1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Cải Cách Giáo Dục Đại Học Và Chuyên Nghiệp Trung Quốc

72 357 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 353,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như ta đã biết, trong thời kỳ này trí thức bị vùi dập, giáo dục bị thủtiêu, cơ quan quản lý GD bị giải thể, các trường đại học bị đóng cửa, 6 nămliền không tuyển sinh, thầy giáo bị đưa đ

Trang 1

CSDL PICMS Thông tin Hỏi – đáp phục vụ ĐBQH của Phòng Thông tin, Trung tâm Thông tin – TV – NCKH, Văn phòng Quốc hội

VIỆN NGHIÊN CỨU ĐẠI HỌC VÀ GIÁO DỤC CHUYÊN NGHIỆP

PHÒNG THÔNG TIN KHOA HỌC

***

Tổng luận:

CẢI CÁCH GIÁO DỤC ĐẠI HỌC

VÀ CHUYÊN NGHIỆP TRUNG QUỐC

Người biên soạn: Phan Tất Giá

Hà Nội, tháng 11-1993

Trang 2

MỤC LỤC

TÓM TẮT TỔNG LUẬN 3

MỞ ĐẦU 8

SƠ LƯỢC QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC TỪ KHI THÀNH LẬP NƯỚC CHND TRUNG HOA ĐẾN KHI KẾT THÚC CUỘC ĐẠI CÁCH MẠNG VĂN HOÁ (1949 – 1976) 9

1 Thời kỳ thứ nhất (1949 – 1965) 9

2 Thời kỳ thứ hai (1966 – 1976) 11

GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VÀ CHUYÊN NGHIỆP TRUNG QUỐC TRONG TIẾN TRÌNH CẢI CÁCH VÀ MỞ CỬA TỪ KHI KẾT THÚC CUỘC ĐẠI CÁCH MẠNG VĂN HOÁ ĐẾN NAY (1977 – 1993) 15

1 Những bước đi ban đầu chuẩn bị cho cuộc cải cách thể chế giáo dục (1977-1984) 15 2 Giáo dục đại học và chuyên nghiệp Trung Quốc từ khi thực hiện cải cách thể chế giáo dục đến nay 22

KẾT LUẬN 63

THÀNH TỰU VÀ NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM 63

TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

Trang 3

TÓM TẮT TỔNG LUẬN

Trung Quốc - một quốc gia khổng lồ ở châu Á, sau những năm khủnghoảng của cuộc cách mạng văn hoá, giờ đây đã đi lên với tốc độ rất nhanhchóng (tăng trưởng kinh tế năm 1991: 12%, năm 1992: 10,5%) và dự kiếntăng thu nhập bình quân đầu người lên 800 $ vào cuối thế kỷ này Đó làthành quả bước đầu của đường lối cải cách và mở cửa, thực hiện 4 hiện đạihoá, xây dựng CNXH theo bản sắc Trung Quốc Một trong những cải cáchchiến lược thực hiện mục tiêu trên là ra sức phát triển giáo dục Giáo dục từchỗ bị rẻ rúng, tri thức từ chỗ bị vùi dập, nhà trường bị huỷ hoại, tiêu điềutrong cải cách văn hoá, thì giờ đây “Giáo dục là trọng điểm quốc gia”, “Giáodục phải phục vụ xây dựng CNXH và xây dựng CNXH phải dựa vào giáodục”, “Kế hoạch trăm năm, giáo dục là gốc” Đó là những quan điểm cơ bảnsoi sáng cho công cuộc cải cách giáo dục của Trung Quốc từ những năm

1980 đến nay

Tổng luận “Cải cách giáo dục đại học và chuyên nghiệp Trung Quốc”phân quá trình phát triển giáo dục Trung Quốc làm hai giai đoạn lớn: Giaiđoạn thứ nhất từ khi thành lập nước CHDCND Trung Hoa đến hết Cáchmạng văn hoá (1949-1976), và giai đoạn thứ hai từ sau Cách mạng văn hoáđến nay (1976-1993)

Giai đoạn thứ nhất bao gồm thời kỳ cải tạo nền giáo dục cũ (Do chếđộc Quốc dân đảng để lại) và từng bước xây dựng nền giáo dục XHCN, vớicác mục tiêu: xoá mù chữ, phát triển giáo dục tiểu học, trung học, mở rộngcác trường đại học, lấy trọng tâm là phục vụ công, nông và nhân dân laođộng nói chung Giáo dục (GD) được kế hoạch hoá và là một bộ phận của kế

Trang 4

hoạc tổng thể phát triển kinh tế xã hội với chi phí đầu tư hằng năm bìnhquân 7.3% ngân sách nhà nước Với sự nỗ lực bản thân và được Liên Xôviện trợ to lớn, nền GD Trung Quốc đã có một bước tiến đáng kể: đến năm

1957, số người mù chữ đã giảm từ 80% xuống 41%, số trẻ em trong độ tuổiđến trường đạt 62%, số sinh viên tăng từ 11,7 vạn (năm 1949) lên 44,1 vạn(năm 1958) Nhưng đến cuối thời kỳ này, Trung Quốc chuyển sang “Đạinhảy vọt” với những chủ trương phi thực tế “Xây dựng CNXH nhiều, nhanh,tốt rẻ”, “Toàn dân làm GD”, “GD bằng lao động sản xuất là chính” đã làmcho GD phát triển ồ ạt, chất lượng giảm sút Khi phát hiện ra sai lầm, chưakịp sửa chữa thì Cách mạng văn hoá đã nổ ra

Thời kỳ thứ hai của giai đoạn này chính là thời kỳ của cách mạng vănhoá Như ta đã biết, trong thời kỳ này trí thức bị vùi dập, giáo dục bị thủtiêu, cơ quan quản lý GD bị giải thể, các trường đại học bị đóng cửa, 6 nămliền không tuyển sinh, thầy giáo bị đưa đi lao động cải tạo, sinh viên họcsinh gia nhập vào đội quân “hồng vệ binh”, “hồng tiểu binh”, tự do pháphách, đấu tố…Mãi tới năm 1973 tình hình có được chấn chỉnh chút ít, songtrường sở thiếu thốn, tiêu điều, thời gian đào tạo bị rút ngắn, thầy trò vẫntrong tâm trạng hoảng loạn…

Giai đoạn thứ hai ( từ 1977 đến nay): Trung Quốc bước vào thời kỳcách mạng mới, cải cách và mở cửa, thực hiện “bốn hiện đại hoá” trongcông nghiệp, nông nghiệp, quốc phòng và khoa học kỹ thuật; trong đóKHKT là then chốt, GD là cơ sở GD trở thành trọng điểm chiến lược để xâydựng kinh tế và hiện đại hoá đất nước Những năm 1977-1982 là dẹp loạn,hồi chính, lấy lại trật tự giáo dục, khôi phục trường sở, đội ngũ…từ năm

1993 trở đi bắt đầu nghiên cứu, tìm kiếm, thử nghiệm những quyết sách mớicho cải cách GD Từ năm 1985 khi có nghị quyết của Ban chấp hành Trung

Trang 5

ương Đảng cộng sản Trung Quốc về cải cách thể chế giáo dục, thì GD TrungQuốc mới thực sự có đường hướng cụ thể để “hướng vào hiện đại, hướng rathế giới, hướng tới tương lai” Uỷ ban Giáo dục nhà nước được thành lậpthay cho Bộ giáo dục cũ để tổ chức, phối hợp, chỉ đạo điều hành công cuộccải cách.

Những ý tưởng và quyết sách trong thời kỳ này là:

- Nâng cao tố chất dân tộc, đào tạo ngày càng nhiều, càng tốtnhân tài

- Giao trách nhiệm phát triển giáo dục cơ sở cho địa phương,từng bước thực hiện GD nghĩa vụ 9 năm

- Điều chỉnh cơ cấu GD trung học, ra sức phát triển GD kỹ thuậtnghề nghiệp

- Sửa đổi kế hoạch chiêu sinh của các trường đại học và chế độphân phối sinh viên tốt nghiệp Mở rộng quyền tự chủ của các trường đạihọc

- Tăng cường lãnh đạo, huy động các nhân tố tích cực của cácmặt, đảm bảo tiến hành thắng lợi cải cách thể chế GD

(Trên đây là 5 điểm trích trong văn bản Nghị quyết về cải cách thể chế GD).Thực hiện các phương thức trên, ngàng GD đại học và chuyên nghiệp đã:

- Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học giáo dục, xác định lại mục tiêuchức năng của GD nhằm đào tạo một đội ngũ nhân tài với cơ cấu hợp lý,đồng bộ, đáp ứng đủ nhu cầu cơ bản trong nước, có khả năng tự chủ khámphá khoa học, kỹ thuật, giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn quan trọngcủa công cuộc hiện đại hoá XHCN

Trang 6

- Điều chỉnh cơ cấu hệ thống GD, khắc phục tình trạng bất hợp lýgiữa các ngành khoa học, tăng tỉ lệ đào tạo chuyên khoa, phát triển nhanhcác ngành còn yếu như kinh tế tài chính, nhà nước và pháp quyền, quản lý…

và các ngành mới, ngành phụ trợ, thu hẹp danh mục chuyên ngành, khắcphục tình trạng chuyên ngành quá hẹp, điều chỉnh, mở rộng qui mô trườngđại học để tăng hiệu quả kinh tế đào tạo

- Ra sức phát triển GD kỹ thuật nghề nghiệp ( GD KTNN) trên

cơ sở điêề chỉnh GD trung học, đưa tỉ lệ sinh GDKTNN ngang bằng tuyểnsinh trung học phổ thong Phát triển đa dạng loại hình GDKTNN Tích cựcphát triển các trường cao đẳng kỹ thuật NN Đẩy mạnh phát triển GD ngườilớn, lấy nội dung GDKTNN làm trọng tâm Đồng thời đưa nội dung KTNNvào chương trình phổ thông

- Tổ chức hệ thống thi quốc gia cấp bằng tốt nghiệp cho nhữngngười tự học

- Cải tiến quản lý GD theo hướng địa phương hoá và phân cấpmạnh xuống cơ sở Giao cho địa phương quản lý GD cơ sở và GDKTNN,gắn GD phổ thong và GDKTNN với phát triển kinh tế địa phương Mở rộngquyền tự chủ của các trường đại học Các trường được quyền tự chủ vềchuyên môn, về nhân sự, về tài chính: được ký hợp đồng đào tạo, nghiên cứu

và dịch vụ khoa học kỹ thuật với các cơ quan, xí nghiệp ngoài ngành, thiếtlập quan hệ ngang: Đào tạo – khoa học - sản xuất

- Cải cách tuyển sinh theo 3 kênh: kế hoạch nhà nước, hợp đồng

uỷ thác và tuyển sinh tự đóng học phí Phân phối sinh viên tốt nghiệp ratrường theo nguyên tắc: SV đề nguyện vọng, nhà trường giới thiệu, cơ quan

sử dụng tuyển chọn, từng bước tiến tới cơ chế thị trường lao động

Trang 7

- Tăng cường đội ngũ giáo viên về số lượng và chất lượng, cóchính sách bồi dưỡng đãi ngộ thoả đáng, đặc biệt quan tâm giáo viên tronglĩnh vực GDKTNN.

- Đổi mới nội dung và phương pháp đào tạo đại học, áp dụng chế

độ học phần, chế độ hai học vị, tăng cường môn tự chọn, từng bước hiện đạihoá trang thiết bị dạy học

- Cải cách GD chính trị tư tưởng cho SV và nghiên cứu sinh, đổimới nội dung giáo trình các môn lý luận chính trị

- Tăng cường đầu tư cho GD với mức bình quân hàng năm 3,1%tổng ngân sách, trong đó dành cho GD đại học 30%

Bằng những biện pháp trên, sau hơn 10 năm cải cách, nền GD TrungQuốc đã đạt những thành tựu rất to lớn: phát triển với quy mô lớn, tốc độnhanh, cơ cấu hệ thống, thể chế quản lý đã được định hình, tổ chức quá trìnhđào tạo đang được hoàn thiện từng bước Tuy nhiên, khó khăn và tồn tại vẫncòn nhiều, nhất là về chất lượng giáo dục, đội ngũ giáo viên, chế độ chínhsách và ngay cả quan điểm tư tưởng GD Các nhà GD Trung Quốc đang tìmkiếm giải pháp khắc phục những khó khăn tồn tại để đưa sự nghiệp GD tiếptục tiến lên

Trang 8

MỞ ĐẦU

Cách đây hơn 40 năm, ngày 1 tháng 10 năm 1949, nước CHDCNDTrung Hoa ra đời, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong tiến trình lịch

sử của quốc gia khổng lồ trên 1 tỷ dân này

Chặng đường trên 40 năm, cùng với những biến đổi to lớn trên cáclĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội do đường lối, chính sách phiêu lưu của giớicầm quyền và những cuộc đấu tranh nội bộ tranh giành quyền lực găy gắt,nền giáo dục Trung Quốc đã phải trải qua những bước gập ghềnh, khúckhuỷu, thậm chí thụt lùi, đau đớn khi tìm đến con đường cải cách mở cửahiện nay để hoà nhập với xu thế chung của thời đại

Quá trình phát triển giáo dục của Trung Quốc có thể phân làm 3 thời

kỳ như sau: Thời kỳ từ khi thành lập nước CHND Trung Hoa đến Đại cáchmạng văn hoá: thời kỳ cách mạng văn hoá và thời kỳ từ sau cách mạng vănhoá đến nay

Tổng luận này chủ yếu xem xét giáo dục đại học và chuyên nghiệp ởthời kỳ thứ 3, tức là thời kỳ Trung Quốc thực hiện “Bốn hiện đại hoá” vàxây dựng “CNXH theo bản sắc Trung Quốc” và cũng là thời kỳ Trung Quốcphát triển với tốc độ nhanh chưa từng thấy ở đất nước này

Trang 9

SƠ LƯỢC QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC TỪ KHI THÀNH LẬP NƯỚC CHND TRUNG HOA ĐẾN KHI KẾT THÚC CUỘC ĐẠI

CÁCH MẠNG VĂN HOÁ (1949 – 1976)

1 Thời kỳ thứ nhất (1949 – 1965)

Thời kỳ này được bắt đầu bằng việc tiếp quản và cải tạo hệ thống giáodục cũ do chế độ Quốc dân đảng để lại để bắt tay xây dựng một hệ thốnggiáo dục mới theo hướng XHCN Trước khi giải phóng, hơn 80% dân sốTrung Quốc mù chữ, chỉ có 20% trẻ em trong độ tuổi đi học được tới trường

Hệ thống đại học có 205 trường với 117 nghìn sinh viên, đội ngũ cán bộgiảng dạy và nghiên cứu rất ít (16 nghìn người), cơ sở vật chất nghèo nàn,thiếu thốn Chi phí ngân sách cho GD dưới thời Quốc dân đảng chỉ có 1%.Trong 3 năm khôi phục kinh tế (1949 – 1952) và 5 năm thực hiện kế hoạchxây dựng đất nước lần thứ nhất (1953 – 1957) Trung Quốc đã tiến hành cuộccải cách giáo dục rộng khắp trong tất cả các cấp học; xoá nạn mù chữ, pháttriển giáo dục tiểu học, trung học phổ thong, mở các lớp học cấp tốc chocông nhân, nông dân, thực hiện chế độ trợ cấp học phí cho nhân dân laođộng Về đại học, sắp xếp lại mạng lưới và mở rộng hệ thống trường Nhiều

cơ quan nghiên cứu ra đời, đặc biệt là Viện Hàn lâm khoa học với 12 phânviện được thành lập và hoạt động, tiến hành nghiên cứu sử dụng chứ Hánlàm ngôn ngữ chính dùng trong giảng dạy ở các trường.Giáo dục được coi làmột bộ phận được kế hoạch hoá, nằm trong kế hoạch tổng thể của nhà nướcnhằm phục vụ yêu cầu xây dựng kinh tế và quốc phòng Các trường đại học

có nhiệm vụ phải cung cấp cán bộ chuyên môn cho công cuộc cải tạo và xâydựng CNXH trên mọi lĩnh vực Chi phí cho giáo dục chiếm trung bình 7,3%

Trang 10

Đặc biệt, trong thời kỳ này, Liên Xô đã gửi hàng ngàn chuyên giasang giúp Trung Quốc, tiếp nhận 11 vạn sinh viên cán bộ Trung Quốc sanghọc ở Liên Xô Trung Quốc đã nêu khẩu hiệu lúc đó là “sử dụng kinhnghiệm Liên Xô vào thực tiễn Trung Quốc” Tiếng Nga trở thành ngoại ngữchính để nghiên cứu, tiếp cận văn hoá Liên Xô.

Với những cố gắng trên, nền giáo dục Trung Quốc đã đạt được nhữngthành tựu quan trọng, phát triển về số lượng và từng bước nâng cao chấtlượng Đến năm 1953 số trẻ em đến trường đạt 50,7% và năm 1956 là61,3%, số người mù chữ giảm xuống 41% vào năm 1957 Nhiều trường đạihọc mới được thành lập, số sinh viên tăng nhanh từ 11,7 vạn năm 1949 lên44,1 vạn năm 1958 [1]

Kết thúc kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, trên cơ sở những thành tựu banđầu đã đạt được, Trung Quốc quyết tâm đẩy nhanh tốc độ phát triển trên mọilĩnh vực kinh tế, văn hoá và giáo dục Mục tiêu đào tạo được xác định lànhững người lao động có văn hoá, có giác ngộ XHCN và phát triển toàn diệnđức, trí, thể, mỹ Từ năm 1958 đến năm 1961, phương châm là “dốc longhăng hái, tranh thủ vươn lên hàng đầu”, xây dựng XHCN “nhiều, nhanh, tốt,rẻ” Giáo dục Trung Quốc cũng bước vào thời kỳ “Đại nhảy vọt” mặc dùcòn thiếu nhiều điều kiện nhưng vẫn phải phát triển nhanh bất chấp quy luật

và thực tế khách quan Với chủ trương “ toàn đảng, toàn dân làm giáo dục”

“giáo dục bằng lao động sản xuất là chính”; số lượng và loại hình trườngđược tăng lên, nhất là loại hình trường vừa học vừa làm dành cho công nhân,nông, binh Nhưng do những khó khăn về kinh phí, sự không đồng đều vềtrình độ của các đối tượng nên yêu cầu chất lượng là phải giảm thấp để đápứng nhu cầu học tập Quan điểm “giáo dục kết hợp lao động sản xuất” cũng

Trang 11

bị bóp méo Phần lớn thời gian dạy học trên lớp ở tất cả các cấp học đều bịcắt giảm để thay vào đó là thời gian lao động Thầy giáo và học sinh phảixuống các vùng nông thôn và vào các nhà máy để dạy và học tại hiệntrường Hậu quả là chất lượng đào tạo sút kém, trình độ của thanh thiếu niênthấp so với yêu cầu của xã hội, kỹ năng nghề nghiệp cụ thể hầu như không

có “Đại nhảy vọt” thất bại, Trung Quốc chuyển sang chủ trương “Điềuchỉnh, củng cố, bổ sung và nâng cao” Trong giáo dục, đối với các loạitrường vừa học vừa làm, hoặc là hợp nhất, hoặc là đình khoá Trong cáctrường, quy định các hoạt động chính trị và lao động sản xuất không đượccản trở việc học tập văn hoá và chuyên môn nghiệp vụ của học sinh.v.v…Nhưng chủ trương này chưa thực hiện được bao lâu thì tư tưởng “tả khuynh”

đã đẩy đất nước này vào một cuộc khủng hoảng mới, sâu sắc và trầm trọng cuộc “Đại cách mạng văn hoá” (1966 – 1976)

-2 Thời kỳ thứ hai (1966 – 1976)

Đây là thời kỳ của cuộc “Đại cách mạng văn hoá” do Mao TrạchĐông phát động nhằm tiếp tục “cuộc đấu tranh giai cấp trên quy mô mới,roọng lớn hơn, sâu sắc hơn, triệt để hơn” với những hình thức và biện pháphiếm thấy trong thế giới hiện đại”

Trong giáo dục, tư tưởng chỉ đạo được đề ra là “tiến hành cách mạnggiáo dục toàn diện”, thành lập “Uỷ ban cách mạng trường học” và “Đoàngiảng viên”, phát động công, nông, binh trực tiếp làm giáo dục Ngay từ đầucác cơ quan quản lý giáo dục bị giải tán, các Viện nghiên cứu hầu như đóngcửa, các tạp chỉ chuyên ngành ngừng hoạt động, hầu hết các trường đại học

bị đóng cửa, sinh viên du học nước ngoài bị gọi về nước Sinh viên và họcsinh bị gọi vào đội quân “Hồng vệ binh”, “Hồng tiểu binh”, trở thành độiquân “hùng mạnh” tự do phá phách, đấu tố các phe phái và tất cả những ai

Trang 12

không ủng hộ Mao Nhiều cán bộ giảng dạy bị chụp mũ “tư sản”, “phảnđộng”, “tay sai nước ngoài”…trở thành nạn nhân, bị tra tấn Nhiều giáo sư,cán bộ giảng dạy bị thiệt mạng hoặc bị lưu đầy…số đông đội ngũ giáo viên

bị đưa đi lao động Chế độ thi cử bị xoá bỏ Việc đánh giá học sinh, sinhviên lấy tiêu chuẩn trung thành với Mao làm gốc Cơ sở vật chất trường học

bị tàn phá Nhà trường do quân đội và Hồng vệ binh quản lý [16]

Đầu năm 1970, nhà trường mới có cơ phục hồi một cách yếu ớt Giáodục được liên kết giữa nhà trường, nhà máy và đội sản xuất Giáo dục tiểuhọc và trung học bậc thấp giao cho dân tự lo để đỡ gánh nặng tài chính chonhà nước Tận lực phát triển trung học bậc cao Giáo trình được tinh giảnthành 4 loại chính: chính trị, văn hoá, thể dục quân sự và lao động Uy quyềncủa giáo viên bị giảm thấp Số giáo viên và cán bộ giảng dạy chỉ còn một số

ít, hoạt động yếu ớt trong tâm trạng hoảng loạn, cảnh giác… Số năm học ởtiểu học rút ngắn từ 6 năm còn 5 năm, ở trung học từ 6 năm còn 4 năm, ở đạihọc từ 4-5 năm, còn 2-3 năm Phát triển các trường “đại học công nhân 21tháng 7”, “đại học nông nghiệp 7 tháng 5” và “đại học cộng sản chủ nghĩa”

Từ năm 1973 việc học tập đã trở lại tạm ổn định Ở đại học thời gianđào tạo 3 năm, sinh viên phải giành thời gian nhiều hơn cho tập luyện quân

sự, lao động chân tay và các biến động chính trị Đó cũng là tiêu chuẩn đểđánh giá sinh viên và học sinh kể cả về kết quả học tập Các khoa và bộ môngiảng dạy về khoa học xã hội bị cắt giảm, bị bóp méo, xuyên tạc Thay vào

đó là tư tưởng Mao Trạch Đông ngự trị và lũng đoạn Các công trình họcthuật ca ngợi Mao tràn lan trong nhà trường , nảy sinh đấu tranh nội bộ gaygắt giữa việc làm này với những công trình khoa học của các giáo sư và cán

bộ giảng dạy khác Từ đây nhiều người trở thành mục tiêu, nạn nhân của đấu

tố, áp đặt, truy bức Nhiều công trình nghiên cứu khoa học của họ bị huỷ

Trang 13

hoại không thương tiếc Đó cũng là nguyên nhân vì sao học sinh, sinh viênkhông muốn học các ngành khoa học xã hội [16].

Mười năm cách mạng văn hoá đã làm cho hệ thống giáo dục, nhất làgiáo dục đại học tan rã, tê liệt Sáu năm liền các trường đại học và trung họcchuyên nghiệp không tuyển sinh, nếu tính khoá đào tạo thì mất đi 7 khoáliên tục Riêng năm 1967 – 1968 đã để phí mất 40 vạn cán bộ chuyên mônthuộc các ngành, trong đó 14 vạn thuộc các chuyên ngành kỹ thuật Đội ngũcán bộ giảng dạy, cán bộ nghiên cứu suy giảm, công tác nghiên cứu ở cáctrường, các học viện bị đình đốn, bế tắc Chế độ giáo dục và trật tự giáo dục

bị phá hoại nghiêm trọng, chất lượng giáo dục bị giảm thấp chưa từng thấy.Đánh giá kết quả giáo dục trọng 10 năm cách mạng văn hoá, Nghị quyết củaBan chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc về cải cách thể chếgiáodục ngày 27-5-1985 đã thừa nhận: “Từ sau thập kỷ 50, do ảnh hưởngcủa tư tưởng “tả”, trọng tâm công tác của Đảng lấy đấu tranh giai cấp làchính chứ chưa phải là kinh tế, nên sự nghiệp giáo dục không những khôngđược đặt trúng vị trí của nó trong một thời gian dài mà còn bị phong tràochính trị “tả” vùi dập tơi bời Đại cách mạng văn hoá càng thúc đẩy sai lầm

“tả” này đi đến cực đoan: phủ định tri thức, thủ tiêu giáo dục, làm cho giáodục bị phá hoại nghiêm trọng, đông đảo những người làm công tác giáo dục

bị vùi dập, khiến cho sự trưởng thành của cả một thế hệ thanh niên bị lầm lỡ,hơn nữa làm cho giáo dục của nước nhà ngàu càng tụt xa về nhiều phươngdiện so với các nước phát triển trên thế giới” Tại Hội nghị UNESCO khuvực về giáo dục ở Châu Á và Thái Bình Dương tháng 4/1983, hai chuyên giaTrung Quốc cũng đã xác nhận” “10 năm sau 1966 là mười năm bất hạnh”của giáo dục Trung Quốc Giáo dục đại học trong nhiều năm liền đã ở vàotình trạng bất động hoặc nửa bất động Nó đã đi chệch hướng phục vụ kinh

Trang 14

tế quốc dân, khoa học và văn hoá (Tham luận của Wang Cheng Xu và HePing tại Hội nghị nói trên [15].

Trang 15

GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VÀ CHUYÊN NGHIỆP TRUNG QUỐC TRONG TIẾN TRÌNH CẢI CÁCH VÀ MỞ CỬA TỪ KHI KẾT THÚC CUỘC ĐẠI CÁCH MẠNG VĂN HOÁ ĐẾN NAY (1977 – 1993)

1 Những bước đi ban đầu chuẩn bị cho cuộc cải cách thể chế giáo dục (1977-1984)

Sau những năm đen tối của cách mạng văn hoá, TQ bước vào một thời

kỳ mới với đường lối cải cách, mở cửa, thực hiện 4 hiện đại hoá trong côngnghiệp, nông nghiệp, quốc phòng và khoa học kỹ thuật, nhằm xây dựng chủnghĩa xã hội theo bản sắc Trung Quốc Đường lối 4 hiện đại hoá coi khoahọc kỹ thuật là then chốt và giáo dục là cơ sở Giáo dục được coi là tiền đềquan trọng để phát triển đất nước Vì vậy, Đảng và Nhà nước đã chủ trươngtiến hành hàng loạt biện pháp để khôi phục và phát triển giáo dục, đặc biệt làgiáo dục đại học và chuyên nghiệp Tuy nhiên, từ thực trạng của một hệthống giáo dục rệu rã, tiêu điều như trên, không thể có ngay một kế hoạchcải cách toàn diện Cần có thời gian nghiên cứu, chuẩn bị, thử nghiệm, tạo

cơ sở lý luận và thực tiễn cho đường lối, chiến lược cải cách Mặt khác, cũngcần có thời gian để định hình đường lối chiến lược của các lĩnh vực kinh tế,

xã hội khác làm chỗ dựa cho giáo dục Vì vậy, 5 năm đầu từ 1977 đến 1982

có thể coi là giai đoạn dẹp loạn, hồi chính, chỉnh đốn trật tự giáo dục cũng làgiai đoạn khôi phục giáo dục với tư tưởng chỉ đạo là “Muốn thực hiện hiệnđại hoá thì mấu chốt là phải đưa khoa học kỹ thuật tiến lên Muốn phát triểnkhoa học kỹ thuật thì không thể không quan tâm đến khoa học giáo dục Chỉnói suông thì không thể nào thực hiện được hiện đại hoá, cần phải có trithức, có nhân tài (phát biểu của ông Đặng Tiểu Bình năm 1977) [4] Ngay từ

Trang 16

chuyên môn trong kế hoạch đào tạo, giảm thời gian lao động, quân sự, sinhhoạt chính trị…trong trường học Tháng 4 năm 1978, hội nghị về công tácgiáo dục toàn quốc đã vạch ra đề cương quy hoạch sự nghiệp giáo dục 1978– 1985 với những phương hướng cơ bản sau: phục hồi trật tự trường học,củng cố đội ngũ cán bộ giảng dạy, biên soạn nội dung và chuẩn bị tài liệugiảng dạy kịp với yêu cầu phát triển khoa học kỹ thuật; từng bước trang bịphương tiện và thiết bị dạy học hiện đại Khôi phục và phát triển các trườngcao đẳng, đại học, mở rộng việc tuyển sinh viên và nghiên cứu sinh phù hợpvới tiềm năng của các trường, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học Đa dạng hoácác kiểu trường cao đẳng, đại học, chỉ đạo tốt các trường đại học lao độngcộng sản, trường 2 tháng 7 và trường 7 tháng 5 nhằm nâng cao chất lượngđào tạo Phát triển hệ thống giáo dục không tập trung, phổ biến hệ thốngtrường phổ thông 10 năm ở thành thị và hệ thống 8 năm ở các vùng nôngthôn, đặc biệt chú ý chỉ đạo các trường điểm…

Năm 1981 Quốc Vụ Viện ra chỉ thị về việc tìm kiếm giải pháp để cảicácg thể chế giáo dục Ngành giáo dục đã tổ chức các hội nghị, toạ đàm,điều tra nghiên cứu, thử nghiệm, điều chỉnh…Một số giải pháp bước đầu đốivới đại học là:

- Tăng cường lãnh đạo các trường đại học, giao cho 6 trường và cácviện giáo dục tổ chức bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo và nòng cốt cho các trườngđại học

- Cải tiến công tác chiêu sinh đại học, thi tuyển nghiên cứu sinh

- Tổ chức viết giáo trình cơ sở các môn khoa học tự nhiên và khoa học

kỹ thuật

Trang 17

- Tổ chức hội nghị các Sở trưởng, Cục trưởng giáo dục của 9 tỉnh,thành, tổ chức hội nghị thư viện đại học.

- Soạn thảo quy hoạch phát triển khoa học kỹ thuật, kế hoạch 5 nămlần thứ 6 của các trường đại học trực thuộc Phát triển nghiên cứu khoa học

- Xây dựng điều lệ học vị

- Xác định sơ bộ các trường trọng điểm, chủ trương xây dựng trườngđại học nhằm vào hai trọng tâm: đào tạo và nghiên cứu khoa học

- Xây dựng đội ngũ thầy giáo và tiêu chuẩn hoá thầy giáo đại học

- Thử nghiệm cho giáo dục đại học tổ chức thi lấy bằng theo chế độ tựhọc [14]

- Tháng 12/1982 Trung Quốc họp Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc

để thông qua kế hoạch 5 năm lần thứ 6 (1981 – 1985) và phê chuẩn hiếnpháp mới của CHND Trung Hoa Nhiều quan điểm và chủ trương về giáodục đã được khẳng định tại đại hội này

Với tư tưởng chỉ đạo mới và những giải pháp đã tiến hành, đên năm

Trang 18

Về mặt tư tưởng, từ các cấp quản lý giáo dục đến đông đảo giáo viên,học sinh, sinh viên đã được giải phóng, thoát ra khỏi tình trạng xơ cứng, bếtắc, tích cực tham gia vào công cuộc khôi phục và phát triển sự nghiệp giáodục Một số địa phương bắt đầu thí điểm cải cách cơ cấu giáo dục trung học

để khắc phục tình trạng coi nhẹ giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp đã kéo dàinhiều năm Trường đại học Thượng Hải đã tiến hành cải cách thể chế quản

lý nội bộ, nâng cao hiệu quả đào tạo, được dư luận và cơ quan quản lý cấptrên hoan nghênh

Có thể nói, trong những năm 1983 – 1985 tình hình giáo dục ở cáccấp đã có sự phát triển đáng kể Tháng 4 – 1983 Quốc Vụ Viện đã phê chuẩn

Trang 19

báo cáo của Bộ giáo dục và Uỷ ban kế hoạch nhà nước về việc phát triểnnhanh giáo dục đại học cả về quy mô và loại hình, dự kiến nâng chỉ tiêutuyển sinh từ 31,5 vạn năm 1982 lên 55 vạn năm 1987 ( tăng 75% trong 5năm) Tháng 5/1983 Hội nghị đại học được tổ chức tại Vũ Hán nhằm bànbiện pháp đẩy nhanh đào tạo đại học cao đẳng, chuẩn bị gấp nhân tài chocông cuộc chấn hưng kinh tế của đất nước vào những năm 90, bao gồm cácvấn đề về loại hình đào tạo, sử dụng các lực lượng xã hội cùng tham gia, cảicách cơ cấu GDĐH và thể chế quản lý Cũng từ tháng 5-1983 Trung ươngĐảng và Quốc Vụ Viện đã lần lượt định ra bước đi của cải cách cơ cấu giáodục trung học ở thành thị và nông thôn, phát triển giáo dục kỹ thuật và nghềnghiệp, coi đó là nhiệm vụ không thể trì hoãn Chủ trương trong 5 năm phảinâng tổng số học sinh hiện có của các trường trugn học và cao đẳng nghềnghiệp lên hơn 45% tổng số học sinh trung học và cao đẳng.

Đánh giá giai đoạn 1977 – 1984 có thể thấy những kết quả sau:

- Tính đến hết năm 1983 – 1984 cả nước đã có:

+ 862.000 trường tiểu học với 135,8 triệu học sinh, đạt 94% trẻ emtrong độ tuổi đi học (7 – 12 tuổi)

+ 96.500 trường trung học với 43,9 triệu học sinh

+ 805 trường đại học với 1,2 triệu sinh viên

+ 1,9 triệu học sinh học trong các trường nghề - kỹ thuật

Hệ thống hàm thụ, buổi tối có:

+ 11.597 nghìn người học tiểu học

+ 6.445 nghìn người học trung học

+ 2.133 nghìn người học đại học

Trang 20

+ 2.885 nghìn người học các trường nghề - kỹ thuật

+ 936 nghìn giáo viên học sinh trong các trường sư phạm buổi tối đàotạo giáo viên tiểu học

+ 8,7 triệu người được xoá mù chữ [9]

- Đã xây dựng được 97 trường đại học trọng điểm, trong đó có 32trường kỹ thuật, 2 trường sư phạm, 9 trường nông lâm nghiệp, 6 trường ydược, 2 trường ngoại ngữ, 17 trường tổng hợp, 6 trường chính trị - luật - thểthao - nghệ thuật…Các trường này được ưu tiên về mọi mặt để đào tạo chủyếu là giáo viên, chuyên gia nòng cốt cho các trường và các cơ quan nghiêncứu đầu ngành [16]

- Tăng cường đào tạo giáo viên, số trường ĐHSP chiếm 25% tổng sốcác loại trường với 30% tổng số sinh viên

- Cơ cấu hệ thống đào tạo – nghiên cứu được xem xét, điều chỉnh theo

mô hình đại học Mỹ Lấy tiếng Anh là ngoại ngữ chính và bắt buộc

- Khôi phục và xây dựng lại hệ thống chức danh, học vị, văn bằng vàchế độ thi cử, đánh giá sinh viên

- Tăng thời gian đào tạo đại học lên 4 – 5 năm hoặc 6 băm, tăng thờigian học chuyên môn trong kế hoạch học tập

- Biên soạn lại chương trình, sách giáo khoa

- Trao đổi, hợp tác quốc tế về giáo dục đại học chủ yếu với Mỹ, Nhật

và một số nước tư bản khác.Gửi nhiều học sinh du học Thu hút nhiều giáoviên giỏi từ nước ngoài về

Trang 21

- Đào tạo sau và trên đại học được khôi phục, chính thức tuyển sinh từnăm 1981 nhưng số thí sinh còn ít (đến năm 1985 chỉ có 2,5 vạn người) dothiếu giáo viên, cở sở vật chất.

- Chi phí cho giáo dục hàng năm đã tăng lên trên 10% tổng ngân sách

- Bên cạnh những thành tích nêu trên, hệ thống giáo dục Trung Quốcđến thời điểm này vẫn còn tồn tại nhiều nhược điểm yếu kém:

- Qua báo chí Trung Quốc người ta ghi nhận rằng: gần ¼ dân số nướcnày còn mù chữ hoặc mù chữ từng phần Nhân dân Nhật báo cho biết rằng70% dân số nông thôn chưa có trình độ tiểu học, một bộ phận đáng kể trong

- Đội ngũ cán bộ giảng dạy và nghiên cứu cũng như tri thức nói chungtrước đây trong CM văn hoá bị rẻ rúng, miệt thị, đàn áp thì nay được vỗ về,

Trang 22

ưu ái với ý đồ thực dụng Họ bị phân hoá Một bộ phận ít ỏi kiên trì theo chủnghĩa Mac, một số lớn nghiêng ngả Hệ tư tưởng tư sản có chiều hướng tănglên khi nhiều cán bộ giảng dạy, giáo sư được đào tạo từ các nước tư bản trở

về Đội ngũ cốt cán, đầu ngành ( các giáo sư và những người có chức danhhọc vị) chiếm tỷ lệ ít lại rã rời qua biến động chính trị Số ít trước đây học ởLiên Xô bị đối xử lạnh lùng và phân biệt rõ ràng

Tóm lại, 8 năm sau cách mạng văn hoá, Đảng và Chính phủ Trungquốc đã có nhiều cố gắng để phục hồi và phát triển nền giáo dục phục vụ chocông cuộc hiện đại hoá đất nước và đã đạt được những kết quả quan trọng,tuy nhiên vẫn còn xa mới đáp ứng được với yêu cầu phát triển kinh tế - xãhội Khó khăn còn nhiều Nhiều vấn đề mới nảy sinh đòi hỏi phải cấp báchgiải quyết: quan hệ giữa quy mô và chất lượng, giữa cơ cấu hệ thống và độingũ, phương tiện, giữa nội dung chương trình với thực tiễn xã hội, giữa quản

lý Trung ương và quản lý địa phương… Nhưng dù sao, công cuộc khôi phục

và đổi mới trong những năm qua đã diễn ra rộng khắp, trên nhiều mặt, ởnhiều nơi, nhiều vấn đề đã được xới xáo lên, được qua thử thách, kiểmnghiệm ít nhiều Mặt khác, tới lúc này TA đã cải cách thể chế kinh tế, thểchế khoa học kỹ thuật Từ các thể chế đó đã gợi mở thêm cho giáo dục một

số quan niệm mới, kiến giải mới làm chỗ dựa cả về lý luận và thực tiễn chocuộc cải cách thể chế giáo dục sau này

2 Giáo dục đại học và chuyên nghiệp Trung Quốc từ khi thực hiện cải cách thể chế giáo dục đến nay.

Sau những bước đi ban đầu đầy khó khăn và thách thức, qua trảinghiệm thực tế, những đúc kết sơ bộ cả về lý luận và thực tiễn, ngày 2 tháng

5 năm 1985 Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc đã ranghị quyết về “cải cách thể chế giáo dục của nước CHND Trung Hoa”, mở

Trang 23

đầu cho một giai đoạn phát triển mới, nhanh, mạnh và hiệu quả chưa từng cótrong lịch sử phát triển giáo dục của đất nước này.

Mở đầu, nghị quyết đã khẳng định lại vai trò quan trọng của giáo dụctrong sự nghiệp xây dựng đất nước và đòi hỏi toàn Đảng phải nâng cao nhậnthức đối với giáo dục, hướng giáo dục tới hiện đại hoá, hướng ra thế giới,hướng ra tương lai, ra sức chuẩn bị đội ngũ nhân tài cho đất nước trong thâp

kỷ 90 và những năm đầu của thế kỷ 21 Nghị quyết đã khái quát những tồntại chủ yếu của hệ thống giáo dục TQ:

(1) Thể chế quản lý giáo dục bất hợp lý, vừa trói buộc, vừa buônglỏng, làm cho nhà trường thiếu sức sống, nhất là trường đại học.(2) Cơ cấu hệ thống giáo dục mất cân đối, GD cơ sở và GD kỹthuật - nghề nghiệp còn yếu kém cả về số lượng và chất lượng, cảđội ngũ và phương tiện trang thiết bị, cơ cấu đại học bất hợp lý, tỷ

lệ giữa các khoa, ngành học, cấp học không cân đối

(3) Tư tưởng, nội dung và phương pháp giáo dục ở những mức độkhác nhau còn thoát ly yêu cầu của phát triển kinh tế, xã hội, lạchậu với sự phát triển văn hoá, khoa học của thời đại

Từ đó nghị quyết đã đưa ra những phương hướng cải cách chủ yếu sauđây:

- Nâng cao tố chất dân tộc, đào tạo ngày càng nhiều, càng tốt nhân tài

- Giao trách nhiệm phát triển giáo dục cơ sở cho địa phương, từngbước thực hiện giáo dục nghĩa vụ 9 năm

- Điều chỉnh cơ cấu giáo dục trung học, ra sức phát triển GD kỹ thuậtnghề nghiệp

Trang 24

- Sửa đổi kế hoạch chiêu sinh của các trường đại học và chế độ phânphối sinh viên tốt nghiệp Mở rộng quyền tự chủ của các trường đại học.

- Tăng cường lãnh đạo, huy động các nhân tố tích cực của các mặt,bảo đảm tiến hành thắng lợi cải cách thể chế GD

Ngay sau khi nghị quyết ra đời, hàng loạt chủ trương, biện pháp đãđược triển khai Ngay trong năm 1985 TQ đã thành lập Uỷ ban giáo dục nhànước thay cho Bộ giáo dục trước đây Uỷ ban này trực thuộc Quốc Vụ Viện

và do ông Lý Bằng làm chủ tịch

Uỷ ban có trách nhiệm soạn thảo và đưa ra những nguyên tắc chỉ đạocho toàn ngành giáo dục, lập kế hoạch phát triển giáo dục, phối hợp công tácgiáo dục của nhiều bộ, ngành và cơ quan khác nhau, tổ chức và hướng dẫnthực hiện cải cách GD theo một phương án toàn diện

Để thúc đẩy quá trinhf cải cách nhanh chóng, có hiệu quả, tại từngthời điểm cần thiết Đảng và Nhà nước lại ban hành những văn bản pháp quynhư “Luật giáo dục nghĩa vụ” 8 năm (12/4/1986), chỉ thị của Trung ươngĐảng cộng sản Trung Quốc về cải cách và tăng cường công tác giáo dục đạođức trong các trường tiểu học và trung học (25/12/1988)

Để có thể hiểu đầy đủ hơn những vấn đề then chốt trong cải cách GDđại học và chuyên nghiệp, rút ra được những bài học kinh nghiệm, chúng ta

sẽ xem xét một cách hệ thống các vấn đề cơ bản dưới đây:

2.1 Những quan điểm tư tưởng, những mục tiêu và giải pháp chiến lược.

2.1.1 Về vai trò vị trí của giáo dục: Muốn xây dựng và phát triển

đất nước phải đề cao vai trò vị trí của giáo dục, phải tôn trọng tri thức, trọngdụng nhân tài GD giữ vị trí chiến lược hàng đầu

Trang 25

Quan điểm này được thể hiện rõ trong các văn kiện của Hội nghịTrung ương và các Đại hội của Đảng cộng sản TA từ năm 1987 đến nay NQHội nghị TW lần thứ 3 khoá XI tháng 12/1978 và nghị quyết Đại hội Đảngkhoá XII năm 1982 đều xác định: “Giáo dục là trọng điểm chiến lược củaphát triển kinh tế [4] NQ về cải cách thể chế giáo dục năm 1985 ghi rõ:

“Điều then chốt quan trọng của sự thành bại từ nay về sau chính là ở nhântài; mà muốn giải quyết vấn đề nhân tài phải phát triển mạnh giáo dục trên

cơ sở phát triển kinh tế” Giáo dục phải phục vụ xây dựng CNXH và xâydựng CNXH phải dựa vào giáo dục” (3) Năm 1987, Đại hội khóa XIII củaĐảng lại làm nổi bật hơn vị trí chiến lược hàng đầu của giáo dục trong chiếnlược phát triển đất nước: “Kế hoạch lớn trăm năm, giáo dục là gốc (4)

2.1.2 Về chức năng của giáo dục: Các nhà khoa học GD TQ cho

rằng, cần xây dựng một quan điểm lớn về các chức năng của GD như sau:

“Giáo dục phục vụ việc thúc đẩy xây dựng kinh tế, dân chủ chính trị, tiến bộkhoa học kỹ thuật, sự phồn vinh của văn hóa và sự phát triển tổng hợp của

xã hội, trong đó chức năng chủ yếu là thông qua việc mở mang dân trí, nângcao chất lượng lao động, đào tạo nhân tài đủ tiêu chuẩn để thúc đẩy sức sảnxuất xã hội phát triển” Các nhà khoa học GD TQ cũng cho rằng, chính từquan điểm trên đã tạo ra bước chuyển mới trong quan niệm giáo dục và tạođiều kiện cho sự phát triển tự thân của lý luận giáo dục (Hà Hưng – 10 nămnghiên cứu khoa học giáo dục ở Trung Quốc) (8)

2.1.3 Về mục đích của giáo dục: Qua nhiều nghiên cứu, tranh luận,

hội thảo, các nhà giáo dục TQ đã thống nhất rằng: “phải đổi mới tư tưởnggiáo dục từ chỗ giáo dục lấy truyền thụ kiến thức làm mục đích sang GDkhông chỉ quan tâm việc truyền thụ kiến thức mà phải lấy lợi ích cá nhân vàlợi ích xã hội làm mục đích GD không chỉ giới hạn trong nhà trường mà là

Trang 26

giáo dục suốt đời (Hồ Hiến Phong: suy nghĩ về việc đổi mới tư tưởng giáodục và tiến hành GD sáng nghiệp ở TQ (6) “Giáo dục phải kết hợp với mụctiêu phát triển toàn diện với mục tiêu phát triển cá tính”, “Giáo dục phải lấychính trị làm trọng tâm trong giai đoạn cách mạng và lấy kinh tế làm trọngtâm trong giai đoạn xây dựng” (Lưu Phạt Niên: sự thay đổi quan niệm giáodục của TQ trong 10 năm qua) (7).

2.1.4 Về nội dung và phương pháp giáo dục: Nghị quyết về cải

cách thể chế giáo dục ghi rõ: “nội dung và phương pháp GD phải được cảicách theo nguyên tắc “lý luận liên hệ với thực tế” dưới sự chỉ đạo của tưtưởng duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tích cực tiến hành thử nghiệm

về cải cách dạy học, thay đổi tình trạng chuyên môn quá hẹp, tinh giản vàđổi mới nội dung, tăng cường thực hành, giảm các môn học bắt buộc, tăngthêm các môn tự chọn, thực hiện chế độ học phần và chế độ hai học vị, tăngthêm thời gian tự học và hoạt động ngoại khóa, mở rộng có chỉ đạo phongtrào vừa học vừa làm

2.1.5 Những mục tiêu chiến lược: NQ về cải cách thể chế giáo dục

kỹ thuật, giải quyết vấn đề lý luận và thực tiễn quan trọng trong công cuộchiện đại hóa XHCN” (3)

Mục tiêu định hướng cho GD đại học và chuyên nghiệp đến hết thế kỷnày và đầu thế kỷ XXI là: đào tạo 34 triệu chuyên gia và cán bộ chuyên môn

Trang 27

nói chung, trong đó 700.000 người tốt nghiệp trên đại học, 8 triệu người tốtnghiệp đại học và cao đẳng và 17 triệu người tốt nghiệp các trường nghề.(Mục tiêu kinh tế của TQ dự kiến sẽ tăng giá trị sản lượng nông – côngnghiệp từ 710 tỷ nhân dân tệ năm 1981 lên 2800 tỷ nhân dân tệ năm 2000,đạt giá trị tổng thu nhập quốc dân là 1000 tỷ đôla, đạt bình quân 800đôla/đầu người, bằng mức sống trung bình của thế giới đầu những năm 80)(Bùi Đức Thiện: cải cách giáo dục ở TQ: mục tiêu, hiện trạng và xu thế) (2).

2.1.6 Về cơ cấu hệ thống giáo dục:

NQ về cải cách thể chế giáo dục ghi rõ: “Phải điều chỉnh và cải cách

cơ cấu hệ thống GD đại học theo nhu cầu xây dựng kinh tế, phát triển xã hội

và tiến bộ KHKT Khắc phục tình trạng bất hợp lý về tỷ lệ các ngành khoahọc trong GD đại học, phát triển nhanh các ngành còn yếu kém như kinh tếtài chính, nhà nước và pháp quyền, quản lý tạo điều kiện cho các ngànhmới, ngành phụ trợ trưởng thành, thay đổi tỷ lệ bất hợp lý giữa đào tạochuyên khoa và khoa học cơ bản, chú trọng đào tạo chuyên khoa” (3)

Về giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp, NQ nêu: “Điều chỉnh cơ cấu GDtrung học, ra sức phát triển GD kỹ thuật nghề nghiệp”, vì “không có độiquân lao động kỹ thuật to lớn thì KHKT tiên tiến và thiết bị tiên tiến khôngthể trở thành lực lượng sản xuất xã hội hiện thực” Nhưng trong phát triển

GD kỹ thuật nghề nghiệp thì coi “giáo dục trung học nghề nghiệp là trọngđiểm, lấy các trường trung học chuyên nghiệp làm nòng cốt, tích cực pháttriển các trường cao đẳng kỹ thuật nghề nghiệp với ưu tiên tiếp nhận họcsinh tốt nghiệp trung học kỹ thuật nghề nghiệp và công nhân viên tại chức cókinh nghiệm thực tế và có thành tích, phù hợp với chuyên ngành đào tạo,từng bước thiết lập một hệ thống GD kỹ thuật nghề nghiệp từ sơ cấp đến caocấp, ngành nghề cân đối, cơ cấu hợp lý và gắn bó với GD phổ thông” (3)

Trang 28

Để thực hiện điều đó, NQ cũng chỉ rõ, phải phân luồng GD phổ thông

từ sau khi tốt nghiệp tiểu học, tốt nghiệp sơ trung rồi tốt nghiệp cao trung.Học sinh tốt nghiệp tiểu học được GD kỹ thuật nghề nghiệp đào tạo ngangvới sơ trung thì có thể học lên hoặc đi làm; học sinh tốt nghiệp sơ trungkhông học lên, không qua các trường nghề kỹ thuật thì có thể học một lớphuấn luyện kỹ thuật nghề ngắn hạn rồi đi làm Để điều chỉnh cơ cấu và pháttriển nhanh trường nghề, cần chuyển một số trường trung học phổ thôngthành trường trung học dạy nghề và mở thêm các trường dạy nghề mới Phấnđấu trong 5 năm đa số các địa phương số học sinh trung học kỹ thuật nghềnghiệp bằng số học sinh phổ thông trung học (tỷ lệ 1:1)

NQ cũng coi giáo dục người lớn, giáo dục qua phát thanh và truyềnhình là một bộ phận hợp thành rất quan trọng của sự nghiệp giáo dục và giaocho Ủy ban GD nhà nước tăng cường và cải tiến công tác ở lĩnh vực này vàđưa ra những quyết định về chuyên môn

- Giáo dục trung học kỹ thuật nghề nghiệp chủ yếu do địa phươngquản lý Các trường loại này do các ngành trung ương mở ra, địa phương cótrách nhiệm phối hợp, điều hòa

Trang 29

- Mở rộng quyền tự chủ của các trường đại học Phải thay đổi thể chếquản lý ôm đồm của nhà nước đối với trường đại học, coi đây là vấn đề thenchốt của cải cách thể chế GD đại học hiện nay Trên cơ sở chấp hành chínhsách và kế hoạch pháp lệnh của nhà nước, trường đại học có quyền ký hợpđồng đào tạo với các đơn vị ủy thác, hoặc tuyển sinh tự trang trải chi phí đàotạo, có quyền tự lập kế hoạch, chương trình, biên soạn và lựa chọn giáotrình, tiến hành nghiên cứu khoa học và sáng chế kỹ thuật, xây dựng mốiliên kết giữa giảng dạy, nghiên cứu khoa học và sản xuất Trường đượcquyền tự chủ trong việc đề cử, bổ nhiệm và bãi miễn phó hiệu trưởng và cán

bộ cấp dưới khác, tự chủ sử dụng kinh phí và vốn đầu tư xây dựng cơ bản donhà nước cấp, sử dụng quỹ tự có, mở rộng giao lưu quốc tế trong giáo dục

và học thuật

- Nhà nước và cơ quan quản lý giáo dục tổ chức cho các nhà GD, giớitrí thức và các ngành sử dụng cán bộ định kỳ đánh giá trình độ đào tạo củatrường đại học Trường có thành tích xuất sắc sẽ được giúp đỡ về vật chất,tinh thần, trường làm không tốt cần được chỉnh đốn, thậm chí đóng cửa

- Thực hiện thể chế 3 cấp làm cho giáo dục: Trung ương, tỉnh (khu tựtrị, thành phố trực thuộc) và thành phố trọng điểm Trường do các ngành

TW và địa phương mở ưu tiên đáp ứng nhu cầu của ngành và địa phương,đồng thời phát huy tiềm lực đào tạo cho các ngành và đơn vị khác Tích cựcliên kết giữa các ngành và địa phương Việc phục vụ hậu cần cho các trườngđại học do các địa phương nơi trường đóng đảm nhiệm

- Thông qua cải cách mở rộng trường sở và các hình thức liên kết đểphát huy tiềm năng Tạm thời không xây dựng thêm trường mới

- Căn cứ nghị quyết về cải cách thể chế KHKT, các trường ĐH cần

Trang 30

nghiên cứu sinh để đóng góp to lớn vào phát triển KHKT Để tăng cườngnăng lực NCKH, đào tạo nhân tài chất lượng cao, cần cải tiến và hoàn thiệnchế độ nghiên cứu sinh, có kế hoạch xây dựng những bộ môn trọng điểm.Trên cơ sở đó xây dựng trường ĐH thành trung tâm đào tạo và trung tâmNCKH một cách tự nhiên.

- Về quản lý nội bộ trường ĐH, cần thực hiện chế độ trách nhiệm củahiệu trưởng Trường có điều kiện cần thành lập Ban chấp hành nhà trường

do hiệu trưởng chủ trì với số ít thành viên có uy tín để làm cơ quan thẩmđịnh quyết nghị

Xây dựng, kiện toàn hội nghị công nhân viên chức do giáo dvieen làmnòng cốt, thực hiện quản lý dân chủ, giám sát dân chủ

Tổ chức Đảng trong nhà trường không ôm đồm như trước, tập trungvào việc xây dựng Đảng, công tác chính trị tư tưởng, đoàn kết thầy trò, giúphiệu trưởng thực hiện chức trách, quyền lực, giám sát và bảo đảm thực hiệnphương châm chính sách của Đảng và kế hoạch nhà nước về giáo dục

2.1.8 Chăm lo đội ngũ giáo viên:

NQ về cải cách thể chế GD và những văn bản pháp quy kèm theo xácđịnh:

- TQ có đội ngũ giáo viên gần chục triệu người, cần tôn trọng họ, tăngcường quan tâm, lắng nghe ý kiến họ, phát huy đầy đủ vai trò của họ, mỗicải cách quan trọng trong nhà trường đều phải được giáo viên thảo luận.Nghề dạy học phải trở thành một trong những nghề được xã hội tôn trọngnhất định, cần đãi ngộ hợp lý, động viên khuyến khích xứng đáng

- Phát triển giáo dục sư phạm và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên tại chức

là biện pháp chiến lược của việc phát triển GD Sử dụng giáo viên đại học,

Trang 31

sinh viên ĐH, cán bộ nghiên cứu của các cơ quan nghiên cứu, một số cán bộ

đủ tiêu chuẩn của các cơ quan Đảng, chính quyền tham gia bồi dưỡng giáoviên trung, tiểu học, để trong vòng 5 năm hoặc hơn tuyệt đại đa số giáo viênlàm tốt công tác của mình Chỉ có những người đủ tiêu chuẩn mới đảm nhậnviệc dạy học

- Ở các trường ĐH có điều kiện, những giáo viên có trình độ từ phógiáo sư trở lên, giảng dạy khối lượng lớn, cứ 5 năm được giành 1 năm đểnâng cao trình độ, làm công tác khoa học và trao đổi học thuật

- Giáo viên trong lĩnh vực GD kỹ thuật nghề nghiệp đang thiếunghiêm trọng, cần mở một số trường sư phạm kỹ thuật nghề nghiệp: cáctrường ĐH chuyên nghiệp hữu quan, các cơ quan nghiên cứu đều phải đảmnhiệm bồi dưỡng giáo viên kỹ thuật - nghề nghiệp Các nhân viên khoa học

kỹ thuật có thể kiêm nhiệm làm giáo viên, có thể mời giáo viên chuyênnghiệp, thợ lành nghề đến để truyền nghề trong khi đào tạo giáo viên chưakịp (3)

2.1.9 Vấn đề tuyển sinh và phân phối sinh viên tốt nghiệp

NQ về cải cách thể chế giáo dục đã đề ra 3 biện pháp sau đây:

- Chiêu sinh theo kế hoạch nhà nước Căn cứ quy hoạch tổng thể pháttriển giáo dục đại học và dự báo nhu cầu cán bộ chuyên môn cho kế hoạchdài hạn, trung hạn của nhà nước, đề ra kế hoạch chiêu sinh phù hợp với nhucầu trước mắt và lâu dài Sinh viên tốt nghiệp sẽ được phân phối theonguyên tắc: dưới sự chỉ đạo của kế hoạch nhà nước, cá nhân đề xuất nguyệnvọng, nhà trường giới thiệu và đơn vị sử dụng người lựa chọn tuyển dụng.Trong kế hoạch chiêu sinh cần có một tỷ lệ định hướng cho những vùng biên

Trang 32

giới, xa xôi và cho những ngành nghề nặng nhọc độc hại và dành sự đãi ngộ

ưu tiên cho những người tốt nghiệp đến công tác ở những nơi đó

- Chiêu sinh theo sự ủy thác của đơn vị sử dụng, nhằm tận dụng hếttiềm lực của trường và thỏa mãn nhu cầu xã hội về cán bộ chuyên môn.Từng bước mở rộng cách tuyển này để tạo nguồn bổ sung cho kế hoạch nhànước Đơn vị ủy thác cần nộp cho nhà trường một số kinh phí nhất định theohợp đồng ký kết và sinh viên sau tốt nghiệp buộc phải đến công tác tại đơn

vị ủy thác như hợp đồng đã quy định

- Tuyển sinh tự túc kinh phí đào tạo ngoài kế hoạch nhà nước, sinhviên phải nộp một khoản tiền cho chi phí đào tạo và sau khi tốt nghiệp đượcnhà trường giới thiệu tới nơi sử dụng hoặc tự mình tìm việc

Sinh viên dự tuyển theo cả 3 cách nói trên đều phải qua kỳ thi quốcgia, đủ tiêu chuẩn mới được vào học

NQ cũng quy định những học sinh chuyên nghiệp sư phạm và nhữnghọc sinh sau khi tốt nghiệp sẽ đến công tác ở những vùng khó khăn, giankhổ được nhà nước cấp kinh phí ăn ở và miễn nộp các khoản kinh phí khác.Thực hiện chế độ thưởng học bổng cho học sinh có thành tích học tập xuấtsắc, trợ cấp kinh phí cho học sinh có khó khăn về kinh tế (3)

2.1.10 Về công tác chính trị, tư tưởng, NQ của Đảng nêu rõ:

Phải kiên trì giáo dục chủ nghĩa Mác cho thầy và trò, động viên họ giữvững ý chí tiến thủ, lập thành tích xây dựng ngành và sự giàu mạnh của tổquốc, bảo đảm sự phát triển toàn diện về đạo đức, tri thức và thể chất củahọc sinh, làm cho nhà trường thực sự trở thành pháo đài vững chắc chống lại

sự xâm nhập, phá hoại của tư tưởng tư bản chủ nghĩa và các tư tưởng khác,xây dựng nền văn minh tinh thần xã hội chủ nghĩa

Trang 33

2.1.11 Tăng đầu tư cho giáo dục:

Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương Đảng và cải cách thể chế

GD đã nêu rõ: “Phát triển giáo dục không thể không tăng đầu tư” Các nhànghiên cứu giáo dục cũng đã chứng minh rằng: “Đầu tư cho giáo dục là đầu

tư mang tính sản xuất” NQ trên đã quy định:

- Gia tăng chi phí cho GD của chính quyền trung ương và địa phươngphải cao hơn mức gia tăng thu nhập tài chính thông thường

- Chi phí giáo dục tính bình quân cho đầu học sinh từng bước phảiđược tăng lên

- Các địa phương ngoài khoản nộp cho nhà nước cần dành một tỷ lệthích đáng kinh phí lưu thông cho giáo dục, còn kinh phí của xã hội chủ yếudành cho GD

- Địa phương có thể thu các khoản tiền nộp thêm cho GD để cải thiệnđiều kiện dạy, học của GD trên cơ sở tự nguyện, không ép buộc

- Cấm các ngành trưng dụng kinh phí của nhà trường vào việc khác

- Theo phương hướng xã hội hóa, các cơ quan Đảng và chính quyềnđịa phương nơi trường đại học đóng phải bảo đảm trách nhiệm giải quyết tốtviệc phục vụ hậu cần cho nhà trường (3)

2.1.12 Vấn đề nghiên cứu khoa học giáo dục:

Công tác nghiên cứu khoa học giáo dục phải được khôi phục và pháttriển, để phục vụ cho cải cách giáo dục Hoạt động nghiên cứu phải được kếhoạch hóa nhằm vừa phục vụ những nhu cầu trước mắt vừa phục vụ chiếnlược phát triển lâu dài

2.2 Những cải cách đã thực hiện và kết quả:

Trang 34

2.2.1 Cải cách cơ cấu hệ thống giáo dục:

Cơ cấu hệ thống giáo dục gắn liền với cơ cấu đội ngũ lao động nghềnghiệp, cán bộ chuyên môn và nhân tài của đất nước Sự phát triển mạnhnền kinh tế hàng hóa có kế hoạch của CNXH kéo theo sự biến đổi cơ cấungành nghề ở thành thị và nông thôn, đòi hỏi GD phải nhanh chóng nắm bắtđược nhu cầu cấp bách của nền kinh tế đối với từng loại cán bộ về ngànhnghề, về cấp bậc trình độ Từ đó, điều chỉnh cơ cấu hệ thống giáo dục, làmcho đào tạo gắn liền chặt chẽ với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội Đây làvấn đề trọng điểm của cải cách thể chế giáo dục

Trên tinh thần đó TQ chủ trương:

- Trước hết phải giải quyết vấn đề suy yếu của giáo dục cơ sở:

Vì “vấn đề này liên quan tới chất lượng của giáo dục trung học và đạihọc, liên quan đến chất lượng dân tộc và tương lai của nước nhà” (NQ của

TƯ Đảng về cải cách thể chế GD) Tháng 12-1980, TQ ra quyết định về phổcập GD tiểu học vào trước năm 90, tháng 5-1985, quyết định về cải cách thểchế GD giao trách nhiệm phát triển giáo dục cơ sở cho địa phương, từngbước thực hiện phổ cập giáo dục 9 năm; tháng 4-1986 công bố luật giáo dụcnghĩa vụ 9 năm và giao trách nhiệm cho các ngành các cấp chỉ đạo thựchiện Tính đến năm 1987, đã có 97% trẻ em trong độ tuổi đến trường, cảnước có 807.400 trường tiểu học với 126.360.000 học sinh, 92.8000 trườngtrung học phổ thông với 49.481.000 học sinh, có 1240 huyện (chiếm 60%tổng số huyện của cả nước), đạt tiêu chuẩn phổ cập tiểu học (4)

- Thứ hai là điều chỉnh cơ cấu giáo dục trung học đồng thời với pháttriển GD kỹ thuật nghề nghiệp Năm 1978, trong khi HS phổ thông trunghọc chiếm 95% thì HS các trường kỹ thuật nghề nghiệp chỉ có 5%,

Trang 35

GDKTNN trở thành khâu yếu nhất, gây nên tình trạng “thắt eo” của cơ cấu

hệ thống GD Căn cứ NQ của TƯ, Ủy ban GD nhà nước với nguyên tắc chỉđạo “huấn luyện trước, vào nghề sau và phương châm phát triển GDKTNNbằng nhiều hình thức đã phối hợp với các ngành kế hoạch nhân sự, chú ýgiải quyết các khó khăn thực tế về quản lý, kinh phí, giáo viên cổ vũ cácđịa phương phát triển GDKTNN Tiến hành việc điều chỉnh, sát nhập một bộphận phổ thông trung học thành trường trung học nghề nghiệp, trung họcnông nghiệp, xây dựng mới một số trường trung học chuyên nghiệp, trunghọc nông nghiệp, thêm giờ kỹ thuật nghề nghiệp ở phổ thông trung học hoặcthêm 1 năm đào tạo kỹ thuật nghề nghiệp sau giai đoạn cấp 2

Qua mấy năm cải cách cơ cấu giáo dục trung học đã thay đổi rõ rệt, sựphát triển đơn nhất phổ thông trung học đã được khống chế, các trường kỹthật nghề nghiệp đã phát triển nhanh và có khả năng đạt tỷ lệ chuẩn 1: 1giữa học sinh PTTH và học sinh trung học KTNN vào năm 1990 (Ngô ChuLượng: Thay đổi tư duy GD và cải cách GDPT ở Trung Quốc (5)

- Thứ ba là cải cách cơ cấu giáo dục đại học, cơ cấu GD đại học đã có

sự điều chỉnh, đảm bảo tỷ lệ hợp lý giữa các khoa, ngành, bổ sung và tăngcường những ngành còn yếu như kinh tế - tài chính, luật pháp, quản lý: điềuchỉnh tỷ lệ đào tạo giữa khoa học cơ bản và đào tạo chuyên khoa theo hướngtăng cường đào tạo chuyên khoa Kết quả cụ thể là: ngành tài chính đã tăng

số lượng sinh viên từ 1,8 vạn năm 1978 lên 18,04 vạn năm 1987, tỷ trọngtrong tổng số SV đại học tăng từ 0,15 lên 2,15%, số trường tăng từ 21 lên

74 trường Ngành pháp lý số lượng SV tăng từ 1299 năm 1978 lên 42.034người năm 1987, tỷ trọng trong tổng số SV đại học tăng từ 0,15% lên2,15%, số trường tăng từ 2 lên 25 trường

Trang 36

Về đào tạo chuyên khoa tỷ lệ chiêu sinh so với các khoa khoa học cơbản đã tăng từ 0,37: 1 (năm 1978) lên 0,86: 1 (năm 1987).

Việc đào tạo nghiên cứu sinh cũng đã chuyển biến rõ rệt Năm 1978khôi phục chế độ tuyển sinh NCS, năm 1981 ban hành điều lệ học vị Haiviệc sửa đổi này đã có tác dụng quan trọng Số NCS đã tăng từ 1 vạn ngườinăm 1978 lên 35 vạn người năm 1987 (4)

Tuy nhiên, nhìn tổng quát cơ cấu giáo dục đại học TQ ta thấy:

Về kết cấu ngành học: Tổng số ngành hiện có 11 ngành: công nghiệp,nông nghiệp, lâm nghiệp, y dược, sư phạm, văn khoa, khoa học tự nhiên,kinh tế tài chính, luật, thể dục, nghệ thuật Mỗi ngành học lại gồm nhiềuchuyên ngành quá hẹp, đưa tổng số chuyên ngành lên tới 1300, đến năm

1987 đã rút lại còn 750 Đến nay một số chuyên ngành vẫn còn quá hẹp Cácmôn khoa học ứng dụng như báo chí, thư viện học và xuất bản ít được để ý,các ngành khoa học mới, giáp danh vẫn chậm hình thành, không phù hợpvới thực trạng phát triển kinh tế - xã hội và gây khó khăn cho việc phân côngsinh viên tốt nghiệp (18)

Về kết cấu trình độ: GD ĐH TQ có 3 cấp trình độ: Cao đẳng (chuyênkhoa), đại học (bản khoa) và nghiên cứu sinh Tỷ lệ giữa SV ĐH với SV caođẳng, giữa SV với nghiên cứu sinh như đã nêu trên, tuy đã được điều chỉnhsong vẫn còn chưa hợp lý Cần tăng cường đào tạo chuyên khoa hơn nữa,khắc phục tình trạng các trường ĐH chỉ thích đào tạo trình độ cao

Về quy mô của các loại hình đào tạo trong cơ cấu chung cũng chưahợp lý: năm 1986 tỷ lệ sinh viên hàm thụ và ban đêm trên toàn bộ SV chỉchiếm 29% Quy mô của từng loại hình trường còn nhỏ bé, hiệu suất sử

Ngày đăng: 29/04/2017, 11:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[2] Bùi Đức Thiệp: Cải cách giáo dục ở Trung Quốc: Mục tiêu, hiện trạng và xu thế (trang 17) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách giáo dục ở Trung Quốc: Mục tiêu, hiện trạng và xu thế
Tác giả: Bùi Đức Thiệp
[3] Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc về cải cách thể chế giáo dục, ngày 27/5/1985. Bùi Đức Thiệp dịch từ“Renmiribao” ngày 29/5/1985 (trang 46) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc về cải cách thể chế giáo dục
Tác giả: Bùi Đức Thiệp
Năm: 1985
[4] Nhìn lại cuộc cải cách thể chế giáo dục - Uỷ ban Giáo dục Nhà nước CHND Trung Hoa. Bùi Đức Thiệp dịch từ cuốn “Mười năm cải cách thể chế kinh tế Trung Quốc”, Bắc Kinh 1988, (trang 84) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mười năm cải cáchthể chế kinh tế Trung Quốc
[5] Chu Ngô Lượng: Thay đổi tư duy giáo dục và cải cách giáo dục phổ thông ở Trung Quốc – Vũ Ngọc Bình dịch từ UNESCO ACEID Newsletter No 34, 1988 (Trang 15) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thay đổi tư duy giáo dục và cải cách giáo dục phổ thông ở Trung Quốc
Tác giả: Chu Ngô Lượng
Nhà XB: UNESCO ACEID Newsletter
Năm: 1988
[6] Hồ Hiếu Phong: Suy nghĩ về việc đổi mới tư duy giáo dục và hình thành giáo dục sáng nghiệp. BĐT dịch từ “Nhân dân nhật báo” ngày 16/1/1989 (trang 112) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân dân nhật báo
[7] Hà Hưng: Mười năm nghiên cứu khoa học giáo dục Trung Quốc.BĐT dịch từ “Jiao yo Jiu” số 12/1988 (trang 157) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Jiao yo Jiu
[9] V.E. Clêpicôp: Phát triển giáo dục quốc dân ở CHND Trung Hoa.Nguyễn Quốc Chỉ dịch từ “Giáo dục học Xô Viết”, số 2/1987 (trang 189) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển giáo dục quốc dân ở CHND Trung Hoa
Tác giả: V.E. Clêpicôp, Nguyễn Quốc Chỉ
Nhà XB: Giáo dục học Xô Viết
Năm: 1987
[11] Trung Quốc: Những cuộc cải cách và mâu thuẫn. Bào “Giáo viên nhân dân” (tiếng Nga) ngày 25/8/1988 (trang 217) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc: Những cuộc cải cách và mâu thuẫn
Nhà XB: Giáo viên nhân dân
Năm: 1988
[12] Lưu Chí Yên: Giáo dục ở CHND Trung Hoa – Trích báo cáo tại Hội nghị giáo dục toàn quốc ngày 22/4/1987. Dương Lan Hương dịch từ“Education in Asisend oceania”.B. Những tài liệu khác Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục ở CHND Trung Hoa
Tác giả: Lưu Chí Yên
Năm: 1987
[14] Phan Tất Giá: Thực trạng và xu thế phát triển giáo dục đại học ở một số nước Châu Á – Thái Bình Dương. Tổng Luân phân tích, Viện NCĐH và GDCN, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và xu thế phát triển giáo dục đại học ở một số nước Châu Á – Thái Bình Dương
Tác giả: Phan Tất Giá
Nhà XB: Viện NCĐH và GDCN
Năm: 1991
[15] Wang Cheng xu và heping: Tham luận tại hội nghị giáo dục đại học ở các nước Châu Á – Thái Bình Dương của UNESCO năm 1984. (Trích từ cuốn “Giáo dục đại học các nước Châu Á” Viện NCĐH và GĐCN, 1984 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục đại học các nước Châu Á
Tác giả: Wang Cheng xu, heping
Nhà XB: Viện NCĐH và GĐCN
Năm: 1984
[16] Vài nét về giáo dục đại học ở Trung Quốc. T/c “Người Châu Á”của UNESCO, tháng 4/1986 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Châu Á
[18] Vương Vĩnh Toàn (Trung Quốc): Nghiên cứu kết cấu giáo dục đại học Trung Quốc – Bùi Sĩ dịch. Bắc Kinh, 1988 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu kết cấu giáo dục đại học Trung Quốc
Tác giả: Vương Vĩnh Toàn
Nhà XB: Bắc Kinh
Năm: 1988
[1] Một vài nét về giáo dục và khoa học giáo dục ở Trung Quốc hiện nay – BĐT (Trang 3) Khác
[10] Irama Peters: Cuộc cách mạng giáo dục ở CHND Trung Hoa - Những lý do, những yêu cầu, những khả năng và những giới hạn (trang 201) Khác
[13] Giáo dục kỹ thuật và nghề nghiệp ở Trung Quốc. Đỗ Huân dịch – Thông tin chuyên đề - Viện nghiên cứu đại học và GDCN, 1990 Khác
[17] Minh Huệ Phong (Trung Quốc) – Báo cáo tại hội thảo về những lựa chọn chính sách cải cách giáo dục đại học Việt Nam, Hà Nội, 1993 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w