1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tài liệu ôn thi học sinh giỏi ngữ văn thpt chuyên đề CHI TIẾT NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN tự sự

16 1,4K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 134 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyễn Đăng Mạnh – Trong cuộc tọa đàm về cuốn sách Chân dung và đối thoại của Trần Đăng Khoa báo Văn nghệ số 14, 4/1999 Một thói quen của nhiều người viết khi tiếp cận văn bản tự sự là c

Trang 1

CHI TIẾT NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN TỰ SỰ

I ĐẶT VẤN ĐỀ:

1 Lý do chọn vấn đề

Đọc hiểu và cảm thụ được vẻ đẹp của tác phẩm văn học vốn không phải là một công việc mang tính khuôn mẫu, bởi mỗi văn bản có một chìa khóa riêng để giải mã chiều sâu cảm xúc và nội hàm giá trị nhân văn, nhân sinh của nó Để làm được công việc mang tính thẩm mĩ này, cần căn cứ vào đặc trưng thể loại, khuynh hướng nghệ thuật của tác giả, giai đoạn văn học… và quan trọng hơn hết

là bản thân ngôn từ của tác phẩm văn chương Với tác phẩm tự sự, ngôn từ tạo nên chi tiết, từ chi tiết mà cấu thành sự kiện, cảnh huống; kết nối sự kiện, cảnh huống thì tạo nên cốt truyện; từ chi tiết mà xây dựng chân dung nhân vật; từ chi tiết mà sắc thái thẩm mỹ độc đáo của mỗi thiên truyện được bộc lộ Mỗi chi tiết như một tế bào cấu thành sự sống của tác phẩm văn chương Theo các tác giả

cuốn Lí luận văn học (NXB Giáo dục - 1997): yếu tố có ý nghĩa quan trọng bậc nhất của truyện ngắn là chi tiết có dung lượng lớn và hành văn mang ẩn ý Nhiều khi, truyện ngắn sống được là nhờ vào những chi tiết hay, chi tiết phát sáng, chi tiết đắt giá “Ở truyện ngắn, mỗi chi tiết đều có vị trí quan trọng như mỗi chữ trong bài thơ tứ tuyệt Trong đó những chi tiết đóng vai trò đặc biệt như những nhãn tự trong thơ vậy” (Nguyễn Đăng Mạnh – Trong cuộc tọa đàm về

cuốn sách Chân dung và đối thoại của Trần Đăng Khoa báo Văn nghệ số 14, 4/1999)

Một thói quen của nhiều người viết khi tiếp cận văn bản tự sự là chỉ quan tâm đến cốt truyện, nhân vật, tình huống và những đề kiểm tra của học sinh cũng thường xoay quanh các vấn đề trên, đó đã là nguyên nhân làm cho bài viết của học sinh trở nên ít mới mẻ và sâu sắc Trong khi đó các chi tiết trong mỗi tác phẩm mới thực sự là tế bào, là mạch máu tạo nên sức sống và vẻ đẹp của từng thiên truyện Những bài viết biết khai thác chi tiết thường tạo nên những nét riêng, nét mới mẻ và cá tính vì trong mỗi chi tiết luôn chứa đựng những lớp trầm tích càng khai thác càng thấy giá trị

2 Thực trạng vấn đề

Có nhiều công trình nghiên cứu đã đưa ra phương pháp tiếp cận tác phẩm

đúng hướng, chú trọng chi tiết nghệ thuật như: Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể (Nhiều tác giả - NXB Giáo dục 1978), Những bài giảng văn ở Đại học (Lê Tri Viễn NXB Giáo dục 1982), Giảng văn I II (Nhiều tác giả

-NXB ĐH & THCN 1982) v.v Từ sau cải cách giáo dục, ngoài sách giáo khoa

và sách tham khảo chính thức của Bộ Giáo dục (sách giáo viên) nhiều nhà nghiên cứu, phê bình văn học, nhiều nhà giáo đã tham gia viết các công trình nghiên cứu và phân tích về các tác phẩm văn học được giảng dạy trong Nhà trường Các công trình này cũng đã giúp rất nhiều cho cả giáo viên và học sinh

Trang 2

trong việc tìm hiểu, nhận thức và cảm thụ tác phẩm văn học Nhưng cũng có nhiều bài viết khi nghị luận về một tác phẩm tự sự cụ thể chỉ giúp học sinh tiếp thu một cách thụ động theo lối học vẹt, học theo, chưa nói có không ít bài viết chất lượng chưa cao còn nặng về diễn nôm hoặc tóm lược tác phẩm văn chương là chính

3 Phạm vi vấn đề

Chuyên đề không đi sâu vào từng tác phẩm cụ thể mà chỉ đưa ra một số cách thức khai thác chi tiết của một số tác phẩm tự sự trong chương trình Ngữ văn, giúp cho đối tượng học sinh trong quá trình tiếp cận tác phẩm

4 Cấu trúc bài viết

Chuyên đề gồm 4 phần chính: Đặt vấn đề, Giải quyết vấn đề, Kết luận, Tài liệu tham khảo, phần Giải quyết vấn đề có cấu trúc 2 phần cụ thể như sau:

1 Chi tiết và việc khai thác chi tiết trong truyện ngắn tự sự

2 Hướng dẫn học sinh khai thác chi tiết qua một số truyện ngắn tự sự trong chương trình và một số đề luyện tập

II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1 Chi tiết nghệ thuật và việc khai thác chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm văn chương tự sự

1.1 Chi tiết trong tác phẩm văn học

Chi tiết là một từ ngữ quen thuộc trong giao tiếp hàng ngày Theo Từ điển Tiếng Việt (NXB Khoa học xã hội Hà Nội 1988) thì Chi tiết là: Phần rất nhỏ, điểm nhỏ trong nội dung sự việc hoặc hiện tượng (Ví dụ: Kể rành rọt từng chi tiết) Là thành phần riêng rẻ hoặc tổ hợp đơn giản nhất của chúng có thể tháo lắp được (Ví dụ: Chi tiết máy).

Như vậy trong đời sống hàng ngày từ “Chi tiết” được hiểu và dùng như là một thành tố, một bộ phận nhỏ của một sự việc, tổng thể Chi tiết được hiểu như

là một thành phần thuộc về cấu tạo

Trong văn học, chi tiết theo định nghĩa của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần

Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Đại học quốc gia

Hà Nội, 1997) là: Các tiểu tiết của tác phẩm mang sức chứa lớn về cảm xúc và

tư tưởng và họ gọi chung là chi tiết nghệ thuật Cũng theo nhóm tác giả này thì: Tuỳ theo sự thể hiện cụ thể, chi tiết nghệ thuật có khả năng thể hiện, giải thích, làm minh xác cấu tứ nghệ thuật của nhà văn, trở thành tiêu điểm, điểm hội tụ của tư tưởng tác giả trong tác phẩm Chi tiết nghệ thuật gắn với “quan niệm nghệ thuật” về thế giới con người, với truyền thống văn hoá nghệ thuật nhất định Chi tiết nghệ thuật là những yếu tố nhỏ lẻ của tác phẩm nhưng mang sức

chứa lớn về cảm xúc và tư tưởng Sức chinh phục của hình tượng nghệ thuật là ở

sự truyền cảm thì góp phần quyết định tạo ra sức truyền cảm hấp dẫn, lôi cuốn người đọc là nhờ chi tiết Tất nhiên không phải mọi chi tiết trong tác phẩm đều

có vai trò, vị trí và giá trị như nhau Có chi tiết chỉ đóng vai trò vật liệu xây

Trang 3

dựng, làm tiền đề cho cốt truyện phát triển thuận lợi và hợp lý, nhưng cũng có không ít chi tiết thể hiện tập trung cho cấu tứ của tác giả

Chi tiết nghệ thuật trước hết mang bản chất sáng tạo của người nghệ sĩ, bản chất văn hóa của một cộng đồng Chúng ta đều thấy chỉ qua một vài con chữ

trong Truyện Kiều, như chữ “tót” (Ghế trên ngồi tót sỗ sàng), chữ “cò kè” (Cò

kè bớt một thêm hai) mà thi hào Nguyễn Du đã lật tẩy cả một chân dung kẻ con

buôn, vô học, thô lỗ của nhân vật Mã Giám Sinh, hay một chữ “lẻn” làm lộ ra một tính cách mờ ám, lén lút, tráo trở… của Sở Khanh, hay hai chữ “mặt sắt” đã gọi ra một chân dung tính cách lạnh lùng, hiểm độc, tàn nhẫn của Hồ Tôn

Hiến… Các chữ “tót”, “cò kè”, “mặt sắt” được gọi là những chi tiết đắt giá làm

nổi lên hồn cốt nhân vật

Chi tiết hàm chứa nhiều nét nghĩa, nhiều giá trị được gọi là tín hiệu nghệ thuật Đã gọi là tín hiệu thì luôn mang một mã, để giải mã thì phải nhờ đến cả

một chiều sâu văn hóa Ví dụ để hiểu bài thơ Mời trầu của Hồ Xuân Hương phải

có vốn văn học dân gian nhất định: Quả cau nho nhỏ, miếng trầu hôi/ Này của Xuân Hương mới quệt rồi/ Có phải duyên nhau thì thắm lại/ Đừng xanh như lá, bạc như vôi Để cắt nghĩa được văn bản người đọc buộc phải liên tưởng về câu chuyện cổ Trầu cau, lại phải đặt bài thơ vào quan niệm truyền thống phương

Đông trong tình yêu hôn nhân: Cái duyên và màu sắc đỏ… Như vậy nếu dịch bài thơ này sang một ngôn ngữ khác là cực khó, không muốn nói là không thể

Chi tiết gắn với quan niệm nghệ thuật về con người và cuộc sống của nhà

văn Chỉ cần đọc một câu thơ Bố cu lổm ngổm bò trên bụng của “Bà Chúa thơ

Nôm” cũng cho thấy cả một cái nhìn coi thường, khinh miệt giới đàn ông trong

xã hội phong kiến hà khắc vốn luôn coi phụ nữ chỉ là đồ chơi Động từ “lổm ngổm” thường để chỉ những con vật loài cua cáy, đặt trong văn cảnh bài thơ nó

toát lên một tiếng cười mỉa: Tưởng cái anh đàn ông phải là “Làm trai cho đáng lên trai/ Xuống đông đông tĩnh, lên đoài đoài yên”, nhưng thực ra cũng chỉ là

thứ cua cáy mà “bò” trên sự vĩ đại của người phụ nữ… Chi tiết này còn cho thấy một sự nổi loạn, sự đối chọi với cả một ý thức hệ hẹp hòi, ích kỷ, phản nhân văn lỗi thời

Hãy nhìn vào những so sánh của bài ca dao sau ta thấy người Việt xưa yêu

quý cái đẹp lắm, nhất là cái đẹp thuộc về con người: Cổ tay em trắng như ngà/ Đôi mắt em sắc như là dao cau/ Miệng cười như thể hoa ngâu/ Cái khăn đội đầu như thể hoa sen Và cái đẹp của người con gái xứ Kinh Bắc trong Bên kia sông

Đuống của Hoàng Cầm không chỉ là cái đẹp trần thế mà còn là cái đẹp mang tầm

vĩnh cửu của tạo hóa tỏa ánh sáng và sự sống xuống cõi trần gian: Những cô hàng xén răng đen/ Cười như mùa thu tỏa nắng.

Chi tiết đóng vai trò làm tiền đề cho sự phát triển của cốt truyện Hẳn chúng

ta không ai quên cái hình dáng “ngật ngưỡng” của nhân vật Chí Phèo trong

Trang 4

truyện ngắn cùng tên của nhà văn Nam Cao: “Hắn vừa đi vừa chửi, bao giờ cũng vậy, cứ rượu xong là hắn chửi Bắt đầu hắn chửi trời…” Đây là chi tiết mở

đầu tác phẩm, ngoài sự khơi gợi hấp dẫn lôi kéo bạn đọc, nó vừa có tác dụng gián tiếp giới thiệu thân thế, tiểu sử nhân vật vừa có chức năng mở ra một trường không - thời gian trong quá khứ rồi tiếp đến thì tương lai trong cuộc đời ngắn ngủi của Chí Phèo Dưới góc độ xã hội học, cũng chi tiết này còn mở ra một ý nghĩa về thân phận con người trong xã hội cũ Bản chất của xã hội là giao tiếp Không có giao tiếp thì không có xã hội, mà xét đến cùng chửi nhau cũng là một cách giao tiếp, có điều là giao tiếp trong thế đối lập Kênh giao tiếp sẽ bị đóng băng hoàn toàn khi cả hai bên không thèm để sức, có hơi và nhiệt tình để mà chửi nhau nữa Thế cho nên khi Chí chửi cả làng Vũ Đại tức là Chí khát khao được giao tiếp với mọi người Cả làng Vũ Đại không ai thèm “ra nhời” với Chí

vì Chí không còn xứng đáng là người để họ chửi Tức là dân làng Vũ Đại đã coi Chí ở một thế giới khác, thế giới của thân phận loài vật, có lẽ chính xác hơn là

thân phận loài chó, mà bằng chứng là có chi tiết: “Thành thử chỉ có ba con chó

dữ với một thằng say rượu…” Giả sử Chí Phèo không có chi tiết “bát cháo hành” thì truyện sẽ rất bình thường, nhưng nhờ có nó mà cốt truyện như đào sâu

thêm vào cái bi kịch không được làm người của một kẻ khát khao lương thiện, nhờ đó ý nghĩa truyện nâng thêm một tầm cao

Chi tiết thể hiện tập trung cho cấu tứ Trường hợp này thường để nhà thơ cấu trúc tác phẩm và người bình thơ nương theo đó mà tìm ra tứ thơ Xin ví dụ bằng

bài thơ Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng (Tại lầu Hoàng

Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng) của đại thi sĩ Lý Bạch:

Cố nhân tây từ Hoàng Hạc lâu

Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu

Cô phàm viễn ảnh bích không tận

Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu

(Bạn từ lầu Hạc lên đường

Giữa mùa hoa khói, Châu Dương xuôi dòng

Bóng buồm đã khuất bầu không

Trông theo chỉ thấy dòng sông bên trời

-Bản dịch của Ngô Tất Tố)

Hai câu đầu nói tới người đi (Mạnh Hạo Nhiên) với không gian chia ly: Tại lầu Hoàng Hạc, thời gian chia ly: Giữa mùa hoa khói Nơi đến: Dương Châu Như vậy Lý Bạch không tiễn bạn nơi quê nhà mà ở nơi đất khách: Lầu Hạc - một địa danh gắn liền với truyền thuyết vị tiên cưỡi hạc vàng bay đi Dương Châu thời điểm bấy giờ là một thành phố nổi tiếng sầm uất nhất vùng Giang Nam mà

Lý Bạch đã từng đến Thế cho nên đằng sau những chi tiết địa danh này còn ẩn một lý do nào đó mà Lý Bạch không thể đi cùng bạn Điều này cắt nghĩa hai câu sau với những chi tiết đặc sắc càng làm cho tứ thơ tiễn bạn thật nặng tình, chất

Trang 5

chứa tâm trạng Tình lồng trong cảnh: Chiếc buồm cô đơn cũng là người bạn cô đơn đang xa dần rồi mất hút vào màu xanh vô tận của sông nước bao la Thuyền

đi đã khuất bóng mà người đưa tiễn vẫn còn đứng trên lầu cao để trông theo Chi tiết cô phàm (cánh buồm cô đơn) cho thấy nhà thơ không chỉ nhìn theo bằng mắt

mà còn nhìn bằng cả tấm lòng

Như vậy trong phép làm văn, sự dụng công hướng vào việc tìm ra chi tiết Chi tiết càng có sức biểu hiện càng góp phần nâng cao giá trị tác phẩm Không bao giờ có một tác phẩm hay mà chi tiết lại nhạt nhẽo, nông cạn, thiếu sức sống

1.2 Khai thác chi tiết trong truyện ngắn tự sự

Chi tiết phong phú và đa dạng như thế khi phân tích tác phẩm văn học, tác

phẩm tự sự, đặc biệt là truyện ngắn chúng ta cần phải cân nhắc cẩn thận trong việc lựa chọn chi tiết phù hợp Trong bài viết này tôi quan tâm hơn về truyện ngắn vì kì thực trong chương trình Ngữ văn 12, các tác phẩm tự sự chủ yếu thuộc thể loại truyện ngắn Và ở một phạm vi nhất định truyện ngắn có những điểm khác với các thể loại tự sự khác, nhất là tiểu thuyết Thế nhưng, trong quá trình lựa chọn chi tiết để phân tích truyện ngắn nhiều người viết đã cho rằng các chi tiết tự sự (các tình tiết) là những bộ phận thuộc về kết cấu cốt truyện, thể hiện diễn biến của cốt truyện nên đã không chú ý

Chúng ta đều biết truyện ngắn khác với tiểu thuyết không chỉ vì số lượng trang, chữ, dài ngắn mà còn chính là khác về nội dung, kết cấu cốt truyện Tiểu thuyết (truyện dài) vừa dài và dày về số trang, số chữ mà còn miêu tả cuộc sống đầy đủ về không gian và thời gian (dung lượng) Tiểu thuyết phản ánh hiện thực cuộc sống theo một thời gian dài, xẩy ra ở nhiều nơi khác nhau với nhiều nhân vật, thể hiện nhiều vấn đề Vì vậy cốt truyện cũng phức tạp, đan chéo, quyện lẫn vào nhau Do đó, khi phân tích tiểu thuyết nhà nghiên cứu không thể nêu hết và phân tích hết được các chi tiết biểu hiện của tác phẩm Ngược lại truyện ngắn là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ, diễn tả một cái khoảnh khắc, chốc lát của cuộc sống vì vậy chi tiết phải cô đúc, ngôn ngữ mang nhiều ẩn ý, tạo ra cho tác phẩm những chiều sâu về nội dung và nghệ thuật cần phải tìm hiểu

Nhiều nhà văn đã có những phát biểu cụ thể về truyện ngắn như nhà văn

Vũ Thị Thường: “Viết truyện dài như làm một căn nhà đồ sộ, còn bắt tay viết truyện ngắn là nhận lấy việc chạm trổ một cái khay, một tấm tranh khắc gỗ Ở truyện dài có thể có những chương “độn” nhưng ở truyện ngắn chỉ cần viết một nữa trang lỏng lẻo là truyện đổ liền Những chi tiết hay đến mấy đi chăng nữa

mà không phục vụ chủ đề, thì cũng trở nên vô ích” (Kinh nghiệm viết truyện ngắn - Vương Trí Nhàn - NXB Tác phẩm mới) Hoặc như ý kiến của cố nhà văn Nguyễn Công Hoan: “Truyện ngắn và truyện dài phải khác nhau ở tính chất Truyện ngắn không phải là truyện mà là một vấn đề được xây dựng bằng chi tiết với sự bố trí chặt chẽ và bằng thái độ với cách đặt câu dùng tiếng có cân nhắc.

Trang 6

Muốn truyện là truyện ngắn, chỉ nên lấy một ý chính làm chủ đề cho truyện Những chi tiết trong truyện chỉ nên xoay quanh chủ đề ấy Không có chi tiết thừa, rườm rà, miên man.

Mỗi truyện cần có một ý, một ý thôi Ý ấy là ý chính của chuyện nhưng thật

ra đó là ý định của tác giả làm nổi được ý ấy cho độc giả hiểu thì truyện sẽ hay” (Kinh nghiệm viết truyện ngắn - Vương Trí Nhàn - NXB Tác phẩm mới).

Một số nhà văn như Tô Hoài, Bùi Hiển, Nguyễn Thành Long, Nguyễn Kiên, Nguyễn Quang Sáng, Đỗ Chu, Ma Văn Kháng v.v cũng đã có rất nhiều ý kiến

xoay quanh đặc điểm về chuyện “bếp núc” của truyện ngắn Nói chung theo ý

họ có thể có nhiều tác phẩm viết chưa hay, nhưng truyện ngắn phải khác truyện dài, khác tiểu thuyết Có thể lấy thêm một ý kiến nữa của nhà văn Ma Văn

Kháng: “Theo tôi hiểu, một tác phẩm dưới mười ngàn chữ không nên ngổn ngang quá Tôi thích những truyện tình, trọn vẹn Như người ta vẫn nói:toàn truyện phải là một cái vòng khép kín, không dài quá, không ngắn quá, không xô đẩy xộc xệch, thậm chí không thừa một chi tiết nào Khi đã vào truyện cái xà tích của một cô gái hay một chút ánh trăng thượng tuần cũng phải có ý nghĩa, cái nọ nương tựa cái kia, chi tiết này soi rọi cho chi tiết khác” (Kinh nghiệm viết truyện ngắn - Vương Trí Nhàn - NXB Tác phẩm mới)

Nhiều nhà văn khác cũng đã có những nhận định tương tự như vậy Nói chung, tất cả mọi người đều cho rằng truyện ngắn là một khối thống nhất, hoàn chỉnh, chặt chẽ từ nội dung, tư tưởng chủ đề đến hình thức diễn đạt, ở truyện ngắn không có một cái gì là thừa Vì vậy, viết truyện ngắn là một điều vô cùng

khó khăn Nhà văn Nguyễn Ngọc đã từng so sánh việc viết truyện kí “Đất nước đứng lên” và truyện ngắn “ Rừng xà nu” của ông, ông tâm sự “Trước hết tôi nghĩ có lẽ ở thời “Đất nước đứng lên”, chắc tôi sẽ không thể viết được, viết nổi

“Rừng xà nu” Riêng tôi cảm thấy điều đó rất rõ” (Nguyên Ngọc - Về một truyện ngắn Rừng xà nu Trích trong Để dạy tốt Văn học Việt Nam lớp 12 -NXB Giáo dục 1996) và ông đã giải thích lý do vì sao: Truyện ngắn tuy ngắn

nhưng nhiều chi tiết, người viết phải biết rất nhiều, rất dài, phải có vốn sống, biết cách chọn tình huống, cách xử lý bố cục, cách dựng truyện, dựng người, cách

nói, giọng nói, lời kể, lời văn v.v Những khả năng đó thì thời viết “Đất nước đứng lên” ông chưa đủ độ chín.

Như vậy, khác với truyện dài, truyện ngắn tuy nhỏ bé hơn nhiều về số lượng trang, chữ, về đối tượng phản ánh (cái chốc lát, cái khoảnh khắc của cuộc sống, một ý tưởng v.v ) nhưng lại đòi hỏi, yêu cầu rất cao về nghệ thuật diễn đạt Ở truyện ngắn dĩ nhiên là truyện ngắn hay - không có những yếu tố thừa Cho nên khi phân tích truyện ngắn, chúng ta cần phải lựa chọn các chi tiết biểu hiện, là những chi tiết tiêu biểu quan trong để thể hiện đúng và đầy đủ giá trị nội dung và nghệ thuật tác phẩm Bỏ qua hoặc quên đi một số chi tiết dù chỉ nhỏ bé nhưng lại

có ý nghĩa quan trọng và sẽ làm hạn chế giá trị biểu hiện của tác phẩm

Trang 7

II HƯỚNG DẪN HỌC SINH KHAI THÁC CHI TIẾT QUA MỘT SỐ TRUYỆN NGẮN TỰ SỰ TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 12

Truyện ngắn nói riêng cũng như Văn học Việt Nam nói chung từ sau cách mạng tháng Tám - 1945 đến nay đã có sự thay đổi, phát triển hơn truyện ngắn trước 1945 về cả hình thức lẫn nội dung Những tác phẩm được tuyển chọn để dạy ở chương trình Ngữ văn 12 có thể coi là tiêu biểu cho truyện ngắn, thể hiện

đầy đủ các đặc điểm của truyện ngắn đã nói ở trên Đó là những truyện như: Vợ nhặt (Kim Lân), Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài), Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành), Những đứa con trong gia đình (Nguyễn Thi) và Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn

Minh Châu) Mỗi tác phẩm đã phản ánh hiện thực cuộc sống, đặt ra những vấn

đề của từng giai đoạn một cách sâu sắc bằng những hình thức nghệ thuật đặc sắc Chính vì vậy, nên khi phân tích những truyện ngắn này để giảng dạy và phục vụ cho việc dạy và học của thầy và trò, các giáo viên, cán bộ giảng dạy cũng như các nhà nghiên cứu v.v đã hết sức cố gắng để làm rõ được giá trị độc đáo, cái hay cái đẹp của chúng, giúp cho học sinh nhất là các em học sinh khá giỏi, cảm thụ hết vẻ đẹp của văn học

1 Truyện “Vợ nhặt” (Kim Lân):

1.1 Hướng dẫn khai thác các chi tiết tình huống truyện

Bước một, cho học sinh xác định tình huống, gọi tên tình huống của truyện (Đó là tình huống nhặt được vợ, lại nhặt nơi đầu đường xó chợ Đây là một tình huống lạ, một tình huống có vấn đề)

Bước hai cho học sinh tìm hiểu các chi tiết quan trọng tạo nên tình huống trên Bước này học sinh chỉ cần căn cứ vào sách giáo khoa để tìm hiểu Có thể chỉ ra những cụm từ, những câu, những đoạn cụ thể, hoặc có thể trả lời một cách khái quát nội dung chi tiết của vấn đề (Tên nhân vật chính (Tràng), bối cảnh trước khi Tràng nhặt vợ, câu hò của Tràng, thái độ của người đàn bà nhặt thóc rụng, bốn bát bánh đúc, cái nhíu mày của người vợ nhặt,…)

Bước ba học sinh căn cứ vào các chi tiết đã tìm để đi sâu vào phân ý nghĩa và giá trị của các chi tiết ấy Chẳng hạn như tên gọi của nhân vật (Tràng), đã gợi lên một loại dụng cụ dùng trong nghề mộc, nó nói lên sự vất vả cơ cực của một kiếp người (em gái của Tràng có tên là đục), như vậy tên gọi của nhân vật là theo ý đồ nghệ thuật của nhà văn Hoặc như bối cảnh của truyện: những dòng người “đội chiếu lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng ma, và nằm ngổn ngang khắp lều chợ Người chết như ngả rạ Không buổi sáng nào người trong làng đi chợ, đi làm đồng không gặp ba bốn cái thây nằm còng queo bên đường Không khí vẩn mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người…” Đây quả là một khung cảnh thê lương, một không khí của đám ma, một không

gian đầy mùi tử khí… Truyện “Vợ nhặt” của Kim Lân đã xây dựng được một

tình huống vô cùng độc đáo để thể hiện ý tưởng: Một nông dân nghèo rớt mồng

tơi, tưởng chừng không bao giờ có vợ lại được có vợ bằng cách “nhặt”, mà chỉ

Trang 8

cần bốn bát bánh đúc Tuy nhiên nhà văn không chỉ dừng ở đó Thông qua tình

huống khác thường độc đáo này, Kim Lân “đã thể hiện một tình cảm nhân hậu với những người cùng khổ”, ý nghĩa của truyện: trong sự túng đói quay quắt,

trong bất cứ hoàn cảnh khốn khó nào, người nông dân vẫn khát khao vươn lên trên cái chết, cái thảm đạm, để mà vui, để mà hy vọng

1.2 Hướng dẫn khai thác các chi tiết về nhân vật

Tương tự như trên, tôi cho học sinh tìm hiểu theo các bước: xác định và gọi tên nhân vật, tìm các chi tiết quan trọng biểu hiện nổi bật nội dung tư tưởng cũng như nghệ thuât của vấn đề rồi đi sâu vào phân tích các chi tiết đó Chẳng hạn về nhân vật Tràng, từ chi tiết ngoại hình (thô nháp, vập vạp), đến tính cách chậm chạp (tư duy bằng miệng) rồi hoàn cảnh éo le: dân ngụ cư, cha chết sớm, nhà nghèo (chỉ có một túp lều dúm dó mọc trên một mảnh đất lổn nhổn những cỏ),

mẹ già cả… đều tập trung nhấn mạnh đến khả năng rất khó lấy vợ của Tràng Việc anh có vợ nhà văn miêu tả bằng một loạt chi tiết hết sức tình tế Hạnh phúc đến thật bất ngờ tưởng không bao giờ có được ở một thân phận thấp hèn xấu xí, cho nên Tràng từ ngỡ ngàng thành niềm vui cụ thể, Tràng cảm nhận và tận

hưởng “Một cái gì mới mẻ, lạ lắm, chưa từng thấy ở người đàn ông nghèo khổ

ấy, nó ôm ấp, mơn mang khắp da thịt Tràng, tựa hồ như có bàn tay vuốt nhẹ trên sống lưng” Vì vậy đến khi đã về đến nhà, đã có thị ở nhà rồi, mà “Nhìn thị ngồi ngay giữa nhà rồi, đến bây giờ hắn vẫn còn ngờ ngợ như không phải thế Ra hắn đã có vợ rồi đấy ư” Chi tiết Tràng đi ra đi vào phấp phỏng, sốt ruột chờ mẹ

về và cái thở phào “ngực nhẹ hẳn đi” là chi tiết thể hiện sự quan sát và trải nghiệm sâu sắc của nhà văn Rồi chi tiêt sáng hôm sau (của đêm tân hôn) thức

dậy, Tràng vẫn còn cảm thấy: “Trong người êm ái lửng lờ như người vừa ở

trong giấc mơ đi ra Việc hắn có vợ đến hôm nay vẫn còn ngỡ ngàng như không

phải” Tiếp theo là những cảm nhận về cuộc sống đầu tiên khi đã có gia đình:

“Hắn chớp chớp liên hồi mấy cái và bổng vừa chợt nhận ra xung quanh mình có cái gì vừa thay đổi mới mẻ” Đọc đến đây, ta có liên hệ đến hình ảnh Chí Phèo

nhận ra sau những cơn say dài triền miên Ở đây Kim Lân rất tài tình trong việc miêu tả tâm lý, tả những tâm trạng phức tạp ở nhân vật của mình Tràng đã có sự thay đổi thật sự với những cảm nhận về trách nhiệm và tình cảm đối với gia đình, với cái nhà của mình Tuy nhiên để hiểu được sâu sắc vấn đề, nên hướng dẫn học sinh đi sâu vào tìm hiểu thêm một số chi tiết khác trong tác phẩm Như chi tiết đã bị tóm lược trong chương trình Tràng mua hai hào bạc dầu để thắp trong đêm tân hôn với một ý nghĩ rất hồn nhiên: Vợ mới, vợ miếc cũng phải sáng sủa một tí chứ Rõ ràng người đàn ông khốn khổ và cơ cực ấy đã rất chi chút đến hạnh phúc của mình Song có lẽ, chi tiết đắt nhất để tả sự thay đổi đó chính là

việc: “Hắn xăm xăm chạy ra giữa sân, hắn cũng muốn làm một việc gì để dự phần tu sửa lại căn nhà” Tác giả Nguyễn Quang Trung trong “Phân tích - Bình giảng tác phẩm văn học 12” (NXB Giáo dục - 1999) đã chọn chi tiết này và bình: “So với cái dáng” ngật ngưỡng” mở đầu tác phẩm, hành động “ xăm

Trang 9

xăm” này của Tràng là một đột biến quan trọng, một một bước ngoặt đổi thay

cả số phận lẫn tính cách của Tràng: Từ khổ đau sang hạnh phúc, từ chán đời sang yêu đời, từ ngây dại sang ý thức Chẳng thế mà Kim Lân đã thấy đủ điều kiện đặt vào dòng suy nghĩ của một Tràng ý thức bổn phận sâu sắc: “Bây giờ hắn mới thấy nên người, hắn thấy hắn có bổn phận lo lắng cho vợ con sau này” Tràng đã thật sự “Phục sinh tâm hồn” đó là giá trị lớn lao của hạnh phúc Cô Kiều xưa: “ xăm xăm băng lối vườn khuya vường mình” thì táo bạo đấy mà vẫn

cú chênh vênh, đơn độc thế nào Cái xăm xăm của Tràng mới thực khỏe, tự tin như vậy” Đúng là ở Tràng đã có sự chuyển biến, thay đổi lớn lao, là bước ngoặt

quan trọng trong đời anh

Khác với sự đổi thay theo chiều hướng đi lên, thẳng đứng của Tràng, ở nhân vật bà cụ Tứ, tâm lý được miêu tả diễn biến phức tạp, theo hai bước: lúc mới gặp nàng dâu mới và sáng hôm tân hôn Ở mỗi bước, nhà văn đã khéo léo lựa chọn nhiều chi tiết có ý nghĩa để miêu tả nhân vật nhất là tâm lý nhân vật, rối rắm đó: ngạc nhiên có, sững sờ có, vui mừng có, buồn tủi có, lo lắng có, tin tưởng có Diễn biến tâm trạng của nhân vật có vẻ như nếp gấp như thế, nhưng điểm sáng ở bà cụ Tứ như có người đã nhận xét: Truyện gồm ba nhân vật, lại xuất

hiện muộn mằn nhất và là một bà lão “gần đất xa trời” nhưng thật kỳ lạ, chính

bà lão chứ không phải ai khác đã thắp sáng sự tin tưởng, niềm hy vọng cho người khác Có thể thấy rõ điều đó qua một số chi tiết như: Khi Tràng đánh diêm

đốt đèn, thắp sáng, bà cụ Tứ dã nói: “Có đèn ấy à ? Ừ thắp lên một tí cho sáng sủa ” Một chút sáng nhỏ bé lần đầu xuất hiện trên cái tối tăm của cuộc sống

nhưng nó là khát khao, ước mong cháy bỏng của bà

Chính vì vậy, trong đêm tâm hôn và sáng hôm sau bà đã nói với con và dâu

bằng những lời lẽ tràn đầy niềm tin hy vọng: “Biết thế nào hả con, ai giàu ba

họ, ai khó ba đời ? Có ra thì con cái chúng mình về sau” hay bàn chuyện sửa sang nhà cửa, chăn nuôi… Câu nói “Khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà” nghe có

vẻ phấn khởi mà sao vẫn thấy thật tội nghiệp, người đọc dễ liên tưởng đến bài ca

dao than thân “Mười quả trứng” của ông cha ta: “Tháng giêng, tháng hai/ Tháng

ba, tháng bốn/ Tháng khốn tháng nạn/ Đi vay đi dạm/ Được một quan tiền/ Ra chợ Cửa Diên/ Mua một con gà mái về nuôi” Rồi chi tiết nồi “chè khoán” (mà thực chất là cháo cám) với nhận xét “Ngon đáo để” của bà chính là niềm tin về

hạnh phúc cuộc sống

Cùng với những chi tiết miêu tả nhân vật, truyện ngắn “Vợ nhặt” còn có

nhièu chi tiết về kết cấu, cốt truyện rất đặc sắc Nhờ đó mà ý nghĩa của chủ đề

của tác phẩm càng trở nên sâu sắc hơn Đó là tiếng hờ khóc tỉ tê “của những nhà

có người chết đói, tiếng trống thu thuế đầu đình, và cảm giác đắng chát và nghẹn bứ của Tràng khi ăn bát chè cám của mẹ vừa múc cho” Ba chi tiết khác

nhau nhưng cùng chung một ý nghĩa: hạnh phúc đang bị đe dọa Niềm vui của bà

cụ Tứ và hạnh phúc của Tràng đang phải đối mặt với một thực tế: nạn đói khủng khiếp đang hoành hành khắp nơi, sinh mạng người lúc này có thể bị mất đi rất

Trang 10

dễ dàng Trong ba chi tiết, có lẽ tiếng trống ngoài đình là đắt nhất vì sao ?

Chúng ta hãy đọc lại chi tiết mà Kim Lân đã miêu tả : “Ngoài đình bỗng dội lên một hồi trống dồn dập, vội vã Đàn quạ trên những cây gạo cao chót vót ngoài bãi chợ hốt hoảng bay vù lên, lượn thành từng đám vẩn trên nền trời như những đám mây đen” Cách giải thích như tác giả trong “Tuyển tập các bài giảng văn học lớp 12” (NXB TP Hồ Chí Minh - 1992) ý là “Về phương diện biểu tượng, đàn quạ ấy che đen cả bầu trời như những đám mây đen làm cho ta nhận thức được cảnh sống bế tắc, tối tăm, chết chóc tưởng chừng như đang ụp xuống, đóng lại kín mít, tối bưng”

Về chi tiết cuối hình ảnh “đoàn người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới” có

người chú ý đến có người không, nhưng đây vẫn là một chi tiết rất đáng trân trọng về chủ đề tác phẩm và quan điểm nghệ thuật của tác giả Bởi cùng với chi

tiết mở đầu tác phẩm: một buổi chiều “chạng vạng mặt người” và kết thúc là một buổi sáng “mặt trời lên bằng con sào” chi tiết này đã làm cho “Vợ nhặt”

không còn là tác phẩm của dòng Văn học Hiện thực phê phán trước 1945

2 Truyện “Vợ chống A Phủ” (Tô Hoài):

Chủ đề của truyện có hai ý: phản ánh thân phận đau khổ của người nông dân miền núi dưới ách thống trị áp bức của các thế lực phong kiến và thực dân, đồng thời là một bài ca về sức sống và khát vọng tự do của con người miền núi, là hình ảnh con đường giải phóng và cuộc đời cách mạng của họ Khi đọc hiểu tác phẩm này nên tập trung cho các em khai thác các chi tiết xoay quanh nhân vật

Mỵ Có thể thấy ở nhân vật này đầy ắp những chi tiết hay, chi tiết độc đáo Tuy nhiên, chúng ta cũng không thể đi hết mọi chi tiết mà quan trọng nhất là biết lựa chọn những chi tiết có giá trị lớn nhất trong việc thể hiện ý đồ tư tưởng của tác phẩm và biết khai thác sâu ý nghĩa của mỗi chi tiết ấy

Mở đầu truyện ngay từ những dòng đầu tác giả đã rất khéo léo giới thiệu

về Mỵ: “Ai ở xa về có việc vào nhà thống Lý Pá Tra thường trông thấy có một

cô con gái ngồi quay sợi bên tảng đá trước cửa, cạnh tàu ngựa Lúc nào cũng vậy, dù quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vả, chẻ củi hai đi cõng nước dưới khe suối lên, cô ấy cũng cuối mặt, mặt buồn rười rượi Cô ấy là vợ A Sử, con trai của Thống Lý Pá Tra” Cách miêu tả, dẫn dắt như thế có sức gây ấn tượng về nhân

vật mà nhà văn muốn giới thiệu Tôi đã hướng dẫn học sinh, khi đọc hiểu đoạn giới thiệu này tập trung vào chi tiết: Lúc nào cũng cúi mặt, mặt buồn rười

rượi, đặc biệt chi tiết Mỵ ngồi “bên tảng đá trước cửa, cạnh tàu ngựa” Tác giả

đã tỏ ra tất tinh tế và sâu sắc khi đặt nhân vật trong sự đối lập với khung cảnh

xung quanh: giữa cảnh giàu sang của nhà Thống Lý Pá Tra “nhiều nương, nhiều bạc, nhiều thuốc phiện nhất làng” thì Mỵ đặt ngang với vật vô tri vô giác, vị trí thấp kém: tảng đá, tàu ngựa Ẩn dụ này chính là thân phận thấp hèn, với địa vị

nô lệ mặc dù, nghịch lý thay, tuy không phải là con gái nhưng lại là con dâu của Thống Lý Pá Tra Nói về thân phận Mỵ ở nhà Pá Tra là phải nói đến chi tiết đó

Ngày đăng: 29/04/2017, 16:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w