1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn hồ chí minh với việc xây dựng thể chế dân chủ cộng hòa ( 1945 1946 )

144 259 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 144
Dung lượng 8,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những công trình nghiên cứu về Người được tiếp cận trên bình diện của các ngành khoa học khác nhau, như: lịch sử, chính trị, văn hóa Càng nghiên cứu, tìm hiểu về Hồ Chí Minh, các nhà kh

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu này do chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của Phó giáo sư sử học, Nhà giáo nhân dân Lê Mậu Hãn Các tài liệu, số liệu nêu ra trong Luận văn là trung thực, đảm bảo tính khách quan, khoa học, các tài liệu thamkhảo có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng

Hà Nội, ngày 09 tháng 08 năm 2015

Tác giả Luận văn

Nguyễn Thị Vân

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn đến các thầy, cô giáo trong khoa Lịch

sử, bộ môn Lịch sử Đảng đã tận tình dạy bảo, truyền thụ kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập

Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn đến PGS NGND Lê Mậu Hãn - giảng viên hướng dẫn, người đã chỉ bảo, giúp đỡ tôi tận tình trong quá trình thực hiện và hoàn thành Luận văn

Xin cảm ơn những người mà tôi chưa từng gặp mặt, nhưng cuộc sống, tư tưởng, công trình của họ đã tác động mạnh mẽ và sâu sắc đến bản thân tôi, giúp tôi có niềm tin, động lực để hoàn thành Luận văn

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến gia đình, bạn bè

và đồng nghiệp, những người luôn bên cạnh động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành Luận văn của mình!

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

Chương 1: HỒ CHÍ MINH KHẢO CỨU VÀ XÂY DỰNG MÔ HÌNH NHÀ

NƯỚC DÂN CHỦ CỘNG HÒA Ở VIỆT NAM 8 1.1 Quá trình Nguyễn Ái Quốc tìm con đường giải phóng dân tộc và mô hình nhà nước kiểu mới cho Việt Nam 8

1.1.1 Hoàn cảnh lịch sử đầu thế kỷ XX 8 1.1.2 Quá trình Nguyễn Ái Quốc tìm một con đường giải phóng dân tộc gắn với tìm kiếm kiểu nhà nước cho Việt Nam 12

1.2 Quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng mô hình nhà nước kiểu mới ở Việt Nam 22

1.2.1 Nhận thức và chuẩn bị tổ chức cho sự ra đời của một nhà nước kiểu mới ở Việt Nam 23 1.2.2 Xây dựng mô hình nhà nước kiểu mới ở các khu giải phóng (03/1945 -

08/1945) 28

Tiểu kết chương 1 35

Chương 2: HỒ CHÍ MINH VỚI VIỆC XÂY DỰNG THỂ CHẾ DÂN CHỦ

CỘNG HÒA Ở VIỆT NAM (1945 - 1946) 37 2.1.

Nhà nước theo thể chế dân chủ cộng hòa ở Việt Nam 37 2.1.1

Bối cảnh lịch sử những năm 1945 - 1946 37

2.1.2 Tư duy chính trị của Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước kiểu mới - nhà

nước Việt Nam dân chủ cộng hòa 44

2.2 Xây dựng nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (1945 - 1946) 51

2.2.1 Bộ máy nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (1945 - 1946) 53 2.2.2 Hoạt động nhà nước nhằm củng cố và tăng cường thực lực về mọi mặt 69 Tiểu

kết chương 2 84 Chương

3: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 86

3.1 Một vài nhận xét về thể chế dân chủ cộng hòa ở Việt Nam giai đoạn (1945 - 1946) 86

Trang 6

3.1.1 Nhân tố xây dựng thể chế dân chủ cộng hòa ở Việt Nam 86

3.1.2 Giá trị của nền dân chủ cộng hòa ở Việt Nam (1945 - 1946) 92 3.2

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hồ Chí Minh, lãnh tụ thiên tài của Đảng và Nhà nước Việt Nam, người chiến

sĩ kiên cường của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, từ lâu đã là đối tượng nghiêncứu của nhiều học giả trong và ngoài nước Những công trình nghiên cứu về Người được tiếp cận trên bình diện của các ngành khoa học khác nhau, như: lịch sử, chính trị, văn hóa Càng nghiên cứu, tìm hiểu về Hồ Chí Minh, các nhà khoa học càng hiểu thêm những giá trị tư tưởng và nhân văn, càng thấy ở Người tầm nhìn chiến lược, sự kiên định, nhất quán trong tư tưởng, hành động của một lãnh tụ cộng sản kiên cường, anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa lớn

Trải qua quá trình lao động, học tập, nghiên cứu, đấu tranh trong phong trào dân tộc yêu nước và công nhân quốc tế, sau khi tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng và sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể nước ta Một trong những sáng tạo độc đáo của Người là việc thiết lập và xây dựng nhà nước dân chủ cộng hòa ở Việt Nam, một nhà nước thực sự của dân, do dân và vì dân, đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa

xã hội

Nghiên cứu đề tài Hồ Chí Minh với việc xây dựng thể chế dân chủ cộng hòa

(1945 - 1946) là việc làm cần thiết góp phần làm sáng tỏ thêm những sự kiện lịch sử về

quá trình Hồ Chí Minh khảo cứu, chỉ đạo, xây dựng Nhà nước dân chủ cộng hòa ở Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1946 Qua đó, xác định nhiệm vụ chiến lược của cách mạng, đưa Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác

Ngày nay, đất nước Việt Nam đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tình hình trong nước, khu vực và thế giới đã có những thay đổi căn bản Nhưng những nền tảng quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước của

dân, do dân, vì dân vẫn giữ nguyên giá trị Đề tài Hồ Chí Minh với việc xây dựng thể

chế dân chủ cộng hòa (1945 - 1946) luôn có ý nghĩa lý luận, thực tiễn đối với việc

nghiên cứu lịch sử dân tộc và mang tính thời sự trong việc quyết tâm giữ vững độc lập dân tộc, dân chủ, kiên trì định hướng xã hội chủ nghĩa trong một

thế giới đa cực, đa phương

Trang 8

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Hồ Chí Minh là người đầu tiên sáng lập ra Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà - Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á Vì vậy, tư tưởng và hoạt động lãnh đạo của Hồ Chí Minh về nhà nước đã có nhiều tác giả nghiên cứu Liên quan đến đề tài này, có nhiều công trình nghiên cứu đề cập dưới các dạng khác nhau

có thể chia thành các nhóm như sau:

Nhóm thứ nhất: Một số công trình nghiên cứu của các nhà lãnh đạo có liên quan

đến đề tài như: Lê Duẩn (1970), Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập tự do, vì chủ

nghĩa xã hội, tiến lên giành những thắng lợi mới, Nxb Sự thật, Hà Nội; Phạm Văn

Đồng (1980), Nhà nước dân chủ nhân dân Việt Nam, Nxb Sự thật, Hà

Nội; Đỗ Mười (1991), Xây dựng nhà nước của nhân dân - Thành tựu, kinh nghiệm, đổi

mới, Nxb Sự thật, Hà Nội;  Nội dung mang tính khái quát sự nghiệp thành lập nhà nước dân

chủ nhân dân ở Việt Nam

Nhóm thứ hai: Một số công trình nghiên cứu chuyên khảo về Hồ Chí Minh với

nhà nước, trong đó có đề cập đến nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa giai đoạn

(1945 - 1946) như: TS Lê Phương Thảo (2009), Nhà nước và cách mạng Việt Nam

những năm 1945 - 1946, những sáng tạo của Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà

Nội; Nguyễn Ngọc Minh (1998), Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và

pháp luật, Nxb Sự thật, Hà Nội; PGS.TS Hoàng Văn Hảo (1995), Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước kiểu mới - Sự hình thành và phát triển, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà

Nội; Vũ Đình Hoè (2001), Pháp quyền nhân nghĩa Hồ Chí Minh, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội; Phạm Ngọc Anh - Bùi Đình Phong (2003), Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây

dựng nhà nước pháp quyền kiểu mới ở Việt Nam, Nxb Lao động; Bùi Ngọc Sơn (2004),

Tư tưởng lập hiến Hồ Chí Minh, Nxb

Lý luận chính trị; 

Một số bài viết đăng báo, tạp chí như: Song Thành, Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh

đạo Tổng tuyển cử bầu Quốc hội lập hiến đầu tiên ở nước ta, Tạp chí Lịch sử Đảng (1),

năm 2001; Dương Xuân Ngọc, Quá trình xây dựng thể chế nhà nước của dân, do dân, vì

dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Tạp chí Lý luận chính trị, 02/2004;

Trang 9

Lê Mậu Hãn, Hồ Chí Minh kiến lập nhà

nước pháp quyền Việt Nam, Tạp chí Lịch

sử Đảng, 05/2005; GS Trần Xuân Trường, Đảng cầm quyền và nhà nước của dân, do

dân, vì dân; PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc, 60 năm xây dựng nhà nước cách mạng của dân, do dân, vì dân, Tạp chí Lý luận chính trị, số 9 năm 2005; GS.VS Nguyễn Duy

Quý, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Thành tựu và những vấn đề cần

giải quyết, Tạp chí Thông tin công tác tư tưởng lý luận, 07/2006; GS TSKH Đào Trí

Úc, Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã

hội chủ nghĩa; Báo Nhân dân số ra ngày 08/08/2006; 

Nội dung còn chung chung đối với toàn bộ sự nghiệp xây dựng nhà nước dân chủ nhân dân, hoặc mới chỉ nghiên cứu ở phạm vị tư tưởng

Nhóm thứ ba: Một số Luận văn, Luận án đề cập đến vấn đề này như: Vận dụng

tư tưởng và phương pháp dân chủ của Hồ Chí Minh trong quá trình thực hiện dân chủ

xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam (Luận án Tiến sĩ Triết học, năm 2003) của Phạm Văn

Bính; Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội

ở Việt Nam (Luận án Tiến sĩ, năm 2001) của Phạm Viết Mỹ; Sự biến đổi chính trị ở Việt Nam từ 1958 đến 1945 (Luận án Tiến sĩ Chính trị học, năm 2012) của Trần Thị Thu Hoài;

 Phong phú, đa dạng về nội dung, phạm vi nghiên cứu, đều nhằm tìm phương hướng cho sự nghiệp xây dựng nhà nước trong giai đoạn hiện nay

Các công trình trên đây đã nghiên cứu ngày một rõ về vai trò và những sáng tạo của Hồ Chí Minh trong xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân ở Việt Nam, trong đó

có đề cập đến giai đoạn (1945 - 1946) Tuy nhiên do mục đích và yêu cầu đặt ra khác nhau, nên cách tiếp cận của mỗi công trình khác nhau, phần lớn các tác giả nghiên cứu chuyên sâu về tư tưởng Hồ Chí Minh Trên cơ sở tiếp thu những thành quả nghiên cứu của các tác giả đi trước, nhận thấy việc nghiên cứu vai trò của Hồ Chí Minh trong "xây dựng thể chế dân chủ cộng hòa" với mối liên hệ của bối cảnh lịch sử Việt Nam những

năm 1945 - 1946 là cần thiết Vì vậy, tôi chọn đề tài: "Hồ Chí Minh với việc xây dựng thể chế dân chủ cộng hòa (1945 - 1946)" làm đề tài Luận văn Thạc sĩ, chuyên ngành

Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Trang 10

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Hệ thống hóa quá trình tìm tòi, khảo cứu, xây dựng thể chế dân chủ cộng hòa

ở Việt Nam của Hồ Chí Minh

Đánh giá, nhận xét khách quan những thành tựu đạt được khi xây dựng đất nước theo thể chế dân chủ cộng hòa giai đoạn (1945 - 1946)

Rút ra những bài học, vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước trong xây dựng và phát triển đất nước Việt Nam hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu về nội dung của Luận văn là: Xây dựng thể chế dân chủ cộng hòa từ năm 1945 đến năm 1946, chủ yếu thông qua quá trình khảo cứu và thực hiện của Hồ Chí Minh

Phạm vi nghiên cứu của Luận văn:

- Về nội dung: Hồ Chí Minh với việc xây dựng thể chế dân chủ cộng hòa - Về không gian:Việt Nam

- Về thời gian: Từ năm 1945 đến năm 1946

5 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu chính

Luận văn được tiến hành trên cơ sở những quan điểm của chủ nghĩa Mác -

Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng về xây dựng Nhà nước

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng chính trong Luận văn là phương pháp lịch

sử, phương pháp lô-gích, và một số phương pháp khác như: phương pháp thống

kê, so sánh, phân tích, tổng hợp

Trang 11

Nguồn tư liệu chủ yếu được sử dụng là: các bài viết, bài nói, sắc lệnh, chỉ thị của Hồ Chí Minh; các văn kiện của Đảng; các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về xây dựng Nhà nước; các văn bản, tài liệu của Chính phủ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân; báo cáo của các cấp chính quyền; các sách tham khảo, tạp chí có liên

quan, 

6 Đóng góp của Luận văn

Luận văn trình bày hệ thống cả về lý luận và thực tiễn quá trình Hồ Chí Minh khảo cứu, chỉ đạo, xây dựng Nhà nước dân chủ cộng hòa ở Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1946

Luận văn rút ra một số bài học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn trong nghiên cứu lịch sử dân tộc cũng như hoạt động chính trị thực tiễn ở Việt Nam hiện nay

Luận văn đóng góp vào nguồn tài liệu tham khảo, phục vụ cho công tác nghiên cứu vàgiảng dạy

7 Bố cục

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, phần Nội dung của luận văn được bố cục thành 3 chương:

Chương 1: Hồ Chí Minh khảo cứu và xây dựng mô hình Nhà nước dân chủ

cộng hòa ở Việt Nam

Chương 2: Hồ Chí Minh với việc xây dựng thể chế dân chủ cộng hòa ở Việt

Nam (1945 - 1946)

Chương 3: Một số nhận xét và kinh nghiệm

Trang 12

Chương 1

HỒ CHÍ MINH KHẢO CỨU VÀ XÂY DỰNG MÔ HÌNH NHÀ NƯỚC

DÂN CHỦ CỘNG HÒA Ở VIỆT NAM

1.1 Quá trình Nguyễn Ái Quốc tìm con đường giải phóng dân tộc và mô

hình nhà nước kiểu mới cho Việt Nam

1.1.1 Hoàn cảnh lịch sử đầu thế kỷ XX

Tình hình thế giới: Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản thế giới

chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc Mâu thuẫn giữa các nước đế quốc ngày càng gay gắt, dẫn đến cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 - 1918) Sau Chiến tranh, phe Trục gồm Đức - Áo - Hung - Thổ Nhĩ Kỳ - Bungari thất bại, phe Đồng minh đứng đầu

là Mỹ - Anh - Pháp chiến thắng Mặc dù là nước thắng trận, nhưng bị thiệt hại nặng nề

về kinh tế, Pháp trở thành một con nợ lớn, vì vậy để khôi phục nền kinh tế, thực dân Pháp một mặt thúc đẩy phát triển sản xuất trong nước, mặt khác tăng cường đầu tư ra nước ngoài, đẩy mạnh khai thác thuộc địa, trong đó có Việt Nam

Nước Nga tham gia chiến tranh ngay từ đầu nhưng bị thiệt hại nặng nề, nền kinh

tế khủng hoảng nghiêm trọng Trong bối cảnh ấy, Đảng Bônsêvích Nga, đứng đầu là V.I Lênin đã giương cao ngọn cờ đấu tranh chống chiến tranh đế quốc và chống chủ nghĩa sô vanh; nêu hai khẩu hiệu: "Biến chiến tranh đế quốc thành nội chiến" và "Làm cho chính phủ mình thất bại trong chiến tranh đế quốc" Năm 1917, ở nước Nga đã diễn

ra cuộc Cách mạng dân chủ tư sản Tháng Hai, sau đó là cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi, mở ra kỷ nguyên mới cho lịch sử loài người Năm 1919, Quốc tế Cộng sản được thành lập, tạo điều kiện cho sự rađời hàng loạt đảng cộng sản ở các nước: Pháp, Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ Từ khi

ra đời cho đến khi giải thể (1943), Quốc tế Cộng sản đã chỉ đạo hoạt động của hầu hết các đảng cộng sản trên thế giới, trong đó có Đảng Cộng sản Đông Dương

Năm 1922, Liên Xô ra đời và ngày càng phát triển mạnh mẽ, đạt được nhiều thành tựu trong đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc và công cuộc xây dựng chủ

8

Trang 13

nghĩa xã hội Liên Xô trở thành trung tâm cách mạng của thế giới, là lực lượng chủ

yếu đấu tranh chống các thế lực phản động quốc tế hiếu chiến, có công đầu về tiêu diệt chủ nghĩa phát xít trong cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai (1939 - 1945)

Sự phát triển của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đã cổ vũ mạnh mẽ phongtrào đấu tranh chống thực dân, đế quốc, giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc

Ở Trung Quốc, năm 1911, Cách mạng Tân Hợi thành công, xóa bỏ chế độ phong kiến, lập ra chính phủ tư sản dân tộc dưới sự lãnh đạo của Quốc dân Đảng do Tôn Trung Sơn đứng đầu Tuy nhiên, sau đó chính quyền lại rơi vào tay các thế lực quân phiệt do Viên Thế Khải cầm đầu Năm 1925, Tưởng Giới Thạch đứng đầu Quốc dân Đảng, thi hành chính sách chống cộng, gây nội chiến ở Trung Quốc, đến năm 1949 mới bị Đảng Cộng sản đánh bại

Tình hình thế giới đã tác động mạnh mẽ đến Việt Nam

Tình hình Việt Nam: Giai đoạn này, Việt Nam nằm dưới ách thống trị của

thực dân Pháp Triều đình phong kiến nhà Nguyễn nhu nhược, ươn hèn cam tâm làm tay sai cho đế quốc, mất hết thực quyền Từ năm 1919 - 1929, thực dân Pháp đẩy mạnh công cuộc khai thác thuộc địa Đông Dương, tăng cường vơ vét tài nguyên khoáng sản, bóclột nhân dân ta Khác với đợt khai thác thuộc địa lần trước, (1897 - 1914), Pháp mở rộng đầu tư khai thác nhiều lĩnh vực, tốc độ chậm chạp, kéo dài, lần này Pháp tiến hành đầu tư

ồ ạt, tốc độ nhanh hơn và quy mô rộng lớn hơn nhiều Nếu lần trước nguồn vốn chủ yếuđầu tư vào các ngành khai mỏ và giao thông vận tải thì lần này tập trung vào nông nghiệp và khai thác khoáng sản Chính nhân tố này làm biến đổi mạnh mẽ cơ cấu kinh tế Việt Nam

Do chính sách mở rộng nông nghiệp, các nhà tư sản Pháp chiếm đất ruộng của nông dân lập đồn điền để trồng lúa, cây công nghiệp (chè, cà phê, cao su) Chúng giao ruộng đất cho nông dân theo kiểu phát canh thu tô mà không đầu tư các biện pháp kỹ thuật nên năng suất lúa ở Việt Nam rất thấp Khi giá cao su tăng cao, Pháp đẩy mạnh kinh doanh mặt hàng này, diện tích trồng cao su tăng vọt Mặc dù vậy, tốc độ phát triển nông nghiệp Việt Nam vẫn còn thấp so với các nước châu Á khác

Trang 14

Các ngành công nghiệp như khai thác than được mở rộng Nhiều công ty than được thành lập ở Quảng Ninh, sản lượng than khai thác tăng dần Ngoài than đá, các cơ sở khai thác mỏ thiếc, kẽm, sắt đều được bổ sung thêm vốn, công nhân và đẩy nhanh tiến

độ khai thác Bên cạnh đó, một số cơ sở chế biến quặng, đúc kẽm, thiếc cũng ra đời Các ngành công nghiệp nhẹ và công nghiệp chế biến như nhà máy xi măng ở Hải Phòng, nhà máy tơ, sợi và dệt ở Hà Nội, Nam Định, Sài Gòn; các nhà máy xay xát gạo, chế biến rượu, làm đường ở Hải Dương, Hà Nội, Chợ Lớn đều phát triển nhanh chóng Nhưng ngành công nghiệp nặng theo đúng nghĩa vẫn chưa ra đời Công nghiệp Việt Nam vẫn chủ yếu là công nghiệp dịch vụ và phục vụ, phụ thuộc vào thực dân Pháp vàthị trường nước ngoài

Để đáp ứng yêu cầu khai thác thuộc địa thời kỳ này, ngành giao thông vận tải tiếp tục được tăng cường đầu tư vốn và các trang thiết bị kỹ thuật Các đường sắt nối Vinh - Đông Hà, Đồng Đăng - Na Sầm được xây thêm; mở nhiều đường quốc lộ và đường liên tỉnh; mở rộng và xây thêm một số hải cảng, mở rộng mạng lưới giao thông đường thủy Ngành thương nghiệp phát triển vượt bậc so với thời kỳ trước chiến tranh Hàng hóa xuất siêu khá lớn, các đối tác nước ngoài được mở rộng Hàng hóa xuất khẩu là khoáng sản, lúa gạo, cao su, chè, hạt tiêu Hàng nhập khẩu (chủ yếu từ Pháp) bao gồm: vải, bông, sợi, giày dép, rượu, thuốc lá Các hoạt động thương mại lớn đều nằm trong tayngười Pháp hoặc người Hoa

Đặc điểm nổi bật của nền kinh tế Việt Nam thời kỳ này là sự phát triển không cân đối Nền nông nghiệp nặng nề, lạc hậu; nền công nghiệp phụ thuộc, phân tán, quy mô nhỏ, nặng về khai khoáng; các ngành sản xuất luyện kim, cơ khí, năng lượng hầu như không được chú ý phát triển Kinh tế miền Bắc và miền Nam phát triển hơn nhiều so với miền Trung, các vùng miền núi vẫn nghèo đói, lạc hậu, cuộc sống người dân vẫn phổ biến là du canh du cư

Với thân phận nô lệ, nhân dân "một cổ hai tròng", chịu cảnh sưu cao thuế nặng, cuộc sống lầm than, khổ cực Thể chế chính trị thời kỳ này là thể chế thực dân nửa phong kiến Thực dân Pháp nắm quyền thống trị đất nước ta, chúng chia Việt

Trang 15

Nam thành ba kỳ nhằm chia rẽ khối đoàn kết dân tộc và dễ bề cai trị Triều đình nhà

Nguyễn mất hết thực quyền, chỉ là công cụ, tay sai của Pháp Nhƣ vậy, ở Việt Nam

lúc này đang tồn tại hai mâu thuẫn cơ bản: mâu thuẫn dân tộc - giữa nhân dân Việt Nam với đế quốc Pháp, và mâu thuẫn giai cấp - giữa nông dân với địa chủ, giữa công nhân với tƣ sản (chủ yếu là tƣ sản Pháp)

Vấn đề đặt ra lúc này cho những người Việt Nam yêu nước là phải làm thế nào giải quyết đồng thời được hai mâu thuẫn trên, nghĩa là vừa đánh đuổi được quân xâm lược, giành lại độc lập dân tộc; vừa mang lại tự do hạnh phúc cho nhân dân Trong phong trào yêu nước đã xuất hiện nhiều trào lưu tư tưởng và các cuộc vận động cách mạng Phong trào yêu nước thời kỳ này đều hướng vào mục đích đánh đuổi thực dân Pháp, giành độc lập dân tộc, nhưng lại khác nhau ở phương pháp và đường lối cách mạng, mà trong đó quan trọng nhất là xác định một mô hình thể chế chính trị cho Việt Nam sau khi đánh đổ chính quyền thực dân phong kiến

Xu hướng tiếp tục khôi phục lại thể chế quân chủ phong kiến độc lập là sự lựa chọncủa các sĩ phu lãnh đạo phong trào Cần Vương (1885 - 1896), Hoàng Hoa Thám Tuy nhiên, sau một thời gian phát triển, phong trào đã bị đàn áp và thất bại Mô hình thể chế chính trị phong kiến đã trở nên lỗi thời, lạc hậu với trào lưu chung trên thế giới mà hiện thân là triềuNguyễn lúc bấy giờ - đã không thể tranh thủ được sự ủng hộ rộng rãi của nhân dân Sự thất bại của phong trào Cần Vương báo hiệu kiểu nhà nước phong kiến đã hết vai trò lịch

Trang 16

quyền, hướng tới nền dân chủ theo kiểu phương Tây, trước hết là dựa vào Pháp

Mặc dù khuynh hướng dân chủ tư sản có nhiều tiến bộ, nhưng chưa phù hợp với thực tiễn lịch sử Việt Nam nên không thể thành công

Vào cuối thập kỷ 20 của thế kỷ XX, Việt Nam Quốc dân Đảng - một chính đảng của giai cấp tư sản Việt Nam ra đời Đảng này chủ trương đánh Pháp, xây dựng một thể chế chính trị cộng hòa theo kiểu tư bản chủ nghĩa Nhưng do giai cấp tư sản Việt Nam còn nhỏ yếu, không có cơ sở trong quần chúng nhân dân, thiếu tổ chức chặt chẽ nên cuộc đấu tranh chống ngoại xâm do họ phát động đã thất bại Điều đó cũng chứng tỏ rằng, nhà nước tư sản và nền dân chủ tư sản không phải là mục tiêu của cách mạng Việt Nam, mô hình thể chế chính trị tư sản không phù hợp với nước ta Yêu cầu cấp bách nhất lúc này là giải phóng kiếp người nô lệ và đem lại cuộc sống ấm no, tự do hạnh phúc chođại đa số nhân dân lao động Nhân dân Việt Nam không muốn quay trở lại xã hội phongkiến đang suy tàn; cũng rất căm ghét chế độ bóc lột vô nhân tính, bất công của chủ nghĩa

tư bản Cả hai loại thể chế đó đều chỉ phục vụ cho lợi ích của một nhóm người, còn đại

đa số nhân dân vẫn chịu cảnh áp bức, bóc lột, không có tự do, hạnh phúc

Tóm lại, thời kỳ này khủng hoảng về đường lối chính trị, chưa có một mô hình thể chế chính trị nào định hình và đứng vững trong phong trào yêu nước Việt Nam

1.1.2 Quá trình Nguyễn Ái Quốc tìm một con đường giải phóng dân tộc gắn với tìm kiếm kiểu nhà nước cho Việt Nam

Sinh ra và lớn lên trong bối cảnh đất nước bị xâm lược, nhân dân bị nô dịch, mất tự do, Nguyễn Tất Thành đã cảm nhận và thấu hiểu bi kịch của dân tộc Tuy rất khâmphục những nhà yêu nước đương thời, nhưng Người không đồng tình với con đường cứunước, với mô hình thể chế chính trị mà họ lựa chọn Chính vì vậy, Người đã xuất dương

để tìm con đường giải phóng dân tộc

Trong hành trình tìm đường cứu nước, Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc vừa lao động, vừa quan sát, tập trung nghiên cứu lý luận và kinh nghiệm thực tiễn các cuộc cách mạng điển hình Đặc biệt, Người đã quan tâm nghiên cứu nhiều kiểu nhà nước đang tồn tại trên thế giới đó là kiểu nhà nước tư sản ở thuộc địa, kiểu nhà

Trang 17

nước tư sản ở chính quốc và kiểu nhà nước mới - kiểu nhà nước xã hội chủ nghĩa ở

nước Nga, Xô Viết

Trước hết là nhìn nhận, đánh giá của Nguyễn Ái Quốc về một hình thức đặc biệt

-kiểu nhà nước của giai cấp tư sản tồn tại ở thuộc địa Việt Nam dưới hình thức chế độ

thực dân phong kiến

Các khuynh hướng cứu nước gắn với việc tìm kiếm các mô hình nhà nước khác nhau của những người Việt Nam yêu nước đã tỏ rõ lập trường chung của tầng lớp nhân dân Việt Nam, của cả dân tộc Việt Nam với chế độ thực dân phong kiến mà thực dân Pháp thiết lập ở nước ta Đó là một thái độ căm phẫn, lên án và mong muốn thay thế chế

độ chính trị này bằng một chế độ chính trị tốt đẹp hơn Thái độ của Nguyễn Ái Quốc với chế độ thực dân phong kiến góp thêm một tiếng nói cho việc lên án và thủ tiêu chế

độ chính trị tàn bạo này Bản án chế độ thực dân Pháp của Nguyễn Ái Quốc như lời

tuyên chiến với chủ nghĩa thực dân Có thể khẳng định, đây là người Việt Nam đầu tiên

đã có "công trình" nghiên cứu để vạch tội và tuyên án chủ nghĩa thực dân một cách mạnh mẽ, kiên quyết, đầy sức thuyết phục Không chỉ tuyên án, mà bằng những hoạt động chính trị không mệt mỏi của mình, Nguyễn Ái Quốc đã thực hiện bản án đó đến cùng

Lớn lên trong cảnh nước mất nhà tan, bản thân Nguyễn Ái Quốc cảm nhận sâu sắc sựtàn bạo phi nhân tính của chủ nghĩa thực dân trên quê hương Việt Nam cũng như tất cả các thuộc địa khác trên thế giới Năm 1919, Nguyễn Ái Quốc đã khát quát: "Từ khi bị Pháp chiếm, đất nước chúng tôi hầu như luôn luôn sống lay lắt ngày này qua ngày khác, không hề biết chính quyền muốn dẫn mình đi đến đâu" [59, tr 10] Và nửa thế kỷsau khi đặt ách thống trị trên đất nước ta: "Thật đáng buồn thay khi thấy rằng sau 50 năm thống trị mà những người đại diện cho nước Cộng hòa Pháp ở Đông Dương vẫn cứngoan cố kìm chân người bản xứ trong vòng nô lệ, không cho họ hưởng một chút quyền

tự do nào cũng như các quyền khác theo luật pháp" [59, tr 18] Một tình trạng vô vọng,

bế tắc bao trùm tất cả dưới sự cai trị của chủ nghĩa thực dân

Trang 18

Trong chế độ này, người Việt Nam không còn tồn tại như những con người:

"Chủ nghĩa tư bản Pháp đã vào Đông Dương từ hơn nửa thế kỷ nay, vì lợi ích của nó,

nó đã dùng lưỡi lê để chinh phục đất nước chúng tôi Từ đó, chúng tôi không những bị

áp bức, bóc lột một cách nhục nhã mà còn bị hành hạ và đầu độc một cách thê thảm người ta đã làm chết hàng nghìn người An Nam và tàn sát hàng nghìn người khác để bảo vệ lợi ích không phải của chính họ" [59, tr 34, 35] "Annamit và Angiêriêng đâu phải là người!

Đó là bọn "nhà quê" bẩn thỉu, bầy "bicốt" (con dê con) bẩn thỉu Cần quái gì phải có công lý đối với những giống ấy" [59, tr 203] Luôn luôn có sẵn "một kho đầy ắp những hình phạt" [59, tr 203] để giáng vào đầu

những con người khốn khổ ấy

Nguyễn Ái Quốc khẳng định: "Chưa có bao giờ, ở một nước nào mà người ta lại vi phạm mọi quyền làm người một cách dã man, độc ác và trắng trợn đến thế" [60, tr 121] Và "để dạy cho mọi người sống cho ra sống, người ta bắt đầu bằng việc giết họ điđã" [60, tr 36] Mỗi thuộc địa, chủ nghĩa thực dân sử dụng những biện pháp tàn bạo khác nhau để cai trị, nhưng các thuộc địa đều giống nhau ở một điểm: "Giữa An Nam

với Công Gô, Máctinich hay Tân Đảo, không hoàn toàn giống nhau chút nào, trừ sự cùng khổ" [59, tr 80]

Thực tế đó tại các thuộc địa, ngay cả người Pháp ở chính quốc cũng không thể phủ nhận Sau lời phát biểu tại Đại hội Toàn quốc lần thứ 18 Đảng Xã hội Pháp của Nguyễn Ái Quốc, Chủ tịch phiên họp Êminguđơ phải thừa nhận: "Qua những loạt vỗ tay tán thành đại biểu Đông Dương, có thể thấy rằng toàn thể Đảng Xã hội đều đứng về phía đồng chí để phản đối những tội ác của giai cấp tư sản" [59, tr 36]

Những con người trong bộ máy chính quyền thực dân - "tinh hoa của các cặn bã" luôn lượm lặt từ các nước châu Âu

Con người trong bộ máy chính quyền thực dân là sự dung nạp của tất cả những cặn bã từ chính quốc thải ra, từ viên chức bình thường cho đến nhân vật chóp bu là viên Toàn quyền

Về các quan cai trị thì: "Sang Bắc Kỳ, các ông Toàn quyền chỉ nhằm một mục đích là: tìm chỗ hố đựng bạn bè, con cháu thân thuộc và bọn vận động bầu cử

Trang 19

của những bậc thế quyền có thể làm chỗ dựacho mình" [60, tr 61]; "Các viên Toàn

quyền lớn, Toàn quyền bé được nước mẹ ký thác vận mệnh xứ Đông Dương, nói chungđều là bọn ngu xuẩn, bọn đểu cáng' [60, tr 92] Tất cả sự xa hoa, tráng lệ, thừa mứa trong cuộc sống của các quan cai trị thuộc địa đều dựa trên ngân sách được bòn rút từ những người bản xứ nghèo khổ, bị bần cùng hoá đến cùng cực "Quan Toàn quyền chưa vừa ý với những lâu đài tráng lệ mà ngài ở tại Sài Gòn và Hà Nội, còn phải cần thêm cho ngài một biệt thự ở bãi biển nữa Ngân sách Đông Dương lại phải "è lưng ra gánh" Tiền nhà cửa, bàn ghế, điện nước của các vị đó đều do công quỹ đài thọ cả Ngoài ra,những người đánh xe, lái xe, giữ ngựa, làm vườn, tóm lại, tất cả những kẻ hầu người hạcủa họ cũng đều do nhà nước trả tiền công" [60, tr 78, 79]

Còn các ngài viên chức trong bộ máy chính quyền thuộc địa thì là "những tên ngu xuẩn tò mò ưa xoi mói" [60, tr 94] Một chính quyền được tạo nên từ những con người mà "so với bọn viên chức thuộc địa thì những tên cướp đường còn là những người lương thiện" [60, tr 77] Ngay cả một tên lính thực dân cũng phải thốt ra trong cuốn nhật ký đi đường của mình rằng: "Quả thật, chúng tôi đã có tâm hồn thực dân" và tự thừa nhận: "Chúng ta còn độc ác, còn dã man hơn cả bọn kẻ cướp nhà nghề" [60, tr 70] Một nhà văn chính quốc khi sang thăm Đông Dương, tận mắt chứng kiến những tội

ác của thực dân Pháp với những người bản xứ, đã viết: "Hình như họ (các quan bảo hộ người Pháp) chỉ là những điều khiển cho sự có

mặt của chúng ta trở thành một điều xấu xa bỉ ổi không ai chịu được" [60, tr 68]

Thuộc địa là một "thiên đường ở trần gian" cho các quan cai trị, nơi mà "cái gì người ta (người châu Âu ở Đông Dương) cũng được phép và có thể làm được" [60, tr 59] Nơi đây "tất cả những ai có tí chút quyền hành trong tay cũng đều sử dụng và lạm dụng quyền hành để thả cửa làm bậy vì họ biết chắc rằng sẽ không bị tội vạ gì hết" [60,

tr 63, 64] Và "khi người ta đã là một nhà khai hoá thì người ta có thể

làm những việc dã man mà vẫn cứ là người văn minh nhất" [60, tr 63]

Tóm lại có thể tìm thấy trong chính quyền thuộc địa "tinh hoa của các cặn bã" lượm lặt ở tất cả các nước châu Âu Với một bộ máy được tạo nên từ những

Trang 20

hạng người có tố chất xấu xa như vậy, để tồntại, nguyên tắc hoạt động của chính

quyền thuộc địa luôn là "bằng bất cứ giá nào nhất thiết phải giữ uy tín cho kẻ đi chinh phục" và "bảo vệ uy tín của chủng tộc thượng đẳng"

Chính quyền thực dân - một bộ máy cồng kềnh, quan liêu, tham nhũng

Đó là một bộ máy ăn bám khổng lồ Hãy làm một phép so sánh giản đơn: "Ở thuộc địa Anh, cứ 66.150 người dân thì có một viên chức người Âu, còn ở thuộc địa Pháp thì cứ 3.490 người dân đã có một viên chức người Âu" [60, tr 61] Trong bộ máy đó tồn tại nhan nhản những "viên chức giữ những chức vụ vô dụng" và thậm chí còn "dốt đặc" nhưng vẫn được nhận những "đồng lương rất hậu" Đây còn điển hình là một bộ máy quan liêu Các viên thanh tra thuộc địa, hàng năm ngốn của ngân khố một số tiền khổng lồ cho công việc thanh tra "thế nhưng các ngài thanh tra thì không bao giờ rời khỏi Pari và đối với các thuộc địa thì các ngài cũng không hiểu biết gì hơn là hiểu biết ông Trăng già" [60, tr 76] Đó còn là một bộ máy vô trách nhiệm và vô cảm khi sử dụng những đồng tiền ngân sách một cách phung phí, tùy tiện và bừa bãi: "Hết hành vi điên rồ này đến hành vi điên rồ khác đã phung phí đồng tiền mà người dân An Nam khốn khổ đãphải đổ mồ hôi nước mắt mới kiếm được" [60, tr 75] Một bộ máy hoạt động tùy tiện, không tuân theo nguyên tắc nào: "Khi cần tiền, nhà nước bảo hộ Pháp chỉ có việc thay đổi hạng ruộng Chỉ một nét bút thần kì là họ biến một đám ruộng xấu thành ruộng tốt" [60, tr.90] Bộ máy nhà nước chính trị tồn tại và hoạt động không phải để thực hiện những việc công ích mà chỉ để thực hiện sự cai trị chính trị nhằm vơ vét đầy túi tham cho những kẻ cai trị

Đúng là một bộ máy "cướp giật được hợp pháp hóa":

Một số phiên họp của Hội đồng Quản hạt chỉ là để bàn việc cướp giật công quỹ một cách có phương pháp Với quyền hành sẵn có, họ sức cho dân bản xứ biết nhà nước cần một khoản tiền bao nhiêu đó, rồi họ phân bố cho các làng phải đóng góp [60, tr 77] Bọn thực dân với quyền lực trong tay ngày càng phè phỡn trên máu và nước mắt của những người bản xứ: "Tất cả bọn chúng chỉ có mỗi cái tài là phung phí công quỹ, còn người An Nam khốn khổ thì cứ nai lưng đóng góp, đóng góp mãi"

Trang 21

[60, tr 78] Tệ tham nhũng đã bòn rút gần như sạch trơn ngân sách chính quyền:

"Trong số 12 triệu đồng của ngân sách Nam Kỳ, thì 10 triệu đồng đã tìm cách chui sâu vào túi các ngài viên chức rồi" [59, tr 172]

Và hoạt động của bộ máy chính quyền ấy cũng thật quái đản Ví như, để giải quyết nạn đói, chính phủ bắt giam một số đông người đói Và để cho bọn người đói đừngcoi nhà tù là nơi cứu tế, người ta không cho họ ăn gì hết cho đến chết!

Chế độ thuộc địa, chính quyền thuộc địa đã thực thi một chính sách ngu dân triệt

để hòng "làm cho dân ngu để dễ trị" Nơi đây "ngay cả cái quyền sơ đẳng là viết thư cho nhau, họ (người bản xứ) cũng không được hưởng Sự vi phạm tự do cá nhân ấy lại ghi thêm một thành tích cho cái chế độ lạm quyền, cái chế độ mật thám bỉ ổi đương hoànhhành ở các thuộc địa" [59, tr.127]

Từ việc tố cáo tội ác kinh tởm của chủ nghĩa thực dân khắp nơi trên thế giới, Nguyễn Ái Quốc kết luận rằng: "Thế giới sẽ chỉ có nền hòa bình cuối cùng khi tất cả các dân tộc tự mình thỏa thuận với nhau cùng tiêu diệt con quái vật chủ nghĩa đế quốc ở khắp mọi nơi mà họ gặp nó" [59, tr 17] Kết luận này chính là sự phủ nhận của Người với chính trị thực dân phong kiến - một hình thức đặc biệt, nhà nước của giai cấp tư sản đã

bị thực dân hóa ở các thuộc địa của chủ nghĩa tư bản

Trong nhận thức của Nguyễn Ái Quốc, chính trị thực dân phong kiến sẽ phải được xóa bỏ ở Việt Nam và phải được thay thế bằng một chế độ chính trị phù hợp với sự phát triển tiến bộ của xã hội Tuy nhiên, thay thế chính trị thực dân phong kiến bằng nền chính trị nào thì lúc đó Người chưa tìm ra câu trả lời

Tiếp theo là nhìn nhận, đánh giá của Nguyễn Ái Quốc về kiểu nhà nước tư sản tồn tại ở các nước tư bản phát triển dưới hình thức chế độ dân chủ tư sản ở Mỹ, Pháp

Bản chất của một chế độ chính trị thể hiện rõ nhất ở chỗ nó đại diện cho lợi ích của ai, phục vụ cho ai Trong quá trình bôn ba khắp năm châu bốn biển để tìm cho dân tộc một con đường sống, nghiên cứu xã hội tư bản và các cuộc cách mạng nổi tiếng thế giới như cách mạng Anh, Pháp, Mỹ, Nguyễn Ái Quốc nhận thấy nhiều điều nghịch lý

17

Trang 22

Sự tương phản giữa những khẩu hiệu mỹ miều trên lá cờ của cách mạng tư sản Pháp mà Nguyễn Ái Quốc được nghe thấy từ khi học trường Quốc học Huế với sự dã man, tàn bạo của thực dân Pháp trên quê hương đau khổ của Người đã thôi thúc Người đến nước Pháp để khám phá những gì thực sự ẩn giấu đằng sau cái gọi là "tự do - bình đẳng - bác ái" Đến Pháp, Người có dịp nghiên cứu bản "Tuyên ngôn nhân quyền và dânquyền" của Cách mạng Pháp 1789 Trong thời kỳ mà nền chuyên chế phong kiến đang thống trị thế giới, mọi quyền con người bị tước đoạt, bản Tuyên ngôn là một văn kiện chính trị, pháp lý tiến bộ khi nó khẳng định quyền tự do, bình đẳng, quyền chống áp bức của con người Nhà nước đảm bảo quyền tự do, có nghĩa là mọi người có thể làm tất cả những gì không gây hại cho người khác và không bị pháp luật nghiêm cấm Quyền lực tối cao của nhà nước thuộc về nhân dân Luật

pháp phải biểu hiện ý chí của tất cả các thành viên trong xã hội

Tuy Tuyên ngôn Pháp khẳng định quyền bình đẳng của con người nhưng tại Đông Dương thuộc Pháp thì không như vậy: "Giá mà mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, như người ta thường nói, thì tuổi thọ của ông Xarô, Toàn quyền Đông Dương, phải dài ghê lắm mới đủ để cho ông ngồi hết hạn tù" [60, tr 103] Sau cách mạng tư sản, giai cấp tư sản Pháp nhiều lần thiết lập nhà nước quân chủ nghị viện nhưng trước sức mạnh đấu tranh của quần chúng nhân dân, chúng đã không thể thực hiện được Tuy nhà nước vẫn mang hình thức cộng hòa nghị viện nhưng nhà nước tư sản Pháp ngày càng lao vào con đường độc tài, phản động Nghiên cứu lịch sử cách mạng Pháp, khi tư sản Pháp câu kết với tư sản Đức chống lại cách mạng, Nguyễn Ái Quốc rút ra kết luận: "Tư bản không có Tổ quốc" [60, tr 296] Kết luận này giúp Người nhận thức rõ hơn bản chất quốc tế của chủ nghĩa đế quốc và nhà nước tư sản ở các nước

Âu Mỹ Lịch sử cách mạng Pháp cũng cung cấp cho Nguyễn Ái Quốc những thông tin quý báu về một loại hình chính phủ của nhân dân, đó chính là công xã Pari Mô hình một chính phủ: "Tự dân cử lên và dân có quyền thay đổi chính phủ", "dân có quyền tự

do tổ chức, làm báo, khai hội, xuất dương", "bất kỳ đàn ông, đàn bà, ai cũng được quyền chính trị, tuyển cử và ứng cử" [60, tr 295] Nguyễn Ái Quốc đã tiếp thu những giá trị chân chính, những yếu

Trang 23

tố nhân văn, tiến bộ của cách mạng dân chủ

tư sản, của chính trị tư sản nhưng

Người cũng đã nhận ra những hạn chế của nó

Đến Mỹ, Người nghiên cứu bản Tuyên ngôn độc lập bất hủ của Cách mạng Mỹ

1776 Tuyên ngôn khẳng định: "Tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc" [62, tr 1] Tuyên ngôn cũng khẳng định cuộc đấu tranh vì nền độc lập của nước Mỹ đồng thời cũng

là cuộc đấu tranh vì một chính phủ dựa trên sự đồng thuận của nhân dân thay thế cho mộtchính phủ được điều hành bởi một ông Vua Chính phủ mới được thiết lập để bảo vệ tự

do, hạnh phúc của nhân dân

Tuyên ngôn thì đẹp đẽ, song những gì diễn ra trên hiện thực nước Mỹ thì trái lại Tuyên ngôn khẳng định rõ quyền đập đổ chính phủ nếu chính phủ ấy làm hại dân nhưng "bây giờ chính phủ Mỹ lại không muốn cho ai nói đến cách mệnh, ai động đến chính phủ Mỹ tuy rằng cách mệnh thành công đã hơn 150 năm nay, nhưng công nông vẫn cực khổ, vẫn cứ lo tính cách mệnh lần thứ hai" [60, tr 291] Giai cấp tư sản Mỹ ngày càng chà đạp trắng trợn các nguyên tắc cơ bản của Tuyên ngôn Chúng đã thiết lập một chính quyền trung ương mạnh với quyền hạn tập trung cho các cơ quan nhà nước liênbang nhằm tập trung lực lượng để có điều kiện đàn áp hiệu quả phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong nước Hệ thống chính trị Mỹ với thủ đoạn cầm quyền thông qua hai đảng của giai cấp tư sản nhằm lừa bịp nhân dân lao động là hai đảng ấy đối lập nhau, đó là sự dân chủ trong nhà nước Mỹ nhưng thực chất hai đảng đó chỉ là hai cánh tay của chủ nghĩa tư bản thay nhau nắm giữ chính quyền nhà nước Đúng như Ăng-ghen viết: "Ở đây lại có bầy lũ lớn những nhà chính trị đầu cơ thay nhau nắm giữ chính quyền nhà nước và lợi dụng chính quyền đó với những phương pháp vô liêm sỉ và cả nước đều bất lực trước những tên lớn đó gồm những nhà chính trị vốn mạo xưng vì cả

nước mà phục vụ nhưng thực ra lại thống trị và cướp bóc nó" [53, tr 771, 772]

Cuối cùng, băn khoăn của Nguyễn Ái Quốc khi tận mắt chứng kiến những phụ nữ Pháp nghèo khổ lao động cực nhọc dưới cảng Mácxây: "Tại sao người Pháp không đi khai hóa cho chính họ trước khi khai hóa chúng ta?" Theo Người, nguyên

Trang 24

nhân của tất cả những nghịch lý trên tựu trung lại là vì: Cách mệnh Pháp cũng như

Cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa

và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa Cáchmệnh đã bốn lần rồi mà nay công nông Pháp hẵng còn phải mưu cách mệnh lần nữa mới thoát khỏi vòng áp bức [60, tr 296]

Nguyễn Ái Quốc cũng đã từng biết đến Chủ nghĩa Tam dân của Tôn Dật Tiên và

mô hình nhà nước Trung Hoa dân quốc mà chủ nghĩa này hướng tới xây dựng Và dù nhận thấy chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là "chính sách của nó phù hợp với nước ta", song mô hình nhà nước theo kiểu Trung Hoa dân quốc - một kiểu nhà nước dân chủ tư sản, cũng không phải sự lựa chọn của Người

Từ nghiên cứu thực tiễn các nước tư bản chủ nghĩa và lý luận của các cuộc cách mạng tư sản nổi tiếng thế giới, nhìn rõ những hạn chế của cách mạng tư sản và bản chất

xã hội tư bản đằng sau vẻ ngoài xa hoa, hào nhoáng Người rút ra kết luận: Cách mạng Việt Nam không thể đi theo con đường ấy - con đường cách mạng tư sản Và kết luận này một lần nữa khẳng định chính trị tư sản, kiểu nhà nước tư sản không thể là chính trị tương lai của Việt Nam

Nhìn nhận, đánh giá của Nguyễn Ái Quốc về kiểu nhà nước xã hội chủ nghĩa ở

và Cách mạng Tháng Mười Nga Sau nhiều trải nghiệm thực tế, Nguyễn Ái

Trang 25

Quốc thấm thía và cảm nhận sâu sắc hơn bản chất dối trá, giả nhân giả nghĩa của

chế độ dân chủ tư sản mà Luận cương của Lênin đã chỉ ra Cái mà giai cấp tư sản cũng như chế độ dân chủ tư sản gọi là "bình đẳng" thực chất chỉ là bình đẳng hình thức, bình đẳng cho những kẻ hữu sản

Hướng tới một mô hình chính trị mới trước hết nhằm mục tiêu giải phóng dân tộc nên Nguyễn Ái Quốc dành nhiều sự quan tâm đến những luận điểm của Lênin về cách mạng giải phóng dân tộc thuộc địa Đặc biệt ở các dân tộc trong đó những quan hệ có tính chất phong kiến hoặc gia trưởng nông dân đang chiếm ưu thế như Việt Nam Trongkhi trên thế giới người ta bàn nhiều tới cách mạng vô sản ở chính quốc mà lãng quên hoặc nhận thức chưa đúng đắn về cách mạng giải phóng dân tộc thuộc địa thì Người phát hiện ra chính Lênin là người đầu tiên đã nhấn mạnh và nhận thức hết tầm quan trọng to lớn của việc giải quyết một cách đúng đắn vấn đề thuộc địa đối với cách mạng thế giới Trong tất cả các Đại hội của Quốc tế Cộng sản, của Quốc tế Công đoàn và của Quốc tế Thanh niên Cộng sản, vấn đề thuộc địa luôn luôn được đặt lên hàng đầu Lênin chỉ rõ không chỉ chống bọn địa chủ và chế độ phong kiến mà còn phải chống cả giai cấp

tư sản đã bị đế quốc hóa và chế độ tư bản chủ nghĩa

Từ những luận điểm đầy ý nghĩa về cách mạng giải phóng dân tộc thuộc địa, Luậncương còn chỉ ra mô hình nhà nước tương lai có khả năng tạo sức mạnh để giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người Đó là mô hình mà "Chính phủ công nông binh phát ruộng đất cho dân cày, giao công xưởng cho thợ thuyền, không bắtdân đi chết cho tư bản và đế quốc chủ nghĩa nữa, ra sức tổ chức kinh tế mới để thực hành chủ nghĩa thế giới đại đồng" [60, tr 303, 304] Tiếng vang của Lênin và Cách mạng Tháng Mười đã đến tận những vùng xa xăm của thế giới và Nguyễn Ái Quốc ngưỡng mộ

"người ưu tú nhất của nước đó" cũng như "một dân tộc ở miền Bắc xa xôi" vì họ "đã đánh đuổi được bọn áp bức và tự quản lý lấy mình" [60, tr 222] Như vậy, khát vọng của Nguyễn Ái Quốc về một xã hội trong đó không còn áp bức dân tộc qua trải nghiệm

thực tiễn đã được xác lập trong tương lai đó là một mô hình trong đó người dân tự quản

lý lấy mình Nguyễn Ái Quốc đã

Trang 26

tìm được sự đồng cảm lớn khi gặp được tư tưởng của Lênin Nhận thấy sự khác biệt

giữa cuộc Cách mạng Tháng Mười do Lênin lãnh đạo với các cuộc cách mạng tư sản trước đây, Người khẳng định: "Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công và thành công đến nơi nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc, tự do, bình đẳng thật, không phải thứ tự do, bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An Nam Cách mệnh Nga đã đuổi được Vua, tư bản, địa chủ rồi, lại ra sức cho công nông các nước và dân bị áp bức các thuộc địa làm cách mệnh để đập đổ tất cả

đế quốc chủ nghĩa và tư bản trong thế giới" [60, tr 304]

Khác với tất cả các cuộc cách mạng tư sản, Cách mạng Tháng Mười đã giải quyết được mục tiêu kép: giành được độc lập cho dân tộc đồng thời đem tới ấm no, hạnh phúc cho đông đảo nhân dân lao động Nếu chỉ dừng lại ở độc lập dân tộc như các cuộc cách mạng tư sản mà công - nông vẫn cực khổ thì đó là cách mạng nửa vời, không đến nơi, không triệt để Từ sự thấu hiểu tư tưởng của Lênin và Cách mạng Tháng Mười vĩ đại, Nguyễn Ái Quốc đã tìm ra cho cách mạng Việt Nam con đường dẫn tới "một tương lai mới, sáng lạn", gắn độc lập của nước nhà với hạnh phúc của đông đảo những người lao động - một con đường thực sự "có nghĩa lý" Con đường đó là con đường đi theo Cách mạng Tháng Mười, theo tư tưởng của Lênin và Đệ tam Quốc tế: "An Nam muốn cách mệnh thành công thì tất phải nhờ Đệ tam Quốc tế" [60, tr 312] Kết luận "muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản" [66, tr 30] là sự gián tiếp phủ nhận kiểu nhà nước phong kiến cũng như kiểu nhà nước tư sản và khẳng định kiểu nhà nước sẽ được lựa chọn cho cách mạng Việt Nam hướng tới là kiểu nhà nước xã hội chủ nghĩa

1.2 Quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng mô hình nhà nước kiểu mới ở Việt Nam

Sau gần 10 năm bôn ba ở nước ngoài, Nguyễn Ái Quốc đã nhận thức rất rõ hai vấn đề quan trọng của mô hình thể chế chính trị đương thời:

Trang 27

Thứ nhất, sự bất lực và lạc hậu của thể chế chính trị phong kiến và mặt trái

của thể chế chính trị tư sản, thể hiện ở mục tiêu bóc lột người lao động ở chính quốc cũng như ở các nước thuộc địa

Thứ hai, sự xuất hiện loại hình thể chế chính trị kiểu mới ở Nga sau thắng lợi của

Cách mạng Tháng Mười - thể chế Xôviết Thể chế này có mục tiêu giải phóng nhân dânlao động khỏi áp bức bóc lột, phù hợp với ước nguyện của Người và thực tế lịch sử nước

ta

Vì vậy, Nguyễn Ái Quốc đã làm tất cả để thiết lập một thể chế chính trị mới phù hợp với thực tiễn của cuộc cách mạng giải phóng ở Việt Nam Trong sự vận động của cách mạng Việt Nam, tư duy của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh về một hình thức nhà nước cụ thể luôn luôn có những biến chuyển cho phù hợp với bối cảnh lịch sử Điều đó, thể hiện tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo và bản lĩnh chính trị của anh hùng giải phóng dân tộc và danh nhân văn hóa Hồ Chí Minh

1.2.1 Nhận thức và chuẩn bị tổ chức cho sự ra đời của một nhà nước kiểu mới ở Việt Nam

1.2.1.1 Nhận thức và hoạt động chính trị thực tiễn của Đảng năm 1930

Nguyễn Ái Quốc đã sống một thời gian trên đất nước Xôviết, nghiên cứu Cách mạng Tháng Mười và nền dân chủ Xôviết Người đánh giá, chỉ có Cách mạng Tháng Mười và một chính quyền mang bản chất giai cấp công nhân mới thực sự đem lại quyền

lợi cho nhân dân lao động Tuy nhiên, Người không rập khuôn, giáo điều, bê nguyên xi

mô hình Xôviết áp dụng vào Việt Nam mà kế thừa trên tinh thần sáng tạo Điểm kế thừa

rõ nhất chính là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của nhà

nước theo học thuyết Mác - Lênin, tức bản chất giai cấp công nhân của nhà nước

Những quan điểm cơ bản trên đây của Nguyễn Ái Quốc đã đặt cơ sở cho một định hướng về một nhà nước phù hợp với đặc điểm dân tộc Việt Nam, về vai trò pháp luật trong việc cai trị đất nước, quản lý xã hội Đó là chính quyền nhà nước của nhân dân laođộng Tinh thần cơ bản này được thể hiện trong các văn kiện được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng, trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng, chẳng những vạch ra nhiệm vụ, phương pháp, lực lượng của cách mạng để tiến hành

Trang 28

cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và tự do của nhân dân Việt Nam, mà còn chỉ rõ

phương hướng phát triển của nước Việt Nam sau khi giành được độc lập

Sự ra đời của Đảng là kết quả của một quá trình đấu tranh gian khổ, phấn đấu không mệt mỏi của Nguyễn Ái Quốc và những người Việt Nam yêu nước, lựa chọn con đường cách mạng giải phóng dân tộc giành độc lập, tự do tiến lên chủ nghĩa xã hội Đảng

ra đời là kết quả của một quá trình chuẩn bị kỹ lưỡng về tư tưởng và tổ chức, thông qua hoạt động của các tổ chức tiền thân của Đảng Ngay khi ra đời, trong Chánh cương vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định Đảng lãnh đạo nhân dân làm cách mạng

để "đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến Làm cho nước Nam được

hoàn toàn độc lập Dựng ra chính phủ công nông binh Tổ chức ra quân đội công

nông" [61, tr 1], đó là công cụ chuyên chính của nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng để chống ngoại xâm và nội phản, phát triển đất nước phồn vinh và "đi tới xã hội cộng sản"

Ngay trong năm 1930, phong trào cách mạng do Đảng lãnh đạo đã nổ ra với quy

mô lớn, trên phạm vi toàn quốc Đường lối của Đảng đã quy tụ được một lực lượng cáchmạng hùng hậu đứng ra đấu tranh trực diện với kẻ thù dân tộc và giai cấp Ở Nghệ An

và Hà Tĩnh, cao trào cách mạng công nông nổ ra sôi nổi và quyết liệt nhất khiến cho chính quyền địch tan rã ở nhiều nơi Trước tình hình đó, nhiều cấp ủy Đảng ở thôn xã đã lãnh đạo Nông hội và quần chúng lập ra chính quyền cách mạng của công nhân, nông dân

và quần chúng lao động, sau này gọi là chính quyền Xôviết Xôviết Nghệ Tĩnh là hình thức nhà nước dân chủ đầu tiên được xác lập ở Việt Nam Đây là cơ sở để xây dựng nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa sau Cách mạng Tháng Tám

1.2.1.2 Quyết định thay đổi chiến lược cách mạng, thực hiện nhiệm vụ giải phóng dân tộc, kiến lập chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa

Tháng 09/1939, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ Tháng 06/1940, nước Pháp đầu hàng phát xít Đức Ngày 22/06/1941, Phát xít Đức tấn công Liên Xô Từ đây, tính chất của cuộc chiến tranh thay đổi, một bên là lực lượng phátxít và một bên là lực lượng đồng minh chống phátxít

Trang 29

Trong nước, thực dân Pháp thủ tiêu toàn bộ thành quả của phong trào dân sinh

1936 - 1939, thẳng tay đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân, thủ tiêu dân chủ, tiếnhành vơ vét sức người, sức của phục vụ chiến tranh Ngày 22/09/1940, phátxít Nhật tiến vào Lạng Sơn và đổ bộ vào Hải Phòng Trước áp lực quân sự của Nhật, thực dân Pháp liên tục nhân nhượng, mở cửa rước Nhật vào nước ta để mở thêm căn cứ đánh quân Đồng minh "Sự thực là mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa" [6] Từ đó, dân tộc ta một cổ bị hai tròng áp bức,bóc lột của Nhật - Pháp

Tình hình trong nước và quốc tế đã có những chuyển biến lớn Mâu thuẫn giữa dân

tộc ta với đế quốc phátxít Pháp - Nhật diễn ra gay gắt Lúc này: "Nhân dân

Việt Nam ai cũng chán ghét cuộc đời nô lệ, ai cũng mong muốn độc lập, tự

do và đang trong tư thế một người lên tiếng vạn người ủng hộ" [23, tr 112]

Bối cảnh lịch sử lúc này đã tác động đến kinh tế, xã hội và đặc biệt là thái độ của các giai cấp đã có sự thay đổi mạnh mẽ Giải phóng dân tộc, giành lại quyền độc lập tự

do trở nên cấp bách và nóng bỏng hơn bao giờ hết

Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng (11/1939) đã quyết định

"phải thay đổi chính sách" [22, tr 537] cho phù hợp với thời cuộc mới Tháng 12/1940, tại làng Nậm Quang sát biên giới Trung - Việt, Nguyễn Ái Quốc đã mở lớp đào tạo cán

bộ cách mạng, chuẩn bị cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc đang bước vào giai đoạn mới

Ngày 28/01/1941, Hồ Chí Minh bí mật trở về nước, ở tại Pác Pó, Hà Quảng, Cao Bằng và bắt tay ngay vào việc tổ chức các đoàn thể cứu quốc, xây dựng căn cứ địa cách mạng Người đã triệu tập và chủ trì Hội nghị lần thứ tám Ban chấp hành Trung ương

Đảng, họp từ ngày 10 đến 19/05/1941 ở Pác Pó (Hà Quảng, Cao Bằng), quyết định phải

thay đổi chiến lược cách mạng cho phù hợp với yêu cầu đánh đuổi được Pháp - Nhật,

làm cho nhân dân ta được độc lập tự do, tự mình làm chủ vận mệnh của mình "Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc,

Trang 30

thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền

lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được" [23, tr 113]

Vì vậy, nhiệm vụ cốt yếu của cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam lúc này là phải đánh đuổi được Nhật - Pháp giành lại độc lập tự do Muốn làm tốt được nhiệm vụ

đó, trước hết phải: "Tập trung cho được lực lượng cách mạng toàn cõi Đông Dương, không phân biệt thợ thuyền, dân cày, phú nông, địa chủ, tư bản bản xứ, ai có lòng yêu nước thương nòi sẽ cùng nhau thống nhất mặt trận, thu góp toàn lực đem tất cả ra giành quyền độc lập, tự do cho dân tộc, đánh tan giặc Pháp - Nhật xâm chiếm nước ta" [23, tr 112]

Như vậy, đến Hội nghị Trung ương lần thứ tám, quan điểm của Đảng chẳng những thể hiện rõ nguyên tắc xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân mà còn làm rõ mối quan hệ hai chiều giữa chính quyền và nhân dân Đồng thời, Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ tám cũng đã nêu rõ quyền lợi, trách nhiệm và nghĩa vụ của nhân dân đối với chính quyền mới

Ban Chấp hàng Trung ương Đảng, đứng đầu là lãnh tụ Hồ Chí Minh quyết định thành lập một mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi với tên gọi là Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) nhằm đoàn kết toàn dân đấu tranh chống Pháp - Nhật Sự nghiệp chống Pháp - Nhật do toàn dân đoàn kết trong Việt Minh thực hiện Sau khi

đánh đuổi được Pháp - Nhật sẽ "thành lập một nước Việt Nam dân chủ mới theo tinh thần

tân dân chủ Chính quyền cách mạng của nước dân chủ mới ấy không phải thuộc quyền riêng của một giai cấp nào mà là của chung cả toàn thể dân tộc, chỉ trừ có bọn

tay sai của đế quốc Pháp - Nhật, những bọn phản quốc, những bọn thù, không được giữ chính quyền, còn ai là người dân sống trên dải đất Việt Nam thảy đều được một phần tham gia giữ chính quyền, phải có một phần nhiệm vụ giữ lấy và bảo vệ chính quyền ấy" [23, tr 114]

Ngày 06/06/1941, Hồ Chí Minh gửi thư kêu gọi toàn dân đoàn kết chống Pháp - Nhật Thư có đoạn viết: "Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy Chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứu giống nòi rakhỏi nước sôi lửa nóng" [61, tr 230]

Trang 31

Ngày 25/10/1941, Việt Minh công bố Tuyên ngôn, Chương trình cứu nước, tuyên bố với quốc dân đồng bào "Việt Nam độc lập đồng minh" ra đời Chương trình của Việt Minh nêu rõ sẽ thi hành những chính sách cụ thể về chính trị, kinh tế,

văn hóa, xã hội gồm 44 điểm nhằm thực hiện hai điều:

Làm cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập Làm

cho dân Việt Nam được sung sướng, tự do

"Sau khi đánh đổ được đế quốc phátxít Nhật - Pháp, sẽ lập nên Chính phủ

cách mạng của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, theo tinh thần tân dân chủ, lấy cờ đỏ

giữa có ngôi sao vàng năm cánh làm cờ chung của nước

Chính phủ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, do Quốc dân đại hội cử lên" [23, tr 467]

Chủ trương thay đổi chiến lược cách mạng sáng tạo của Đảng, Chương trình cứu nước hợp lý, hợp tình của Việt Minh đã đáp ứng nguyện vọng độc lập tự do của toàn dân

và lời kêu gọi cứu quốc thống thiết của lãnh tụ Hồ Chí Minh là mục tiêu đấu tranh của

toàn dân tộc trong cuộc chiến dấu chống Pháp - Nhật giành lấy độc lập, tự do, kiến lập

chính thể cộng hòa dân chủ Việt Nam Quá trình hình thành, phát triển đường lối của

Đảng và Hồ Chí Minh về xây dựng bộ máy nhà nước mang tính chất nhân dân rộng rãi, thểhiện tư duy độc lập, sáng tạo, phù hợp đặc điểm dân tộc thuộc địa - đó là chủ trương xây dựng một nhà nước của dân, do dân và vì dân

Phong trào Việt Minh đã phát triển mạnh mẽ, từ vùng căn cứ Việt Bắc, Việt Minh

đã lan rộng dần khắp cả nước, có hệ thống tổ chức từ trung ương xuống cơ sở Các hội cứu quốc được phát triển khắp nơi Hội Văn hóa cứu quốc ra đời cuối năm 1943 Đảng dân chủViệt Nam được thành lập tháng 06/1944 và đã gia nhập Việt Minh Các đội du kích bí mật, đội Cứu quốc quân đẩy mạnh hoạt động ở Thái Nguyên, Tuyên Quang, Cao - Bắc

- Lạng khẩn trương chuẩn bị phát động khởi nghĩa để giành chính quyền Việt Minh trở thành trung tâm tập hợp, đoàn kết các giai cấp, tầng lớp nhân dân, đảng phái chính trị yêu nước và dân chủ, các cá nhân yêu nước trong toàn quốc hình thành một lực lượng chính trị rộng lớn, cùng với các tổ chức cứu quốc khẩn trương chuẩn bị khởi nghĩa vũ tranggiành chính quyền

Trang 32

Năm 1944, một số đảng phái của người Việt Nam hoạt động ở Trung Quốc đã thống nhất thành Việt Nam Cách mạng đồng minh hội và họp Hải ngoại đồng chí hội nghị, nêu vấn đề phải triệu tập một cuộc toàn quốc đại hội gồm đại biểu các đảng phái cách mạng ở trong nước và ngoài nước tham gia, để đẩy mạnh cuộc vận động cách mạng Việt Nam Được tin ấy, Tổng bộ Việt Minh hoan nghênh và nêu rõ: "Chỉ có một cuộc đại biểu đại hội của tất cả các đảng phái cách mạng Việt Nam như thế mới tập trungđược hết các lực lượng cách mạng trong ngoài, mới hướng

dẫn được toàn thể quốc dân và cuộc tranh đấu quyết liệt sắp tới" [23, tr 509]

Trên thế giới, quân Đồng minh đẩy mạnh tiến công chống lại bọn phátxít Ở châu

Á - Thái Bình Dương, Mỹ phản công quân Nhật trên toàn chiến trường Nhật liên tiếp thất bại và bị tổn thất nặng nề Trong bối cảnh đó, tháng 10/1944, lãnh tụ Hồ Chí Minh

đã gửi thư đến đồng bào, đồng chí, thông báo chủ trương triệu tập Đại hội đại biểu toàn quốc, chuẩn bị đón cơ hội khởi nghĩa đang đến: "Chúng ta trước phải có một cái cơ cấu đại biểu cho sự chân thành đoàn kết và hành động nhất trí của toàn thể quốc dân ta Mà

cơ cấu ấy thì phải do một cuộc Toàn quốc đại biểu Đại hội gồm tất cả các đảng phải cách mệnh và các đoàn thể ái quốc trong nước bầu cử ra Một cơ cấu như thế mới đủ lực lượng

và oai tín, trong thì lãnh đạo công việc cứu quốc, kiến quốc, ngoài thì giao thiệp với các hữu bang " [61, tr 537]

Hình ảnh phôi thai của lực lượng vũ trang cách mạng - công cụ bạo lực bảo vệ chínhquyền, cũng được thiết lập và xây dựng Sự ra đời của Cứu quốc quân và Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, sau này thống nhất thành Việt Nam giải phóng quân là sự chuẩn

bị có tính định hướng làm tiền đề cho sự ra đời của một lực lượng quân sự bảo vệ chính quyền cách mạng Công cuộc chuẩn bị lực lượng khởi nghĩa càng được đẩy mạnh khắp cả nông thôn và đô thị

1.2.2 Xây dựng mô hình nhà nước kiểu mới ở các khu giải phóng (03/1945 - 08/1945)

Cuối năm 1944 đầu năm 1945, cục diện chiến tranh chống phátxít đi vào giai

đoạn kết thúc Ngày 09/03/1945, Nhật đảo chính, lật đổ chính quyền thực dân Pháp

Trang 33

ở Đông Dương, tạo nên sự khủng hoảng chính trị sâu sắc, tạo cơ hội tốt cho những điều kiện khởi nghĩa giành chính quyền của nhân dân Việt Nam

Tối ngày 09/03/1945, giữa lúc tiếng súng của Nhật lật đổ Pháp đang nổ, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp Hội nghị mở rộng ở Đình Bảng (Bắc Ninh) dưới sự chủ trì của Tổng Bí thư Trường Chinh Hội nghị vạch ra những nhiệm vụ và chủ trương, biện pháp cách mạng mới phù hợp với tình hình đất nước do cuộc đảo chính của Nhật tạo

ra Ngày 12/03/1945, Ban Thường vụ đã ra bản Chỉ thị Nhật Pháp bắn nhau và hành

động của chúng ta Bản chỉ thị vạch rõ cuộc đảo chính của Nhật đã làm cho hàng ngũ

kẻ thù thay đổi Đế quốc phátxít Nhật là kẻ thù chính, kẻ thù cụ thể trước mắt, duy nhấtcủa nhân dân ta Khẩu hiệu chính và toàn bộ chiến thuật phải thay đổi Đem khẩu hiệu

"đánh đuổi phátxít Nhật" thay cho khẩu hiệu "đánh đuổi Nhật, Pháp", phát động một cao trào kháng Nhật cứu nước làm tiền đề cho cuộc Tổng khởi nghĩa

Về mặt tổ chức, chỉ thị nêu rõ phải mở rộng cơ sở Việt Minh, phát triển thêm nhiều đội du kích, thành lập những căn cứ địa mới, thống nhất các chiến khu và thành lập ViệtNam Giải phóng quân, tổ chức Ủy ban quân sự cách mạng

Đặc biệt, về mặt tổ chức chính quyền, chỉ thị nêu rõ:

"Thành lập Ủy ban dân tộc giải phóng ở các nhà máy, mỏ, làng, ấp, đường phố, trại lính, trường học, công tư sở Những ủy ban này vừa có tính chất mặt trận dân tộc thống nhất chống Nhật rộng rãi, vừa có ý nghĩa "tiền chính phủ" của đồng bào trong các xí nghiệp, các làng,

Thành lập "Ủy ban Nhân dân cách mạng" và "Ủy ban Công nhân cách mạng" ở những vùng quân du kích hoạt động

Thành lập "Ủy ban Nhân dân cách mạng Việt Nam" theo hình thức một Chính phủ lâm thời cách mạng Việt Nam" [23, tr 371]

Ngày 16/04/1945, Tổng bộ Việt Minh ra một chỉ thị đặc biệt, chỉ đạo các địa

phương thi hành tổ chức các Ủy ban dân tộc giải phóng Chỉ thị nêu rõ: "Trong tình thế

chính quyền đế quốc có chỗ tan rã, có chỗ không được ổn định như ở nước ta ngày nay

Ủy ban dân tộc giải phóng là hình thức tiền chính phủ, trong đó nhân dân

29

Trang 34

được học tập để tiến lên giữ chính quyền cách mạng" [23, tr 535] Ủy ban dân tộc

có thể tổ chức ra ở cơ sở đến toàn quốc Cấp nào cũng có thể tổ chức ra Ủy ban dân tộc

của cấp ấy "Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam (toàn quốc) tức là Chính phủ lâm thời

cách mạng Việt Nam" [23, tr 535]

Trong các vùng giải phóng, các căn cứ địa cách mạng thì tổ chức Ủy ban nhân dân cách mạng do dân bầu lên bằng phổ thông đầu phiếu hay do đại biểu hội nghị các giới bầu lên Chính quyền ấy là một chính quyền dân chủ, chính quyền của Mặt trận dân tộc thống nhất

Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ họp ở Hiệp Hòa (Bắc Giang) từ ngày 15 đến ngày 20/04/1945 đã thảo luận và đề nghị triệu tập cuộc đại biểu đại hội gồm có các giới, các đảng phái, các thân sĩ toàn quốc để thành lập Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam

và tiến tới thành lập Chính phủ lâm thời Việt Nam Điều này đã thể hiện rõ tư tưởng và chủ trương tổ chức triệu tập Quốc dân đại hội của Chủ tịch Hồ Chí Minh là rất sáng suốt

và được sự nhất trí của Đảng và Mặt trận Việt Minh

Tháng 05/1945, lãnh tụ Hồ Chí Minh chuyển về Tân Trào (Sơn Dương, Tuyên Quang) Ngày 04/06/1945, Hội nghị cán bộ Việt Minh đã quyết định thành lập Khu giải phóng và Ủy ban Chỉ huy lâm thời Khu giải phóng Khu giải phóng chính thức được thành lập gồm: Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Cạn, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Hà Giang

và một số vùng lân cận: Bắc Giang, Phú Thọ, Yên Bái, Vĩnh Yên Tân Trào được chọn làm Thủ đô lâm thời của Khu giải phóng Ủy ban Chỉ huy lâm thời Khu giải phóng đã được thành lập Ủy ban có nhiệm vụ lãnh đạo toàn khu về các phương diện chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội

Chính sách chung của Ủy ban lâm thời Khu giải phóng dựa vào Nghị quyết Hội nghị cán bộ Việt Minh ngày 04/06/1945 gồm ba điểm chính sau:

"1 - Tổng động viên nhân dân trong khu để kháng Nhật

2 - Căn cứ vào điều kiện cụ thể và nhu cầu của cuộc kháng chiến mà thực hiện

Chương trình Việt Minh Kiến lập nền dân chủ cộng hòa và ban bố các quyền phổ thông

đầu phiếu, tự do dân chủ, dân tộc tự quyết, nam nữ bình quyền

Trang 35

3 - Cải thiện sinh hoạt cho nhân dân: bỏ sưu, bỏ thuế thân, vận động sinh

sản" [23, tr 541]

Căn cứ vào chính sách chung đó, Ủy ban lâm thời Khu giải phóng đã được thực hiện kế hoạch củng cố Khu giải phóng về các mặt chính trị, quân sự, kinh tế, tài chính, văn hóa và xã hội Hơn một triệu người trong Khu giải phóng bắt đầu được hưởng thành quả của cách mạng trên các lĩnh vực

Ngày 01/07/1945, Ủy ban quân sự cách mạng Bắc Kỳ ra lời kêu gọi quốc dân đồngbào: "Chính quyền cách mạng địa phương đã thành lập Những Ủy ban nhân dân cách mạng, do các giới đồng bào trực tiếp cử lên, đang dùng những phương pháp cách mạng mang lại tự do, hạnh phúc cho nhân dân Hơn một triệu đồng bào đã bắt đầu được hưởng hạnh phúc cách mạng Một nước Việt Nam mới đang nảy nở" [11, tr 55]

Cao trào kháng Nhật cứu nước dâng lên khắp cả nước Bộ máy chính quyền Nhật

ở Đông Dương tiếp tục suy yếu Nhiều căn cứ cách mạng mới tiếp tục được thành lập ở trung du và đồng bằng miền Bắc, miền Trung và miền Nam Ngoài Khu giải phóng Việt Bắc còn có các chiến khu Đông Triều, chiến khu Vần - Hiền - Lương, chiến khu Hòa - Ninh - Thanh sau đổi thành chiến khu Quang Trung Ở các địa phương cũng có những khu căn cứ của mình Một phần Bắc Bộ đã thực tế đặt

dưới chính quyền cách mạng "Nước Việt Nam mới phôi thai từ đó" [13, tr 348]

Theo dõi sát tiến triển của thời cuộc thế giới và trong nước, nhận định Chính phủ Nhật sắp đầu hàng quân đội Đồng minh, Chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim tê liệt, quânAnh và Tưởng đang rục rịch kéo vào Đông Dương, thực dân Pháp ráo riết quay trở lại nước ta Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã triệu tập Hội nghị toàn quốc của Đảng (từ ngày

13 đến ngày 15/08/1945), họp ở Tân Trào Điều kiện khởi nghĩa ở nước ta đã chín muồi, cơ hội tốt giành quyền độc lập đã tới Tình thế vô cùng khẩn cấp, Hội nghị quyết định phát động khởi nghĩa giành chính quyền trong toàn quốc trước khi quân Đồng minh kéo vào nước ta để giải giáp quân đội Nhật

Về nguyên tắc khởi nghĩa, phải tập trung lực lượng vào những nơi cần thiết để đánh chiếm những nơi chắc thắng không kể thành phố hay nông thôn, chiếm lấy

31

Trang 36

những căn cứ chính kể cả các đô thị trước khi quân Đồng minh kéo vào nước ta để

tước vũ khí của quân đội Nhật Thành lập những Ủy ban nhân dân ở những nơi ta làm chủ, thi hành 10 chính sách của Việt Minh

Về ngoại giao, phải thi hành chính sách thêm bạn bớt thù, tránh trường hợp một mình phải đối phó với nhiều kẻ thù trong một lúc, thân thiện, tranh thủ sự đồng tình của Liên Xô và Mỹ, chống lại mưu mô của Pháp định khôi phục lại địa vị thực dân cũ ở Đông Dương và âm mưu của quân phiệt Trung Quốc định chiếm nước ta Song chỉ có thực lực của ta mới quyết định được sự thắng lợi giữa ta và Đồng minh

Tiếp đó, ngày 16, và ngày 17/08/1945, Đại hội đại biểu quốc dân họp ở Tân Trào,huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang Gần 60 đại biểu đại diện cho các đảng phái yêu nước, các đoàn thể cứu quốc, các dân tộc, tôn giáo, có cả đại biểu từ Nam Bộ, miền Nam Trung Bộ, Việt Kiều ở Lào và Thái Lan về dự đại hội Đại hội tán thành chủ trương tổng khởi nghĩa của Đảng Cộng sản Đông Dương; thông qua 10 chính sách lớn của

Việt Minh và cử ra Ủy ban dân tộc giải phóng gồm 15 vị [Phụ lục 3, tr 133], do Hồ Chí

Minh làm Chủ tịch

Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam là Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam trước khi thành lập một chính phủ chính thức, thay mặt quốc dân để giao thiệp với các nước ngoài và chủ trì mọi công việc trong nước

Quốc dân đại hội Tân Trào là hiện thân của ý chí đoàn kết dân tộc, là "Hội nghị Diên Hồng" của thời đại mới "Quốc dân đại hội Tân Trào có ý nghĩa là một Quốc hội lâm thời, hay một tiền Quốc hội Quốc dân đại hội tạo căn cứ pháp lý cho sự ra đời chế độ Cộng hòa dân chủ của nước ta, cho một Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa khi cách mạng đã thành công Đại hội thông qua chương trình 10 điểm này như là Hiến pháp lâm thời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa" [32, tr 27] "Đó

là một tiến bộ rất lớn trong lịch sử tranh đấu giải phóng của dân tộc ta từ ngót một thế kỷ nay" [61, tr 595]

Đây là một nét sáng tạo độc đáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng Cộng sản Đông Dương và Tổng bộ Việt Minh trong việc phát huy ý chí, sức mạnh dân tộc và tính hợp pháp của sự nghiệp đấu tranh giành quyền độc lập tự do bằng tổ chức

Trang 37

Đại hội đại biểu quốc dân để đề ra quyết sách chuyển xoay vận nước bằng phương

thức khởi nghĩa vũ trang, xóa bỏ chế độ nô dịch thực dân, kiến lập chế độ cộng hòa dân chủ với cơ quan mang tính quyền lực cao nhất là Đại hội đại biểu quốc dân và Ủy ban dân tộc giải phóng do Đại hội đại biểu quốc dân lập ra

Ngay sau đại hội, Hồ Chí Minh - Chủ tịch Ủy ban dân tộc giải phóng đã gửi hiệu triệu đến đồng bào toàn quốc: "Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc đã đến Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta Chúng ta không thể chậm trễ" [61, tr 596] Chính phủ lâm thời cũng đã có những hoạt động đầu tiên trong chính sách đối ngoại Ngày 18/08/1945, Hồ Chí Minh gửi thư yêu cầu Liên hợp quốc thực hiện lời hứa long trọng của mình về quyền được hưởng dân chủ và độc lập của tất cả các dân tộc: yêu cầu chính phủ Pháp công nhận Chính phủ Việt Nam và nêu các điều kiện vềmối quan hệ giữa nước Việt Nam mới với Pháp; đồng thời gửi thông điệp đến các cường quốc trong phe Đồng minh yêu cầu ủng hộ Ủy ban dân tộc giải phóng

Thực hiện nghị quyết của Quốc dân đại hội Tân Trào, hiệu triệu của Chủ tịch Hồ Chí Minh và mệnh lệnh của Ủy ban khởi nghĩa, nhân dân cả nước từ miền núi, đồng bằng và đô thị triệu người như một nhất tề nổi dậy với ý chí dù có hy sinh đến đâu, cũng phải quyết giành cho được chính quyền trong toàn quốc

Chỉ trong vòng 14 ngày, khởi nghĩa đã thành công trong cả nước, chính quyền hoàn toàn về tay nhân dân Chính quyền cách mạng được tuyên bố thành lập ở tất cả các địa phương: ngày 19/08 ở Hà Nội, ngày 23/08 ở Huế và ngày 25/08 ở Sài Gòn Ở cấp kỳ, tối ngày 20/08, Ủy ban nhân dân lâm thời Bắc Bộ ra đời do Nguyễn Khang làm Chủ tịch Chiều ngày 23/08, Ủy ban nhân dân lâm thời Trung Kỳ ra đời do Tôn Quang Phiệt làm Chủ tịch Ngày 25/08, Ủy ban hành chính lâm thời Nam Bộ ra mắt quần chúng Sài Gòn - Gia Định, do Trần Văn Giàu làm Chủ tịch

Trước tình thế đó và theo yêu cầu của Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam, ngày 24/08/1945, Bảo Đại ra Tuyên cáo thoái vị để Chính phủ Dân chủ Cộng hòa điều khiển quốc dân Tuyên cáo nêu rõ lúc này "đoàn kết là sống, chia rẽ là chết, tất cả các giai cấp, các đảng phái cho đến cả người Hoàng phái cũng vậy, đều nên hợp

Trang 38

nhất mà ủng hộ triệt để Chính phủ Dân chủ Cộng hòa giữ vững nền độc lập của

nước nhà" Đối với cá nhân Bảo Đại "sau hai mươi năm ngai vàng bệ ngọc đã biết bao

ngậm đắng nuốt cay, từ nay lấy làm vui được làm dân tự do của một nước độc lập" [82]

Chiều 30/08/1945, lễ thoái vị của Bảo Đại, vị vua cuối cùng của triều đại phong kiến nhà Nguyễn, đã được tổ chức tại lầu Ngọ Môn kinh thành Huế Bảo Đại đọc Tuyên cáo thoái vị Các ông Trần Huy Liệu, Nguyễn Lương Bằng, Cù Huy Cận thay mặt Chính phủ Trung ương tuyên bố chấp nhận sự thoái vị của Bảo Đại, nhận Quốc ấn bằng vàng

và thanh gươm nạm ngọc của nhà vua giao nộp cho Chính phủ trước sự chứng kiến của hàng vạn đồng bào Thừa Thiên - Huế

Như vậy, sự ra đời của các Ủy ban dân tộc giải phóng, các khu giải phóng với các

Ủy ban nhân dân chính là sự chuẩn bị về mặt tổ chức cho một chính quyền mới sẽ được thiết lập sau khi cách mạng thành công Khu giải phóng Việt Bắc ra đời tháng 06/1945 chính là hình ảnh thu nhỏ của một nước Việt Nam mới Đặc biệt, Quốc dân Đại hội TânTrào được triệu tập sau Hội nghị toàn quốc của Đảng vào tháng 08/1945 thông qua quyết định Tổng khởi nghĩa có thể coi như một hình thức tiền Quốc hội trong một chính quyền nhân dân Tất cả những hoạt động chính trị thực tiễn ấy chuẩn bị mọi phương diện để khi giành được quyền lực nhà nước từ tay đế quốc, phong kiến, chính quyền mới

có thể bước ngay vào quá trình hoạt động mà không mất quá nhiều thời gian cho việc xây dựng và kiện toàn hệ thống bộ máy tổ chức nhà nước

Sự tồn tại của các "hình thức tổ chức quá độ" trên đây là cần thiết của giai đoạn chuyển tiếp từ khởi nghĩa giành chính quyền bộ phận tiến lên tổng khởi nghĩa giành chínhquyền trong toàn quốc, phản ánh sự sáng tạo, linh hoạt của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh Đúng như đồng chí Trường Chinh nhận xét: "Dùng Ủy ban nhân dân và Ủy ban giải phóng làm bước chuyển tiếp nhảy lên chính thể cộng hòa dân chủ, đó là một đặc điểm hết sức thú vị của chiến thuật cộng sản" [12, tr 24] Quá trình xây dựng các hình thức chính quyền quá độ đã đặt nền móng tiến tới thiết kế chính quyền dân chủ nhân dân sau khi Cách mạng Tháng Tám thắng lợi

Trang 39

Tiểu kết chương 1

Như vậy, có thể khẳng định, quá trình tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái

Quốc - Hồ Chí Minh thực chất là quá trình Người khảo sát, tìm kiếm, suy ngẫm về một

mô hình nhà nước kiểu mới phù hợp với dân tộc Việt Nam Đặc biệt, sự ra đời và những hoạt động chính trị tích cực của Đảng Cộng sản suốt 15 năm từ 1930 - 1945 qua ba cao trào cách mạng 1930 - 1931, 1936 - 1939, 1939 - 1945 và một thời kỳ thoái trào 1932 -

1935 đã đúc rút được nhiều bài học kinh nghiệm quý báu về kết hợp mục tiêu chiến lược với nhiệm vụ trước mắt, về tập hợp lực lượng, phương pháp, hình thức đấu tranh phù hợp Sau nữa, nền chính trị nào đáp ứng được mục tiêu độc lập dân tộc, nền chính trị đó sẽ thắng thế Nói cách khác, nền chính trị nào giải quyết được mâu thuẫn chủ yếu giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với đế quốc, thực dân xâm lược, nền chính trị đó sẽ khẳng định được vị trí của mình trong xã hội Việt Nam Đảng ta dưới ánh sáng của tư tưởng Hồ ChíMinh, bằng những chủ trương đúng đắn đã đưa cách mạng Việt Nam trở thành một bộ phận của cách mạng thế giới, liên kết nhân dân Việt Nam với nhân dân các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản ở mọi nơi Tất cả tạo thành yếu tố quan trọng, sức mạnh khổng

lồ làm nên thắng lợi của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc vào mùa thu năm 1945 Tóm lại, trong quá trình tìm tòi, thể nghiệm nhằm tìm ra mô hình thể chế chính trị hợp lý ở Việt Nam, Đảng Cộng sản, đứng đầu là lãnh tụ Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về chính trị, về nhà nước, vềgiải quyết hài hòa mối quan hệ giai cấp và dân tộc vào điều kiện cụ thể của đất nước, khắc phục dần tư tưởng tả khuynh, giáo điều Trải qua thực tiễn đấu tranh giành độc lập dân tộc, nhận thức của Đảng về các thể chế, về đảng chính trị, về chính quyền nhân dân,

về các đoàn thể cách mạng ngày càng sáng tỏ hơn Sau những bài học về thiết lập thể chế Xôviết những năm 1930 - 1931 ở Nghệ Tĩnh, những thể nghiệm xây dựng chính quyền cách mạng ở các vùng giải phóng, Đảng ta khẳng định thể chế chính trị dân chủ cộng hòa là phù hợp nhất với điều kiện đất nước giai đoạn (1945 - 1946) Mặt trận Việt Minh là mô hình chính trị sáng tạo, là sự phát triển từ uy tín của một đoàn thể cách mạnglên vị thế của một chính quyền

35

Trang 40

nhân dân Đây cũng là bài học xương máu: chính quyền phải dựa trên nền tảng sức

mạnh của nhân dân, được nhân dân ủng hộ, mọi hoạt động phải phối hợp chặt chẽ với các đoàn thể nhân dân, nhờ đó mới đứng vững và phát triển

Với trí tuệ thiên tài của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, cùng với việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và nhiều tiền đề khác được hội tụ đã làm sống dậy những truyền thống dân tộc Đặc biệt, trải qua quá trình vận động cách mạng trong thực tiễn, tư duy chính trị về một nhà nước kiểu mới phù hợp với đặc điểm dân tộc Việt Nam đã hình thành trong đường lối lãnh đạo của Đảng ta dưới ánh sáng của tư tưởng Hồ Chí Minh biến chúng thành sức mạnh vô địch để làm nên một cuộc cách mạng long trời lở đất đầu tiên trong khu vực Đông Nam Á mà sản phẩm của nó là sự ra đời của Nhà nước ViệtNam Dân chủ Cộng hòa

Ngày đăng: 29/04/2017, 19:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. PGS.TS. Lưu Văn An (2012), Thể chế chính trị Việt Nam, lịch sử hình thành và phát triển, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: chế chính trị Việt Nam, lịch sử hình thành và phát triển
Tác giả: PGS.TS. Lưu Văn An
Nhà XB: Nxb Chính trị - Hành chính
Năm: 2012
2. Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương (1975), Những sự kiện lịch sử Đảng, tập 1 (1920 - 1945), Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những sự kiện lịch sử Đảng
Tác giả: Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1975
3. Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương (1976), Những sự kiện lịch sử Đảng, tập 2 (1945 - 1954), Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những sự kiện lịch sử Đảng
Tác giả: Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1976
4. Bản đề án chính quyền, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I, Bộ Nội vụ, Hồ sơ 645 H.066 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản đề án chính quyền
7. Bảo tàng Hồ Chí Minh(2008), Hồ Chí Minh Tiểu sử, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh Tiểu sử
Tác giả: Bảo tàng Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2008
8. Bộ Ngoại giao (1976), Đấu tranh ngoại giao trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, Tập 1, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đấu tranh ngoại giao trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
Tác giả: Bộ Ngoại giao
Năm: 1976
10. (1995), Cách mạng Tháng Tám - một số vấn đề lịch sử, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách mạng Tháng Tám - một số vấn đề lịch sử
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1995
11. (1955), Chặt Xiềng, Nxb Sự thật Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chặt Xiềng
Nhà XB: Nxb Sự thật Việt Nam
Năm: 1955
12. Trường Chinh (1954), Cách mạng Tháng Tám Việt Nam, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách mạng Tháng Tám Việt Nam
Tác giả: Trường Chinh
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1954
13. Trường Chinh (1975), Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam
Tác giả: Trường Chinh
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1975
14. Doãn Chính, Phạm Đào Thịnh (2007), Quá trình chuyển biến tư tưởng chính trị Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình chuyển biến tư tưởng chính trị Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX
Tác giả: Doãn Chính, Phạm Đào Thịnh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2007
15. Chúng ta đã xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân như thế nào?, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I, Bộ Nội vụ - Hồ sơ 645 H.066 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chúng ta đã xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân như thế nào
16. Nguyễn Trọng Cổn, Một số tư liệu về Quốc tế cộng sản và Đông Dương. Bản đánh máy lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh, ký hiệu H26C2/05 Sách, tạp chí
Tiêu đề: số tư liệu về Quốc tế cộng sản và Đông Dương
17. Philippe Devillers (1993), Pari - Sài Gòn - Hà Nội, Nxb thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pari - Sài Gòn - Hà Nội
Tác giả: Philippe Devillers
Nhà XB: Nxb thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1993
18. Lê Duẩn (1970), Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập, tự do, vì chủ nghĩa xã hội, tiến lên giành những thắng lợi mới, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập, tự do, vì chủ nghĩa xã hội, tiến lên giành những thắng lợi mới
Tác giả: Lê Duẩn
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1970
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng Toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2005
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 2, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng Toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2005
22. Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 6, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng Toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
23. Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 7, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng Toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2000

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w