Cho đến nay, có rất nhiều các công trình nghiên cứu đề đề tài kinh tế trên phạm vi cả nước cũng như các địa phương ở những góc độ khác nhau như: Các các cuốn sách: Chuyển dịch cơ cấu kin
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-* -
NGUYỄN VĂN HOAN
Đảng bộ huyện Thường Tín (tỉnh Hà Tây) lãnh đạo phát triển kinh tế từ năm
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2 3 Mục đích, nhiệm vụ đề tài 4 4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 5 5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 5 6 Đóng góp của đề tài 6 7 Kết cấu của đề tài 6
Chương 1: ĐẢNG BỘ HUYỆN THƯỜNG TÍN LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ GIAI ĐOẠN 1996 - 2000 7
1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, xã hội và tình hình kinh tế của huyện Thường Tín 7
1.1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, xã hội 7
1.1.2 Tình hình kinh tế huyện Thường Tín trước năm 1996 15 Sản xuất nông nghiệp 15
1.2 Chủ trương và quá trình chỉ đạo phát triển kinh tế của Đảng bộ huyện Thường Tín trong giai đoạn 1996 - 2000 19
1.2.1 Chủ trương phát triển kinh tế của Đảng bộ 19
1.2.2 Qúa trình chỉ đạo phát triển kinh tế của Đảng bộ 23
Tiểu kết chương 1 40
Chương 2: ĐẢNG BỘ HUYỆN THƯỜNG TÍN LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ TỪ NĂM 2001 ĐẾN THÁNG 7 - 2008 42
2.1 Chủ trương phát triển kinh tế của Đảng bộ huyện Thường Tín 42
2.1.1 Chủ trương của Đảng và Đảng bộ tỉnh Hà Tây 42
2.1.2 Chủ trương của Đảng bộ huyện Thường Tín 46
2.2 Quá trình chỉ đạo thực hiện và một số kết quả 48
2.2.1 Chỉ đạo phát triển công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp 48 2.2.2 Chỉ đạo phát triển nông nghiệp 56
2.2.3 Chỉ đạo phát triển thương mại, dịch vụ 68
Tiểu kết chương 2 72
Chương 3: NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM 73
3.1 Nhận xét 73
3.1.1 Về ưu điểm 73
3.1.2.Về hạn chế 79
3.2 Một số kinh nghiệm 82
KẾT LUẬN 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã không ngừng hoàn thiện đường lối đổi mới mà trung tâm là đổi mới kinh tế Điều này phù hợp với quy luật chung của sự phát triển trên thế giới, đồng thời đáp ứng được yêu cầu khách quan của nền kinh tế - xã hội nước ta Trên cơ sở những điều kiện thuận lợi về kinh tế - xã hội, đặc biệt là ánh sáng của công cuộc đổi mới, quá trình CNH, HĐH của Việt Nam nói chung và huyện Thường Tín nói riêng đã đạt được những thành tựu hết sức to lớn, tạo nền tảng, tiền đề cho sự phát triển ở những giai đoạn sau
Hà Tây là một tỉnh mang nhiều nét đặc trưng của nền kinh tế Việt Nam Tỉnh chủ yếu phát triển sản xuất nông nghiệp và hiện nay đang từng bước thay đổi cơ cấu kinh tế Quá trình CNH, HĐH của tỉnh diễn ra nhanh chóng, tác động rất lớn đến đời sống nhân dân, đòi hỏi sự quan tâm và quản lý chặt chẽ của Đảng và Nhà nước
Thường Tín là một huyện lớn và lâu đời của tỉnh Hà Tây, hòa vào xu thế phát triển sôi động của toàn tỉnh, Thường Tín đang trở mình vực dậy phát triển nền kinh tế tiềm năng phù hợp với tiến trình CNH, HĐH của đất nước Với vị trí chiến lược đặc biệt và đang trên đà đô thị hoá diễn ra nhanh chóng, kinh tế huyện Thường Tín đã được đầu tư, nghiên cứu để định hướng đúng đắn cho sự phát triển
Là một địa phương đi lên từ một nền nông nghiệp lạc hậu, quá trình CNH, HĐH ở Thường Tín gặp phải rất nhiều khó khăn và không tránh khỏi những hạn chế Nghiên cứu về sự phát triển kinh tế - xã hội huyện Thường Tínthời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH có ý nghĩa vô cùng to lớn Đây là một trong những cơ sở để chúng ta góp phần làm sáng tỏ đường lối, chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Đảng, đồng thời thấy được một cách cụ thể về
sự vận dụng sáng tạo của Đảng bộ huyện Thường Tín trong quá trình lãnh đạo kinh tế huyện thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH Trên cơ sở đó sẽ
Trang 7có cái nhìn khái quát, tổng thể về kinh tế -
xã hội huyện Thường Tín, từ đó đề
xuất những kiến nghị, giải pháp nhằm thúc đẩy những mặt tích cực, hạn chế những mặt tiêu cực để xây dựng địa phương ngày càng phát triển hơn
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài: "Đảng bộ huyện Thường Tín (tỉnh Hà Tây) lãnh đạo phát triển kinh tế từ năm 1996 đến
năm 2008" làm luận văn thạc sĩ Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
2 Lịch sử vấn đề
Kinh tế là ngành có vị trí quan trong trong tiến trình phát triển của xã hội loài người, đặc biệt là trong quá trình CNH, HĐH của nước ta trong giai đoạn hiện nay lại càng có vai trò quan trọng Vì vậy, Đảng ta đã đề ra những chủ trương, đường lối về phát triển kinh tế Đây là vấn đề có tính chất chiến lược, được các cấp các ngành, các nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu Cho đến nay, có rất nhiều các công trình nghiên cứu đề đề tài kinh tế trên phạm vi
cả nước cũng như các địa phương ở những góc độ khác nhau như:
Các các cuốn sách: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa nền kinh tế quốc dân, tác giả Đỗ Đình Giao, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994; Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong điều kiện hội nhập với khu vực, của tác giả
Lê Du Phong, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999; Việt Nam trên chặng đường đổi mới và phát triển kinh tế, Nguyễn Minh Tú, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002; Chuyển dịch cơ cấu kinh tế công - nông nghiệp ở đồng bằng sông Hồng, thực trạng và triển vọng, của Đặng Văn Thắng, Phạm Ngọc Dũng, Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội, 2003; Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam đầu thế kỷ XXI, của Nguyễn Trần Quế (chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004; Sở hữu kinh tế tập thể trong nền kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa ở Việt Nam, Chử Văn Lâm, Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội, 2006; Một số vấn đề phát triển kinh tế của Việt Nam hiện nay, tác giả Đỗ Hoài Nam (chủ biên), Nxb Thế giới, 2005; Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam, của Bùi Tất
Thắng (chủ biên), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2006 Các tác phẩm đề cập đến những khía cạnh khác nhau của
Trang 8kinh tế nền kinh tế Việt Nam như về: chuyển dịch cơ cấu kinh tế Đã chỉ ra
được sự phát triển, chuyển dịch của cơ cấu kinh tế Việt Nam trên con đường CNH,HĐH
Một số khóa luận cử nhân, luận văn Thạc sĩ, luận án Tiến sĩ như: Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn từ 1991 - 2002, Lê Quang Phi, Luận án tiến sĩ Lịch sử, Học viện Chính trị quân sự, Hà Nội, 2006; Đảng bộ tỉnh Bạc Liêu lãnh đạo chuyển dịch
cơ cấu kinh tế từ năm 1997 - 2006; Đào Thị Bích Hồng, Luận án tiến sĩ Lịch sử, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Hà Nội, 2011; Đảng bộ huyện Sóc Sơn lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế thời kỳ 1986 - 2005, Lê Tiến Dũng,
Luận văn thạc sĩ Lịch sử, Đại học Khoa học Xã hội và nhân văn, Hà Nội, 2007;
Đảng bộ huyện Phong Châu (Vĩnh Phú) lãnh đạo phát
triển kinh tế trong giai đoạn từ năm 1977 - 1998; Nguyễn Hoàng Ánh, Luận văn thạc sĩ Lịch sử, Đại học Khoa học Xã hội và nhân văn, Hà Nội, 2007; Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa giai đoạn 1997 - 2003 của Đào Thị Vân, Trung tâm Đào tạo, Bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004; "Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo thực hiện phát triển giai đoạn 2001 - 2010 của Nguyễn
Thị Hải, Khóa luận tốt nghiệp đại học, Đại học Khoa học Xã hội và nhân văn, Hà
Nội, 2011; Đảng bộ huyện Thường Tín (Hà Tây) lãnh đạo khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống từ năm 1991 đến năm 2008 của Phạm Thị Kiều Chinh,
Luận văn Thạc sĩ Lịch sử Đảng, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Hà Nội,2012; "Đảng bộ huyện Thường Tín (Hà Tây cũ) lãnh đạo phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp (2001 - 8/2008), khóa luận tốt nghiệp cử nhân
chuyên ngành Lịch sử Đảng; "Thường Tín: trăn trở giữ nghề truyền thống" của
Bảo Ngọc đăng trên trang thông tin điện tử của Bộ Công thương,
http//www.aip.gov.vn, 6/11/2009
Các công trình này đề cập đến các quan điểm, chủ trương, đường lối lãnh đạo phát triển kinh tế của Đảng, các Đảng bộ ở những địa phương khác
Trang 9nhau, đi sâu vào nghiên cứu quá trình lãnhđạo sự nghiệp CNH, HĐH nền kinh
tế trên phạm vi cả nước hoặc ở những địa phương khác nhau, nhưng đều có đặc điểm là đã nêu bật được đường lối đúng đắn của Đảng trong phát triển kinh tế
Các công trình nghiên cứu về tình hình phát triển của huyện Thường Tínnói chung và kinh tế huyện Thường Tín có rất ít các công trình nghiên cứu mộtcách chi tiết, cụ thể về tình hình kinh tế - xã hội của huyện thời kỳ mới cũng nhưđánh giá về vai trò, vị trí của Đảng bộ huyện Thường Tín trong quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế địa phương
Nhìn chung, các công trình này chủ yếu đề cập, nghiên cứu về thực trạng tổ chức HTX, kinh nghiệm tổ chức và những giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển các hình thức hợp tác của hộ nông dân Nghiên cứu cơ chế quản lý nông nghiệp, đầu tư cơ sở vật chất tạo điều kiện thuận lợi cho nông nghiệp, nông thôn nước ta phát triển Nghiên cứu con đường CNH, HĐH nông nghiệp,nông thôn từ đó đề ra những phương hướng và giải pháp đối với những vấn đềđặt ra trong quá trình CNH, HĐH; rút ra bài học kinh nghiệm cho sự phát triển của kinh tế nông nghiệp trong giai đoạn tiếp theo Các công trình nghiên cứu trênđây chủ yếu đề cập đến vấn đề khoa học kinh tế mà ít đề cập đến góc độ lịch sử;chưa đề cập đến vai trò và quá trình lãnh đạo của Đảng bộ huyện Thường Tín đối với những thành tựu trong phát triển kinh tế Hiện nay, chưa có đề tài nghiên cứu về Đảng bộ huyện Thường Tín lãnh đạo kinh tế trong những năm 1996 -
Trang 10- Làm sáng tỏ quá trình Đảng bộ huyện Thường Tín (Hà Tây) lãnh đạo phát triển kinh tế từ năm 1996 đến năm 2008
- Nêu lên những tựu đạt được, hạn chế cần khắc phục và rút ra một số bài học kinh nghiệm phục vụ phát triển kinh tế của Huyện trong giai đoạn hiện nay
Nhiệm vụ:
- Nêu lên quá trình Đảng bộ huyện vận dụng và phát triển đường lối phát triển kinh tế của Đảng và của Đảng bộ tỉnh Hà Tây vào thực tiễn huyện Thường Tín; quá trình chỉ đạo phát triển kinh tế của huyện
- Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ huyện Thường Tín về phát triển kinh tế ở huyện Thường Tín từ năm 1996 đến năm 2008
- Đưa ra nhận xét và đúc rút kinh nghiệm
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ huyện Thường Tín về phát triển kinh tế
từ năm 1996 đến năm 2008
Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu trên địa bàn huyện Thường Tín và thời gian từ năm
1996 đến năm 2008
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
Nguồn tư liệu
- Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam lần
thứ VI, VII, VIII, IX, X; Nghị quyết của các Hội nghị Trung ương và các chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng liên quan đến kinh tế
- Các Nghị quyết, Chỉ thị, Thông báo, Thông tri của Tỉnh ủy Hà Tây về phát triển kinh tế
- Các văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Thường Tín, các Nghị quyết, Chỉ thị, Báo cáo tổng kết về tình hình kinh tế của Huyện ủy, UBND và một số ban ngành của huyện Thường Tín
Trang 11- Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp logic để tổng hợp, khái quát và nhận xét đánh giá quá trình đó Ngoài ra còn sử dụng phương pháp thống kê, phân tích, so sánh, thực địa để làm rõ các sự kiện lịch sử
Làm tài liệu nghiên cứu, giảng dạy lịch sử địa phương
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo, đề tài được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Đảng bộ huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây lãnh đạo phát triển kinh tế từ năm 1996 đến năm 2000
Chương 2: Đảng bộ huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây lãnh đạo phát triển kinh tế từ năm 2001 đến tháng 7 - 2008
Chương 3: Nhận xét và những kinh nghiệm chủ yếu
Trang 12Chương 1
ĐẢNG BỘ HUYỆN THƯỜNG TÍN LÃNH ĐẠO
PHÁT TRIỂN KINH TẾ GIAI ĐOẠN 1996 - 2000
1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, xã hội và tình hình kinh tế của
huyện Thường Tín
1.1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, xã hội
1.1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý: Thường Tín là một huyện của tỉnh Hà Tây (cũ), là vùng
đất có từ lâu đời, gắn liền với những di tích, những dấu ấn và truyền thuyết mang đậm chất dân gian Thường Tín nằm trong vùng châu thổ sông Hồng nhưng có sắc thái của một huyện ven đô Điểm phía đông bắc thuộc xã Ninh Sở nằm ở tọa độ 20°55 vĩ độ bắc và 105°544 độ kinh đông Điểm phía tây bắc thuộc
xã Khánh Hà ở tọa độ 20°55 độ vĩ bắc và 105°44 độ kinh đông Điểm phía đôngnam thuộc xã Vạn Điểm nằm ở tọa độ 20 46 độ vĩ bắc và 105 55 độ kinh đông Điểm phía tây nam thuộc xã Minh Cường nằm ở tọa độ 20 45 độ vĩ bắc và 105°53 độ kinh đông
Trên bản đồ hành chính, huyện Thường Tín có đường ranh giới phía bắcgiáp huyện Thanh Trì (Hà Nội), từ thôn Đại Lộ xã Ninh Sả chạy về phía tây qua các xã Duyên Thái, Nhị Khê đến thôn Đan Nhiễm xã Khánh Hà có chiều dài khoảng 1,3km Đường ranh giới phía nam giáp huyện Phú Xuyên, từ thôn Đặng
Xá xã Vạn Điểm chạy về phía tây qua các xã Minh Cương, Văn Tự đến xóm Gộc xã Nghiêm Xuyên có chiều dài khoảng 19,3 km Đường ranh giới phía đông giáp sông Hồng, từ thôn Đại Lộ xã Ninh Sở chạy về phía
nam qua các xã Hồng Vân, Tự Nhiên, Chương Dương, Lê Lợi, Thống Nhất đến thôn Đặng Xá xã Vạn Điểm có chiều dài khoảng 17,2 km; bên kia sông Hồng là tỉnh Hưng Yên Đường ranh giới phía tây giáp huyện Thanh Oai, từ thôn Đan Nhiễm xã Khánh Hà, chạy về phía nam qua các xã Hiền Giang,
Trang 13Tiền Phong, Tân Mỉnh, Dũng Tiến đến xóm Gộc xã Nghiêm Xuyên có chiều dài khoảng 16,3km
Với vị trí địa lý như trên, lại có thuận lợi là nằm trẽn trục đường quốc lộ 1A, có tuyến đường sắt Bắc - Nam chạy qua với ba ga tàu hỏa là Thường Tín, Tía và Đỗ Xá và có một bến xe khách tại trung tâm thị trấn huyện Đồng thời, cách quốc lộ 1A về phía đông khoảng 1km là đường cao tốc Pháp Vân - Cầu Giẽ
có chiều dài 17,2km Trung tâm huyện cách trung tâm Hà Nội 20km về phía Nam, cách trung tâm tỉnh Hà Tây 18km về phía Đông Nam, có tỉnh lộ 427 dài 1l km và tỉnh lộ 429 dài 8km chạy qua địa bàn huyện Thường Tín còn có lợi thế về đường thủy với 16,8km sông Hồng, 18km sông Nhuệ, 5 bến đò ngang là bến đò Ninh Sở, Hồng Vân, Tự Nhiên, Chương Dương, Thống Nhất chạy ngang sông Hồng sang tỉnh Hưng Yên Trong đó bến cảng Hồng
Vân là nơi tập kết hàng hóa đường thủy với năng lực 100 - 120 ngàn tấn/năm Thường Tín lại có đầy đủ và đa dạng các loại hình phương tiện giao thông đáp ứng nhu cầu giao lưu, quan hệ với các thị trường bên ngoài địa bàn huyện và vận chuyển hàng hóa, vật tư, phục vụ cho phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của huyện Đặc biệt, với vị trí được coi là cửa ngõ thủ đô, kề cận với Hà Nội - trung tâm văn hóa, kinh tế, chính trị của cả nước tạo điều kiện cho Thường Tín tiếp thu những thành tựu của khoa học công nghệ, là thị trường tiêu thụ lớn cho Thường Tín và cũng là nơi thu hút một lực lượng lớn lao động trên địa bàn huyện
Về địa hình: Thường Tín nằm giữa sông Hồng ở phía đông và sông
Nhuệ ở phía tây, phía bắc có sông Tô Lịch Trải qua hàng vạn năm, sông ngòi đã bồi đắp nên vùng đất Thường Tín màu mỡ, tạo ra địa hình bằng phẳng, cao ráo tương đối đồng đều giữa các xã trong huyện Độ cao trung bình từ 5 - 6m (so với mực nước biển) nghiêng dần từ bắc xuống nam, từ đông sang tây Nơi cao nhất là tại bãi Tự Nhiên 7,5m, tại Ninh Sở là 5,8m Với địa hình bằng phẳng như vậy tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành kinh tế phát triển, đặc biệt là kinh tế nông nghiệp
Trang 14Từ thực tế của địa phương, nhằm đưa Thường Tín trở thành một trọng điểm kinh tế phía nam của tỉnh Hà Tây (cũ), Thường Tín đã quy hoạch địa bàn huyện thành ba vùng trọng điểm: Vùng 1: Phía bắc huyện, tiếp giáp với thủ đô
Hà Nội sẽ là vùng tập trung các cơ sở quốc doanh của Trung ương, tỉnh và các
xí nghiệp liên doanh với nước ngoài và đầu tư phát triển các làng nghề thủ công truyền thống của huyện như điêu khắc, tre đan xuất khẩu, sơn mài Vùng 2: Nằm
ở giữa huyện, là vùng trọng điểm sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất thực phẩm để cung cấp cho nhu cầu của địa phương và tạo ra vùng sản xuất hàng hóa Đi đôi với phát trỉển nông nghiệp, trong vùng 2 còn hình thành một
số cơ sở chế biến nông sản, dịch vụ nông nghiệp và một số cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Vùng 3: Vùng phía nam huyện, là vùng trọng điểm phát triển cây công nghiệp, bên cạnh tiềm năng
phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và các hoạt động thương mại, dịch
vụ khác
Sự phân vùng, quy hoạch sử dụng đất trên địa bàn huyện tạo điều kiện để nông nghiệp cũng như các ngành kinh tế khác khai thác những tiềm năng, lợi thếcủa huyện nhằm phát huy hiệu quả tiềm năng của từng vùng
Về đất đai: Là một huyện nông nghiệp trong vùng đồng bằng sông Hồng, đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, là đối tượng của sản xuất nông nghiệp, là sản phẩm do quá trình bồi bổ của tự nhiên và sự cải tạo của con người và có vai trò quan trọng đối với nhân dân Thường Tín Ngay từ ngày xưa ông cha ta đã dựa vào độ phì nhiêu của đất, mức độ xa gần để phân hạng ruộng đất, dựa vào địa hình cao thấp và trũng để định hình hạng đất và đã khẳng định: "Thường Tín là vùng đất cao ráo bằng phẳng, ruộng thì vào hạng thương thượng, cây lúa thích hợp" [7, tr.15]
Loại đất chủ đạo của Thường Tín là đất phù sa không được bồi (khoảng trên 7000 ha), còn lại số ít là loại phù sa giây phân bổ ở một số xã phía tây bắc của huyện như Khánh Hà, Nhị Khê, Hiền Giang; và đất phù sa được bồi phía ngoài đê sông Hồng ở Ninh Sở, Hồng Vân, Tự Nhiên, Chương Dương,
Trang 15Lê Lợi, Thống Nhất, Vạn Điểm Nhìn chung, đất đai huyện Thường Tín thích
hợp với sản xuất cây lương thực, thực phẩm và cây công nghiệp ngắn ngày, cho phép phát triển một nền nông nghiệp hàng hóa khá toàn diện và bền vững Các loại đất được hình thành còn rất trẻ, thành phần cơ giới là đất sét pha nhẹ hoặc trung bình
Diện tích đất nông nghiệp của huyện vào khoảng hơn 8000 ha, chiếm 60% diện tích đất tự nhiên, trong đó đất trồng cây hàng năm khoảng trên 7000
ha, bằng 90% diện tích đất nông nghiệp và được phân bố như sau:
Số diện tích đất trồng lúa ổn định vụ Xuân khoảng trên 6.300 ha và vụ mùakhoảng 600-700 ha, chủ yếu phân bố ở các xã thuộc vùng giữa huyện
Thành phần cơ giới của đất nặng, địa hình trũng và thấp phù hợp với cây lúa
Ở các xã ven sồng Hồng có địa hình cao, thành phần cơ giới của đất nhẹ và pha cát, thích hợp với các loại cây rau màu và cây công nghiệp ngắn ngày, được phân bố ở các xã Hà Hồi, Hồng Vân, Minh Cường, Ninh Sở, Tự Nhiên, Thư Phú, Thống Nhất và Vân Tảo với diện tích khoảng 460 ha Riêng xã
Tự Nhiên nằm ở phía ngoài đê sông Hồng, có diện tích bãi bồi phù sa hàng năm khoảng 150 ha, hoàn toàn thích hợp với các loại rau màu và cây công nghiệp ngắn ngày
Về khí hậu: Thường Tín nằm trong vùng đồng bằng Bắc Bộ nên mang
những nét đặc trưng của khí hậu vùng này: khí hậu nhiệt đới gió mùa, nắng, mưa nhiều, có mùa đông rét, ít mưa Những diễn biến phức tạp của chế độ gió mùa đã làm khí hậu diễn biến thất thường theo từng mùa, từng năm
Mùa Hạ: những nhiễu động như giông, bão, dải hội tụ thường gây biến
động lớn lượng diễn biến của thời tiết nhất là về nhiệt độ, chế độ mưa, thông thường nhiệt độ lên cao thì mưa nhiều, nhiệt độ xuống thấp thì mưa ít Do không khí nóng của gió mùa Đông Nam thổi đến, nhiệt độ không chênh lệch nhau nhiều trong mùa hạ giữa các tháng và chế độ nhiệt tương đối ít biến động
Từ tháng 5 bắt đầu mùa hạ, số ngày nóng tăng lên rõ rệt làm cho nhiệt độ trung bình tháng lên trên 250C thời gian nóng thường kéò dài gần 3 tháng,
Trang 16tháng nóng nhất là tháng 6 và tháng 7, nhiệt độ nhiều ngày vượt quá 350C,
trung bình tháng trên 32,50C Có những năm nắng nóng kéo dài làm nhiệt độ lên tới 42 - 430C, tuy nhiên cũng có năm nhiệt độ lại xuống thấp Thường mùa nóng kéo dài 5 - 6 tháng, từ tháng 5 đến tháng 10
Mùa Đông: gió mùa Đông Bắc đem không khí lạnh từ tây bắc xuống,
chứa ít hơi nước, khô rét làm hạ nhiệt độ từ tháng 12 đến tháng 1, tháng 2 Nhiệt độ trung bình dưới 180C Tháng 1 là tháng lạnh nhất, trung bình 160C, có những ngàynhiệt độ xuống 100C, có ngày lạnh tới 7 - 80C Tuy nhiên trong mùa Đông cũng xen những ngày nắng ấm, có ngày lên tới 25 - 260C, thậm chí có những ngày mưa rào kèm theo sấm chớp với lượng mưa khoảng 20 - 30mm/ngày Do ThườngTín nằm ven sông Hồng và gần biển Đông nên có hướng gió đông - nam trội hơn, mang nhiều hơi nước nên trong mùa đông có nhiều ngày mưa
phùn, mưa xuân kéo dài làm cho độ ẩm không khí luồn trên 80%
Số giờ có nắng ở Thường Tín vào mùa Đông khoảng 150 - 160
giờ/tháng, vào mùa hè số giờ nắng khoảng 200 giờ/tháng Tổng số giờ nắng trong năm khoảng 1700 giờ, tổng lượng tích ôn trong năm trên 8500C
Với điều kiện khí hậu như vậy tạo điều kiện để phát triển một nền nông nghiệp đa dạng với nhiều loại cây trồng, vật nuôi cho năng suất cao Thường Tín
có thể trồng 3 vụ trong năm và vụ Đông - Xuân vẫn là vụ chính Tuy nhiên, sảnxuất nông nghiệp và đời sống vẫn chịu ảnh hưởng nhiều từ điều kiện khí hậu
Về sông ngòi, thủy văn: Hàng năm Thường Tín có lượng mưa khá lớn,
trung bình từ 1600 - 1700mm Tuy nhiên lượng mưa này phân bố không đều, tậptrung chủ yếu vào mùa hè, từ tháng 5 đến tháng 10 với lượng mưa chiếm
khoảng 75% lượng mưa cả năm Đặc điểm này gây ra hạn chế cho phát triển nông nghiệp vì dễ gây ra ngập úng
Nhìn chung, nguồn nước của Thường Tín chủ yếu được cung cấp bởi hệ thống các con sông trong huyện như sông Hồng, sông Nhuệ, sông Tô Lịch
Trang 17Sông Hồng nằm về phía Đông huyện Thường Tín, chảy qua các xã Ninh Sở, Hồng Vân, Tự Nhiên, Chương Dương, Lê Lợi, Thống Nhất đến thôn Đặng Xá xã Vạn Điểm với chiều dài khoảng hơn 17km Dọc sông Hồng có đê baobọc, vừa có tác dụng ngăn lũ vào mùa mưa vừa tạo ra con đường giao thông thuận tiện cho các xã ven đê Sông Hồng là nguồn cung cấp nước tưới chủ yếu cho các xã như Chương Dương, Tô Hiệu, Thống Nhất, Tự Nhiên, Hồng Vân
Sông Nhuệ nằm về phía Tây Thường Tín, bắt đầu từ thôn Đan Nhiễm xã Khánh Hà chảy qua các xã Hiền Giang, Tiền Phong, Tân Minh, Nguyễn Trãi, Dũng Tiến đến xóm Gộc xã Nghiêm Xuyên rồi chảy xuống huyện Phú Xuyên với chiều dài khoảng 16km Sông Nhuệ cung cấp nước tưới và tiêu úng cho các
xã miền tây Thường Tín, hai bên bờ sông có hệ thống đê bao dài
và hàng năm được tu bổ để bảo vệ về mùa lũ
Sông Tô Lịch nằm về phía Bắc huyện Thường Tín, chảy từ thôn Ninh Xá,
xã Ninh Sở qua các xã Duyên Thái, Nhị Khê, Khánh Hà, Hòa Bình và đổ vào sông Nhuệ, có chiều dài khoảng 9km Sông này mùa Đông, mùa Xuân nông cạn, mùa Hè, mùa Thu nước lớn Tuy nhiên, hiện nay sông Tô Lịch qua địa bàn huyện Thường Tín đã cạn và hẹp dần
Ngoài nguồn nước mặt chủ yếu từ các sông, Thường Tín còn có nguồn nước ngầm khá dồi dào, có chất lượng tương đối tốt cung cấp nguồn nước sản xuất
và sinh hoạt cho dân cư trong huyện
Với những điều kiện tự nhiên như vậy, Thường Tín có nhiều thuận lợi trong phát triển kinh tế, là cầu nối trong giao lưu hàng hóa từ các tỉnh phía Nam đến với Hà Nội cũng như các tỉnh phía Bắc Do mang những đặc điểm thổnhưỡng của vùng đất phù sa màu mỡ, nguồn nước tưới dồi dào, khí hậu
ôn hòa, giao thông thuận tiện nên rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp
1.1.1.2 Điều kiện xã hội
Diện tích tự nhiên của Thường Tín là 12.770 ha, trong đó diện tích đât nông nghiệp vào khoảng hơn 8.000 ha Theo số liệu phòng thống kê huyện
12
Trang 18Thường Tín, dân số trung bình toàn huyệnnăm 2001 là 196.610 người, trong
đó dân số trong độ tuổi lao động là 95.664 người, tỷ lệ dân số sống ở nông thôn chiếm tới 81,1%, mật độ dân số của huyện là 1460 người/km2, bình quân đất nông nghiệp đạt 0,04ha/người Thường Tín có nguồn nhân lực dồi dào, lại chủ yếu là lao động trong nông nghiệp Đây là điều kiện xã hội mang tính quyết định để phát triển kinh tế nông nghiệp Chất lượng nguồn nhân lực cũng ngày càng được nâng cao, có kỹ năng, có văn hóa, nhanh nhạy tiếp thu những tiến bộ khoa học kỹ thuật áp dụng vào sản xuất và đời sống Vì thế, năng suất lao độngngày càng được nâng cao, đời sống của nhân dân cũng ngày càng được cải thiện một cách đáng kể
Trải qua các thời kỳ lịch sử Thường Tín ít nhiều có thay đổi nhiều về địa giới, song về cơ bản từ năm 1978, các xã của Thường Tín vẫn được giữ
nguyên Hiện nay, Thường Tín có 28 xã, 1 thị trấn với 168 thôn, xóm, cụm dân
cư, tổ dân phố: Thị trấn Thường Tín; các xã: Chương Dương, Liên Phương, Hiền Giang, Hà Hồi, Văn Phú, Quất Động, Hồng Vân, Thư Phú, Nguyễn Trãi,
Lê Lợi, Nghiêm Xuyên, Dũng Tiến, Vạn Điểm, Nhị Khê, Vân Tảo, Thắng Lợi, Ninh Sở, Duyên Thái, Thống Nhất, Văn Tự, Tiền Phong, Tô Hiệu, Tân Minh, Khánh Hà, Minh Cường, Hòa Bình, Tự Nhiên, Văn Bình
Huyện Thường Tín có 385 điểm di tích cổ và một di tích cách mạng Trong đó, có 73 di tích đã được xếp hạng, một số điểm được đề nghị xếp hạng đặc biệt như: Chùa Đậu thuộc xã Nguyễn Trãi, nơi lưu giữ di hài theo phương thức
"Tượng táng" như cách gọi của PGS, TS Nguyễn Lân Cường; chùa Mui xã Tô Hiệu, một cụm kiến trúc còn khá nguyên bản cuối thế kỷ 14; đền thờ Nguyễn Trãi ở làng Nhị Khê Về di sản văn hóa phi vật thể, huyện còn lưu giữ nhiều tục ngữ, dân ca địa phương, các sinh hoạt lễ hội các tích trò cổ: kéo lửa
nấu cơm thi Từ Vân xã Lê Lợi, các cuộc thi võ cổ truyền, hát trống quân
Huyện cũng là vùng đất khoa bảng Trong danh sách ghi tên những người đỗ Tiến sĩ qua các triều đại phong kiến, Thường Tín là huyện đứng ở tốp đầu về con số đăng khoa (63 người) Nhiều dòng họ, nhiều gia đình nối
Trang 19đời đỗ đạt, làng Ba Lăng xã Dũng Tiến được coi là đất học với nhiều người
học rộng tài cao Làng Nghiêm Xá xã Nghiêm Xuyên được dân gian tôn vinh là
"Làng Tiến sỹ" Họ Từ ở làng Khê Hồi xã Hà Hồi được gọi là "Họ Tiến sỹ" vì có đông người đỗ khoa bảng Tiêu biểu là gia đình Nguyễn Phi Khanh làng Nhị Khê,
cả cha và con đều đỗ Thái học sinh (tương đương Tiến sỹ) Sau này Nguyễn Trãivới tài văn võ song toàn đã có công lớn trong việc giúp Lê Lợi đánh thắng nhà Minh
Bên cạnh đó Thường Tín còn được coi là mảnh đất trăm nghề với nhiều nghề thủ công nổi tiếng như mây tre đan Ninh Sở, sơn mài Hạ Thái, thêu Quất Động, tiện Nhị Khê Toàn huyện có 126 làng thì cả 126 làng đều có nghề phụ và có
40 làng đã được công nhận là làng nghề, thu hút tới hơn 40 nghìn lao động, chiếm gần 30% tổng số lao động của huyện Thu nhập từ các ngành
thủ công truyền thống đã giúp đời sống của nhân dân trong huyện được cải thiệnhơn Tuy nhiên, nông nghiệp mà chủ yếu là trồng trọt vẫn đóng vai trò quan trọng trong đời sống của nhân dân Dù có làm nghề thủ công, song nhân dân vẫn tham gia sản xuất nông nghiệp mà chủ yếu là trồng lúa và hoa màu
Đời sống kinh tế phát triển nên nhu cầu trao đổi hàng hóa giữa các vùng trong huyện, giao lưu với các huyện khác và tỉnh khác cũng ngày càng gia tăng, Các chợ ở nông thôn xuất hiện ngày càng nhiều, hầu như ở xã nào cũng có chợ họp hàng ngày với nhiều mặt hàng phục vụ cho nhu cầu của đời sống và sản xuất Đáp ứng nhu cầu trao đổi buôn bán của nhân dân, huyện đã tiến hành quy hoạch xây dựng 6 chợ nông thôn, tiêu biểu như: chợ Tía, chợ Vồi, chợ Bằng, chợ Đỗ Xá Hệ thống các chợ đi vào hoạt động đáp ứng được nhu cầu trao đổi hàng hóa của nhân dân trong huyện và buôn bán với các thị trường bên ngoài, góp phần tăng thu nhập, nâng cao mức sống của nhân dân
Không những vậy, Thường Tín còn là mảnh đất giàu truyền thống cách mạng, người Thường Tín anh hùng, giàu lòng yêu nước Truyền thống đó bắt nguồn từ trong quá trình đấu tranh với thiên nhiên tạo dựng quê hương, đấu
Trang 20tranh chống kẻ thù xâm lược, áp bức để bảo vệ quyền sống, bảo vệ nền độc
sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Thường Tín, chắc chắn trong những năm tháng cùng cả nước thực hiện đường lối đổi mới, CNH, HĐH đất nước, nhân dân Thường Tín sẽ phát huy những truyền thống tự hào để xây dựng quê hương giàu mạnh, đưa Thường Tín phát triển xứng danh với mảnh đất "danh hương"
1.1.2 Tình hình kinh tế huyện Thường Tín trước năm 1996
Sản xuất nông nghiệp
Ngày 5/4/1988, bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 10/NQ - TW "Đổi mới quản lí kinh tế trong nông nghiệp" (sau gọi là khoán 10) nhằm giải phóng sức sản xuất, gắn việc sắp xếp tổ chức lại sản xuất với cải tạo xã hội chủ nghĩa,tăng cường cơ sở vật chất kĩ thuật vào nông nghiệp Như vậy, theo tinh thần nghị quyết khoán 10, vai trò tự chủ của người nông dân được khẳng định và được xác lập trên thực tế cả ba phương diện: sở hữu tư liệu sản xuất, quan hệ quản lý và quan hệ phân phối
Thực hiện nghị quyết 10 bộ Chính trị ngày 20/5/1988, Huyện ủy đã ra kế hoạch số 08 về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Huyện lần thứ XVIII đã đề ra định hướng chính trong những năm 1991- 1995:
- Tập trung bồi dưỡng quy hoạch, đào tạo đội ngũ cán bộ vững vàng kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, có phẩm chất, trình độ năng lực thực sự trong lãnh đạo, chỉ đạo
15
Trang 21- Triệt để khai thác những tiềm năng của huyện, mở rộng sản xuất toàn diện, tăng cường việc làm cho người lao động
- Từng bước cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, đặc biệt các gia đình có khó khăn, phấn đấu nâng mức sống toàn dân trong huyện tăng 1,4 lần so với năm 1990
Để đạt được định hướng trên, nghị quyết cũng nêu lên mục tiêu phải phấn đấu trong nông nghiệp: Tổng sản lượng lương thực quy thóc đạt 78.000 tấn, năng suất 9,5 tấn/ha Đưa hệ số sử đụng đất lên 2,7 lần Mức thu nhập bình quân đầu người đạt 540.000 đồng/năm, bình quân lương thực đạt
1995 Tỷ trọng giá trị thương mại và dịch vụ từ 22,54% năm tăng lên 26,91% năm
1995 Đời sống của đại bộ phận các tầng lớp nhân dân được cải thiện hơn trước
Như vậy, cho đến năm 1995, kinh tế nông nghiệp của Thường Tín đã đạtđược những kết quả quan trọng: Nông nghiệp phát triển toàn diện, sản lượng lương thực không ngừng tăng lên, đời sống nhân dân được cải thiện cả về vật chất
và tinh thần Tuy nhiên, kinh tế nông nghiệp vẫn còn tồn tại những hạn chế: sản xuất chủ yếu ở tình trạng tự cung tự cấp, chưa tập trung đúng mức cho mặt trậnhàng đầu là nông nghiệp, đặc biệt chưa phát triển mạnh về lương thực - thực phẩm, chưa kết hợp chặt chẽ giữa trồng trọt và chăn nuôi với nuôi trồng thủy sản, chưa gắn công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp - dịch vụ
Với nông nghiệp, chưa đầu tư thỏa đáng cho việc ứng dụng khoa học vào sản xuất Trình độ khoa học và trình độ sản xuất nông nghiệp còn thấp, chưa đảm bảo tưới tiêu chủ động và hợp lý cho cây trồng, việc nạo vét kênh
16
Trang 22mương bờ vùng bờ thửa chưa được quan tâm đúng mức Ở HTX sản xuất nông
nghiệp, bộ máy quản lý HTX tuy đã được tinh giảm nhưng vẫn còn cồng kềnh, chậm đổi mới, hoạt động kém hiệu quả Việc tổ chức chỉ đạo còn yếu, công tác quản
lý sử dụng vốn chưa thực sự chấp hành đúng chế độ nguyên tắc Việc phân chia lại ruộng đất, dồn điền đổi thửa còn manh mún, đạt hiệu quả chưa cao Cơ cấu kinh tế còn chậm chuyển đổi, cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi chuyển đổi chưa mạnh, sản xuất vụ đông còn kém Trong khi đó, thu nhập của người dân lại chủ yếu từ nông nghiệp nên đời sống còn gặp nhiều khó khăn
Đứng trước nhiều khó khăn đó, Ủy ban nhân dân huyện Thường Tín đã xác định chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng CNH, HĐH là một kế hoạch lâu dài và nhiệm vụ trước mắt là đưa người dân thoát khỏi đói nghèo, tăngsản lượng lương thực và bình quân lương thực đầu người Từ đó,
Ủy ban nhân dân huyện đã đưa ra những biện pháp, kế hoạch để đưa kinh tế nông nghiệp phát triển nhanh, mạnh và bền vững
Trước hết cần hoàn chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nông nghiệptheo vùng, theo cơ cấu cây trồng, vật nuôi Phải kết hợp chặt chẽ trồng trọt, chăn nuôi với nuôi trồng thủy sản Tăng cường công tác tuyên truyền vận động nông dân
áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật để sản xuất có hiệu quả Chính quyền cơ sở tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo và đề ra các biện pháp kịp thời giải quyết những vướng mắc của nhân dân để chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi và phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
Với những biện pháp của Đảng bộ huyện Thường Tín, sự cố gắng nỗ lực của nhân dân trong việc chuyển đổi, khắc phục khó khăn, vận dụng những bài họcthực tiễn, phát huy truyền thống cần cù, sáng tạo, đoàn kết và những tiềm năng
to lớn của mình, Đảng bộ và nhân dân Thường Tín phấn đấu sẽ đạt được những kếtquả cao hơn trong sự nhiệp CNH, HĐH đất nước
Sản xuất công nghiệp
Huyện tập trung chỉ đạo công tác quy hoạch, phối hợp với các ngành của tỉnh, triển khai xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch tổng thể về kinh
Trang 23tế-xã hội huyện, các khu, cụm công nghiệp Công tác quy hoạch được điều
chỉnh cho phù hợp với thực tế của huyện Huyện Thường Tín đã phát huy nội lực, tranh thủ sự ủng hộ cảu Trung ương, của tỉnh Vĩnh Phúc, ưu tiên đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng quan trọng phục vụ phát triển kinh tế-xã hội Xác định đầu tư hạ tầng cho giao thông là trọng tâm ưu tiên
Thương mại-dịch vụ
Hoạt động của các ngành dịch vụ như: điện, nước, thông tin liên lạc, xăng dầu, giao thông vận tải, thương nghiệp phát triển mạnh đáp ứng cơ bản nhu cầu phát triển sản xuất và đời sống nhân dân Nhiều dự án đầu tư được triển khai như dự án cải tạo hệ thống cấp nước, xây dựng trạm điện Hệ thống dịch vụ nông nghiệp như các trạm dịch vụ giống, cây, con, thuốc bảo vệ thực vật, thú y, phân bón được mở rộng đáp ứng yêu cầu sản xuất nông nghiệp Hoạt
động tài chính có nhiều cố gắng trong việc quản lý thu, chi ngân sách Huyện có nhiều biện pháp tích cực để nuôi dưỡng và khai thác các nguồn thu
Nhìn chung trước năm 1996 kinh tế của huyện Thường Tín phát triển theo công cuộc đổi mới của đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, song kinh
tế phát triển còn chưa đồng đều giữa các vùng, cơ cấu kinh tế còn chưa hợp lý
Cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa còn thiếu và chưa đồng bộ
Thường tín là một huyện nông nghiệp, yêu cầu đặt ra là phát triển nhanhcông nghiệp, đô thị, do đó phải chuyển mạnh cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp, chuyển mạnh cơ cấu lao động trong nông nghiệp nông thôn T ỷ l ệ l ao đ ộ n g c ô
n g n g h i ệ p , d ị c h v ụ c ò n t h ấ p , s ứ c é p v ề t h iế u l a o đ ộ n g v i ệc l à m t i ế p t ụ c t ă n
g
T ố c đ ộ t ăn g t r ư ở n g ch u n g củ a n g à n h n ô n g n g h i ệ p l à t h ấ p , s ự chuyển biến cơ cấu giữa các ngành trong ngông nghiệp còn chuyển biến chậm;sản xuất lương thực vẫn mang tính tự cung, tự cấp; sự chuyển đổi c ơ c ấ u c â y t
r ồ n g c h ư a mạ n h , n ă n g s u ấ t c â y t r ồ n g c ò n b ấ p b ê n h C ô n g nghiệp vẫn chưa khai thác hết mọi tiềm năng để phát triển, sản phẩm công
Trang 24nghiệp tuy đa dạng nhưng quy mô nhỏ
và chất lượng chưa cao; cơ sở hạ
tầng phục vụ cho công nghiệp còn yếu kém; tiến độ đầu tư cơ bản còn chậm Ngành dịch vụ còn chiếm tỉ trọng thấp trong cơ cấu kinh tế, chưa thể trở thànhngành kinh tế mũi nhọn của huyện, chưa tương xứng với t i ề m n ă n g v à k ỳ v ọ n
g p h á t t r i ển c ủ a n g àn h
1.2 Chủ trương và quá trình chỉ đạo phát triển kinh tế của Đảng
bộ huyện Thường Tín trong giai đoạn 1996 - 2000
1.2.1 Chủ trương phát triển kinh tế của Đảng bộ
Đại hội Đảng Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (7/1996) đã đề ra mục tiêu đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp phát triển theo
hướng hiện đại Muốn đạt được mục tiêu đó, chúng ta phải ra sức nỗ lực: đưa lực lượng sản xuất đạt trình độ tương đối hiện đại, phần lớn lao động thủ công được thay thế bằng lao động sử dụng máy móc, điện khí hoá cơ bản được thực hiện trong cả nước, năng suất và hiệu quả nhiều hơn so với hiện
nay Quan hệ sản xuất có chế độ sở hữu, cơ chế quản lý và phân phối gắn kết với nhau, phát huy các nguồn lực, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội Nhân dân có cuộc sống vật chất, văn hoá ngày càng cao, có lối sống văn minh, hiện đại
Nhằm đẩy mạnh hơn nữa sự nghiệp đổi mới, Đảng đã nêu rõ quan điểm chỉđạo công nghiệp hoá, hiện đại hoá với nội dung chủ yếu là: giữ vững độc lập,
tự chủ, đi đôi với mở rộng quan hệ quốc tế, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đốingoại Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là sự nghiệp của toàn dân, của mọi thành phần kinh tế, trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo Lấy việc phát
huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững, khoa học công nghệ là động lực, hiệu quả kinh tế làm chuẩn cơ bản để xác định phương án phát triển, kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh
Đại hội VIII (9/1996) đề ra định hướng phát triển kinh tế: kinh tế nhà nước, kinh tế hợp tác xã (nòng cốt là hợp tác xã), kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân tiếp tục phát
Trang 25triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Nắm vững chính sách đối với các thành phần kinh tế Tiếp tục đổi mới cơ chế
quản lý kinh tế Phát triển khoa học, giáo dục, đào tạo [18, tr 326]
Đại hội có ý nghĩa quyết định đối với vận mệnh dân tộc và tương lai của đất nước trước thềm thế kỷ XXI Đại hội đánh dấu bước ngoặt chuyển đất nước
ta sang thời kỳ mới - thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, công bằng, văn minh
Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hà Tây lần thứ VIII diễn ra vào tháng 4/1996 đã đề ra những chỉ tiêu phấn đấu phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội đến năm 2000, trong đó có giải pháp về phát triển công nghiệp, thủ công
nghiệp Cụ thể là:
- Tập trung lực lượng của các ngành và tranh thủ sự giúp đỡ của cán bộ ngành Trung ương đẩy mạnh khảo sát, quy hoạch, xây dựng phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh, bao gồm cả công nghiệp Trung ương, địa phương, TTCN, dần dần hình thành cơ cấu hợp lý
- Tỉnh cần tập trung đầu tư (hoặc liên doanh với nước ngoài) để xây dựng những cơ sở quan trọng, đồng thời khuyến khích các thành phần kinh tế trong nước phát triển công nghiệp, TTCN không hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động trong tất cả các ngành, các khu vực mà nhà nước không cấm
Nhằm cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội vào thực tiễn, ngày 1/10/1996, Tỉnh
ủy ra Nghị quyết 01-NQ/TU về Tổ chức thực hiện mục tiêu phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng CNH, HĐH đến năm 2000
Dưới sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Hà Tây, Đảng bộ huyện Thường Tín đã bắt tay vào việc lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội địa phương để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhằm khai thác có hiệu quả các tiềm năng
và thế mạnh của mình
Đại hội Đảng bộ huyện khoá XXI, Đảng bộ đã đề ra mục tiêu tổng quát (1996- 2000) là: Phát huy bản chất giai cấp công nhân, tính tiền phong của Đảng, tiếp tục xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh trên cả 3 mặt: chính
Trang 26trị, tư tưởng, tổ chức Tập trung mọi lực lượng, tranh thủ thời cơ, vượt qua thử
thách, phát huy cao độ tiềm năng sẵn có; đưa công cuộc đổi mới công nghiệp hoá, hiện đại hoá phát triển một cách toàn diện và đồng bộ Tăng trưởng kinh tế nhanh, vững chắc và có hiệu quả, đi đôi với việc giải quyết những vấn đề bức xúc về xãhội Tăng cường an ninh quốc phòng, cải thiện mức sống nhân dân; chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí Chăm lo đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, tạo cơ sở vững chắc cho bước phát triển nhanh vào đầu thế kỷ XXI
Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, ngành khoa học công nghệ giữ vị trí vô cùng quan trọng Triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (Khoá VIII), Nghị quyết số 04 - NQ/TU về khoa học - kỹ thuật,
ngày 31/5/1997, Huyện uỷ Thường Tín ban hành Kế hoạch số 07-KH/HU Về phát triển khoa học - công nghệ tới năm 2000
Ngày 30 tháng 12 năm 1998, Huyện ủy Thường Tín đã thông qua Chương
trình số 09-CT/HU Về phát triển kinh tế, tăng trưởng bền vững; từng bước nâng cao đời sống nhân dân, lập thành tích chào mừng Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ
XX Trong đó, Huyện đã đánh giá kết quả phát triển kinh tế - xã hội của huyện trongnhững năm 1995 - 1998 về công nghiệp - TTCN; thương mại - dịch vụ; nông nghiệp; quy hoạch và xây dựng hạ tầng kỹ thuật; nâng cao đời sông nhân dân; bảo
vệ và nâng cao chất lượng môi trường; tài chính - ngân hàng Từ đó, Huyện cũng
đã đưa ra những biện pháp nhằm phát huy những kết quả đã đạt được đồng thời khắc phục những hạn chế còn tồn tại
Thực hiện Nghị quyết của Đảng bộ huyện, Huyện uỷ, UBND đã chỉ đạo các ngành, xã, thị trấn xây dựng hoàn thành mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụkinh tế xã hội hàng năm, đồng thời phát động phong trào thi đua đẩy mạnh sản xuất trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội
Đảng bộ huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây đã dựa trên những điều kiện thực tiễn, đề ra mục tiêu chủ yếu, cụ thể đến năm 2000 về kinh tế:
Trang 27Tốc độ tăng trưởng kinh tế 14%/ năm Trong đó, nông nghiệp tăng 4,5% - 5%; công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tăng 22%; dịch vụ - thương mại tăng 20%
Cơ cấu kinh tế: công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp thương mại, dịch vụ nông nghiệp đạt tỉ lệ: 43% - 26% - 31%
-Thu nhập bình quân đầu người: 580 - 600 USD
Năng suất lúa đạt 130tạ/ ha
Giá trị thu nhập trên 1 ha canh tác đạt: 37 triệu đồng
Bình quân lương thực đầu người hàng năm đạt 450 - 500kg Kim
ngạch xuất khẩu đạt 2,5 đến 3 triệu USD
Hàng năm giải quyết việc làm từ 1800 - 2000 lao động
Để thực hiện các mục tiêu đã đề ra, Đảng bộ Thường Tín đã chủ trương nêu lên các giải pháp chính trong lĩnh vực phát triển kinh tế, đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đó là:
Thứ nhất, phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng sản xuất hàng hoá Tiếp
thu ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật về giống và công nghệ sản xuất
Thực hiện việc dồn ô, đổi thửa ruộng đất canh tác, phát triển cây vụ đông đạt 40%
- 45% diện tích đất canh tác Kết hợp các hình thức chăn nuôi với phát triển mô hình trang trại, tiếp thu các công nghệ, tận dụng phụ phẩm, tạo việc làm, nâng cao giá trị nông sản Chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp, phấn đấu đến năm 2000, cơ cấu lúa - màu - chăn nuôi là: 30% - 35% - 35% Quy hoạch, xây dựng, kế hoạch phát triển thành hai vùng kinh tế: các xã dọc đường 5 và ven huyện lỵ, dành
300 - 350 hécta cho phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, đô thị hoá, 80 - 100 hécta trồng hoa, cây cảnh, dược liệu, rau sạch, trên 40% diện tích câylúa chất lượng cao Khuyến khích nhân dân tự trồng cây ăn quả, nuôi cá theo
mô hình và qui mô phù hợp Các xã ven đường sắt dùng 60% diện tích cấy lúa chất lượng cao, 40% diện tích lúa cao sản, đảm bảo an ninh lương thực cho địa bàn
Trang 28Thứ hai, phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, khôi phục mở
Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn nâng cao hiệu quả sử dụng cơ khí hoá trong sản xuất nông nghiệp, đến 2000 ước
tính đạt 70%, vận chuyển nông sản bằng xe cơ giới đạt 65%, 100% tuốt lúa bằngmáy, hỗ trợ tiếp thu công nghệ hợp lý để phát triển sản xuất tiểu thủ công nghiệp
Thứ ba, phát triển kinh tế dịch vụ Xây dựng thị trường đồng bộ phát triển
lành mạnh Phát triển mở rộng các thành phần và hình thức kinh tế Đổi mới cơ chế quản lý, nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước về kinh tế của chính quyền các cấp Quan tâm đầu tư trực tiếp cho con người để nhân dân trong vùng ở độ tuổi lao động tiếp xúc với guồng máy sản xuất kinh doanh, đặt nền móng cho một xã hộicông nghiệp hiện đại trong tương lai
1.2.2 Qúa trình chỉ đạo phát triển kinh tế của Đảng bộ
1.2.2.1 Chỉ đạo phát triển Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
Thực hiện chủ trương mở cửa nhằm thu hút đầu tư nước ngoài vào các ngành kinh tế, trong 5 năm, trên địa bàn huyện đã xây dựng một số liên doanh với nước ngoài như: Nhà máy bia Hà Tây, công ty bao bì CROW Vinalimex, công
ty thép Misu Thăng Long, công ty cocacola Ngọc Hồi
Cùng với sự mở rộng các liên doanh với nước ngoài, các xí nghiệp công nghiệp trên địa bàn vẫn giữ được nhịp độ phát triển khá, thu nhập ổn định
Trang 29Tiểu thủ công nghiệp và xây dựng phát triển và giữ được tốc độ tăng trưởng bình quân năm là 14%, giá trị sản lượng ước đạt 364.500 triệu đồng vào năm 2000 Trong đó giá trị xuất khẩu ước đạt 68.000 triệu đồng tăng 2 lần so với năm 1995 Sản xuất trong các thành phần kinh tế được phát huy nhất là hộ tư nhân Đến nay toàn huyện có 7 doanh nghiệp sản xuất thủ công nghiệp và 5 doanh nghiệp xây dựng đang hoạt động có hiệu quả, so với năm 1995 tăng 2 doanh nghiệp Hình thức tổ chức và phương thức kinh doanh được đổi mới Nhiều ngành nghề thuyền thống trong các làng nghề được khôi phục phát triển Huyện đã mở các lớp đào tạo nghề mộc cao cấp, điêu khắc và thêu tại các xã Vạn Điểm, Quất Động, Hiền Giang Sản phẩm đa dạng, chất lượng kỹ mỹ thuật được nâng cao Công nghiệp địa phương phát triển đã tác động tích cực thúc đẩycác ngành kinh tế phát triển, từng bước làm thay đổi
bộ mặt nông thôn, phân công lại lao động góp phần tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo và đóng góp vào nguồn thu ngân sách của Nhà nước và địa
phương [25.Tr 3]
Quán triệt tư tưởng chỉ đạo của tỉnh ủy Hà Tây, huyện ủy Thường Tín một lần nữa lại khẳng định: Phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp là
nhiệm vụ trọng tâm, coi kinh tế công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp là ngành
kinh tế chủ lực, mũi nhọn, phát triển kinh tế làng nghề là một chủ trương phù
hợp với đặc thù của huyện
- Mục tiêu tổng quát:
Phát huy lợi thế là huyện của cửa ngõ thủ đô, có nhiều nghề truyền thống tập trung khai thác nguồn lực để phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp là yếu tố quyết định đến tốc độ tăng trưởng kinh tế, chuyển đổi cơ cấu kinh
tế nhằm thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển
Nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu đề ra, Đảng bộ huyện đã đưa ra nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu:
Trang 30* Về quy hoạch, kế hoạch phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp
Rà soát, xây dựng, bổ sung, hoàn chỉnh quy hoạch phát triển kinh tê công nghiệp, quy hoạch các cụm, điểm công nghiệp làng nghề phù hợp với quy hoạch phát triển công nghiệp của tỉnh và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của huyện Gắn với quy hoạch phát triển nông nghiệp, thương mại, dịch vụ, giao thông, quy hoạch các đô thị và an ninh quốc phòng
Trên cơ sở quy hoạch chung cần xây dựng kế hoạch phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trong từng thời kì cụ thể, kế hoạch phát triển các làng nghề, đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển
* Phát triển các khu, cụm, điểm công nghiệp
Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo làm tốt công tác giải phóng mặt bằng các khu, cụm công nghiệp, triển khai xây dựng hạ tầng các cụm công nghiệp để thu hút nhanh các dự án đầu tư
Bổ sung quy hoạch một số cụm công nghiệp như: Duyên Thái, Kiều Thị (Thắng Lợi), Khánh Hà, Hòa Bình
Chuẩn bị mặt bằng thuận lợi để thu hút các dự án lớn của các tổng công ty, doanh nghiệp lớn ở Trung ương và nước ngoài đầu tư vào
*Phát triển các điểm công nghiệp gắn với làng nghề
- Tập trung xây dựng một số điểm công nghiệp làng nghề tại các địa phương làng nghề bị ô nhiễm môi trường nặng» có nhu cầu về mặt bằng mở rộng sản xuất để đưa các doanh nghiệp và các hộ sản xuất ra khỏi dân cư
- Hàng năm ngân sách huyện đầu tư 150 triệu đồng trở lên cho công tác khuyến công để nhân cấy nghề, đào tạo nghề hỗ trạ xúc tiến đầu tư, xúc tiến thương mại nhằm mở rộng các ngành nghề mới
* Đẩy mạnh thu hút đầu tư, cảỉ thiện môi trường đầu tư và phát triển
Trang 31hu hút đầu tư nước ngoài
* Đối mới công nghệ, nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm và
bảo đảm môi trường
- Khuyến khích và tạo điều kiện để doanh nghiệp áp dụng các thành tựu khoa học kĩ thuật, các tiêu chuẩn quốc tế vào sản xuất, đổi mới đây truyền
công nghệ tiên tiếnẵ
- Ưu tiên tiếp nhận các dự án đầu tư có lợi thé cạnh tranh như: Công nghiệp cơ khí, dệt may, chế biến, điện tử khuyến khích các dự án đầu tư ít tác động đến môi trường, các dự án ứng dụng công nghệ sinh học trong chế biến nông sản, thực phẩm, đồ uống và sản xuất nguyên liệu cho công nghiệp chế biến
- Khuyến khích các dự án xử lí môi trường
* Về huy động vốn
- Huy động tốt mọi nguồn vốn nhằm đáp ứng nhu cầu cho phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn huyện, tranh thủ nguồn vốn của tỉnh và Trung ương
- Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp đầu tư Động viên và tạo điều kiện để các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng cho các nhà đầu tư vay vốn
-* Chú trọng phát triển nguồn nhân lực
Thực hiện xã hội hóa và đa dạng hóa các hình thức đào tạo nghề, truyền nghề như: Đào tạo lại các cơ sở dạy nghề tập trung, các trung tâm hướng nghiệp dạy nghề, các doanh nghiệp từ đào tạo và thông qua việc hỗ trợ các trương trình khuyến công để mở các lớp đào tạo nhân cấy nghề, truyền nghề đápứng nhu cầu lao động cho các doanh nghiệp, các làng nghề
* Thực hiện tốt các cơ chế, chính sách khuyến khích, thúc đẩy phát
triển kinh tế công nghiệp:
Thực hiện tốt các cơ chế chính sách khuyến khích đầu tư của tỉnh, đồng thời phối hợp với các sở, ngành của tỉnh để xem xét, đề nghị bổ sung, sửa đổi
Trang 32các cơ chế chính sách, quy định, chế độ khuyến khích đầu tư không còn phù
hợp nhằm tạo môi trường đầu tư hấp dẫn để thu hút đầu tư, hỗ trợ phát triển các cụm, điểm công nghiệp, hỗ trợ phát triển làng nghề
1.2.2.2 Chỉ đạo phát triển nông nghiệp
Năm 1996 là năm đầu tiên Thường Tín bước vào thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XIX Trong năm này, thời tiết diễn biến phức tạp, thiên tai, sâu bệnh xảy ra ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp Trước tình hình đó, Huyện đã chỉ đạo các HTX đổi mới cơ cấu giống lúa, ngành nông nghiệp huyện đã đầu tư trên 200 triệu đồng cho sản xuất nông nghiệp, tạo điều kiện cho các HTX đầu tư giống mới Đặc biệt, tháng 5/1996 huyện đã tổ chức chocác chủ tịch UBND xã và chủ nhiệm HTX đi tham quan, học tập kinh nghiệm sản xuất lúa lai của huyện Xuân Thủy (Nam Hà),
đồng thời tổ chức làm điểm trình diễn thâm canh giống mới cấp ủy và chính quyền các xã tập trung chỉ đạo thực hiện kế hoạch phòng chống lụt bão, phòng trừ sâu bệnh, diệt chuột, hạn chế thấp nhất những thiệt hại do mưa úng, sâu bệnh gây ra Nhờ đó, tổng diện tích gieo trồng năm 1996 đạt 19.234 ha, tăng 2% so với năm 1995 Năng suất lúa đạt 96 tạ/ha, bằng 95,4% so với năm 1995 Tổng sản lượng lương thực quy thóc đạt 68.305 tấn, đạt 89,9% kế hoạch Trong chăn nuôi, nhờ khuyến khích phát triển theo hướng công nghiệp nên huyện ổn định được đàn gia súc, tầng đàn gia cầm, trong đó đàn bò lai sind đạt gần 30% (1200 ưong tổng số 4200 con bò), đưa tổng giá trị chăn nuôi chiếm tỷ trọng 35,5% trong tổng giá trị ngành nông nghiệp
Để tăng cường quản lý sử dụng đất đai, Ủy ban nhân dân huyện đã chỉ đạo các ngành, các xã phối hợp thống kê, đo đạc, hoàn thành hồ sơ địa giới hành chính các xã, thị trấn trong huyện, đồng thời tổ chức kê khai cấp giấy chứng nhận về đất ở cho 8.068 hộ trong tổng số 40.000 hộ, đạt 20,7%, cấp giấy chứngnhận về đất nông nghiệp cho 10.813 hộ trong tổng số 38.712 hộ nông dân, đạt 27,9%
Trang 33Ngày 31/12/1996, Huyện ủy đã tiến hành tổng kết công tác năm 1996,
đề ra phương hướng, nhiệm vụ và những mục tiêu chủ yếu năm 1997 Huyện ủynhấn mạnh: "Phát huy những kết quả đạt được trong năm đầu thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XIX, tập trung mọi nỗ lực của Đảng bộ
và nhân dân khắc phục khó khăn, hoàn thành toàn diện, vượt mức kế hoạch năm
1997 Tập trung lãnh đạo thực hiện công tác chuyển đổi HTX nông nghiệp theoLụật HTX, quản lý đất đai theo luật, coi trọng công tác thủy lợi, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật; nghiên cứu, ứng dụng những tiến bộ khoa học công nghệ vàosản xuất" [5, tr.213 - 214]
Coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, huyện đã chỉ đạo triển khai thực hiệnNghị quyết 11 của Huyện ủy về phát triển kinh tế nông nghiệp đến năm 2000, tiến hành chuyển đổi và tổ chức phương thức hoạt động của các HTX
nông nghiệp theo Luật HTX Thực hiện chủ trương củạ huyện, các xã tổ chức cho xã viên và nhân dân học tập Luật HTX, tự nguyện gia nhập HTX nông nghiệp Kết quả: trong năm 1997 đã có 11 xã hoàn thành việc chuyển đổi HTXtheo luật, kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý theo quy định Ban quản trị xã thực hiện đúng chức năng chủ yếu là hướng dẫn sản xuất, làm các dịch vụ thủy lợi, bảo
vệ thực vật, định hướng cơ cấu mùa vụ, cơ cắu giống và chuyển giao kỹ thuật cho
xã viên
Để giải quyết vững chắc công tác thủy lợi, huyện chỉ đạo củng cố, xây dựng hệ thống tưới tiêu nước, đẩy nhanh tiến độ "cứng hóa" kênh mương Đen cuối năm 1997, trạm bơm tiêu Gia Khánh đã cơ bản hoàn thành phần xây đựng trạm và kênh dẫn nước Ba xã Hà Hồi, Nguyễn Trãi, Văn Bình đã hoàn thành xây dựng kiên cố 2.550m kênh mương
Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu trong nông nghiệp Thực hiện luật đất đai của Nhà nước ban hành năm 1993, huyện đã tiến hành rà soát, thống kê toàn
bộ diện tích đất hiện có, chấn chỉnh và tăng cường hệ thống cơ quan quản lý đất đaicủa huyện và cán bộ địa chính các xã, tiếp tục tổ chức cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất thổ cư và đất nông nghiệp cho các hộ Đến
Trang 34cuối năm 1997, đã có 42,47% tổng số hộ sản xuất nông nghiệp được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời với diện tích 3.631,3 ha (bằng 46% diệntích đất nông nghiệp)
Nhận thức được vai trò của khoa học công nghệ trong việc phát triển nông nghiệp theo hướng CNH, HĐH, ngày 31/5/1997 Huyện ủy có kế hoạch 07 -KH/HU về phát triển khoa học công nghệ đến năm 2000 Huyện ủy đã nhấn mạnh phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế - xã hội nông thôn trên địa bàn huyện, tích cực đưa giống mới năng suất cao, sức chống chịu tốt vào sản xuất, phát triển cây vụ đông; giải quyết vững chắc công tác thủy lợi, ứng dụng kỹ thuật mới trong bảo vệ thực vật, thực hiện tốt chương trình phòng trừ sâu bệnh tổng hợp (IPM)
Nhờ những giải pháp tích cực, tập trung, Đảng bộ và nhân dân Thường Tín đã vượt qua những khó khăn về thời tiết, cơ bản đảm bảo được kế hoạch sản xuất Năm 1997, toàn huyện gieo trồng được 18.640 ha, đạt 95,6% kế hoạch, thu hoạch 67.581 tấn lương thực quy thóc Trong chăn nuôi, đàn gia súc, gia cầm được giữ vững và phát triển Nhiều HTX đẩy mạnh chăn nuôi lợn hướng nạc, bò lai sind, gà vịt siêu thịt, ngan Pháp cho năng suất, sản lượng cao Tính đến thời điểm 1/10/1997, toàn huyện có 51.334 con lợn, 3.929 con bò (trong đó có 1500 con bò lai sind), 1.580 con trâu và 467.552 con gia cầm
Bước sang năm 1998, năm bản lề của kế hoạch 5 năm (1996 - 2000), Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện tập trung triển khai một số biện pháp nhằm phát triển kinh tế - xã hội Huyện ủy đã đầu tư 2 tỷ đồng từ nguồn vốn và ngân sách, đồng thời huy động 77.000 ngày công lao động của xã viên, đào đắp
306.000m3 kênh mương, củng cố các công trình thủy lợi, cải tạo bãi nổi Tự Nhiên bảo đảm 850 ha đất canh tác Trạm bơm tiêu Gia Khánh hoàn thành và đưa vào sử dụng phục vụ tiêu úng 1.800ha Các trạm bơm Cống Xuyên I, Vĩnh
Mộ cũng được củng cố, cùng với hệ thống thủy lợi nội đồng được nâng cấp, góp phần đẩy mạnh sản xuất vụ mùa năm 1998 Đến tháng 6/1998, đã có
Trang 3596,9% HTX nông nghiệp hoàn thành chuyển đổi theo luật HTX Hầu hết các
xã đã chủ động tổ chức chuyển đổi ruộng từ nhiều thửa nhỏ thành thửa lớn Các HTX tổ chức hướng dẫn xã viên sử dụng giống lúa mới, ứng dụng công nghệ ném mạ của Trung Quốc, dùng ni lông chống rét cho mạ, bảo vệ sản xuất.Kinh tế trang trại cũng được khuyến khích với các mô hình trồng cây ăn quả, nuôi thủy sản, chăn nuôi gia súc, gia cầm góp phần phát triển kinh tế, xóa đói giảmnghèo, tiến tới làm giàu chính đáng
Nhờ các biện pháp tích cực, hiệu quả, sản xuất nông nghiệp huyện Thường Tín năm 1998 đã đạt được kết quả tương đối khá Toàn huyện gieo trồngđược 18.996,2 ha, tăng 2% so với năm 1997 Tổng sản lượng lương thực quy thóc đạt 75.305 tấn, tăng 12,3 % so với năm 1997" Chăn nuôi có xu hướng giảm sovới năm trước Đàn trâu có 1.492 con, giảm 3,3%; đàn lợn có
53.362 con, gia cầm có 396.772 con, giảm 15% so với năm 1997 Nguyên nhân là do thị trường tiêu thụ khó khăn Hơn nữa, trong nông nghiệp đã sử dụng máy móc thay cho sức kéo của trâu bò, nên đàn trâu có xu hướng giảm
Từ tình hình thực tiễn của huyện trong các năm 1996 - 1998, ngày 26/1/1999, Huyện ủy đã họp kiểm điểm công tác lãnh đạo năm 1998 và xây dựngphương hướng lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội trong 2 năm1999 -
2000 Để triển khai thực hiện nhiệm vụ kinh tế 2 năm 1999 - 2000, ngày 19/6/1999, Huyện ủy đã ra Nghị quyết thực hiện bốn chương trình quan trọng về xây dựng, phát triển nông nghiệp Đó là chương trình số 01 về công tác thủy lợi, chương trình số 02 về phát triển chăn nuôi, chương trình số 03 về củng cố, hoàn thiện HTX nông nghiệp sau chuyển đổi theo luật HTX, chương trình số 04 về thực hiện mục tiêu lương thực năm 1999 - 2000 Các chương
trình về phát triển nông nghiệp nhấn mạnh những giải pháp chủ yếu như:
- Củng cố, hoàn chỉnh các công trình thủy lợi, chủ động phòng chống lụt bão, củng cố, bảo vệ đê điều, bảo đảm chủ động nước tưới cả ba vụ trong năm,
đủ sức chống úng các đợt mưa dưới 200mm và hạn chế thấp nhất thiệt hại do các đợt mưa lớn hơn gây ra
Trang 36- Chuyển mạnh cơ cấu giống lúa, mở rộng diện tích vụ Đông, đưa vụ Đông trở thành vụ chính; tăng cường công tác bảo vệ thực vật, thực hiện các biện pháp thâm canh
- Ổn định, giữ vững quy mô, cơ cấu đàn gia súc, gia cầm; tăng cường ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật - công nghệ, tổ chức quản lý và đầu tư vào các khâu giống, thức ăn chăn nuôi, phòng trừ dịch bệnh
- Nâng cao nhận thức của các cấp về vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ của HTX nông nghiệp, chỉ đạo chặt chẽ mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của HTX, tạo điều kiện cho HTX phát triển
Các ngành, các cấp chủ động phối hợp, hiệp đồng với các ngành n ôn g
n ghi ệp và c ác đị a p hư ơ ng, x â y d ự n g k ế ho ạch, xá c đị n h n hi ệ m vụ , giải phápcủa ngành phục vụ đắc lực nhiệm vụ phát triển nông nghiệp, kinh
t ế n ông t hô n
Quán triệt, thực hiện các chương trình kinh tế nông nghiệp, 2 năm 1999 -
2000, huyện đã đầu tư 4.317 triệu đồng để củng cố, hoàn chỉnh các công trình thủy lợi, trong đó tiến hành tu bổ, rải nhựa mặt đê sông Hồng, bồi trúc sông Nhuệ; nạo vét 195.100m3 đất củng cố thủy lợi nội đồng, kiên cố hóa 77 tuyến kênh mương với tổng chiều dài 30.708m Khả năng tưới, tiêu nước của toàn bộ hệ thống thủy lợi được nâng lên rõ rệt
Các xã, HTX đã tổ chức thực hiện nghiêm túc kế hoạch sản xuất, bố trí mùa vụ hợp lý, tích cực chuyển đổi cơ cấu giống có năng suất cao; tổ chức mô hình chăn nuôi tập trung, đổi mới giống vật nuôi cho năng suất, chất lượng cao,phát triển đàn gia súc, gia cầm có giá trị kinh tế cao Nhờ đó, trong hai năm 1999 -
2000, sản xuất nông nghiệp đạt kết quả tương đối toàn diện Diện tích gieo trồng năm 1999 đạt 18.925,5 ha, năm 2000 đạt 18.823,8 ha Năng suất lúa hàng năm đạt bình quân trên 11 tấn/ha, là hai năm có năng suất lúa cao nhất từ trước đến năm
2000 Tổng sản lượng lương thực quy thóc năm 1999 đạt 78.399 tấn, năm 2000 đạt80.640 tấn, vượt chỉ tiêu kế hoạch hàng năm Trong chăn nuôi, đàn lợn mỗi năm có 60.000 con, đàn gia cầm có từ
Trang 37400.000 - 420.000 con Tận dụng các tuyến đường liên thôn, liên xã, bờ kênh
mương, đất vườn, trường học, hàng năm nhân dân trong huyện trồng và chăm sóc
từ 65.000 - 100.000 cây lấy gỗ, cây ăn qủa
Đến 31/12/1999, huyện cũng đã hoàn thành việc chuyển đổi các HTX nông nghiệp hoạt động theo luật Công tác quản lý HTX bước đầu đi vào nề nếp Bộ máy HTX tinh giảm, chức năng, nhiệm vụ rõ ràng
Như vậy, trong 5 năm 1996 - 2000, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Thường Tín và sự nỗ lực thực hiện của nhân dân Thường Tín, kinh tế của huyện cũng có nhiều chuyển biến tích cực Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm đạt 9,7% Cơ cấu kinh tế tuy chưa đạt yêu cầu đặt ra nhưng đã có bước chuyển dịch hợp lý hơn theo hướng tăng tỷ trọng gía trị công nghiệp xây dựng và thương mại dịch vụ, giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp Trong đó,
nông nghiệp đã phát triển tương đối toàn diện và thu được những kết quả khả quan Giá trị sản xuất nông nghiệp năm 2000 đạt 372.255 triệu đồng tổng giá trị sản xuất nông nghiệp tăng bình quân 4,3%/năm, tổng sản lượng lương thực năm 2000 đạt80.640 tấn, tãng 18% so với năm 1996 Bình quân lương thực cũng tăng từ 365kg/người/năm (năm 1996) lên 415kg/người/năm (năm 2000) Ngành nông nghiệp đã có những bước chuyển dịch đáng kể
Giá trị sản xuất nông nghiệp trong giai đoạn 1997 - 2000 tăng khá nhanh: 43.523 triệu đồng, tăng 14,4%, trong đó trồng trọt tăng 21,9%, chăn nuôi có tăng nhưng không đáng kể (tăng 0,76%) Trong cơ cấu giá trị, cơ cấu ngành trồng trọt cũng liên tục tăng trong khi cơ cấu ngành chăn nuôi lại giảm xuống Năm 1997, ngành trồng trọt đạt 195.173,2 triệu đồng, chiếm 64,4% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp, đến năm 1999 đạt 249.306,5 triệu đồng chiếm 70,6% Sau đó, đến năm 2000 giảm xuống còn 68,7% giá trị sản xuất ngành nông nghiệp nhưng vẫn cao hơn so với năm 1997 Trong khi đó, năm 1997 cơ cấu giá trị ngành chăn nuôi chiếm 35,6% và liên tục giảm qua các năm, đến năm 2000 còn 31,3% mặc dù giá trị sản xụất vẫn tăng Điều
đó cho thấy giá trị ngành trồng trọt tăng nhanh hơn so với giá trị sản xuất ngành chăn nuôi Kết quả này cho thấy sự chuyển
Trang 38dịch cơ cấu Kinh tế trong ngành nông nghiệp còn chậm và chưa đạt được kết
quả như Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện đề ra
Diện tích gieo trồng các loại cây có xu hướng giảm, đặc biệt là năm
1997, diện tích trồng các loại cây chỉ còn 17.402,7 ha, giảm 2.012,4 ha Sau đó, diện tích gieo trồng đã tăng trở lại nhưng đến năm 2000, diện tích gieo trồng vẫn giảm 566,6ha so với năm 1996 Diện tích gieo trồng giảm là do diện tích gieo trồng cây hàng năm và cây lâu năm giảm Năm 2000, diện tích trồng cây hàng năm là 18.680ha, giảm 554,7 ha so với năm 1996; cây lâu năm đạt 168,5 ha, giảm 11,9 ha Mặc dù diện tích giảm nhung cơ cấu cây trồng không có sự thay đổi, cây hàng năm vẫn chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu diện tích cây trồng (99%), cây lâu năm chỉ chiếm gần 1%
Nhìn chung, sự chuyển dịch trong ngành nông nghiệp Thường Tín giai đoạn 1996 - 2000 chủ yếu tập trung trong việc chuyển dịch cơ cấu các loại cây trồng hàng năm: giảm diện tích gieo trồng cây lương thực, tăng diện tích các loại cây thực phẩm và cây công nghiệp
Nhìn chung, tổng diện tích các loại cây trồng có xu hướng giảm tuy không nhiều Diện tích gieo trồng cây lương thực giảm dần qua các năm: từ 15.186,2 ha (năm 1996) xuống còn 14.206,2 ha (năm 2000), giảm 980 ha do diện tích trồng một số cây lương thực như ngô, khoai lang giảm Năm 2000, diện tích ngô giảm 212,3 ha so với năm 1996 Diện tích khoai lang đã giảm từ 771,8ha (năm 1996) xuống 406,8 ha năm 2000 Tuy nhiên, diện tích cây lương thực vẫn chiếm tỷ lệ cao trong tổng diện tích gieo trồng Năm 1996 diện tích trồng cây lương thực chiếm tỷ lệ 79%, đến năm 2000 còn 76% tổng diện tích gieo trồng
Năm 1997, do thời tiết khắc nghiệt nên nhìn chung tất cả các loại cây đều giảm về diện tích Diện tích cây thực phẩm đã giảm từ 2.846,1 ha (năm 1996) xuống còn 1.755,4 ha (nãm 1997), giảm 1090,7 ha Nhưng sau đó đã tăng lên nhanh chóng, năm 2000 đạt 3048,1 ha Diện tích cây công nghiệp cũng có xu hướng tăng Năm 2000, diện tích cây công nghiệp đạt 1.330,9 ha,
33
Trang 39tăng 172,1 ha Cây công nghiệp có xu hướng tăng do nhân dân đã tăng cường
trồng những loại cây đem lại năng suất, hiệu quả cao như lạc, đậu tương
Cơ cấu diện tích gieo trồng các loại cây cũng có sự thay đổi Tỷ lệ diện tíchcây lương thực có xu hướng giảm: từ 79% năm 1996 xuống 76% năm 2000 Trong khi đó, tỷ lệ diện tích cây thực phẩm và cây công nghiệp tăng lên Năm
1996, diện tích cây thực phẩm chiếm tỷ lệ 14,8%, đến năm 2000 chiếm 16,3% Tương ứng với cây công nghiệp: tăng từ 6% lên 7,1% Mặc dù sự thay đổi này không quá lớn nhưng phù hợp với chủ trương của Huyện ủy đề ra trong việc phát'triển nền nông nghiệp hàng hóa và cũng phù hợp với xu thế chung của Đảng
và Nhà nước điều đó chứng tỏ sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Thường Tín trong việc chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp là hoàn toàn đúng đắn
- Trong sản xuất cây lương thực, lúa giữ một vai trò rất quan trọng, là cây lương thực chủ đạo, chiếm đại đa số diện tích và sản lượng
Cây lúa là cây lương thực chính và rất thích hợp vói điều kiện tự nhiên, địahình và khí hậu của huyện Do đó, dù đang có xu hướng giảm diện tích trồng cây nông nghiệp để tăng diện tích đất khoanh vùng chăn nuôi theo quy mô lớn, xây dựng các cụm, điểm công nghiệp, hệ thống đường cao tốc, hệ thống thủy lợi đầu mối nhưng diện tích lúa vẫn được giữ vững và chiếm tỷ lệ lớn nhất trongtồng diện tích trồng cây nông nghiệp nói chung Năng suất lúa cùa huyện đạt khá cao và nhìn chung liên tục tăng qua các năm, trừ năm 1997 do thời tiết khắc nghiệt, sâu bệnh phá hoại nên sản lượng có giảm nhưng không đáng kể Những năm về sau, do áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất, lại tích cực chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đưa vào trồng những cây có sức chống chịu tốt, năng suất cao nên năng suất nhanh chóng tăng trở lại Diện tích được giữ vững, năng suất cao nên sản lượng lúa cũng liên tục tăng So với năm 1996, năng suất lúa năm 2000 đã tăng 13.794 tấn, bình quân mỗi năm tăng 20% Nhờ đó, bình quân lương thực đầu người cũng tăng lên: năm 1996, bình
34
Trang 40quân lương thực đạt 365kg/ngưòi/nãm đã tăng lên 415kg/người năm 2000 Do
đó, đời sống nhân dân cũng từng bước được cải thiện
Cơ cấu giống lúa cũng có sự thay đổi Năm 1996, giống C70 và C71 được gieocấy với diện tích 3.428 ha, năng suất đạt 105,5 tạ/ha/năm; giống Q5 gieo cấy 2.475
ha với năng suất đạt 103 tạ/ha/năm Ngoài ra còn gieo cấy một số giống khác như Ải 32, CR203 nhưng năng suất không cao: Ải 32 đạt 55,6 tạ/ha, CR203 đạt 43,8 tạ/ha Đến năm 2000, các giống lúa có năng suất thấp đã được thay thế bằng những giống có năng suất cao hơn, trong đó chủ lực là giống Q5 và Khang Dân chiếm 80% diện tích với năng suất đạt 117,2 tạ/ha Ngoài ra, một số giống lúa lai cũngđược đưa vào sản xuất cho năng suất, chất lượng tốt
- Đối với cây công nghiệp: Trong tổng diện tích đất trồng trọt, diện tích trồng cây công nghiệp cũng đang ngày càng tăng do sự mở rộng diện tích gieo
trồng của một số loại cây, trong đó chủ lực là cây đậu tương
Đối với cây lạc: diện tích cây lạc có nhiều biến động qua từng năm nhưng nhìn chung có xu hướng giảm: từ 302 ha năm 1996 xuống còn 212,7 ha năm 2000 Dù diện tích giảm nhưng năng sụất cây lạc ngày càng cao nên sản lượng có giảm nhưng không đáng kể Năng suất lạc tăng do nhân dân đã sử dụng các giống có năng suất, chất lượng cao, đồng thời áp dụng các biện pháp chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh hiện đại, có hiệu quả cao
Đối với cây đậu tương: diện tích cây đậu tương năm 1997 giảm gần 50%
so với năm 1996 nhưng sau đó lại tăng trở lại Đến năm 2000, diện tích cây đậu tương đạt 1.114,7 ha, tăng 269,8 ha so với năm 1996 Diện tích đậu tương tăng do đậu tương là cây dễ trồng, dễ chăm sóc, phù hợp với điều kiện thời tiết của huyện lại chủ yếu trồng vào vụ đông nên tận dụng được thời gian nông nhàn, trồng xen canh gối vụ tăng hệ số sử dụng đất, không tốn chi phí cho các dịch vụ nông nghiệp nên nhân dân rất hăng hái sản xuất Tuy nhiên, do năng suất đậu tương ngày càng giảm nên sản lượng tuy có tăng nhưng không cao và có biến động quatừng năm Năm 1999, đậu tương đạt sản lượng cao nhất (1.262 tấn) nhưng lại giảmxuống còn 1.131,3 tấn (năm 2000) Mặc