1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thuộc về nhân thân người phạm tội

95 424 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 654,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

các quyền của bị cáo phải kể đến: Lại Văn Trình năm 2011, Bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong TTHS Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Đại học Luật tp Hồ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN HẢI Lấ

MộT Số VấN Đề Lý LUậN Và THựC TIễN VÊ ĐịA Vị PHáP Lý CủA Bị CáO TRONG LUậT Tố TụNG HìNH Sự VIệT

NAM

- Trên cơ sở các số liệu thực tiễn tại địa bàn tỉnh Quảng Ninh

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT

HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN HẢI LÊ

MéT Sè VÊN §Ò Lý LUËN Vµ THùC TIÔN V£ §ÞA VÞ PH¸P Lý CñA BÞ C¸O TRONG LUËT Tè TôNG H×NH Sù VIÖT

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn bảo đảm tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi

có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Hải Lê

Trang 4

BỊ CÁO TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ 9 1.1 KHÁI NIỆM, CƠ SỞ VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC QUY ĐỊNH

ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA BỊ CÁO TRONG LUẬT TỐ TỤNG

HÌNH SỰ 9 1.1.1 Khái niệm địa vị pháp lý của bị cáo trong tố tụng hình sự 9 1.1.2 Cơ sở và ý nghĩa của việc quy định địa vị pháp lý của bị cáo

trong luật tố tụng hình sự 14

1.2 SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC QUY PHẠM

VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA BỊ CÁO TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 16 1.2.1 Các quy phạm của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam trước năm

2003 về địa vị pháp lý của bị cáo 16 1.2.2 Các quy phạm của pháp luật tố tụng hình sự về địa vị pháp lý của

bị cáo trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 24

1.3 ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA BỊ CÁO TRONG PHÁP LUẬT TỐ

TỤNG HÌNH SỰ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 25 1.3.1 Trong Bộ luật tố tụng hình sự Liên bang Nga 25 1.3.2 Trong tố tụng hình sự của Công hòa dân chủ nhân dân Trung Hoa 29 1.3.3 Trong Bộ luật tố tụng hình sự của Nhật Bản 32

Trang 5

Chương 2: THỰC TRẠNG CỦA CÁC QUY PHẠM VỀ ĐỊA VỊ

PHÁP LÝ CỦA BỊ CÁO TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG

HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VÀ THỰC TIỄN ÁP

DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH 35

2.1 THỰC TRẠNG CỦA CÁC QUY PHẠM CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA BỊ CÁO 35

2.1.1 Các quy định về địa vị pháp lý của bị cáo trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 35

2.1.2 Nhận xét các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành về địa vị pháp lý của bị cáo 46

2 2 2.3 THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY PHẠM VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA BỊ CÁO TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH 50

NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG HẠN CHẾ, BẤT CẬP TRONG VIỆC THỰC HIỆN CHẾ ĐỊNH ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA BỊ CÁO 54

Chương 3: HOÀN THIỆN MỘT SỐ VẤN ĐỀ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA BỊ CÁO TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH 58

3.1 HOÀN THIỆN CÁC QUY PHẠM VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA BỊ CÁO TẠI KHOẢN 2, 3 ĐIỀU 50 CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ 58

3.1.1 Bổ sung quyền đặt câu hỏi đối với những người tham gia tố tụng khác 58

3.1.2 Sửa đổi quy định về quyền bào chữa của bị cáo 60

3.1.3 Bổ sung quy định liên quan đến các quyền dân sự của bị cáo 64

3.1.4 Bổ sung quyền được bồi thường 65

3.1.5 Bổ sung quyền liên lạc và gặp gỡ người thân 65

3.1.6 Bổ sung nghĩa vụ chấp hành các yêu cầu của cơ quan Tòa án, có nghĩa vụ tuân theo nội quy phiên tòa 66

Trang 6

3.1.7 Bổ sung nghĩa vụ chấp hành nội quy, quy chế của nơi tạm giam đối

với bị cáo bị tam giam cũng như chấp hành sự quản lý của chính quyền địa phương đối với những bị cáo đang được tại ngoại 66 3.1.8 Bổ sung nghĩa vụ tôn trọng và thi hành bản án, quyết định của

Tòa án đã có hiệu lực pháp luật 67

3.2 HOÀN THIỆN CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA TỐ TỤNG

HÌNH SỰ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA BỊ CÁO 69 3.2.1 Bổ sung nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng hình sự 69 3.2.2 Sửa đổi, bổ sung nguyên tắc "không ai bị coi là có tội khi chưa có

bản án kết tội của tòa án đã có hiệu lực pháp luật" 70 3.2.3 Sửa đổi, bổ sung nguyên tắc xác định sự thật của vụ án 71 3.2.4 Sửa đổi, bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa 72

3.3 HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG

HÌNH SỰ NHẰM ĐẢM BẢO VIỆC THỰC HIỆN CÁC

QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA BỊ CÁO 73 3.3.1 Hoàn thiện các quy định về cơ quan tiến hành tố tụng và người

tiến hành tố tụng 73 3.3.2 Hoàn thiện các quy định về người bào chữa trong tố tụng hình sự 75 3.3.3 Hoàn thiện các quy phạm khác trong Bộ luật tố tụng hình sự

nhằm đảm bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ của bị cáo 76

KẾT LUẬN 78 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLTTHS: Bộ luật tố tụng hình sự CQTHTT: Cơ quan tiến hành tố tụng HĐXX: Hội đồng xét xử

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Số lƣợng vụ án hình sự và số lƣợng các bị cáo từ năm

Trang 9

Ở ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngày 28/11/2013, tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khẳng định xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đề cao quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Điều đầu tiên ở bản Hiến pháp mới đó là việc sửatên chương từ "quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân" thành "quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân" và việc sắp xếp chương này tại chương II, sau chương I về chế độ chính trị đã thể hiện sự nhận thức lý luận,

tư duy lập hiến, là sự khẳng định giá trị, vai trò quan trọng của quyền con người, quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân, đề cao nguyên tắc Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, chủ quyền tối cao thuộc về nhân dân, thể hiện nhất quán đường lối của Đảng và nhà nước ta trong việc công nhận, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân [50]

Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ đã ban hành Kế hoạch tổchức triển khai thi hành Hiến pháp, đưa vào chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự năm 1999 và Bộ luật tốtụng hình sự năm 2003 Vấn đề đặt ra là, cần sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ, xây dựngmới các văn bản pháp luật hình sự, tố tụng hình sự vừa đảm bảo tính răn đe, trừng trị, tính nghiêm minh của pháp luật trong đấu tranh, phòng chống tội phạm vừa thể hiện tính nhân đạo, nhân văn của nền pháp chế xã hội chủ nghĩa đồng thời phù hợp với quy định của Hiến pháp, chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội và tinh thần của cải cải tư pháp

Quyền con người không phải là một vấn đề mới nhưng cùng với sự phát triển của xã hội và sự chống phá gia tăng của bọn phản động thì vấn đề

Trang 10

quyền con người hiện nay trở nên vô

cùng nóng bỏng "Quyền con người

trong TTHS được các nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm do lĩnh vực này liên quan đến những quyền cơ bản thiết thân, những tự do cá nhân tối thiểu cần phải có trong đời sống hằng ngày của con người" [8, tr.33] Quyền con người

trong tố tụng hình sự chính "là sự ghi nhận và bảo đảm quyền của những

người yếu thế trong xã hội, bao gồm người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị tình nghi phạm tội hoặc người bị kết án tránh sự lạm dụng của người tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án" [8, tr.34] Do đó quyền con

người của bị cáo trong TTHS là một trong những nội dung quan trọng của pháp luật TTHS Quyền con người của bị cáo được ghi nhận và bảo đảm như thế nào được thể hiện thông qua nội dung địa vị pháp lý của bị cáo

Địa vị pháp lý của bị cáo không phải là một chế định lớn nhưng nó lại

là một chế định vô cùng quan trọng xuyên suốt giai đoạn xét xử một vụ án hình sự Bởi lẽ chủ thể quan trọng nhất trong quá trình xét xử chính là bị cáo, nếu không có bị cáo thì không có vụ án hình sự, không có ai bị xét xử thì cũng không có cơ quan tiến hành tố tụng hay người tham gia tố tụng nào khác Mà bị cáo được làm gì hay phải làm gì trong quá trình giải quyết vụ án hình sự lại được thể hiện qua những quy định về địa vị pháp lý của bị cáo Tuy nhiên, trong thực tế sự thiếu đồng bộ và sự hiểu biết không rõ ràng về những quy định này đang gây ảnh hưởng đến quyền lợi của bị cáo chung và những quyền con người tối thiếu nói riêng Một câu hỏi lớn được đặt ra là làm thế nào để quyền lợi và nghĩa vụ của bị cáo được đảm bảo, làm thế nào để những quyền công dân tối thiểu được đáp ứng Và câu hỏi này vẫn còn khiến nhiều nhà nghiên cứu, nhiều học giả, nhiều nhà làm luật phải suy ngẫm

Như vậy, xuất phát từ chủ trương, chính sách cải cách tư pháp; từ công cuộc xây dựng hệ thống pháp luật toàn diện, thống nhất; từ tầm quan trọng của việc nghiên cứu chế định địa vị pháp lý của bị cáo, từ ý nghĩa tích cực cả

Trang 11

về mặt chính trị, kinh tế, xã hội của chế

định này, tôi đã lựa chọn: "Một số

vấn đề lý luận và thực tiễn về địa vị pháp lý của bị cáo trong luật tố tụng hình sự Việt Nam - Số liệu dựa trên thực tiễn xét xử trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh" là đề tài nghiên cứu luận văn tốt nghiệp của mình

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Địa vị pháp lý của bị cáo là một vấn đề quan trọng trong pháp luật TTHS Việt Nam Đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu ở các mức độ, khía cạnh và phương diện khác nhau về địa vị pháp lý của bị cáo Có công trình nghiên cứu địa vị pháp lý của bị cáo trong tổng thể mối liên hệ với địa vị pháp lý của người bị tạm giữ, bị can Có công trình lại nghiên cứu một quyền nào đó của bị cáo trong tổng thể các quyền của bị cáo Trong các công trình nghiên cứu này, đáng chú ý là một số công trình sau:

2.1 Các sách và các giáo trình

Ở góc độ sách và giáo trình, có các ấn phẩm của các tác giả: Trần

Quang Tiệp (2009), Về bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người bị tạm

giữ, bị can, bị cáo trong TTHS, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Nguyễn

Ngọc Chí (chủ biên) (2013), Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội; Võ Thị Kim Oanh (2013), Giáo trình luật tố

tụng hình sự Việt Nam, Nxb Hồng Đức, Hà Nội; Võ Khánh Vinh(2012), Bình luận khoa học bộ luật tố tụng hình sự, Nxb Tư pháp, Hà Nội

2.2 Các bài viết trên các tạp chí khoa học

Dưới góc độ các bài nghiên cứu đăng trong các tạp chí khoa học, phải

kể đến các bài viết của của các tác giả: Mai Đắc Biên (2014), Các nguyên tắc

cần quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi) nhằm bảo vệ quyền con người theo Hiến pháp năm 2013, Tạp chí Kiểm sát số 11; Trần Duy Bình

(2011), Thực trạng và một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng tranh tụng

tại phiên tòa hình sự theo tinh thần cải cách tư pháp, Tạp chí TAND số 15;

Trang 12

Lê Văn Cảm (2011), Hoàn thiện nguyên

tắc tranh tụng trong luật tố tụng hình

sự Việt Nam - Những vấn đề lý luận cơ bản, Tạp chí Kiểm sát, số 11 + 13;

Nguyễn Ngọc Chí (2008), Các nguyên tắc cơ bản trong Luật tố tụng hình sự -

Những đề xuất sửa đổi, bổ sung, Tạp chí khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội,

Kinh tế - Luật số 24/2008; Nguyễn Chí Dũng (2014), Một số vấn đề lý luận

và thực tiễn trong việc xét hỏi và tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa

sơ thẩm hình sự, Tạp chí Kiểm sát số 12; Nguyễn Đức Dũng (2010), Trao đổi

về bài "Bi ̣cáo có được quyền đặt câu hoi với nhưng người tham gia tố tung

khác tại phiên tòa không? Tạp chí TAND số 12; Nguyễn Thùy Dương (2014), Quyền thăm thân của người bị tạm giam, tạm giữ trước khi xét xử - Góc nhìn từ pháp luật quốc tế, Tạp chí Dân chủ và pháp luật số 2; Hoàng Hùng Hải

(2012), Tôn trọng quyền bình đẳng của công dân trong phiên tòa xét xử hình

sự, Tạp chí TAND số 7; Đoàn Tạ Cửu Long và Nguyễn Tấn Hảo (2012), Một

số ý kiến hoàn thiện Bộ luật Tố tụng hình sự về quyền, nghĩa vụ của người bị tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo,Tạp chí Kiểm sát số 21; Nguyễn Đức Mai

(2008), Hoàn thiện một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành

nằm nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm, Tạp chí Luật học số

7; Lương Thị Mỹ Quỳnh, Hoàn thiện quy định về bảo đảm quyền có người bào

chữa trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam", Tạp chí Nghiên cứu lập

pháp; Bình Sơn (2014), Quyền im lặng, Tạp chí Dân chủ và pháp luật số 11;

Hồ Sỹ Sơn (2010), Quyền kháng cáo của người bị buộc tội trong tố tụng hình

sự Viêṭ Nam - thực trạng và các giải pháp đảm bảo, Tạp chí TAND số 6; Chu

Thị Trang Vân (2009), Hoàn thiện các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về

quyền, nghĩa vụ của bị can, bị cáo và cơ chế bảo đảm thực hiện, Tạp chí

Nghiên cứu luật pháp số 5

2.3 Các luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ

2.3.1 Các luận án tiến sĩ

Trang 13

các quyền của bị cáo phải kể đến: Lại

Văn Trình (năm 2011), Bảo đảm quyền

con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong TTHS Việt Nam, Luận án

tiến sĩ luật học, Đại học Luật tp Hồ Chí Minh,tp Hồ Chí Minh; Nguyễn Sơn

Hà (2015), Hoàn thiện quy định của pháp luật TTHS về quyền của bị can, bị

cáo, Luận án tiến sĩ luật học, Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội

2.3.2 Các luận văn thạc sĩ

Ở góc độ luận văn thạc sĩ, đáng chú ý là: Phan Thị Hương Giang (năm

2014), Bảo vệ quyền con người của bị can, bị cáo trong pháp luật tố tụng

hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia

Hà Nội, Hà Nội; Đoàn Thị Phương Thảo (năm 2012), Địa vị pháp lý của

người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự, Luận văn thạc sĩ luật

học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội Hà Nội;Bùi Bảo Trâm (năm

2008), Nguyên tắc đảm bảo quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị

cáo, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội;

Đỗ Thị Hường (năm 2011), Quyền con người và vấn đề bảo đảm quyền bào

chữa của bị can, bị cáo ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học,Khoa Luật - Đại

học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội; Nguyễn Thị Hồng Nhung (2014) Cơ sở lý luận

và thực tiễn về tranh tụng tại phiên tòa trong xét xử vụ án hình sự ở tỉnh Bắc Ninh, Luận văn thạc sĩ luật học,Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà

Nội; Nguyễn Thị Việt Hà (2014), Vai trò của pháp luật tố tụng hình sự trong

việc bảo đảm quyền con người, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật - Đại học

Quốc gia Hà Nội, Hà Nội

Không thể phủ nhận giá trị tích cực về mặt lý luận và thực tiễn của các công trình trên của các tác giá, nhưng trong các công trình trên chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu tổng hợp tất cả các quyền và các nghĩa vụ của bị cáo Đồng thời xung quanh chế định địa vị pháp lý của bị cáo vẫn còn nhiều vấn đề còn đang tranh luận và cần nghiên cứu chuyên sâu hơn, đòi hỏi

sự nghiên cứu toàn diện và đầy đủ hơn

Trang 14

3 Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Từ việc nghiên cứu, phân tích tính hợp lý của các quy phạm pháp luật

tố tụng hình sự khi so sánh với yêu cầu của thực tiễn về vai trò của địa vị pháp lý của bị cáo trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, tác giả đưa ra những giải pháp, phương hướng hoàn thiện các quy phạm pháp luật hiện tại

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Từ những mục đích nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ chủ yếu sau Một là: Nghiên cứu, so sánh các quy định của pháp luật tố tụng hình sự

về địa vị pháp lý của bị cáo

Hai là: Đánh giá thực tiễn việc áp dụng các quy định của pháp luật hiện hành về địa vị pháp lý của bị cáo

Ba là: Đề xuất những giải pháp, phương hướng hoàn thiện các quy định

về địa vị pháp lý của bị cáo

3.3 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu chuyên sâu về địa vị pháp lý của bị cáo trong pháp luật TTHS Việt Nam Đồng thời trên cơ sở nghiên cứu thực trạng và tình hình thực hiện các quyền và nghĩa vụ của bị cáo trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, luận văn đã đưa ra những phương hướng, giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế và hoàn thiện quy định pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về địa vị pháp lý của bị cáo

Luận văn cũng có tham khảo những bài học kinh nghiệm lập pháp của một số nước trên thế giới như Nhật Bản, Liên Bang Nga

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luật chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng mác - xít, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng nhà nước pháp quyền, về

Trang 15

chính sách hình sự, về vấn đề cải cách

tư pháp được thể hiện trong các Nghị

quyết Đại hội Đảng VIII, IX, X và các Nghị quyết số 48 - NQ/TW ngày 24/5/2005 về "Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020", Nghị quyết số 49 - NQ/TW ngày 02/6/2005 về "Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020"

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn đã sử dụng các phương pháp cụ thể và đặc thù của khoa học luật hình sự như: Phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp so sánh, đối chiếu; phương pháp quy nạp, diễn dịch; phương pháp thống kê để tổng hợp các tri thức khoa học và luận chứng các vấn đề tương ứng được nghiên cứu trong luận văn

5 Những điểm mới và đóng góp của luận văn

Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý kiến quan trọng về phương diện

lý luận và thực tiễn

Về mặt lập pháp: Chưa có một công trình khoa học cụ thể nào nghiên cứu độc lập, riêng biệt về địa vị pháp lý của bị cáo, luận văn này là công trình đầu tiên nghiên cứu độc lập về vấn đề này Luận văn nghiên cứu kết hợp cả những vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng nên kết quả nghiên cứu của luận văn tạo cơ sở, tiền đề quan trọng cho hoạt động lập pháp, giúp hoàn thiện các quy định về địa vị pháp lý của bị cáo

Về mặt lý luận: Đưa ra những tìm hiểu, nghiên cứu về địa vị pháp lý của bị cáo để từ đó có cái nhìn tổng thể, khái quát về địa vị pháp lý của bị cáo, cung cấp những cơ sở lý luận để từ đó áp dụng hiệu quả lý luận vào thực tiễn

và qua thực tiễn để hoàn thiện lý luận Đồng thời luận văn cũng đưa ra những phương hướng hoàn thiện BLTTHS vừa đáp ứng được yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp lại vừa đảm bảo được việc bảo vệ quyền, lợi ích của con người nói chung và của bị cáo nói riêng

Về mặt thực tiễn: Không thể phủ nhận những kết quả đã đạt được của

Trang 16

các quy định của pháp luật tố tụng hình

sự hiện hành về địa vị pháp lý của bị

cáo Tuy nhiên, chúng ta cũng thấy rằng trước yêu cầu của công cuộc cải cách

tư pháp, đồng thời với những đòi hỏi hoàn thiện hệ thống pháp luật hoàn thiện, toàn diện, phù hợp với các quy định, các điều ước quốc tế thì việc nghiên cứu góp phần áp dụng hiệu quả các quy định pháp luật trong thực tiễn, tránh tình trạng tùy tiện và ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi, nghĩa vụ của bị cáo

Bên cạnh đó, luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo cần thiết và bổ ích không chỉ cho những nhà lập pháp, nhà nghiên cứu, giảng viên, học viên quan tâm đến lĩnh vực của đề tài mà nó còn cung cấp những kiến thức cần thiết, chuyên sâu cho các cán bộ làm việc trong lĩnh vực tư pháp hình sự

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Một số vấn đề chung về địa vị pháp lý của bị cáo trong luật

tố tụng hình sự

Chương 2: Thực trạng của các quy phạm về địa vị pháp lý của bị cáo

trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành và thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh

Chương 3: Hoàn thiện một số vấn đề có liên quan đến địa vị pháp lý

của bị cáo trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành

Trang 17

Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA BỊ CÁO

TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ

1.1 KHÁI NIỆM, CƠ SỞ VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC QUY ĐỊNH ĐỊA VỊ

PHÁP LÝ CỦA BỊ CÁO TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ

1.1.1 Khái niệm địa vị pháp lý của bị cáo trong tố tụng hình sự

Địa vị pháp lý của bị cáo là một khái niệm rất tổng hợp Để hiểu được chính xác địa vị pháp lý của bị cáo là gì cần phải nghiên cứu một hệ thống các phạm trù có liên quan như bị cáo là gì, địa vị pháp lý là gì, quyền và nghĩa vụ của bị cáo là gì và các đặc điểm của chúng

Đầu tiên là khái niệm bị cáo: Thuật ngữ bị cáo lần đầu tiên được xuất hiện tại Sắc lệnh số 33C ngày 13/9/1945 của Chủ tịch chính phủ lâm thời Việt Nam nhưng chưa có khái niệm và cũng chưa có quy định gì thể hiện bị cáo là

gì mà đó chỉ là quy định về quyền bào chữa của bị cáo "Bị cáo có thể tự bào

chữa hoặc nhờ người khác bênh vực cho" [10] Sau đó thuật ngữ này còn

được xuất hiện ở trong một số các văn bản pháp luật khác, tuy nhiên vẫn chưa

có một khái niệm cụ thể Mãi đến năm 1974, tại bản hướng dẫn kèm theo thông tư số 16 / TATC ngày 27/9/1974 mới có khái niệm về bị cáo như sau:

Bị cáo là người bị truy cứu về trách nhiệm hình sự trước TAND Trong giai đoạn xét xử, TAND chỉ được đưa một người ra xét xử với tư cách là bị cáo nếu VKSND đã truy tố người đó trước TAND, nếu VKS không truy tố thì TAND không được xét xử một người với tư cách là bị cáo trừ những người mà TAND xét xử về những việc hình sự nhẹ [11, tr.39]

Kể từ năm 1988 thì khái niệm bị cáo mới được luật hóa trong Điều 34 BLTTHS năm 1988, khái niêm này được giữ nguyên trong khoản 1 Điều 50

Trang 18

BLTTHS năm 2003 và duy trì đến hiện nay như sau: "Bị cáo là người đã bị

Tòa án quyết định đưa ra xét xử"

Hết thời hạn chuẩn bị xét xử theo Điều 176 BLTTHS năm 2003, thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa sẽ phải ra một số các quyết đ ị n h v à n

pháp lý thì "Địa vị pháp lý: Tổng thể các quyền và nghĩa vụ theo pháp luật

xác định cho một chủ thể có khả năng tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập" [68, tr 103] Theo từ điển Luật học thì:

Địa vị pháp lý là vị trí của chủ thể pháp luật trong mối quan

hệ với chủ thể khác trên cơ sở các quy định pháp luật Địa vị pháp

lý của chủ thể pháp luật thể hiện thành một tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể, qua đó xác lập cũng như giới hạn khả năng của chủ thể trong hoạt động của mình [4, tr 244]

Theo bách khoa toàn thư mở Wikipedia thì:

Tư cách pháp lý là tư cách của cá nhân, pháp nhân, tổ chức hay các chủ thể khác khi tham gia vào một hoặc nhiều quan hệ pháp luật nhất định Tư cách pháp lý cũng chính là địa vị pháp lý thể hiện vị trí, vai trò của chủ thể đó trong quan hệ pháp luật và đi liền với nó là quyền lợi, nghĩa vụ cũng như trách nhiệm pháp lý phát sinh Tư cách

Trang 19

pháp lý là nền tảng để xác địnhquyền lợi và nghĩa vụ của mỗi người

và cũng là điểm xuất phát để gỡ rối tranh chấp trong tố tụng

Trong các khái niệm trên, theo tác giả thì khái niệm địa vị pháp lý của từ điển Luật học là chính xác, đẩy đủ và ngắn gọn, súc tích hơn hẳn Như vậy, có thể hiểu địa vị pháp lý của một đối tượng mang những nét đặc trưng riêng, phân biệt giữa nhóm đối tượng này với nhóm đối tượng khác, có thể hiểu một cách đơn giản và ngắn gọn về địa vị pháp lý chính là hệ thống các quyền và nghĩa vụ của một đối tượng cụ thể

Như vậy, theo tác giả, địa vị pháp lý của bị cáo thể hiện thành một tổng thể các quyền và nghĩa vụ của người bị buộc tội đã thực hiện hành vi phạm tội sau khi họ bị tòa án quyết định đưa ra xét xử

Địa vị pháp lý của bị cáo gồm hai phần riêng biệt là quyền của bị cáo và nghĩa vụ của bị cáo, hai phần này tách biệt nhau nhưng lại tạo nên một khái niệm chung là địa vị pháp lý của bị cáo

Theo sách Thuật ngữ pháp lý: "Quyền là những việc mà một người

được làm hoặc được hưởng không tùy thuộc vào sự lựa chọn của họ và được đảm bảo thực hiện trong thực tế" [68, tr 266] Theo từ điển bách khoa mở

Wikimedia: "Quyền là khả năng thực hiện ý chí của mình được pháp luật

hoặc xã hội chấp nhận hoặc có thể là cái mà pháp luật, xã hội, phong tục hay lẽ phải cho phép hưởng thụ, vận dụng, thi hành và khi thiếu được yêu cầu để

có, nếu bị tước đoạt có thể đòi hỏi để giành lại"

Như vậy, theo tác giả quyền chính là việc cá nhân được làm hoặc được hưởng và được bảo đảm thực hiện trong thực tế Do đó quyền của bị cáo chính là những việc bị cáo được làm, được hưởng và được bảo đảm thực hiện trong quá trình xét xử

Theo sách Thuật ngữ pháp lý: Nghĩa vụ là các hành vi mà một người có trách nhiệm phải thực hiện vì lợi ích của người khác Phổ biến gồm có 02 loại

Trang 20

nghĩa vụ là nghĩa vụ pháp lý và nghĩa

vụ đạo đức [68, tr.208] Có tác giả lại

cho rằng: Nghĩa vụ là xử sự bắt buộc của chủ thể, nghĩa vụ là sự áp đặt

Theo quan điểm của tác giả, nghĩa vụ là trách nhiệm mà một người phải thực hiện và nghĩa vụ của bị cáo là trách nhiệm mà bị cáo phải thực hiện trước cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và các người tham gia tố tụng khác

Quyền của bị cáo, nghĩa vụ của bị cáo hay gọi chung là địa vị pháp lý của bị cáo có các đặc điểm chung cơ bản sau:

Thứ nhất: Quyền và nghĩa vụ của bị cáo được quy định bởi pháp luật Không một quyền hay nghĩa vụ nào của bị cáo không được quy định bởi các quy định pháp luật nói chung hoặc các quy định pháp luật tố tụng hình sự nói riêng Trong BLTTHS năm 2003 ngoài việc quy định chung về quyền và nghĩa vụ của bị cáo tại khoản 2, 3 Điều 50 BLTTHS thì còn có rất nhiều các quy định liên quan đến quyền và nghĩa vụ của bị cáo như được quyền tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân (Điều 4 BLTTHS), quyền bình đẳng (Điều 5 BLTTHS), quyền bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản (Điều 7 BLTTHS), quyền xem biên bản phiên tòa, được yêu cầu sửa đổi, bổ sung biên bản phiên tòa (Điều 200 BLTTHS)., nghĩa vụ thihành và tôn trọng bản án và quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật (Điều 22 BLTTHS), nghĩa vụ có mặt tại phiên tòa theo giấy triệu tập của tòa án(Điều 187 BLTTHS) Ngoài ra, quyền và nghĩa vụ của bị cáo không tách rời khỏi quyền, nghĩa vụ công dân của bị cáo và quyền con người của bị cáo do đó bên cạnh việc thể hiện tại BLTTHS năm 2003, quyền và nghĩa vụ của bị cáo còn được thể hiện rõ nét trong Hiến pháp năm 2013

Thứ hai: Các quy định về địa vị pháp lý của bị cáo áp dụng chung, thống nhất đối với tất cả các bị cáo không phân biệt địa vị, giới tính, tuổi tác, hoàn cảnh gia đình Nếu đã là bị cáo thì sẽ được hưởng các quyền và chịu

Trang 21

nghĩa vụ do pháp luật quy đinh Đặc điểm này thể hiện tính công minh và

bình đẳng của pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam nói riêng

Thứ ba: Các quy định được bảo đảm thực hiện, có tính cưỡng chế cao, buộc bị cáo cũng như cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng hay các cá nhân có liên quan tuân theo Sở dĩ có tính cưỡng chế cao và được bảo đảm thực hiện là do các quy định này đã được luật hóa, bất cứ quyền và nghĩa vụnào cũng được thể hiện dưới dạng các văn bản pháp luật Đồng thời trong các quy định pháp luật này, bên cạnh việc quy định rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của

bị cáo còn quy định về các biện pháp bảo đảm hoặc các chế tài đối với

việc vi phạm đến quyền lợi và nghĩa vụ của bị cáo

Thứ tư: Các quy định về địa vị pháp lý của bị cáo thể hiện tính dân chủ

và tiến bộ của hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật tố tụng hình sự nói riêng, là cơ sở để đánh giá mức dân chủ và hoàn thiện của pháp luật tố tụng hình sự Một trong những tiêu chí cơ bản để xác định tính dân chủ và hoàn thiện của hệ thống pháp luật chính là xem quyền con người, quyền công dân được thể hiện trong luật như thế nào Các quy định về quyền và nghĩa vụ của

bị cáo trong luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành đã thể hiện tính dân chủ sâu sắc, các quy định đều hướng tới việc đảm bảo các quyền và lợi ích cơ bản của con người

Thứ năm: Là cơ sở cho việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự một cách nhanh chóng và hiệu quả Chứa đựng các quy định về quyền và nghĩa vụ của bị cáo nên qua đó các CQTHTT và người THTT hiểu được mình được làm gì và phải làm gì cho bị cáo, chính vì thế giúp cho việc giải quyết vụ án nhanh chóng, hiệu quả Đồng thời các quy định về quyền và nghĩa vụ của bị cáo còn cho bị cáo biết mình được làm gì và phải làm gì góp phần bảo vệ quyền lợi cho bị cáo trong quá trình giải quyết vụ án, đảm bảo giảm thiểu oan sai và hiệu quả cao trong giải quyết vụ án

Trang 22

1.1.2 Cơ sở và ý nghĩa của việc quy định địa vị pháp lý của bị cáo trong luật tố tụng hình sự

1.1.2.1 Cơ sở của việc quy định địa vị pháp lý của bị cáo trong luật tố tụng hình sự

Việc quy định địa vị pháp lý của bị cáo trong tố tụng hình sự xuất phát

là người bị buộc tội hay là người bị hại, người tham gia trong các

vụ án hình sự thì họ vẫn được pháp luật bảo vệ và tôn trọng những quyền cơ bản thiết thân của con người [8, tr 34-35]

Hơn thế nữa trong quan hệ tố tụng hình sự, một bên là những người tham gia tố tụng còn bên kia là cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, một bên được giao quyền lực nhà nước để giải quyết vụ án còn một bên làcác đối tượng dễ bị tổn thương bởi các hành vi tố tụng của bên kia, chính vì thếviệc quy định rõ ràng địa vị pháp lý của bị cáo giúp đảm bảo quyền con người của các bị cáo

Thứ hai là việc quy định thể hiện sự công bằng, bình đẳng cho tất cả mọi người Bởi lẽ, khi có một quy định cụ thể, rõ ràng thì đó chính là kim chỉ nam áp dụng cho tất cả các đối tượng thuộc quy định Chính vì vậy, khi có quy định cụ thể về địa vị pháp lý của bị cáo, nó sẽ là một chuẩn mực chung áp dụng cho tất cả các bị cáo, điều này thể hiện sự công bằng, bình đẳng cho tất cả

bị cáo, quy định như vậy giúp loại trừ trường hợp áp dụng tùy tiện, đối xử thiếu công bằng giữa các bị cáo

Thứ ba là bảo đảm chất lượng, hiệu quả của hoạt động tố tụng hình sự

Trang 23

Bất cứ một hoạt động cụ thể nào cũng cần có quy định rõ ràng, cụ thể để

những cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng biết được mình được làm gì và phải làm gì trong những trường hợp cụ thể Không thể có hoạt động tố tụng hình sự hiệu quả, chất lượng khi mà hoạt động này dựa trên sự tùy hứng hay cảm xúc cá nhân Quy định cụ thể, rõ ràng chế định địa vị pháp lý giúp cung cấp cơ sở, chuẩn mực để các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng có thẻ thực hiện hoạt động tố tụng hình sự một cách đúng

đắn và hiệu quả

Thứ tư là đảm bảo cho các nguyên tắc cơ bản trong tố tụng hình sự

"Nguyên tắc cơ bản của luật TTHS là những phương châm, định hướng, quan điểm chi phối toàn bộ hay một số giai đoạn của hoạt động TTHS trong quá trình xây dựng và áp dụng pháp luật TTHS" [8, tr 72]

Có thể chia các nguyên tắc cơ bản của luật TTHS thành những nhóm nguyên tắc sau: Các nguyên tắc bảo đảm pháp chế XHCN, các nguyên tắc bảo đảm các quyền và lợi ích công dân, các nguyên tắc bảo đảm tính chính xác, khách quan của hoạt động tố tụng, nguyên tắc bảo đảm tính dân chủ trong hoạt động tố tụng [8, tr 75]

Việc quy định chi tiết chế định địa vị pháp lý của bị cáo giúp cho việc bảo đảm pháp chế, bảo đảm quyền và nghĩa vụ công dân, bảo đảm tính chính xác trong hoạt động tố tụng và bảo đảm tính dân chủ trong hoạt động tố tụng Chính vì vậy việc quy định chế định địa vị pháp lý của bị cáo là cần thiết và nógiúp cho việc bảo đảm các nguyên tắc cơ bản của luật TTHS nói riêng và các nguyên tắc của luật TTHS nói chung

1.1.2.2 Ý nghĩa của việc quy định địa vị pháp lý của bị cáo trong luật

tố tụng hình sự

Ý nghĩa về mặt chính trị xã hội: Việc quy định địa vị pháp lý của bị cáo trong luật tố tụng hình sự thể hiện sự quan tâm của xã hội đối với những cá

Trang 24

nhân mặc dù họ có thể bị áp dụng những biện pháp trừng trị nghiêm khắc nhất

của nhà nước những vẫn đảm bảo cho họ những quyền lợi nhất định Những quyền lợi vừa thể hiện chủ trương nhân đạo của pháp luật vừa phù hợp với những quy định chung của pháp luật quốc tế về quyền con người và các công ước chống tra tấn

Ý nghĩa về mặt pháp lý: Việc quy định địa vị pháp lý của bị cáo cung cấp chuẩn mực cho các hoạt động tố tụng Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng sẽ dựa vào các quy định của pháp luật để làm kim chỉ nam cho mình, là thước đo để khẳng định một hoạt động là đúng hay sai, là căn cứ pháp lý cho mọi hoạt động tố tụng

Ý nghĩa về mặt thực tiễn: Những quy định về địa vị pháp lý của bị cáo

có giá trị ứng dụng cao trong thực tiễn Bất cứ một vụ án hình sự nào cũng phải có bị cáo và họ phải được áp dụng các quy định về quyền và nghĩa vụ Những quy đinh này có giá trị cao trong thực tiễn bởi tính ứng dụng trong thực tế và giá trị cao trong thực tế

1.2 SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC QUY PHẠM VỀ ĐỊA

VỊ PHÁP LÝ CỦA BỊ CÁO TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.2.1 Các quy phạm của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam trước năm 2003 về địa vị pháp lý của bị cáo

1.2.1.1 Các quy phạm của pháp luật tố tụng hình sự về địa vị pháp lý của bị cáo trong giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi có Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 (trước khi có Bộ luật tố tụng hình sự đầu tiên)

Sau khi Cách mạng Tháng tám thành công, ngày 02/9/1945, tại quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt nam dân chủ cộng hòa Kể từ thời điểm đó đến trước khi BLTTHS đầu tiên của Việt Nam ra đời (năm 1988), hệ thống pháp luật TTHS

Trang 25

Việt nam được điều chỉnh chủ yếu bằng các sắc lệnh, nghị định, thông tư hoặc

các bản hướng dẫn của TANDTC Do hạn chế của kỹ thuận lập pháp nên mỗi văn bản lại điều chỉnh một khía cạnh khác nhau mà không phải là một hệ thống hoàn chỉnh các quy định của pháp luật, chính vì thế địa vị pháp lý của bị cáo được quy định tại nhiều văn bản pháp luật khác nhau Sau một thời gian

ra đời và được sử dụng một cách tùy tiện, không có sự phân biệt và ranh giới rõràng giữa người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thì mãi đến năm 1974 thì thuật ngữ

bị cáo đã được định nghĩa

Thuật ngữ bị cáo xuất hiện lần đầu tiên tại Sắc lệnh 33C ngày

13/9/1945 của Chủ tịch chính phủ lâm thời Việt Nam Mặc dù trong sắc lệnh

này vẫn rải rác quy định "tội nhân" nhưng tại Điều V đã quy định "Bị cáo có

thể tự bào chữa hoặc nhờ người khác bênh vực cho" [10] Ngay tại văn bản

đầu tiên đánh dấu cho sự ra đời của ngành Tòa án và văn bản đầu tiên quy định trình tự thủ tục tố tụng đã khẳng định về quyền bào chữa cho thấy tầm quan trọng của quyền bào chữa và thấy được tư tưởng tiến bộ, dân chủ của pháp luật TTHS Việt Nam thời đó

Tiếp nối tư tưởng tiến bộ và nhận thức được tầm quan trọng của quyền bào chữa của bị cáo, tại bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ

cộng hòa năm 1946 cũng đã ghi nhận "Người bị cáo được quyền tự bào chữa

lấy hoặc mượn luật sư" [44] Và tại các bản Hiến pháp tiếp theo năm 1959 và

1980 cũng tiếp tục ghi nhận quyền này của bị cáo Bên cạnh việc quy định về quyền bào chữa, tại Thông tư số 6 - TC ngày 9/9/1967 còn quy định việc bảo đảm quyền bào chữa: "Việc bảo đảm cho bị cáo quyền bào chữa là rất cần thiết vì họ là những người bị đưa ra xét xử và có thể bị xử phạt về hình sựĐể bảo đảm quyền bào chữa, ngoài việc thực hiện quyền tự bào chữa của bị cáo, chúng ta cần phải xây dựng tổ chức luật sư và phát triển chế độ người bào chữa

nhân dân [11, tr.36] "Các tòa án cần phải thực sự tôn trọng quyền

Trang 26

bào chữa của bị cáo để thông qua công tác thực tế mà làm cho cán bộ và

nhân dân tin tưởng vào việc thực hiện quyền bào chữa Mặt khác cần phải tranh thủ mọi trường hợp để giải thích sâu rộng trong cán bộ và nhân dân về quyền bào chữa của bị cáo" [11, tr.37] Một bước tiến trong việc quy định về

quyền bào chữa của bị cáo được thể hiện tại Điều 7 Luật tổ chức TAND năm

1960, bên cạnh việc tự mình bào chữa, nhờ người bào chữa thì trong những

trường hợp cần thiết, "tòa án nhân dân chỉ định người bào chữa cho bị cáo"

[11, tr.36] Việc quy định thêm trường hợp chỉ định người bào chữa thể hiện một bước tiến lớn trong kỹ thuật lập pháp, là tiền đề cho việc hoàn thiện quy định về quyền bào chữa của bị cáo như hiện nay Tuy nhiên trong việc quy định về quyền bào chữa chỉ định còn có hạn chế là chưa chỉ ra được trường hợp cụ thể cần chỉ định như các BLTTHS sau này mà chỉ dừng lại ở việc quy định "các trường hợp cần thiết" và đến năm 1974 tại bản hướng dẫn kèm theo

thông tư số 16 - TATC ngày 27/9/1974 mới quy định các trường hợp cần thiết là

"1 Bị cáo có thể bị phạt tù chung thân hoặc phạt tử hình 2 Bị cáo là vị thành niên hoặc là người có nhược điểm về thể chất hoặc tinh thần phạm pháp

nghiêm trọng mà phạm pháp nghiêm trọng 3 Vụ án có tính chất quan trọng, phức tạp và có ảnh hưởng lớn trong dư luận của nhân dân" [11, tr 119]

Mặc dù đã xuất hiện thuật ngữ bị cáo, tuy nhiên do kỹ thuật lập pháp còn hạn chế nên ở một số các văn bản pháp luật sau như Sắc lệnh 13 ngày 24/01/1946, thuật ngữ bị can và bị cáo được dùng chung với nghĩa như nhau

Tuy kỹ thuật lập pháp còn hạn chế nhưng bên cạnh quyền bào chữa, pháp luật thời kỳ này cũng quy định cho bị cáo nhiều quyền và nghĩa vụ khác nhau Theo Thông tư số 2225 - HCTP ngày 24/10/1956 của Bộ tư pháp thì bị cáo có các quyền như sau: Được nhận bản cáo trạng trước ngày phiên tòa; Yêu cầu Tòa án thay đổi thẩm phán hoặc hội thẩm nhân dân; Trình bày chứng

cứ, đề xuất những thỉnh cầu và phát biểu lời cuối cùng trước khi Tòa án vào

Trang 27

nghị án; Được quyền giải thích quyền vàđược thông báo về quyền chống án

theo thủ tục phúc thẩm; Được trình bày lời bào chữa; Được xem biên bản phiên tòa [11, tr.37]

Khái niệm bị cáo lần đầu tiên được định nghĩa tại bản hướng dẫn về trình tự tố tụng sơ thẩm về hình sự (kèm theo Thông tư số 16 - TATC ngày 27/9/1974 của Tòa án nhân dân tối cao):

Bị cáo là người bị truy cứu về trách nhiệm hình sự trước TAND Trong giai đoạn xét xử, TAND chỉ được đưa một người ra xét xử với tư cách là bị cáo nếu VKSND đã truy tố người đó trước TAND, nếu VKS không truy tố thì TAND không được xét xử một người với tư cách là bị cáo trừ những người mà TAND xét xử về những việc hình sự nhẹ, trừ những người mà TAND xét xử về những việc hình sự nhỏ không phải mở phiên tòa [11, tr.118]

Về mặt kỹ thuật lập pháp thì khái niệm đầu tiên này còn bộc lộ nhiều hạn chế, tuy nhiên đây là viên gạch đầu tiên, thể hiện bước tiến trong kỹ thuật lập pháp, từ việc mông lung, quy định chung chung và dùng lẫn lộn các tư cách thì nay trong luật tố tụng hình sự đã có thể phân tách rõ đối tượng nào được coi là bị cáo

Bản hướng dẫn về trình tự tố tụng sơ thẩm về hình sự (kèm theo Thông tư

số 16 - TATC ngày 27/9/1974 của Tòa án nhân dân tối cao) cũng đã tiếp tục ghi nhận các quyền đã có như Thông tư 2225 và bổ sung thêm quyền được tham

gia phiên tòa như sau: "Để tránh việc xử lý không chính xác, hoặc xử oan

người vô tội, bị cáo có quyền tham gia tố tụng để bảo vệ những quyền lợi

mà pháp luật đã quy định" [11, tr.118]

Bên cạnh những quy định về quyền cụ thể áp dụng riêng đối với các bị cáo, tại các bản Hiến pháp 1946, 1959 và 1980 cũng đã quy định các quyền chung dành cho mọi công dân trong đó có bị cáo như quyền bình đẳng trước pháp luật, bình đẳng trước Tòa án, quyền tự do thân thể

Trang 28

Trong giai đoạn này không có các quy định cụ thể liên quan đến nghĩa

vụ của bị cáo mà chỉ quy định nghĩa vụ của bị cáo thông qua các quyền của cơ quan tiến hành tố tụng Chính vì thế nghĩa vụ của bị cáo được hiểu là phải chấphành các quy định của cơ quan tiến hành tố tụng, chấp hành bản án

Tóm lại, mặc dù đã có sự quan tâm đến địa vị pháp lý của bị cáo nhưng

do nhận thức hạn chế và kỹ thuật lập pháp chưa hoàn thiện nên các quy định vềđịa vị pháp lý của bị cáo còn nhiều hạn chế và khó áp dụng trong thực tiễn Đây chính là động lực thúc đẩy Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 ra đời Tuy nhiên cũng không thể phủ nhận những thành quả và sự cố gắng trong kỹ thuật lập pháp thời kỳ này, đây là những viên gạch đầu tiên góp phần hoàn thiện các quy định về chế định pháp lý của bị cáo như hiện nay và góp phần quan trọng trong việc giải quyết đúng đắn, hiệu quả các vụ án hình sự trong thời kỳ nhà nước non trẻ mới được thành lập

1.2.1.2 Các quy phạm của pháp luật tố tụng hình sự về địa vị pháp lý của bị cáo trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 và các luật sửa đổi, bổ sung

Tại BLTTHS 1988 quy định về nhiệm vụ của BLTTHS đã khẳng định:

Bộ luật tố tụng hình sự quy định quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng và của các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và công dân, nhằm phát hiện chính xác, nhanh chóng và

xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội [48, Điều 1]

Các quyền của bị cáo được được thể hiện trong BLTTHS 1988 như sau:

Bị cáo được giao nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử; được tham gia phiên toà; được đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch theo quy định của Bộ luật này; đưa ra chứng cứ và những yêu cầu;

tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa; nói lời sau cùng trước khi nghị án; được kháng cáo bản án và quyết định của Toà án (khoản 3 Điều 34);

Trang 29

Quyền đề nghị thay đổi người tiến hành

tố tụng (Khoản 2 Điều 29); Quyền

được chứng minh vô tội (Điều 11); Quyền tự bào chữa và nhờ người khác bào chữa (Điều 12); quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đưa ra yêu cầu và tranh luận trước Toà án (Điều 20); Quyền khiếu nại và tố cáo đối với hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng (Điều 24); Quyền được giải thích cho họ biết quyền và nghĩa vụ của họ tại phiên toà (Điều 175); Quyền được đề nghị triệu tập thêm người làm chứng hoặc đề nghị đưa thêm vật chứng và tài liệu ra xem xét, đề nghị hoãn phiên toà (Điều 175, 179); được trình bày ý kiến về bản cáo trạng và những tình tiết của vụ án (Điều 183); Quyền đáp lại ý kiến của người khác (Điều 192); Quyền nói lời sau cùng (Điều 194); Quyền được nghe đọc bản án và có thể được giải thích thêm về việc chấp hành bản án và quyền kháng cáo, phiên dịch bản án (Điều 200); Quyền được giao bản sao bản án (Điều 203), quyền kháng cáo bản án hoặc quyết định sơ thẩm (Điều 205) 

Trong BLTTHS năm 1988, quy định về nghĩa vụ của bị cáo được thể hiện qua một số các điều khoản như sau: bị cáo phải có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án; trong trường hợp vắng mặt không có lý do chính đáng thì có thể bị áp giải (Khoản 4 Điều 34); Bị cáo có nghĩa vụ phải có mặt tại phiên toà theo giấy triệu tập của Toà án; nếu vắng mặt không có lý do chính đáng thì bị áp giải; nếu bị cáo vắng mặt có lý do chính đáng thì phải hoãn phiên toà (Điều 162); Nghĩa vụ thi hành và tôn trọng Bản án và quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật (Điều 25); Nghĩa vụ chịu sự giám sát đối với bị cáo đang bị tạm giam khi ra phiên toà và nghĩa vụ phải có mặt tại phiên toà trong suốt thời gian xử án (Điều 163)

Cũng như các văn bản pháp luật khác, sau một thời gian đưa vào thi hành trong thực tiễn, BLTTHS năm 1988 bộc lộ một số thiếu sót cần sửa chữa, bổ sung và bộ luật này đã được sửa đổi bởi một số luật trước khi BLTTHS năm 2003 ra đời, đó là:

Trang 30

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự số 39- LCT/HĐNN8 được Quốc hội thông qua ngày 30 tháng 6 năm 1990

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự được Quốc hội thông qua 22 tháng 12 năm 1992

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự số

20/2000/QH10 được Quốc hội thông qua ngày 09 tháng 6 năm 2000

Các luật sửa đổi, bổ sung này sửa đổi, bổ sung nhiều quy định khác nhau của BLTTHS năm 1988, nhưng liên quan đến địa vị pháp lý của bị cáo thì chỉ có những vấn đề sau:

Trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự số 39-LCT/HĐNN8 được Quốc hội thông qua ngày 30 tháng 6 năm 1990 đã có nhiều sửa đổi, bổ sung tiến bộ Đầu tiên là mở rộng thêm quyền kháng cáo đối vớingười đại diện hợp pháp của bị cáo Quy định này gián tiếp đảm bảo quyền kháng cáo của bị cáo, bởi lẽ trường hợp bị cáo cần người đại diện cũng là trường hợp bị cáo chưa thành niên hoặc có nhược điểm về thể chất, tinh thầnnên khả năng nhận thức của họ về việc có kháng cáo hay không kháng cáo còn rất hạn chế Chính vì vậy, người đại diện cho họ trong quá trình tham gia tốtụng phải được quyền kháng cáo để đảm bảo quyền lợi cho bị cáo Tác giả hoàn toàn nhất trí đối với việc sửa đổi, bổ sung này Tiếp theo là trong quy định

về tính thời hạn kháng cáo, luật sửa đổi, bổ sung đã hoàn thiện hơn BLTTHS

1988 bởi lẽ, BLTTHS mới chỉ đề cập đến tính thời hạn kháng cáo của đương

sự vắng mặt mà không đề cập đến tính thời hạn khách cáo của bị cáo bị xử án vắng mặt BLTTHS đã quy định các trường hợp xét xử vụ án vắng mặt bị cáo,như vậy chắc chắn sẽ có những trường hợp xét xử vắng mặt bị cáo xảy ra Việc quy định thời hạn kháng cáo đối với những bị cáo vắng mặt là một điểm tiến bộ và đã đảm bảo quyền kháng cáo, một trong những quyền cơ bản, chínhđáng của bị cáo Tác giả hoàn toàn nhất trí phải sự sửa

Trang 31

đổi, bổ sung này Tiếp đến là quy định

về những người tham gia phiên toà

phúc thẩm, Luật sửa đổi, bổ sung bên cạnh việc bổ sung thêm các đối tượng được triệu tập tham gia phiên tòa phúc thẩm thì đã quy định rộng rãi hơn về việc xét xử vụ án vắng mặt các đối tượng tham gia phiên tòa (thể hiện qua nội dung Điều 217 Những người tham gia phiên toà phúc thẩm) Tức là, theo quy định của BLTTHS thì dù vắng mặt có lý do chính đáng của bị cáo hay người bào chữathì vẫn phải hoãn phiên tòa nhưng luật sửa đổi, bổ sung đã cho phép xét

xử tuy nhiên phải đảm bảo không được ra bản án không có lợi cho bị cáo Tác giả hoàn toàn nhất trí với việc sửa đổi, bổ sung này bởi lẽ quy định như vậy tranh được việc kéo dài vụ án không cần thiết và phải mở đi mở lại phiên tòa nhiều lần Bên cạnh đó vẫn đảm bảo quyền lợi của bị cáo, không làm xấu đi tình trạng của họ Bên cạnh đó luật sửa đổi, bổ sung cũng đã quy định thêm vềthời hạn hoãn phiên tòa, đây là quy định rất hợp lý để cơ quan tiến hành tố tụng mà cụ thể là Tòa án không được phép đưa ra thời hạn hoãn tùy tiện làm

vụ án bị kéo dài quá mức cần thiết và ảnh hưởng đến quyền lợi và tâm lý của

và thi hành án đồng thời tránh được việc giam bị cáo một cách tùy tiện Về cơ bản, cũng không có nhiều sự thay đổi lớn ảnh hưởng đến địa vị pháp lý của bị cáo mà chỉ là trình tự, thủ tục giải quyết vụ án

Tóm lại, cùng với xu hướng vận động chung của xã hội và công cuộc

Trang 32

hoàn thiện việc xây dựng hệ thống phápluật nói chung và pháp luật tố tụng

hình sự nói riêng, các quy định liên quan đến chế định địa vị pháp lý của bị cáo ngày càng được hoàn thiện theo hướng mở rộng hơn các quyền của bị cáo, đưa các quyền, nghĩa vụ của bị cáo lại gần hơn với quyền, nghĩa vụ của công dân, quyền con người thể hiện tính dân chủ, công bằng, minh bạch trong trong hệ thống pháp luật tố tụng hình sự Đồng thời, công cuộc hoàn thiện các quy định lên quan đến địa vị pháp lý của bị cáo còn giúp cho việc giải quyết các vụ án hình sự được nhanh chóng, hiệu quả, không bỏ lọt tội phạm và không làm oan người vô tội

1.2.2 Các quy phạm của pháp luật tố tụng hình sự về địa vị pháp lý của bị cáo trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003

BLTTHS năm 2003 có hiệu lực từ ngày 01/7/2004 đã thay thế cho BLTTHS năm 1988 và các luật sửa đổi, bổ sung BLTTHS năm 2003 sửa đổi, bổ sung một số vấn đề chính có liên quan đến chế định địa vị của bị cáo như sau:

Quy định rõ cho bị cáo có quyền được nhận các văn bản như quyết định ápdụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn,bản án, quyền được giải thích quyền và nghĩa vụ, quyền khiếu nại quyết định và hành vi của người có

thẩm quyền, quyền trình bày ý kiến và tranh luận tại tòa án (Điều 50 BLTTHS)

Tại Điều 57 BLTTHS bổ sung quy định Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của mặt trận có quyền cử bào chữa viên nhân dân để bào chữa cho bị cáo là thành viên của tổ chức mình

Tại Điều 58 BLTTHS đã mở rộng quyền bào chữa theo hướng bổ sung thêm quyền thu thập chứng cứ của người bào chữa và cũng quy định rõ trách nhiệm của họ

Riêng về vấn đề tranh tụng tại phiên toà: BLTTHS năm 1988 đã có quy định về tranh tụng Tuy nhiên những quy định này chưa thể hiện đầy đủ việc tranh tụng, nhất là tranh tụng tại phiên toà Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ

Trang 33

Việc phán quyết của Toà án phải căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng

cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo, nhân chứng, nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật [16]

Để thể chế hoá quan điểm của Đảng về tranh tụng tại phiên toà, nâng cao chất lượng xét xử các vụ án hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã sửa đổi, bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Toà án và các quy định khác để Kiểm sát viên phải chủ động trong việc thực hành quyền công tố, khi tranh luận còn ý kiến khác nhau thì kiểm sát viên phải đưa ra lập luận của mình đối với từng ý kiến Bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác có quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu được trình bày hết ý kiến và tranh luận dân chủ tại phiên toà Hội đồng xét xử khi nghị án chỉ được căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác (các điều 217, 218, 222 BLTTHS)

Thực trạng của các quy định về địa vi pháp lý của bị cáo trong BLTTHS năm 2003 như thế nào sẽ được giải quyết trong chương II của luận văn

1.3 ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA BỊ CÁO TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG

HÌNH SỰ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

1.3.1 Trong Bộ luật tố tụng hình sự Liên bang Nga [74]

Xét một cách toàn diện thì bộ luật tố tụng hình sự Liên bang Nga có những đặc điểm rất tương đồng đối với bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam Cả

2 bộ luật này đều đặc biệt tôn trọng quyền cơ bản của con người, các quyền

tự do dân chủ và bảo đảm sự tôn trọng về danh dự, nhân phẩm Tuy n h i ê n , t r

o n g v i ệ c q u y đ ị n h v ề đ ị a v ị p h á p l ý c ủ a b ị c á o t h ì l ạ i c ó n h ữn g n é t khác biệt rất rõ rệt

Trang 34

Tại Mục 7, Điều 47 Bộ luật tố tụng hình sự Liên bang Nga quy định:

Điều 47 Bị can

1 Bị can là người:

2 Bị can bị đưa ra xét xử được gọi là bị cáo Bị can đã có bản án tuyên

là có tội được gọi là người bị kết án Bị can đã có bản án tuyên vô tội được gọi là người vô tội

3 Bị can có quyền bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình, có

đủ thời gian và khả năng để chuẩn bị việc bào chữa

4 Bị can có quyền:

1 Được biết họ bị buộc tội về việc gì;

2 Được nhận bản sao quyết định khởi tố bị can, quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với họ, quyết định truy tố hoặc bản cáo trạng

3 Phản đối việc buộc tội, đưa ra những lời khai liên quan đến việc buộc tội họ hoặc từ chối đưa ra lời khai Khi bị can đồng ý khai báo thì phải thông báo cho họ về việc lời khai đó có thể được sử dụng làm chứng cứ của

vụ án, kể cả việc sau này họ phản bác lại lời khai đó, trừ trường hợp quy định tại điểm 1 khoản 2 Điều 75 Bộ luật này:

4 Đưa ra những chứng cứ;

5 Đưa ra những yêu cầu và đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng;

6 Đưa ra những lời khai và giải thích bằng tiếng mẹ đẻ hoặc bằng ngôn ngữ mà họ sử dụng thành thạo;

7 Được sự giúp đỡ miễn phí của người phiên dịch;

8 Được sự giúp đỡ của người bào chữa, trong đó có sự giúp đỡ miễn phí trong những trường hợp quy định tại Bộ luật này

9 Được gặp gỡ riêng và bí mật, kể cả trước lần hỏi cung đầu tiên và không bị hạn chế số lần và thời gian;

10 Được tham gia vào các hoạt động điều tra được tiến hành theo yêu

Trang 35

cầu của họ, của người bào chữa hoặc củangười đại diện hợp pháp của họ, nếu

như Dự thẩm viên đồng ý, tiếp xúc với xác biên bản hoạt động đó và đưa ra những nhận xét

11 Xem quyết định trưng cầu giám định tư pháp, được đưa ra các câu hỏi đối với người giám định và xem kết luận giám định

12 Xem toàn bộ hồ sơ vụ án sau khi kết thúc điều tra và được ghi chép bất kỳ tài liệu nào và với bất ký số lượng nào từ hồ sơ vụ án

13 Được sao chụp các tài liệu, hồ sơ vụ án, kể cả với sự trợ giúp của các phương tiện kỹ thuật;

14 Khiếu nại đối với hoạt động và quyết định của Điều tra viên, Dự thẩm viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán và được tham gia vào việc giải quyết khiếu nại của Tòa án

15 Phản đối việc đình chỉ vụ án theo những căn cứ quy định tại khoản

2 Điều 27 Bộ luật này

16 Tham gia vào quá trình giải quyết vụ án tại các Tòa án sơ thẩm, phúc thẩm và giám đốc thẩm, cũng như tham gia vào việc giải quyết của Tòa án đối với việc lựa chọn biện pháp ngăn chặn đối với họ và trong những trường hợp khác quy định tại các điểm 1, 2 và 10 khoản 2 Điều 29 Bộ luật này

17 Xem biên bản phiên tòa và đưa ra những nhận xét

18 Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án và được nhận bản sao các quyết định giải quyết kháng cáo

19 Được nhận bản sao những khiếu nại và yêu cầu đối với vụ án và đưa ra ý kiến phán đối đối với những khiếu nại và yêu cầu này

20 Tham gia vào việc xem xét những vấn đề liên quan đến việc thi hành án

21 Được bảo vệ bằng những biện pháp và phương pháp khác không bị

Bộ luật này cấm

Trang 36

5 Sự tham gia của người bào chữa hoặc người đại diện hợp pháp của bị can trong vụ án không phải là căn cứ để hạn chế bất cứ quyền nào của bị can

6 Khi hỏi cung lần đầu, Kiểm sát viên, Điều tra viên phải giải thích cho bị can về các quyền của họ quy định tại các điểm 3, 4, 7 và 8 khoản 4 Điều này, nếu người bào chữa không tham gia vào quá trình hỏi cung [74, tr.27, 28]

Bộ luật tố tụng hình sự Liên bang Nga cũng quy định về chủ thể tham gia tố tụng hình sự là bị cáo nhưng việc quy định về địa vị pháp lý của chủ thể này có phần chưa rõ ràng Không giống như Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam

là dành riêng một điều luật để quy định về khái niệm và địa vị pháp lý của bị cáo, Bộ luật tố tụng hình sự Liên bang Nga lại xếp chung khái niệm và địa vị pháp lý của bị cáo vào trong phần quy định của bị can Theo cá nhân tác giả thì nên tách ra như trong Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam Bởi lẽ, xét về vị trí thì bị cáo và bị can là hai tư cách độc lập và vị trí quan trọng ngang nhau, phải được đặt ở hai điều luật ngang hàng nhau Tất nhiên là giữa bị can và bị cáo có những quyền chung, có thể cùng quy định chung được, nhưng có nên chăng là sẽ có 1 điều luật chung, quy định những quyền và nghĩa vụ chung cho cả người bị tạm giữ (trong Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam) hoặc người bịtình nghi (trong Bộ luật tố tụng hình sự Liên bang Nga), bị can, bị cáo Và có các điều luật riêng cụ thể quy định về khái niệm và các quyền riêng, độc lập của chủ thể tham gia tố tụng Có như thế thì vừa đảm bảo được sự rõ ràng trong các quy định của pháp luật tố tụng hình sự lại không có sự trùng lặp trong các quy định của pháp luật

Một đặc điểm rất tương đồng giữa Bộ luật tố tụng hình sự Liên bang Nga và Việt Nam đó là không quy định cụ thể về nghĩa vụ của bị cáo mà một số quyền và nghĩa vụ của bị cáo quy định rải rác tại các điều luật khác Ví dụ như tại Điều 102 Bộ luật tố tụng hình sự Liên bang Nga quy định về các biện pháp ngăn chặn mà bị cáo buộc phải chấp hành [74, tr.48] hoặc khoản 1 Điều

247 Bộ luật này quy định buộc bị cáo phải có mặt tại phiên tòa [74, tr.112]

Trang 37

Mặc dù có rất nhiều điểm tương đồng và có những quy định chưa thật

sự phù hợp để áp dụng tại Việt Nam nhưng chúng ta phải thấy rằng chúng ta cần học tập họ trong việc quy định về quyền bào chữa và việc đảm bảo quyền bào chữa trong quá trình tiến hành tố tụng Những quy định như:

Được gặp gỡ riêng và bí mật, kể cả trước lần hỏi cung đầu tiên và không bị hạn chế số lần và thời gian; Xem quyết định trưng cầu giám định tư pháp, được đưa ra các câu hỏi đối với người giám định và xem kết luận giám định; Được sao chụp các tài liệu, hồ sơ

vụ án, kể cả với sự trợ giúp của các phương tiện kỹ thuật [74] Thật sự là những quy định mới mẻ và đảm bảo được quyền bào chữa của bị cáo

1.3.2 Trong tố tụng hình sự của Công hòa dân chủ nhân dân Trung Hoa [75]

Điểm khác biệt cơ bản trong quy định đối với tư cách tham gia tố tụng

"là bị cáo" giữa BLTTHS của Công hòa dân chủ nhân dân Trung Hoa và BLTTHS Việt Nam đó là Bộ luật này không quy định thế nào là bị cáo, cũng như không quy định 1 điều luật cụ thể về quyền và nghĩa vụ của bị cáo mà chỉ quy định về quyền và nghĩa vụ của bị cáo trong khi quy định về trình tự của các CQTHTT khi tiến hành làm rõ vụ án hoặc nằm rải rác ở các điều luật cụ thể Ví dụ như theo quy định tại Điều 33:

Nghi can trong vụ án do VKS truy tố có quyền chỉ định người bào chữa từ thời điểm vụ án được chuyển giao để thẩm tra trước hi truy tố Bị cáo trong một vụ án thuộc tự tố có quyền chỉ định người bào chữa vào bất kỳ thời điểm nào VKSND, trong thời hạn 3 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án được chuyển đến để thẩm tra trước khi truy tố, phải thông báo cho nghi can quyền chỉ định người bào chữa TAND, trong thời hạn 3 ngày kể từ ngày thụ

Trang 38

lý vụ án thuộc tư tố, phải thông báo cho bị cáo quyền chỉ định

người bào chữa [75, tr.15]

Hoặc quy định tại Điều 34 về quyền bào chữa:

Nếu vụ án do Kiểm sát viên đưa ra trước tòa và bị cáo không

có người bào chữa do khó khăn về tài chính hoặc vì lý do khác thì TAND có thể chỉ định một luật sư có nghĩa vụ trợ giúp pháp lý làm người bào chữa cho họ Nếu bị cáo là người mù, câm hoặc điếc hoặc là người chưa thành niên, vì thế chưa có người bào chữa thì TAND phải chỉ định một luật sư có nghĩa vụ trợ giúp pháp lý làm người bào chữa cho họ Nếu có khả năng bị cáo bị tử hình và chưa chỉ định bất kỳ ai làm người bào chữa, TAND phải chỉ định luật sư

có nghĩa vụ trợ giúp pháp lý làm người bào chữa cho họ [75, tr.15] Ngoài ra trong phần quy định về thủ tục xét xử sơ thẩm, BLTTHS của Công hòa dân chủ nhân dân Trung Hoa cũng quy định một loạt các quyền tương tự như trong BLTTHS Việt Nam như có quyền chỉ định luật sư, có quyền trình bày lập luận của mình đối với nội dung bản cáo trạng, được nói lời nói sau cùng, được quyền nhận bản án, được quyền kháng cáo bản án theo thủ tục phúc thẩm [75]

Một trong những điểm tương đồng giữa BLTTHS của Công hòa dân chủ nhân dân Trung Hoa và BLTTHS Liên bang Nga đó là gắn liền các quyền vànghĩa vụ của bị can và bị cáo, đa phần trong một điều luật đều quy định là bị can hoặc bị cáo có quyền hay nghĩa vụ gì đó Và trong quy định về nghĩa vụ của bị cáo thì BLTTHS của Công hòa dân chủ nhân dân Trung Hoa quy định chi tiết, cụ thể và rõ ràng hơn BLTTHS Việt Nam Cụ thể như các quy

định tại Điều 56 và Điều 57 Bộ luật này

Điều 56 Bị can hoặc bị cáo có người bảo lĩnh trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phải tuân thủ các quy định sau:

Trang 39

1 Không được rời khỏi thành phố hoặc thị trấn nơi cư trú nếu không

được phép của cơ quan thi hành;

2 Có mặt đúng lúc tại Tòa án khi được triệu tập;

3 Không được can thiệp dưới bất ký hình thức nào với nhân chứng khi

họ khai báo

4 Không được tiêu hủy hoặc làm sai lệch chứng cứ hoặc thông cung

Nếu bị can, bị cáo có người bảo lĩnh trong giai đoạn chuẩn bị xét xử vi phạm những quy định trên, tiền bảo lĩnh đã đặt sẽ bị tịch thu Ngoài ra, trong những trường hợp cụ thể, bị can, bị cáo sẽ bị yêu cầu phải viết một bản cam kết ăn năn hối cải, đặt tiền bảo lĩnh hoặc có người bảo lĩnh một lần nữa hoặc bị giám sát nơi cư trú hoặc bị bắt Nếu bị can, bị cáo không vi phạm các quy định của đoạn trên trong thời hạn có người bảo lĩnh khi chờ xét xử, tiền bảo lĩnh sẽ được trả lại cho người này khi hết thời hạn [75, tr.23]

Điều 57 Bị can, bị cáo bị giám sát nơi cư trú phải tuân thủ những quy định sau:

1 Không được rời khỏi nơi cư trú khi chưa được phép của cơ quan thi

hành án hoặc nếu không có nơi cư trú ổn định thì không được rời khởi nơi ở được chỉ định khi chưa được phép

2 Không được phép gặp gỡ người khác khi chưa được phép của cơ

quan thi hành án

3 Có mặt đúng lúc tại Tòa án khi được triệu tập;

4 Không được can thiệp dưới bất kỳ hình thức nào với nhân chứng khi

họ khai báo;

5 Không được tiêu hủy hoặc làm sai lệch chứng cứ hoặc thông cung

Nếu bị can, bị cáo vi phạm những quy định của đoạn trên và nếu vi phạm là nghiêm trọng thì sẽ bị bắt [75, tr.23 - 24]

Qua một số các quy định về địa vị pháp lý của bị cáo trong BLTTHS

Trang 40

của Công hòa dân chủ nhân dân Trung Hoa thì chúng ta thấy rằng có rất nhiều

điểm tương đồng trong quy định của BLTTHS Việt Nam Tuy nhiên, nếu như xét về các quy định về quyền bào chữa thì BLTTHS Việt Nam chưa quy định

cụ thể và cũng chưa thực sự quan tâm, đề cao đến quyền bào chữa của bị cáo được như họ Tất nhiên, cũng phải xét đến một điều là thực tế ở nước ta đội ngũ luật sư hay các trợ giúp viên pháp lý vừa yếu lại vừa thiếu, đồng thời cũng chưa có đủ kinh phí cho các hoạt động này Tuy nhiên, xét đến một tương lai xa hơn thì chúng ta cũng nên xem xét, sửa đổi các quy định về quyền bào chữa để đảm bảo đầy đủ và đúng đắn quyền lợi của bị cáo

1.3.3 Trong Bộ luật tố tụng hình sự của Nhật Bản [76]

Nhật Bản là nước theo mô hình tranh tụng nên các quy định của BLTTHS Nhật Bản chủ yếu quy định về các thủ tục liên quan đến chứng cứ

và phiên tòa, do vậy nên địa vị pháp lý của bị cáo được coi trọng hơn sơ với các chủ thể tham gia tố tụng khác Phần quy định về bị cáo trong Bộ luật này được quy định khá cụ thể, rõ ràng, thể hiện vai trò quan trọng của bị cáo trong quá trình TTHS

Cũng giống như BLTTHS Liên bang Nga và Công hòa dân chủ nhân dân Trung Hoa, BLTTHS Nhật Bản không có một điều luật chung quy định về quyền, nghĩa vụ của bị cáo như BLTTHS Việt Nam mà các quyền, nghĩa vụ này nằm rải rác khắp bộ luật Cụ thể như tại Điều 30:

1 Bị cáo hoặc bị can bất kỳ lúc nào cũng có thể được thuê Người bào chữa

2 Đại diện pháp định, người hộ tá, người phối ngẫu, thân tộc trực hệ, hoặc anh chị em ruột của bị ban hoặc bị cáo có thể độc lập thuê Người bào chữa [76, tr.6]

Hoặc tại Điều 79:

Trường hợp bị cáo đã bị giam giữ, người bào chữa phải được

Ngày đăng: 29/04/2017, 18:43

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Số lƣợng vụ án hình sự và số lƣợng các bị cáo từ năm - Luận văn các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thuộc về nhân thân người phạm tội
Bảng 2.1 Số lƣợng vụ án hình sự và số lƣợng các bị cáo từ năm (Trang 8)
Bảng 2.1: Số lượng vụ án hình sự và số lượng các bị cáo - Luận văn các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thuộc về nhân thân người phạm tội
Bảng 2.1 Số lượng vụ án hình sự và số lượng các bị cáo (Trang 58)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w