Chính điều này đã ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển cuộc sống của họ khi mà các phần tử phản động thường triệt để lợi dụng để phá hoại nhằm gây chia rẽ khối đại đoàn kết các dân tộc, g
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN
VĂN
HOÀNG THỊ HƯƠNG THANH
ĐẢNG BỘ HUYỆN THANH SƠN (PHÚ THỌ) LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
TỪ NĂM 2007 ĐẾN NĂM 2014
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN
VĂN
HOÀNG THỊ HƯƠNG THANH
ĐẢNG BỘ HUYỆN THANH SƠN (PHÚ THỌ) LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
TỪ NĂM 2007 ĐẾN NĂM 2014
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 03 15 Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Lê Sỹ Giáo
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Lê Sỹ Giáo Các số liệu trong luận văn là trung thực, chính xác, bảo đảm tính khách quan khoa học và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Hương Thanh
`
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy giáo, cô giáo Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo và các cán bộ thuộc các Phòng, Ban của Huyện ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân huyện Thanh Sơn, Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ và các phòng ban liên quan đã cung cấp thông tin, tư liệu, tạo điều kiện và đóng góp ý kiến quí báu cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè, người thân trong gia đình đã hết lòng động viên, khích lệ và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Lê Sỹ Giáo, người đã trực tiếp tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu
và hoàn thành luận văn
Mặc dù đã có nhiều cố gắng song luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Rất mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý của thầy cô, bạn bè để tôi có cơ hội trở lại vấn
đề này một cách tốt nhất
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1 2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 3 3 Mụctiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 5 4 Đối tượng
và phạm vi nghiên cứu 6 5 Nguồn tài liệu
và phương pháp nghiên cứu .6 6 Đóng góp của luậnvăn 7 7 Cấu trúc của luận văn 7
Chương 1 ĐẢNG BỘ HUYỆN THANH SƠN LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG - CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 8 1.1 Cơ sở lý luận 8
1.1.1 Các nguyên tắc của chính sách dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh 8
1.1.2 Quan điểm, chủ trương của Đảng về dân tộc và chính sách dân tộc 11 1.2
Cơ sở thực tiễn 17 1.2.1
Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Thanh Sơn 17 1.2.2 Sinh thái nhân văn và bức tranh phân bố cư dân - dân tộc 22 1.2.3 Văn hóa các dân tộc thiểu số rất phong phú và đa dạng 26 1.2.4 Quá trình thực hiện chính sách dân tộc trước năm 2007 của Đảng bộ huyện Thanh
2.2 Quá trình Đảng bộ huyện Thanh Sơn lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc từ năm 2007 đến năm 2014 36
2.2.1 Lãnh đạo thực hiện chính sách đoàn kết 36
Trang 62.2.2 Lãnh đạo thực hiện chính sách bình đẳng 41
2.2.3 Lãnh đạo thực hiện chính sách tương trợ 60
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 64
Chương 3 MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM 65
3.1 Nhận xét 65
3.1.1 Ưu điểm 65
3.1.2 Hạn chế 74 3.2 Bài học kinh nghiệm 77 TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 85 KẾT LUẬN 86 TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
PHỤ LỤC
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trước kia và hiện nay, vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc vẫn là một trong
những vấn đề phức tạp trên thế giới Từ thập niên cuối của thế kỷ XX và những năm đầu của thế kỷ XXI, các biến cố trên thế giới đã nói lên dân tộc vẫn là vấn đề thời sự nóng bỏngcủa nhân loại Do đó việc tìm kiếm con đường giải quyết vấn đề dân tộc luôn được các nhà chính trị và khoa học trên thế giới đặc biệt chú ý, quan tâm
Ngay từ thời dựng nước, Việt Nam đã là quốc gia đa dân tộc Trong tiến trình phát triển hàng ngàn năm, các dân tộc dù tộc người khác nhau nhưng luôn luôn sát cánh bên nhau xây dựng và bảo vệ Tổ quốc với truyền thống: "Bầu ơi thương lấy bí cùng; Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn" Trong 54 dân tộc cùng tụ cư trên lãnh thổ thì người Kinh chiếm đa số, còn lại là 53 dân tộc thiểu số Phần lớn các dân tộc thiểu số thường sống ở miền núi, vùng sâu, vùng xa - nơi có vị trí chiến lược về an ninh quốc phòng, nhưng đời sống của họ còn nhiều khó khăn cả về vật chất lẫn tinh thần Ở nơiđây trình độ dân trí thấp, nhiều phong tục tập quán lạc hậu vẫn còn tồn tại Chính điều này đã ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển cuộc sống của họ khi mà các phần tử phản động thường triệt để lợi dụng để phá hoại nhằm gây chia rẽ khối đại đoàn kết các dân tộc, gây bất ổn về an ninh, chính trị tại các địa bàn trọng yếu này.Trước thực trạng đó, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã đặc biệt quan tâm đến vấn đề dân tộc, hoạchđịnh nhiều chủ trương chính sách nhằm thực hiện nhất quán sự bình đẳng giữa các dân tộc, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển, không ngừng cải thiện, nâng cao đờisống vật chất và tinh thần cho đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt là các dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa còn gặp nhiều khó khăn
Hiện nay, trong bối cảnh hội nhập quốc tế diễn ra mạnh mẽ và ngày càng sâu rộng,
đã tạo ra nhiều cơ hội và thách thức cho các nước trên thế giới, Việt Nam cũng không phải trường hợp ngoại lệ Đứng trước những cơ hội và thách thức to lớn ấy, để xây dựng đất nước đi lên bắt kịp với xu thế phát triển của thế giới, trong đường lối phát triển của Đảng, vấn đề dân tộc luôn chiếm một vị trí đặc biệt quan
Trang 8trọng Thực tiễn ở Việt Nam, công tác dân tộc, thực hiện chính sách dân tộc cũng
đang đặt ra nhiều vấn đề cần được quan tâm và giải quyết như: quan hệ dân tộc - tộc người,
di dân tự do, đói nghèo, tranh chấp đất đai, bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thốngVấn đề đặt ra là Đảng và Nhà nước phải xây dựng được hệ thống chính
sách dân tộc hợp lý, đảm bảo mang lại quyền bình đẳng thực sự cho các dân tộc
Thanh Sơn là huyện miền núi thuộc phía Tây Nam của tỉnh Phú Thọ Trên địa bàn huyện có 16 dân tộc cùng chung sống, trong đó dân tộc thiểu số chiếm 61% dân số toànhuyện bao gồm dân tộc Mường, Dao,Tày, NùngCác dân tộc ở đây vốn có truyền thống đoàn kết, gắn bó lâu đời Qua các thời kỳ cách mạng, đồng bào dân tộc ở đây đã một lòng, một dạ tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, góp phần cùng quân dân cả nướcđánh thắng giặc ngoại xâm, giành độc lập tự do, xây dựng quê hương ngày càng văn minh, giàu đẹp Do vậy việc thực hiện tốt chính sách dân tộc ở huyện Thanh Sơn sẽ góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, ổn định chính trị - xã hội và phát triển bền vững
Xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, nhất là những nguyên nhân do lịch
sử để lại và do điều kiện địa lý, tự nhiên ở địa bàn cư trú vô cùng khắc nghiệt nên trình
độ phát triển kinh tế - xã hội và đời sống của các đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện còn gặp nhiều khó khăn.Vì vậy công tác dân tộc và việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng luôn là vấn đề được Đảng bộ huyện Thanh Sơn đặc biệt quan tâm nhằm từng bước cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào dân tộc, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, ổn định chính trị- xã hội Vì vậy, nghiên cứu thực hiện chính sách dân tộc của Đảng bộ huyện Thanh Sơn từ năm 2007 đến năm 2014 nhằm làm rõ quan điểm, chủ trương của Đảng về dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc không chỉ có ý nghĩa khoa học về mặt lý luận mà còn có giá trị về mặt thực tiễn Đồng thời nêu rõ được nhữ ng thành công, hạn chế, rút ra nhữ ng kinh nghiệm lãnh đạo
t hự c hiện chính sách dân tộc là một việc cần thiết Chính vì vậy, tôi quyết định chọn vấn
đề "Đảng
bộ huyện Thanh Sơn (Phú Thọ) lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc từ
năm 2007 đến năm 2014" làm đề tài luận văn Thạc sĩ, chuyên ngành Lịch sử
Đảng Cộng sản Việt Nam
Trang 92 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc ở Việt Nam từ trước tới nay luôn được
giới khoa học quan tâm nghiên cứu Trên phạm vi cả nước đã có nhiều công trình đề cập đến vấn đề này ở nhiều góc độ khác nhau Nhìn một cách tổng thể, các công
trình nghiên cứu liên quan có thể chia thành các nhóm chủ yếu sau:
Nhóm thứ nhất: Sự tổng kết của Đảng Cộng sản Việt Nam, rút kinh nghiệm, đề ra đường lối, chủ trương chính sách dân tộc ở nước ta Sự tổng kết đó được phản ánh trong cácVăn kiện Đại hội VI, VII, VIII, IX , một số Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương, Nghị quyết Bộ chính trị Đây là những quan điểm đánh giá chính thức của Đảng vềquá trình lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc
Nhóm thứ hai: Những nghiên cứu đề cập đến chính sách dân tộc được xuất bản như:
- Sách "Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi" do
Bế Viết Đẳng (cb), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996
- Sách "Bảo đảm bình đẳng và tăng cường hợp tác giữa các dân tộc trong phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta" của tác giả Hoàng Chí Bảo, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 2009
- Sách "Chính sách dân tộc, những vấn đề lý luận và thực tiễn", Nxb Sự thật,
Hà Nội, 1990
- Sách "Vấn đề dân tộc và định hướng xây dựng chính sách dân tộc trong thời
kỳ công nghiệp, hóa hiện đại hóa" của Viện nghiên cứu chính sách dân tộc và miền núi,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002
- Sách "Bước đầu tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc ở Việt Nam"
của Học viện Chính trị quốc gia Hồ CHí Minh, Nxb Chính trị quốc qia Hà Nội, 1996
- Sách "Kinh tế miền núi và các dân tộc - Thực trạng, vấn đề, giải pháp" của tác
giả Phạm Văn Vang, Nxb Khoa học kỹ thuật, Hà Nội, 1996
- Sách "Văn hóa và sự phát triển của các dân tộc ở Việt Nam" của Nông Quốc
Chấn (cùng nhiều tác giả), Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 1997
Trang 10- Sách "Chính sách và pháp luật của Đảng, Nhà nước về dân tộc", Nxb Văn
hóa xã hội, Hà Nội, 2000
- Sách "Về vấn đề dân tộc và công tác dân tộc ở nước ta" của Ủy ban Dân tộc,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001
- Sách "55 công tác dân tộc và miền núi ( 1946 - 2001)" của Ủy ban Dân tộc, Nxb
Chính trị quốc gia Hà Nội, 2001
- Sách "Miền núi Việt Nam: thành tựu và phát triển những năm đổi mới" của Ủy
ban Dân tộc, Nxb Nông nghiệp, 2002
- Sách "Một số vấn đề giảm nghèo ở các dân tộc thiểu số Việt Nam" của tác giả Bùi
Minh Đạo, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2003
- Sách "Về công tác dân tộc" của Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2003
- Sách "Góp phần nghiên cứu dân tộc học Việt Nam" của tác giả Phan Hữu Dật,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003
- Sách "Một số vấn đề đổi mới nội dung quản lý nhà nước và phương thức công tác dân tộc" của Ủy ban Dân tộc - Viện dân tộc, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 2004
- Sách "Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước Việt Nam" của tác giả Lê Ngọc
Thắng, Nxb Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, 2005
- Sách "Phát triển bền vững vùng dân tộc thiểu số và miền núi Việt Nam" do
Nguyễn Văn Chương chủ biên, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, Hà Nội, 2006
- Sách "Phát triển nông thôn miền núi và dân tộc trong thời kỳ kinh tế
chuyển đổi" của Viện Dân tộc học Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2007
- Sách "Những vấn đề cơ bản về chính sách dân tộc ở nước ta hiện nay" do
Phan Xuân Sơn, Lưu Văn Quảng đồng chủ biên, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội,
2006.V.v
Nhóm thứ ba: Một số luận án tiến sỹ, Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành lịch sử
liên quan như: "Mấy suy nghĩ về đổi mới việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng ta" (1995) của tác giả Bùi Xuân Vinh; "Đổi mới việc thực hiện chính sách dân tộc trên địa bàn tỉnh Bình Dương và Bình Phước" (2001) Luận án Tiến sỹ Triết
Trang 11học của tác giả Phạm Công Tâm; "Thực hiện chính sách dân tộc ở Việt Nam trong
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa" (2006), Luận án Tiến sỹ Triết học của tác giả Nguyễn Thị Phương Thúy; "Đổi mới việc thực hiện chính sách dân tộc trong thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (từ thực tiễn các tỉnh miền núi phía Bắc)" (2001), Luận văn Thạc Sỹ Triết học của tác giả Nguyễn Thị Phương Thủy; "Các Đảng
bộ tỉnh khu vực Bắc Tây Nguyên lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc từ năm 1996 đến 2005" (2007), Luận văn Thạc sỹ Lịch sử của Phạm Văn Hồ; "Đổi mới việc thực hiện chính sách dân tộc ở tỉnh Điện Biên trong giai đoạn hiện nay" (2006), Luận văn Thạc sỹ Lịch sử của tác giả Hoàng Thu Thủy; "Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc từ 1997 đến 2005" (2007), Luận văn Thạc sỹ Triết học của Vũ Quang Trọng; "Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc của Đảng đối với dân tộc thiểu số thời kỳ 1996-2007" (2012)
Những công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến nhiều phương diện khác nhau
về lý luận cũng như thực tiễn đối với vấn đề dân tộc và việc thực chính sách dân tộc của Đảng Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện, có tính hệ thống về quá trình Đảng thực hiện chính sách dân tộc trên địa bàn huyện Thanh Sơn từ khi chia tách huyện năm 2007 đến năm 2014 Các công trình nghiên cứu nói trên là nguồn tài liệu quan trọng, là cơ sở để chúng tôi tiếp thu, kế thừa, bổ sung
và phát triển trong quá trình thực hiện luận văn
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục tiêu:
Nghiên cứu, làm rõ quá trình Đảng bộ huyện Thanh sơn lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc của Đảng đối với các dân tộc thiểu số ở Thanh Sơn, qua đó đúc rút ra những kinh nghiệm trong quá trình Đảng bộ huyện Thanh Sơn lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc
- Nhiệm vụ: Đi sâu nghiên cứu nhằm làm sáng rõ
+ Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
+ Tình hình phân bố dân tộc, dân cư trên địa bàn huyện Thanh Sơn
Trang 12+ Trình bày khái quát quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước về vấn
đề dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc
+ Phân tích làm rõ quá trình thực hiện chính sách dân tộc của Đảng bộ và nhân dân huyện Thanh Sơn dưới sự lãnh đạo và chỉ đạo của Đảng bộ huyện Thanh Sơn từ năm
2007 đến năm 2014
+ Đánh giá kết quả đạt được và những hạn chế, từ đó đúc rút ra những kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc của Đảng bộ huyện Thanhsơn trong thời gian tiếp theo
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu đến các vấn đề có liên quan đến việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng bộ huyện Thanh Sơn từ năm 2007 đến 2014
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu quá trình lãnh đạo của Đảng
bộ huyện Thanh Sơn đối với việc thực hiện chính sách dân tộc trong thời gian từ năm
2007 đến 2014
+ Không gian: Địa bàn huyện Thanh Sơn tỉnh Phú Thọ
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
- Nguồn tài liệu: Các tài liệu chủ yếu thực hiện đề tài bao gồm những văn
kiện của các kỳ đại hội Đảng liên quan đến vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc; những văn bản pháp luật và quy định của Nhà nước về chính sách dân tộc; các nghị quyết của Huyện ủy Thanh Sơn, quyết định, chỉ thị của Ủy ban nhân dân huyện Thanh Sơn cũng như các tài liệu của sở, ban, ngành; các công trình nghiên cứu đã công bố liên quan đến
đề tài luận văn
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp lịch sử và
phương pháp lôgic là chủ yếu đồng thời kết hợp các phương pháp khác như: phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp thống kê, so sánh gắn với lí luận thực tiễn để thực hiện
Trang 136 Đóng góp của luận văn
- Luận văn góp phần hệ thống quan điểm, chủ trương và quá trình Đảng bộ huyện Thanh Sơn lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc trong thời gian từ năm 2007 đến 2014
- Cung cấp thêm những luận cứ có liên quan đến việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng ở huyện Thanh Sơn, qua đó góp phần giúp các cơ quan của huyện nghiên cứu, hoạch định các chủ chương, chính sách phát triển kinh tế- xã hội trên địa bàn huyện, nhất là vùng dân tộc thiểu số cho phù hợp
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo, phục vụ hoạt động nghiên cứu và giảngdạy về chính sách dân tộc của Đảng trong thời kỳ đổi mới
- Rút ra những kinh nghiệm, đề xuất những kiến nghị về việc thực hiện chính sách dân tộc trong những năm tiếp theo
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Đảng bộ huyện Thanh Sơn lãnh đạo việc thực hiện chính sách dân tộc - Cơ sở lý luận và thực tiễn
- Chương 2: Chủ trương và quá trình chỉ đạo thực hiện chính sách dân tộc của Đảng bộ huyện Thanh Sơn từ khi chia tách huyện đến năm 2014
- Chương 3: Một số nhận xét và bài học kinh nghiệm
Trang 14Chương 1 ĐẢNG BỘ HUYỆN THANH SƠN LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
DÂN TỘC CỦA ĐẢNG - CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Các nguyên tắc của chính sách dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ nước ta có trên 50 dân tộc anh em là thành viên trong cộng đồng dân tộc Việt Nam nhưng mỗi dân tộc thiểu số có tâm lý, phong tục, tập quán riêng Người nhấn mạnh rằng: Việc xây dựng và lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chínhsách dân tộc thiểu số và miền núi không chỉ nhằm phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, huy động sức người, sức của của các dân tộc phục vụ sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc, phát triển kinh tế, văn hóa của các dân tộc, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của các dân tộc, mà còn nhằm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ là người dân tộc thiểu số trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, chính trị, khoa học,
kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng
Tư tưởng Hồ Chí Minh trong giải quyết vấn đề phát triển các dân tộc thiểu số và
miền núi của nước ta được thể hiện trong những nội dung cơ bản sau:
Tại Đại hội đại biểu Đảng bộ Khu tự trị Việt Bắc năm 1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: Chính sách dân tộc của chúng ta là thực hiện sự đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc "Đoàn kết, Bình đẳng, Tương trợ" vừa là nguyên tắc, đồng thời cũng
vừa là mục tiêu vươn tới trong chính sách dân tộc của Đảng cộng sản và nhà nước Việt Nam
Về Đoàn kết tất cả các dân tộc, tư tưởng này của người thể hiện nhận thức phù hợp với thực tiễn khách quan của lịch sử dân tộc Việt nam được thử thách qua nhữngthăng trầm của lịch sử hàng ngàn năm Đó là "tài sản vô giá" để phát huy trong thời đại
vô sản, Người cho rằng: Đồng bào các dân tộc không phân biệt lớn nhỏ, phải yêu thươnggiúp đỡ lẫn nhau, phải đoàn kết chặt chẽ như anh em một nhà, để cùng nhau xây dựng
Tổ quốc chung, xây dựng chủ nghĩa xã hội làm cho tất cả các dân tộc được hạnh phúc,
ấm no Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, Hồ Chí Minh đặc biệt chú ý giáo dục đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân về ý thức
Trang 15xây dựng và giữ gìn sự đoàn kết dân tộc Người luôn luôn đánh giá cao vai trò của
nhân dân: "Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân Trong thế giới không có gì mạnh bằng sức mạnh của nhân dân" [37, tr 267] Nhân dân chính là người sáng tạo ra lịch sử, do đó muốn thực hiện đại đoàn kết lâu dài thì phải luôn luôn lấy dân làm gốc Người khẳng định: Nhờ sức mạnh đoàn kết đấu tranh của các dân tộc, nước Việt Nam ngày nay được độc lập, các dân tộc thiểu số được bình đẳng, tất cả đều như anh em trong một nhà, không có sự phân biệt nòi giống, tiếng nói gì nữa Trước kia các dân tộc để giành độc lập phải đoàn kết, bây giờ để giữ lấy độc lập càng cần đoàn kết hơn nữa [35,
tr 10]
Người nhấn mạnh : "Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Êđê,
Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh
em ruột thịt Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau" [35, tr 217]
Người cũng chỉ ra rằng: các dân tộc anh em sinh sống trên đất nước phải đoàn kết với nhau: "Đã gọi là đoàn kết thì phải giúp đỡ nhau như anh em trong nhà Dân tộc nhiều người phải giúp đỡ dân tộc ít người, dân tộc ít người phải cố gắng làm ruộng Hai bên giúp đỡ nhau" [36, tr 227]
Chủ tịch Hồ chí Minh đánh giá cao vị trí, vai trò, tầm quan trọng, tiềm năng to lớn của đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trong sự nghiệp cách mạng: "Miền núi nước ta chiếm một vị trí quan trọng đối với quốc phòng, đối với kinh tế" [37, tr 134] Người đánh giá cáo bản lĩnh, tính thật thà, chất phác, trọng lẽ phải của đồng bào các dân tộc: "Đồng bào các dân tộc rất thật thà và rất tốt Nếu nói đúng thì đồng bào nghe, đồng bào làm và làmđược" [39, tr.138]
Đánh giá đúng vị trí của miền núi, vai trò của đồng bào dân tộc thiểu số, làm cơ
sở để đề ra chiến lược và mục tiêu phù hợp với nhiệm vụ cách mạng cụ thể trong từng thời kỳ, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (1960), Người chỉ rõ:
"Đảng và Nhà nước dân chủ nhân dân cần phải làm cho miền núi tiến kịp với miền xuôi, vùng cao và vùng biên giới tiến kịp với vùng nội địa, các dân tộc thiểu số tiến kịp dân tộc Kinh, giúp đỡ các dân tộc phát huy tinh thần cách mạng và năng lực to lớn của mình, cùng nhau đoàn kết chặt chẽ để tiến lên chủ nghĩa xã hội" [11, tr 608-609]
Trang 16Theo Hồ Chí Minh: "Muốn thực hiện tốt chính sách dân tộc, công tác dân tộc
thì phải am hiểu về miền núi, về con người miền núi và đồng bào dân tộc thiểu số, vì mỗi dân tộc thiểu số có nếp sống, tâm lý, bản sắc riêng đa dạng và phong phú Muốn tiến hành sự nghiệp cách mạng nói chung và công tác dân tộc nói riêng, thì phải nghiên cứu cho hiểu rõ phong tục mọi nơi" [36,tr 410] Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ phải gắn bó thật sự với đồng bào, nắm vững và phân tích đúng tình hình, hiểu rõ phong tục tập quán
và làm cho đồng bào tin yêu mà tiến hành công tác vận động đồng bào miền núi cụ thể thiết thực, phù hợp, dễ hiểu để đồng bào làm được Các chủ trương, chính sách, biện pháp phát triển kinh tế, văn hóa ở miền núi đòi hỏi phải thực hiện khẩn trương, nhưng không nóng vội, rập khuân máy móc mà phải thận trọng, vững chắc, toàn diện, hiệu quả, đem lại lợi ích cho đồng bào
Hồ Chí Minh xác định vai trò to lớn của Nhà nước, của các cơ quan đoàn thể và cán bộ đối với sự phát triển của vùng dân tộc và miền núi Người luôn nhắc nhở và giao nhiệm vụ cho các cơ quan Trung ương phải có trách nhiệm đối với sự phát triển kinh tế -
xã hội của vùng miền núi, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số còn gặp khó khăn Trách nhiệm thực hiện công tác dân tộc là của mọi nghành, mọi cấp, chứ không phải chỉ là nhiệm vụ của một cơ quan chuyên trách làm công tác dân tộc
Hồ Chí Minh rất quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ người dân tộc thiểu số và coi đây là nhân tố quyết định để thực hiện thắng lợi chính sách dân tộc của Đảng, là một yêu cầu khách quan của cách mạng Việt Nam "Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém" [38, tr 273] "Cán bộ tốt" là người chiếm được niềm tin của quần chúng, là cán bộ "khéo lãnh đạo" và bản thân phải biết tin nhân dân cho nên cần đặc biệt chú trọng đào tạo và bồi dưỡng cán bộ dân tộc thiểu số, đồng thời tăng cường đoàn kết giữa cán bộ tại chỗ và cán bộ nơi khác đến, làm động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội ở vùng dân tộc thiểu số và vùng miền núi
Hồ Chí Minh chỉ ra rằng nội dung đào tạo, bồi dưỡng cán bộ dân tộc thiểu số phải toàn diện, vừa chú trọng văn hóa, vừa chú trọng chính trị, để hình thành một đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số vừa có tài, vừa có đức, phải phù hợp với trình độ và đặc điểm của mỗi dân tộc, mỗi vùng miền
Trang 17Hồ Chí Minh cho rằng phát triển văn hóa, xây dựng đời sống mới là điều
kiện tiên quyết để phát triển kinh tế, tạo điều kiện để chăm sóc sức khỏe, nâng cao thể lực cho đồng bào Phải chú ý đến việc phòng bệnh, khám chữa bệnh cho đồng bào bằng cách phát triển mạng lưới y tế, đào tạo cán bộ y tế trong đồng bào dân tộc thiểu số góp phần đấu tranh, xóa bỏ hủ tục còn tồn tại trong đồng bào bằng cách tuyên truyền, giáo dục vận động đồng bào xây dựng đời sống văn hóa Ngay trong việc giúp đỡ đồng bào miền núi xây dựng đời sống văn hóa mới, người cán bộ trong thực hiện cũng phải cải tạo
và xây dựng dần dần, phải tính đến tập quán lâu đời ăn sâu vào cuộc sống của đồng bào bao đời nay, không được nóng vội
Trong kháng chiến, ở những vùng có bộ đội, có cơ quan của ta thì ta gúp đỡ nhân dân chữ a bệnh đ ể họ đỡ cúng bái Bâ y giờ có nhiều bệnh vi ện, bệnh xá, ở biên giới có các đồng chí công an vũ trang giúp dân chữa bệnh rất tốt Nhưng chưa phải là đãhết cúng bái mê tín Vì đó là phong tục tập quán đã lâu đời Muốn cải tạo phong tục tậpquán được tốt thì tuyên huấn phải làm, mà phải làm bền bỉ liên tục, làm dần dần chứ không thể chủ quan nóng vội, muốn làm hết ngay một lúc [39, tr.133-134] Không chỉ
có vậy, Người còn chỉ cụ thể: "Cái gì phải xóa? - Mê tín hủ tục Cái gì cần phát triển - Văn hóa giáo dục, vệ sinh, phòng bệnh"
1.1.2 Quan điểm, chủ trương của Đảng về dân tộc và chính sách dân tộc
Ngay từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, trong Cương lĩnh đầu tiên của
Đảng đã quan tâm đến vấn đề dân tộc Chính sách dân tộc và cơ sở lý thuyết của chính sách dân tộc được thể hiện trong các văn kiện của các kỳ đại hội Đảng, Hiến pháp và những pháp luật liên quan của Nhà nước Việt Nam
Trong nghị quyết Đại hội lần thứ nhất của Đảng Cộng sản Đông Dương, vấn đề dân tộc và việc thực hiện chính sách dân tộc được Đảng đề ra trong chương trình hành động và được Quốc tế cộng sản hoàn toàn nhất trí Đảng Cộng sản thừa nhận các dân tộc được quyền tự do hoàn toàn Đảng chống chế độ thuộc địa, chống lại các hình thức trực tiếp và gián tiếp đem dân tộc này đàn áp bóc lột dân tộc khác Các dân tộc vào Liên bang được hưởng quyền lợi và chịu trách nhiệm như nhau Mỗi dân tộc trong Liên bang lại có quyền tự trị, nghĩa là được giải quyết lấy vấn đề địa phương chỉ quan hệ đến dân tộc mình, được dùng tiếng mẹ đẻ của mình trong sinh hoạt chính trị, kinh tế và văn hóa của mình
Trang 18Vào thời điểm lúc bấy giờ khi mà nhiệm vụ giải phóng dân tộc đang đặt ra
cấp thiết, quan điểm trên của Đảng cho thấy, trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, quyền tự quyết và quyền tự trị của các dân tộc được tôn trọng, đây là trọng điểm để giảiquyết vấn đề dân tộc lúc đó Nội hàm của quyền tự trị đã thể hiện nguyên tắc bình đẳng dân tộc
Đến đầu những năm 1950, trong bối cảnh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta đang trên đà phát triển mạnh mẽ, Đảng Lao động Việt Nam tiến hành Đạihội đại biểu toàn quốc lần thứ II (2 - 1951) Về vấn đề dân tộc và việc
thực hiện chính sách dân tộc , Nghị quyết Đại hội chỉ rõ:
Để phá tan âm mưu chia rẽ dân tộc của địch, cần phải thực hiện phát triển rộng rãi khối đoàn kết với các dân tộc thiểu số, kể cả Hoa KiềuTrong việc thực hiện đoàn kết,
ta cần chú trọng gây cơ sở quần chúng đi đôi với việc thuyết phục thổ - ty, chú trọng nhiều đến nâng cao mức sống, giáo dục và tổ chức quần chúng Những việc cải cách đóng góp cần phải vừa với sự giác ngộ của dân, với khả năng của họ, không nên ép Những Ủy ban tỉnh, huyện nơi có dân tộc thiểu số, cần có người của họ đề cử vào để giúp họ tiến bộ và điều hòa mọi quan hệ giữa các chủng tộc Trong khi tiếp xúc với đồngbào dân tộc thiểu số, chúng ta cần thân mật, có thái độ thành khẩn đoàn kết giúp đỡ họ tiến bộ Ta phải tôn trọng tín ngưỡng, tập quán của họ, nên giúp đỡ họ cải tiến việc làm
ăn, giúp phát triển văn hóa giáo dục theo tiếng nói riêng của từng dân tộc, theo đúng tinh thần của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc [10, tr.197-198]
Những nội dung trên đã nhấn mạnh tính cần thiết của đoàn kết dân tộc đối với đấu tranh cách mạng, phải tôn trọng tín ngưỡng, tập quán của các dân tộc thiểu số, đồngthời đã chỉ rõ phương thức công tác dân tộc của thời kỳ đó Những nội
dung về chính sách dân tộc trong Văn kiện Đại hội II được cụ thể hóa hơn trước
Bước sang giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, chính sách dân tộc được Đảng xác định rõ trong Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III
của Đảng (9- 1960) Nghị quyết nêu rõ:
Dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, các dân tộc đa số và thiểu số có một truyền thống đoàn kết anh em, Đảng và nhà nước cần phải có kế hoạch toàn diện và lâu dài
Trang 19phát triển kinh tế và văn hóa miền núi, làm cho miền núi kịp miền xuôi, các dân tộc
thiểu số tiến kịp các dân tộc đa số, giúp các dân tộc phát huy tinh thần cách mạng và khả năng to lớn của mình Trong cán bộ cũng như trong nhân dân, cần phải khắc phục tư tưởng dân tộc lớn và tư tưởng dân tộc hẹp hòi, đoàn kết chặt chẽ giữa các dân tộc để cùng nhau tiến lên chủ nghĩa xã hội [11, tr 937]
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng (12-1976), Đảng đã đưa ra quan điểm về vùng núi và vùng đồng bào dân tộc, chính sách dân tộc trong thời
kỳ cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội Đại hội chỉ rõ:
Giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc là một trong những nhiệm vụ có tính chất chiến lược của cách mạng Việt Nam, "Chính sách dân tộc của Đảng là thực hiện triệt để quyền bình đẳng về mọi mặt giữa các dân tộc, tạo những điều kiện cần thiết để xóa bỏ tận gốc sự chênh lệch về trình độ kinh tế, văn hóa giữa các dân tộc ít người và dân tộc đông người, đưa miền núi tiến kịp miền xuôi, vùng cao tiến kịp vùng thấp, làm cho tất cả các dân tộc đều cócuộc sống ấm no, hạnh phúc, đều phát triển mọi mặt, đoàn kết giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, cùng làm chủ tập thể Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa" [13, tr 164]
Đối với tiếng nói và chữ viết dân tộc: Chính sách của Đảng và Nhà nước ta là tôn trọng tiếng nói, chữ viết của tất cả các dân tộc, và tất cả các dân tộc sống trên lãnh thổ Việt Nam đều phải học và dùng tiếng phổ thông và chữ quốc ngữ là ngôn ngữ chung của cả nước để có điều kiện mau chóng tiếp thu kiến thức văn hóa, khoa học kỹ thuật
Tích cực đào tạo cán bộ dân tộc ở địa phương, đồng thời điều thêm cán bộ nơi khác tăng cường cho các vùng dân tộc Tiếp thu lựa chọn, giáo dục và sử dụng hợp lý những công chức và trí thức dân tộc ít người do chế độ cũ để lại Trong Đảng cũng như trong nhân dân, phải tiếp tục phê phán, khắc phục những tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi, tâm lý kỳ thị dân tộc còn rơi rớt lại, những khuynh hướng biệt phái, chia rẽ dân tộc
Như vậy trong văn kiện Đại hội lần thứ IV, những nội dung về chính sách dân tộc khá toàn diện và cụ thể, liên quan đến lĩnh vực kinh tế, văn hóa, ngôn ngữ, chữ viết, đào tạo cán bộ dân tộc thiểu số Vấn đề dân tộc được đặt lên vị trí có tính
Trang 20chiến lược trong cách mạng Việt Nam Điều này chứng tỏ Đảng cộng sản Việt Nam
rất coi trọng đến vấn đề dân tộc
Tháng 3 năm 1982, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng, vấn
đề dân tộc và việc thực hiện chính sách dân tộc được Đảng khẳng định:
Đặc biệt ở vùng biên giới, vùng dân tộc, phải kiên trì phát động quần chúng, làm cho đồng bào phân rõ địch ta, kiên quyết và kịp thời đập tan những âm mưu hành động của địch hòng chia rẽ dân tộc, kích động bạo loạn, phá rối an ninh Thi hành tốt chính sách đoàn kết và bình đẳng dân tộc, đẩy mạnh công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa
và xây dựng chủ nghĩa xã hội nhằm nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của đồng bào cácdân tộc [15, tr 46]
Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật, tại Đạihội VI của Đảng (1986), Đảng đã nghiêm khắc kiểm điểm tình hình mọi mặt và đề ra đường lối đổi mới toàn diện, mở ra bước ngoặt trong quá trình đi lên của cách mạng Việt Nam
Trong thời kỳ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, chính sách dân tộc của Đảng nhằm hướng tới sự phát triển mối quan hệ tốt đẹp giữa các dân tộc trên cơ sở bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc Báo cáo chính trị của Đại hội VI đã
Cụ thể hóa đường lối của Đại hội VI, ngày 27/7/1989, Bộ chính trị ra nghị quyết số
22-NQ/TW về một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi
Ngày 13/3/1990, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 72-HĐBT
về một số chủ trương, chính sách cụ thể phát triển kinh tế - xã hội miền núi
Thực hiện nghị quyết số 22 của Bộ chính trị và Quyết định số 72-HĐBT, Nhà nước đã quan tâm tăng mức đầu tư phát triển kinh tế - xã hội cho các dân tộc ở miền núi, đặc biệt là vùng cao, vùng xa xôi hẻo lánh, vùng căn cứ cũ theo các
Trang 21chương trình, dự án Do đó, tình hình kinh
tế, văn hóa, xã hội ở nhiều địa phương
miền núi đã có bước chuyển biến mới
Tiếp tục thực hiện những quan điểm của Đại hội VI, Đại hội VII của Đảng (1991) khẳng định:
Đoàn kết, bình đẳng giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc, cùng xây dựng cuộc sống
ấm no hạnh phúc, đồng thời giữ gìn và phát huy bản sắc tốt đẹp của mỗi dân tộc là chínhsách nhất quán của Đảng và nhà nước ta Có chính sách phát triển kinh tế hàng hóa ở các vùng dân tộc thiểu số phù hợp với đặc điểm và điều kiện từng vùng, từng dân tộc, bảo đảm cho đồng bào các dân tộc khai thác được thế mạnh của địa phương để làm giàu cho mình và đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước Tôn trọng tiếng nói và
có chính sách đúng đắn về chữ viết đối với các dân tộc Đặc biệt có chính sách khắc phục tình trạng suy giảm dân số đối với một số dân tộc ít người [17, tr 77]
Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng (1996) tiếp tục nhấn mạnh:
Thực hiện bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Xây dựng Luật dân tộc Từ nay đến năm 2000, bằng nhiều biện pháp tích cực và vững chắc, thực hiện cho được ba mục tiêu: Xóa được đói, giảm được nghèo, ổn định và cải thiện được đời sống, sức khỏe của đồng bào các dân tộc, đồng bào vùng cao, vùng biên giới; xóa được mù chữ, nâng cao dân trí,tôn trọng và phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của các dân tộc; xây dựng được cơ sở chínhtrị, đội ngũ cán bộ và Đảng viên của các dân tộc ở các vùng, các cấp trong sạch, vững mạnh [19, tr 125-126]
Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (4/2001) chỉ rõ:
Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc luôn luôn có vị trí chiến lược trong
sự nghiệp cách mạng Thực hiện tốt các chính sách, các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ nhau cùng phát triển; xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội, phát triển sản xuất hàng hóa, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, xóa đói, giảm nghèo, mở mangdân trí, giữ gìn, làm giàu và phát huy bản sắc văn hóa và truyền thống tốt đẹp của các dân tộc; thực hiện công bằng xã hội giữa các dân tộc, giữa
Trang 22miền núi và miền xuôi, đặc biệt quan tâm vùng gặp nhiều khó khăn, vùng trước đây
là căn cứ cách mạng và kháng chiến Tích cực thực hiện chính sách ưu tiên trong việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ dân tộc thiểu số Động viên, phát huy vai trò của những ngườitiêu biểu, có uy tín trong dân tộc và ở địa phương Chống kỳ thị, chia rẽ dân tộc, chống
tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi, dân tộc cực đoan; khắc phục tư tưởng tự ti, mặc cảm dân tộc [12, tr 670-671]
Thực hiện Nghị quyết Đại hội IX của Đảng, tháng 1/2003, Hội nghị lần thứ 7 Ban
Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) thông qua Nghị quyết số 24-NQ/TW về công tác dân tộc Nghị quyết khẳng định: Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc được coi là vấn đề
chiến lược cơ bản, lâu dài đồng thời là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển, phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Kiên quyết đấu tranh chống mọi
âm mưu chia rẽ dân tộc Phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh - quốc phòng trên địa bàn miền núi; gắn tăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện chính sách dân tộc
Nghị quyết đề ra mục tiêu cụ thể đến năm 2010: phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống đồng bào các dân tộc; nâng cao trình độ dân trí, chăm sóc sức khỏe, nâng cao mức hưởng thụ văn hóa của đồng bào; xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số tại chỗ có phẩm chất và năng lực đáp ứng được yêu cầu của địa phương, giữ vững an ninh, quốc phòng ở vùng dân tộc và miền núi
Quan điểm của Đảng về vấn đề dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc theo tinh thần Nghị quyết Đại hội IX và Nghị quyết 24 của Bộ Chính trị tiếp tục được
Đại hội lần thứ X của Đảng (2006) khẳng định:
"Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc có vị trí chiến lược lâu dài trong sự
nghiệp cách mạng nước ta Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng tiến bộ; cùng nhau thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Phát triểnkinh tế, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, xóa đói giảm nghèo, nâng cao trình độ dân trí, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, tiếng nói, chữ viết và truyền thống tốt đẹp của các dân tộc Thực hiện tốt chiến lược phát triển kinh
Trang 23tế - xã hội ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng căn cứ cách mạng;
làm tốt công tác định canh, định cư và xây dựng vùng kinh tế mới Quy hoạch, phân bổ, sắp xếp lại dân cư, gắn phát triển kinh tế với bảo đảm an ninh, quốc phòng Củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số; động viên, phát huy vai trò của những người tiêu biểu trong các dân tộc Thực hiện chính sách ưu tiên trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, trí thức là người dân tộc thiểu số Cán bộ công tác ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi phải gần gũi, hiểu phong tục tập quán, tiếng nói của đồng bào dân tộc, làm tốt công tác dân vận Chống các biểu hiện kỳ thị, hẹp hòi, chia rẽ dân tộc" [23, tr 121-122]
Nhìn lại đường lối của Đảng về vấn đề dân tộc và việc thực hiện chính sách dân tộc qua các kỳ Đại hội, ta thấy rằng chính sách dân tộc của Đảng dựa trên ba nguyên tắc
cơ bản đó là : đoàn kết - bình đẳng - tương trợ."Đoàn kết - bình đẳng - tương trợ giữa các dân tộc‟‟, ba nguyên tắc cơ bản này có quan hệ hữu cơ với nhau, tác động qua lại với nhau thành một thể thống nhất, vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển Có bình đẳng thì mới thực hiện được đoàn kết dân tộc; có đoàn kết, giúp nhau cùng phát triển thì mới thực hiện được bình đẳng dân tộc Trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, chính sách dân tộc đã thực sự trở thành cương lĩnh hành động thu hút hàng chục triệu nhân dân thuộc các tầng lớp, giai cấp, dân tộc, kết thành sức mạnh tổng hợp để đánh bại kẻ thù là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược Ngày nay, trong thời kỳ đổi mới,
cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện các nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ nhau giữa các dân tộc là để các dân tộc cùng phát triển
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Thanh Sơn
* Điều kiện tự nhiên
Thanh Sơn là một trong những huyện miền núi, thuộc phía Tây Nam của tỉnh Phú Thọ, nơi có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống trong đó dân tộc Mường chiếmhơn 60% dân số của huyện Phía Bắc Thanh Sơn giáp hai huyện Tam Nông và Yên Lập, phía Nam giáp tỉnh Hòa Bình, phía Tây giáp huyện Tân Sơn, phía Đông giáp huyện Thanh Thủy và tỉnh Hòa Bình
Trang 24Địa hình Thanh Sơn khá phức tạp, bị chia cắt bởi nhiều dãy núi cao và sông suối, trong đó có núi Lưỡi Hái và sông Vàng chạy bao quanh các xã trong toàn huyện Địa hình nghiêng từ Tây sang Đông, có thể chia thành 3 tiểu vùng: vùng núi cao tập trung
ở phía Tây, vùng đồi núi cao xen lẫn với vùng đồi núi thấp tập trung chủ yếu ở phía Bắc, vùng núi thấp tập trung ở phía Đông và Đông Nam cùng những thung lũng chạy dọc theo các con sông, độ cao trung bình từ 500m đến 700m
Đặc điểm khí hậu thủy văn, Thanh Sơn nằm trong vùng núi phía Bắc nước ta, có khí hậu nhiệt đới gió mùa và là miền núi cao, có nhiều núi đá vôi, khí hậu của Thanh Sơn mang đặc điểm của vùng núi Tây Bắc, song cũng có những đặc điểm riêng, mát hơn cácvùng lân cận, độ ẩm tương đối, nhiệt độ trung bình từ 22,5°C-23,5°C, biên độ nhiệt trong năm có sự dao động trên 10°C và trong ngày từ 6°C-7°C Mùa nóng nhiệt độ tuyệt đối lên khoảng 39°C-40°C (vào khoảng tháng 6, tháng 7 trong năm), mùa lạnh nhiệt độ thấp tuyệt đối khoảng 7°C-8°C (tháng Chạp) Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến hết tháng 10 Chế độ mưa ở Thanh Sơn khá phong phú, lượng mưa hàng năm khoảng 2300- 2400 mm
Độ ẩm tương đối, trung bình hàng năm 85-87%, cao nhất vào tháng 6,7,8 đạt khoảng 87-88%; thấp nhất vào khoảng tháng 1,2,3, đạt khoảng 81%; ranh giới mùa mưa
và mùa khô tương đối không rõ rệt Lượng mây trung bình 6,5/10, cuối mùa đông lên tới 8-9/10 và ít nắng Các hướng gió phụ thuộc vào địa hình Tốc độ gió trung bình 1-1,3m/s, có hiện tượng sương mù nhưng không lớn
Mạng lưới sông suối trên địa bàn huyện khá nhiều nhưng nhỏ và ngắn như: sôngBứa, sông Dân, suối Cái xã Yên Lương, ngòi Lạt xã Lương Nha và nhiều suối nhỏ khác,
là nguồn tài nguyên nước dồi dào phục vụ cho sản xuất và đời sống
Thanh Sơn có tiềm năng lớn về đất đai, nhất là đất đồi rừng, diện tích rừng lớn, độ che phủ cao Tổng diện tích tự nhiên là 62.177,06 ha trong đó có 45.724,23 ha đất nông nghiệp (chiếm 73,54%); có 4.672,39 ha là đất phi nông nghiệp (chiếm 7,51%) và
11.780,44 ha đất chưa sử dụng (chiếm 18,95%); ngoài diện tích đất dốc và phù sa thích hợp với cây hàng năm, còn có tới 80% diện tích đất feralit phát triển trên phiến thạch sét có
độ phì tự nhiên khá và rất thích hợp đối với cây lâu năm và
cây lâm nghiệp [78, tr.3]
Trang 25Nguồn tài nguyên rừng rất phong phú với nhiều loại gỗ quý như đinh, lim, dổi, nghiến, chò chỉ, sến, táuhàng năm cung cấp được hàng ngàn m3 gỗ Rừng ở đây còn cung cấp nhiều loại cây công nghiệp (tre, nứa, mây), cây dược phẩm (sa nhân, đẳng sâm) Rừng Thanh Sơn cũng có nhiều động vật quý như khỉ, gà, lợn, rừng Hệ sinh thái rừng đa dạng
Tài nguyên khoáng sản nhiều, có trữ lượng khá lớn gồm pirit, quắc zít, cao lanh, sắt, thanNgoài ra còn có nhiều mỏ đá có thể khai thác làm vật liệu xây dựng cho giao thông, xây dựng và sản xuất vôi, xi măng
Nhìn chung Thanh Sơn là địa bàn có điều kiện địa hình thuận lợi, giàu tiềm năng phát triển nông, lâm nghiệp với địa hình 2/3 diện tích là đồi núi đem lại, mở mang các cụm công nghiệp, đa dạng các loại hình kinh doanh, dịch vụ và du lịch, tạo đà thúc đẩy xây dựng Thanh Sơn thêm giàu mạnh, văn minh Tuy nhiên, bên cạnh những mặt thuận lợi vẫn còn nhiều khó khăn bởi điều kiện địa lý, điều kiện tự nhiên của huyện Thanh Sơn nói riêng, nước ta nói chung luôn mang những yếu tố khắc nghiệt, thiên tai dịch bệnh diễn biến phức tạp đã tác động ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống của người dân Do đó có thể khẳng định những đặc điểm địa lý tự nhiên trên đã ít nhiều tác động đến việc chỉ đạo tổ chức thực hiện chính sách dân tộc của Đảng bộ huyện Thanh Sơn
* Đặc điểm kinh tế - xã hội
Do nằm ở cuối của dãy Hoàng Liên Sơn (dãy núi lớn nhất miền Bắc) nên phần lớn diện tích tự nhiên của huyện Thanh Sơn là núi cao, đồi gò, núi thấp Địa hình, địa mạo Thanh Sơn khá phong phú, có nhiều tài nguyên, khoáng sản và tiềm năng để phát triển kinh tế đa dạng nhất là công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản, kinh tế đồi rừng và du lịch sinh thái
Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật, hạ tầng cơ sở của huyện đã và đang được xây dựng ngày càng hiện đại hơn Là một trong những cửa ngõ quan trọng của miền Tây Bắc nối liền với đồng bằng Bắc bộ và Thủ đô Hà Nội, nên giao thông của Thanh Sơn khá thuận lợi với nhiều tuyến đường chạy qua được cải tạo và nâng cấp: Quốc lộ 32A (Hà Nội - Sơn La - Lai Châu); quốc lộ 70B (Yên Lập - Thanh Sơn - Hòa Bình), tỉnh lộ
317 (Thanh Thủy -Tinh Nhuệ - Hòa Bình) tạo điều kiện mở
19
Trang 26rộng giao lưu kinh tế - xã hội với các miền, vùng của Tổ quốc Đến nay 100% các
xã trong toàn huyện có đường ô tô đến trung tâm; tỷ lệ hộ được sử dụng điện lưới quốc gia trên toàn huyện đạt 99%, số hộ sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh đạt
88%, số phòng học được xây dựng kiên cố đaṭ 83,7%; xây mới 70 nhà sinh hoạt cộng đồng cho cac thôn ban, đầu tư 04 công trình nước sinh hoạt tự chảy cho đồng bào
Trong những năm qua tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm đạt hơn 12% Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, trong đó công nghiệp - xây dựng cơ bản 40,2%,nông - lâm - thủy sản 28,1% Thu nhập bình quân đầu người đạt 12,66 triệu
đồng/người/năm
Kinh tế nông nghiệp có nhiều chuyển biến Là huyện miền núi nên Thanh
Sơn hết sức chú trọng phát huy thế mạnh đất đai và nguồn tài nguyên rừng, hoàn thành việc giao đất, giao rừng, đảm bảo mọi diện tích rừng đều có chủ thể quản lý và sử dụng
có hiệu quả Trên cơ sở đó hình thành và phát triển các tập đoàn cây lâm nghiệp bản địa, cây phòng hộ kiêm khai thác kinh tế, cây công nghiệp, cây nguyên liệu giấy, sợi, cây ăn quả Từng bước xây dựng các trang trại tập trung lớn, sản xuất kinh doanh theo mô hình nông lâm kết hợp có thu nhập cao từ sản xuất gỗ dân dụng, nguyên liệu, chăn nuôi đại gia súc, gia cầmTổng sản lượng lương thực đạt 47.922 tấn Chăn nuôi thủy sản phát triển mạnh, diện tích nuôi trồng thủy sản đạt 360 ha, sản lượng khai thác đạt 865,9 tấn Cây chè chiếm trên 1/3 diện tích chè toàn tỉnh Phú Thọ, năng suất bình quân đạt 90,5 tạ/ ha, luôn được xác định là cây kinh tế chủ lực góp phần xóa đói, giảm nghèo và đang là cây làm giàu ở Thanh Sơn
Sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp của huyện đang trên đà phát triển vàduy trì tốc độ tăng trưởng khá Với nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú như cao lanh,
đá vôi, quắc zíttạo ra khả năng phát triển công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản, sản xuất vật liệu xây dựng, phát triển các cụm công nghiệp tại khu vực thị trấn Thanh Sơn, các xã: Giáp Lai, Địch Quả, Hương Cầnđể thu hút thêm vốn đầu tư Xây dựng các làng nghề chế biến hàng thủ công, làng nghề mộc Phú Hà sữa chữa công cụ Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp duy trì được
sự tăng trưởng Giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân hang năm đaṭ12,3%/ năm
Trang 27Thương mại dịch vụ tăng trưởng bình quân 15%/ năm Tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội tăng bình quân 19,6%/ năm Huyện
tổ chức các hội chợ thương mại tại xã Hương Cần, Văn Miếu và thị trấn Thanh Sơn góp phần đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại nhằm tuyên truyền, quảng bá, giới thiệu tiềm năng, năng lực sản xuất kinh doanh các mặt hàng nông, lâm, thủy sản, tiểu thủ công nghiệp
Những thành công, kết quả trên đây là bước tiến dài đáng phấn khởi, tự hào của Đảng bộ và quân dân huyện Thanh Sơn, là cơ sở bền vững, tạo đà, tạo thế mới để huyệnThanh Sơn hội nhập và phát triển Có được kết quả đó là nhờ vào Đảng bộ huyện đã lãnh đạo, chỉ đạo xác định đúng trọng tâm, trọng điểm trong phát triển kinh tế Do đó cơ cấukinh tế chuyển dịch đúng hướng, phát huy và khơi dậy một cách có hiệu quả các tiềm năng kinh tế và đặc biệt là tiềm năng con người Nói chung kinh tế và đời sống của nhândân huyện Thanh Sơn trong những năm qua đã có bước phát triển nhanh chóng vì vậy đời sống người dân cũng được cải thiện nhiều, tạo sự bứt phá vươn lên cùng các địa phương khác trong tỉnh thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế - xã hội đề ra
Tuy nhiên, kinh tế huyện Thanh Sơn trong thời gian qua phát triển chưa tương xứng với tiềm năng và vẫn bộc lộ một số tồn tại Tốc độ tăng trưởng kinh tế khá nhưng chưathực sự bền vững, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế còn yếu, quy mô sản xuất nhỏ, lẻ
và chưa vững chắc Cơ cấu kinh tế đã chuyển dịch đúng hướng nhưng còn chậm, chưa đi vào chiều sâu Sản xuất nông, lâm nghiệp chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của huyện, chăn nuôi trang trại theo hướng sản xuất hàng hóa còn hạn chế Tiểu thủ công nghiệp
đã có bước phát triển nhưng còn khó khăn về thị trường tiêu thụ; chưa khai thác tốt nguồn nguyên liệu và lực lượng lao động sẵn có của địa phương, tập quán canh tác lạc hậu vẫn còn tồn tại ở một số nơi Cơ cấu lao động chuyển dịch chậm, chất lượng nguồn nhân lựcchưa cao, tỷ lệ lao động qua đào tạo còn thấp Đây là những khó khăn, thách thức của Đảng bộ huyện Thanh Sơn trong quá trình thực hiện chính sách dân tộc với mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
21
Trang 281.2.2 Sinh thái nhân văn và bức tranh phân bố cƣ dân - dân tộc
* Sinh thái nhân văn
Huyện Thanh Sơn là một huyện miền núi của tỉnh Phú Thọ đã trải qua nhiều
lần thay đổi tên gọi cũng như cương vực Trong lịch sử Thanh Sơn vốn là huyện Lung thuộc châu Gia Hưng, đời Lê Hồng Đức đổi là Thanh Nguyên đến đời Mạc đổi là Thanh Xuyên Năm 1883, huyện Thanh Xuyên được chia thành 2 huyện, đó là huyện Thanh Sơn và huyện Thanh Thủy Năm 1903, là châu Thanh Sơn thuộc tỉnh Phú Thọ
Từ năm 1968, thuộc tỉnh Vĩnh Phú Năm 1996 trở lại là huyện của tỉnh Phú Thọ Ngày 09/04/2007, Chính phủ ban hành Nghị định số 61/2002/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giớihành chính huyện Thanh Sơn để thành lập huyện mới Tân Sơn Như vậy, huyện Thanh Sơn là một huyện có lịch sử lâu đời trong tỉnh và đã trải qua nhiều lần thay đổi từ cương vực địa lý đến tên gọi
Trước ngày 9/4/2007, Thanh Sơn có một thị trấn Thanh Sơn và 39 xã: Sơn Hùng, Địch Quả, Giáp Lai, Thục Luyện, Văn Miếu, Võ Miếu, Thạch Khoán, Tất Thắng, Cự Thắng, Cự Đồng, Thắng Sơn, Tân Ming, Hương Cần, Khả Cửu, Tân Lập, Đông Cửu, Yên Lãng, Yên Lương, Thượng Cửu, Lương Nha, Yên Sơn, Tinh Nhuệ, Minh Đài, Tân Phú, Kiệt Sơn, Xuân Đài, Kim Thượng, Xuân Sơn, Văn Luông, Long Cốc, Tam Thanh, Vinh Tiền
Sau khi thực hiện nghị định số 61/2007/NĐ-CP ngày 9/4/2007 của chính phủ, Thanh Sơn tách ra thành 2 huyện, Thanh Sơn và Tân Sơn Vì vậy đơn vị hành chính có
sự thay đổi từ 39 xã và 1 thị trấn là thị trấn Thanh Sơn hay còn gọi là Phố Vàng, xuống còn 23 xã và 1 thị trấn Tên gọi thị trấn là Thanh Sơn vẫn được giữ nguyên
Theo kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở, huyện Thanh Sơn có 120.000 người,được phân bố trong 23 đơn vị hành chính trực thuộc cấp dưới, mật độ dân số bình quân
188 người/km2
* Bức tranh phân bố cƣ dân - dân tộc
Khởi thủy, tuyệt đại bộ phận cư dân Thanh Sơn là người Mường, đến khoảng thế kỷ XVII - XVIII một bộ phận người Mường từ Hòa Bình, Thanh Hóa và người Dao
ở nhiều nơi chuyển đến sinh sống Liên tục sau đó, một bộ phận người Kinh
Trang 29ngoài huyện, ngoài tỉnh vào khai khẩn đất hoang, giao thương buôn bán định cư ở
vùng thấp và các trục giao thông chính Đầu thế kỷ XX, cộng đồng người Kinh được
bổ sung đông đúc hơn do các chủ điền, chủ mỏ chiêu mộ tá điền, phu mỏ từ vùng xuôi lên Đồng thời có một bộ phận người Nùng, người Tày từ Cao Bằng, Lạng Sơn đến làm
tá điền theo sự chiêu mộ của địa chủ người Hoa
Theo lời kêu gọi của Đảng, từ cuối những năm 1950 đến năm 1986 nhiều đợt bà con
từ Hải Phòng, Hà Nội, Hà Nam, Thái Bình, Hải Dương, Hà Tây hay bà con từ các huyện Lâm Thao của Phú Thọ, Vĩnh Tường, Yên Lạc của Vĩnh Phúc đã đến với Thanh Sơn theo chủ trương phát triển kinh tế - xã hội miền núi
Cũng từ đó đến nay, nhiều nông - lâm trường - xí nghiệp, các cơ quan hành chính, sự nghiệp được thành lập đã thu hút các con em từ mọi miền Tổ quốc đến với Thanh Sơn Đặc biệt năm 1958, Thanh Sơn được tiếp nhận hàng ngàn cán bộ, chiến sỹ của Trung đoàn 96 thuộc Sư đoàn 305 với hầu hết là người các tỉnh Nam Trung Bộ để thành lập Nông trường Quốc doanh Phú Sơn (tiền thân của liên doanh Chè Phú Đa hiện nay)
và nhiều bà con là Việt Kiều ở Thái Lan về nước
Đất đai mầu mỡ, giao thông thuận lợi, con người sống chan hòa, thân thiện nên suốt mấy chục năm qua có nhiều người từ khắp nơi đến với Thanh Sơn để làm ăn, sinh sống, định cư lâu dài
Cùng mạch chảy của nền văn hóa, do nhiều yếu tố lịch sử có một bộ phận người Kinh đến sinh sống ở vùng người Mường, người Dao đã được tiếp biến vào các nền văn hóa đó, đổi họ và hòa nhập vào cộng đồng người sở tại, nhận là người Mường, người Dao và có các sinh hoạt tinh thần, vật chất giống như người dân tộc thiểu số thực thụ Hiện nay toànhuyện có trên 120.000 khẩu là nơi quần cư của 16 dân tộc cùng chung sống trong đó dân tộc thiểu số chiếm 61% (dân tộc Mường 56,9%; dân tộc Kinh 39,1%; dân tộc Dao 3,4%; dân tộc Tày 0,27% và các dân tộc Hmông, Sán dìu, Thái, Nùng) sinh sống hòa đồng trong các bản người Mường, bản người Dao Điều đó cho thấy dân số của các dân tộc trên địa bàn huyện không đồng đều
Các dân tộc ở đây không có lãnh thổ tộc người rõ rệt, họ sống xen kẽ với nhau Đây được xem là hình thức cư trú phổ biến của các dân tộc huyện Thanh Sơn Tuy vậy mỗi dân tộc đều có những vùng quần tụ đông đảo của mình được phân bổ
rõ rệt theo từng đơn vị xã khác nhau Cụ thể như sau:
Trang 30Thị trấn Thanh Sơn là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của huyện là nơi quần cư của 10 dân tộc anh em với dân số hơn 15.000 người phân bố ở 16 khu dân cư, trong đó người Kinh chiếm 75,64%, Mường chiếm 17,2%; còn lại là các dân tộc Tày, Dao, Thái, Hoa, Nùng, Sán Chỉ, Thổ
Xã Cự Đồng với 4560 nhân khẩu là nơi sinh sống của 5 dân tộc : Mường
chiếm 66,81%, Kinh chiếm chiếm 32,86%, còn lại là các dân tộc Dao, Tày, Thái
Xã Cự Thắng với 5.370 nhân khẩu, gồm 4 dân tộc anh em sinh sống ở 15 khu
dân cư Trong đó, dân tộc Mường 58%, Kinh 42%, còn lại là 2 dân tộc Dao và Tày
Xã Địch Quả với 7.088 nhân khẩu phân bố ở 19 khu dân cư với 5 dân tộc anh em: Kinh 50%, Mường 46%, còn lại là các dân tộc Dao, Hoa, Tày
Xã Đông Cửu có các dân tộc Mường 93,5%, Kinh 3,7%, Dao 2,6% và một số dân tộc Thổ, Tày, Dáy
Xã Giáp Lai cư dân chủ yếu là dân tộc Mường,
Xã Hương Cần gồm dân tộc Mường chiếm 69,4%, Kinh 26,88%, Dao
1,47%, còn lại là dân tộc Tày, Cao Lan
Xã Khả Cửu có 3 dân tộc anh em cùng sinh sống: Mường 84,3%, Kinh
Trang 31Xã Thục Luyện: Kinh 60%, Mường 38%, còn lại là các dân tộc Dao, Tày, Nùng, Thổ, Hoa
Xã Thượng Cửu với 4 dân tộc anh em, Mường trên 80%, Dao 10%, còn lại là 2 dân tộc Kinh và Tày
Xã Tinh Nhuệ với 6 dân tộc Kinh, Mường, Thái, Sán Dìu, Dao, Thổ trong đó chủ yếu là người Mường
X ã V ă n M i ế u có 3 dâ n t ộ c , Mư ờ n g c hi ế m 7 5 % , K i n h c hi ế m 2 2 % , D a o chiếm 3%
Xã Võ Miếu người Kinh chiếm 48%, Mường 47%, còn lại là các dân tộc Dao, Nùng
Xã Yên Lãng có 6 dân tộc sinh sống, Mường chiếm 83%, còn lại là dân tộc Kinh, Dao, Sán Dìu, Tày, Nùng
Xã Yên Lương có 5 dân tộc, Mường 69,1%, Dao 13,1%, Kinh 13,8%, còn lại là dân tộc Tày, Sán Dìu
Xã Yên Sơn có 3 dân tộc, Mường chiếm 48%, Kinh 35%, Dao 17%
Việc phân bố dân cư như trên cho thấy dân số của các dân tộc trên địa bàn huyện không đồng đều, trong đó người Mường chiếm số đông nhất gần 60% dân số toàn huyện Thực tế cũng cho thấy các dân tộc ở đây phát triển không đồng đều về kinh tế - xãhội Đây là tình trạng khá phổ biến không chỉ ở riêng huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ màcòn là tình trạng chung trong cả nước Việt Nam và các nước đa dân tộc trên thế giới Trước cách mạng tháng Tám năm 1945, các dân tộc ở Thanh Sơn nói riêng và Việt Nam nói chung ở những giai đoạn phát triển khác nhau, chẳng hạn ngoài quan hệ phong kiến,
xã hội của người Kinh đã xuất hiện những yếu tố tư bản chủ nghĩa, trong khi đó ở vùng cao, các dân tộc thiểu số còn rất lạc hậu Do nguyên nhân lịch sử để lại các dân tộc nước
ta tiến lên xây dựng cuộc sống mới từ những xuất phát điểm không giống nhau về kinh tế,
xã hội Các dân tộc trên địa bàn huyện Thanh Sơn có sự phát triển kinh tế - xã hội không đều nhau giữa vùng cao và vùng thấp Ví như người Kinh mặc dù không chiếm tỉ lệ cao như người Mường, nhưng từ lâu đời đã cư trú chủ yếu ở vùng thấp, trung tâm buôn bán
do đó họ có nhiều kinh nghiệm trong trồng lúa nước và làm thủy lợi, vì thế đời sống kinh
tế - xã
Trang 32hội của họ cao hơn các dân tộc khác rất nhiều Trong khi đó người Dao cư trú chủ
yếu ở vùng núi cao, là nơi có điều kiện tự nhiên khó khăn, khắc nghiệt nên đời sống kinh tế
- xã hội của dân tộc này còn thấp
Khắc phục sự phát triển không đồng đều về kinh tế - xã hội giữa các dân tộc
là một nhiệm vụ quan trọng của chính sách dân tộc của nước ta Sau gần 30 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, tình hình kinh tế - xã hội ở các vùng dân tộc thiểu số tuy
đã có bước phát triển đáng kể Song chúng ta vẫn phải thừa nhận một thực tế khách quan
là giữa các dân tộc thiểu số với nhau cũng như giữa các dân tộc thiểu số với đa số, trình
độ phát triển kinh tế - xã hội còn nhiều khoảng cách và chênh lệch Vì vậy việc cân bằng tương đối trình độ phát triển kinh tế - xã hội của các dân tộc trên địa bàn huyện là thách thức vô cùng to lớn đối với Đảng bộ huyện Thanh Sơn trong quá trình thực hiện chính sách dân tộc
1.2.3 Văn hóa các dân tộc thiểu số rất phong phú và đa dạng
Mỗi dân tộc của Việt Nam đặc biệt là các dân tộc thiểu số dù số dân ít ỏi đến
đâu, dù trình độ phát triển kinh tế - xã hội có thấp đến mấy cũng đều có những sắc thái văn hóa riêng, độc đáo Văn hóa của các dân tộc bao gồm nhiều nội dung: ngôn ngữ, chữ viết, văn học nghệ thuật, ăn, ở, mặc, đi lại, phong tục, tập quánNgôn ngữ của các dântộc Việt Nam thuộc 8 nhóm ngôn ngữ khác nhau trong đó tiếng việt được xem là ngôn ngữ chính, là phương tiện giao tiếp của tất cả các dân tộc, cũng là công cụ xây dựng ý thức đoàn kết dân tộc Bên cạnh đó tiếng mẹ đẻ của mỗi dân tộc vẫn được duy trì, giúp xây dựng và duy trì được bản sắc văn hóa riêng cũng như ý thức riêng của từng dân tộc
Ở Thanh Sơn do nhu cầu giao tiếp và lối sống xen kẽ, nhiều dân tộc thiểu số sử dụng song ngữ hay đa ngữ Đến nay, các dân tộc thiểu số còn lưu trữ được nhiều tri thức văn hóa dân gian, dân ca, múa, lễ hội Các loại hình nghệ thuật này có giá trị cao như Lễ cơm mới, Hội ném còn, chàm thau (đánh trống đồng), chàm đuống (đâm đuống) của người Mường, hát lượn của người Tày, hát Sông cô của người Sán Dìu, tết nhảy của người Dao, tập tục ở nhà sàn, tang ma của người Mường, lễ Cấp sắc của người Dao được xem là nghi lễ quan trọng nhất trong phong tục tín ngưỡng của họ
Trang 33Nhìn chung các dân tộc thiểu số ở Thanh Sơn từ đồng bào Kinh, Mường,
Dao đến các dân tộc Tày, Thái, Sán Chayđều gìn giữ được những truyền thống văn hóa tốt đẹp, góp thêm những nét tinh tế trong bức tranh văn hóa các dân tộc Thanh Sơn và
tô đậm bản sắc của núi rừng, con người Tây Bắc: vừa phóng khoáng, vừa mộc mạc, trữ tình Chính những nét văn hóa riêng đó đã tạo nên sự phong phú, đa dạng và đậm đà bản sắc dân tộc cho nền văn hóa Việt Nam
1.2.4 Quá trình thực hiện chính sách dân tộc trước năm 2007 của Đảng
bộ huyện Thanh Sơn
- Thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, Thanh Sơn luôn giữ vị trí chiến lược quan trọng, là vành đai bảo vệ trung tâm tỉnh lị Phú Thọ từ phía Nam, là cửa ngõ quan trọng nối liền Tây Bắc với đồng bằng sông Hồng Nhân dân các dân tộc Thanh Sơn nồng nàn yêu nước, mỗi khi đất nước đứng trước họa ngoại xâm, dưới sự lãnh đạo của Đảng,
từ già trẻ, gái trai đều nhất tề đứng lên chiến đấu anh dũng giành độc lập, tự do cho dân tộc
Thực hiện chủ trương của Đảng và của Huyện ủy, đồng bào các dân tộc trong huyện Thanh Sơn tích cực tham gia các phong trào cách mạng, củng cố và phát triển các cơ sở Đảng, tổ chức quần chúng cách mạng, đấu tranh chống bắt phu, bắt lính, đòi giảm sưu thuế, chống đánh đập, đòi chia lại ruộng đất, các phong trào quyên góp ủng hộcách mạng, tham gia xây dựng lực lượng, xây dựng khối đoàn kết dân tộc, phát huy sứcngười, sức của từng bước đưa phong trào cách mạng của
huyện từ thấp đến cao, tiến lên khởi nghĩa giành chính quyền khi thời cơ đến
Tháng 12/1946, những đảng viên đầu tiên được kết nạp sinh hoạt ghép trong Chi bộ Nông-Sơn-Thủy (Tam Nông, Thanh Sơn, Thanh Thủy) Đến tháng 5/1947, Chi
bộ Đảng huyện Thanh Sơn được thành lập với tổng số là 8 Đảng viên
Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Thanh Sơn trở thành vùng chiến sự nóng bỏng của tỉnh Phú Thọ nói riêng và cả vùng Tây Bắc nói chung Dưới sự lãnh đạo tập trung của Tỉnh ủy Phú Thọ, hoạt động kháng chiến và ủng hộ kháng chiến của đồng bào dân tộc thiểu số trong huyện diễn ra rộng khắp
Trang 34Để đập tan chính sách chia rẽ dân tộc, chia rẽ tôn giáo, thiết lập Ngụy quân - Ngụy quyền, "lấy người Việt đánh người Việt", hàng trăm cán bộ người thiểu số cùng cán bộ cấp trên về tăng cường đã bí mật thâm nhập vùng địch tạm chiếm để xây dựng các làng, xã chiến đấu, hướng dẫn dân sơ tán, tuyên truyền vạch trần âm mưu của địch, động viên nhân dân vững tâm vào thắng lợi của kháng chiến Cuối tháng 11/1950 lực lượng địch ở Đồn Cố (Thục Luyện) phải rút chạy, Thanh Sơn hoàn toàn giải phóng
Tiêu biểu cho hoạt động thi đua yêu nước tham gia kháng chiến thời kỳ này là đồng bào các xã Võ Miếu, Văn Miếu, Tân Lập, Tân Minh, Hương Cần, Sơn Hùng, Thục Luyện, Địch Quả, Thạch Khoán Đại diện các tấm gương tiêu biểu trong tham gia kháng chiến và xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc là: Đinh Công Vận (Thạch Khoán), Đinh Công Chân (Thục Luyện), Phan Bá Cầm (Yên Sơn), Nguyễn Bá Tung (Giáp Lai), Đinh
Võ Quân (Tân Minh), Đinh Văn Đường (Tân Lập), Hà Thị Ninh, Hà Văn Mai (Võ Miếu) [69, tr.5]
- Thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và kháng chiến chống Mỹ
Kháng chiến chống Pháp thắng lợi, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, nhân dân Thanh Sơn cùng miền Bắc bắt tay vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc vàtiếp tục kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam đi đến thống nhất đất nước
Hòa vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, huyện Thanh Sơn thực hiện cuộc Vận động giảm tô, Cải cách ruộng đất bên cạnh những thành tựu đạt được
là cơ bản, huyện cũng mắc phải một số sai lầm, làm xuất hiện sự rạn nứt khối đại đoàn kết các dân tộc Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Phú Thọ, nhiều đợt giáo dục sinh hoạt chính trị,
tư tưởng rộng lớn liên tiếp được tiến hành; qua đó một số xích mích giữa một bộ phận nhỏ người Dao với người Mường, người Dao Tiền với người Dao Đỏ, giữa đông đảo nhân dân với những người lầm đường, lạc lối được giải quyết triệt để; mối quan hệ, tình đoàn kết các dân tộc được củng cố một bước, nhân dân phấn khởi bắt tay khôi phục và bước đầu phát triển kinh tế
Trong kháng chiến chống Mỹ, thực hiện lời kêu gọi thiêng liêng của Hồ Chí Minh "Không có gì quý hơn độc lập tự do" hàng ngàn lượt thanh niên các dân tộc của huyện đã hăng hái tòng quân lên đường đánh giặc; có hàng trăm lá đơn tình nguyện
Trang 35viết bằng máu, có gia đình xin cho cả hai con cùng nhập ngũ một đợt Hàng chục ngàn tấn lương thực, hàng ngàn tấn thực phẩm được chắt chiu, gom góp gửi cho tiền tuyến với tinh thần "Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người" Thanh Sơn luôn làhuyện hoàn thành các nghĩa vụ đóng góp đối với Nhà nước
Thi đua với tiền tuyến lớn, nhiều hoạt động chiến đấu, phục vụ chiến đấu và lao động sản xuất ở hậu phương diễn ra sôi nổi rộng khắp: phong trào thi đua áp dụng khoahọc kỹ thuật, xây dựng hợp tác xã nông nghiệp bậc cao, phát triển kinh tế tập thể, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh thực hiện tốt phong trào "Ba sẵn sàng", Hội phụ nữ thi đua thực hiện phong trào "Ba đảm đang" với quyết tâm "Mỗi người làm việc bằng hai,
vì miền Nam ruột thịt", với khẩu hiệu "Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược" Phong trào thi đua được nhân dân huyện Thanh Sơn hưởng ứng mạnh mẽ, xuất hiện nhiều tập thể, cá nhân lao động tiêu biểu đạt mục tiêu "5 tấn thóc, 5 con lợn/ha gieo trồng" ở xã
Võ Miếu, Sơn Hùng, Thục Luyện, Hương Cần, Yên Lương Đồng chí Đinh Văn Xếp (Yên Lương), Hà Minh Khang (Võ Miếu) được suy tôn là Anh hùng lao động
Đất nước thống nhất, cùng cả nước nhân dân các dân tộc Thanh Sơn hồ hởi bắt tay khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội, tiến hành cải tạo và xây dựng quan hệ sản xuất mới, từng bước xây dựng cơ sở vật chất ban đầu của Chủ nghĩa xã hội Trước yêu cầu nhiệm vụ cách mạng mới, công tác dân tộc tập trung
ổn định sản xuất và đời sống, giải quyết các vấn đề xã hội do chiến tranh để lại, Ban Dân tộc đã tham mưu cho Huyện ủy kịp thời chỉ đạo giải quyết những vấn đề đặt ra ở vùng dân tộc, theo dõi kiểm tra các chính sách như: cấp thuốc chữa bệnh, muối, các chính sách miễn giảm thuế, giải quyết vấn đề tự túc lương thực Tuy còn gặp những khó khăn nhất định, thậm chí có lúc rất khó khăn nhưng cùng với sự nỗ lực của các cấp, các ngành, đồng bào dân tộc thiểu số đó vượt qua mọi thử thách, khó khăn, ổn định cuộc sống Vì thế Thanh Sơn vẫn luôn hoàn thành các chỉ tiêu nghĩa vụ đóng góp với Nhà nước trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Những đơn vị giữ vững phong trào thi đua khá toàn diện và liên tục trong thời kỳ này là Võ Miếu, Yên Lương, Hương Cần, Cự Đồng, Đông Cửu, Thục Luyện, Lâm trường Thanh Sơn, Xí nghiệp cơ khí, Trường trung học cơ sở Võ Miếu
29
Trang 36- Thời
kỳ đổi mới 1986 đến trước năm 2007
Thực hiện đường lối đổi mới toàn diện của Đảng do Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ VI đề ra, những năm qua Đảng bộ và nhân dân các dân tộc huyện Thanh Sơn đã không ngừng khắc phục mọi khó khăn, ra sức hoạt động thi đua yêu nước và củng cố khối Đại đoàn kết các dân tộc trong thời kỳ đổi mới, nỗ lực phấn đấu vươn lên giành những thắng lợi bước đầu quan trọng trên tất cả các lĩnh vực, giữ vững ổn định chính trị, nhịp độ tăng trưởng kinh tế hàng năm đạt mức khá, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện và nâng cao, giảm hộ nghèo, một bộ phận trở nên khá giả và hướng tới làm giàu
Bộ mặt nông thôn các xã vùng cao, xã đặc biệt khó khăn có nhiều thay đổi sâu sắc, hàng loạt các công trình cơ sở hạ tầng được đầu tư, xây dựng: Đường 316 (Thanh Sơn - Hòa Bình), đường Thục Luyện - Thượng Cửu, Đường Khả Cửu - Đông Cửu, Đường Văn Miếu - Hương Cần và nhiều tuyến đường liên xã khác được bê tông hóa, nhựa hóa; trường học, nhà công vụ giáo viên, bệnh viện, trạm y tế được kiên cố hóa và xây dựng cao tầng; nhiều hồ đập thủy lợi và hệ thống mương tưới tiêu được nâng cấp và xây dựng mới; nhiều hệ thống nước sạch, điện sinh hoạt được đưa vào sử dụng Hàng trăm tỷ đồng của Chương trình 134, 135 được đầu tư xây dựng hoặc trực tiếp hỗ trợ cho các hộ vùng dân tộc thiểu số, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Tóm lại, Thanh Sơn là vùng đất giàu tiềm năng phát triển nông, lâm
nghiệp, mở mang các cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, đa dạng các loại hình kinh doanh, dịch vụ và du lịch Với nhữ ng tiềm năng thiên nhi ên có sẵn, với sự phát triển mau lẹ của nền kinh tế đa dạng hóa các loại hình sản xuất trong đó lấy cây chè là nguồnsản xuất lớn chủ đạo, đem lại nhiều lợi nhuận, với những nét văn hóa riêng độc đáo của mỗi dân tộc sẽ là những thuận lợi để Đảng bộ huyện Thanh Sơn thự c hiện tốt chính sách dân tộc t rong quá trình chỉ đạo thự c hiện kể từ
khi chia tách huyện đến nay
Trước năm 2007, Đảng bộ huyện Thanh Sơn đã quán triệt sâu sắc đường lối lãnh đạo của Đảng và Nhà nước về chính sách dân tộc và đem lại nhiều kết quả
Trang 37quan trọng Kinh tế - xã hội trong vùng đồng bào dân tộc có bước phát triển; cơ sở
hạ tầng được tăng cường đầu tư; bộ mặt khu dân cư có nhiều thay đổi và khởi sắc; đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào dân tộc được cải thiện; tỷ lệ đói nghèo giảm; một
bộ phận các hộ đồng bào dân tộc xoá được nhà tạm, nhà dột nát, có đất sản xuất, đất ở và nước sinh hoạt, từng bước cải thiện nơi ở, ổn định sản xuất và đời sống; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được duy trì ổn định; hệ thống chính trị được củng cố; trình độ đội ngũ cán bộ được nâng lên
Bên cạnh những thành tựu đạt được việc thực hiện chính sách dân tộc ở Thanh Sơn vẫn còn nhiều hạn chế Cơ sở hạ tầng vừa thiếu vừa yếu, giao thông đi lại rất khó khăn; đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào còn nhiều thiếu thốn, mức hưởng thụ vềvăn hóa rất thấp, tỷ lệ hộ nghèo còn cao Đội ngũ cán bộ còn hạn chế nhiều mặt về trình
độ, năng lực Những tồn tại, yếu kém trên là những thách thức to lớn đối với Đảng bộ huyện Thanh Sơn Để công tác chăm lo đời sống đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện đạt hiệu quả cao hơn nữa, đòi hỏi Đảng bộ huyện Thanh Sơn phải tập trung, lãnh đạo, chỉ đạo với những hướng đi đúng, phù hợp với đặc điểm vùng, địa phương trong quá trình thực hiện chính sách dân tộc những năm tiếp theo
Trang 38Chương 2 CHỦ TRƯƠNG VÀ QUÁ TRÌNH CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
DÂN TỘC CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN THANH SƠN
TỪ KHI CHIA TÁCH HUYỆN ĐẾN NĂM 2014
2.1 Chủ trương của Đảng bộ huyện Thanh Sơn về thực hiện chính sách dân tộc từ năm 2007 đến năm 2014
Thanh Sơn là một huyện dân tộc miền núi đặc thù, nơi đây có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, quần cư nên công tác dân tộc và việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng luôn được Đảng bộ chú ý và đặc biệt quan tâm Thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng và Nghị quyết số 24 NQ/TW ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương về công tác dân tộc, Huyện ủy Thanh Sơn đã xây dựng Chương trình hành động, thực hiện nghị quyết 24-NQ/TW của Bộ Chính trị trong đó đề ra những mục tiêu và nhiệm vụ chính về công tác dân tộc giai đoạn 2007- 2014 là:
- Đẩy nhanh tiến độ, nâng cao chất lượng quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội
gắn với việc quy hoạch nông thôn mới, tăng giá trị sản xuất bình quân hàng năm từ 13,4% hiện nay lên 16,5% và tăng dần trong những năm tiếp theo Thu nhập bình quân từ 18 triệuđồng/người/năm trở lên Tỷ lệ hộ nghèo giảm 4%/ năm Phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, tập trung chỉ đạo các chương trình trọng điểm, tăng giá trị trị thu nhập trên một đơn vị diện tích Tiếp tục xây dựng và nhân rộng các mô hình cánh đồng mẫu lớn, mô hình kinh tế trang trại, gia trại có thu nhập cao Xác định cây gỗ nguyên liệu là một trong nhóm cây mũi nhọn trong phát triển lâm nghiệp bên cạnh cây bản địa đa dạng
Phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp theo hướng tăng quy mô sản xuất, đưa giá trị sản xuất công nghiệp, xây dựng chiếm tỷ trọng lớn hơn trong cơ cấu kinh tế Phát triển các nghành dịch vụ trên cơ sở phát huy lợi thế trung tâm tiểu vùng kinh tế phía Nam tỉnh Phú Thọ
- Đổi mới nâng cao chất lượng và phát triển toàn diện các hoạt động văn hóa xã hội
và phát triển nguồn nhân lực Tiếp tục củng cố, hoàn thiện quy hoạch mạng lưới trường lớp, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; phát hiện, bồi dưỡng giáo
Trang 39viên giỏi, học sinh giỏi, nâng cao chất lượng thi tốt nghiệp, trúng tuyển vào các
trường cao đẳng, đại học; hoàn thành chỉ tiêu xây dựng trường đạt chuẩn Quốc gia Củng
cố phát triển mạng lưới y tế, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân, thực hiện tốt các chương trình y tế, dân số - kế hoạch hóa gia đình; bảo vệ sức khỏe bà mẹ trẻ em Đẩy mạnh các hoạt động văn hóa, thông tin, thể dục thể thao Tiếp tục nâng cao hiệu quả các cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa
ở khu dân cư", "Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại" Xây dựng quy định về văn minh công sở, thực hiện nếp sống văn hóa, văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội và mừng thọ Tập trung đào tạo nguồn nhân lực; giải quyết việc làm, giảm nghèo bền vững và đảm bảo an sinh xã hội Phát huy hiệu quả đào tạo của trường Trung cấp nghề, Dân tộc Nội trú để đào tạo nguồn nhân lực, lao động có chất lượng cao, gắn dạy nghề với giải quyết việc làm Phấn đấu mỗi năm đào tạo 5000 lao động, giới thiệu việc làm cho 70% trở lên số lao động được đào tạo
- Giữ vững ổn định chính trị, củng cố vững chắc thế trận quốc phòng - an ninh, thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng lãng phí Củng cố, xây dựng cơ quan nội chính vững mạnh, nâng cao hiệu quả hoạt động, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, đảm bảo giữ vững ổn định chính trị để phát triển kinh tế -
xã hội Thực hiện tốt nhiệm vụ quốc phòng và công tác quân sự địa phương, xây dựng, củng cố lực lượng quân đội, công an, dân quân tự vệ, dự bị động viên vững mạnh, làm thất bại âm mưu "Diễn biến hòa bình" và "Bạo loạn lật đổ" của các thế lực thù địch Đẩy mạnh phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc và đấu tranh chống tham nhũng, buôn lậu, phòng chống ma túy, buôn bán phụ
nữ trẻ em Nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra, giám sát việc thi hành pháp luật
- Đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước trong đồng bào các dân tộc thiểu số và thực hiện tốt các chính sách dân tộc; tiếp tục nâng cao nhận thức, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạocủa cấp ủy Đảng, Chính quyền từ huyện đến cơ sở Phổ biến, tuyên truyền, quán triệt sâu rộng các chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác dân tộc mà Nghị quyết hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX đã xác định các
chương trình phát triển kinh tế - xã hội đối với vùng đồng bào các dân tộc thiểu số
Trang 40- Tổ chức thực hiện tốt các cuộc vận động do các các cấp, các ngành phát động, đặc biệt là việc "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" Từ đó phát hiện những nhân tố tích cực đưa vào quy hoạch đào tạo bồi dưỡng ở từng cấp tạo nguồncán bộ là người dân tộc thiểu số tham gia công tác quản lý từ huyện đến cơ sở, đây là nhiệm vụ hết sức quan trọng đối với các cấp ủy Đảng, chính quyền Mặt trận Tổ quốc, các
tổ chức đoàn thể thực hiện ba nguyên tắc; công tác dân tộc của Đảng thực hiện bình đẳng giữa các dân tộc trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng
Để thực hiện tốt các nhiệm vụ trên, Huyện ủy Thanh Sơn đã đưa ra một
số giải pháp chủ yếu sau:
Một là, tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng về đại đoàn kết dân tộc tới toàn thể cán bộ Đảng viên, hội viên và nhân dân để khẳng định vấn đề dân tộc, công tác dân tộc và đoàn kết dân tộc có
vị trí chiến lược lâu dài trong sự nghiệp cách mạng của cách mạng nước ta nói chung vàhuyện Thanh Sơn nói riêng Tuyên truyền và thực hiện tốt ba nguyên tắc công tác dân tộccủa Đảng, thực hiện bình đẳng giữa các dân tộc trong cộng đồng, các dân tộc của huyện trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, an ninh quốc phòng
Hai là, nhận thức đầy đủ nắm vững các quan điểm của Đảng về công tác dân tộc,nắm vững các chính sách dân tộc để cụ thể hóa cho phù hợp với điều kiện thực tiễn để thựchiện phát triển toàn diện về chính trị, về kinh tế, văn hóa xã hội, quốc phòng an ninh trong từng bản làng, từng khu dân cư, từng địa bàn dân tộc miền núi Thực hiện gắn tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện cân bằng xã hội, thực hiện tốt việc tương trợ giúp đỡ nhau, các dân tộc cùng nhau phát triển, rút ngắn chênh lệch giữa các vùng miền, giữa các khu dân cư đồng bào dân tộc thiểu số
Ba là, quan tâm chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số, có kế hoạch đào tạo bồi dưỡng nguồn cán bộ dân tộc thiểu số tại các trường phổ thông, trường bán trú, trường Dân tộc Nội trú, phát hiện và bồi dưỡng đưa vào quy hoạch tạo nguồn cán
bộ từ khu dân cư đến xã, đến huyện mang tính chiến lược lâu dài