubất cập chưa ngang tầm với nhiệm vụ được giao Một trong những nguyên nhân là

do trình độ LLCT của CBCCS còn hạn chế, công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCTchưa đáp ứng được yêu cầu, chưa được đổi mới toàn diện Vì vậy, nghiên cứu,làm rõ quá trình Đảng bộ thành phố Hà Nội lãnh đạo công tác đào tạo, bồi dưỡng

về LLCT cho CBCCS là vấn đề có ý nghĩa quan trọng

Trang 2

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

* Nhóm thứ nhất, những công trình được xuất bản thành sách như:

Nguyễn Phú Trọng, Trần Xuân Sầm (2001), Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy CNH, HĐH đất nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Vũ Ngọc Am (2003), Đổi mới công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên ở cơ sở, Nxb Chính trị quốc gia,

Hà Nội; Nguyễn Đức Tài (2005), Đổi mới tư duy lý luận của Đảng ta, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Đinh Văn Ân, Hoàng Thu Hòa (2008), Giáo dục

và đào tạo chìa khóa của sự phát triển, Nxb Tài chính, Hà Nội; Phạm Tất Thắng, Nguyễn Thúy Anh, Phùng Văn Đông (2010), Đổi mới công tác tư tưởng, lý luận phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Phan Ngọc Liên (2010), Đảng Cộng sản Việt Nam với sự nghiệp giáo dục và đào tạo, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội; Phạm Tất Dong (2010), Giáo dục Việt Nam 1945 - 2010, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội; Trần Đình Thắng (2013), Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhà nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

Các công trình nghiên cứu trên đã nêu các luận cứ cho việc nâng caochất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy CNH, HĐH đất nước, đồng thờilàm rõ tầm quan trọng của công tác giáo dục, đào tạo; đào tạo, bồi dưỡngcán bộ, trong đó có đào tạo, bồi dưỡng, LLCT cho cán bộ, công chức, viênchức Một số công trình đã đi sâu phân tích, luận giải vấn đề bồi dưỡng, giáodục LLCT cho đội ngũ CBCCS, nêu những biện pháp nhằm nâng cao chấtlượng công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên,công chức, viên chức ở cơ sở

Trang 3

* Nhóm thứ hai, các luận văn, luận án, đề tài khoa học:

Lê Văn Minh (2007), Đảng bộ tỉnh Bình Định lãnh đạo công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở miền núi từ năm 1996 đến năm 2006, Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng

Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội; Bùi

Đức Lý (2010), Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cấp cơ sở từ năm 1996 đến năm

2006, Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội; Cầm Thị Lai (2012),

Đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị - hành chính cho đội ngũ cán bộ chuyên trách cấp xã ở các tỉnh Tây Bắc giai đoạn hiện nay, Luận án Tiến sĩ

khoa học chính trị, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội;

Nguyễn Thanh Xuân (2014), Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lãnh đạo công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cấp cơ sở từ năm

2006 đến năm 2014, Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng

sản Việt Nam, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Đây làcác đề tài đi sâu nghiên cứu vấn đề đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho đội ngũCBCCS ở các địa phương Tùy theo góc độ tiếp cận vấn đề của mỗi đề tài,trên từng địa phương cụ thể, các tác giả đã luận giải vị trí, vai trò, tầm quantrọng của công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho đội ngũ CBCCS; phântích thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho đội ngũ CBCCS ởđịa phương, trên cơ sở đó làm rõ các chủ trương, biện pháp và tổng kết một

số kinh nghiệm trong đào tạo, bồi dưỡng LLCT ở các địa phương đó

Tổng quan khoa học đề tài cấp Bộ của Học viện Chính trị quốc gia

Hồ Chí Minh, Phân viện Hà Nội (2004), Nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị của đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp xã hiện nay (qua khảo sát một số tỉnh, thành phố phía Bắc nước ta) đã đề cập đến: Cơ sở xác định

nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho đội ngũ lãnh đạo chủ chốt cấp xã hiện

Trang 4

nay ở nước ta Thực trạng nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho đội ngũ lãnhđạo chủ chốt cấp xã hiện nay ở nước ta Quan điểm chỉ đạo, phương hướngnhiệm vụ cơ bản, và giải pháp chủ yếu đáp ứng nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng vềLLCT cho đội ngũ lãnh đạo chủ chốt cấp xã hiện nay ở nước ta.

* Nhóm thứ ba, các bài báo khoa học được đăng tải trên các tạp chí:

Hoàng Chí Bảo (2005), “Đảng bộ xã lãnh đạo việc xây dựng hệ thống

chính trị ở cơ sở nông thôn hiện nay”, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 2; Ngô Thành

Can (2010), “Đổi mới, nâng cao hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công

chức”, Tạp chí Quản lý Nhà nước, số 175; Đặng Khắc Ánh (2012), “Đào tạo, bồi dưỡng theo vị trí việc làm- những khó khăn và kiến nghị”, Tạp chí Quản

lý Nhà nước, số 193; Ngô Thị Kim Dung (2012), “Một số biện pháp tạo động lực cho cán bộ, công chức cấp cơ sở trong quá trình thực thi công vụ”, Tạp chí Quản lý Nhà nước, số 194; Phúc Sơn (2012), “Giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ cấp xã đạt chuẩn”, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 5; Nguyễn Đăng Quế (2013), “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cơ sở ở Tây Nguyên”, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 9; Đinh Văn Tiến, Thái Vân Hà (2013), “Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức trong tình hình mới”, Tạp chí Quản lý Nhà nước, số 209; Nguyễn Huy Thám (2014), “Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ - đôi điều chia sẻ kinh nghiệm từ thành phố Hà Nội” Tạp chí Lý luận chính trị, số 3; Trần Đình Thắng (2014), “Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở của Việt Nam”, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 1;

Đoàn Văn Dũng (2014), “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức từ góc

nhìn chuỗi kết quả và chỉ số đánh giá”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 4;

Phạm Công Hiệp (2014), “Một số điểm mới của chương trình đào tạo trung

cấp lý luận chính trị - hành chính”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 9; Nguyễn

Huy Thám (2014), “Một số kinh nghiệm trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ

của Trường Đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong”, Tạp chí Lý luận chính trị, số

Trang 5

11; Hoàng Chung Hiếu (2014), “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về huấnluyện cán bộ trong bồi dưỡng năng lực và phương pháp huấn luyện cho đội ngũ

cán bộ ở các đơn vị cơ sở”, Tạp chí Giáo dục Lý luận chính trị quân sự, số 6; Trần

Văn Dũng (2015), “Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức thật sự là công bộc của

dân- mục tiêu nhất quán của Đảng và Nhà nước ta”, Tạp chí Giáo dục Lý luận chính trị quân sự, số 4 Các bài báo khoa học trên đã phác họa một bức tranh tổng

thể về vấn đề đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nói chung,đào tạo, bồi dưỡng, LLCT cho đội ngũ CBCCS nói riêng

Các công trình khoa học trên đã đi sâu nghiên cứu các khía cạnh khácnhau của của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nói chung, đào tạo, bồi dưỡngđội ngũ CBCCS nói riêng Một số công trình đã phân tích rõ thực trạng, đưa ranhững giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũcán bộ, công chức, viên chức; đặc biệt là có một số bài nghiên cứu phân tích thựctrạng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của thành phố Hà Nội và bước đầu kháiquát các kinh nghiệm nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng củathành phố Các công trình tuy đa dạng, phong phú, phản ánh nhiều mặt, nhiều góc

độ khác nhau của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức song không phải

là công trình nghiên cứu chuyên sâu về đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho đội ngũ cán

bộ Đặc biệt, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách chuyên sâu, có tính hệthống về quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ thành phố Hà Nội đối với côngtác đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho đội ngũ CBCCS từ năm 2008 đến năm 2015,dưới góc độ khoa học Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam Tuy nhiên, những côngtrình trên là những tài liệu tham khảo có giá trị để tác giả kế thừa có chọn lọctrong quá trình thực hiện đề tài của mình

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích nghiên cứu

Làm sáng tỏ quá trình Đảng bộ thành phố Hà Nội lãnh đạo công tácđào tạo, bồi dưỡng LLCT cho đội ngũ CBCCS giai đoạn từ năm 2008 đếnnăm 2015; trên cơ sở đó đưa ra nhận xét, đúc rút kinh nghiệm quá trình

Trang 6

Đảng bộ thành phố Hà Nội lãnh đạo công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT chođội ngũ CBCCS và vận dụng vào hiện thực.

* Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ những nhân tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộthành phố Hà Nội đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho đội ngũCBCCS từ năm 2008 đến năm 2015

- Phân tích làm rõ chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng bộ thành phố

Hà Nội đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho đội ngũ CBCCS từnăm 2008 đến năm 2015

- Rút ra những nhận xét và kinh nghiệm từ quá trình lãnh đạo củaĐảng bộ thành phố Hà Nội đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT chođội ngũ CBCCS để vận dụng vào hiện thực

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ thành phố Hà Nội đốivới công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho CBCCS

* Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Nghiên cứu chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ

thành phố Hà Nội đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho cán bộchính quyền cấp cơ sở

- Về thời gian: Từ năm 2008 đến năm 2015 Tuy nhiên, trong quá

trình thực hiện luận văn, tác giả có sử dụng một số vấn đề có liên quan giaiđoạn trước năm 2008

- Về không gian: Trên địa bàn thành phố Hà Nội

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

* Phương pháp luận

Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng

và duy vật lịch sử chủ nghĩa Mác - Lênin; phương pháp luận sử học mácxít

* Phương pháp nghiên cứu

Trang 7

Tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp lôgic và kếthợp hai phương pháp đó Ngoài ra, sử dụng một số phương pháp khác: so sánh,đồng đại, lịch đại, thống kê, phân tích, tổng hợp, và phương pháp chuyên gia.

6 Ý nghĩa của đề tài

Luận văn góp phần hệ thống hóa chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng bộthành phố Hà Nội về công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho CBCCS Khẳngđịnh tính đúng đắn, sáng tạo của Đảng bộ thành phố Hà Nội trong lãnh đạocông tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho CBCCS; cung cấp cơ sở lý luận vàthực tiễn để tổng kết, rút kinh nghiệm hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ thànhphố Hà Nội về công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho đội ngũ CBCCS trongnhững năm tiếp theo

Đề tài được sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho nghiên cứu,giảng dạy Lịch sử Đảng ở Trường Đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong thành phố

Hà Nội và trung tâm bồi dưỡng chính trị các quận, huyện trên địa bàn thànhphố Hà Nội Ngoài ra, đề tài có thể được sử dụng cho các tổ chức, cá nhân củaĐảng bộ thành phố Hà Nội, hệ thống chính trị ở cơ sở và những ai quan tâm

7 Kết cấu của đề tài

Đề tài gồm: Mở đầu, 2 chương (5 tiết), kết luận, danh mục tài liệutham khảo và các phụ lục

Trang 8

Chương 1 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HÀ NỘI

VỀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO CÁN BỘ CẤP CƠ SỞ TỪ NĂM 2008 ĐẾN NĂM 2015

1.1 Những nhân tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ thành phố Hà Nội về công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ cấp cơ sở (2008 - 2015)

1.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Hà Nội

* Một số khái niệm liên quan

Thứ nhất, cán bộ, công chức:

Cán bộ: Theo Từ điển tiếng Việt, “cán bộ” là người làm việc trong cơ

quan, đoàn thể, đảm nhiệm một công tác lãnh đạo hoặc công tác quản lý,công tác nghiệp vụ chuyên môn nhất định

Luật cán bộ, công chức năm 2008 quy định “cán bộ” là công dân

Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theonhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chứcchính trị - xã hội ở Trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương(gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọichung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước

Công chức: Theo Luật Cán bộ, công chức năm 2008, “công chức” là

công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chứcdanh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính

Trang 9

trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộcQuân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, côngnhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà khôngphải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lýcủa đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổchức chính trị - xã hội (gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biênchế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máylãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được đảm bảo từquỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.

Thứ hai, cán bộ cơ sở:

Luật Cán bộ, công chức năm 2008 khẳng định: Cán bộ xã, phường,

thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cửgiữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong thường trực hội đồng nhân dân, ủy bannhân dân, bí thư, phó bí thư đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xãhội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chứcdanh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế

và hưởng lương từ ngân sách nhà nước

Đội ngũ cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn là những cán bộ trong

bộ máy lãnh đạo và quản lý ở cấp cơ sở Theo Nghị định số 92/2009/NĐ

-CP, ngày 22 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ, Về chức danh, số lượng, một

số chính sách đối với đội ngũ cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã bao gồm “cán bộ

chuyên trách, công chức và những người hoạt động không chuyên trách” [33,tr.0l]

Cán bộ chuyên trách là những người giữ chức vụ bầu cử theo nhiệm kỳ

ở cấp xã (gọi chung là cán bộ cấp xã) bao gồm: Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ;Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ bannhân dân; Chủ tịch ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Bí thư Đoàn Thanh

Trang 10

niên Cộng sản Hồ Chí Minh; Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; Chủtịch Hội Nông dân Việt Nam; Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam.

Công chức cấp xã là những người được tuyến dụng gồm: trưởng công an;

chỉ huy trưởng quân sự; văn phòng - thống kê; địa chính - xây dựng - đô thị vàmôi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính nông nghiệp - xây dựng vàmôi trường (đối với xã); tài chính - kế toán; tư pháp - hộ tịch; văn hóa - xã hội

Những người hoạt động không chuyên trách cấp xã: gồm Chủ tịch Hội

người cao tuổi; Chủ tịch Hội chữ thập đỏ; Phó Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổquốc; Phó Chủ tịch các đoàn thể; Phó Trưởng Công an, Phó Chỉ huy trưởngquân sự, cán bộ Văn phòng Đảng uỷ, cán bộ Dân số - Gia đình - Trẻ em

Thứ ba, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ:

Đào tạo: Theo Từ điển tiếng Việt của Trung tâm từ điển ngôn ngữ Hà Nội

thì “đào tạo” là “dạy dỗ, rèn luyện để trở nên người có hiểu biết, có nghề nghiệp”

[115, tr.593] Từ điển tiếng Việt của Trung tâm từ điển học thì “đào tạo” nghĩa là

“làm cho trở thành người có năng khiếu, có khả năng làm việc theo những tiêu

chuẩn nhất định” [116, tr 369] Điều 5 khoản (1) Nghị định số 18/2010/NĐ - CP ngày 05 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng công chức lại

giải thích: “Đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức,

kỹ năng theo quy định của từng cấp học, bậc học” [34, tr.2]

Bồi dưỡng: “bồi dưỡng” là “làm cho tốt hơn, giỏi hơn” [115, tr.191].

hoặc là “làm cho tăng thêm trình độ, năng lực hoặc phẩm chất” [116, tr.107]

Theo Điều 5 khoản (2) Nghị định số 18/2010/NĐ - CP ngày 05/03/2010 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng công chức đã nêu rõ: “Bồi dưỡng là hoạt

động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc” [34, tr.2]

Như vậy, bồi dưỡng cán bộ cũng là quá trình tác động đến tâm lý,nhân cách của người cán bộ, làm cho họ tốt hơn về đạo đức và giỏi hơn vềnăng lực chuyên môn nghiệp vụ Xét một cách tổng quát thì khái niệm “đào

Trang 11

tạo cán bộ” bao hàm cả ý nghĩa “bồi dưỡng cán bộ”; vì vậy cụm từ “đào tạo,bồi dưỡng cán bộ” thường được sử dụng trong thực tế.

Tuy nhiên, bồi dưỡng cán bộ có những đặc điểm cơ bản khác với đàotạo là: Bồi dưỡng cán bộ chủ yếu là bổ sung, cập nhật kiến thức, thông tin vàonhững tri thức mà cán bộ đã có Nội dung bồi dưỡng LLCT, hành chính hướngvào những quan điểm, chủ trương, chính sách mới của Đảng và Nhà nước, cậpnhật những kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ quản lý hành chính Hình thứccủa bồi dưỡng đa dạng, linh hoạt: có bồi dưỡng nâng cao, cập nhật, chuyên sâutheo chức danh; có bồi dưỡng nhiều lần, hàng năm và được ghi nhận hoànthành bằng chứng nhận, chứng chỉ Thời gian bồi dưỡng cán bộ trong thực tếthường trong khoảng một vài tuần đến một vài tháng Hình thức bồi dưỡng cán

bộ có thể được tổ chức một cách “mềm dẻo” hơn, thậm chí trong một số hoàncảnh không nhất thiết phải tập trung (ví dụ như thông qua việc cung cấp tàiliệu, sách vở hoặc những lời chỉ dẫn cho người được bồi dưỡng)

Việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cần được tiến hành trên cơ sở khoahọc, trước hết là khoa học tâm lý và giáo dục Bồi dưỡng có thể áp dụng đốivới mọi đối tượng cán bộ, còn đào tạo diễn ra thuận lợi, hiệu quả khi cán bộ

ở độ tuổi dưới 40

Thứ tư, lý luận chính trị

“Lý luận chính trị ” theo nghĩa chung nhất là lý luận trong lĩnh vực

chính trị, phản ánh mối quan hệ của các giai cấp trong việc giành và giữchính quyền LLCT ra đời khi xã hội có giai cấp và đấu tranh giai cấp đểphản ánh tính quy luật của các quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, thểhiện lợi ích và thái độ của các giai cấp đối với quyền lực nhà nước Về mụcđích, LLCT nhằm trang bị thế giới quan và thúc đẩy hành vi thực hiện mụctiêu, lý tưởng chính trị của giai cấp Do vậy, LLCT có vai trò rất quan trọngđối với một chính đảng, đặc biệt là đối với chính đảng vô sản, vì trong cuộc

Trang 12

đấu tranh thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình, giai cấp công nhân sẽ khôngthành công nếu như không có được lý luận tiền phong soi đường, dẫn lối.

LLCT của giai cấp là sự khái quát tri thức nhân loại và tổng kết kinhnghiệm phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản thế giới, là công cụ đắc lực

để giành và giữ chính quyền của giai cấp vô sản ở mỗi nước

Ở nước ta, LLCT là hệ thống những nguyên lý của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đường lối của Đảng, chính sách, phápluật của Nhà nước, phản ánh tính quy luật của các quan hệ kinh tế, chính trị,văn hóa trong thời kỳ quá độ lên CNXH, thể hiện lợi ích, thái độ của giai cấpcông nhân và nhân dân lao động để xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN củanhân dân, do nhân dân vì nhân nân dưới sự lãnh đạo của Đảng, là công cụ quantrọng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN

-Đào tạo, bồi dưỡng LLCT là quá trình trang bị hệ thống những nguyên

lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chủ trương,đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm hình thành và nâng cao nănglực, trình độ trí tuệ, phẩm chất, đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, giúp họhoàn thành tốt nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước, đoàn thể giao phó

* Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Hà Nội

Hà Nội là trung tâm chính trị - hành chính quốc gia, là trung tâm kinh

tế, văn hóa - xã hội Đặc điểm lớn nhất về điều kiện tự nhiên và KT - XHcủa thành phố Hà Nội trong giai đoạn 2008 - 2015 đó là việc điều chỉnh địagiới hành chính Ngày 29 tháng 5 năm 2008, Quốc hội nước Cộng hoàXHCN Việt Nam đã thông qua Nghị quyết số 15/2008/NQ - QH12 về việcđiều chỉnh địa giới hành chính thành phố Hà Nội và một số tỉnh có liênquan, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 08 năm 2008 Theo Nghị quyết, thànhphố Hà Nội được mở rộng với toàn bộ diện tích tỉnh Hà Tây, huyện MêLinh (Vĩnh Phúc) và 4 xã của huyện Lương Sơn (Hòa Bình); có diện tích3.344,7 km2 với dân số khoảng 6,23 triệu người Hà Nội hiện nay có 29

Trang 13

quận, huyện và 01 thị xã, có vị trí từ 20°53' đến 21°23' vĩ độ Bắc và105°44' đến 106°02' kinh độ Đông, phía Bắc tiếp giáp với các tỉnh TháiNguyên, Vĩnh Phúc; phía Nam tiếp giáp Hà Nam , Hòa Bình; phía Đôngtiếp giáp Bắc Ninh, Hưng Yên; phía Tây tiếp giáp Hòa Bình, Phú Thọ.

Đảng bộ Hà Nội sau khi mở rộng địa giới hành chính có 58 đảng bộtrực thuộc (l0 đảng bộ quận; 19 đảng bộ huyện, thị xã; 5 đảng bộ khối; 21đảng bộ cấp trên cơ sở và 03 đảng bộ cơ sở trực thuộc Thành ủy); có 2.955

tổ chức cơ sở đảng; 17.432 đảng bộ bộ phận, chi bộ trực thuộc cơ sở với367.340 đảng viên Đến nay, Đảng bộ thành phố Hà Nội có 59 đảng bộ trựcthuộc (12 đảng bộ quận, 18 đảng bộ huyện, thị xã; 5 đảng bộ khối; 21 đảng

bộ trên cơ sở, 03 đảng bộ cơ sở trực thuộc Thành ủy); có 2.920 tổ chức cơ sởđảng, 375.058 đảng viên

Việc mở rộng Hà Nội là công việc khó khăn, phức tạp với khối lượngcông việc phải thực hiện rất lớn (diện tích, dân số, đơn vị hành chính tăng; tỷtrọng nông nghiệp, tỷ lệ hộ nghèo lớn, giao thông, thủy lợi,…trường học cònkhó khăn) Các cơ chế chính sách, quy mô, cấp độ, tính phức tạp trong quản lýgiữa các địa phương có sự khác biệt Trước khi mở rộng địa giới hành chính,mỗi địa phương có chiến lược, quy hoạch phát triển KT - XH; quy hoạch xâydựng đô thị mang đặc thù riêng, nay phải điều chỉnh cho thống nhất, phù hợpvới tình hình mới ở tất cả các lĩnh vực, từ công tác tổ chức bộ máy, công tácquy hoạch và rà soát các dự án đầu tư…Sau khi hợp nhất, số lượng cán bộ,công chức, viên chức trong hệ thống chính trị, các tổ chức đoàn thể, bộ máyhành chính các cấp, nhất là chính quyền cấp cơ sở có số lượng đông, chấtlượng không đồng đều; trụ sở làm việc của các cơ quan phân tán, không tậptrung gây khó khăn, ảnh hưởng đến việc đi lại của cán bộ, công chức, viênchức của thành phố và giải quyết công việc hành chính của nhân dân Đặcđiểm tự nhiên, KT - XH nêu trên đã có tác động không nhỏ đến mọi mặt, mọi

Trang 14

lĩnh vực hoạt động của thành phố Hà Nội, đặt ra yêu cầu mới đối với công tácđào tạo, bồi dưỡng cán bộ của thành phố, nhất là CBCCS.

1.1.2 Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ

C.Mác và Ph.Ăngghen là những người đặt nền móng cho vấn đề cán

bộ và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của giai cấp vô sản Từ kinh nghiệm rút ratrong lịch sử phát triển của xã hội loài người và quá trình truyền bá lý luậnkhoa học vào phong trào vô sản, hai ông khẳng định: Tư tưởng căn bản khôngthực hiện được gì hết, muốn thực hiện tư tưởng thì cần có những con người sửdụng lực lượng thực tiễn Theo luận điểm trên, “lực lượng thực tiễn” là toàn

bộ giai cấp vô sản và các tầng lớp nhân dân lao động bị áp bức, bóc lột đanghành động với những hình thức khác nhau trong cuộc đấu tranh với giai cấp

tư sản và các giai cấp bóc lột khác; còn những con người sử dụng “lực lượngthực tiễn” là những người định hướng, dẫn dắt hành động cho giai cấp vô sản

và quần chúng, đó là những đại biểu ưu tú nhất, lãnh tụ của phong trào côngnhân đã được giác ngộ lý luận của CNXH khoa học và là những người cộngsản đầu tiên của giai cấp vô sản Mác và Ăngghen đã nhận thức rõ vai trò củacán bộ và tầm quan trọng của công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho cán bộ

Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, (1848) C.Mác, Ph.Ăngghen

đã nêu lên hai đặc điểm cơ bản của người cộng sản, đó là lòng trung thành với

sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân và sự hiểu biết về lý luận Cácông đã chỉ rõ: giáo dục, bồi dưỡng LLCT cho đội ngũ cán bộ là một trongnhững nhiệm vụ hàng đầu của mỗi Đảng Cộng sản, đồng thời coi đây là điềukiện dẫn đến mọi thắng lợi của các phong trào cách mạng Nhờ được đào tạo,bồi dưỡng về LL cách mạng mà giai cấp vô sản tất yếu sẽ đảm nhận vai tròlãnh đạo nhờ sự hơn hẳn về lý luận và kinh nghiệm thực tiễn của mình

Kế thừa, phát triển tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về vấn đề cán

bộ, V.I.Lênin cho rằng: Trong lịch sử, chưa hề có một giai cấp nào giành

Trang 15

được quyền thống trị, nếu nó không đào tạo ra được trong hàng ngũ của mìnhnhững lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiền phong có đủ khả năng tổ chức vàlãnh đạo phong trào Theo V.I.Lênin, mỗi giai cấp muốn giành được quyềnthống trị thì trong hàng ngũ của mình phải có những nhà lãnh đạo có khả năngdẫn dắt phong trào và khi đã có đường lối đúng thì cán bộ là khâu quyết định

để biến đường lối đó thành hiện thực cách mạng Khi đã giành được chínhquyền, lãnh đạo công cuộc xây dựng CNXH, V.I.Lênin khẳng định: Nghiêncứu con người, tìm những cán bộ có bản lĩnh, hiện nay đó là then chốt; nếukhông thế thì tất cả mọi mệnh lệnh và quyết định sẽ chỉ là mớ giấy lộn.Theo người: Nhiệm vụ chính của cách mạng lúc này không chỉ là ra nghịquyết, mà cần phải có những người tổ chức thực hiện nghị quyết, nhữngcán bộ cách mạng Như vậy, theo V.I.Lênin, vị trí, vai trò của cán bộ gắnchặt với vai trò lãnh đạo của Đảng Đường lối chủ trương của Đảng có trởthành hiện thực cách mạng hay không, vai trò lãnh đạo và sức mạnh củaĐảng có được tăng cường hay không, Đảng có tồn tại, phát triển được haykhông chính là ở đội ngũ cán bộ Để có cán bộ tốt cần phải chú trọng côngtác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, trong đó trang bị cho cán bộ lý luận cáchmạng là một nội dung quan trọng

Khi nói về tầm quan trọng của lý luận, V.I.Lênin đã chỉ rõ: Không có

lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng; chỉ đảng nào có được

lý luận tiên phong hướng dẫn, thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sỹtiên phong Người khẳng định: “Trong lịch sử, chưa hề có một giai cấp nàogiành được quyền thống trị, nếu nó không đào tạo ra được trong hàng ngũcủa mình những lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiền phong có đủ khả năng

tố chức và lãnh đạo phong trào” [71, tr.143]

Là nhà hoạt động chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thấy rõ vai trò củangười cán bộ trong sự nghiệp cách mạng Với cách biểu đạt “gốc” và “ngọn” đểchỉ rõ vị trí và vai trò của vấn đề, Hồ Chí Minh cho rằng, cán bộ là cái gốc của

Trang 16

mọi công việc; rằng, muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt haykém Người cán bộ, trong quá trình hoạt động, ít nhiều đều phải trải qua quátrình đào tạo, bồi dưỡng với nhiều hình thức khác nhau, mà Hồ Chí Minh nhấnmạnh rằng, huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng Chủ tịch Hồ Chí Minhcũng sớm khẳng định vai trò nền tảng tư tưởng của lý luận đối với Đảng, tầmquan trọng của lý luận khoa học đối với thực tiễn phong trào cách mạng, Ngườinhấn mạnh: Đảng không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàukhông có bàn chỉ nam; “Đối với công việc kháng chiến và kiến quốc, lý luận làrất quan trọng Không hiểu lý luận thì như người mù đi đêm” [76, tr.276] Cóchủ nghĩa Mác - Lênin soi đường thì quần chúng nhân dân hành động mới đúngđắn, mới phát triển tài năng và lực lượng vô tận của họ.

Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản củachủ nghĩa Mác - Lênin Thực tiễn mà không có lý luận hướng dẫn thì thànhthực tiễn mù quáng Lý luận mà không có liên hệ với thực tiễn là lý luậnsuông Người chỉ rõ: “Lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng chochúng ta trong công việc thực tế” [74, tr.273] Theo Người, giáo dục LLCTgóp phần nâng cao trình độ văn hóa và chuyên môn, học tập lý luận khôngphải là để thuộc làu sách Mác - Lênin, không phải học một cách giáo điều mà

là học cái tinh thần xử trí đối với mọi việc, đối với mọi người và đối với bảnthân mình Hồ Chí Minh cho rằng đào tạo, bồi dưỡng LLCT là góp phần nângcao đạo đức cách mạng cho cán bộ đảng viên và quần chúng nhân dân; làmcho chủ nghĩa Mác - Lênin trở thành hệ tư tưởng chi phối, thống trị trong đờisống tinh thần xã hội, giúp cho cán bộ, đảng viên và nhân dân xây dựng thếgiới quan và phương pháp luận đúng đắn Tháng 05 năm 1966, tại lớp huấnluyện đảng viên mới do Thành uỷ Hà Nội tổ chức, Chủ tịch Hồ Chí Minhkhẳng định: “Không có lý luận về chủ nghĩa xã hội khoa học thì không thế cólập trường giai cấp vững vàng Vì vậy, các cô, các chú phải chịu khó học tập

lý luận Mác - Lênin, học tập đường lối, chính sách của Đảng; đồng thời phải

Trang 17

học tập văn hoá, kỹ thuật và nghiệp vụ” [77, tr.113] Người chỉ rõ: “Mỗi đảngviên phải tích cực học tập Phải thực hiện lời dạy của Lênin là học, học nữa, họcmãi Học phải đi đôi với hành Học để hành ngày càng tốt hơn; phải coi việc họctập lý luận chính trị là một nhiệm vụ quan trọng của mình” [77, tr.113] Đồngthời, Người cũng chỉ rõ là phải chống thói xem nhẹ học tập LLCT, vì “khônghọc tập lý luận thì chí khí kém kiên quyết, không trông xa thấy rộng,trong lúc đấu tranh dễ lạc phương hướng, kết quả là “mù chính trị”, thậmchí “hủ hoá xa rời cách mạng” [76, tr.280] Cùng với việc quán triệt chủnghĩa Mác - Lênin, các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước, Chủ tịch

Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ, đảng viên phải học kinh nghiệm của nhân dân,phải tổng kết phong trào của quần chúng để phát triển thành lý luận Đượcđào tạo, bồi dưỡng LLCT, mỗi người mới có trình độ giác ngộ cách mạng,nhận thức được quyền lợi và trách nhiệm của mình Người giải thích: “có nắmvững đường lối cách mạng mới thấy rõ phương hướng tiến lên của cáchmạng, mới hiểu rõ mình phải làm gì và đi theo phương hướng nào để thựchiện mục đích của Đảng trong giai đoạn cách mạng hiện nay” [77, tr.115]

1.1.3 Tầm quan trọng của công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ cấp cơ sở

Cán bộ là “gốc” của mọi công việc, công tác cán bộ là khâu then chốttrong công tác xây dựng Đảng, là mặt trọng yếu trong toàn bộ hoạt động củaĐảng ta, là nhân tố quyết định sự thành công của cách mạng Muốn có cán bộtốt, đủ phẩm chất và năng lực hoàn thành nhiệm vụ được giao, phải chú trọnglàm tốt công tác cán bộ ở tất cả các khâu, các bước: phát hiện, tuyển chọn,đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, sử dụng cánbộ Đào tạo, bồi dưỡng là khâu quan trọng trong công tác cán bộ Phải chútrọng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ toàn diện, trong đó đặc biệt là đào tạo, bồidưỡng LLCT Công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho đội ngũ cán bộ lànhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của Đảng, góp phần xây dựng đội ngũcán bộ trong hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở, nhất là chính quyền

Trang 18

cấp cơ sở có đủ phẩm chất chính trị, đạo đức và năng lực, phong cách làmviệc hiệu quả đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng.

Trong hệ thống chính quyền địa phương ở nước ta hiện nay thì cấp cơ

sở có một vị trí rất quan trọng, là cầu nối trực tiếp của hệ thống chính quyềnnhà nước với nhân dân thông qua đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở.CBCCS là những người gần dân nhất, sát dân nhất, mọi chủ trương, đườnglối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước có đến được với nhân dânhay không; đến đúng, đến đủ, công khai minh bạch hay không, được nhân dântiếp thu đúng đắn hay không đều thông qua đội ngũ CBCCS Đội ngũ CBCCSgóp phần quyết định sự thành bại của chủ trương, đường lối và nhiệm vụchính trị của Đảng và Nhà nước Không có đội ngũ CBCCS vững mạnh thì dùđường lối, chủ trương chính trị có đúng đắn cũng khó biến thành hiện thực.CBCCS vừa là người trực tiếp đem các chủ trương, chính sách của Đảng vàpháp luật Nhà nước giải thích cho nhân dân hiểu rõ và thi hành, vừa là ngườiphản ánh nguyện vọng của quần chúng nhân dân đến với Đảng và Nhà nước để

có sự điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung cho đúng và phù hợp với thực tiễn CBCCS

có vai trò quan trọng trong quản lý và tổ chức công việc của chính quyền cơ sở.Nhiệm vụ của họ là thực thi công vụ theo pháp luật và bảo toàn tính thống nhấtcủa thực thi quyền lực nhà nước ở cơ sở thông qua việc giải quyết các công việchàng ngày có tính chất quản lý, tự quản mọi mặt ở địa phương Họ còn có vai tròtrực tiếp bảo đảm kỷ cương phép nước tại cơ sở, bảo vệ các quyền tự do dânchủ, quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Thông qua hoạtđộng của đội ngũ CBCCS, nhân dân thể hiện được quyền làm chủ và trực tiếpthực hiện quyền tự quản của mình Đội ngũ CBCCS có vai trò hết sức quantrọng trong xây dựng và hoàn thiện bộ máy chính quyền cơ sở, trong hoạt độngthi hành nhiệm vụ, công vụ Hiệu lực, hiệu quả của bộ máy chính quyền cấp cơ

sở nói riêng và hệ thống chính trị ở cơ sở nói chung, xét đến cùng được quyếtđịnh bởi phẩm chất, năng lực và hiệu quả công tác của đội ngũ CBCCS

Để đội ngũ CBCCS có đủ phẩm chất, năng lực, đáp ứng yêu cầu

Trang 19

nhiệm vụ được giao, cần chú trọng làm tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng cán

bộ, nhất là đào tạo, bồi dưỡng LLCT Làm tốt công tác đào tạo, bồi dưỡngLLCT cho đội ngũ CBCCS sẽ giúp họ có sự hiểu biết sâu sắc hơn, đầy đủhơn, toàn diện hơn những tri thức lý luận chính trị, từ đó trang bị cho mìnhvốn tri thức khoa học lý luận Thông qua công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT

mà củng cố niềm tin và bản lĩnh chính trị, ý thức giai cấp và tinh thần yêunước, kiên định lập trường, nâng cao ý thức tự giác tu dưỡng đạo đức cáchmạng, khắc phục chủ nghĩa cá nhân cho CBCCS; từ đó thúc đẩy họ tự giác,

tự nguyện, hăng hái hành động, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ được giao Đặcbiệt, đào tạo, bồi dưỡng LLCT sẽ cung cấp cho CBCCS thế giới quan vàphương pháp luận khoa học và cách mạng, giúp họ nâng cao năng lực tổchức, tập hợp, động viên, giáo dục, thuyết phục quần chúng, năng lực tổchức hoạt động thực tiễn, từ đó vận dụng vào thực tiễn cuộc sống và côngviệc, để hoàn thành và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao

Công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho đội ngũ CBCCS đã và đang làvấn đề có ý nghĩa quan trọng, mang tính cấp bách, góp phần xây dựng đội ngũCBCCS có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức, lối sống trongsạch, có trình độ trí tuệ, kiến thức và năng lực để tổ chức thực hiện các nhiệm

vụ được giao Xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp vững vàng về phẩm chấtchính trị, tinh thông nghiệp vụ là vấn đề được Đảng đặc biệt quan tâm Trongcông tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, Đảng nhấn mạnh: “Cán bộ phải là người

có phẩm chất chính trị tốt, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, hếtlòng phấn đấu vì lợi ích của nhân dân, của dân tộc; có bản lĩnh chính trị vữngvàng, không dao động trước những khó khăn, thử thách; có năng lực hoànthành nhiệm vụ được giao” [46, tr 136] Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIcủa Đảng nhấn mạnh cần phải “xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trongsạch, có năng lực đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới” [50, tr.252]

1.1.4 Thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ cấp cơ sở ở thành phố Hà Nội trước năm 2008

Trang 20

Công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho CBCCS của thành phố Hà Nộitrước năm 2008 do Đảng bộ thành phố Hà Nội và Đảng bộ tỉnh Hà Tây trướcđây lãnh đạo Đảng bộ tỉnh Hà Tây và Đảng bộ thành phố Hà Nội đều nhậnthức rõ tầm quan trọng của công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho cán bộ, nhất

là CBCCS đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, chú trọng quantâm lãnh đạo chặt chẽ, thường xuyên đối với công tác đào tạo, bồi dưỡngLLCT cho cán bộ, công chức, viên chức Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếpcủa Tỉnh ủy Hà Tây và Thành ủy Hà Nội, công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCTcho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nói chung, CBCCS nói riêng đã đượcquan tâm và đạt được kết quả có ý nghĩa quan trọng

Đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho CBCCS của trung tâm bồi dưỡng chính trị quận, huyện

Nhằm thống nhất về tổ chức các đơn vị làm công tác bồi dưỡng, đàotạo chính trị ở cơ sở, đáp ứng yêu cầu cấp bách về nâng cao nhận thức chínhtrị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên ở cơ sở trong tình hình mới, ngày 03 tháng

06 năm 1995, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa VII) đã ban hành Quyết

định số 100 - QĐ/TW, Về tổ chức trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện Thực hiện Quyết định của Trung ương, Tỉnh ủy Hà Tây và Thành

ủy Hà Nội đã có hướng dẫn cụ thể, triển khai thực hiện một cách nghiêmtúc, kịp thời Ngày 05 tháng 10 năm 1995, UBND thành phố Hà Nội banhành Quyết định 3954/QĐ - UB, Về đổi tên Trường Đảng thành TrungTâm bồi dưỡng chính trị và chuyển giao về UBND quận, huyện quản lý.Ngày 14 tháng 02 năm 1996 UBND thành phố ra Quyết định số 720/QĐ -

UB, Về việc thành lập trung tâm bồi dưỡng chính trị quận, huyện; Tỉnh ủy

Hà Tây ban hành Kế hoạch số 17 - KH/TU, Chuyển các trường bồi dưỡngcán bộ cấp huyện thành trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện, thị xã Thựchiện quyết định của Trung ương và chỉ đạo của Thành ủy, UBND thànhphố Hà Nội và Tỉnh ủy, UBND tỉnh Hà Tây, các Trung tâm bồi dưỡng

Trang 21

chính trị quận, huyện, thị xã lần lượt được thành lập và nhanh chóng đivào hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ quy định.

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của các quận ủy, huyện ủy, công tác đàotạo, bồi dưỡng cán bộ nói chung, đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho CBCCS nóiriêng đã đạt nhiều kết quả quan trọng, bước đầu đáp ứng được yêu cầu họctập nâng cao trình độ LLCT, chuyên môn nghiệp vụ cho các đối tượng là cán

bộ, công chức cấp cơ sở ở các địa phương Trung tâm bồi dưỡng chính trịcác quận, huyện đã chú trọng và tập trung mở các lớp bồi dưỡng cấp ủy, bồidưỡng nghiệp vụ công tác đảng, công tác văn phòng cấp ủy cơ sở; các lớpbồi dưỡng cán bộ Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể từ huyện đến cơ sở, lớpbồi dưỡng kiến thức quốc phòng - an ninh đảm bảo theo đúng yêu cầu củathành phố và của các quận, huyện; đã xây dựng được đội ngũ giảng viênchuyên trách và giảng viên kiêm chức có phẩm chất, năng lực tham gia vàoviệc giảng dạy Phương thức giảng dạy ngày một đổi mới, chất lượng dạy vàhọc từng bước được nâng cao Qua đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, đảngviên đã thuấn nhuần quan điểm lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng một cách cơ bản, sâu sắc, đầy đủ vàtương đối có hệ thống Trình độ tư duy lí luận, bản lĩnh chính trị và phẩmchất đạo đức cách mạng, kỹ năng lãnh đạo, vận dụng kiến thức vào thực tiễnđược nâng cao Cùng với nhiệm vụ trọng tâm là đào tạo, bồi dưỡng đội ngũCBCCS, trung tâm bồi dưỡng chính trị các quận, huyện đã phối hợp vớitrường chính trị tỉnh, Trường Đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong, Đại học Quốcgia, Cao đẳng Văn thư - Lưu trữ (nay là Đại học Nội vụ), Học viện Tàichính; Học viện Hành chính quốc gia… tổ chức và quản lý các lớp trung cấpchính trị - hành chính, lớp bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý nhà nước ngạchchuyên viên, các lớp đại học theo hình thức vừa học vừa làm cho cán bộ,lãnh đạo, nguồn lãnh đạo ở các phòng, ban, ngành của các quận, huyện và cán

bộ chủ chốt ở cơ sở Những lớp này đã đáp ứng được nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng

Trang 22

cho số lượng đông đảo CBCCS ở các quận, huyện, mang lại hiệu quả thiết thực,góp phần nâng cao trình độ LLCT, chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ côngchức, nhất là CBCCS của các quận, huyện Đây chính là tiền đề, là cơ sở quantrọng để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển KT - XH ở các quận, huyện

và thành phố, góp phần đáng kể vào sự nghiệp CNH, HĐH đất nước

Đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho CBCCS của TrườngChính trị tỉnh Hà Tây và Trường Đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong: Các nhàtrường đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt công tác đào tạo, bồidưỡng LLCT cho CBCCS, trong đó chú trọng làm tốt việc xây dựng kếhoạch, chương trình, đổi mới nội dung, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng; xâydựng và kiện toàn đội ngũ giáo viên, báo cáo viên đảm bảo đủ phẩm chất vànăng lực; tăng cường đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho công tácđào tạo, bồi dưỡng LLCT cho CBCCS… Công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCTcủa các nhà trường đã đạt được những kết quả có ý nghĩa quan trọng: Theothống kê trong thời gian 5 năm (từ năm 2004 đến năm 2008), Trường chínhtrị tỉnh Hà Tây đã mở được 18 loại hình lớp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, với

391 lớp, 38.482 học viên; Trường Đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong có tới 24loại hình lớp các loại với 396 lớp, 35.334 học viên [92, tr.230 - 231] Côngtác đào tạo, bồi dưỡng LLCT đã góp phần quan trọng vào việc truyền bá chủnghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng,chính sách và pháp luật của Nhà nước cho đội ngũ cán bộ, công chức, viênchức các cấp; trang bị cho đội ngũ cán bộ thế giới quan, phương pháp luậncủa chủ nghĩa Mác - Lênin, kiến thức, kỹ năng giải quyết các tình huốngtrong công việc, đặc biệt là giúp nâng cao trình độ LLCT, có nhận thứcchính trị sâu sắc, có được những định hướng tư tưởng đúng đắn, kịp thời đấutranh chống lại mọi âm mưu, hành động chống phá của các thế lực thù địchtrên mặt trận tư tưởng, lý luận; góp phần quan trọng vào sự thống nhất về tưtưởng và hành động, bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư

Trang 23

tưởng Hồ Chí Minh Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu lần thứ XIV Đảng

bộ thành phố Hà Nội, trong phần kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Đạihội lần thứ XIII và nhìn lại 20 năm đổi mới (1986 - 2006), khi đánh giá vềkết quả trên lĩnh vực giáo dục - đào tạo của thành phố đã chỉ rõ: “Đã xâydựng và triển khai chính sách thu hút, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng tài năngtrẻ và nguồn nhân lực chất lượng cao” [91, tr.37] Đây là kết của của côngtác giáo dục - đào tạo nói chung, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ các cấpcủa thành phố Hà Nội nói riêng Đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT,Chương trình số 01 - CTr/TU, ngày 18 tháng 8 năm 2011 của Thành ủy Hà

Nội, Về Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các cấp ủy đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên; năng lực quản lý, điều hành của bộ máy chính quyền; chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, cá đoàn thể nhân dân các cấp giai đoạn 2011 - 2015, trong phần đánh giá tình hình công tác

xây dựng Đảng và hệ thống chính trị giai đoạn 2005 - 2010 chỉ rõ “Công tácgiáo dục chính trị, tư tưởng có đổi mới” [94, tr.5] Đảng bộ thành phố Hà Nội

đã có nhiều đổi mới cả về nội dung, hình thức và phương pháp đối với công tácđào tạo, bồi dưỡng LLCT, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cáccấp của thành phố, trong đó có CBCCS, “Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cáccấp của thành phố nhìn chung đủ tiêu chuẩn theo quy định, nhiều đồng chí cótrình độ chuyên môn cao, có kinh nghiệm thực tiễn” [94, tr.6]

Bên cạnh những thành tựu đạt được, công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCTcho CBCCS ở thành phố Hà Nội trước năm 2008 còn tồn tại những hạn chế,bất cập như: Chưa có hệ thống chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, côngchức toàn diện, phù hợp với tiêu chuẩn chức danh cán bộ, công chức Còn thiếunhững nội dung bồi dưỡng về kỹ năng nghiệp vụ, xử lý tình huống thực tiễncho cán bộ, công chức; phương pháp và hình thức đào tạo, bồi dưỡng chưa theokịp quá trình đổi mới, hiệu quả thấp Một số giảng viên, báo cáo viên còn hạnchế về phương pháp, kỹ năng chuyên môn, kiến thức thực tiễn và những tri

Trang 24

thức tổng hợp nên ảnh hưởng đến chất lượng của công tác đào tạo, bồi dưỡngLLCT, từ đó làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng công tác tư tưởng, lýluận cũng như năng lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền cấp cơ sở Đánhgiá về vấn đề này, Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu lần thứ XIV Đảng bộthành phố Hà Nội nhấn mạnh: “Công tác tư tưởng, lý luận chưa đủ sức lý giải,chưa kịp thời giải quyết một số vấn đề thực tiễn đặt ra” [91, tr.48] Không ít nơinăng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và đảng viên chưa ngangtầm nhiệm vụ, vai trò lãnh đạo còn mờ nhạt, chất lượng sinh hoạt, tự phê bình

và phê bình yếu, kỷ cương, kỷ luật chưa nghiêm, chưa thực hiện đúng nguyêntắc tập trung, dân chủ Một bộ phận cán bộ, đảng viên có biểu hiện mơ hồ, mấtcảnh giác, chưa tiên phong, gương mẫu, thiếu tu dưỡng, rèn luyện; trong đómột số cán bộ, đảng viên suy thoái phẩm chất đạo đức, tham nhũng, tiêu cực.Vai trò lãnh đạo của một số cấp ủy cơ sở còn yếu Năng lực điều hành, quản lýcủa bộ máy chính quyền trên một số lĩnh vực như quản lý đất đai, xây dựng cơbản ở một số địa phương, đơn vị còn bị buông lỏng, đùn đẩy hoặc né tránh.Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân ở một số nơi còn cóbiểu hiện hành chính hóa, công tác thu hút tập hợp quần chúng ở một số tổchức còn yếu Đặc biệt, một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa gương mẫu trong

tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí chiến đấu, vi phạm phẩm chất đạo đức

Nguyên nhân của khuyết điểm

Nội dung chương trình, hình thức, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng

LLCT cho CBCCS còn chậm đổi mới; cơ sở vật chất, kỹ thuật còn nghèonàn, thiếu thốn, nhất là ở các trung tâm bồi dưỡng chính trị Nhận thức về vịtrí, vai trò, tầm quan trọng của LLCT và công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCTcho cán bộ, đảng viên nhất là CBCCS ở một số cấp ủy, chính quyền địaphương, còn giản đơn, trì trệ trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, chưa thấy rõđào tạo, bồi dưỡng LLCT cho cán bộ, đảng viên, cho cán bộ cấp cơ sở là mộtkhâu quan trọng trong công tác cán bộ, là trách nhiệm của bản thân bí thư

Trang 25

cấp ủy, của ban thường vụ Cơ chế đầu tư cho đào tạo, bồi dưỡng nguồnnhân lực nói chung, đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho CBCCS của thành phố nóiriêng còn thiếu, chưa đồng bộ, hiệu quả thấp Đạo đức nghề nghiệp, năng lựctrình độ chuyên môn của một bộ phận giảng viên còn yếu, chưa đáp ứng yêucầu, nhiệm vụ đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy trong giai đoạn mới.

1.1.5 Chủ trương của Đảng về công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ cấp cơ sở giai đoạn (2008 - 2015)

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn nhận thức rõ vai tròcủa lý luận cách mạng đối với phong trào cách mạng, thường xuyên quan tâmđến công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT nhằm nâng cao trình độ LLCT cho độingũ cán bộ, xây dựng được đội ngũ cán bộ, đảng viên vừa “hồng”, vừa

“chuyên” Những năm gần đây, đất nước ta đang đẩy mạnh sự nghiệp CNH,HĐH và hội nhập quốc tế, đặt ra yêu cầu cao đối với việc nâng cao phẩm chất,năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức Để nâng cao phẩm chất,năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức các cấp, Đảng đặc biệt chútrọng lãnh đạo công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ toàn diện về tư tưởng, chínhtrị, chuyên môn, nghiệp vụ, và thể chất… Trong đó, đào tạo, bồi dưỡng LLCT

là một trong những nội dung trọng tâm, ưu tiên hàng đầu của Đảng

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng (2006) đã đề ra chủtrương: Đổi mới mạnh mẽ, triển khai đồng bộ các khâu đánh giá, quy hoạch,ĐTBD, luân chuyển, bố trí sử dụng, xây dựng và thực hiện chính sách cán bộ.Đồng thời, “kiện toàn, tổ chức, nâng cao chất lượng hoạt động của các trườngchính trị tỉnh, các trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện và các trường dântộc nội trú để đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ở cơ sở” [46, tr.300]

Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương (khóa X) ra Nghị quyết số 16 - NQ/TW, ngày 01 tháng 8 năm 2007, Về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới, đã nhấn mạnh chủ trương: “Đổi mới và

nâng cao chất lượng giáo dục lý luận trong hệ thống các trường chính trị, các

Trang 26

trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp trong cả nước; khắc phục

sự lạc hậu của chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, bảo đảm tính cơbản, hệ thống, hiện đại và phù hợp với thực tiễn Việt Nam” [47, tr.8] Đây làmột chủ trương đúng đắn, kịp thời, đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của công tác tưtưởng, lý luận trong tình hình mới; khắc phục những mặt hạn chế của công tác

lý luận như: Chưa đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn đang vận động nhanhchóng, phong phú, phức tạp; chưa giải đáp được nhiều vấn đề do thực tiễn đấtnước đặt ra; chất lượng các sản phẩm nghiên cứu khoa học lý luận chưa cao;

lý luận chưa làm tốt chức năng định hướng cho hoạt động thực tiễn, cung cấp

cơ sở khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách của Đảng, Nhànước; trình độ đội ngũ cán bộ lý luận còn bất cập so với yêu cầu mới

Ngày 30 tháng 01 năm 2008, Ban Chấp hành Trung ương (khóa X) họp

Hội nghị lần thứ sáu ban hành Nghị quyết số 22 - NQ/TW, Về nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán

bộ, đảng viên Nghị quyết chỉ rõ thực trạng năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu

của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên còn có nhữngkhuyết điểm, yếu kém như: công tác giáo dục chính trị tư tưởng, bồi dưỡng lýtưởng cách mạng, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên ở cơ sở chưa đúngmức, tính định hướng, tính chiến đấu và tính giáo dục, thuyết phục chưa cao.Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, khả năng nhận thức, vận dụng, cụ thể hóa và

tổ chức thực hiện các chủ trương, đường lối của Ðảng, chính sách, pháp luậtcủa Nhà nước và của cấp ủy cấp trên của nhiều tổ chức cơ sở đảng còn yếu,chưa đủ sức phát hiện, giải quyết những vấn đề phức tạp xảy ra ở cơ sở; có tổchức cơ sở đảng bị mất sức chiến đấu Nghị quyết đề ra chủ trương: Ðổi mới,nâng cao chất lượng công tác giảng dạy và học tập LLCT; chú ý bồi dưỡng chocán bộ, đảng viên kỹ năng lãnh đạo, giải quyết những tình huống cụ thể xảy ra

ở cơ sở Chủ động khắc phục những biểu hiện phai nhạt lý tưởng; chống chủnghĩa cơ hội, thực dụng, vụ lợi, cá nhân, trung bình chủ nghĩa; kiên quyết đấu

Trang 27

tranh với những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc, phản động, góp phần làmthất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.Ðổi mới mạnh mẽ nội dung, hình thức đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ,công chức xã, phường, thị trấn theo chức danh cán bộ; chú ý bồi dưỡng kiếnthức, kỹ năng, nghiệp vụ và kinh nghiệm giải quyết những tình huống cụ thể ở

cơ sở Hằng năm, cán bộ chuyên trách, cấp ủy viên cơ sở xã, phường, thị trấnphải được bồi dưỡng để cập nhật kiến thức mới tại trung tâm bồi dưỡng chínhtrị cấp huyện hoặc trường chính trị tỉnh, thành phố [48, tr.102]

Nhằm tiếp tục củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của các trườngchính trị tỉnh và trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện, thị xã, thành phố,

ngày 03 tháng 9 năm 2008 Ban Bí thư đã ban hành Quyết định 184 - QĐ/TW,

Về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của trường chính trị tỉnh, thành phổ trực thuộc Trung ương và Quyết định số 185 - QĐ/TW, Về chức năng, nhiệm

vụ, tổ chức bộ máy của trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh Những văn bản này đã xác định rõ hơn chức năng,

nhiệm vụ, tổ chức của trường chính trị tỉnh và trung tâm bồi dưỡng chính trịcấp huyện, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các tổ chức này Nhiệm

vụ của trường chính trị tỉnh được xác định rõ hơn, mở rộng hơn

Để xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có năng lực đápứng yêu cầu trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ XI của Đảng (2011) đã chủ trương: “Xây dựng và thực hiện nghiêmcác cơ chế, chính sách phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ;trọng dụng những người có đức, có tài” [50, tr.261] Đối với công tác giáodục LLCT, Đảng nhấn mạnh cần phải: “Đổi mới, nâng cao chất lượng côngtác giáo dục lý luận chính trị, giáo dục công dân trong hệ thống các trườngchính trị, các trường thuộc hệ thống giáo dục quốc dân Mỗi cán bộ, đảngviên đều phải học tập, nâng cao trình độ lý luận chính trị” [50, tr.256 - 257]

Trang 28

Hướng tới mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức chuyênnghiệp, vững vàng về chính trị, tinh thông nghiệp vụ và có đủ năng lực đểxây dựng đất nước trong giai đoạn phát triển hiện nay và tương lai, Thủ

tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1374/QĐ - TTg, ngày 12 tháng

08 năm 2011, Về việc phê duyệt Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức giai đoạn 2011 - 2015 Theo Quyết định này, đến năm 2015 sẽ có:

100% cán bộ công chức từ Trung ương đến cấp huyện được đào tạo đáp ứngđúng tiêu chuẩn quy định; 95% cán bộ, công chức giữ các chức vụ lãnh đạo,quản lý các cấp được đào tạo, bồi dưỡng theo chương trình quy định; 90%cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp phòng được đào tạo, bồi dưỡng trước khi bổnhiệm Nguồn cán bộ, công chức cấp xã cũng được chú trọng đào tạo, hướngtới 90% cán bộ cấp xã có trình độ chuyên môn theo tiêu chuẩn quy định;100% cán bộ cấp xã được bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng lãnh đạo, quản lýđiều hành theo vị trí công việc; 95% công chức cấp xã vùng đô thị, vùngđồng bằng; 90% công chức cấp xã vùng núi có trình độ trung cấp chuyênmôn trở lên [111, tr.2] Trong đó, nội dung đào tạo, bồi dưỡng LLCTđược xác định: Trang bị trình độ LLCT theo tiêu chuẩn quy định cho cácchức danh cán bộ, ngạch công chức và chức danh lãnh đạo quản lý; Tổchức phổ biến các văn kiện, nghị quyết của Đảng; bồi dưỡng cập nhật,nâng cao trình độ lý luận theo quy định của cơ quan có thấm quyền Đồngthời cần phải tăng cường đầu tư, nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bịcho hệ thống các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức bao gồm cáchọc viện ở Trung ương; trường chính trị cấp tỉnh; các học viện, trường,trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức các bộ, ngành; trung tâmbồi dưỡng chính trị cấp huyện [111, tr.5]

Ngày 16 tháng 01 năm 2012, BCHTW Đảng khóa XI ra Nghị quyết

số 12 - NQ/TW, Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay Nghị

quyết Trung ương đã nêu ra 03 vấn đề cấp bách của công tác xây dựng Đảng

Trang 29

đồng thời, đề ra 04 nhóm giải pháp đồng bộ để thực hiện, trong đó nhóm giảipháp về công tác giáo dục chính trị, tư tưởng đã khẳng định: “Đẩy mạnhcông tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn Đưa vào nền nếp việc bồidưỡng lý luận, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộlãnh đạo, quản lý các cấp, đặc biệt là cấp Trung ương” [14, tr.7].

Ngày 08 tháng 3 năm 2013, Ban Bí thư đã ra Kết luận số 57 - KL/TW,

Về việc tiếp tục đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, trong đó chỉ rõ: Công tác đào tạo, bồi

dưỡng về LLCT cho cán bộ lãnh đạo, quản lý trong 5 năm qua đã có bướcphát triển cả về số lượng và chất lượng, tuy nhiên, so với mục tiêu, yêu cầuthì vẫn còn những hạn chế, yếu kém như: chậm đổi mới nội dung, chươngtrình; việc áp dụng phương pháp giảng dạy tích cực chưa đồng đều giữa các

cơ sở đào tạo; một số cán bộ, giảng viên còn hạn chế về kỹ năng chuyênmôn và kiến thức thực tiễn, có trường hợp không đáp ứng yêu cầu; quy địnhchế độ học tập LLCT theo tiêu chuẩn chức danh còn trùng lặp; việc cử cán

bộ đi đào tạo, bồi dưỡng chưa xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ, vị trí công tác,quy hoạch và bố trí cán bộ Để nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡngLLCT, Kết luận số 57 - KL/TW của Ban Bí thư nhấn mạnh: Các cấp ủyđảng cần tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo đối với công tác đào tạo, bồidưỡng cán bộ, nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò và tầm quan trọng củađào tạo, bồi dưỡng LLCT cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp,trong đó tập trung vào một số nhiệm vụ sau:

Một là, xác định đúng mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng

LLCT trong thời kỳ mới Đối tượng đào tạo, bồi dưỡng LLCT (bao gồm cả Đề

án 165) là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp hoặc cán bộ trong quy hoạch

Hai là, đổi mới toàn diện, đồng bộ về nội dung, phương pháp, với

hình thức đào tạo, bồi dưỡng tập trung hơn để nâng cao chất lượng Cần địnhhướng nội dung bảo đảm giữ vững các nguyên lý cơ bản và phương pháp luận

Trang 30

biện chứng khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,đường lối và quan điểm của Đảng; phải bao gồm cả về nguyên lý cơ bản vàkiến thức mới, cả lý luận chung và kinh nghiệm lãnh đạo, quản lý có tính chất

kỹ năng, kỹ thuật; gắn với thực hiện việc nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn.Xây dựng một số chương trình đào tạo, bồi dưỡng đặc biệt dành cho cán bộ dựnguồn các chức danh cao cấp của Đảng, Nhà nước và đoàn thể Mở rộng vànâng cao chất lượng hợp tác quốc tế trong nghiên cứu khoa học và đào tạo

Ba là, hoàn thiện cơ chế, chính sách với công tác đào tạo, bồi dưỡng

LLCT; điều chỉnh, bổ sung những quy định về tiêu chuẩn, chế độ, chínhsách đối với giảng viên và người học cho phù hợp Quy hoạch, đào tạo độingũ cán bộ khoa học, giảng viên các cơ sở đào tạo; có chính sách và biệnpháp thu hút đội ngũ giảng viên kiêm chức, kiêm nhiệm, thỉnh giảng Quản

lý chặt chẽ quá trình học tập, rèn luyện của học viên trong quá trình đàotạo, bồi dưỡng Theo dõi, đánh giá về hiệu quả sử dụng, trưởng thành củađội ngũ cán bộ sau khi được đào tạo, bồi dưỡng

Bốn là, chọn cử người đi học phải đúng đối tượng, đúng tiêu chuẩn,

tiêu chí chọn cử rõ ràng và được công khai, minh bạch, tránh phân bổ chỉtiêu bình quân, hình thức Cán bộ được cử đi đào tạo, bồi dưỡng phải xácđịnh rõ mục tiêu, động cơ học tập; nâng cao ý thức trách nhiệm, tinh thần tựgiác học tập Khắc phục tình trạng chạy theo bằng cấp, tuyệt đối hóa bằngcấp của cả người dạy, người học, của cơ quan làm công tác cán bộ và cơquan sử dụng cán bộ

Năm là, xây dựng đề án tổng thể về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong hệ

thống chính trị ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước, trong đó Đề án 165 làmột đề án thành phần Tiếp tục thực hiện chủ trương đào tạo, bồi dưỡng cán bộlãnh đạo, quản lý ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước theo tinh thần Thôngbáo số 165 - TB/TW, ngày 27 tháng 6 năm 2008 của Bộ Chính trị (theo Đề án165) đảm bảo đúng mục tiêu, yêu cầu, hiệu quả thiết thực, tránh trùng với các

Trang 31

chương trình đào tạo, bồi dưỡng khác; đổi mới phương thức tổ chức nhằmnâng cao chất lượng bồi dưỡng ngắn hạn ở nước ngoài.

Sáu là, tăng cường đầu tư, nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị

giảng dạy, học tập cho các trường chính trị cấp tỉnh và trung tâm bồi dưỡngchính trị cấp huyện

Ngày 28 tháng 03 năm 2014, BCHTW ra Kết luận số 94 - KL/TW,

Về việc tiếp tục đổi mới việc học tập lý luận chính trị trong hệ thống giáo dục quốc dân, trong đó khẳng định: Tiếp tục đổi mới việc học tập LLCT

trong hệ thống giáo dục quốc dân (bao gồm cả nội dung, chương trình,phương pháp giảng dạy, xây dựng đội ngũ giáo viên…) có tầm quan trọngchiến lược, cần đặt trong tổng thể của việc thực hiện Nghị quyết Trung ương

8 khoá XI, Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Đổi mới việc

học tập LLCT trong hệ thống giáo dục quốc dân nhằm tạo bước tiến mới, cókết quả, chất lượng cao hơn, góp phần làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm của Đảng giữ vai trò chủ đạotrong đời sống xã hội; bảo đảm thế hệ trẻ Việt Nam luôn trung thành vớimục tiêu, lý tưởng của Đảng và với chế độ

Để đưa công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho cán bộ lãnh đạo,

quản lý đáp ứng kịp yêu cầu của tình hình mới, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 32 - NQ/TW, ngày 26 tháng 5 năm 2014, Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dường lý luận chính trị cho cán bộ lãnh đạo, quản lý, trong đó xác định: “đào tạo, bồi dưỡng LLCT

cho cán bộ lãnh đạo, quản lý là nhiệm vụ quan trọng của Đảng Đổi mới,nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT phải luôn bám sátmục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ của chiến lược cán bộ và gắn kết chặt chẽ vớicác khâu trong công tác cán bộ” [22, tr.2]

Ngày 09 tháng 10 năm 2014, BCHTW Đảng đã ra Nghị quyết số 37 -NQ/

TW, Về công tác lý luận và định hướng nghiên cứu đến năm 2030 Nghị

quyết đưa ra một số biện pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh công tác lý luận từ

Trang 32

nay đến năm 2030, trong đó nhấn mạnh đổi mới nội dung, phương pháp giáodục chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh:

Đổi mới căn bản công tác đào tạo cán bộ lý luận, từ quy hoạch đếnchương trình, nội dung, phương pháp tuyển chọn, tiêu chuẩn đánhgiá chất lượng và sử dụng cán bộ Đổi mới hệ thống chương trình,giáo trình, đào tạo, bồi dưỡng giảng viên Gắn lý luận với thựctiễn, cập nhật kiến thức mới, khắc phục sự trùng lắp, khép kín,thiếu liên thông giữa các chương trình, các cấp học, bậc học Tăngcường giáo dục, rèn luyện kỹ năng thực hành, khả năng vận dụngkiến thức vào thực tiễn Đổi mới phương pháp giáo dục LLCTtheo hướng hiện đại, phù hợp với đối tượng, đồng thời chú trọngnâng cao trình độ, rèn luyện phong cách, trau dồi bản lĩnh chính trịcủa đội ngũ giảng viên [23, tr.5]

Trên đây là những chủ trương cơ bản của Đảng và Nhà nước về côngtác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nói chung, đàotạo, bồi dưỡng LLCT cho đội ngũ cán bộ nói riêng từ năm 2008 đến năm

2015 Những chủ trương của Đảng, Nhà nước nêu trên chính là cơ sở, căn cứ

để Đảng bộ thành phố Hà Nội quán triệt đề ra chủ trương lãnh đạo công tácđào tạo, bồi dưỡng LLCT cho cán bộ, đảng viên nói chung và đội ngũCBCCS nói riêng trong thời gian từ năm 2008 đến năm 2015

1.2 Chủ trương của Đảng bộ thành phố Hà Nội về đào tạo bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ cấp cơ sở (2008 - 2015)

Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nói chung, đào tạo, bồi dưỡngLLCT cho CBCCS nói riêng là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên, là khâuthen chốt, được Đảng bộ thành phố Hà Nội luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạonhằm xây dựng được đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, nhất là CBCCS

có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị, có năng lực, có tính chuyênnghiệp cao, tận tụy phục vụ nhân dân, biết giải quyết các vấn đề được giao

Trang 33

trên nguyên tắc kết quả, hiệu quả và chất lượng Chủ trương của Đảng bộthành phố Hà Nội lãnh đạo công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho CBCCScủa thành phố trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2015 được thể hiệnthông qua các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị của Đảng bộ thành phố trong hainhiệm kỳ từ năm 2006 đến năm 2010 và từ năm 2011 đến năm 2015.

Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố (khóa XIII)trình Đại hội đại biểu lần thứ XIV của Đảng bộ thành phố Hà Nội đã phântích những hạn chế, khuyết điểm của công tác tư tưởng, lý luận, chỉ rõ “Côngtác tư tưởng, lý luận chưa đủ sức lý giải, chưa kịp thời giải quyết một số vấn

đề thực tiễn đặt ra” [8, tr.48], năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chứcđảng và đảng viên chưa ngang tầm nhiệm vụ, vai trò lãnh đạo còn mờ nhạt.Một bộ phận cán bộ, đảng viên có biểu hiện mơ hồ, mất cảnh giác, chưa tiênphong gương mẫu, thiếu tu dưỡng rèn luyện; trong đó có một số cán bộ, đảngviên suy thoái phẩm chất đạo đức, tham ô, tham nhũng, tiêu cực Nhằm tiếptục đổi mới, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấucủa các tổ chức đảng, năng lực quản lý điều hành của chính quyền các cấp,nhất là cấp cơ sở, Đảng bộ thành phố Hà Nội đề ra chủ trương “Đổi mới, nângcao chất lượng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng” [8, tr.103] Trong đó,nhấn mạnh: Thường xuyên chăm lo giáo dục, rèn luyện phẩm chất chính trị,đạo đức cách mạng, lối sống trong sạch, lành mạnh đối với đội ngũ cán bộ,đảng viên và quần chúng nhân dân Đổi mới nội dung, phương pháp, hìnhthức tổ chức học tập, quán triệt nghị quyết, xây dựng kịp thời các chươngtrình, đề án thực hiện các nghị quyết của Đảng Đối với chính quyền cấp cơ

sở, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn công tác, đặc biệt là trongsinh hoạt đảng và tu dưỡng, rèn luyện của cán bộ, đảng viên

Thực hiện Nghị quyết số 15 của Quốc hội, (khóa XII), từ ngày 01tháng 08 năm 2008, thủ đô Hà Nội được điều chỉnh, mở rộng địa giới hànhchính, diện tích tăng gấp trên 3,6 lần, dân số tăng gần gấp đôi, mở ra triển

Trang 34

vọng to lớn để Hà Nội phát triển nhanh, toàn diện và bền vững Tuy nhiên,

Hà Nội cũng gặp không ít hạn chế, bất cập trong một số lĩnh vực như:Quản lý, quy hoạch, trật tự xây dựng, giải phóng mặt bằng, giải quyết cácvấn đề xã hội trong quá trình đô thị hóa, cải cách hành chính, giải quyết đơnthư khiếu nại, tố cáo… Thực trạng đó đặt ra yêu cầu cao đối với cấp ủy,chính quyền các cấp, nhất là cấp cơ sở trong thực thi công vụ Để đáp ứngyêu cầu của tình hình mới, đòi hỏi Đảng bộ thành phố Hà Nội phải có nhữngbiện pháp đồng bộ, toàn diện trên tất các các mặt, các lĩnh vực, trong đó biệnpháp có ý nghĩa quan trọng hàng đầu là nâng cao phẩm chất, năng lực chocán bộ, công chức, viên chức các cấp, nhất là cấp cơ sở Để nâng cao phẩmchất và năng lực cho đội ngũ cán bộ nói chung, CBCCS nói riêng, cần đặcbiệt quan tâm làm tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng Nội dung đào tạo, bồidưỡng toàn diện, trong đó đặc biệt chú trọng đào tạo, bồi dưỡng LLCT

Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố (khóaXIV) trình Đại hội đại biểu lần thứ XV của Đảng bộ thành phố Hà Nội đề

ra chủ trương nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính quyền;tiếp tục đổi mới, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sứcchiến đấu của Đảng bộ Để thực hiện được chủ trương trên, Đảng bộthành phố Hà Nội đã đề ra nhiều biện pháp, trong đó có công tác đào tạo,bồi dưỡng cán bộ nói chung, đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho CBCCS nóiriêng, Đảng bộ thành phố xác định:

Một là, đổi mới công tác tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ

cán bộ, công chức, viên chức, xây dựng, kiện toàn đội ngũ CBCCS “bảođảm đủ số lượng, có phẩm chất, đạo đức tốt, tận tụy với công việc, có trình

độ chuyên môn, nghiệp vụ đạt tiêu chuẩn quy định trở lên” [9, tr.116]

Hai là, triển khai thực hiện mạnh mẽ các giải pháp nhằm xây

dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, trước hết là cán bộ lãnh đạo,quản lý cấp cơ sở “có bản lĩnh chính trị vững vàng; có năng lực chuyên

Trang 35

môn nghiệp vụ cao; có ý thức trách nhiệm cao, hết lòng, hết sức phụng

sự sự nghiệp xây dựng, phát triển Thủ đô và đất nước, phục vụ nhândân” [9, tr.123 - 124]

Ba là, đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, “Xây dựng

đội ngũ cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chấtđạo đức cách mạng, có ý thức tổ chức kỷ luật, thực sự tiền phong gươngmẫu, đủ năng lực hoàn thành nhiệm vụ được giao” [9, tr.126]

Thực hiện chủ trương của Đảng bộ thành phố Hà Nội về Công tác đàotạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nói chung, đào tạo, bồidưỡng LLCT cho CBCCS nói riêng được nêu ra trong Báo cáo chính trị của BanChấp hành Đảng bộ thành phố khóa XIV, trình Đại hội đại biểu lần thứ XV củaĐảng bộ thành phố, Thành ủy Hà Nội đã cụ thể hóa thành các chương trình hànhđộng Các chương trình của Thành ủy đã nêu bật chủ trương về đào tạo, bồidưỡng LLCT cho CBCCS của thành phố, cụ thể:

Chương trình số 01-CTr/TU, ngày 18 tháng 08 năm 2011, của

Thành ủy Hà Nội, Về nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các cấp ủy đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên; năng lực quản lý, điều hành của bộ máy chính quyền; chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân các cấp giai đoạn 2011 - 2015, trên cơ sở đánh giá tình

hình công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị giai đoạn 2005 - 2010

đã xác định mục tiêu: Xây dựng đảng bộ, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc vàcác đoàn thể nhân dân các cấp trong sạch, vững mạnh; đổi mới công táclãnh đạo của các cấp ủy đảng, nâng cao năng lực điều hành, quản lý của bộmáy chính quyền, trọng tâm là chính quyền cấp xã, phường, thị trấn; xâydựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức cấp cơ sở có phẩm chất, đạođức, lối sống trong sạch, lành mạnh, có đủ trình độ chuyên môn, nghiệp vụ,năng lực hoạt động thực tiễn đảm bảo thực hiện thắng lợi các nhiệm vụđược giao Đây là một mục tiêu tổng thể của Đảng bộ thành phố Hà Nội

Trang 36

nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các cấp ủy đảng vàchất lượng đội ngũ đảng viên; năng lực quản lý, điều hành của bộ máychính quyền cấp cơ sở Đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT choCBCCS, Thành ủy xác định chỉ tiêu: “100% cán bộ chủ chốt cấp xã,phường, thị trấn có trình độ lý luận chính trị từ trung cấp trở lên; 100%cán bộ chủ chốt cấp phường, thị trấn và trên 80% cán bộ chủ chốt cấp xã

có trình độ đại học” [94, tr.8] Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viênchức có tâm huyết với công việc, có tinh thần trách nhiệm cao trướcĐảng, trước nhân dân, không ngừng học tập, rèn luyện nâng cao trình độ,năng lực, phẩm chất, đạo đức, lối sống, đáp ứng yêu cầu xây dựng và pháttriển Thủ đô

Để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các cấp ủy đảng;năng lực quản lý, điều hành của bộ máy chính quyền và chất lượng đội ngũCBCCS, Thành ủy đã đề ra những nhiệm vụ, giải pháp cụ thể, trong đó chútrọng công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho CBCCS Công tác đào tạo,bồi dưỡng LLCT cho CBCCS trực tiếp góp phần xây dựng đội ngũ CBCCS

có bản lĩnh chính trị vững vàng, có nhận thức chính trị và hành động tốt,chống sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống; gópphần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của cấp ủy đảng và nănglực quản lý, điều hành của chính quyền cấp cơ sở

Muốn có cán bộ tốt, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ phải coi trọng côngtác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Thành ủy xác định rõ nhiệm vụ xây dựng vàtriển khai Đề án đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ thuộc hệ thống chính trịcủa Thành phố bảo đảm hoàn thành mục tiêu, chỉ tiêu của chương trình; nộidung chương trình đào tạo, bồi dưỡng chú trọng chất lượng, tính thiết thực,yêu cầu kỹ năng xử lý tình huống thực tế Đặc biệt, Thành ủy rất coi trọngcông tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho CBCCS, “Chỉ đạo các cơ sở đào tạocủa Thành phố nâng cao chất lượng công tác giảng dạy và học tập lý luận

Trang 37

chính trị” [100, tr.9]; tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp,nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, tạobước chuyển biến mạnh về nhận thức và hành động của đội ngũ cán bộ,đảng viên; nâng cao chất lượng công tác giảng dạy và học tập lý luận chínhtrị; đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả việc nghiên cứu, quán triệt,học tập các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhànước; “Tăng cường kinh phí đào tạo cán bộ nguồn chủ chốt cấp xã,phường, thị trấn” [94, tr.24].

Ngày 18 tháng 10 năm 2011, Thành ủy Hà Nội ban hành Chương

trình số 08 - CTr/TU, Về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao trách nhiệm và chất lượng phục vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức giai đoạn 2011 - 2015 Thành ủy xác định nội dung trọng tâm, quan trọng

của công tác cải cách hành chính là xây dựng và nâng cao chất lượng độingũ cán bộ, công chức, viên chức Thành ủy đã đề ra 8 nội dung biệnpháp xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viênchức nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức thành phốthực sự trong sạch, vững mạnh, có đủ phẩm chất và năng lực, tạo bướcchuyển biến mạnh mẽ về phẩm chất, đạo đức, về chấp hành kỷ luật, kỷcương hành chính, về ý thức, trách nhiệm đối với nhiệm vụ được giao,tận tụy phục vụ nhân dân Đối với cấp cơ sở, Thành ủy coi trọng: “Xâydựng và kiện toàn đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã bảo đảm đồng bộ,đáp ứng các yêu cầu: Đủ số lượng, có cơ cấu hợp lý và chất lượng tốt; cóphẩm chất, đạo đức, lối sống trong sạch, lành mạnh, tận tụy với côngviệc, có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đạt tiêu chuẩn quy định trở lên”[94, tr.252] Để xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là CBCCS củathành phố có phẩm chất, năng lực, đặc biệt là phẩm chất chính trị vàtrình độ LLCT, Thành ủy chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCTcho đội ngũ cán bộ, nhấn mạnh: “Tiếp tục đổi mới chương trình, nội

Trang 38

dung, phương thức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức;tăng cường đào tạo nâng cao phẩm chất, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ,

lý luận chính trị, quản lý nhà nước v.v…” [94, tr.252]

Ngày 19 tháng 10 năm 2012, Thành ủy ban hành Đề án số 04 -ĐA/

TU, Về nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp thành phố Hà Nội giai đoạn 2012 - 2016, chỉ rõ những

năm qua công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho đại biểu đã được quantâm, góp phần nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhândân các cấp Tuy nhiên, chất lượng hoạt động của Hội đồng nhân dânchưa đồng đều, chưa tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ, nhất là ở cấp xã

Ở một số địa phương hoạt động kỳ họp còn mang tính hình thức, công tácgiám sát còn yếu, thậm chí còn nể nang, né tránh, ngại va chạm; công táctiếp xúc cử tri, tiếp công dân, tiếp nhận, đôn đốc giải quyết đơn thư chưađáp ứng yêu cầu và mong muốn của nhân dân… Để nâng cao năng lực,hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp thành phố,nhất là cấp xã, phường, Thành ủy xác định nhiệm vụ trọng tâm: nâng caonăng lực, trình độ, kinh nghiệm, bồi dưỡng kỹ năng hoạt động của đạibiểu; tăng cường hoạt động của đại biểu chuyên trách; nâng cao chấtlượng đội ngũ cán bộ tham mưu, giúp việc Hội đồng nhân dân, đặc biệt làkiến thức tổng hợp, kinh nghiệm thực tiễn, trong đó trình độ LLCT là mộttrong những nội dung trọng tâm

Xác định cán bộ là nhân tố quyết định việc thực hiện thắng lợi cácnhiệm vụ, Thành ủy Hà Nội đã triển khai đồng bộ các giải pháp từ đánhgiá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đến bố trí, sắp xếp, điều động, luânchuyển cán bộ Để chuẩn bị đội ngũ kế cận, ngày 24 tháng 9 năm 2013,

Thành ủy đã ban hành Đề án số 07 - ĐA/TU, Về đào tạo đội ngũ cán bộ nguồn của Thành phố Hà Nội giai đoạn từ nay đến năm 2020 Thành ủy

xác định chủ trương tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng LLCT, chuyên

Trang 39

môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức các cấp, trong đó chú trọngviệc đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho CBCCS Đề án 07 - ĐA/TU là một môhình đào tạo cán bộ hoàn toàn mới nhằm bổ sung đội ngũ cán bộ trẻ đảmbảo đủ số lượng và chất lượng; thể hiện sự chủ động của Thành ủy trongviệc chuẩn bị nhân sự, xây dựng đội ngũ cán bộ bảo đảm chất lượng chonhiệm kỳ tiếp theo Cách làm này của Hà Nội đã được Trung ương đánhgiá cao, được coi là đơn vị đi đầu cả nước về công tác cán bộ.

Các văn bản trên đã nêu bật chủ trương của Đảng bộ thành phố HàNội đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho CBCCS của thành phố

từ năm 2008 đến năm 2015 Như vậy, từ khi mở rộng địa giới hành chínhThủ đô đến nay, Đảng bộ thành phố Hà Nội đã chú trọng quan tâm lãnhđạo công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức củathành phố nói chung, CBCCS nói riêng Điều đó đã góp phần quan trọngnâng cao số lượng và chất lượng đội ngũ CBCCS của thành phố Hà Nội,đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ phát triển của Thủ đô từ khi điều đỉnh

mở rộng địa giới hành chính từ năm 2008 đến nay

1.3 Đảng bộ thành phố Hà Nội chỉ đạo công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ cấp cơ sở (2008 - 2015)

1.3.1 Chỉ đạo kiện toàn hệ thống cơ sở đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ cấp cơ sở của thành phố

Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội, Về việc điều chỉnh địa giới hành chính Hà Nội, thành phố đã khẩn trương triển khai một loạt công việc

để đảm bảo các hoạt động giao dịch hành chính, dân sự diễn ra bình thường.Các cơ quan, đơn vị tổ chức sắp xếp, kiện toàn lại bộ máy; chủ động, khẩntrương bàn giao trụ sở cũ, tiếp nhận trụ sở mới, bố trí nơi làm việc mới.Trong bối cảnh đó, ngày 02 tháng 08 năm 2008, UBND thành phố Hà Nội

đã có Quyết định số 48/QĐ - UBND, Về việc thành lập Trường Đào tạo cán

Trang 40

bộ Lê Hồng Phong thành phố Hà Nội, trên cơ sở hợp nhất Trường Chính trị

tỉnh Hà Tây và Trường Đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong

Trường được xác định là đơn vị sự nghiệp trực thuộc UBND thànhphố Hà Nội, có vị trí như một ban, ngành cấp thành phố; có tư cách phápnhân, có con dấu và tài khoản riêng; chịu sự chỉ đạo toàn diện của UBNDthành phố, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn về công tác đàotạo, bồi dưỡng cán bộ của Thành ủy Hà Nội và Học viện Chính trị - Hànhchính Quốc gia Hồ Chí Minh Trường có các chức năng, nhiệm vụ chủyếu như sau:

Thứ nhất, đào tạo cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt của Đảng, chính

quyền và các đoàn thể nhân dân ở cấp cơ sở xã, phường, thị trấn và các đơn

vị tương đương; trưởng, phó phòng quận, huyện, ban, ngành cấp thành phố

và cán bộ dự nguồn các chức danh trên

Thứ hai, bồi dưỡng ngắn hạn các đối tượng trên về LLCT, đường lối,

chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước

Thứ ba, bồi dưỡng kiến thức, nghiệp vụ về công tác xây dựng Đảng,

về quản lý hành chính Nhà nước và về công tác vận động quần chúng

Thứ tư, tham gia nghiên cứu khoa học và tổng kết kinh nghiệm thực

tiễn ở địa phương

Về cơ cấu tổ chức, biên chế, Trường Đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong

có Hiệu trưởng, các phó hiệu trưởng và các khoa, phòng chuyên môn,nghiệp vụ, đơn vị trực thuộc Việc tổ chức sắp xếp bộ máy, cán bộ, viênchức, giáo viên của Trường được thực hiện theo nguyên tắc hợp nhất cácphòng, các khoa,… tương ứng của Trường Đào tạo cán bộ Lê Hồng Phongtrước đây và Trường Chính trị tỉnh Hà Tây Đối với những tổ chức trựcthuộc Trường đã được thành lập do đặc thù riêng của từng địa phương thìgiữ nguyên và đảm bảo hoạt động bình thường sau khi hợp nhất

Ngày đăng: 30/04/2017, 15:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w