1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Đánh Giá Quá Trình Thực Hiện Chính Sách Nhân Tài Và Sử Dụng Nhân Tài Ở Việt Nam Trong Thời Kỳ Đổi Mới

102 469 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 2,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài luận án chính trị ĐỘC QUYỀN gồm trang, bản đẹp, dễ dàng chỉnh sửa và tách trang làm tài liệu tham khảo bằng phần mềm Adobe Pro DC. MỤC LỤC MỞ ĐẦU.......................................................................................... 1 Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH NHÂN TÀI VÀ SỬ DỤNG NHÂN TÀI........................................................................... 12 1.1. CHÍNH SÁCH NHÂN TÀI VÀ s ử DỤNG NHÂN TÀ I.............12 1.2 KINH NGHIỆM VỀ CHÍNH SÁCH NHÂN TÀI VÀ s ử DỤNG NHÂN TÀI CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI......................................................... 32 Chương 2 THựC TRẠNG QUÁ TRÌNH THựC HIỆN CHÍNH SÁCH NHÂN TÀI VÀ SỬ DỤNG NHÂN TÀI Ở VIỆT NAM............................40 2.1 KHÁI QUÁT VỀ CHÍNH SÁCH NHÂN TÀI VÀ s ử DỤNG NHÂN TÀI Ở NƯỚC TA TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI................................................. 40 2.2 NHỮNG THÀNH Tựu VÀ HẠN CHẾ TRONG TRIỂN KHAI THUC HIÊN CHÍNH SÁCH NHÂN TÀI VÀ s ử DUNG NHÂN TÀI Ở • • • NƯỚC TA HIỆN NAY............................................................................... 62 2.3. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG VIỆC THựC HIỆN CHÍNH SÁCH NHÂN TÀI VÀ SỬ DỤNG NHÂN TÀI....................................................... 71 ? f ? Ấ i  - ? Chương 3. GIAI PHÁP CHÚ YÊU NHẢM NÂNG CAO HIỆU QUÁ THựC HIỆN CHÍNH SÁCH NHÂN TÀI VÀ s ử DỤNG NHÂN TÀI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY......................................................................... 77 3.1 MỘT SỐ PHƯƠNG HƯỚNG TRONG TRIỂN KHAI THựC HIỆN CHÍNH SÁCH NHÂN TÀI VÀ s ử DỤNG NHÂN TÀI.............................77 3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM ĐẨY MẠNH THựC HIỆN CHÍNH SÁCH NHÂN TÀI VÀ SỬ DỤNG NHÂN TÀI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY............... 82 KÉT LUẬN.................................................................................................95 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................. 98 MỞ ĐÀU 1. Tính cấp thiết của đề tài Từ xa xưa cha ông ta đã nhận thức được tầm quan trọng của nhân tài trong chiến lược phát triển đất nước, trong sự hưng vong của quốc gia dân tộc, bởi “hiền tài là nguyên khỉ của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh và hưng thịnh, nguyên khí yếu thi thế nước kém và suy vong” [49, tr 15]. Truyền thống coi trọng trí thức, tôn trọng nhân tài, coi nhân tài là cái gốc của sự phát triển đất nước đã được cha ông ta khẳng định từ hàng ngàn năm trước, kế thừa truyền thống đó, Đảng, Nhà nước ta hiện nay luôn đề cao và tôn trọng nhân tài, nhưng chính sách nhân tài và sử dụng nhân tài hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Hơn nữa, thời đại hiện nay được coi là thời đại thông tin quyết định sự thành bại, nhân tài quyết định sự hưng vong thì chính sách nhân tài và sử dụng nhân tài càng được coi trọng hơn bao giờ hết. Chính vi lẽ đó, việc đào tạo và kén chọn nhân tài trở thành một yêu cầu cho chính sự tồn tại và phát triển của đất nước và mãi mãi là phương châm xuyên suốt quá trình hình thành và phát triển của dân tộc ta. Trong thời đại ngày nay, thời đại mà khoa học và kỹ thuật phát triển vô cùng nhanh chóng thì việc đào tạo nhân tài không chỉ là yêu cầu trước mắt mà chính là yếu tố quyết định đến sự phát triển và rút ngắn khoảng cách giữa Việt Nam với thế giới. Sở dĩ đặt vấn đề như vậy chính là xuất phát từ chỗ, tri thức cần được coi là tài nguyên lớn nhất, quan trọng nhất, không có bất ki tài nguyên nào có thể so sánh được trong thời đại ngày nay. Khi ta nhận thức được rằng tài nguyên2 thiên nhiên dù phong phú đên đâu cũng không phải là vô hạn, trong khi đó nguồn lực về nhân tài lại là nguồn lực không giới hạn. Sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đó đòi phải bồi dưỡng hàng loạt nhân tài đủ tiêu chuẩn. Ke từ sau Đại hội VI sự nghiệp đổi mới được khởi xướng, với phương châm lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm. Ở thời điểm đó Đảng ta đã nắm bắt được mối liên hệ bản chất giữa bồi dưỡng, sử dụng nhân tài và sử dụng công nghiệp hoá - hiện đại hoá, nhấn mạnh và làm nổi bật vi trí vai trò, chiến lược của việc bồi dưỡng, giáo dục nhân tài trong sự nghiệp đổi mới, Đảng ta nhận thức được rằng sự nghiệp đổi mới muốn thành công thì không thể chỉ có hô hào khẩu hiệu mà phải có đội ngũ trí thức, nhân tài lớn mạnh. Bồi dưỡng và giáo dục nhân tài là một chỗ dựa để thực hiện chiến lược phát triển kinh tế đất nước mà còn • • • • • 1 vạch ra chiến lược về phát triển giáo dục bồi dưỡng nhân tài. Đất nước chúng ta, sức của chúng ta mạnh hay yếu, tiềm năng phát triển lớn hay nhỏ ngày càng được quyết định bởi tố chất người lao động, bởi số lượng và chất lượng của trí thức. Tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá là một sự nghiệp to lớn nó đụng chậm tới tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội bao gồm các mặt kinh tể, chính tri, văn hoá, xã hội. Thực tiễn mục tiêu chiến lược phát triển của dân tộc không chỉ vực nền kinh tế lên mà còn cần vực dậy nền giáo dục. Bởi vậy toàn Đảng cần đặt công tác bồi dưỡng và sử dụng nhân tài vào một tầm quan trọng đặc biệt. Sự nghiệp đổi mới muốn thành công thì không thể thiếu nhân tài. Đại hội VIII Đảng ta (1986) đã đề ra chiến lược công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nhưng thế chưa đủ mà cần phải giáo dục đào tạo ra những con người thực hiện chiến lược ấy. Trước thực tế ấy đòi hởi cần phải có một số lượng lớn nhân tài. Chúng ta cần phải bồi dưỡng nên hàng loạt nhà khoa học và chuyên gia kỹ thuật công trình hàng đầu thế giới. Sự3 nghiệp đổi mới công nghiệp hoá, hiện đại hoá không những đòi hỏi hiện đại hoá cơ sở vật chất xã hội mà còn đòi hỏi hiện đại hoá cả con người với tư cách là chủ thể của sự nghiệp đó. Đặc biệt là khi tiến vào thế kỷ 21 quốc tế hoá, hiện đại hoá nhân tài sẽ là một xã hội thế tất yếu. De thích ứng với xu thể phát triển này Đảng ta không những phải đào tạo những nhân tài khoa học kỹ thuật mà còn cần bồi dưỡng những người lao động có trình độ văn hoá khoa học cao, tạo ra năng xuất lao động tốt. Việc giáo dục bồi dưỡng nhân tài có can hệ tới sự on định phát triển lâu dài của đất nước. Với mục tiêu đề ra là tiến tới “Dân giàu nước mạnh xã hội dân chủ, công bằng, văn minh ”, Đảng ta đang ra sức lãnh đạo nhân dân phau đấu vi mục tiêu đó. Nhưng việc thực hiện được mục tiêu đó là quá trình lâu dài, gian khổ, phấn đấu không phải ngày mốt ngày hai, cần có nhiều thế hệ người cùng góp sức chung tay thì mới làm việc được. Chính vi vậy phải ra sức đào tạo nhân tài lớp lớp kế tiếp nhau để hoàn thảnh mục tiêu đó. Đó chính là chiến lược lớn đảm bảo sự phát triển và ổn định lâu dài của đất nước. De đạt được mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh” thì điều kiện tiên quyết là phải có chính sách nhân tài và sử dung nhân tài đúng đắn, khoa học và phải xây dựng được một đội ngũ nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là đội ngũ nhân tài, trí thức khoa học. Trước tình hình mới đang đặt ra nhiều thời cơ và thách thức, để đât nước có thể phát triển thì việc xây dựng được chính sách nhân tài và sử dụng nhân tài đúng đắn và khoa học là vấn đề mang tính chất quyết định. Nhận thức được tầm quan trọng đặc biệt của chính sách nhân tài và sử dụng nhân tài trong chiến lược phát triển quốc gia, trong sự nghiệp đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế, tác giả đã chọn vấn đề: “Chính sách nhân tài và sử dụng nhân tài ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới” làm luận văn thạc sĩ ngành Chính trị học của mình.4 2. Tình hình nghiên cứu Vấn đề nhân tài cũng như sử dụng nhân tài trong chiến lược phát triển của quốc gia là vô cùng quan trọng. Không chỉ hiện nay mà từ xa xưa các triều đại trong lịch sử đã quan tâm tới vấn đề này. Ở Việt Nam hiện nay, Đảng ta, nhân dân ta luôn ý thức được tầm quan trọng của vấn đề. vấn đề này cũng thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học. Chúng ta có thể kể tới một số công trình tiêu biểu sau đây: 2.1 Những công trình nghiên cún về nhăn tài nói chung - “Lựa chọn và sử dụng nhân tài trong lich sử” của tác giả Lê Thị Thanh Hoá, Nxb KHXH, H, 1994. Công trình đã di sâu phân tích ro về nhân tri, chính sách sử dụng nhân tri trong lịch sử, đặc biệt làm rõ phương pháp và cách thức lựa chọn, tuyển chọn nhân tài trong từng thời kỳ lịch sử để đảm nhận những nhiệm vụ phù hợp và phát huy được tài năng. Công trình cũng đã phân tích và nêu bật nên cách thức, hình thức, tình hình sử dụng nhân tài trong từng giai đoạn lịch sử khác nhau. Bằng phương pháp tiếp cận lịch sử, công trình đã phác họa lên bức tranh tổng thể về việc lựa chọn và sử dụng nhân tài trong lịch sử. - “Nhân tài trong chiến lược phát triển quốc gia” của tác giả Nguyễn Đắc Hưng, Nxb CTQG, H, 2004. Công trình này đã phân tích một cách có hệ thống về nhân tài, vai trò, khảo lược vai trò của nhân tài đối với sự hưng vong của quốc gia, dân tộc trong lịch sử; phân tích tầm quan trọng của nhân tài trong chiến lược phát triển đất nước. Những tố chất quan trọng của nhân tài, con đường hình thành nhân tài, tính chất quyết định của nhân tài trong chiến lược và chính sách phát triển của đất nước.5 - “Tìm kiêm nhân tài trong một phili” của tác giả Song Kim, Nxb Thế Giới, 2005. Công trình đã giới thiệu một cách hệ thống toàn diện và sát thực về những sách lược nhận biết nhân tài, đồng thời tác giả đã dùng cách tiếp cận mới mẻ để làm thế nào nhận biết được nhân tài và làm thế nào giữ được nhân tài, làm thế nào để thử thách và sử dụng được nhân tài... - “Những biện pháp lưu giữ nhân tài” của tác giả Trọng Kiên, Nxb LĐXH, 2007. Công trình này đã phân tích khái quát về phương pháp sử dụng nhân tài, trong đó di sâu phân tích các biện pháp để lưu giữ nhân tài trong các cơ quan doanh nghiệp. Công trình đã làm rõ tình hình thực tiễn bối cảnh xã hội hiện đại và phân tích dòng chảy của nhân tài từ các vùng, đơn vi, doanh nghiệp, tập đoàn...này sang chỗ khác, kinh nghiệm lưu giữ nhân tài của các doanh nghiệp, tập đoàn; trong đó tập trung phân tích và chỉ ra các biện pháp thích hợp nhằm thu hút lưu giữ nhân tài. 2.2 Những công trình nghiên cứu về chính sách nhân tài và sử dụng nhân tài - “Phương sách dùng người của cha ông ta trong lịch sử” của tác giả Phạm Hữu Dật, nhà xuất bản Chính tri Quốc gia Hà Nội, 1991. Công trình đã phân tích khái quát quá trình lịch sử dân tộc, trong đó chú trọng làm rõ về phương pháp và cách thức dùng người, quản người, biết người của ông cha ta qua từng giai đoạn lịch sử. Trong đó tác giả di sâu phân tích phương pháp, cách thức bồi dưỡng, nhận biết và sử dụng người. Bằng phương pháp tiếp cận lịch sử, tác giả đã di sâu phân tích phương pháp, ưu, nhược điểm của việc dùng người trong từng giai đoạn lịch sử. -“Khoa cử và giáo dục Việt Nam” của tác giả Nguyễn Quang Thắng, nhà xuất bản Văn hóa thông tin, năm 1994.6 CC Công trình đã đi sâu phân tích hệ thống về nền khoa cử và giáo dục cảu Việt Nam trong lịch sử. Bằng cách tiếp cận lịch sử tác giả đã phác họa lên một bức tranh tổng thể về nền khoa cử Việt Nam dưới thời phong kiến, đồng thời phân tích những điểm hạn chế của nền giáo dục và khoa cử theo lối Nho học, làm rõ những thành tự và đóng góp quan trọng của nền giáo dục trong lịch sử. Tôn trọng tri thức, tôn trọng nhân tài - Ke lớn trăm năm trăn hưng đất nước” của các học giả Trung Quốc: Thẩm Hoa Vinh, Ngô Quốc Điệu do Nguyễn Như Diệm dịch, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội, 1996. Công trình đã đề cập đến bối cảnh lịch sử, nguồn gốc lý luận, nội dung chủ yếu và địa vi lịch sử của tu tưởng Đặng Tiểu Bình về nhân tài, nội dung cuốn sách còn đề cập đến những vấn đề cơ bản về nhân tài: nhân tài là then chốt của phát triển; đường loi tổ chức và việc xây dựng đội ngũ cán bộ; về tuyển chọn nhân tài uu tú; về sử dụng và bố trí nhân tài; về tạo môi trường cho nhân tài phát triển; về cải cách chế độ nhân sự cho nhân tài phát triển... - “Gia đình, nhà trường, xã hội với việc phat hiện tuyển chọn, đào tạo bồi dưỡng và sử dụng nhân tài” của tác giả Nguyễn Trọng Bảo, nhà xuất bản Giáo dục Hà nội, 1996. Cong trình đã phân tích quá trình bồi dưỡng nhân tài, sử dụng nhân tài; làm rõ vai trò của gia đình, nhà trường và xã hội trong việc phát hiện bồi dưỡng và sử dụng nhân tài. Trong đó tác giả đã phân tích mối quan hệ biện chứng, mối liên hệ giữa gia đình, nhà trường và xã hội như những môi trường không thể thiếu để phát hiện, bồi dưỡng và sử dụng nhân tài. - “Trí thức giáo dục đại học Việt Nam thời kỳ đấy mạnh công nghiệp hỏa, hiện đại hóa đất nước”, của tác giả Nguyễn Văn Sơn, nhà xuất bản Hà Nội, 2002.7 Công trình này đã phân tích khái quát tình hình đội ngũ trí thức của nước ta, phân tích thực trạng của giáo dục đại học, phân tích vai trò của đội ngũ trí thức đối với giáo dục đại học trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa. Tác giả cũng đã phân tích yêu cầu đòi hỏi phải đổi mới giáo dục đại học và nâng cao chất lượng, số lượng của đội ngũ trí thức trong sự nghiệp giáo dục, đào tạo ở nước ta trong thời kỳ đổi mới. - “Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa hiện đại hóa đât nước” của tác giả Nguyễn Thanh, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2002. Công trình đã phân tích rõ thực trạng nguồn nhân lực nước ta, chỉ rõ những mặt tích cực và hạn che của chất lượng nguồn nhân lực; làm rõ vai trò của nguồn nhân lực đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Từ đó tác giả đã phân tích những vấn đề đặt ra đối với việc phát triển nguồn nhân lực; đưa ra các kiến nghị giải pháp để phát triển nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. - “Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cản bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, của tác giả Nguyễn Phú Trọng, Trần Xuân sầm, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2003. Công trình này đã phân tích thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ nước ta trong thời kỳ đổi mới, phân tích khái quát vai trò của việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ đối với sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Các tác giả đã di sâu phân tích và nghiên cứu, khái quát và đề xuất những luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. - “Đào tạo nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, De tài KX05 - 10, kỷ yếu hội thảo khoa học, 2003.

Trang 1

Chương 2 THựC TRẠNG QUÁ TRÌNH THựC HIỆN CHÍNH SÁCH NHÂN TÀI VÀ SỬ DỤNG NHÂN TÀI Ở VIỆT NAM 40

2.1 KHÁI QUÁT VỀ CHÍNH SÁCH NHÂN TÀI VÀ s ử DỤNG NHÂN TÀI

Ở NƯỚC TA TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI 40

2.2 NHỮNG THÀNH Tựu VÀ HẠN CHẾ TRONG TRIỂN KHAI THUC HIÊN CHÍNH SÁCH NHÂN TÀI VÀ s ử DUNG NHÂN TÀI Ở• • •NƯỚC TA HIỆN N A Y 622.3 NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG VIỆC THựC HIỆN CHÍNH SÁCHNHÂN TÀI VÀ SỬ DỤNG NHÂN TÀI 71

Chương 3 GIAI PHÁP CHÚ YÊU NHẢM NÂNG CAO HIỆU QUÁ THựC HIỆN CHÍNH SÁCH NHÂN TÀI VÀ s ử DỤNG NHÂN TÀI

Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 77

3.1 MỘT SỐ PHƯƠNG HƯỚNG TRONG TRIỂN KHAI THựC HIỆNCHÍNH SÁCH NHÂN TÀI VÀ s ử DỤNG NHÂN TÀI 773.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM ĐẨY MẠNH THựC HIỆN CHÍNH SÁCHNHÂN TÀI VÀ SỬ DỤNG NHÂN TÀI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 82

KÉT L U Ậ N 95 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM K H ẢO 98

Trang 2

MỞ ĐÀU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Từ xa xưa cha ông ta đã nhận thức được tầm quan trọng của nhân tài trong chiến lược phát triển đất nước, trong sự hưng vong của quốc gia

dân tộc, bởi “hiền tài là nguyên khỉ của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế

nước mạnh và hưng thịnh, nguyên khí yếu thi thế nước kém và suy vong” [49, tr 15].

Truyền thống coi trọng trí thức, tôn trọng nhân tài, coi nhân tài là cái gốc của sự phát triển đất nước đã được cha ông ta khẳng định từ hàng ngàn năm trước, kế thừa truyền thống đó, Đảng, Nhà nước ta hiện nay luôn đề cao và tôn trọng nhân tài, nhưng chính sách nhân tài và sử dụng nhân tài hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu của

sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Hơn nữa, thời

đại hiện nay được coi là thời đại thông tin quyết định sự thành bại, nhân

tài quyết định sự hưng vong thì chính sách nhân tài và sử dụng nhân tài

càng được coi trọng hơn bao giờ hết Chính vi lẽ đó, việc đào tạo và kén chọn nhân tài trở thành một yêu cầu cho chính sự tồn tại và phát triển của đất nước và mãi mãi là phương châm xuyên suốt quá trình hình thành và phát triển của dân tộc ta

Trong thời đại ngày nay, thời đại mà khoa học và kỹ thuật phát triển vô cùng nhanh chóng thì việc đào tạo nhân tài không chỉ là yêu cầu trước mắt mà chính là yếu tố quyết định đến sự phát triển và rút ngắn khoảng cách giữa Việt Nam với thế giới

Sở dĩ đặt vấn đề như vậy chính là xuất phát từ chỗ, tri thức cần được coi

là tài nguyên lớn nhất, quan trọng nhất, không có bất ki tài nguyên nào có thể

so sánh được trong thời đại ngày nay Khi ta nhận thức được rằng tài nguyên

Trang 3

có đội ngũ trí thức, nhân tài lớn mạnh Bồi dưỡng và giáo dục nhân tài làmột chỗ dựa để thực hiện chiến lược phát triển kinh tế đất nước mà còn • • • • • 1

vạch ra chiến lược về phát triển giáo dục bồi dưỡng nhân tài Đất nước chúng ta, sức của chúng ta mạnh hay yếu, tiềm năng phát triển lớn hay nhỏ ngày càng được quyết định bởi tố chất người lao động, bởi số lượng

và chất lượng của trí thức Tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá là một

sự nghiệp to lớn nó đụng chậm tới tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội bao gồm các mặt kinh tể, chính tri, văn hoá, xã hội Thực tiễn mục tiêu chiến lược phát triển của dân tộc không chỉ vực nền kinh tế lên mà còn cần vực dậy nền giáo dục Bởi vậy toàn Đảng cần đặt công tác bồi dưỡng

và sử dụng nhân tài vào một tầm quan trọng đặc biệt

Sự nghiệp đổi mới muốn thành công thì không thể thiếu nhân tài Đại hội VIII Đảng ta (1986) đã đề ra chiến lược công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nhưng thế chưa đủ mà cần phải giáo dục đào tạo ra những con người thực hiện chiến lược ấy Trước thực tế ấy đòi hởi cần phải có một số lượng lớn nhân tài Chúng ta cần phải bồi dưỡng nên hàng loạt nhà khoa học và chuyên gia kỹ thuật công trình hàng đầu thế giới Sự

Trang 4

có trình độ văn hoá khoa học cao, tạo ra năng xuất lao động tốt.

Việc giáo dục bồi dưỡng nhân tài có can hệ tới sự on định phát triển

lâu dài của đất nước Với mục tiêu đề ra là tiến tới “Dân giàu nước mạnh

xã hội dân chủ, công bằng, văn minh ”, Đảng ta đang ra sức lãnh đạo nhân

dân phau đấu vi mục tiêu đó Nhưng việc thực hiện được mục tiêu đó là quá trình lâu dài, gian khổ, phấn đấu không phải ngày mốt ngày hai, cần

có nhiều thế hệ người cùng góp sức chung tay thì mới làm việc được Chính vi vậy phải ra sức đào tạo nhân tài lớp lớp kế tiếp nhau để hoàn thảnh mục tiêu đó Đó chính là chiến lược lớn đảm bảo sự phát triển và ổn định lâu dài của đất nước

De đạt được mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh” thì điều kiện tiên quyết là phải có chính sách nhân tài và

sử dung nhân tài đúng đắn, khoa học và phải xây dựng được một đội ngũ nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là đội ngũ nhân tài, trí thức khoa học Trước tình hình mới đang đặt ra nhiều thời cơ và thách thức, để đât nước có thể phát triển thì việc xây dựng được chính sách nhân tài và sử dụng nhân tài đúng đắn và khoa học là vấn đề mang tính chất quyết định

Nhận thức được tầm quan trọng đặc biệt của chính sách nhân tài và

sử dụng nhân tài trong chiến lược phát triển quốc gia, trong sự nghiệp đổi

mới đất nước và hội nhập quốc tế, tác giả đã chọn vấn đề: “Chính sách nhân tài và sử dụng nhân tài ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới” làm

luận văn thạc sĩ ngành Chính trị học của mình

Trang 5

2 Tình hình nghiên cứu

Vấn đề nhân tài cũng như sử dụng nhân tài trong chiến lược phát triển của quốc gia là vô cùng quan trọng Không chỉ hiện nay mà từ xa xưa các triều đại trong lịch sử đã quan tâm tới vấn đề này Ở Việt Nam hiện nay, Đảng ta, nhân dân ta luôn ý thức được tầm quan trọng của vấn đề vấn đề này cũng thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học Chúng ta có thể kể tới một số công trình tiêu biểu sau đây:

2.1 Những công trình nghiên cún về nhăn tài nói chung

- “Lựa chọn và sử dụng nhân tài trong lich sử” của tác giả Lê Thị

Thanh Hoá, Nxb KHXH, H, 1994

Công trình đã di sâu phân tích ro về nhân tri, chính sách sử dụng nhân tri trong lịch sử, đặc biệt làm rõ phương pháp và cách thức lựa chọn, tuyển chọn nhân tài trong từng thời kỳ lịch sử để đảm nhận những nhiệm

vụ phù hợp và phát huy được tài năng Công trình cũng đã phân tích và nêu bật nên cách thức, hình thức, tình hình sử dụng nhân tài trong từng giai đoạn lịch sử khác nhau Bằng phương pháp tiếp cận lịch sử, công trình đã phác họa lên bức tranh tổng thể về việc lựa chọn và sử dụng nhân tài trong lịch sử

- “Nhân tài trong chiến lược phát triển quốc gia” của tác giả

Nguyễn Đắc Hưng, Nxb CTQG, H, 2004

Công trình này đã phân tích một cách có hệ thống về nhân tài, vai trò, khảo lược vai trò của nhân tài đối với sự hưng vong của quốc gia, dân tộc trong lịch sử; phân tích tầm quan trọng của nhân tài trong chiến lược phát triển đất nước Những tố chất quan trọng của nhân tài, con đường hình thành nhân tài, tính chất quyết định của nhân tài trong chiến lược và chính sách phát triển của đất nước

Trang 6

- “Tìm kiêm nhân tài trong một phili” của tác giả Song Kim, Nxb

Thế Giới, 2005

Công trình đã giới thiệu một cách hệ thống toàn diện và sát thực

về những sách lược nhận biết nhân tài, đồng thời tác giả đã dùng cách tiếp

cận mới mẻ để làm thế nào nhận biết được nhân tài và làm thế nào giữ

được nhân tài, làm thế nào để thử thách và sử dụng được nhân tài

- “Những biện pháp lưu giữ nhân tài” của tác giả Trọng Kiên, Nxb

LĐXH, 2007

Công trình này đã phân tích khái quát về phương pháp sử dụng nhân tài, trong đó di sâu phân tích các biện pháp để lưu giữ nhân tài trong

các cơ quan doanh nghiệp Công trình đã làm rõ tình hình thực tiễn bối

cảnh xã hội hiện đại và phân tích dòng chảy của nhân tài từ các vùng, đơn

vi, doanh nghiệp, tập đoàn này sang chỗ khác, kinh nghiệm lưu giữ nhân

tài của các doanh nghiệp, tập đoàn; trong đó tập trung phân tích và chỉ ra

các biện pháp thích hợp nhằm thu hút lưu giữ nhân tài

nhân tài

- “Phương sách dùng người của cha ông ta trong lịch s ử ” của tác

giả Phạm Hữu Dật, nhà xuất bản Chính tri Quốc gia Hà Nội, 1991

Công trình đã phân tích khái quát quá trình lịch sử dân tộc, trong đó chú trọng làm rõ về phương pháp và cách thức dùng người, quản người, biết

người của ông cha ta qua từng giai đoạn lịch sử Trong đó tác giả di sâu phân

tích phương pháp, cách thức bồi dưỡng, nhận biết và sử dụng người Bằng

phương pháp tiếp cận lịch sử, tác giả đã di sâu phân tích phương pháp, ưu,

nhược điểm của việc dùng người trong từng giai đoạn lịch sử

- “Khoa cử và giáo dục Việt N am ” của tác giả Nguyễn Quang

Thắng, nhà xuất bản Văn hóa thông tin, năm 1994

Trang 7

CC

Công trình đã đi sâu phân tích hệ thống về nền khoa cử và giáo dục cảu Việt Nam trong lịch sử Bằng cách tiếp cận lịch sử tác giả đã phác họa lên một bức tranh tổng thể về nền khoa cử Việt Nam dưới thời phong kiến, đồng thời phân tích những điểm hạn chế của nền giáo dục và khoa

cử theo lối Nho học, làm rõ những thành tự và đóng góp quan trọng của nền giáo dục trong lịch sử

Tôn trọng tri thức, tôn trọng nhân tài - Ke lớn trăm năm trăn hưng đất nước” của các học giả Trung Quốc: Thẩm Hoa Vinh, Ngô

Quốc Điệu do Nguyễn Như Diệm dịch, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia

Hà Nội, 1996

Công trình đã đề cập đến bối cảnh lịch sử, nguồn gốc lý luận, nội dung chủ yếu và địa vi lịch sử của tu tưởng Đặng Tiểu Bình về nhân tài, nội dung cuốn sách còn đề cập đến những vấn đề cơ bản về nhân tài: nhân tài là then chốt của phát triển; đường loi tổ chức và việc xây dựng đội ngũ cán bộ; về tuyển chọn nhân tài uu tú; về sử dụng và bố trí nhân tài; về tạo môi trường cho nhân tài phát triển; về cải cách chế độ nhân sự cho nhân tài phát triển

- “Gia đình, nhà trường, xã hội với việc phat hiện tuyển chọn, đào

tạo bồi dưỡng và sử dụng nhân tà i” của tác giả Nguyễn Trọng Bảo, nhà

xuất bản Giáo dục Hà nội, 1996

Cong trình đã phân tích quá trình bồi dưỡng nhân tài, sử dụng nhân tài; làm rõ vai trò của gia đình, nhà trường và xã hội trong việc phát hiện bồi dưỡng và sử dụng nhân tài Trong đó tác giả đã phân tích mối quan hệ biện chứng, mối liên hệ giữa gia đình, nhà trường và xã hội như những môi trường không thể thiếu để phát hiện, bồi dưỡng và sử dụng nhân tài

- “Trí thức giáo dục đại học Việt Nam thời kỳ đấy mạnh công

nghiệp hỏa, hiện đại hóa đất nước”, của tác giả Nguyễn Văn Sơn, nhà

xuất bản Hà Nội, 2002

Trang 8

Công trình này đã phân tích khái quát tình hình đội ngũ trí thức của nước ta, phân tích thực trạng của giáo dục đại học, phân tích vai trò của đội ngũ trí thức đối với giáo dục đại học trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa Tác giả cũng đã phân tích yêu cầu đòi hỏi phải đổi mới giáo dục đại học và nâng cao chất lượng, số lượng của đội ngũ trí thức trong sự nghiệp giáo dục, đào tạo ở nước ta trong thời kỳ đổi mới

- “Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa hiện đại hóa

đât nước” của tác giả Nguyễn Thanh, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà

Nội, 2002

Công trình đã phân tích rõ thực trạng nguồn nhân lực nước ta, chỉ rõ những mặt tích cực và hạn che của chất lượng nguồn nhân lực; làm rõ vai trò của nguồn nhân lực đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Từ đó tác giả đã phân tích những vấn đề đặt ra đối với việc phát triển nguồn nhân lực; đưa ra các kiến nghị giải pháp để phát triển nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

- “Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cản bộ

trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, của tác

giả Nguyễn Phú Trọng, Trần Xuân sầm, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia

Hà Nội, 2003

Công trình này đã phân tích thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ nước ta trong thời kỳ đổi mới, phân tích khái quát vai trò của việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ đối với sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Các tác giả đã di sâu phân tích và nghiên cứu, khái quát và đề xuất những luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

- “Đào tạo nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất

nước”, De tài KX05 - 10, kỷ yếu hội thảo khoa học, 2003.

Trang 9

Đây là công trình nghiên cứu khoa học rất công phu De tài này đã khái quát những nét cơ bản về thục trạng nguồn nhân lực và công tác đào tạo nguồn nhân lục ở nuớc ta; phân tích tầm quan trọng của công tác đào tạo nguồn nhân lực để phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nuớc

De tài đã đề xuất các giải pháp và kiến nghị để nâng cao chất luợng công tác đào tạo nguồn nhân lục ở nuớc ta trong thời kỳ đổi mới

- “Định hướng phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam trong công

nghiệp hóa, hiện đại hóa” của tác giả Phạm Tất Dong, nhà xuất bản Chính

trị Quốc gia Hà Nội, 2003

Công trình này đã tập trung phân tích thục trạng đội ngũ trí thức nuớc ta, làm rõ nhung mặt tích cực và hạn chế của đội ngũ trí thức; phân tích vai trò của đội ngũ trí thức đối với sự nghiệp cách mạng và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tác giả của công trình cũng đã đề xuất một

số giải pháp, kiến nghị để phát triển đội ngũ trí thức nuớc nhà, đặc biệt là tác giả cũng đã đề xuất các định huớng lớn trong công tác phát triển đội ngũ trí thức

- “Tài năng trẻ phat triển và sử dụng’’'’ của tác giả Hồ Bá Thâm, nhà

xuất bản Tổng hợp, thành phố Hồ Chí Minh, 2005

Công trình đã cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn, nhất là tu góc

độ triết học, xã hội, nhân văn và tâm lý, giáo dục học cho việc phát hiện, đánh giá, lựa chọn, đào tạo, bồi duỡng và sử dụng tài năng, phát triển tài năng; tập trung làm rõ cơ sở lý luận và khoa học của vấn đề nhân tài và nhân tài trẻ, trong đó phân tích sâu hơn vấn đề cơ chế sinh học - xã hội - chủ thể - môi truong và nhận thức - tâm lý của vấn đề đối với việc đánh giá, su dụng và phát triển tài năng trẻ

- “Lược khảo về kỉnh nghiệm phát hiện, đào tạo và sử dụng nhân

tài trong lịch sử Việt N am ”, của tác giả Phạm Hồng Tung, nhà xuất bản

Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2008

Trang 10

Đây là công trình công phu và có giá trị, đánh giá một cách tương đối toàn diện và súc tích về những mặt tốt và những hạn chế của thực tiễn đào tạo và sử dụng nhân tài của cha ông trong lịch sử Từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm hữu ích, góp phần xây dựng luận cứ khoa học cho việc hoạch định chiến lược phát triển nhân tài ở nước ta hiện nay

- “Đảnh giả, quy hoạch, luân chuyển cản bộ lãnh đạo quản lý thời

kỳ đấy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” của tác giả Trần

Đình Hoan, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2008

Những công trình trên đây đã góp phần làm rõ nhiều vấn đề về vấn

đề nhân tài và sử dụng nhân tài Với các phương pháp tiếp cận khác nhau, các tác giả đã cho ta thấy nhiều phương diện của vấn đề nhân tài và sử dụng nhân tài như: vấn đề lý luận về nhân tài và sử dụng nhân tài; vấn đề

sử dụng nhân tài trong lích sử; các biện pháp thu hút và lưu giữ nhân tài; kinh nghiệm về sử dụng nhân tài; các nhân tố tác động đến việc phát hiện, tuyển chọn và sử dụng nhân tài Nhưng ta chưa thấy có công trình nào di sâu nghiên cứu, phân tích, làm rõ, đánh giá về chính sách nhân tài và sử dụng nhân tài của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới Từ thực tế tình hình nghiên cứu trên, trong luận văn của mình tác giả sẽ di sâu phân tích thực trạng việc thực hiện chính sách nhân tài và sử dụng nhân tài của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới

3 Mục tiêu và nhiệm vu nghiên cứu• • • O

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Thông qua việc phân tích thực trạng triển khai thực hiện chính sách

về nhân tài và sử dụng nhân tài ở Việt Nam hiện nay, luận văn đề xuất những giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách nhân tài và sử dụng nhân tài ở Việt Nam trong thời gian tới

Trang 11

4 Đối tượng và giới hạn nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu thực trạng quá trình thực hiện chính sách nhân tài và sử dụng nhân tài ở Việt Nam trong thời kỳ đồi mới

4.2 Giới hạn nghiên cứu

Tập trung nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tiễn việc thực hiện chính sách nhân tài và sử dụng nhân tài ở nước ta trong thời kỳ đổi mới(từ 1986 đến 2013)

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận : De tài dựa trên phương pháp luận của chủ

nghĩa duy vật biện chúng và duy vật lịch sử

5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thế: luận văn sử dụng các

phương pháp liên ngành và chuyên ngành như: lịch sử, logic, phân tích - phân tích hệ thống, phân tích chính sách, tổng hợp, điều tra khảo sát, thống kê, v.v, đặc biệt là phương pháp phân tích chính sách với tính cách

là sản phẩm hay “đầu ra” của hệ thống chính trị

6 Những đóng góp về khoa học của luận văn

- Luận văn có những đóng góp mới về kết quả đánh giá việc triển khai thực hiện chính sách nhân tài và sử dụng nhân tài ở Việt Nam từ góc độ chính tri học

Trang 12

l l

- Đề xuất các giải pháp và kiến nghi để đẩy mạnh việc thực hiện có hiệu qau chính sách nhân tài và sử dụng nhân tài ở Việt Nam trong thời gian tới

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Với tinh thần nghiên cứu khoa học nghiêm túc và thực sự cầu thị, luận văn có thể cung cấp những dữ liệu, các phân tích đánh giá thực hiện chính sách nhân tài và sử dụng nhân tài ở Việt Nam cho các cơ quan nghiên cứu, hoạch định chính sách, các cơ quan quản lý; có thể làm tài liệu tham khảo cho các cơ sở đào tạo

- Luận văn cung cấp thêm những luận cứ khoa học cho các nhà nghiên cứu, cho Đảng ta hoạch định chính sách chủ trương đúng đắn để phát hiện đúng và bồi dưỡng sử dụng đúng nhân tài góp phần xây dựng đất nước

- Ket quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy về vấn đề phát hiện, bồi dưỡng và sử dụng nhân tài của Đảng ta

8 Ket cấu của luân văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu làm 3 chương, 9 tiết

Trang 13

Chương 1

LÝ LUẬN CHUNG VÈ CHÍNH SÁCH NHÂN TÀI VÀ

SỬ DỤNG NHÂN TÀI

1.1 CHÍNH SÁCH NHÂN TÀI VÀ s ử DỤNG NHÂN TÀI

1.1.1 Mot số khái niêm cơ bản• •

De hiểu khái niệm nhân tài, chúng ta cần tìm hiểu một số khái niệm gần với nó như tài năng, thiên tài Trên thực tế chúng ta có thể thấy rằng thiên tài thì hết sức hiếm nhưng nhân tài thì nhiều hơn

Người tài giỏi là người có tài, người tài năng Tài năng là tổng hợp các phẩm chất ý chí, trí tuệ, cảm xúc, ý chí và hành động ở mức cao hơn nhiều so với trình độ trung bình của xã hội và đạt hiệu quả công tác cao,

có ý nghĩa xã hội lâu dài Người có tài năng như vậy là nhân tài

Có thể phân biệt một cách đơn giản cho dễ hiểu như sau:

Thứ nhất, người giỏi là người thành thạo công việc đạt hiệu quả cao

hơn so với người khác;

Thứ hai, người tài là có phát hiện sáng tạo mới, có sáng kiến lớn

nhưng trong phạm vi khuôn khổ xã hội đương thời đã đạt được, tức là cao hơn người giỏi, vi phải có năng khiếu cao, còn giỏi thì không nhất thiết có năng khiếu cao, từ đó đạt được kết quả rất cao;

Thứ ba, người được gọi là thiên tài là người có năng lực cao siêu

việt, đạt được thành tựu khác người, có tầm vượt thời đại, vạch ra khuynh hướng mới, đạt kết quả phi thường vô song (trong lĩnh vực khoa học, nghệ thuật, quân sự, chính tri )

Nhân tài như đã nói là một thuật ngữ khoa học, đồng thời cũng là ngôn ngữ được dùng trong đời thường, trong cuộc sống ngày nay một người được coi là có tài khi họ hoàn thành công việc tốt đẹp, nhanh chóng

Trang 14

và hoàn hảo hơn người, nhưng lại nhẹ nhàng it tốn sức lực và tiền bạc hơn Như vậy trong cuộc sống, tài năng được nhận ra khi hoạt động đã hoàn thành, đã có kết quả hay sản phẩm Nói cách khác, xã hội xác nhận tài năng của một người căn cứ vào kết quả hoạt động đã đạt được của người đó

Nhân tài hay người có tài năng, nhất là thiên tài - những người có năng lực xuất chúng trong lĩnh vực của mình có những phẩm chất tốt đẹp theo những tiêu chuẩn trí tuệ, đạo đức và thẩm mỹ cao được toàn xã hội công nhận, tất nhiên là có tính lịch sử Tài năng hay nhân tài, trong lịch

sử phát triển của xã hội loài người đã chứng tỏ rằng tương lai của mỗi dân tộc đều phụ thuộc phần lớn vào trí tuệ xuất chúng của những bậc thiên tài,

có làm cho lịch sử có những bước nhảy vọt về chất hay không chính là khi những thiên tài đó được phát lộ

Cho nên khi xem xét vấn đề nhân tài phải đặt trong tổng thề, từ khia cạnh sinh học, yếu tố di truyền, yếu tố địa lý nhân văn, xã hội học cũng như chính trị xã hội, mỹ học văn hóa, giáo dục doa tạo mới có cách nhìn khoa học và đầy đủ về nhân tài

Nhân tài là một khái niệm có nội hàm rộng và cũng giống như văn hóa, nó có nhiều cách hiểu và nhiều cách định nghĩa khác nhau

Ở phương Tây, nhân tài theo nghĩa thông thường được hiểu là

người có tài năng Nhưng nếu di sâu nghiên cứu ta sẽ khó thấy có một cách hiểu hay một quan niệm nhân tài thống nhất, trong giới hạn nghiên cứu tác giả chỉ đưa ra một số quan niệm nhân tài được phương Tây thừa nhận dựa trên việc tham khảo các công trình nghiên cứu có liên quan của các học giả Âu, Mỹ

Thành tich luận và học thức luận là quan điểm dựa trên thành tích

và học thức để đánh giá nhân tài Thành tlch luận căn cứ chủ yếu vào

Trang 15

cống hiến thực tế của con người đó cho xã hội để nhận định nhân tài, mang yếu tố bên ngoài, mang tính khách quan trong việc đánh giá nhân

tài Học thức luận chủ yếu dựa vào thành tích học tập trong vốn tri thức mà

con người tích lũy được để nhận định nhân tài, nhấn mạnh tố chất nội tại của nhân tài Tuy nhiên trên thực tế cả hai quan điểm đó đều có những hạn chế nhất định đối với việc xác định nhân tài Đặc biệt trong tình trạng tiêu chuẩn đánh giá nhân tài còn thiếu tính xác thực khoa học thì xác định như vậy thường dẫn đến việc không thể giải thích được việc dự đoán những tài năng tiềm tàng và việc mất di tài năng của nhân tài.[43,tr 26]

Phi thường luận và đại chúng luận là quan điểm nhấn mạnh tính

kiệt xuất của nhân tài, quan điểm này cho rằng nhân tài là người có tốchất phi thường, là nhân vật uu tú nổi bật Phần lớn các học giả đều cho

rằng sáng tạo là tố chất đặc trưng của nhân tài Phỉ thường luận còn xác

định nhân tài ở mức độ cao của việc thể hiện cá nhân so với mức độ thể • • • • •

hiện của phần còn lại dân chúng Đại chủng luận cho rằng, ai cũng có tài

sáng tạo Do quá nhấn mạnh tính phổ biến của nhân tài, đại chúng luận dường như đã bỏ quên tính đặc thù - tính sáng tạo của nhân tài, nhưng nhìn chung đây là quan niệm nhân tài cần thiết của chính sách nhân tài hiện đại Dựa trên tính tích cực của thuyết này, nhiều nhà nghiên cứu đã đề xuất sử dụng cách tiếp cận và mở rộng phạm vi nhân tài trong việc thể hiện tài năng Theo đó, một nhân tài là người khi ở trong điều kiện thuận lợi thể hiện một cách xuất sắc và rõ ràng tài năng của mình Tài năng của con người là tiềm năng thể hiện sự uu tú và sáng tạo mang lại giá trị cho cá nhân và xã hội [43,tr 26].

Tóm lại, cho dù có nhiều cách hiểu khác nhau về nhân tài, song một nhận thức chung mà các học giả phương Tây thống nhất quan điểm cho rằng đó là những người có tài năng học thức, có năng lực, tu cách, có khả năng làm việc hiệu quả Có đóng góp và ảnh hưởng quan trọng đói với sự phát triển của một quốc gia hay một co quan doanh nghiệp

Trang 16

ơ phương Đông, đặc biệt là Trung Quôc, ngay từ rat sớm nhân

tài được coi là những người có tài và có học Quan niệm này dần hình

thành nên truyền thống trọng dụng hiền tài trong lịch sử Trung Quốc

Trên con đường phát triển của mình, Trung Quốc luôn coi nhân tài là

rường cột của nước nhà, nhân tài quyết định sự hưng thịnh hay suy vong

của quốc gia dân tộc Trong giai đoạn hiện nay, tuy vẫn tồn tại nhiều quan

niệm về nhân tài khác nhau dựa trên các luận thuyết phương tây, cũng như

các quan niệm cổ đại về nhân tài Theo tinh thần mới Hội nghị Trung ương

Đảng Cộng sản Trung Quốc về công tác nhân tài họp ngày 19 -20/12/2003,

khái niệm nhân tài được khẳng định như sau: Là người có tri thức và năng

lực nhất định, có thể tiến hành lao động sáng tạo đem lại cống hiển và

sáng tạo nhất định cho sự phát triển kinh tế và xã hội” [43, tr 29]

Như vậy, các tố chất học thức, tài năng và tính sáng tạo chính là đặc trưng co bản của nhân tài Nhưng trong khái niệm nhân tài có chứa nội

hàm học thức và không phải ai cũng nhận thức được tính sáng tạo là thuộc

tính chung tiêu biểu, là tố chất trọng tâm của nhân tài nên hiện nay ở

Trung Quốc vẫn có thói quen gọi nhân tài và trí thức là một Đây là một

cách hiểu khiên cưỡng Nhân tài không thuộc về một giai tầng xã hội cố định

nào Họ bao gồm mọi tầng lóp, mọi ngành nghề mọi lĩnh vực trong xã hội: nhân

tài lãnh đạo, nhân tài chính trị, nhân tài khoa học, nhân tài giáo dục, nhân tài văn

nghệ sĩ, nhân tài thể thao Nhu vậy tính cụ thể và tính da phương diện của năng

lực con người quyết định tính rộng lớn của con người

Trang 17

phải nắm được tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lenin về nhân tài Trong các quan điểm về nhân tài và chính sách sử dụng nhân tài của chủ nghĩa Mác - Lê nin cần chú ý các luận điểm sau:

Thứ nhất, quần chúng nhân dân là kho báu nhân tài lớn nhất.

Chủ nghĩa Mác - Lenin cho rằng trong quần chúng nhân dân lao động tiềm ẩn một nguồn nhân tài vô cùng phong phú, là kho báu nhân tài lớn nhất Sau cách mạng tháng Mười, VI Lenin nhiều lần chỉ ra rằng trong dân chúng có rất nhiều nhà tổ chức thiên tài Tháng 3 năm 1920 Lenin chỉ rõ: Những người lao động này trước nay chưa từng sống trong trạng thái bi mật giả tạo, cách biệt với quần chúng, từ rất sớm họ đã hiểu

rõ mối quan hệ giữa những người trong số họ nhiều hơn nhiều so với bất

kỳ giai cấp nào khác Rất rõ ràng đối với nhà lãnh tụ cách mạng Mác xít, nhân tài tuyệt nhiên không chỉ là một số it những nhân vật thiên tài, nhân vật vĩ đại, mà các nhân tài ở từng lĩnh vực cụ thể và công nhân, nông dântiên tiến đều là nhân tài [45, tr22]

Thứ hai, chế độ xã hội quyết định sự phát triển của nhân tri

Chủ nghĩa Mác cho rằng các che độ xã hội khác nhau có ảnh hưởng

khác nhau tới sự phát triển của nhân tài Lenin chỉ ra một cách sắc sảo rằng: những người có tài năng trong quần chúng là vô tận Nhưng chủ nghĩa tư bản đã bóp nghẹt kìm hãm và làm mai một hàng loạt nhân tài trong công nhân và nhân dân lao động, họ bi huy hoại và chà đạp Lenin khẳng định chỉ có chế độ chủ nghĩa xã hội mới lần đầu tiên tạo ra những thuận lợi cho nhân tài thể hiện bản lĩnh trí tuệ của mình, phát hiện người có tài năng, tạo ra cục diện mới cho nhân dân tài lớp lớp xuất hiện [45, tr 23]

Thứ ba, thời thế tạo ra hàng loạt nhân tài kiệt xuất

Mác chỉ rõ: mỗi xã hội mỗi thời đại đều cần có những vĩ nhân của mình, nếu không có những vĩ nhân vậy thì nó sẽ phải tạo ra [45, tr 23]

Trang 18

Hai là, cuộc đấu tranh cách mạng vĩ đại tạo nên những nhân tài vĩ

đại, lịch sử cho thấy muốn tiến hành đấu tranh cách mạng có hiệu quả cần phải có những nhân vật kiệt xuất, có tài năng để lãnh đạo to chức Đúng như Lênin nói, trong lịch sử bất kỳ giai cấp nào, nếu không tạo ra được những lãnh tụ chính trị và đại biếu tiên phong biết tổ chức và lãnh đạo phong trào của mình thì không thể giành được địa vi thống trị Nhu cầu đấu tranh là cái có khả năng nhất để tạo ra nhân tài Dù là khởi nghĩa của

nô lệ, phong trào nông dân, đấu tranh của giai cấp tu sản hay là cách mạng của giai cấp vô sản đều tạo ra trong cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp hàng loạt những lãnh tụ của giai cấp mình [45, tr 25]

Ba là, bất cứ nhân tài nào cũng đều mang đặc trưng của thời đại, có

tính hạn chế lịch sử Vi dụ, Xanh Xi Mông là nhà chủ nghĩa xã hội không tưởng sở dĩ là như vậy là do thời đại của họ nền sản xuất tu bản chủ nghĩa còn chưa phát triển thì họ chỉ có thể như vậy Ngay cả những nhân vật vĩ đại như Mác - Ănghen vốn không thể thoát khỏi sự chế ước của lịch sử

Nhân tài nảy sinh trong thực tiễn, quần chúng là chủ thể thực tiễn Thực tiễn sinh ra nhân tài, nhân dân nuôi dưỡng nhân tài, đó là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lenin về quan hệ giữa nhân tài và thực tiễn, nhân tài

Trang 19

và quần chúng Trước khi giai cấp vô sản giành được chính quyền, nhân tài chính trị, quân sự của giai cấp vô sản được tạo tạo lên trong đấu tranh cách mạng vĩ đại Năm 1919, Lenin chỉ ra rằng, nếu nhìn vào con đường

mà vi lãnh tụ đó đi qua, chúng ta lập tức phát hiện rằng tài tổ chức tuyệt vời của người đó đã được rèn luyện lên trong quá trình lâu dài, rằng tất cả mọi phẩm chất tốt đẹp của nhà cách mạng có ở vi lãnh tụ cách mạng vô sản đó đều được điều kiện tự rèn luyện trong môi trường công tác cách mạng gian khổ nhất qua các thời kỳ

Sau Cách mạng Tháng Mười thực tiên xây dựng chủ nghĩa xã hội đã bồi dưỡng nên hàng loạt chuyên gia trên nhiều lĩnh vực có tri thức kỳ thuật và kinh nghiệm khác nhau, từ đó đã thực hiện thuận lợi bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội Tri thức, tài năng của nhân tài bắt nguồn từ thực tiễn

mà quần chúng nhân dân lại là chủ thế của thực tiễn xã hội Do đó, quần chúng là co sở để nhân tài ra đời và tồn tại Sự trưởng thành của nhân tài,

dù là nhân tài kiệt xuất hay nhân tài vĩ đại đều không tách rời khỏi kinh nghiệm thực tiễn xã hội, trí tuệ và năng lực quần chúng của nhân dân, không tách rời sự nuôi dưỡng của quần chúng nhân dân

Thứ tư, vẩn đề lựa chọn đủng nhân tài là then chốt của sự thành bại trong công cuộc cách mạng và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

VI Lenin cho rằng lựa chọn nhân tài là vấn đề then chốt của toàn

bộ cục diện chính tri, nó phải trở thành nhiệm vụ quan trọng hàng đầu củaĐảng Chủ nghĩa Mác - Lenin cho rằng có cả đức tài là tiêu chuẩn cơ bản

để lựa chọn nhân tài Sau Cách mạng Tháng 10 thành công, căn cứ vàotình hình thực tiễn VI Lenin đã nêu ra tiêu chuẩn lựa chọn nhân tài là• • •phải có cả đức và tài, có đầu óc tỉnh táo và bản lĩnh thực tế Trong khi lãnh đạo nhân dân xây dựng chủ nghĩa xã hội, Lenin đã nêu ra vấn đề lựa chọn nhân tài bằng nhiều con đường trong đó chủ yếu là: lựa chọn nhân tài từ trong tầng lớp trí thức của giai cấp tư sản Lenin cho rằng giai cấp

Trang 20

tư sản đã từng lợi dụng những nhân tài vốn là của giai cấp ấy để phục vụ cho họ, ngày nay chúng ta phải biết tiếp thu nắm vững tranh thủ những trí thức và tố chất vốn là của giai cấp tư sản để phục vụ cho giai cấp mình

Một là, Lenin cho rằng, cần tuyển chọn nhân tài từ trong giai cấp và

quần chúng công, nông Ngay từ buổi đầu thành lập Xô Viết, VI Lenin đã chú ý lựa chọn nhân tài trong gia cấp công, nông và ông cho rằng đội ngũ nhân tài trong giai cấp này là lực lượng kiên trung, và có bản lĩnh hơn ở trong các giai, tầng khác

Hai là, cần lựa chọn nhân tài từ trong cán bộ đảng viên VI Lenin cho

rằng cán bộ cơ sở đều ở tuyến đầu của sản xuất công tác nên họ có thực tế, có tri thức có năng lực sáng tạo Chúng ta không thể gạt bỏ những điều kiện đến từ cơ

sở, có tính sáng tạo này mà cần mạnh dạn trong việc đề bạt họ vào đảm nhiệm các chức vụ lãnh đạo, tạo điều kiện cho họ có khả năng phát huy năng lực tổ chức của mình, phục vụ cho cách mạng và xây dụng đất nước

Thứ năm, ra sức bồi dường con người mới phát triển toàn diện

Đây là một trong những nội dung quan trọng trong quan niệm của chủ nghĩa Mác về nhân tài Những người sáng lập chủ nghĩa Mác, đã nghiên cứu ra bản chất của con người và xây dựng học thuyết về sự phát triển toàn diện của con người Năm 1845, cuốn Hệ tu tưởng Đức, do Mác

- Ảnghen cùng viết đã lần đầu tiên trình bày tương đối có hệ thống về sự phát triển toàn diện của con người là sự phát triển toàn diện tài năng của con người, trong đó có năng lực tu duy; là sự phát triển độc đáo và tự do của cá nhân Năm 1847 trong tác phẩm “Những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản”, Ănghen đã bàn một cách sâu sức về hàm nghĩa của sự phát triển toàn diện của con người, ông chỉ ra rằng con người hoàn toàn mới Năm 1867, trong tác phẩm “Tu bản”,

công nghiệp đại cơ khí cần thay thể những cá nhân cục bộ chỉ đảm đương một chức năng xã hội cục bộ bằng thứ cá nhân phát triển toàn diện Có thể

Mác

Trang 21

thây con người mới phát triên toàn diện mà những người sáng lập chủ nghĩa Mác đề ra là trạng thái lý tưởng của sự phát triển của con người trong xã hội cơ bản Bởi vậy, con người mới phát triển toàn diện là phương hướng phát triển của nhân tài chủ nghĩa xã hội

Thứ sáu, tin tưởng vào những nhân tài trẻ tuổi

Đây là một nội dung quan trọng nữa trong kho báu tư tưởng của chủ nghĩa Mác về nhân tài Các bậc thầy cách mạng Mác - Ảnghen - Lenin đều rất quan tâm và coi trọng nhân tài trẻ tuổi, đánh giá cao vai trò của

họ Ngay từ năm 1919, Lenin đã nói: cần có lực lượng trẻ, tôi thật muốn

đề nghị bắn ngay kẻ nào cả gan nói rằng không có nhân tài Nhân tài của nước Nga xuất hiện rất nhiều, có điều cần thu hút một cách rộng rãi và mạnh dạn hơn Trước mắt đang là thời chiến, kết cục của toàn bộ cuộc đấu tranh đều do thanh niên, sinh viên trẻ đặc biệt là công nhân trẻ quyết định Hãy vứt bỏ di mọi thói quen cũ cứng đờ chỉ coi trọng địa vi đẳng cấp

Trên đây là những vấn đề sơ lược trong quan điểm của chủ nghĩa Mác về nhân tài Qua sự khái lược trên, chúng ta có thể thấy sự ra đời và phát triển tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lenin về nhân tài gắn bó chặt chè với sự nghiệp cách mạng của giai cấp vô sản Nó cung cấp vũ khí tư tưởng quý giá cho việc nghiên cứu nhân tài Đó là cơ sở lý luận để chúng

ta tiếp tục chiến lược bồi dưỡng, phát hiện và trọng dụng nhân tài vi kế lớn trăm năm của chủ nghĩa xă hội

1.1.3 Tư tưởng Hồ Chỉ Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhân tài và sử dụng nhân tài

1.1.3.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân tài và sử dụng nhân tài

Mồi một thời đại lich sử thường sản sinh ra một vĩ nhân, ở thời đại của chúng ta lịch sử đã sinh ra Hồ Chủ tịch Một con người mà càng rời xa vào quá khứ thì lại càng có sức hấp dần và toa sang đến thần kỳ ở hiện tại và tương

Trang 22

lai Người là hiện thân của đạo đức, nhân cách, ý chí, bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam Người là anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá, là người đã sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta Hồ Chí Minh đã để lại cho toàn Đảng toàn dân ta một tài sản vô giá, đó chính là hệ thống tư tưởng, lý luận của Người

Hồ chí Minh là một tấm gương sáng trong đạo đức cách mạng, đặc biệt là trong việc biết người, dung người và quản người Người là một điển hình mẫu mực trong tôn trọng và sử dụng nhân tài

Sinh ra và lớn lên trong cảnh nước mất nhà tan, có lòng yêu nước

vô bờ bến, có nhãn quan chính trị nhạy bén và sâu sắc ngay từ khi lớn lên Người đã ý thức được việc để đấu tranh,để làm cách mạng, giải phóng dân tộc, làm cho nước ta thoát khỏi ách áp bức nô lệ vươn lên xây dựng đất nước giàu mạnh thì cần phải có nhiều người tài giỏi, cần phải có một lực lượng những con người yêu nước nồng nàn, được trang bi kiến thức, lý luận cách mạng sâu sắc Ý thức được điều đó chung như thấm nhuần truyền thống hiếu học, yêu nước tôn trọng kẻ sĩ người hiền của cha ông, trong quá trình hoạt động cách mạng Hồ Chí Minh luôn quan tâm theo dõi, phát hiện bồi dưỡng người tài đức để thúc đấy cách mạng tiến lên

- Vị trí, vai trò của nhãn tài

Chủ tịch Hồ Chí Minh có quan niệm nhất quán về vi trí vai trò của nhân tài và khẳng định : trong thời đại mới để đánh bại được bọn thực dân,

đế quốc nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng loài người, nếu chỉ có tinh thần cách mạng và lực lượng đông đảo của quần chúng thôi thì chưa đủ, cách mạng muốn thành công thì phải có nhiều người tài giỏi, phải có nhiều trí thức, chuyên gia Đánh giá cao vai trò và

địa vi của nhân tài, trí thức Hồ Chí Minh khẳng định : "Tri thức là vốn

liếng quỷ báu của dân tộc Ó nước khác như the ở Việt nam càng thế Chứng thực là trong cuộc kháng chiến cứu quốc này, những người trí thức

Trang 23

Việt Nam đã chung một phân quan trọng Một sô thì trực tiep tham gia vào

nhân dân Một sổ thì hăng hái hoạt động giúp đỡ ở ngoài ” [24, tr 156].

Người khẳng định rằng : Vi sự nghiệp mười năm phải trồng cây, vi

sự nghiệp tram năm phai trồng người Chính bởi lẽ đó mà trong cuộc đời

hoạt động cách mạng của mình ngưòi luôn quan tâm chăm 1o bồi dưỡng, giáo dục đào tạo con người, đặc biệt là những người tài đức Vi trăn trở suy

tư đó mà khi sắp sửa di về thế giới người hiền, trong Di chúc bất hủ, Người

đã không quên căn dặn Đảng ta là phải đào tạo, bồi dưỡng các thế hệ lớp

người kể tục sự nghiệp cách mạng vừa “hồng” vừa “chuyên ” [25, tr 510].

Người viết : ”Đảng cần phải chăm lo giao dục đạo đức cách mạng

cho họ, đào tạo họ thành nhũng người thừa kế xay dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”[25, tr 510] Tức là phải giáo dục bồi dưỡng,

coi trọng đào tạo nhân tài vừa có bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng,

có tinh thần yêu nước, tự tôn dân tộc vừa có kiến thức khoa học kỹ thuật chuyên môn nghiệp vụ giỏi, xứng đáng là lực lượng kế tục trung thành và xuất sắc sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Đảng và của dân tộc

- Chính sách nhân tài và sử dụng nhân tài

Ngay từ khi còn hoạt động cách mạng tại Quảng Châu - Trung Quốc Người đã tập hợp và mở lớp bồi dưỡng li luận chính trị cách mạng cho những người Việt Nam yêu nước Người đã tuyển chọn những thanh niên ưu tú có tinh thần cách mạng để đào tạo họ thành những cán bộ cách mạng đầu tiên của nước ta Có thể nói đây là những hạt giống đỏ đầu tiên của cách mạng Việt Nam

Ngay sau khi cách mạng tháng Tám 1945 nước ta đứng trước khó khăn vô cùng to lớn, đất nước nghèo đói kiệt quệ, cơ sở vật chất thiếu

thốn lại thù trong giặc ngoài, tình thế lúc này như “ngàn cân treo sợi

Trang 24

tóc ’ Lúc này vô cùng thiếu thốn nhân tài ra giúp nước, ra gánh vác công

việc của quốc dân, Sau ngày độc lập, hơn 90% dân số của nước ta mù chữ, trong tình thể đó thì làm sao mà có nhân tài được Ý thức được như

thế Hồ Chí Minh đã ra sắc lệnh lập Nha bình dân học vụ, cả nước xóa mù

chừ nhằm nâng cao trình độ văn hóa, tri thức khoa học của nhân dân Bởi

vi chỉ trong môi trường được giáo dục và học tập như thế thì sau này mới

có thể nảy sinh hàng loạt nhân tài được Người khẳng định:“Nhân tài

nước ta dù nhiều lắm nhưng nếu chủng ta khéo lựa chọn, khéo phan phoi, khéo dùng thì nhân tài ngày càng phat triển càng thêm nhiều ” [ 23, tr, 45] Người ý thức rằng lúc khó khăn này chúng ta cần có nhiều nhân tài

nhưng nếu được chính phủ khéo lựa chọn, khéo dùng thì nhan tài sẽ nảy

nở ngày càng nhiều thêm Lời khẳng định này cho đến nay vẫn còn nguyên tính thời sự sâu sắc

Trong bài “ Tìm người tài đức “Người đã nêu nên rằng: “Nước nhà

cần phải kiến thiết, kiến thiết cần phải cỏ nhân tài Trong so 20 triệu đồng bào chắc không thiểu người có tài có đức Vi chỉnh phủ nghe không đến, thấy không khap, đến nỗi những bậc tài đức không thể xuất than Khuvết điểm đó tôi xin thừa nhận Nay muon sửa đôi điểu đó và trọng dụng những kẻ hiền năng, cac địa phương phai lập tức điều tra nơi nào

có người tài đức, có thể làm được những việc ích nước lợi dân thi phai báo cáo ngay cho chính phủ biết ” [23, tr 451] Trong bối cảnh ấy,

trong lúc con thuyền cách mạng đang phải trải qua muôn ngàn song gió thử thách thì ta càng thấy rõ hơn về cái tâm cầu hiền của một nhà cách mạng vĩ đại Trong Báo Cứu quốc số 91, ra ngày 14/11/1945, Người kêu

gọi: “Đồng bào ta ai có tài năng và sảng kiến vào những công việc lại

sẵn long hăng hải giúp ích nước nhà thì xin gửi kể hoạch cho rõ ràng cho chỉnh phủ Chúng tôi sẽ nghiên cứu kế hoạch ẩy một cach kỹ lưỡng có thể thực hành được thì sẽ thực hành ngay”[23, tr 452].

Trang 25

Ý thức được vấn đề đó đến năm 1946 khi sang Pháp Người đã cảm hóa được nhiều con người tài năng, giỏi giang ở nhiều lĩnh vực rời bỏ nơi phồn hoa sung sướng ở nước ngoài để theo Hồ Chí Minh về nước đồng cam cộng khổ cùng nhân dân bắt tay xây dựng đất nước và chiến đấu

Minh

nước là rat nhiêu

Bằng cảm quan chính trị mẫn tiệp cũng như với trai tim nhân hậu vàtấm lòng chân thành một lòng một dạ cầu hiền, Người đã cảm hoá và quy

tu được nhiều anh tài kiệt xuất ở nhiều lĩnh vực để rời bỏ cái tôi cá nhân • • • •đứng dưới cờ đại nghĩa không ngừng tận tuy vi nước, vi dân nhiều người tài giỏi như Huỳnh thúc Kháng, Tôn thất Tùng, Tạ Quang Bửu, Trần Đại Nghĩa, Đặng Văn Tố đã di theo tiếng gọi của người, di theo cách mạng, chính sách thu hút nhân tài của Người được đông đảo giới trí thức hưởng ứng Người thu phục các nhân sĩ trí thức không phải bằng danh vọng, tiền vàng mà chính bằng nhân tâm trong sáng, bằng trái tim và lý trí của người cộng sản chân chính Có thể nói rằng trong hoàn cảnh lúc ấy của đất nước,

mà đã có những nhân tài vi nước vi dân theo nghĩa lớn mà về phục vụ Tổ quốc, đó là điều vô cùng cần kíp và quan trọng Điều đó chứng tỏ ý thức cũng như tầm nhìn xa của Hồ Chí Minh về nhân tài và vai trò của nhân tài trong kháng chiến kiến quốc

Là một người thức thời, luôn đề cao sự nghiệp cách mạng và xây dựng đất nước, Người luôn trăn trở, suy nghĩ về vấn đề bồi dưỡng nhân tài, xây dựng lớp lớp những thế hệ cán bộ tiếp tục sự nghiệp cách mạng vừa hồng và chuyên Đối với Hồ Chí Minh nhân tài trước tiên phải là người có đức, đức và tải phải di đôi với nhau, đức là nền tảng để tài nảy

nở và phát triển Người cũng chỉ ra rằng nhân tài mà không có đức thì đó

là một điều vô cùng nguy hiểm, Người khẳng định : “Có tài phai có đức.

Trang 26

- Phương thức sử dụng nhân tài

Hồ Chí Minh không chỉ phát hiện ra nhân tài, hiểu nhân tài mà còn rất tinh tế và khoa học trong việc sử dụng nhân tài Nhiều lần Người căn

dặn : Dụng nhân như dụng mộc, phải biết từng loại gồ, chất lượng tốt xấu

ra sao để mà dùng trong từng công việc, loại nào thì dùng mà loại nào bỏ

di, loại nào để làm nhà, loại nào để làm bàn ghế Tức là trong sử dụng nhân tài thì tuy người, tuy tài năng mà sử dụng, giao việc cho hợp lý để nhân tài phát huy đươc trí tuệ, sở trường của mình Người khuyên phải tuy việc mà chọn người, vi việc mà chọn người Lời căn dặn đó thật chí tình chí lý mà lại ẩn chứa trong đó cả một khoa học về dùng người Trong thực tiễn cách mạng chúng ta thấy, Người đã căn cứ vào tài năng đức độ

Trang 27

mà giao cho nhiều nhân sĩ trí thức ngoài Đảng đảm nhận các chức vụ quan trọng, điển hình nhu Cụ Huỳnh Thúc Kháng làm đến phó Chủ tich nuớc và nhiều nhân sĩ trí thức khác như :Ông Đặng Thai Mai, ông Trương Đình Thi

Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân tài và sử dụng nhân tài là một giá trị vô cùng to lớn đối với Đảng ta trong sự nghiệp đổi mới Những quan điểm, tư tưởng của Người về nhân tài và tầm quan trọng của nhân tài cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị, sáng ngời tính thời sự sâu sắc

về nhân tài và vai trò của lực lượng này đã được Đảng ta chú trọng rất sớm Tuy nhiên, qua mồi giai đoạn lịch sử vấn đề nhân tài, trí thức

được đánh giá, nhìn nhận và khơi dậy năng lực khác nhau

- Đảng ta đã bước đầu nhận thức được tầm quan trọng của đội ngũ

nhân tài đối với sự nghiệp đổi mới

Đại hội VI (tháng 12/1986) của Đảng đã đánh dấu một bước thay đổi căn bản từ nhận thức đến hành động trong tư duy về quan hệ chính trị với kinh tế Ở đây, Đảng cũng đã có những đổi mới trong việc nhìn nhận,

đánh giá về đội ngũ nhân tài, trí thức Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc

lần thứ VI (năm 1986), khẳng định: “Nhân tài không phải là sản phẩm tự

phát mà phải được phát hiện và bồi dưỡng công phu Nhiều tài năng có

thể mai một nếu không phát hiện và sử dụng đủng lúc, đủng chỗ [10, tr 75] Như vậy là ngay từ khi bắt đầu khởi xướng sự nghiệp đổi mới, trước

bối cảnh trong nước và quốc tế có nhiều chuyển biến quan trọng, Đảng ta

đã nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của việc phải phát hiện và bồi

dưỡng nhân tài để không làm lãng phí nhân tài, Văn kiện đã chú trọng

đến đội ngũ nhân tài và xem đây là yếu tố quan trọng để thúc đẩy sự nghiệp đổi mới

Trang 28

Đại hội đại biêu Đảng toàn quôc lân thứ VII (năm 1991), Đảng ta đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000, trong đó ghi rõ

“Giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân tri, đào tạo nhân lực, boi dưỡng nhân tài, bồi dưỡng nhieu người giỏi về khoa học, công nghệ, kỉnh doanh, quản lỷ kỉnh tế, xã hội Nhà nước có chỉnh sách toàn diện thực hiện giảo dục phổ cập phù hợp với yêu cầu và khả nang của nền kỉnh tế, phát triển năng khiếu, bồi dưỡng nhân tà i” “Mở rộng đào tạo nghề; bồi dưỡng nhiều người giỏi về khoa học, công nghệ, kinh doanh, về quản lý kinh tể, xã hội và nhieu công nhân lành nghề; nâng cao trình độ văn hoá, khoa học, kỹ thuật cho người lao động” [ l l , tr 83] Văn kiện Đại hội

Đảng toàn quốc lần thứ VII đã có bước chuyển biến mới về nhận thức về

nhân tài và sử dụng nhân tài, văn kiện khẳng định đẩy mạnh giáo dục đào tạo để từ đó nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, từ

đó bồi dưỡng nhiều nhân tài, trí thức giỏi trên nhiều lĩnh vực, ngành nghề Bước phát triển của trong tư duy của Đảng về nhân tài còn thể hiện ở chỗ không chỉ quan tâm bồi dưỡng nhân tài mà còn đào tạo bồi dưỡng nhiều người giỏi nhiều ngành nghề, trong đó chú ý đến đào tạo nâng cao trình

độ cho cả công nhân lành nghề và người lao động

Đại hội Đảng lần thứ VIII (1996) đã đề ra chủ trương tiến hành công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, để có thể đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đâị hoá thì không thể thiếu nhân tài, trí thức cũng như nguồn nhân lực chất lượng cao Trong Văn kiện Đại hội Đảng ta đã

nêu rõ: “Xây dựng hệ thống trường chuyên, trường trọng điểm, trung tâm

chất lượng cao ở các bậc học Coi trọng việc dạy ngoại ngữ và tin học từ cấp phổ thông Đổi mới hệ thống giáo dục chuyên nghiệp và đại học, ket hợp đào tạo với nghiên cứu, tạo nguồn nhân lực đủ khả năng tiếp cận

Trang 29

công nghệ tiên tiên Mở rộng hệ thông các trường lớp dạy nghê và đào tạo công nhân lành nghề Phat triển đào tạo sau đại học; tăng số lượng đào tạo đại học và sau đại học ở nước ngoài và tại các trung tăm đào tạo quốc tế ở trong nước Khuyến khich du học tự túc Dành ngân sách Nhà nước thoa đảng để cử những người giỏi và có phẩm chat tốt di đào tạo và bồi dưỡng về những ngành nghề và lĩnh vực then chốt ở những nước có nền khoa học, công nghệ phat triển ” [13, tr 107] Ở đây chúng ta thấy tư

duy về nhân tài của Đảng đã có những chuyển biến tích cực thể hiện ở một số quan điểm mới về bồi dưỡng, đào tạo nhân tài như: Đổi mới hệ thống giáo dục; khuyến khích du học; cử người giỏi có phẩm chất di đào tạo ở các nước có nền khoa học công nghệ phát triển Những tu duy mới này là bước đột phá quan trọng trong tu duy của Đảng về nhân tài và sử dụng nhân tài

- Đảng ta đã đưa ra được hệ thong cac quan diêm, chính sach cụ

thể về giáo dục, đào tạo và boi dưỡng; tạo cơ che chỉnh sach cho đội ngũ nhân tài, trí thức

Trong văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IX, Đảng

ta khẳng định “Có quy hoạch và chính sách tuyển chọn người giỏi, đặc

biệt chú ỷ trong con em công nhân và nông dân, để đào tạo ở các bậc đại học và sau đại học Tầng ngân sách nhà nước cho việc cử người đi đào tạo ở các nước có nền khoa học và công nghệ tiên tiến Khuyến kh1ch việc

du học tự túc Có chinh sách đãi ngộ đặc biệt đối với các nhà khoa học

cỏ công trình nghiên cứu xuất sắc; khuyến khich cán bộ khoa học, kỹ thuật công tác tại các vùng khó khăn, vùng nông thôn; động viên các nhà khoa học bám sát cơ sở sản xuất, hướng dẫn nhân dân nam bắt và làm chủ những tri thức mới về khoa học và công nghệ” [15, tr 65] Tới Đại hội

này tu duy của Đảng về nhân tài và sử dụng nhân tài có nhiều bước đột

Trang 30

phá mới thê hiện tại các quan điêm như đã chú trọng bôi dưỡng nhân tài

từ nguồn là con em nông dân, công nhân; có chính sách đãi ngộ đặc biệt với nhà khoa học xuất sắc; cử người giỏi di công tác tại các địa bàn khó khăn Đây là những tư duy mới, phù hợp với tình hình đất nước và đã đem lại những kết quả tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội

Tư duy mới của Đảng về nhân tài và sử dụng nhân tài thể hiện rat rõ nét tại Hội nghị Trung uong 6 (khoá IX), trong đó lần đầu tiên Đảng ta xác định phải xây dựng và hoàn thiện hệ thống co chế chính sách bồi dưỡng, sử dụng nhân tài, cũng như chính sách tôn vinh nhân tài Đây là điều kiện quan trọng để nước ta có một đội ngũ nhân tài hùng hậu để phát

triển đất nước Nghị quyết đã khẳng định: “Hoàn thiện hệ thống cơ chế,

chỉnh sách, phát hiện, đào tạo, boi dưỡng, sử dụng nhân tài, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá Sớm xây dựng chỉnh sach sử dụng và tôn vinh các nhá giáo, cán bộ quản lý giỏi, những người có công lao lớn trong sự nghiệp giáo dục, đào tạo Nâng cao chat lượng đào tạo sau đại học, chẩn chỉnh việc phong chức danh, học vi, cấp văn bằng” [16, tr 128].

Trước bối cảnh toàn cầu hoá và cách mạng khoa học công nghệ phát triển như vũ bão, ý thức được tầm quan trọng của nhân tài trong sự phát triển của đất nước, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc te, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ x, Đảng ta đã đề ra tư tưởng chỉ đạo mới, những tư duy

chiến lược về phát triển nhân tài: “Xúc tiến xây dựng một so trường đại

học của Việt Nam đạt đẳng cấp quốc tế, đào tạo nhân tài cho đất nước”[17, tr 207] “Thực hiện chỉnh sách trọng dụng nhân tài, các nhá khoa học đầu ngành, tông công trình sư, kv sư trưởng, kỹ thuật viên lành nghề và công nhân kỹ thuật có tay nghề cao Thu hút chuyên gia, đặc biệt là chuyên gia giỏi người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia giảng dạv, phát triển khoa học và công nghệ ở Việt N am ”[17, tr 212].

Trang 31

Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 7 (khoá X), khi

bàn đến công tác trí thức, Trung ương đã khẳng định “De phát triển đội

ngũ tri thức, cần hoàn thiện môi trường và điều kiện thuận lợi cho hoạt động của trí thức; ban hành quy chế dân chủ trong hoạt động khoa học, giảo dục và đào tạo, văn hoá, văn nghệ; tập trung đầu tư, tạo môi trường, điều kiện đê tri thức hăng hải hoạt động và cống hiến; xây dựng và thực hiện chỉnh sách trọng dụng, đãi ngộ và tôn vinh trí thức, thu hut tri thức Việt Nam ở trong nước và nước ngoài tham gia phat triển đất nước; tạo chuyển biến căn bản trong đào tạo, bồi dưỡng tri thức, cần nâng cao nhận thức của cac cấp uỷ đảng, chỉnh quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể về vi trí, vai trò của trí thức; hoàn thiện hệ thong văn bản quy

khuyến khích và bảo đảm quyền lợi, trách nhiệm của trí thức khỉ tham gia cac hoạt động tư vấn, phản biện các dự án phát triển kỉnh te - xã hội Phê phán và xoá bỏ sự coi nhẹ, thành kiến và quy chụp đổi với những ỷ kiến phản biện mang tính xây dựng Đồng thời đề cao trách nhiệm của tri thức, củng cổ và nâng cao chất lượng các hội của trí thức ” [12] Như vậy là

lần đầu tiên Đảng ta đã xây dựng một Nghị quyết riêng bàn về công tác trí thức, điều đó thể hiện sự tin tưởng, quan tâm, coi trọng của Đảng đối với đội ngũ tinh hoa dân tộc, đề cao vai trò của trí thức trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ To quốc

Tới Đại hội lần thứ XI của Đảng đưa ra chủ trương mới về sự phát triển, nhấn mạnh nhân tố con người, coi trọng phát triển bền vững, hài

Trang 32

hòa, chủ tương thay đổi mô hình tăng trưởng Trong Chiến lược phát triển

kinh tế - xã hội giai đoạn (2011 - 2020), Đảng ta đã chỉ rõ “Đặc biệt coi

trọng phát triển đội ngũ lãnh đạo, quản lý giỏi, đội ngũ chuyên gia, quàn tri doanh nghiệp giỏi, lao động lành nghề và cán bộ khoa học, công nghệ đầu đàn”[19, tr 130] Trong tư duy về nhân tài của Đảng tại Đại hội XI

có sự đổi mới và tiến bộ hơn, hướng đến coi trọng phát triển đội ngũ lãnh đạo quản lý, chuyên gia đầu ngành, đầu đàn, tức là hướng đến phát triển đội ngũ tinh hoa, đội ngũ nhân tài tiên phong

Tiếp tục phát triển tư duy về nhân tài và sử dụng nhân tài, gần đây nhất, Bộ chính trị đã ra Ket luận số 86 - KL/TW, ngày 24/01/2014 về chính chính sách thu hút, tạo nguồn cán bộ từ sinh viên tốt nghiệp xuất

sac, cán bộ khoa học trẻ, trong đó nhấn mạnh mục tiêu: “Xây dựng cơ

chế, chỉnh sách đủ sức thu hút sinh viên tốt nghiệp, cản bộ khoa học trẻ

có trình độ, năng lực chuvên môn cao, phẩm chất tốt, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hỏa, hội nhập quốc tế để từng bước đào tạo, boi dưỡng thành nhân tài cho đất nước” [20, tr 2] Ket luận đã chú ý tới

việc thu hút, đào tạo nhân tài từ nguồn sinh viên xuất sắc tốt nghiệp, cán

bộ trẻ khoa học, đây là nguồn nhân lực chất lượng cao cần được quan tâm bồi dưỡng Điều đó thể hiện sự quan tâm của Đảng đến thế hệ trẻ, đến những tài năng trẻ và công tác ươm mầm, bồi dưỡng nhân tài cho tương lai, thể hiện tầm nhìn xa, tu duy chiến lược của Đảng

Như vậy, từ Đại hội lần thứ VI (1986) của Đảng đến nay, vấn đề phát triển nhân tài đã được quan tâm hơn trước và trở thành một mục tiêu

co bản của chiến lược con người, một nội dung chính trong đường lối đổi mới giáo dục và phát triển khoa học công nghệ phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Quán triệt và thực hiện hiệu quả chủ trương trên

Trang 33

của Đảng vê nhân tài và sử dụng nhân tài sẽ tạo ra diện mạo mới của việc

phát huy nhân tố con người trong quá trình phát triển của đất nước ta,

hình thành lên đội ngũ hàng loạt những nhân tài kiệt xuất trên nhiều lĩnh

vực để mở lối tiên phong dẫn dắt toàn dân tộc bước lên con đường phát

triển mới Tuy đường loi, quan điểm của Đảng và Nhà nước về vấn đề này

từ 1986 đến nay là nhất quán, song chỉ là những chỉ dần, những điểm

nhấn mạnh được the hiện thiếu tập trung, rải rác trong những nghị quyết,

chủ trương chung về đổi mới, phát triển giáo dục, đào tạo và khoa học

công nghệ Trong suốt gần 30 năm qua chưa có một văn kiện nào của

Đảng, Nhà nước hay nghị định nào của Chính phủ về vấn đề nhân tài V1

vậy nước ta cho tới nay chưa có chiến lược nhân tài Đã den lúc Đảng,

Nhà nước, Chính phủ và toàn dân quan tâm tới việc soạn thảo một chiến

lược phát triển nhân tài

1.2 KINH NGHIỆM VỀ CHÍNH SÁCH NHÂN TÀI VÀ s ử DỤNG NHÂN TÀI CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

Hiện nay nhiều nước thấy rõ giá trị của chất xám của nhân tài

Nhiều nước phát triển và đang phát triển rất coi trọng chính sách nhân tài

và doa tạo nhân tài, xem đó là quốc sách quan trọng nhất Hàn Quốc cho

rằng nhân tài là quan trọng số một có nước đã lập những công ty chuyên

nghiên cứu và săn tìm nhân tài Những công ty này đã di den nhiều nước

đẻ tuyển dụng nhân tài mang về làm việc cho nước mình

1.2.1 Chỉnh sách nhân tài và sử dụng nhân tài của nước Mỹ

Nước Mỹ là nước có chính sách thu hút nhân tài mạnh mẽ nhất từ trước tới nay Đó là nguyên nhân lớn tạo nên sự phát triển nhanh và giàu

mạnh của họ Nước Mỹ rất quan tâm tới việc phát hiện và bồi dưỡng

nhân tài trẻ em có năng khiếu, đào tạo tài năng cũng rất sớm Từ cuối thế

kỷ 19 tói nay mỗi năm họ chi hàng tỷ đô 1a cho việc đào tạo nghiên cứu

Trang 34

Đồng thời để có thêm nhiều tiềm năng trí tuệ, Chính phủ Mỹ đã thu hút nhân tài khắp mọi nơi trên thể giới và khai thác triệt để những tinh hoa trí tuệ của ho.

1.2.2 Chính sach nhân tài và sử dụng nhân tài của Singapo

Singapore được đánh giá là quốc gia có chính sách thu hút nhân tài nước ngoài bài bản nhất thế giới Điều này cũng dễ hiểu bởi ngay từ khi mới lên cầm quyền, cựu Thủ tướng Lý Quang Diệu đã xác định rõ nhân tài là yếu tố then chốt quyết định khả năng cạnh tranh và phát triển của nền kinh tế Chính vi thế, trong suốt những năm qua, thu hút nhân tài, đặc biệt là nhân tài nước ngoài đã trở thành chiến lược ưu tiên hàng đầu của Singapore Là quốc gia được tạo dựng nên từ những người nhập

cư, Singapore chào đón tất cả những ai có thể đóng góp phần mình vào công cuộc phát triển kinh tế của đất nước Tuy nhiên, với dân số quá it (4,5 triệu dân), tỷ lệ sinh liên tục sụt giảm, Singapore rơi vào cuộc khủng hoảng dân số Rõ ràng, tình trạng dân số cũng như nguồn lực lao động bi

"co lại" sẽ là một trong những nguyên nhân quan trọng gây ra nguy cơ khủng hoảng thiếu nhân tài

Trang 35

Tự nhận biết người tài trong nước là có giới hạn, lãnh đạo Singapore bắt tay ngay vào việc hoạch định chính sách sử dụng người nhập cư (hay còn gọi là chính sách tuyển mộ nhân tài nước ngoài) như đòn bẩy về nhân khẩu học để bù vào sự thiếu hụt lực lượng lao động bản địa

Năm 1998, sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á, Singapore thành lập hẳn ủ y ban Tuyển dụng Tài năngSingapore Tháng 10/2001, tại một diễn đàn đại học, ông Lý Quang Diệu nói với các sinh viên rằng: "Muốn thành công trong lĩnh vực nghệ thuật, y học, giáo dục , cách duy nhất Singapore phải thực hiện là mở rộng nhân tài trên khắp thế giới Chúng ta sẽ thất bại nếu không phát triển được đội ngũ này"

Hơn thế, lãnh đạo nước này còn xác định rõ rằng nhân tài "ngoại" không chỉ là "nguồn vốn đặc biệt" về kinh tế, mà họ còn là "động lực mạnh mẽ cho Singapore phấn đấu liên tục vi những chuẩn cao hơn" (Văn kiện chính sách của Singapore năm 2000) Thêm nữa, những người nhập

cu cũng góp phần đem lại "sự phong phú, da dạng, mang thêm màu sắc,

sự giàu có và hương vi cho đời sống văn hoá của Singapore"

Trong 5 năm qua, Singapore đã thu hút được một bản danh sách ấn tượng những nhà khoa học lồi lạc của thế giới Nói đến nhân tài nước ngoài ở Singapore, có lẽ không thể không kể đến những nhà giải phẫu thần kinh học, các lập trình viên phần mềm, các giám đốc ngân hàng, các các siêu chuyên gia tầm cỡ thế giới và các giáo su trong lĩnh vực nghiên cứu và phát triển

1.2.3 Chính sách nhân tài và sử dụng nhân tài ở Nga

Nước Nga ngày nay cũng rất coi trọng đến chính SÁCH nhân tài và sử dụng tài năng, dù qua nhiều bước thăng trầm Không có những tài năng lớn thì

không thể có sự nghiệp lớn Đất nước suy vi là do nguyên khí này suy vi

về đào tạo tài năng, các nhà giáo dục ở Nga những năm 80 của thế

kỷ trước đã rát quan tâm đến nhiều vần đề đào tạo tài năng Họ cho rằng

Trang 36

trong nhân dân có rất nhiều tài năng, mà tài năng không phải tự nhiên mà

có được mà chính do con người tạo ra Sở dĩ xã hội thiếu nhân tài là vi nhà trường và xã hội không đặt ra nhiệm vụ đào tạo tài năng hoặc có đặt

ra nhưng chưa đào tạo đúng Từ những kinh nghiệm của mình, các nhà giáo dục Nga cũng đã thấy rằng để đào tạo một chuyên gia giỏi trong mọi lĩnh vực chúng ta cần một khoảng thời gian tương đương nhau, vào khoảng trên dưới 10 năm Bắt đầu bồi dưỡng nhân tài càng sớm càng tốt như vậy nhân tài sẽ xuất hiện ngày càng sớm Họ rất quan tâm đến đào tạo tài năng trẻ

Hiện tượng một số em tốt nghiệp tú tài, thậm trí là bằng cử nhân ở

độ tuổi 13 - 14 ở Nga, ở Mỹ và các nước khác hiện nay chính là kết quảcủa chính sách giáo dục và đào tạo năng động Các nhà giáo dục Đức thìcho rằng, bồi dưỡng tài năng thì trước hết là hình thành ở học sinh những đặcđiểm và thuộc tính nhân cách như nhu cầu và hứng thú trí tuệ, mức độ nhu cầu,tính nhạy cảm, tính tưởng tượng, khả năng làm việc tốt trong thời gian hạn định

và khả năng cộng tác Theo kinh nghiệm của họ thì bồi dưỡng tài năng có nghĩalà: làm bôc 1o nhu cầu về trí tue và khát vong thuc hiên nhu cầu đó; tao đươc• • • • • • / • •

mục đích riêng và theo đuổi nó một cách có trách nhiệm; hình thành hệ giá trị bên trong; tận dụng được sự mẫn cảm trong sự phát triển để gắn kết vào mục đích và hệ giá trị bên trong đó

1.2.4 Chỉnh sách nhân tài và sử dụng nhân tài ở Trung Quốc

Trung Quốc hiện nay đang có chính sách nhân tài và sử dụng nhân tài đồng bộ hoàn thiện và hiệu quả nhất Văn kiện hội nghị Trung ương 5 khoá XV (10/2010), ghi rõ: “nhân tài là nguồn quý giá nhất Cạnh tranh quốc tế trong hiện tại và tương lai, xét cho cùng là cạnh tranh về nhân tài

Vi vậy phải nắm thật chắc nhiệm vụ chiến lược trọng đại là bồi dưỡng, đào tạo, thu hút và sử dụng nhân tài” Luật giáo dục của Trung Quốc ghi

Trang 37

rõ: Nhiệm vụ của giáo dục cao đăng là bôi dưõng những nhân tài chuyên môn cao cấp có tinh thần sáng tạo và năng lực thực tiễn, phát triển khoa học kỹ thuật văn hoá, đẩy mạnh xây dựng hiện đại hoá xã hội chủ nghĩa”

Đảng và Nhà nước Trung Quốc rat tôn trọng và ủng hộ, trao quyền tự

do nghiên cứu, đồng thời tạo mọi điều kiện làm việc và sinh sống thuận lợi cho các chuyên gia, nhất là các nhà khoa học hàng đầu có khả năng

"đột phá" trong các lĩnh vực kỹ thuật then chốt, phát triển ngành công nghiệp kỹ thuật cao và những đề tài nghiên cứu mới Chính phủ kêu gọi chính quyền các địa phuong đẩy mạnh hơn nữa chủ trương đào tạo và thu hút nhân tài cho đất nước

"De cương nhân tài" là một kế hoạch lớn tiếp theo hàng loạt biện pháp

về vấn đề này De cương nêu ra mục tiêu tổng thể phát triển nhân tài đến năm

2020 là, tổng lượng nguồn nhân tài phải từ 114 triệu người hiện nay tăng lên den 180 triệu người; tỷ lệ số người có trình độ đại học ở độ tuổi lao động từ gần 10% hiện nay tăng lên đến 20%, đồng thời xây dựng một số điểm cao nhân tài trong các lĩnh vực trọng điểm phát triển kinh tế và xã hội như chế tạo trang thiết bi, thông tin, công nghệ sinh học, hàng không vũ trụ, v.v

De cương nêu rõ nhiệm vụ chủ yếu xây dựng đội ngũ nhân tài: Một là, chú trọng đào tạo nhân tài khoa học - kỹ thuật loại hình sáng tạo, cố gắng bồi dưỡng một số nhà khoa học, nhân tài dẫn đầu khoa học công nghệ, kỹ sư trình

độ thế giới và ê-kíp mới sáng tạo trình độ cao Hai là, ra sức khai thác nhân tài chuyên ngành, bức xúc cần thiết cho các lĩnh vực trọng điểm phát triển kinh

tế và xã hội, tạo sự hỗ trợ chất xám cho việc phát triển hệ thống công nghiệp hiện đại Ba là, trù tính chung thúc đầy xây dựng đội ngũ nhân tài như nhân tài kinh doanh, quản lý doanh nghiệp, nhân tài kỹ năng cao, nhân tài thực dụng nông thôn, v.v đào tạo hàng trăm triệu nhân tài các loại, mấy chục triệu nhân tài chuyên ngành và một số nhân tài sáng tạo mũi nhọn

Trang 38

Trung Quốc chú ý cải thiện vấn đề quản lý nhân sự, chuẩn hóa các hoạt động hành chính và thúc đẩy cơ quan quản lý nhân sự giảm thiểu các thủ tục hành chính và lệ phí Bên cạnh đó, thiết lập và hiện đại hóa các chế độ cho viện nghiên cứu khoa học, trường học, chế độ y tế công cộng để phù họp chế

độ quản lý nhân tài Hoàn thiện thể chế quản lý nhân sự lãnh đạo doanh nghiệp Nhà nước, kiện toàn chế độ nhân sự doanh nghiệp phù họp yêu cầu của doanh nghiệp hiện đại

Để thu hút nhân tài từ nước ngoài về nước tham gia công việc nghiên cứu, Trung Quốc đã đề ra rất nhiều kế hoạch như "Ke hoạch trăm người", "Ke hoạch thu hút nhân tài kiệt xuất từ nước ngoài", "Ke hoạch đội sáng tạo họp tác quốc tế" Chính phủ tài trợ cho các dự án nghiên cứu của những trường đại học và viện nghiên cứu tuyển dụng họ Đầu năm 2007, Viện Khoa học Trung Quốc đã cử một đoàn tuyển dụng nhân tài với quy mô lớn, di đến các nước châu Âu và Mỹ, tuyển dụng nhân tài là các lưu học sinh ưu tú Đây là một trong những hoạt động tuyển dụng ở nước ngoài quan trọng nhất của Viện Khoa học Trung Quốc trong thời gian qua

Nhằm đáp ứng nhu cầu hội nhập thị trường thế giới, nhiều công ty có tầm cỡ ở Trung Quốc, thuộc sở hữu tư nhân cũng như nhà nước, đang cạnh tranh với nhau để thu hút những nhà quản lý từng làm việc cho các công ty da quốc gia ở Trung Quốc hay ở nước ngoài Trong gần 15 năm, Trung Quốc đã

nỗ lực thu hút chất xám là những nhân tài khoa học - kỹ thuật người Trung Quốc từ Mỹ trở về nước làm việc Tháng 12-2008, chính quyền cũng phát động chương trình "Hàng nghìn nhân tài" với mục tiêu là đưa 2.000 nhân tài

về nước trong vòng 5 - 1 0 năm tới Chính quyền các tỉnh cũng đã khởi động các chiến dịch hấp dẫn tài năng "nhí" từ người Trung Quốc hồi hương Chính sách thu hút nhân tài hồi hương cũng tập trung vào số lưu học sinh thông qua các buổi giao lưu, giới thiệu tình hình đất nước và tổ chức tuyển dụng việc

Trang 39

và phục vụ Trung Quốc bằng chất xám, bằng đầu tu của mình.

Nhìn chung chúng ta thấy các nước rất chú trọng đào tạo trọng dụng tài năng Chỉ có điều cần lưu ý là qua nghiên cứu, nhiều người đều thống nhất nhận định rằng, tất cả những nước có tốc độ phát triển cao, có hiệu quả nhất là những nước trọng dụng nhân tài

Tiểu kết chương 1

Trên co sở nghiên cứu, tác giả đã phân tích để làm rõ một số vấn đề

lý luận chung về nhân tài và sử dụng nhân tài như: khái niệm nhân tài, chính sách nhân tài và sử dụng nhân tài, hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về nhân tài và sử dụng nhân tài Trong đó, luận văn đã di sâu phân tích, nghiên cứu những nội dung trong tư tưởng Hồ Chí Minh, phân tích quá trình phát triển tư duy nhận thức của Đảng ta về nhân tài và sử dụng nhân tài trong thời kỳ đổi mới Bên cạnh đó luận văn cũng đã phân tích một số vấn đề lý luận chung về chính sách công và đánh giá chính sách công Trên co sở đó đề ra tiêu chí để đánh giá nhân tài và chính sách nhân tài Tác giả luận văn cũng đã nghiên cứu, phân tích rõ hơn về hệ tiêu chí đánh giá nhân tài trong thời kỳ phong kiến cũng như thời kỳ hiện nay, qua đó

Ngày đăng: 29/04/2017, 23:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Đinh Văn Ân, Hoàng Thu Hoa, “Giáo dục và đào tạo, chìa khoá của sự phát triển ”, NXB tài chính, Hà Nội, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giáo dục và đào tạo, chìa khoá của sự phát triển ”
Nhà XB: NXB tài chính
3. Nguyễn Trọng Bảo,“ơ/a đình, nhà trường, xã hội với việc phathiện tuyên chọn, đào tạo bồi dưỡng và sử dụng nhân tà i”, NXB Giáo dục Hà nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ơ/a đình, nhà trường, xã hội với việc phathiện tuyên chọn, đào tạo bồi dưỡng và sử dụng nhân tà i
Tác giả: Nguyễn Trọng Bảo
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà nội
Năm: 1996
4. Nguyễn trọng Bảo “Xây dựng đội ngủ cán bộ lãnh đạo và quản lý kỉnh doanh trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước” , NXB Giáo dục Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Xây dựng đội ngủ cán bộ lãnh đạo và quản lý kỉnh doanh trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước”
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
5. Lê Thanh Bình, “Tiến trình phát triển văn hoá truyền thông đại chúng và vấn đề nhân tà i”, tạp chí Văn hoá nghệ thuật, số 5, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiến trình phát triển văn hoá truyền thông đại chúng và vấn đề nhân tà i
Tác giả: Lê Thanh Bình
Nhà XB: tạp chí Văn hoá nghệ thuật
Năm: 2005
6. Phạm Hữu Dật, “Phương sách dùng người của cha ông ta trong lịch s ử ”, NXB CTQG HN, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương sách dùng người của cha ông ta trong lịch sử
Tác giả: Phạm Hữu Dật
Nhà XB: NXB CTQG HN
Năm: 1991
7. Phạm Tất Dong “Định hướng phat triển đội ngũ tri thức Việt Nam trong CN H, H Đ H ’’ , NXB C7TQG HN, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng phat triển đội ngũ tri thức Việt Nam trong CN H, H Đ H
Tác giả: Phạm Tất Dong
Nhà XB: NXB C7TQG HN
Năm: 2003
8. Lăng Gia Dụ, “Diễn biến của quan niệm nhân tài Trung Quốc thời cận đại, Tạp chí học tập lịch sử, 2004, số 1 tư liệu dịch Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diễn biến của quan niệm nhân tài Trung Quốc thời cận đại
Tác giả: Lăng Gia Dụ
Nhà XB: Tạp chí học tập lịch sử
Năm: 2004
9. Phạm Văn Đức, “Một sổ suy nghĩ về vai trò của giáo dục, đào tạo trong việc phát triển nguồn lực con người”, Tạp chí Triết học, số 6, Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Một sổ suy nghĩ về vai trò của giáo dục, đào tạotrong việc phát triển nguồn lực con người”
10. DC S VN, “Văn kiện Đại hội VI”, NXB Sự thật, H, 1986 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội VI
Tác giả: DC S VN
Nhà XB: NXB Sự thật
Năm: 1986
11. ĐCSVN, “Văn kiện Đại hội VII”, NXB CTQG, H, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội VII
Tác giả: ĐCSVN
Nhà XB: NXB CTQG
Năm: 1991
12. ĐCSVN, Văn kiện Hội nghị Trung ương 4, khóa VII, NXB CTQG, H, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị Trung ương 4, khóa VII
Tác giả: ĐCSVN
Nhà XB: NXB CTQG
Năm: 1993
13. ĐCSVN, “ Văn kiện Đại hội VIII”, NXB CTQG, H, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội VIII”
Nhà XB: NXB CTQG
14. ĐCSVN, Văn kiện Hội nghị Trung ương 3, Khóa VIII, NXB CTQG, H, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị Trung ương 3, Khóa VIII
Tác giả: ĐCSVN
Nhà XB: NXB CTQG
Năm: 1996
15. ĐCS VN, “Văn kiện Đại hội I X ”, NXB CTQG, H, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội I X
Tác giả: ĐCS VN
Nhà XB: NXB CTQG
Năm: 2001
17. ĐCSVN “Văn kiện Đại hội X ”, NXB CTQG, H, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Văn kiện Đại hội X ”
Nhà XB: NXB CTQG
18. ĐCSVN, Thông báo Hội nghị Trung ương 7, Khóa x , Ngày Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông báo Hội nghị Trung ương 7, Khóa x
Tác giả: ĐCSVN
19. ĐCSVN “Văn kiện Đại hội X I ”, NXB CTQG, H, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Văn kiện Đại hội X I ”
Nhà XB: NXB CTQG
21. De tài KX05 - 10, “Đào tạo nhân lực phục vụ CNH,HĐH đất nước”, kỷ yếu hội thảo khoa học, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đào tạo nhân lực phục vụ CNH,HĐH đất nước”
24. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, NXB CTQG, H, 1995 25. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 12, NXB CTQG, H, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB CTQG
Năm: 1995
26. Phạm Minh Hạc, “Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá”, NXB CTQG, Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: NXB CTQG
Năm: 1996

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w