Viết tắt/ký hiệu Nội dung diễn giải M0, m3/ha Trữ lượng rừng trước khai thác Mkt, m3/ha Trữ lượng của bộ phận cây khai thác Mđg, m3/ha Trữ lượng của bộ phận cây đổ gãy Mmdkt, m3/ha Trữ l
Trang 1ƢỜ ỌC Ệ
NGUYỄN QUỐC ƢƠ
Á Á SỰ AY Ổ A D NG CÂY GỖ ƢỚC VÀ SAU KHAI THÁC CHO KIỂU RỪNG LÁ RỘ ƢỜNG XANH Ở
KHU VỰC TÂY NGUYÊN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ ỆP
HÀ NỘI – 2016
Trang 2ƢỜ ỌC Ệ
NGUYỄN QUỐC ƢƠ
Á Á SỰ AY Ổ A D NG CÂY GỖ ƢỚC VÀ SAU KHAI THÁC CHO KIỂU RỪNG LÁ RỘ ƢỜNG XANH Ở
KHU VỰC TÂY NGUYÊN
Chuyên ngành: iều tra và Quy hoạch rừng
Trang 5LỜI CẢ Ơ
Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Khoa Lâm học, Phòng Đào tạo Sau đại học Trường Đại học Lâm nghiệp; Lãnh đạo Trường Trung học Lâm nghiệp Tây Nguyên đã quan tâm, chỉ đạo và tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình đào tạo và nghiên cứu xây dựng luận án
Trong thời gian thực hiện luận án, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình, chu đáo của thầy giáo hướng dẫn khoa học GS.TS Vũ Tiến Hinh để hoàn thành luận án Qua đây, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới GS.TS Vũ Tiến Hinh
Nhân dịp này, tác giả cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới Ban Giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Sơ Pai, Hà Nừng, Đăk Tô, M’Đrăk đã giúp đỡ tôi thu thập số liệu hoàn thành luận án này Tác giả xin trân trọng cảm ơn các nhà khoa học
đã có những ý kiến góp ý quý báu để tác giả bổ sung và hoàn thiện luận án
Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn quý Thầy giáo, Cô giáo, gia đình và bạn
bè đồng nghiệp đã động viên, hỗ trợ về vật chất và tinh thần để tác giả có thêm nghị lực hoàn thành luận án này
Với tất cả sự nỗ lực của bản thân nhưng về trình độ và thời gian hạn chế nên luận án không thể tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các nhà khoa học và bạn bè đồng nghiệp
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ TỪ VIẾT TẮT
BNN&PTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
G, (m2/ha) Tiết diện ngang lâm phần
G0, (m2/ha) Tiết diện ngang trước khai thác
Gkt, (m2/ha) Tiết diện ngang của bộ phận cây khai thác
Gđg, (m2/ha) Tiết diện ngang của bộ phận cây đổ gãy
G1, (m2/ha) Tiết diện ngang mất đi do khai thác và đổ gãy: G1 = (Gkt + Gđg)
G2, (m2/ha) Tiết diện ngang sau khai thác: G2= (G0 - G1)
Hvn, (m) Chiều cao vút ngọn
HL2 Tỷ lệ hỗn loài của các loài có độ nhiều >5%
IVI: Chỉ số quan trọng (Importance Value Index)
ki0 Hệ số tổ thành trước khai thác
Trang 7Viết tắt/ký hiệu Nội dung diễn giải
M0, (m3/ha) Trữ lượng rừng trước khai thác
Mkt, (m3/ha) Trữ lượng của bộ phận cây khai thác
Mđg, (m3/ha) Trữ lượng của bộ phận cây đổ gãy
Mmdkt, (m3/ha) Trữ lượng rừng mất đi do khai thác và đổ gãy: Mmdkt = (Mkt +
Mđg)
M2, (m3/ha) Trữ lượng rừng sau khai thác: M2= (M0 – Mmdkt)
mtg Số loài tham gia công thức tổ thành
mtg- Số loài mất đi trong công thức tổ thành sau khai thác
mtg+ Số loài mới thêm vào trong công thức tổ thành sau khai thác
N0, (cây/ha) Mật độ rừng trước khai thác
Nkt, (cây/ha) Mật độ của bộ phận cây khai thác
Nđg, (cây/ha) Mật độ của bộ phận cây đổ gãy
Nmdkt, (cây/ha) Mật độ rừng mất đi do khai thác và đổ gãy: Nmdkt = (Nkt + Nđg)
N2, (cây/ha) Mật độ rừng sau khai thác: N2= (N0 – Nmdkt)
OTC, ODB Ô tiêu chuẩn, Ô dạng bản
SPSS (Statistical Package and Social Sciences)
Gói phân tích thống kê dành cho khoa học xã hội
Trang 8MỘT SỐ THUẬT NGỮ DÙNG TRONG LUẬN ÁN
Khai thác chọn: Là việc chặt hạ gỗ nhằm lợi dụng lượng tăng trưởng của
rừng để đạt mục đích kinh tế là chính, nhưng phải đảm bảo phát triển, sử dụng rừng bền vững đã xác định trong phương án điều chế rừng hoặc phương án quản lý rừng bền vững hoặc phương án khai thác
Khai thác tác động thấp: Là một hệ thống các biện pháp từ khâu lập kế
hoạch (kế hoạch dài hạn, kế hoạch giai đoạn và kế hoạch năm) đến thiết kế khai thác; triển khai các hoạt động phụ trợ như làm đường, kho bãi, chặt hạ, vận xuất, xử
lý rừng sau khai thác… đồng thời giám sát, đánh giá nhằm thực hiện tốt cho mục tiêu quản lý rừng bền vững
hóm loài cây ưu thế: Là tập hợp những loài cây chiếm tỷ trọng lớn trong
quần xã thực vật rừng, có tổng hệ số tổ thành ki ≥ 50%
Loài cây mất đi: Là loài cây có mặt trong công thức tổ thành trước khai thác
nhưng sau khai thác tỷ trọng của loài bị giảm sút và không còn xuất hiện trong công thức tổ thành sau khai thác
Loài cây mới thêm vào: Là loài cây không có mặt trong công thức tổ thành
trước khai thác nhưng sau khai thác có sự biến động tỷ trọng giữa các loài và loài này lại xuất hiện trong công thức tổ thành sau khai thác
Trữ lượng khai thác: Là trữ lượng mất đi do khai thác (m3/ha)
Trữ lượng đổ gãy: Là trữ lượng mất đi do đổ gãy trong quá trình khai thác
(m3/ha)
Trữ lượng mất đi sau khai thác: Là tổng trữ lượng mất đi do khai thác và
đổ gãy (m3
/ha)
Cường độ khai thác: Được tính theo tỷ lệ phần trăm (viết tắt là %) giữa trữ
lượng của những cây gỗ chặt trong ô so với tổng trữ lượng rừng của ô đó tại thời điểm thiết kế (không tính cây chặt bài thải và đổ vỡ)
Trang 9Cường độ đổ gãy: Được tính theo tỷ lệ % giữa trữ lượng các cây gỗ đổ gãy
do quá trình khai thác trong ô với tổng trữ lượng của ô đó trước khai thác
Cường độ tổng hợp sau khai thác: Được tính theo tỷ lệ % giữa trữ lượng
các cây gỗ mất đi sau khai thác trong ô với tổng trữ lượng của ô đó trước khai thác
Cây phẩm chất A: Là cây thân thẳng, đẹp, đoạn gỗ thân dài
Cây phẩm chất B: Là cây có khuyết tật nhưng vẫn có thể lợi dụng được từ
50 ÷ 70% thể tích của thân cây
Cây phẩm chất C: Là cây cong queo sâu bệnh hoặc cụt ngọn, rỗng ruột, chỉ
có thể sử dụng dưới 50% thể tích của thân cây
Trang 10MỤC LỤC
Trang LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ TỪ VIẾT TẮT iii
MỘT SỐ THUẬT NGỮ DÙNG TRONG LUẬN ÁN v
MỤC LỤC vii
DANH MỤC BẢNG, BIỂU x
DANH MỤC HÌNH VẼ xii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của luận án 1
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án 2
3 Mục tiêu nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Những đóng góp của luận án 4
6 Cấu trúc luận án 4
Chương 1 5
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
1.1 Ở nước ngoài 5
1.1.1 Phương thức khai thác 5
1.1.2 Quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng 8
1.1.3 Tái sinh rừng 10
1.1.4 Cấu trúc tổ thành 13
1.1.5 Đa dạng tầng cây gỗ 15
1.1.6 Ứng dụng các chỉ số đa dạng sinh học trong nghiên cứu đa dạng thực vật 16
1.1.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến tính đa dạng thực vật 17
1.2 Ở trong nước 20
1.2.1 Phương thức khai thác 20
1.2.2 Quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng 24
1.2.3 Tái sinh rừng 26
Trang 111.2.4 Cấu trúc tổ thành 30
1.2.5 Đa dạng tầng cây gỗ 32
1.2.6 Ứng dụng các chỉ số đa dạng sinh học trong nghiên cứu đa dạng thực vật 34
1.2.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến tính đa dạng thực vật 35
1.3 Thảo luận 36
Chương 2 38
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38
2.1 Nội dung nghiên cứu 38
2.1.1 Xác định một số đặc điểm cơ bản của đối tượng rừng khai thác 38
2.1.2 Đánh giá sự thay đổi tổ thành cây gỗ trước và sau khai thác 38
2.1.3 Đánh giá sự thay đổi đa dạng cây gỗ trước và sau khai thác 38
2.1.4 Đánh giá sự thay đổi tổ thành tái sinh rừng trước và sau khai thác 38
2.1.5 Đề xuất biện pháp kỹ thuật lâm sinh 39
2.2 Phương pháp nghiên cứu 39
2.2.1 Quan điểm và phương pháp luận 39
2.2.2 Phương pháp kế thừa tài liệu 40
2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu 40
2.2.4 Phương pháp xử lý số liệu 43
Chương 3 56
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 56
3.1 Một số đặc điểm cơ bản của đối tượng rừng khai thác 56
3.1.1 Một số nhân tố điều tra cơ bản 56
3.1.2 Phân bố số cây và trữ lượng theo nhóm gỗ 60
3.1.3 Phân bố số cây và trữ lượng theo dạng sống 64
3.1.4 Phẩm chất của các bộ phận cây rừng 66
3.1.5 Ảnh hưởng của khai thác đến cấu trúc mật độ và trữ lượng rừng 68
3.1.6 Đánh giá sự thay đổi trạng thái rừng trước và sau khai thác 71
3.2 Đánh giá sự thay đổi về tổ thành cây gỗ trước và sau khai thác 72
3.2.1 Sự thay đổi tổ thành cây gỗ trước và sau khai thác theo loài cây (N%) 72
3.2.2 Sự thay đổi tổ thành cây gỗ trước và sau khai thác theo chỉ số (IV%) 80
3.2.3 Sự thay đổi tổ thành cây gỗ trước và sau khai thác theo nhóm gỗ 88
Trang 123.2.4 Sự thay đổi số lượng loài và trữ lượng theo dạng sống 98
3.3 Đánh giá sự thay đổi đa dạng cây gỗ trước và sau khai thác 101
3.3.1 Sự thay đổi một số chỉ số đa dạng cây gỗ trước và sau khai thác 101
3.3.2 Đa dạng loài theo cấp kính 106
3.3.3 Đa dạng theo nhóm gỗ 108
3.3.4 Đa dạng loài theo dạng sống 111
3.3.5 Biến động đa dạng loài 113
3.4 Đánh giá sự thay đổi tái sinh rừng trước và sau khai thác 118
3.4.1 Tổ thành tầng cây tái sinh 118
3.4.2 Các chỉ tiêu đánh giá tái sinh rừng 123
3.4.3 Mối quan hệ giữa tổ thành tầng cây cao với tổ thành tầng cây tái sinh 132
3.5 Đề xuất biện pháp kỹ thuật lâm sinh 133
3.5.1 Đối với thiết kế khai thác 133
3.5.2 Đối với quá trình khai thác 134
3.5.3 Giải pháp kỹ thuật lâm sinh sau khai thác 141
KẾT LUẬN, TỒN TẠI, KHUYẾN NGHỊ 145
1 Kết luận 145
1.1 Sự thay đổi trạng thái rừng trước và sau khai thác 145
1.2 Sự thay đổi về tổ thành cây gỗ trước và sau khai thác 145
1.3 Sự thay đổi đa dạng cây gỗ trước và sau khai thác 145
1.4 Sự thay đổi tái sinh rừng trước và sau khai thác 146
1.5 Về đề xuất các biện pháp kỹ thuật lâm sinh 147
2 Tồn tại 147
3 Khuyến nghị 147 DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt Tiếng nước ngoài PHỤ BIỂU
Trang 13DANH MỤC BẢNG, BIỂU
Trang
Biểu 2.1: Điều tra thống kê tầng cây gỗ 42
Biểu 2.2: Phân cấp trữ lượng theo nhóm gỗ 43
Biểu 2.3: Phân bố cây tái sinh theo cỡ chiều cao 54
Biểu 2.4: Phân bố cây tái sinh theo cỡ đường kính 54
Bảng 3.1: Một số nhân tố điều tra cơ bản của các OTC 57
Bảng 3.2: Phân bố số cây và trữ lượng theo nhóm gỗ 61
Bảng 3.3: Phân bố số cây và trữ lượng theo dạng sống 65
Bảng 3.4: Phẩm chất của các bộ phận cây rừng 66
Bảng 3.5: Số cây mất đi và cường độ tổng hợp khai thác 68
Bảng 3.6: Trữ lượng và cường độ tổng hợp khai thác 70
Bảng 3.7: Công thức tổ thành theo N% một số OTC 72
Bảng 3.8: Sự thay đổi một số chỉ tiêu trong công thức tổ thành trước và sau khai thác 75
Bảng 3.9: Công thức tổ thành theo IV% một số OTC 80
Bảng 3.10: Sự thay đổi một số chỉ tiêu trong công thức tổ thành trước và sau khai thác 82
Bảng 3.11: Các loài cây ưu thế chủ yếu có ∑IV%≥50% 87
Bảng 3.12: Công thức tổ thành nhóm gỗ theo số cây một số OTC 89
Bảng 3.13: Sự thay đổi một số chỉ tiêu trong công thức tổ thành nhóm gỗ theo số cây trước và sau khai thác 90
Bảng 3.14: Công thức tổ thành nhóm gỗ theo trữ lượng một số OTC 93
Bảng 3.15: Sự thay đổi một số chỉ tiêu trong công thức tổ thành nhóm gỗ theo trữ lượng trước và sau khai thác 95
Bảng 3.16: Công thức tổ thành dạng sống theo số cây N% 98
Bảng 3.17: Công thức tổ thành dạng sống theo trữ lượng M% 99
Bảng 3.18: Chỉ số phong phú của loài R 101
Bảng 3.19: Kết quả tính chỉ số Simpson 103
Trang 14Bảng 3.20: Mức độ đa dạng loài H 104
Bảng 3.21: Kết quả so sánh mức độ đa dạng cây gỗ giữa trước và sau khai thác 105
Bảng 3.22: Phân bố số loài bị mất đi theo cỡ kính trong từng OTC sau khai thác 107 Bảng 3.23: Đa dạng loài theo nhóm gỗ 109
Bảng 3.24: Đa dạng cá thể theo nhóm gỗ 110
Bảng 3.25: Đa dạng loài theo dạng sống 112
Bảng 3.26: Tỷ số hỗn loài 113
Bảng 3.27: Chỉ số đa dạng Rensyi tầng cây cao các trạng thái rừng 116
Bảng 3.28: Công thức tổ thành tầng cây tái sinh một số OTC 118
Bảng 3.29: Sự thay đổi một số chỉ tiêu trong công thức tổ thành tái sinh trước và sau khai thác 120
Bảng 3.30: Mật độ cây tái sinh 124
Bảng 3.31: Chất lượng và nguồn gốc cây tái sinh 125
Bảng 3.32: Phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao 127
Bảng 3.33: Phân bố cây tái sinh theo cấp đường kính Doo 128
Bảng 3.34: Hình thái phân bố cây tái sinh 131
Bảng 3.35: Mối quan hệ giữa tổ thành tầng cây cao với tổ thành tầng cây tái sinh 132 Bảng 3.36: Bảng tra trữ lượng đổ gãy Mđg từ trữ lượng khai thác Mkt 136
Bảng 3.37: Bảng tra tỷ lệ đổ gãy do khai thác I%đg từ cường độ khai thác I%kt 139
Bảng 3.38: Các loài cây lựa chọn làm giàu rừng 144
Trang 15DANH MỤC HÌNH VẼ
Trang
Hình 2.1: Sơ đồ 1 ô tiêu chuẩn 41
Hình 3.1: Phân bố số cây theo nhóm gỗ 64
Hình 3.2: Phẩm chất theo số cây trước và sau khai thác 67
Hình 3.3: Cường độ khai thác và tỷ lệ đổ gãy theo số cây 69
Hình 3.4: Cường độ khai thác và tỷ lệ đổ gãy theo trữ lượng 71
Hình 3.5: Sự thay đổi tổ thành loài cây theo N% trước và sau khai thác 79
Hình 3.6: Sự thay đổi tổ thành loài cây theo IV% trước và sau khai thác 86
Hình 3.7: Chỉ số phong phú R trước và sau khai thác 102
Hình 3.8: Phân bố số loài mất đi theo từng cỡ đường kính 108
Hình 3.9: Đa dạng loài theo nhóm gỗ 110
Hình 3.10: Đa dạng cá thể theo nhóm gỗ 111
Hình 3.11: Đa dạng loài theo dạng sống 113
Hình 3.12: Biểu đồ chỉ số đa dạng Rensyi OTC 12 khai thác chọn 117
Hình 3.13: Biểu đồ chỉ số đa dạng Rensyi OTC 25 khai thác tác động thấp 117
Hình 3.14: Sự thay đổi tổ thành tầng cây tái sinh trước và sau khai thác 123
Hình 3.15: Phân bố cây tái sinh theo cỡ chiều cao Hvn và cỡ dường kính Doo 130
Hình 3.16: Quan hệ Mmất đi /Mkt 136
Hình 3.17: Quan hệ (I%thskt /I%kt) 138
Trang 16MỞ ẦU
1 Tính cấp thiết của luận án
Rừng tự nhiên nước ta thể hiện rõ những đặc trưng cơ bản của rừng mưa nhiệt đới, phần lớn là rừng thường xanh, kín tán, nhiều tầng, hỗn giao nhiều loài cây, khác tuổi với các loài cây gỗ chiếm ưu thế, có quá trình sinh trưởng, tái sinh liên tục
Điều kiện tự nhiên nhiệt đới nói chung cũng như ở nước ta nói riêng làm cho các hệ sinh thái trong đó có hệ sinh thái rừng sinh sôi phát triển mạnh mẽ nhanh chóng Nhưng nếu chúng bị suy thoái thì tốc độ suy thoái cũng rất nhanh và gây nhiều hậu quả nghiêm trọng rất khó khắc phục
Có nhiều nguyên nhân làm cho diện tích rừng nước ta bị thu hẹp Sự suy thoái của rừng đã giảm sút nhiều khả năng cung cấp lâm sản và tác dụng phòng hộ của rừng Theo đó là sự gia tăng tác hại của thiên tai, như bão, lũ, hạn, úng dẫn đến tổn thất lớn về tài sản, tính mạng con người
Tầng cây gỗ là thành phần chính tạo lập nên hệ sinh thái rừng, nó đóng vai trò quan trọng trong việc tạo lập tiểu hoàn cảnh rừng, sản lượng gỗ và chức năng sinh thái của rừng Bất cứ biến đổi đáng kể nào của tầng cây gỗ cũng dẫn đến sự thay đổi về năng suất, sản lượng cũng như vai trò sinh thái của rừng
Sự thay đổi tầng cây gỗ của rừng là kết quả của quá trình diễn thế rừng, và
do nhiều nguyên nhân gây ra như các yếu tố thuộc nội tại hoàn cảnh rừng, cũng như các yếu tố tác động bên ngoài Khai thác rừng là một nhân tố bên ngoài ảnh hưởng
cả trực tiếp và gián tiếp đến cấu trúc và tổ thành rừng, đặc biệt là tầng cây gỗ Hoạt động khai thác ảnh hưởng trực tiếp đến tầng cây gỗ (tức là tác động trực tiếp đến cấu trúc rừng), và ảnh hưởng gián tiếp đến tiểu hoàn cảnh rừng, do vậy khai thác sẽ ảnh hưởng rõ đến tầng cây gỗ cả trung gian và dài hạn trong kinh doanh rừng Theo nhiều nghiên cứu trên thế giới, tổ thành và mức đa dạng tầng cây gỗ có quan hệ chặt chẽ không chỉ với trữ lượng gỗ mục đích mà còn có ảnh hưởng rõ rệt đến sự ổn định
và chức năng sinh thái của rừng Việc đánh giá sự thay đổi về tổ thành và sự đa
Trang 17dạng tầng cây gỗ trước và sau khai thác vì thế có ý nghĩa quan trọng cho đề xuất biện pháp khai thác và nuôi dưỡng rừng sau khai thác nhằm đảm bảo kinh doanh rừng bền vững (hướng tới bền vững về sản lượng, duy trì và phát huy chức năng sinh thái rừng)
Tây Nguyên là vùng có đất đai màu mỡ, khí hậu thuận lợi cho sự phát triển của nhiều loài cây So với cả nước thì trữ lượng rừng ở đây còn tương đối cao Kinh doanh khai thác rừng bền vững đang mở ra cho vùng một hướng đi và cơ hội phát triển mới Để quản lý cũng như sử dụng bền vững tài nguyên rừng thì rất cần có những công trình nghiên cứu cụ thể và sâu sắc về những vấn đề có liên quan đến tài nguyên rừng tại đây Một trong những lĩnh vực nghiên cứu có liên quan cần thiết là nghiên cứu về sự thay đổi cấu trúc tổ thành và đa dạng cây gỗ trước và sau khai thác Tuy nhiên, trong kinh doanh rừng tự nhiên nhiệt đới trên thế giới nói chung và
ở Việt Nam nói riêng, việc khai thác rừng được các nhà khoa học đề xuất đều tập trung vào các chỉ tiêu: cường độ, luân kỳ, lượng khai thác, xác định loài cây mục đích khai thác mà ít chú ý đến tổ thành và sự đa dạng của tầng cây gỗ Việc xác định các biện pháp nuôi dưỡng rừng chủ yếu dựa theo các quy định kỹ thuật chung chung thiếu cơ sở khoa học dẫn đến việc khai thác không hợp lý và nuôi dưỡng rừng kém hiệu quả
Xuất phát từ thực tiễn đó, luận án “Đánh giá sự thay đổi đa dạng cây gỗ
trước và sau khai thác cho kiểu rừng lá rộng thường xanh ở khu vực Tây Nguyên” được thực hiện là rất cần thiết và có ý nghĩa Kết quả nghiên cứu của đề
tài là cơ sở khoa học cho việc khai thác và nuôi dưỡng rừng một cách bền vững cho khu vực Tây Nguyên nói riêng và cả nước nói chung
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
a Về khoa học
Bổ sung những thông tin khoa học làm sáng tỏ sự thay đổi về tổ thành và đa dạng cây gỗ trước và sau khai thác Đồng thời cung cấp cơ sở khoa học cho việc đề xuất biện pháp kỹ thuật khai thác và nuôi dưỡng rừng tự nhiên lá rộng thường xanh
sau khai thác ở vùng Tây Nguyên
Trang 18b Về thực tiễn
- Làm sáng tỏ được sự thay đổi về tổ thành và đa dạng cây gỗ trước và sau
khai thác
- Đưa ra được các biện pháp kỹ thuật khai thác và nuôi dưỡng, phục hồi rừng
tự nhiên lá rộng thường xanh sau khai thác ở vùng Tây Nguyên
3 Mục tiêu nghiên cứu
a Mục tiêu chung
Đánh giá được sự thay đổi đa dạng cây gỗ trước và sau khai thác cho kiểu rừng lá rộng thường xanh ở khu vực Tây Nguyên làm cơ sở khoa học cho đề xuất biện pháp kỹ thuật khai thác và nuôi dưỡng rừng tự nhiên lá rộng thường xanh sau
khai thác ở vùng Tây Nguyên
b Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá được sự thay đổi về tổ thành cây gỗ trước và sau khai thác
- Đánh giá được sự thay đổi về đa dạng cây gỗ trước và sau khai thác
- Đề xuất được biện pháp khai thác và nuôi dưỡng rừng sau khai thác đảm bảo cho rừng phát triển bền vững và duy trì sự đa dạng cây gỗ
4 ối tượng và phạm vi nghiên cứu
a Đối tượng nghiên cứu: Rừng tự nhiên lá rộng thường xanh là rừng sản
xuất đang đưa vào khai thác chính tại Tây Nguyên
b Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung nghiên cứu: Trong khuôn khổ luận án, chỉ tiến hành nghiên cứu một số cơ sở khoa học cho đề xuất biện pháp kỹ thuật khai thác và nuôi dưỡng rừng tự nhiên lá rộng thường xanh sau khai thác ở vùng Tây Nguyên
- Về địa điểm nghiên cứu: Chỉ tiến hành nghiên cứu một số địa phương có khai thác gỗ tại vùng Tây Nguyên là: Gia Lai và Đắk Lắk loại hình khai thác chọn; Kon Tum loại hình khai thác tác động thấp
- Về thời điểm thu thập số liệu: Trước và ngay sau khi khai thác xong
- Về thời gian nghiên cứu: Từ 2013 đến 2016
Trang 195 Những đóng góp của luận án
- Về mặt học thuật: Kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu bổ sung vào giáo
trình, bài giảng phục vụ cho giảng dạy ở bậc đại học trở lên
- Về mặt lý luận: Bổ sung những thông tin khoa học làm sáng tỏ sự thay đổi
về tổ thành và đa dạng cây gỗ trước và sau khai thác Đồng thời cung cấp cơ sở khoa học cho việc đề xuất biện pháp kỹ thuật khai thác và nuôi dưỡng rừng tự nhiên
lá rộng thường xanh sau khai thác ở vùng Tây Nguyên
- Những luận điểm mới rút ra từ kết quả nghiên cứu của luận án
+ Đã xác định và đánh giá được một số thay đổi cơ bản về tổ thành và phân tích được tính đa dạng loài tầng cây gỗ trước và sau khai thác chọn cho kiểu rừng lá rộng thường xanh tại khu vực Tây Nguyên
+ Đã xây dựng được cơ sở và đề xuất được một cách tương đối hệ thống các biện pháp kỹ thuật từ thiết kế khai thác, xác định các chỉ tiêu kỹ thuật cho khai thác đến các biện pháp xử lý lâm sinh phục hồi rừng sau khai thác theo định hướng điều chế rừng một cách bền vững
- Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu;
- Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu;
- Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận;
- Phần kết luận, tồn tại, khuyến nghị: Các kết luận rút ra từ kết quả nghiên cứu, nêu những hạn chế, tồn tại của luận án và các khuyến nghị về nghiên cứu tiếp theo
Ngoài ra còn có hệ thống 38 bảng, 04 biểu, 18 hình vẽ, biểu đồ minh họa Tham khảo 118 tài liệu trong đó 86 tài liệu tiếng Việt, 32 tài liệu tiếng nước ngoài,
có liên quan đến chủ đề nghiên cứu và phần phụ lục gồm các bảng biểu minh họa kết quả điều tra và tính toán
Trang 20Chương 1 TỔNG QUAN VẤ Ề NGHIÊN CỨU
1.1 Ở nước ngoài
1.1.1 Phương thức khai thác
Rất nhiều nhà khoa học đã dày công nghiên cứu về phương thức khai thác chọn, kết quả nghiên cứu đã đem lại những cống hiến và công trình có giá trị như Baur G.N (1964) [2]: Cơ sở sinh thái học kinh doanh rừng mưa Meyenfeldt von C.M (1978) [105] Stocker G.C (1985) [112] đã nghiên cứu các vấn đề kinh doanh rừng mưa, phục hồi rừng về tái sinh vệt và quản lý rừng mưa nhiệt đới dưới các góc độ khác nhau đã xác định mức độ phù hợp của phương thức khai thác chọn trong kinh doanh rừng mưa nhiệt đới
Theo Baur G.N (1964) [2] những lý do để lựa chọn phương thức khai thác duy trì rừng khác tuổi nhiệt đới là: trong khai thác chỉ cần lấy ra những cây gỗ thành thục và quá thành thục, những cây gỗ có kích thước nhỏ hơn và bất kỳ cây gỗ nào cao to hơn còn lành mạnh mà theo tình hình thông thường là vô dụng song có triển vọng thành loài có giá trị hàng hóa đều được chừa lại; cần tiếp tục bảo vệ đất, tránh xói mòn sau khi mở tán rừng có thể xảy ra mạnh; chống các bất trắc do yếu tố khí hậu có thể xảy ra; những lý do về mỹ quan trong cảnh quan chung của vùng, đặc điểm là những nơi liền kề với các diện tích rừng dùng làm nơi vui chơi, giải trí hay
du lịch Trong nhiều trường hợp, tất cả các lý lẽ trên có thể hoàn toàn được chấp nhận để duy trì một quần xã không đều tuổi Tuy nhiên, cũng cần phải cân nhắc các
lý lẽ này trước khi quyết định đưa ra những xử lý lâm sinh bởi phần lớn các loài cây
gỗ rừng nhiệt đới đều có xu hướng là loài ưa sáng Mặt khác, khác thác chọn nếu số lần khai thác ít, cường độ cao và tập trung sẽ đem lại lợi ích kinh tế rõ rệt hơn là khai thác cường độ thấp số lần khai thác nhiều Hơn nữa, nhiều loài cây đặc biệt là
ở rừng mưa nhiệt đới thường có tán lá cực lớn có thể tạo ra hệ số đổ vỡ cao khi khai thác những cây này [22]
Trang 21Một số phương thức chặt chọn được coi là có nhiều hứa hẹn với những thành
công ban đầu phải kể đến là: i) Phương thức chặt chọn ở Surinam (Nam Mỹ), một
chương trình thử nghiệm chặt chọn ở Surinam được tiến hành trong 17 năm với sự hợp tác giữa trường Đại học tổng hợp Surinam và trường Đại học nông nghiệp Wagenigen (Hà Lan) đã xây dựng một phương thức xử lý rừng có tên gọi là
“phương thức kinh doanh Celos” (CMS – Celos Management System) CMS là một phương thức nhằm khai thác một cách chọn lọc tại rừng mưa nhiệt đới với những xáo trộn nhỏ nhất trong hệ sinh thái rừng trong quá trình bảo tồn những giá trị kinh tế của rừng Đây là một phương thức đa chu kỳ, bởi vì một số thế hệ của những cây gỗ hiện có trong quần xã được chặt hạ trong các chu kỳ khai thác khác nhau khoảng 20 – 30 năm CMS có ưu điểm chính là bảo toàn được cấu trúc rừng
có hầu hết các cấp tuổi gần với trạng thái cân bằng cấp kính ii) Chặt chọn ở
Puecto-Rico (Nam Mỹ), chặt chọn ở đây được xác định trước hết là biện pháp xử lý
nhằm cải thiện quần xã và đưa rừng vào các điều kiện thích hợp để kinh doanh, đưa lại năng suất ổn định theo một phương thức chặt chọn chân chính Bởi vậy, phương thức này còn được gọi là phương thức chặt cải thiện tuyển chọn (selection improvement cutting) Điểm đáng chú ý của phương thức chặt này là, lúc đầu chu
kỳ chặt quy định 5 năm nhưng sau đó tăng lên 10 năm Đây là điều khó tránh khỏi
vì cường độ nhẹ, chu kỳ ngắn đã làm tăng các phí tổn trong khai thác Tuy nhiên, việc kéo dài chu kỳ chặt này không làm đảo lộn ý định chung trong một phương thức chặt chọn mặc dù điều đó có thể làm cho sản lượng hàng năm có thể bị rút bớt bởi qua chu kỳ dài mật độ của quần xã sẽ phải biến động ở mức cách xa hơn mức
mật độ tối ưu cần có (Baur G.N 1964) [2] iii) Chặt chọn ở Indonesia, cũng như
nhiều nước Đông Nam Á khác, rừng mưa ở Indonesia ưu thế thuộc về các loài cây
họ Dầu (Dipterocarpaceae) Các quần xã rừng mưa có giá trị thương mại của quốc
đảo này tập trung chủ yếu ở hai đảo lớn là Kalimantan và Xumatra Những công
việc lâm sinh trước đây của Indonesia tập trung vào kinh doanh rừng Tếch (Tectona
grandis) rộng lớn và rất tốt ở vùng phân mùa rõ rệt, đặc biệt là ở Jawa Tuy nhiên,
gần đây các cơ quan lâm nghiệp của nước này đã chú ý đến việc kinh doanh rừng
Trang 22mưa Với đối tượng này, phương thức chặt chọn và trồng lại theo ngôn ngữ của Indonesia là TPTI (Tebang Pilihdan Taman Indonesia) được áp dụng rộng rãi Một cách tổng quát, TPTI là một phương thức khai thác chọn với chu kỳ 35 năm và giới hạn dưới của cỡ kính được phép khai thác là 50cm Số lượng cây lấy đi trong một lần chặt được khống chế bằng một chỉ số sao cho ít nhất phải chừa lại 25 cây trên một hecta cho chu kỳ sau Thông thường, mỗi lần chặt không lấy đi quá 10 cây/hecta Tại các khoảng trống hình thành sau khai thác được trồng bổ sung cây con sau khi thu hoạch từ một đến hai năm Ở nơi có cây tái sinh sau hai thác dày chỉ
chăm sóc, phát quang cho cây mục đích và tỉa thưa những cây kém giá trị [22] iv)
Chặt chọn ở Ấn Độ, một trong những chế độ quản lý rừng sớm nhất và còn được
chấp nhận rộng rãi nhất là phương thức chặt chọn, nó bao gồm việc khai thác có chọn lọc các cây gỗ có giá trị và dựa vào tái sinh tự nhiên là chủ yếu Phương thức này được áp dụng ở những nơi có các loài cây có giá trị với tỷ lệ thấp; nơi thiếu thông tin về sử dụng đầu ra, khó tiếp cận hoặc có yêu cầu về bảo vệ môi trường Những xử lý sau này của Ấn Độ có cải biến thêm là sử dụng phương thức khai thác chọn, kết hợp với các biện pháp nhằm cải thiện thúc đẩy cây tái sinh có sẵn phát triển lên Về kỹ thuật, chu kỳ chặt chọn khá dài (25 đến 45 năm), không mở tánmạnh bằng cách quy định các giới hạn về đường vanh thân cây và hạn chế số cây lấy ra trên một hecta đồng thời xem xét đến cự ly giữa các cây gỗ chặt hạ Tùy thuộc vào tình hình tái sinh nơi khai thác, có thể bổ sung cây tái sinh thông qua tái sinh nhân tạo nơi không có đủ cây con Sau khai thác, tiến hành chăm sóc, phát quang cho lớp cây tái sinh đã mọc và nâng dần tầm cao của vòm lá Ở quần xã
Dipterocarpus spp và Mesua ferre, dùng kỹ thuật ken cây tầng giữa để nâng cao
vòm lá lên khoảng 9 mét, chăm sóc cây tái sinh, sau 10 năm, cây tái sinh có chiều cao từ 0,3 mét đã sinh trưởng đạt tới 2,25 mét Còn ở nơi không dùng kỹ thuật nâng cao vòm lá, cây tái sinh cùng tuổi chỉ sinh trưởng được 0,3 mét sau khai thác lên 0,75 mét (Baur G.N 1964) [2]
Kỹ thuật khai thác tác động thấp (LIL – Low Impact Logging) hay còn được gọi là khai thác giảm thiểu tác động (RIL - Reducing Impact Logging) đã được
Trang 23chứng minh làm giảm thiểu tác động đến môi trường đến 50% so với phương pháp khai thác thông thường, các khu vực rừng sau khai thác công nghệ RIL có tốc độ phục hồi nhanh hơn, Pinard and Putz (1997) [100] Viện sinh học và khoa học môi trường Malaysia đã tiến hành nghiên cứu đề tài sự tác động của khai thác và khả năng phục hồi CO2 sau khai thác tác động thấp, kết quả cho thấy tỷ lệ cây bị tác động (tổn thương) ở phương pháp thông thường cao hơn RIL Sau khai thác độ che phủ của RIL duy trì ở mức 81%, phương pháp thông thường là 51% Lượng lưu trữ
CO2 sau khai thác RIL cao hơn đến 41%, Philippa R Lincoln (2008) [99]
1.1.2 Quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng
Lịch sử quản lý rừng nhiệt đới được phát triển từ những năm đầu của thế kỷ XIX ở Ấn Độ, Mianma và nhanh chóng lan rộng sang nhiều khu vực ở châu Phi Khởi đầu, hoạt động quản lý được thực hiện nhằm bảo vệ có hệ thống các nguồn tài nguyên gỗ Ở giai đoạn sau này, các hoạt động quản lý được đa dạng hóa như: chuyển đổi rừng tự nhiên thành rừng trồng hoặc nông lâm kết hợp, tác động nhằm tạo rừng tự nhiên có năng suất cao hơn, hoặc giảm thiểu tác động và sử dụng tái sinh tự nhiên để tạo ra các lâm phần có mục tiêu lấy gỗ (các hệ thống tái sinh tự nhiên) Ngoài ra, quản lý rừng cũng bao gồm các hệ thống phục hồi bằng việc phục hồi lại rừng trên đất đã bị thoái hóa (các hệ thống phục hồi) Theo (Gomez-Pompa
& Burley, (1991) [92] có thể gộp các hệ thống quản lý rừng trên thế giới về 4 nhóm chính: nhóm các hệ thống thay thế; nhóm các hệ thống rừng chặt trắng; nhóm các
hệ thống thúc đẩy tái sinh tự nhiên; nhóm các hệ thống rừng phục hồi
Nỗ lực đầu tiên về quản lý rừng bền vững, gắn liền với chứng chỉ được thực hiện là thành lập Hệ thống Rừng Trang trại Hoa Kỳ (American Tree Farm System-ATFS) năm 1941, tiếp đó là Hội đồng Quản trị Rừng (Forest Stewardship Council-FSC) năm 1993, Lembaga Ekolabel Indonesia (LEI), Forest Certification Schemes (PEFC) năm 1999 và Hệ thống chứng chỉ gỗ Malaysia MTCS (Malaysian Timber Certification Scheme -MTCS) năm 2001 Cho đến cuối năm 2011, tổng diện tích rừng được quản lý bến vững, được cấp chứng chỉ theo các bộ tiêu chuẩn khác nhau
là 401.418.552 ha, tương đương 10% tổng diện tích rừng toàn cầu [1]
Trang 24Tháng 10 năm 1993, cuộc họp sáng lập FSC với 130 thành viên từ 26 quốc gia diễn ra tại Toronto, Canada đã bầu ra Hội đồng Quản trị rừng đầu tiên Tiếp đó vào năm 1994 các thành viên sáng lập phê duyệt các nguyên tắc và tiêu chí FSC cùng quy định về hệ thống tổ chức FSC Từ đó tới nay FSC đã trải qua quá trình phát triển mạnh mẽ với hệ thống chứng chỉ quản lý rừng bền vững có uy tín trên thế giới FSC là tổ chức uy tín nhất và chứng chỉ FSC được mọi thị trường chấp nhận,
kể cả Bắc Mỹ và Tây Âu [37] FSC được thành lập vào tháng 10/1993 tại Canada bởi một nhóm gồm 130 thành viên khác nhau từ 26 quốc gia, bao gồm đại diện của các cơ quan môi trường, các thương gia, các cộng đồng dân bản xứ, đại diện các ngành công nghiệp và các cơ quan cấp chứng chỉ FSC cấp chứng chỉ QLRBV cho rừng ôn đới, nhiệt đới, rừng tự nhiên, rừng trồng và đang mở rộng ra rừng sản xuất lâm sản ngoài gỗ Tổ chức này có trụ sở chính đặt tại thành phố Bonn-Đức có cấu trúc quản trị duy nhất dựa trên các nguyên tắc sự tham gia, dân chủ, công bằng FSC có đại diện tại hơn 50 quốc gia Thành viên FSC được chia thành nhóm xã hội, nhóm môi trường và nhóm kinh tế, mỗi nhóm lại được chia ra thành nhóm Bắc (các nước công nghiệp) và nhóm Nam (các nước đang phát triển) Bất kỳ ai hỗ trợ cải thiện quản lý rừng trên thế giới đều có thể trở thành thành viên của FSC Hội đồng Quản trị rừng quốc tế (FSC) đề xuất 10 nguyên tắc và các tiêu chuẩn quản lý rừng Ủy ban phát triển bền vững (CSD) cũng đề nghị các chỉ thị rừng bền vững Tổ chức các tiêu chuẩn quốc tế (ISO) và hội tiêu chuẩn Canada (CSA) đã đưa ra hệ thống quản lý ngành lâm nghiệp - tiêu chuẩn ISO 14000
Toronto-Theo Christopher Upton và Stephen Bass (1996) [90], hầu hết các tiêu chuẩn quản lý rừng do các tổ chức quốc tế đưa ra đều được chấp nhận ở mức cao Trong
đó các tiêu chuẩn của FSC được coi là sát thực và có khả năng ứng dụng rộng rãi hơn cả Tuy nhiên, cho đến nay tình hình QLRBV trên thế giới vẫn chưa được cải thiện đáng kể, nhiều khu rừng vẫn đứng trước nguy cơ bị tàn phá nghiêm trọng
Năm 1997, Ngân hàng Thế giới và Quỹ Bảo tồn Động vật Hoang dã Thế giới (WWF) công bố chương trình hợp tác với mục tiêu đưa 200 triệu hecta rừng được quản lý sản xuất gỗ vào chương trình “Quản lý bền vững được cấp chứng chỉ độc
Trang 25lập” vào năm 2005 Kết quả đạt được mục tiêu với 31,8 triệu hecta (16% mục tiêu), trong đó chỉ có 1/3 ở các khu rừng nhiệt đới [30]
Hợp tác lâm nghiệp trong khối ASEAN chủ yếu xoay quanh chủ đề QLRBV với 2 lý do, một là xu hướng mất rừng của các nước đang phát triển do áp lực dân
số, lương thực, khai thác lậu, cháy rừng , hai là bị thị trường thế giới từ chối nếu
gỗ không có chứng chỉ QLRBV của một tổ chức độc lập quốc tế Bỏ qua quan niệm rào cản thương mại, các nước thành viên ASEAN đều cần bảo vệ rừng nước mình
và đều cần bán sản phẩm đồ gỗ vào các thị trường quốc tế với giá bán cao Vì đây là nhu cầu cấp bách, khách quan, nên trong các năm 1995-2000 ASEAN đã hoàn thành dự thảo bộ tiêu chuẩn QLRBV cho mình vào năm 2000 tại thành phố Hồ Chí Minh và được phê duyệt tại Hội nghị Bộ trưởng Nông - Lâm nghiệp Phnom-penk
2001 Song, do Bộ tiêu chuẩn QLRBV của ASEAN soạn thảo theo 7 tiêu chí của ITTO, nên gặp khó khăn khi xin cấp chứng chỉ của tổ chức FSC Tuy vậy, các nước
có nền lâm nghiệp mạnh trong ASEAN như: Indonesia (Kim ngạch xuất khẩu gỗ 5,5 tỷ USD/năm), Malaysia (4,7 - 5 tỷ USD/năm), sau đó đến Philippines, Thailand đều được cấp chứng chỉ FSC (theo 10 nguyên tắc của FSC) trong các năm 2002-
hệ cây già cỗi Vì vậy, tái sinh hiểu theo nghĩa hẹp là quá trình phục hồi thành phần
cơ bản của rừng, chủ yếu là tầng cây gỗ Tái sinh rừng có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành và duy trì sự đa dạng về thực vật trong các hệ sinh thái rừng (Phùng Ngọc Lan, 1986) [35]
Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu thì hiệu quả tái sinh rừng được xác định bởi mật độ, tổ thành loài cây, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con, đặc điểm phân
bố Sự tương đồng hay khác biệt giữa tổ thành lớp cây con và tầng cây gỗ đã được
Trang 26nhiều nhà khoa học quan tâm (Mibbre-ad, 1930 ; Richards, 1933; 1939; Aubreville, 1938; Beard, 1946; Lebrun và Gilbert, 1954; Jones, 1955-1956; Schultz, 1960; Baur G.N, 1964 ; Rollet, 1969) [106] Do tính phức tạp về tổ thành loài cây, trong đó chỉ
có một số loài cây có giá trị nên trong thực tiễn, người ta chỉ khảo sát những loài cây có ý nghĩa nhất định
Khi nghiên cứu tái sinh ở rừng đới châu Phi, A.Obrevin (1938) (dẫn theo Phùng Ngọc Lan, 1986) [35] đã khái quát hóa các hiện tượng tái sinh ở rừng nhiệt đới châu Phi để đúc kết nên lý luận bức khảm tái sinh, nhưng phần lý giải các hiện tượng đó còn bị hạn chế Vì vậy lý luận của ông còn ít sức thuyết phục, chưa góp ích cho thực tiễn sản xuất các biện pháp kỹ thuật điều khiển tái sinh rừng theo những mục tiêu kinh doanh đã đề ra
Vansteenis (1956) [106] khi nghiên cứu về rừng mưa đã nhận xét, đặc điểm hỗn loài của rừng mưa nhiệt đới là nguyên nhân dẫn đến đặc điểm tái sinh phân tán liên tục Ngược lại, tái sinh phân tán liên tục ở rừng mưa lại là tiền đề để tạo thành một rừng mưa hỗn loài khác tuổi Tổ thành những loài cây tái sinh mọc ở lỗ trống là những loài cây ưa sáng mọc nhanh, đời sống ngắn, không có mặt trong tổ thành rừng, mà nguồn gốc có thể là do chim, những động vật từ xa mang tới… Tỷ lệ cây
ưa sáng tỷ lệ thuận với kích thước lỗ trống, tức là kích thước lỗ trống càng lớn, thì
tỷ lệ cây ưa sáng càng nhiều Đây là loài cây tiên phong làm nhiệm vụ hàn gắn các
lỗ trống ở trong rừng Sau khi các loài cây ưa sáng đã tạo ra bóng, cây tái sinh của những loài cây chịu bóng có trong thành phần của rừng nguyên sinh xuất hiện, vươn lên thay thế các loài cây ưa sáng Khi nghiên cứu rừng nhiệt đới ở Châu Á, tác giả cho thấy có hai đặc điểm tái sinh phổ biến, đó là tái sinh vệt và tái sinh phân tán liên tục
M.Loeschau (1977) 46 đã đưa ra một số đề nghị để đánh giá một khu rừng
có tái sinh đạt yêu cầu hay không phải áp dụng phương pháp điều tra ngẫu nhiên, trừ trường hợp đặc biệt có thể dựa vào những nhận xét tổng quát về mật độ tái sinh như nơi có lượng cây tái sinh rất lớn
Trang 27H Lamprecht (1969) [94] căn cứ vào nhu cầu ánh sáng của các loài cây trong suốt quá trình sống để phân chia cây rừng nhiệt đới thành các nhóm cây ưa sáng, nhóm cây bán chịu bóng và nhóm cây chịu bóng Đối với rừng nhiệt đới thì các nhân tố sinh thái như nhân tố ánh sáng (thông qua độ tàn che của rừng), độ ẩm của đất, kết cấu quần thụ, cây bụi, thảm tươi là những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tái sinh rừng, cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu, đề cập đến vấn đề này Baur G N (1964) [2] cho rằng, sự thiếu hụt ánh sáng ảnh hưởng đến phát triển của cây con, còn đối với sự nảy mầm và phát triển của cây mầm ảnh hưởng này thường không rõ ràng và thảm cỏ, cây bụi có ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây tái sinh Ở những quần thụ kín tán, thảm cỏ và cây bụi kém phát triển nhưng chúng vẫn có ảnh hưởng đến cây tái sinh Nhìn chung ở rừng nhiệt đới, tổ thành và mật độ cây tái sinh thường khá lớn nhưng số lượng loài cây có giá trị kinh tế thường không nhiều và được chú ý hơn, còn các loài cây có giá trị kinh tế thấp thường ít được nghiên cứu, đặc biệt là đối với tái sinh ở các trạng thái rừng phục hồi sau nương rẫy
Các công trình nghiên cứu về phân bố tái sinh tự nhiên rừng mưa nhiệt đới đáng chú ý là công trình nghiên cứu của Richards P.W (1952), Bernard Rollet (1974) Ở Châu Phi trên cơ sở các số liệu thu thập Tayloer (1954), Barnard (1955) xác định số lượng cây tái sinh trong rừng nhiệt đới thiếu hụt cần thiết phải bổ sung bằng trồng rừng nhân tạo Ngược lại, các tác giả nghiên cứu về tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới Châu Á như: Budowski (1956), Bava (1954), Catinot (1965) lại nhận định dưới tán rừng nhiệt đới nhìn chung có đủ số lượng cây tái sinh có giá trị kinh
tế, do vậy các biện pháp lâm sinh đề ra cần thiết để bảo vệ và phát triển cây tái sinh
có sẵn dưới tán rừng (dẫn theo Nguyễn Duy Chuyên, 1995) [14]
Đối với rừng nhiệt đới thì các nhân tố sinh thái như nhân tố ánh sáng, độ ẩm đất, kết cấu quần thụ, cây bụi, thảm tươi là những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tái sinh rừng, cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu, đề cập đến vấn đề này: H.Lamprecht (1989) [95] cho rằng kết cấu của quần thụ lâm phần có
Trang 28ảnh hưởng đến tái sinh rừng I.D.Yurkevich (1960) đã chứng minh độ tàn che tối ưu cho sự phát triển bình thường của đa số các loài cây gỗ là 0,6-0,7
Trong các công trình nghiên cứu mối quan hệ qua lại giữa cây con và quần thụ, V.G.Karpov (1969) đã chỉ ra đặc điểm phức tạp trong quan hệ cạnh tranh về dinh dưỡng khoáng của đất, ánh sáng, độ ẩm và tính chất không thuần nhất của quan hệ qua lại giữa các thực vật tùy thuộc đặc tính sinh vật học, tuổi và điều kiện sinh thái của quần thể thực vật (theo Nguyễn Văn Thêm, 1992) [66]
Về phương pháp điều tra tái sinh tự nhiên, nhiều tác giả đã sử dụng cách lấy mẫu ô vuông theo hệ thống của Lowdermilk (Dẫn theo Ghent A W, 1969) [91], với diện tích ô đo đếm thông thường từ 1 đến 4 m2 Để giảm sai số trong khi thống kê tái sinh tự nhiên, Walton, Barnard (1950) [114] đã đề nghị một phương pháp "điều tra chẩn đoán" mà theo đó kích thước ô đo đếm có thể thay đổi tùy theo giai đoạn phát triển của cây tái sinh ở các trạng thái rừng khác nhau Phương pháp này được
áp dụng nhiều hơn vì nó thích hợp cho từng đối tượng cụ thể
Như vậy, các công trình nghiên cứu được đề cập ở trên đã phần nào làm sáng tỏ các đặc điểm và các nhân tố ảnh hưởng đến tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới Đó là cơ sở để xây dựng các giải pháp lâm sinh hợp lý Kết quả nghiên cứu tái sinh tự nhiên của thảm thực vật rừng trên thế giới cho chúng ta những hiểu biết các phương pháp nghiên cứu, quy luật tái sinh tự nhiên ở một số nơi Đặc biệt, sự vận dụng các hiểu biết về quy luật tái sinh để xây dựng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm quản lý tài nguyên rừng bền vững Tuy nhiên vì rừng mưa nhiệt đới luôn tồn tại những quy luật hết sức phức tạp, đời sống của nó gắn liền với điều kiện tự nhiên
và tác động của con người Vì thế cần tiếp tục nghiên cứu quy luật tái sinh tự nhiên của hệ sinh thái rừng ở các vùng địa lý khác nhau và mức độ tác động (khai thác) của con người Đó là cơ sở cho việc phân tích và đề xuất các giải pháp khai thác và nuôi dưỡng rừng một cách khoa học và hợp lý
1.1.4 Cấu trúc tổ thành
Cấu trúc tổ thành khác nhau sẽ dẫn đến sự khác nhau tương ứng về các đặc trưng cấu trúc khác của rừng Vì vậy, nghiên cứu cấu trúc tổ thành nhất là cấu trúc
Trang 29tổ thành trong rừng tự nhiên nhiệt đới ẩm được xem như công việc đầu tiên và quan trọng trong nghiên cứu cấu trúc rừng
Richards.P.W (1952) [58] đã đi sâu nghiên cứu cấu trúc rừng mưa nhiệt đới về mặt hình thái Theo tác giả, một đặc điểm nổi bật của rừng mưa nhiệt đới là tuyệt đại bộ phận thực vật đều thuộc thân gỗ và tác giả đã phân biệt tổ thành thực vật của rừng mưa thành hai loại, đó là rừng mưa hỗn hợp có tổ thành loài cây phức tạp và rừng mưa đơn ưu có tổ thành loài cây đơn giản Trong những điều kiện đặc biệt thì rừng mưa đơn ưu chỉ bao gồm một vài loài cây Rừng mưa thường có nhiều tầng (thường có 3 tầng, ngoại trừ tầng cây bụi và tầng cây thân cỏ) Trong rừng mưa nhiệt đới ngoài cây gỗ lớn, cây bụi và các loài thân cỏ còn có nhiều loài cây leo đủ hình dáng và kích thước, cùng nhiều thực vật phụ sinh trên thân hoặc cành cây
"Rừng mưa thực sự là một quần lạc hoàn chỉnh và cầu kỳ nhất về mặt cấu tạo và cũng phong phú nhất về mặt loài cây"
Baur G.N (1962) [2] khi nghiên cứu rừng mưa ở khu vực gần Belem trên sông Amazôn, trên ô tiêu chuẩn diện tích khoảng hai hecta đã thống kê được 36 họ thực vật và trên ô tiêu chuẩn diện tích hơn bốn hecta ở phía bắc New South Wales cũng
đã ghi nhận được sự hiện diện của 31 họ chưa kể cây leo, cây thân cỏ và thực vật phụ sinh
Trong rừng ẩm nhiệt đới châu Phi, theo Catinot R (1974) [5] có đến vài trăm loài thực vật; còn trong tổ thành thực vật rừng ẩm nhiệt đới ở Đông Nam Á thường
có một nhóm loài ưu thế - nhóm họ dầu, chiếm trên 50% quần thụ
Ở châu Á, trong rừng thứ sinh nhiệt đới vùng Shaxin - Trung Quốc, Zeng và các cộng sự (1998) đã thống kê khoảng 280 loài cây dược liệu, 80 loài cây có dầu
và 20 loài cây có sợi cũng như một số loài cây gỗ có giá trị khác (dẫn theo Zaizhi Z (2001) [118]) Mức độ phong phú của thành phần thực vật trong rừng thứ sinh ở Nepal cũng đã được Kanel K.R và Shrestha K (2001) [96] điểm qua, có đến trên 6.500 loài cây có hoa và 4.064 loài cây không hoa, trong đó có trên 1.500 loài nấm
và hơn 350 loài địa y
Trang 30Xô (cũ), Nguyễn Bá Thụ (1995) [73] Tác giả đã đưa ra nhận định, một hệ thực vật
cụ thể ở vùng nhiệt đới ẩm thường có tới 1.500 – 2.000 loài
Engler (1882) đưa ra con số thống kê cho thấy số loài thực vật thế giới là 275.000 loài, trong đó thực vật có hoa có 155.000 - 160.000 loài, thực vật không có hoa 30.000 - 135.000 loài Riêng thực vật có hoa trên thế giới, Van lop (1940) đưa
ra con số 200.000 loài, Grosgayem (1949) là 300.000 loài Hai vùng giàu có nhất thế giới là Brazil 40.000 loài và quần đảo Malaixia 45.000 loài Hệ thực vật giàu loài liên quan không chỉ có điều kiện khí hậu và đất đai thuận lợi mà còn phụ thuộc vào các nhân tố lịch sử Trung Âu có 3500 loài, 800 chi, 120 họ trong khi đó ở Trung Trung Hoa có 2900 loài 936 chi 155 họ (1/6/12,2) (Dẫn theo Nguyễn Nghĩa Thìn, 2008) [70]
Theo Phạm Hoàng Hộ (1999-2003) [24], hệ thực vật trên thế giới như sau: Pháp có khoảng 4.800 loài, châu Âu 11.000 loài, Ấn Độ khoảng 12-14.000 loài, Canada có khoảng 4.500 loài kể cả loài du nhập, cả Bắc Mỹ có trên 14.000 loài, Malaysia và Indonesia có khoảng 25.000 loài
Lê Trần Chấn và cs (1999) [13], đưa ra con số về số lượng loài thực vật ở các vùng như sau: vùng hàn đới (đất mới: 208 loài); vùng ôn đới (Litva: 1439 loài), cận nhiệt đới (Palextin: 2334 loài); vùng nhiệt đới ẩm và nhiệt đới gió mùa (Philippin: 8099 loài, Bắc Việt Nam: 5609 loài
Vườn quốc gia Doi Suthep-Pui ở miền Bắc Thái Lan, với diện tích 261km2
có 2.220 loài Trong đó, rừng thường xanh có độ phong phú về loài cây có mạch cao nhất (930 loài) so với các loại rừng khác: rừng rụng lá-tre nứa có 740 loài, rừng
Trang 31hỗn giao có 755 loài, rừng nửa rụng lá - Sồi, có 533 loài, rừng thường xanh - Thông
có 540 loài (Maxwell and Elliott, 2001) [102]
Cho đến nay, chưa có đầy đủ các tài liệu nói về hệ thực vật của các nước Đông Dương Ngoài bộ sách nổi tiếng Flore générale de l’Indochine của Lecomte xuất bản tại Pari (1907 - 1951) [97] Một số công trình tổng quát ít nhiều nói về hệ thực vật Đông Dương như Vidal (1960) [113], Schimid (1989) đã cho con số tổng quát khoảng 10.000 loài và dự đoán có thể con số đó tăng lên 12.000 đến 15.000 loài Những công trình lớn khác cần được kể đến là Bộ Thực vật chí Campuchia, Lào và Việt Nam viết bằng tiếng Pháp, do Aubreville chủ biên, bộ sách gồm 29 tập
bộ Flore du Cambodge, du Laos et du Vietnam từ 1960 - 1997 [87] bao gồm 74 họ cây có mạch (chưa đầy 20% tổng số các họ) do các nhà thực vật Pháp biên soạn
Theo Lê Trần Chấn và cs (1999) [13], trong phạm vi bắc bán cầu, tỷ lệ 10 họ giàu loài nhất của hệ thực vật giảm dần từ vùng bắc cực đến vùng xích đạo (từ gần 75% đến khoảng 40%) Trong khi đó số họ chiếm vị trí nổi bật trong 10 họ giàu loài nhất tăng dần từ vùng nhiệt đới (10%) đến vùng ôn đới, nhất là hàn đới
Như vậy, từ các kết quả nghiên cứu trên cho thấy, tính đa dạng về thực vật
đã được nghiên cứu từ thế kỷ XIX Các nghiên cứu tính đa dạng của thực vật thường tập trung vào việc điều tra thống kê số lượng loài ở vùng, khu vực, một quốc gia cụ thể Trên cơ sở đó đánh giá độ phong phú về thành phần loài, sự phân bố của thực vật… Đây là cơ sở dữ liệu để phân tích tính đa dạng thực vật ở một vùng nào đó và để đánh giá so sánh giữa các vùng, các quốc gia
1.1.6 Ứng dụng các chỉ số đa dạng sinh học trong nghiên cứu đa dạng thực vật
Hầu hết các nghiên cứu phân tích đánh giá về thảm thực vật đều áp dụng phương pháp Quadrat (Mishra, 1968; Rastogi, 1999 và Sharma, 2003) [28] Quadrat
là một ô mẫu hay đơn vị lấy mẫu có kích thước xác định và có thể có nhiều hình dạng khác nhau Có 4 phương pháp Quadrat có thể được áp dụng đó là: phương pháp liệt kê, phương pháp đếm, phương pháp đếm và phân tích, và phương pháp ô
cố định
Trang 32Rastogi (1999) [107] và Sharma (2003) [109], đã đưa ra công thức tính mật
độ và mật độ tương đối của loài trên mỗi ô tiêu chuẩn quadrat
Raunkiaer (1934) [108]; Rastogi (1999) [107] và Sharma (2003) [109] đưa ra công thức tính tần số xuất hiện của loài trên các ô mẫu nghiên cứu
Độ phong phú được tính theo công thức của Curtis và Mc.Intosh (1950) Diện tích tiết diện thân là đặc điểm quan trọng để xác định ưu thế loài, Honson và Churchbill (1961), Rastogi (1999), Sharma (2003) đã đưa ra công thức tính diện tích tiết diện thân và diện tích tiết diện thân tương đối [28]
Giá trị quan trọng (Importance Value - IV%) [28] được các tác giả Curtis & Mc.Intosh (1950); Phillips (1959); Mishra (1968) áp dụng để biểu thị cấu trúc, mối tương quan và trật tự ưu thế giữa các loài trong một quần thể thực vật
Chỉ số đa dạng sinh học loài H được áp dụng phổ biến nhất là phương pháp Shannon and Wiener (1963) [110], chỉ số mức độ chiếm ưu thế (Concentration of Dominance-Cd) được tính toán theo Simpson (1949) [111] Breugel M V (2007) [87] đã sử dụng chỉ số entropy Rensyi để phân tích tính đa dạng của rừng phục hồi sau nương rẫy ở Mexicô
Vấn đề nghiên cứu định lượng đa dạng sinh học trên thế giới được tiến hành rất sớm, đây là công cụ đắc lực phục vụ công tác nghiên cứu đa dạng thực vật; những chỉ số đa dạng sinh học này được nhiều nước trên thế giới quan tâm áp dụng, trong đó chỉ số Shannon and Wiener (1963) là được áp dụng phổ biến nhất khi xác định tính đa dạng sinh học ở một khu vực nào đó, còn chỉ số mức độ quan trọng thường được áp dụng khi tính toán tỷ lệ tổ thành sinh thái của các loài trong quần xã thực vật Cho đến nay thì những chỉ số này vẫn được áp dụng phổ biến, nhưng chỉ số entropy Rensyi lại có ưu việt hơn các chỉ số đa dạng sinh học trên và mới được đưa vào sử dụng
1.1.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến tính đa dạng thực vật
ĐDSH gắn liền với nguồn sinh kế của các cộng đồng cư dân sống trong và gần hệ sinh thái rừng, các hoạt động sống của họ tác động ảnh hưởng đến công tác
Trang 33bảo tồn ĐDSH Các khu BTTN đóng vai trò chủ chốt trong bảo tồn ĐDSH và đáp ứng các mục tiêu đa dạng của cộng đồng (IUCN, 2008) [32]
Theo Elliott S và cs (2006) [20], nạn phá rừng nhiệt đới có lẽ là mối đe dọa nguy hiểm nhất đến cộng đồng đông đảo các loài động, thực vật sống trên trái đất Mặc dù rừng nhiệt đới chỉ chiếm 7% diện tích trên bề mặt trái đất, chúng lại là ngôi nhà của hơn một nửa số loài động thực vật trên thế giới Hơn nữa chúng cung cấp cho người dân địa phương nguồn lâm sản dồi dào, giảm thiểu thiệt hại do lũ lụt và hạn hán gây nên, nhưng những khu rừng đó đang biến mất nhanh chóng
Trên phạm vi toàn thế giới, diện tích rừng nhiệt đới tự nhiên đã giảm từ 1.945 triệu hecta xuống còn 1.803 triệu hecta giữa những năm 1990 và 2000 10 triệu hecta đã được chuyển thành đất trồng trọt, trong khi 142 triệu hecta được chuyển thành các mục đích sử dụng đất khác, chỉ có khoảng 10 triệu hecta đất đã bị mất rừng được tái sinh thành rừng nhiệt đới Do đó tốc độ giảm diện tích rừng nhiệt đới tự nhiên trung bình hàng năm là 14,2 triệu hecta (xấp xỉ 0,7%/năm), bằng tỷ lệ giảm trong vòng 10 năm trước; 1980-1990 (FAO, 2001) [116] Tại Thái Lan, diện tích rừng tự nhiên là 9,8 triệu hecta (19,3% diện tích cả nước) vào năm 2000 Mặc
dù có lệnh cấm khai thác gỗ thương mại từ năm 1989, diện tích rừng tự nhiên giảm trung bình (1995-2000) vẫn là 0,26 triệu hecta (2,3% của năm 1995) (FAO, 1997, 2001) [115, 116] Nhìn chung từ năm 1961, Thái Lan đã mất hơn 2/3 diện tích rừng của mình (Bhumibamon, 1986) [89]
Theo Levingston R., Zamora R (1983) [117], rừng đã cung cấp nguồn nguyên liệu gỗ và một loạt các "sản phẩm ngoài gỗ", người dân địa phương coi
"lâm sản phụ" thường quan trọng hơn gỗ Trong hơn 2 tỷ người sống ở các nước đang phát triển, gỗ là quan trọng nhất, nó cung cấp nguồn năng lượng Hơn 80% lượng tiêu thụ gỗ trong thế giới thứ ba là dùng làm nhiên liệu Củi chiếm trung bình 85% tổng nguồn cung năng lượng của dân cư nông thôn Vào năm 1977, xấp xỉ 300 triệu m3 tương đương 87% tổng sản lượng gỗ đã được sử dụng làm nhiên liệu ở châu Phi, xấp xỉ 200 triệu m3 tương đương 75% ở Mỹ Latinh và 533 triệu m3 tương
Trang 34đương 73% ở châu Á Sự gia tăng nhu cầu của người dân khoảng 60% được dự báo cho năm 1994
Theo Lamprecht Hand (1989) [95], thông thường trong khai thác gỗ, chỉ những cây gỗ có giá trị nhất mới bị chặt hạ mà không cần xem xét đến tương lai Hình thức quản lý như vậy đã để lại rừng nghèo Các doanh nghiệp lâm nghiệp sau
đó chuyển đến những khu vực xa hơn chưa bị tác động, rừng vẫn còn nguyên sinh
Và những con đường mòn nhanh chóng được hình thành bởi những người dân để khai thác gỗ và như vậy, hậu quả cuối cùng là rừng bị tàn phá Myers (1980) [103]
đã ước tính rằng đối với mỗi m3 gỗ khai thác xấp xỉ bằng 1/5 hecta rừng bị phá hủy bởi những người dân Các nước ảnh hưởng nặng nhất bởi sự phát triển này là những nước có nguồn thu nhập phụ thuộc vào xuất khẩu gỗ Một ví dụ của Côte d’Ivoire, năm 1973, có đến 33% tổng số lợi nhuận của nước này là bán gỗ Đất nước này rộng nhất châu Phi, xuất khẩu gỗ đứng thứ 5 trên thế giới
Phần lớn ĐDSH tồn tại ở những nơi có các "cộng đồng dân tộc thiểu số" đã từng sống qua nhiều thế hệ; họ sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong môi trường sống của mình theo một cơ cấu bền vững (R.B Primack, 1999) [57] Trước đây, khi nguồn tài nguyên còn dồi dào, dân số ít nên không có nhiều áp lực từ việc phát triển kinh tế, xã hội Về sau, khi nguồn tài nguyên ngày càng suy giảm, áp lực gia tăng dân số, cần mở rộng diện tích đất canh tác, phát triển kinh tế thì việc khai thác tài nguyên đã trở thành mối đe dọa đối với công tác bảo tồn Nhu cầu sử dụng các sản phẩm sinh học tự nhiên ngày càng cao đã dẫn đến khai thác tài nguyên là mối lo ngại lớn về sự suy thoái đa dạng sinh học
Nghiên cứu “Đánh giá tài nguyên rừng toàn cầu” được LHQ [47] công bố ngày 5/10/2010 cảnh báo ĐDSH rừng đang bị lâm nguy trên phạm vi toàn cầu do tốc độ mất rừng, suy thoái rừng và diện tích rừng nguyên thuỷ giảm quá nhanh trên thế giới Nghiên cứu chỉ rõ các mối đe dọa khác đối với ĐDSH rừng là do việc quản
lý rừng không bền vững, biến đổi khí hậu, cháy rừng, thảm họa tự nhiên, dịch bệnh
và do sự phá hoại của các loài côn trùng và các sinh vật xâm thực
Trang 35Các nhà khoa học Mỹ lần đầu tiên xây dựng thành công bản đồ thay đổi diện tích rừng trên Trái đất [38] với độ phân giải cao, nhằm cung cấp cái nhìn chi tiết về
hệ thống rừng tại các khu vực trên thế giới Theo kết quả nghiên cứu trong giai đoạn
từ năm 2000-2012, khoảng 2,3 triệu km2 diện tích rừng đã biến mất Trong khi đó, chỉ có 0,8 triệu km2 rừng được phủ xanh Trung bình mỗi năm, diện tích rừng nhiệt đới trên trái đất bị mất trên toàn cầu tăng khoảng 2.100 km2 Tốc độ thay đổi mật độ rừng ở các khu rừng phía Đông Nam nước Mỹ cao gấp 4 lần so với các khu rừng ở Nam Mỹ, với hơn 31% diện tích rừng bị mất đi hoặc được tái sinh Paraguay (Nam Mỹ) và Malaysia, Campuchia (Đông Nam Á) là các quốc gia có tỷ lệ mất rừng cao nhất thế giới
Như vậy, các nghiên cứu nêu trên đã chỉ ra những nguyên nhân làm suy giảm tính đa dạng sinh học, nhưng chưa có một nghiên cứu nào nói đến hoạt động của con người thông qua khai thác ảnh hưởng như thế nào đến đa dạng loài cây gỗ Đây là một lĩnh vực còn bỏ ngỏ cần nghiên cứu để đề xuất biện pháp khai thác và nuôi dưỡng rừng sau khai thác đảm bảo cho rừng phát triển bền vững và duy trì sự
Trần Ngũ Phương (1970) [49], đã sớm nghiên cứu về công tác kinh doanh rừng, xác định rõ phương thức khai thác chọn không phải chỉ gồm việc chọn cây để chặt và chừa lại một số cây gieo giống mà còn có một nội dung kỹ thuật toàn diện phải tiến hành chặt những cây lớn đã thành thục đồng thời tỉa thưa các cỡ cây gần thành thục và ít tuổi hơn, chăm sóc cây con, xúc tiến tái sinh tự nhiên và bổ sung tái sinh tự nhiên bằng tái sinh nhân tạo khi cần thiết
Trang 36Lê Sáu (1981) [59] cho rằng xét từ đặc điểm điều kiện tự nhiên, nhu cầu kinh
tế xã hội, tính chất đặc điểm cấu trúc rừng, yêu cầu phòng hộ bảo vệ môi trường sinh thái… thì phương thức khai thác chọn rất phù hợp với nhiều đối tượng rừng gỗ
tự nhiên ở nước ta, tác giả đề nghị sớm hạn chế chặt chọn thô vì nó sẽ gây ra tác hại khôn lường, nên mở rộng áp dụng phương thức chặt chọn đảm bảo tái sản xuất mở rộng vốn rừng và lợi ích của rừng, tác giả cũng đề xuất những biện pháp nâng cao chất lượng công tác bài cây khai thác chọn đảm bảo cho khai thác chọn có thể thực thi các nội dung kỹ thuật nhằm tái sản xuất mở rộng vốn rừng
Nguyễn Văn Trương (1983 – 1984) [82] đã công bố nhiều công trình nghiên cứu cấu trúc rừng phục vụ kinh doanh lợi dụng rừng, với quan điểm nền kinh doanh rừng tiến bộ phải xuất phát từ các nghiên cứu về cấu trúc rừng, đặc biệt là phân phối
số cây trên mặt đất rừng, trong quá trình khai thác chọn phải điều chỉnh cấu trúc rừng phù hợp với mục tiêu kinh doanh đề ra
Nguyễn Ngọc Lung (1983-1987) [39, 40, 41] qua nghiên cứu thực trạng ở các khu rừng khai thác chọn nước ta đã nêu nguyên nhân làm cho rừng bị xuống cấp
và đặt vấn đề phải nhanh chóng sửa đổi bổ sung đối với quy trình khai thác gỗ đã ban hành năm 1963 Tác giả đã xây dựng cơ sở khoa học cho lý thuyết rừng chuẩn
áp dụng vào khai thác chọn ở Việt Nam đồng thời nêu lên một số vấn đề giúp cho việc chỉ đạo công tác khai thác chọn và xây dựng vốn rừng đảm bảo kinh doanh lâu dài
Nguyễn Hồng Quân (1983-1984) [55, 54] nghiên cứu về điều chế rừng ở nước ta tác giả chỉ rõ chính những bất hợp lý trong quá trình áp dụng phương thức khai thác chọn và sự lạc hậu về nội dung kỹ thuật lâm sinh lâu nay đã dẫn đến hậu quả là vốn rừng ngày một nghèo nàn dần, tác giả đã đề xuất quan điểm và biện pháp vừa khai thác vừa xây dựng vốn rừng nhằm khắc phục hậu quả nói trên
Phùng Ngọc Lan (1984) [36] đã đề xuất những giải pháp đảm bảo tái sinh trong khai thác chọn hiện nay góp phần đẩy mạnh kinh doanh lợi rừng và xây dựng vốn rừng
Trang 37Vũ Đình Huề, Phạm Đình Tam (1989) [26] đã tiến hành khảo nghiệm quy phạm khai thác đảm bảo tái sinh ở Hương Sơn - Hà Tĩnh và đưa ra nhận định là phương thức khai thác chọn có kèm theo các biện pháp xử lý lâm sinh mang lại hiệu quả cao nhất cho phục hồi rừng
Nguyễn Hồng Quân, Trương Hồ Tố, Hồ Viết Sắc (1981) [51] đã xác định lượng khai thác, cường độ khai thác cho bốn cấp sản xuất của rừng khộp (không vượt quá 30% với cấp I và II, tối thiểu là 25% cho cấp III và IV), với luân kỳ khai thác xác định là 20 năm
Nguyễn Hồng Quân (1982) [52, 53] đã xác định phương hướng điều chế chung cho rừng tự nhiên Việt Nam; và đề xuất hướng điều chế tạm thời cho rừng loại IVB ở Kon Hà Nừng với cường độ khai thác (25-30%), luân kỳ 20 năm và lượng khai thác được điều chỉnh qua tiết diện ngang
Nguyễn Văn Trương (1984) [83] đã đề xuất hướng khai thác nuôi dưỡng cho rừng nhiệt đới ẩm hỗn loài Việt Nam để đảm bảo tái tạo lại rừng, trong đó xác định
cơ sở tính toán lượng gỗ khai thác trên số bình quân của G/ha
Về phương diện quản lý, quy phạm QPN 14-92 (1993) [3] đề cập đến nuôi dưỡng rừng sau khai thác chọn với các quy định về kỹ thuật bài cây, cường độ chặt,
số lần chặt, nhưng chỉ nêu những quy định chung nhất, khó vận dụng vào điều kiện thực tế ở từng địa phương
Trần Cẩm Tú (1998) [77] dựa trên hiện trạng về diện tích, trữ lượng, cấu trúc, tăng trưởng và tái sinh, đề xuất hướng điều chế cho rừng sản xuất ở lâm trường Hương Sơn - Hà Tĩnh, thông qua chu kỳ kiểm tra (10 năm), tính toán lượng khai thác hiện tại và dự đoán lượng khai thác ở các giai đoạn sau
Theo hướng sử dụng tái sinh nhân tạo để phục hồi rừng tự nhiên sau khai thác có các nghiên cứu của: Bùi Đoàn và các cộng sự (2001) [19] triển khai ở Long Đại (Quảng Bình); Đỗ Đình Sâm và các cộng sự (2001) [61] trong nghiên cứu, đánh giá các biện pháp tác động vào rừng tự nhiên sau khai thác ở Hương Sơn, Ba Rền và Kon Hà Nừng
Trang 38Hồ Đức Soa (2001) [62] qua tổng hợp các đặc điểm rừng tự nhiên trước và sau khai thác 15 năm vùng Kon Hà Nừng, cho biết có sự thay đổi rõ rệt về cấu trúc
tổ thành cũng như sự gia tăng số lượng cây tái sinh trên các lâm phần sau khai thác
Hồ Đức Soa - Trần Kế Lâm - Nguyễn Thanh Xuân (2001) [63] từ nghiên cứu nuôi dưỡng rừng tự nhiên vùng bắc Tây Nguyên, cho rằng rừng giàu và trung bình khai thác với cường độ từ 30-50%, kết hợp các biện pháp nuôi dưỡng hợp lý sẽ đảm bảo cho rừng phục hồi tốt cả về chất lượng và trữ lượng Vấn đề này cần phải xem xét thêm, vì nếu khai thác với cường độ lớn đến 50% thì hầu như toàn bộ lớp cây gần thành thục và thành thục bị khai thác hết, rừng bị tàn phá nặng nề, khó phục hồi để đảm bảo luân kỳ khai thác
Để nuôi dưỡng rừng tự nhiên sau khai thác chọn ở Hương Sơn - Hà Tĩnh, Nguyễn Bá Chất (2001, 2003) [11, 12] đề nghị nên điều tiết giảm số loài ít giá trị kinh tế và số cây ở các cỡ kính tập trung (cỡ 8, 12, 16 cm) theo tỷ lệ số cây các cỡ kính với tổng số cây trên hecta ở các lâm phần mẫu, và chặt 20% số cây ít giá trị kinh tế để thúc đẩy sinh trưởng các loài còn lại
Nhằm phục hồi rừng ở vườn quốc gia Yordon - Đăk Lăk, Peter Erskine, Bảo Huy và Võ Hùng (2003) [101] đã đề xuất các phương pháp tác động lâm sinh gồm: xúc tiến tái sinh tự nhiên, trồng bổ sung nơi đất trống, làm giàu rừng và luỗng phát tre nứa xâm chiếm
Như vậy, qua tổng hợp các nghiên cứu nêu trên thì khai thác chọn được các nhà khoa học đề xuất đều tập trung vào các chỉ tiêu: cường độ, luân kỳ, lượng khai thác, xác định loài cây mục đích khai thác và đề xuất giải pháp lâm sinh sau khai thác rừng
Nhưng ảnh hưởng của khai thác chọn đến cấu trúc tổ thành và tái sinh tự nhiên, cũng như các đặc trưng cấu trúc tổ thành và tái sinh tự nhiên rừng trước và sau khai thác chọn vẫn còn thiếu các nghiên cứu chuyên sâu Các hạn chế trong kỹ thuật thi công khai thác rừng, việc vận dụng quy trình khai thác vào điều kiện thực
tế ở địa phương trước và sau khai thác chọn chưa được đề cập đầy đủ; cho thấy
Trang 39đang có sự thiếu hụt hiểu biết về kỹ thuật tác động đối với rừng sau khai thác, đặc biệt là ở khu vực Tây Nguyên trên đối tượng rừng thường xanh
1.2.2 Quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng
Trong Chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2006-2020 đã xác định: Quản lý, sử dụng và phát triển rừng bền vững là nền tảng cho phát triển lâm nghiệp Theo đó, mục tiêu đến năm 2020 được xác định là: Thiết lập, quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng bền vững 16,24 triệu hecta đất quy hoạch cho lâm nghiệp; nâng tỷ
lệ đất có rừng lên 47% vào năm 2020 [75]
Năm 1998 có Tổ công tác quốc gia về QLRBV và CCR cũng là một tổ chức NGO thuộc Hội Khoa học kỹ thuật Lâm nghiệp Việt Nam đảm nhiệm cuộc vận động này, đồng thời còn phải soạn thảo Bộ tiêu chuẩn quốc gia về QLRBV, và vận động thành lập mạng lưới mô hình các chủ rừng quản lý tốt Giống như các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm và thương mại tự nguyện phấn đấu thực hiện các tiêu chí quản lý chất lượng và môi trường để đạt chứng chỉ ISO 9000 và 14000 vì lợi ích của chính mình và vì lợi ích và uy tín của quốc gia mình QLRBV và CCR là cách
áp dụng đặc thù cho ngành lâm nghiêp Trong nửa thế kỷ từ 1945 đến 1990 tại Việt Nam, rừng liên tục giảm diện tích từ 14,3 xuống 9,2 triệu hecta (mất 5,1 triệu hecta), tốc độ mất rừng cao nhất là giai đoạn 1980-1990 (mất 1,5 triệu hecta rừng),
mà lý do chính là do quản lý rừng không bền vững [76]
Từ năm 1993, nhờ nỗ lực to lớn của nhà nước và nhân dân thông qua các chương trình lớn như: 327, 661, trên 2 triệu hecta rừng đã được phục hồi Song đó mới là con số về số lượng, nếu rừng không được QLRBV thì việc mất rừng sẽ song song diễn ra với quá trình phục hồi rừng và chất lượng rừng cũng như các chức năng phòng hộ môi trường, xóa đói giảm nghèo cũng không thể phát huy được Các chương trình trồng rừng chỉ có ý nghĩa nếu như diện tích rừng hiện có được quản lý bảo vệ tốt Tháng 2/1998 một hội thảo quốc gia để xây dựng chương trình QLRBV được Bộ NN&PTNT, tổ chức FSC quốc tế, tổ chức WWF Đông Dương và đại sứ quán Hà Lan đồng tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh Tại hội thảo này đã thành
Trang 40lập Tổ công tác quốc gia về QLRBV và CCR (viết tắt là NWG) để thực hiện quá trình này
Từ tháng 6/2006 Viện QLRBV và CCR đã được thành lập nhằm tăng cường năng lực thực hiện quá trình QLRBV ở Việt Nam, và thu hút mọi sự hỗ trợ quốc tế, trước hết là cầu nối giữa các chủ thể QLRBV Việt Nam với FSC quốc tế Việt Nam thường xuyên thắt chặt quan hệ quốc tế bằng cách tham gia các hội nghị, hội thảo chuyên đề và theo vùng của FSC, tham gia các hoạt động và hội nghị cấp chuyên gia về QLRBV và CCR của khối ASEAN [42] Năm 2006 Việt Nam mới có 10.000 hecta rừng trồng đạt chứng chỉ FSC [43]
Năm 2008, Viện QLRBV bắt đầu tiến hành thử nghiệm mô hình chứng chỉ rừng theo nhóm cho gần 300 hộ trồng rừng sản xuất tại huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái và hướng dẫn Công ty Hải Vương xin cấp Chứng chỉ quản lý rừng của FSC
Năm 2010, lần đầu tại Việt Nam có một nhóm các hộ trồng rừng quy mô nhỏ
đã được Hội đồng Quản trị rừng (FSC) cấp chứng nhận quản lý rừng đạt tiêu chuẩn quốc tế bền vững về mặt môi trường, có lợi cho xã hội và mang lại lợi ích kinh tế Nhóm trồng rừng này gồm 118 hộ sinh sống tại năm thôn thuộc hai huyện Gio Linh
và Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị Theo đó, diện tích rừng Keo được cấp chứng chỉ của nhóm là 317 hecta, đến năm 2013 đã có trên 800 hecta của 13 nhóm hộ được cấp chứng chỉ rừng FSC Hỗ trợ xin cấp chứng chỉ là một hoạt động của dự án: "Quản
lý rừng và kinh doanh lâm sản bền vững" của Quỹ quốc tế về bảo vệ thiên nhiên (WWF) Dự án nhằm kết nối thị trường giữa các khu rừng ở Việt Nam và các công
ty quốc tế có chính sách thu mua thông qua việc cấp chứng chỉ FSC Bên cạnh lợi ích kinh tế, các hộ dân còn được hoàn thiện kỹ năng quản lý rừng
Đến năm 2011 (nguồn Vụ Sử dụng rừng – Tổng cục Lâm nghiệp), đã có 10 Công ty Lâm nghiệp thuộc 6 tỉnh được Bộ đã thẩm định và UBND tỉnh phê duyệt các phương án Tổng diện tích tự nhiên được thực hiện 220.535 hecta, trong đó: có rừng tự nhiên: 160.177 hecta; rừng trồng: 6.100 hecta Sản lượng khai thác hàng năm: 56.000 m3/25.000 m3 được thực tế khai thác trước khi thực hiện phương án Đến năm 2011, diện tích rừng đã giao cho các hộ gia đình là 3.431.555 hecta (rừng