Nghiên cứu khả năng quang hợp của 4 giống dưa chuột lai F1 trồng tại Tam Dương - Vĩnh Phúc .... Nghiên cứu các yếu tố cấu thành năng suất của 4 giống dưa chuột lai F1 trồng tại Tam Dương
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
LÊ THỊ CHANH
NĂNG SUẤT MỘT SỐ GIỐNG DƯA CHUỘT LAI
Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm
Mã số: 60 42 01 14
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS NGUYỄN VĂN ĐÍNH
Hà Nội - 2016
Trang 2Trước hết với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin được
gửi lời cảm ơn đến thầy PGS TS Nguyễn Văn Đính người đã dành nhiều
thời gian tâm huyết, trực tiếp hướng dẫn tận tình, chỉ bảo và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài và hoàn chỉnh bản luận văn thạc sĩ chuyên ngành Sinh học thực nghiệm này
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi còn nhận được sự giúp đỡ của nhiều tổ chức cá nhân trong và ngoài nhà trường Tôi xin trân trọng cảm ơn tập thể các thầy cô giáo phòng sau đại học trường ĐHSP Hà Nội 2 đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành Luận văn tốt nghiệp Tôi xin chân thành cảm ơn người dân và UBND xã An Hòa, UBND huyện Tam Dương…đã giúp đỡ, tạo điều kiện và cung cấp những số liệu, tài liệu cần thiết để nghiên cứu và hoàn thiện luận văn
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, nhà trường và bạn bè đã động viên, khích lệ, sẻ chia, giúp đỡ và đồng hành cùng tôi trong cuộc sống cũng như trong quá trình học tập, nghiên cứu
Tôi xin chân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 11 năm 2016
Tác giả Luận văn
Lê Thị Chanh
Trang 3Tôi cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của tôi Những kết quả và các số liệu trong luận văn được thực hiện tại thí nghiệm đồng ruộng trên nền đất thuộc xã An Hòa - Huyện Tam Dương - Tỉnh Vĩnh Phúc, không sao chép bất
kỳ nguồn nào khác
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước nhà trường về sự cam đoan này
Hà Nội, ngày 20 tháng 11 năm 2016
Tác giả Luận văn
Lê Thị Chanh
Trang 4Hình 1 Đồ thị tăng trưởng chiều cao thân chính của 4 giống dưa chuột lai
F1 trồng tại Tam Dương - Vĩnh Phúc 35
Hình 2 Đồ thị động thái ra lá thân chính của 4 giống dưa chuột lai F1 trồng tại Tam Dương - Vĩnh Phúc 37
Hình 3 Đồ thị động thái tăng trưởng đường kính thân chính của 4 giống dưa chuột lai F1 trồng tại Tam Dương - Vĩnh Phúc 39
Hình 4 Đồ thị động thái phân cành cấp 1 và cấp 2 của 4 giống dưa chuột lai F1 trồng tại Tam Dương - Vĩnh Phúc 41
Hình 5 Đồ thị hàm lượng diệp lục tổng số của 4 giống dưa chuột lai F1 trồng tại Tam Dương - Vĩnh Phúc 43
Hình 6 Đồ thị động thái ra hoa cái của 4 giống dưa chuột lai F1 trồng tại Tam Dương - Vĩnh Phúc 47
Hình 7 Biểu đồ số quả hữu hiệu trên cây 49
Hình 8 Biểu đồ khối lượng trung bình/quả 49
Hình 9 Biểu đồ năng suất lí thuyết 49
Hình 10 Biểu đồ năng suất thực tế 49
Hình 11 Biểu đồ tỷ lệ quả thương phẩm 52
Hình 12 Biểu đồ chiều dài quả 52
Hình 13 Biểu đồ ồ đường kính quả 52
Hình 14 Biểu đồ độ dày thịt quả 52
Trang 5Bảng 1 Thời gian sinh trưởng của 4 giống dưa chuột lai F1 trồng tại Tam
Dương - Vĩnh Phúc 31 Bảng 2 Tỷ lệ nảy mầm của 4 giống dưa chuột lai F1 trồng tại Tam
Dương - Vĩnh Phúc 34 Bảng 3 Động thái tăng trưởng chiều cao thân chính của 4 giống dưa chuột
lai F1 trồng tại Tam Dương - Vĩnh Phúc 35 Bảng 4 Động thái ra lá thân chính của 4 giống dưa chuột lai F1 trồng tại
Tam Dương - Vĩnh Phúc 37 Bảng 5 Động thái tăng trưởng đường kính thân chính của 4 giống dưa
chuột lai F1 trồng tại Tam Dương - Vĩnh Phúc 39 Bảng 6 Động thái phân cành cấp 1 và cấp 2 của 4 giống dưa chuột lai F1
trồng tại Tam Dương - Vĩnh Phúc 41 Bảng 7 Hàm lượng diệp lục tổng số của 4 giống dưa chuột lai F1 trồng tại
Tam Dương - Vĩnh Phúc 43 Bảng 8 Huỳnh quang diệp lục tổng số của 4 giống dưa chuột lai F1 trồng
tại Tam Dương - Vĩnh Phúc 44 Bảng 9 Động thái ra hoa cái của 4 giống dưa chuột lai F1 trồng tại Tam
Dương - Vĩnh Phúc 46 Bảng 10 Các yếu tố cấu trành năng suất, năng suất lý thuyết, năng suất
thực thu của 2 giống dưa chuột lai F1 trồng tại Tam Dương - Vĩnh Phúc 49 Bảng 11 Một số chỉ tiêu chất lượng quả 4 giống dưa chuột lai F1 trồng
tại Tam Dương - Vĩnh Phúc 51
Trang 6MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 4
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Nguồn gốc, phân bố và phân loại cây dưa chuột 4
1.2 Đặc điểm cây dưa chuột 4
1.2.1 Đặc điểm thực vật học của cây dưa chuột 4
1.2.2 Yêu cầu điều kiện ngoại cảnh của cây dưa chuột 6
1.3 Tình hình nghiên cứu về cây dưa chuột 10
1.3.1 Trên thế giới và ở Việt Nam 10
1.3.2 Tình hình sản suất và tiêu thụ dưa chuột trên thế giới và ở Việt Nam 18 1.3.2.1 Trên thế giới 18
1.3.2.2 Việt Nam 19
1.4 Điều kiện tự nhiên của huyện Tam Dương 20
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 Đối tượng nghiên cứu 24
2.2 Phạm vi nghiên cứu 24
2.3 Phương pháp nghiên cứu 25
2.3.1 Bố trí thí nghiệm, kỹ thuật trồng và chăm sóc 25
2.3.2 Các chỉ tiêu nghiên cứu 26
2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu thí nghiệm 29
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30
3.1 Thời gian sinh trưởng của 4 giống dưa chuột lai F1 trồng tại Tam Dương - Vĩnh Phúc 30
3.2 Khả năng sinh trưởng của 4 giống dưa chuột lai F1 trồng tại Tam Dương - Vĩnh Phúc 33
Trang 7Vĩnh Phúc 333.2.2 Động thái tăng trưởng chiều cao thân chính của 4 giống dưa chuột lai F1 trồng tại Tam Dương - Vĩnh Phúc 343.2.3 Động thái ra lá thân chính của 4 giống dưa chuột lai F1 trồng tại Tam Dương - Vĩnh Phúc 363.2.4 Động thái tăng trưởng đường kính thân chính của 4 giống dưa chuột lai F1 trồng tại Tam Dương - Vĩnh Phúc 383.2.5 Động thái phân cành cấp 1 và cấp 2 của 4 giống dưa chuột lai F1 trồng tại Tam Dương - Vĩnh Phúc 403.3 Nghiên cứu khả năng quang hợp của 4 giống dưa chuột lai F1 trồng tại Tam Dương - Vĩnh Phúc 423.3.1 Hàm lượng diệp lục của 4 giống dưa chuột lai F1 trồng tại Tam Dương
- Vĩnh Phúc 423.3.2 Huỳnh quang diệp lục của 4 giống dưa chuột lai F1 trồng tại Tam
Dương - Vĩnh Phúc 443.4 Nghiên cứu các yếu tố cấu thành năng suất của 4 giống dưa chuột lai F1 trồng tại Tam Dương - Vĩnh Phúc 463.4.1 Động thái ra hoa cái của 4 giống dưa chuột lai F1 trồng tại Tam Dương
- Vĩnh Phúc 463.4.2 Các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất thực thu, năng suất lí thuyết của 4 giống dưa chuột lai F1 trồng tại Tam Dương - Vĩnh Phúc 483.5 Một số chỉ tiêu liên quan đến chất lượng quả 4 giống dưa chuột lai F1 trồng tại Tam Dương - Vĩnh Phúc 50KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 53TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Dưa chuột (Cucumis sativus L.), là loại rau ăn quả với nhiều dưỡng
chất quý Vitamin A, B1, B2, PP, C, các chất khoáng K, Ca và P.
Thành phần dinh dưỡng gồm Protein (đạm) 0,8g; glucid (đường) 3,0g; xenlulo (xơ) 0,7g; năng lượng 15 kcalo; Canxi 23mg; Phospho 27mg; sất lmg; Natri 13mg; Kali 169mg; Caroten 90mcg; Vitamin BI 0,03mg; Vitaminc 5,0mg Trong thành phần của dưa chuột chứa hàm lượng cacbon rất cao khoảng 74-75%, ngoài ra còn cung cấp một lượng đường (chù yếu là đường đơn) Nhờ khả nàng hòa tan, chúng làm tăng khá năng hấp thụ và lưu thông máu, tàng tính hoạt động trong quá trình oxi hóa
năng lượng của mô te bào Bên cạnh đó trong thành phần dinh dưỡng của
đưa chuột còn có nhiều ax.it amin không thay thế rất cần thiết cho cơ thể như Thianin ( 0,024 mg%); Rivophlavin ( 0,075 mg%) và Niaxin { 0,03 mg%), các loại muối khoáng như Ca( 23,0 mg%), P{ 27,0 mg%), Fe( 1,0 mg%) Tăng cường phân giải axit uric và các muối của axit uric (urat) có tác dụng lợi tiểu, gây cảm giác dễ ngủ Không những thế trong dưa chuột còn có một lượng muối kali tương đổi giúp tăng cường quá trình đào thải nước, muối ản trong cơ thể có lợi cho người mắc các bệnh về tim mạch Quả dưa chuột có vị ngọt, tính mát, hương vị giòn ngon hấp dẫn và đặc biệt chứa rất nhiều nước, chính vì vậy từ lâu nó trở thành thực phẩm quen thuộc trong tủ lạnh của nhiều gia đình với công dụng làm nguyên liệu chế biến món
ăn thơm ngon bổ dưỡng hàng ngày, tuy nhiên không dừng lại ở đó loại thực phẩm này còn có tác dụng làm đẹp, ngừa ung thư, giúp ổn định huyết áp, cải thiện chứng táo bón, ợ chua, đầy hơi, khó tiêu, ợ nóng, đau dạ dày rất hiệu quả
Vì vậy dưa chuột được trồng rộng rãi trên khắp thế giới, là thực phẩm thông dụng của nhiều quốc gia, chiếm vị trí quan trọng trong sản xuất, tiêu dùng và thương mại Ở Việt Nam những năm gần đây, dưa chuột đã nhanh
Trang 9chóng trở thành mặt hàng xuất khẩu quan trọng Các sản phẩm từ dưa chuột của nước ta thường được xuất khẩu vào thị trường các nước như: Trung Quốc, Đài Loan, Tiệp Khắc, Đức, Mỹ, Nga và Singapore [8]
Trong những năm gần đây các nhà chọn giống đã đưa một số giống dưa lai vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất cho người trồng dưa Tuy nhiên, khả năng thích ứng của các giống dưa lai F1 như thế nào còn ít tài liệu đánh giá một cách hệ thống để có kết luận có cơ sở khuyến cáo cho người sản xuất
Vĩnh Phúc là một trong những tỉnh thuộc vùng châu thổ sông Hồng có diện tích trồng dưa chuột tương đối lớn, trong đó Tam Dương là huyện đạt diện tích cũng như là sản lượng dưa chuột cao nhất trong tỉnh Tại huyện Tam Dương dưa chuột có thể trồng trong 3 vụ: Vụ xuân, xuân hè, vụ đông
Huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc là nơi có truyền thống trồng dưa chuột cung cấp cho thị trường trong huyện và thành phố Vĩnh Yên Tại đây, các của hàng vật tư nông nghiệp có bán nhiều giống lai F1 như: VL103 F1;
VL 106 F1; VL 116 F1; VL 118 F1 cho người nông dân trồng với diện tích khác nhau và sự nhận xét về các giống cũng có nhiều ý kiến trái ngược nhau
và không có cơ sở thực nghiệm rõ rằng
Xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn sản xuất cần có những kết quả nghiên cứu cụ thể đánh giá về khả năng sinh trưởng, năng suất về một số giống dưa chuột lai F1 đang được gieo trồng tại địa phương để xác định được những giống phù hợp nhất khuyến cáo cho người sản xuất Vì vậy, chúng tôi
tiến hành đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh lí, hóa sinh và năng
suất một số giống dưa chuột lai F1 (Cucumis sativus L) trồng tại Tam Dương - Vĩnh Phúc”
2 Mục đích nghiên cứu
- Phân tích một số đặc điểm sinh lí, hóa sinh và năng suất 4 giống dưa chuột lai : VL103 F1; VL106 F1; VL116 F1; VL118 F1 trồng tại Tam Dương
- Vĩnh Phúc
Trang 10- Xác định được giống thích hợp nhất với điều kiện địa phương để khuyến cáo cho người sản xuất
3 Ý nghĩa lí luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa lí luận
Kết quả của đề tài sẽ bổ sung các dẫn liệu về đặc điểm sinh lí, hóa sinh, năng suất, phẩm chất của một số giống dưa chuột lai F1 nhằm giúp người nông dân có thêm kiến thức hiểu biết về các giống dưa chuột đang được trồng tại địa phương
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Xác định được giống dưa lai F1 phù hợp với vùng đất Tam Dương - Vĩnh Phúc để khuyến cáo cho người sản xuất nhằm nâng cao năng suất, tăng thu nhập cho nông dân
Trang 11NỘI DUNG CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Nguồn gốc, phân bố và phân loại cây dưa chuột
Cây dưa chuột (Cucumis sativus L.) thuộc họ bầu bí Cây dưa chuột
được các nhà khoa học xác nhận có nguồn gốc ở Việt Nam và được con người trồng cách đây hàng nghìn năm nay [7] Trong quá trình giao lưu buôn bán nó được đưa sang trồng ở Trung Quốc và từ đây chúng được phát triển sang Nhật Bản, Châu Âu Hiện nay dưa chuột được trồng khắp nơi trên thế giới
Theo bảng phân loại của Gabaev X (1932) các loài C sativus L có bộ
nhiễm sắc thể (2n = 24) được chia thành 3 loài phụ sau:
- Loài phụ đông Á: ssp Rigidus Gab
- Loài phụ Tây Á: ssp Graciolor Gab
- Dưa chuột hoang dại: ssp Agrotis Gab., var hardwickii (Royla) Alef
1.2 Đặc điểm cây dưa chuột
1.2.1 Đặc điểm thực vật học của cây dưa chuột
Theo Tạ Thu Cúc và cộng sự [7] dưa chuột là cây một năm, thân thảo, thân leo hay bò, có phủ lớp lông dày Chiều cao cây thay đổi rất lớn phụ thuộc vào giống và điều kiện trồng trọt
* Rễ cây dưa chuột
Cây dưa chuột có rễ phát triển yếu, trong đất có thành phần cơ giới trung bình chỉ dài 10-15 cm Hệ rễ chiếm 1,5% toàn bộ khối lượng cây, với hệ thống rễ phân bố trên bề mặt rộng chừng 60-90 cm Ở nhóm có thời gian sinh trưởng dài, bộ rễ cùng các cơ quan trên bề mặt đất phát triển mạnh hơn Tuy nhiên, ở các giống lai F1 tất cả các pha sinh trưởng bộ rễ phát triển mạnh và
có khối lượng lớn hơn so với các cặp bố mẹ Do vậy, mức độ phát triển bộ rễ
Trang 12ở giai đoạn đầu là một trong những tính trạng có tương quan chặt chẽ tới năng suất cây sau này
* Lá dưa chuột
Lá dưa chuột có hình trái tim, có xẻ thuỳ nông hoặc sâu khác nhau tuỳ từng giống, ở các kẽ lá có tua cuốn Trong quá trình dịch chuyển từ vùng nhiệt đới ẩm tới vùng đồng bằng, sa mạc và canh tác trong nhà kính, khả năng
ra tua của dưa chuột cũng có nhiêu biến đổi
* Thân dưa chuột
Thân dưa chuột thuộc dạng thân leo, trên thân chính hình thành nhánh cấp 1 và cấp 2 Độ dài thân chính khoảng 2 - 3 m tùy giống
* Hoa dưa chuột
Cây dưa chuột có hoa thuộc dạng đơn tính cùng gốc tức là trên cây có hoa đực và hoa cái riêng biệt (monoecious) song trong quá trình tiến hóa lâu dài và do tác động của con người trong công tác giống, dưa chuột xuất hiện nhiều dạng hoa mới
- Cây hoàn toàn hoa cái (gynoecious)
- Cây có hoa lưỡng tính (hermaphroditus)
- Cây có hoa lưỡng tính và đơn tính cùng gốc (gynoandromonoecious) Trong các dạng hoa nói trên, cây hoàn toàn hoa cái và hoa lưỡng tính
có ý nghĩa quan trọng trong công tác chọn tạo và sản xuất hạt lai F1 Hoa dưa chuột có 4-5 đài, 4-5 cánh hợp, màu vàng Hoa đực mọc đơn lẻ hoặc từng trùm nhỏ hơn hoa cái, có 4-5 nhị đực hợp nhau Hoa cái bình thường có 3-4 noãn, núm nhụy phân nhánh hoặc hợp
* Quả dưa chuột
Quả từ non đến chín chuyển từ màu xanh đến xanh trắng, hoặc vàng nâu, điều này phụ thuộc vào màu gai của quả Quả có gai màu trắng và xanh nâu, quả không bị biến vàng khi chín cũng như khi bảo quản Quả có gai màu
Trang 13đen hoặc nâu khi chín có màu vàng hoặc nâu Trong quả có hạt, hạt dưa chuột
màu vàng
1.2.2 Yêu cầu điều kiện ngoại cảnh của cây dưa chuột
* Nhiệt độ
Dưa chuột thuộc nhóm cây ưa nhiệt, yêu cầu khí hậu ấm áp và khô ráo
để sinh trưởng và phát triển Nhiệt độ thích hợp cho dưa chuột sinh trưởng và phát triển là từ 25 – 300C Nhiệt độ cao hơn sẽ làm cho cây ngừng sinh trưởng
và nếu kéo dài nhiệt độ từ 35 – 400C cây sẽ chết Nhiệt độ dưới 150C cây sẽ bị rối loạn quá trình đồng hóa và dị hóa, cây sinh trưởng kém, nhiệt độ thấp kéo dài các giống sinh trưởng rất khó khăn, đốt ngắn, lá nhỏ, hoa đực màu nhạt, vàng úa
Ở 50C hầu hết các giống dưa chuột bị chết rét, khi nhiệt độ lên tới 400C cây ngừng sinh trưởng hoa cái không xuất hiện, lá bị héo [1][2][3][4][5][7]
Hạt dưa chuột có sức sống cao, khỏe, hạt có thể nảy mầm ở nhiệt độ thấp từ 12 – 130C Nhiệt độ đất tối thiểu phải đạt 160C, ở nhiệt độ này hạt có thể nảy mầm sau 9-16 ngày, nếu nhiệt độ đất khoảng 210C thì hạt sẽ nảy mầm sau 5-6 ngày Nhiệt độ có ảnh hưởng trực tiếp đến thời gian ra hoa của cây Nhiệt độ thích hợp cho cây ra hoa cái ở ngày thứ 26 sau khi nảy mầm Nhiệt
độ càng thấp thời gian này càng kéo dài Ngoài ra, nhiệt độ thấp còn làm ảnh hưởng tới sinh trưởng của cây ở các giai đoạn khác nhau từ sự phát triển cá thể đến giới tính, tốc độ lớn của quả và năng suất quả Về đặc điểm sinh lý có liên quan đến tính chịu lạnh của dưa chuột, các nhà nghiên cứu có đề cập tới
độ nhớt đậm đặc của nguyên sinh chất, sức sống của tế bào và tính hút nước của nó Khi bị lạnh độ nhớt của nguyên sinh chất giảm và khả năng hút nước cũng giảm theo, ở các giống dưa chuột phương Bắc chứng tỏ khả năng chịu lạnh của chúng cao hơn các giống phía Nam Châu Âu Qua nghiên cứu ở Việt Nam trong điều kiện làm lạnh nhân tạo ở nhiệt độ 5-100C trong vòng 10 ngày,
Trang 14các giống dưa chuột Việt Nam và Trung Quốc có sức chịu lạnh cao hơn các giống Châu Âu và Châu Mỹ [36][37]
Nhiệt độ không chỉ ảnh hưởng tới quá trình sinh trưởng, phát triển, ra hoa mà còn ảnh hưởng trực tiếp tới sự nở hoa cũng như quá trình thụ tinh thụ phấn Nhiệt độ thích hợp cho sự nảy mầm của hạt phấn 17-240C, nhiệt độ quá cao, hay quá thấp so với ngưỡng nhiệt độ này đều làm giảm sức sống hạt phấn, đó cũng chính là nguyên nhân gây giảm năng suất của giống [31]
*Ánh sáng
Dưa chuột thuộc nhóm cây ưa ánh sáng ngày ngắn, độ dài chiếu sáng thích hợp cho cây sinh trưởng phát dục là 10-12 giờ/ngày Phản ứng của dưa chuột đối với ánh sáng còn phụ thuộc vào giống và thời vụ gieo trồng [7] Ánh sáng có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình quang hợp của cây trồng nói chung và dưa chuột nói riêng Cường độ sáng thích hợp cho dưa chuột sinh trưởng, phát triển, giúp cho cây tăng hiệu suất quang hợp, tăng năng suất, chất lượng quả và rút ngắn thời gian lớn của quả trong khoảng từ 15000-17000 lux [4],[7]
Độ dài ngày và cường độ chiếu sáng không phải là chỉ tiêu duy nhất đặc trưng cho ảnh hưởng của ánh sáng đến hoạt động sống của cây Công trình nghiên cứu của nhiều tác giả cho phép rút ra kết luận rằng chiếu sáng bổ sung tia hồng ngoại lên cây sẽ kích thích sự phát triển của cây ngày dài và ức chế cây ngày ngắn Ngược lại, tia cực tím có bước sóng ngắn lại kích thích sự phát triển của cây ngày ngắn và ức chế cây ngày dài [7]
Theo Tarakanov G và CS [60], khi chiếu sáng 16 giờ liên tục trong thời gian thí nghiệm một số giống dưa chuột không có khả năng hình thành hoa cái, hoa đực xuất hiện rất muộn khi mà ở các cây có thời gian chiếu sáng cho hoa đực sớm hơn 1 tháng Mức độ phản ứng của cây với thời gian chiếu sáng trong quá trình phát sinh cá thể cũng khác nhau
Trang 15Kết quả nghiên cứu của Saito T (1981) [57], cho biết dưa chuột ở giai đoạn cây con có mức độ mẫn cảm với ánh sáng và thời gian chiếu sáng hơn khi cây trưởng thành
- Huỳnh quang diệp lục là sự bức xạ được diệp lục phát ra với bước sóng dài hơn bước sóng hấp thụ, chỉ số huỳnh quang diệp lục là một thông số phản ánh trạng thái sinh lí của bộ máy quang hợp Chỉ tiêu huỳnh quang diệp lục được đo bằng máy Chlorophyll Fluorometer OS – 30
* Nước
Theo Trần Khắc Thi (1985) [35], Nghiên cứu đặc điểm một số giống dưa chuột và ứng dụng chúng trong công tác giống tại đồng bằng sông Hồng cho thấy: Dưa chuột là cây vừa kém chịu hạn lại kém chịu úng, vì dưa chuột
có nguồn gốc ở vùng ven rừng ẩm ướt, bộ rễ phát triển kém, hệ rễ phân bố ở tầng đất mặt Trong thân cây nước chiếm 91,3%, trong quả có chứa tới 93,-95% nước, bộ lá dưa chuột to, hệ số thoát hơi nước lớn nên dưa chuột yêu cầu
độ ẩm cao, là cây đứng đầu về nhu cầu nước trong họ bầu bí, độ ẩm đất thích hợp cho cây dưa chuột là 85-90%, độ ẩm không khí là 90-95% Trong giai đoạn ra quả phải giữ ẩm thường xuyên từ 90-100% độ ẩm đồng ruộng
Theo Mai Phương Anh và CS [1]: Dưa chuột kém chịu hạn, nếu thiếu nước cây không những sinh trưởng kém mà còn tích lũy chất cucurbitancin gây đắng trong quả Chất này thường tập chung nhiều ở phần cuối thân và dưới lớp vỏ cây Khi thiếu nước nghiêm trọng sẽ xuất hiện quả dị hình, quả bị đắng và cây dễ bị nhiễm virus Thời kỳ cây ra hoa tạo quả yêu cầu lượng nước cao nhất Hạt nảy mầm, yêu cầu lượng nước bằng 50% khối lượng hạt Trong suất quá trình sinh trưởng phát triển, dưa chuột yêu cầu một lượng nước khá lớn vì vậy cần cung cấp đủ và kịp thời nước cho cây đặc biệt là ở thời kỳ khủng hoảng nước của cây (giai đoạn cây con và khi cây ra hoa hình thành quả, quả rộ)
Trang 16* Đất trồng và dinh dưỡng khoáng của cây dưa chuột
Đất trồng thích hợp là đất có thành phần cơ giới nhẹ như đất cát pha, đất thịt nhẹ, độ pH thích hợp từ 5,5 - 6,5
Dưa chuột có thời gian sinh trưởng ngắn, bộ rễ kém phát triển, phần thân lá trên mặt đất lớn, tốc độ hình thành các cơ quan sinh dưỡng cao do đó khi được trồng trọt, dưa chuột đòi hỏi cung cấp dinh dưỡng nhiều
Để cho 1 tấn sản phẩm dưa chuột cần khoảng 0,8- 1,36 kg đạm; 0,9 kg P2O5 và 1,36 - 2,3 kg K2O Dưa chuột sử dụng kali có hiệu quả nhất, sau đó đến đạm và cuối cùng là lân
0,27-Theo Tạ Thu Cúc [7] khi nghiên cứu về một số chất khoáng đối với cây dưa chuột đã rút ra ra kết luận như sau:
- Thiếu đạm cây bắt đầu có màu xanh nhạt, sinh trưởng chậm, lá già có màu trắng bợt bắt đầu từ mép lá hướng vào trong
- Thiếu kali: cây sinh trưởng chậm, lá xanh nhạt bề mặt lá xuất hiện những đám màu xanh, trắng xen kẽ nhau, mép lá xoăn lại, lá non mất diệp lục
- Thiếu Magiê: Cây sinh trưởng chậm, lá nhỏ, rải rác những đốm lá chết trên phiến lá, sau đó những đốm lá chết lan rộng ra và kết hợp với nhau làm lá khô, cuối cùng chết cả lá
- Thiếu lưu huỳnh: Lá cuối cùng có màu xanh nhạt, những lá dưới có màu xanh bình thường
- Thiếu lân: Cây sinh trưởng chậm, lá chuyển từ màu xanh đậm sang màu ghi làm lá khô và chết
- Thiếu canxi: Cây sinh trưởng bình thường, lá ít màu xanh (ít diệp lục) mép lá xoăn, khô cứng
Theo Mai Phương Anh và CS [1]: Khi thiếu Bo, dưa chuột sinh trưởng chậm, lá trở nên dày, xanh đậm, đỉnh ngọn khô héo, những lá gốc chuyển màu nâu và xoăn mép lá lại
Trang 171.3 Tình hình nghiên cứu về cây dưa chuột
1.3.1 Trên thế giới và ở Việt Nam
*Trên thế giới
Dưa chuột là loại rau ăn quả vừa có giá trị dinh dưỡng vừa có giá trị thương mại Do vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu theo nhiều hướng khác nhau nhằm tăng năng suất và chất lượng quả Tổng hợp các kết quả nghiên cứu về cây dưa chuột có thể phân theo các hướng như sau:
Hướng nghiên cứu ảnh hưởng của kĩ thuật gieo trồng
- Abubaker S và CS (2010) [39] nghiên cứu về khoảng cách trồng và năng suất dưa chuột trồng trong nhà kính cho thấy, trồng với khoảng cách phù hợp có ảnh hưởng tốt đến năng suất các giống dưa chuột
- Than T N (1996) [52] trong báo cáo tại Hội đồng nghiên cứu nông nghiệp (ARC) cho thấy, kĩ thuật tỉa cành có ảnh hưởng đến sinh trưởng và năng suất các giống dưa chuột, các giống có quả to chỉ nên để 4 – 5 cành chính
- Theo Utobo E.B., và CS (2010) nghiên cứu kỹ thuật tỉa cành đến sinh trưởng và năng suất các giống dưa chuột trồng tại Abakaliki, đông nam Nigeria cho thấy sự sinh trưởng và năng suất dưa chuột có quan hệ với kỹ thuật tỉa cành và khoảng cách gieo trồng
- Lin W.C và CS (1996) [45][46] cho thấy, chất lượng quả dưa chuột trồng trong nhà kính đã được cải thiện bằng việc tỉa thưa và che bóng cho quả Tỉa thưa và che bóng đã ảnh hưởng đến động thái tăng chiều dài quả, màu sắc quả lúc thu hoạch và phổ diệp lục của vỏ quả Trong điều kiện cường
độ ánh sáng thấp cây sinh trưởng phát triển yếu và thậm chí rất khó phục hồi mặc dù sau đã được cung cấp đầy đủ ánh sáng
- Theo Pae A., Simis Ker J., (1997) [48]; Wayne V (1990) [55] Nghiên cứu trồng dưa chuột trong nhà kính và áp dựng phương pháp tười tiên
Trang 18tiến đã làm tăng năng suất quả gấp 1,5 lần ngoài đồng ruộng, đặc biệt tỷ lệ quả thương phẩm đạt rất cao, phù hợp với thi hiếu người tiêu dùng
- Papadopaulos A P (2012) [49], nghiên cứu trồng dưa không hạt trong nhà kính không dùng đất cho chất lượng quả sạch đáp ứng yêu cầu của người dùng
Hướng nghiên cứu đặc điểm các giống và so sánh các giống
- Chaudhry M F., Mahmold T Jan (1998) [40] đã tiến hành khảo nghiệm tập đoàn giống nhập nội nhằm xác định giống thích hợp, phục vụ cho nhu cầu sản xuất, xuất khẩu đã khẳng định: Những giống dưa chuột đóng lọ
cả quả thường là những giống leo giàn, quả ngắn và có nhiều quả Giống
“Balam khira” của Saharanpur (UP) là giống tương tự với dạng đóng lọ nhỏ hơn và ít hạt hơn, đây là một đặc điểm quan trọng trong việc đóng lọ có dung dịch muối Giống dùng để chế biến bằng cách đóng lọ cả quả yêu cầu nghiêm ngặt về màu sắc quả, quả sau khi chế biến phải giữ nguyên được màu sắc Đặc điểm này có liên quan đến gen quy định màu quả khi chín hoàn toàn Những giống dưa chuột có gai quả màu trắng giữ được màu sắc sau chế biến tốt hơn giống có gai màu vàng đậm Tất cả các giống dưa cắt lát của Tây Âu và Mỹ đều có gai màu trắng Các giống dưa chuột của Châu Âu trồng trong nhà kính
có đặc điểm khác nhau như: Dạng dưa của Anh có quả to; Giống của Nga có quả ngắn, dày và có sọc nâu; Giống ở Pháp quả to, dày, hình dạng thay đổi theo mục đích thương mại Trong khi đó ở đông Nam Á và cận đông Châu Á dạng quả xanh bóng có sọc là phổ biến, ở Nhật Bản người tiêu dùng thích giống cắt lát có dạng quả nhỏ
Giống dưa chuột có gai đen chuyển màu da cam khi chín hoàn toàn, có xu hướng chuyển màu trước khi chín ở điều kiện nhiệt độ cao (cả trên đồng ruộng
và trong quá trình bảo quản, vận chuyển) Còn đối với giống dưa chuột dùng cho chế biến cắt lát thì giống có gai quả màu đen thích hợp hơn giống có gai quả
Trang 19màu trắng vì chúng có màu sắc hấp dẫn hơn sau khi ngâm trong lọ có dung dịch muối
- Các nhà khoa học Ấn Độ [Trích theo Phạm Mỹ Linh, [26] đã nghiên cứu tập đoàn gồm hàng trăm dòng và giống dưa chuột sưu tâm và nhập khẩu trên thế giới cho thấy:
+ Giống Straight Eight: là một giống chín sớm thích hợp với vùng cao, gai trắng, quả dài trung bình, dày, giòn, tròn, màu xanh vừa, cũng được tạo ra
từ trung tâm vùng IARI, Katrai (thung lũng Kuhy)
+ Giống Pointette: Giống này có quả màu xanh đậm dài 20-25 cm Nguồn gốc từ Nam Carolina của Mỹ chống được bệnh phấn trắng, sương mai, thán thư và đốm lá
Theo Tarakanov G., và CS [Trích theo Phạm Mỹ Linh, [26], đã tiến hành thu thập và nghiên cứu một tập đoàn hết sức phong phú (khoảng 8000 mẫu giống) Mục đích là nghiên cứu và khai thác nguồn gốc, sự tiến hoá, đặc điểm sinh thái, sinh lý, miễn dịch của tập đoàn dưa chuột Dựa trên những kết quả thu được Taraconov G., đã tạo ra các giống dưa chuột lai TCXA nổi tiếng
và có năng suất kỷ lục 25-40 kg/m2 ở trong nhà ấm
Hướng nghiên cứu khả năng chống chịu sâu và các loại bệnh của cây dưa chuột cũng được nhiều tác giả quan tâm
- Reuveni R., Raviv M., và CS nghiên cứu tăng cương khả năng chống bệnh mốc xương cây dưa chuột cho thầy: Mỗi dòng có khả năng chống bệnh mốc xương khác nhau Sử dụng photoelective polyethylen bón cho cây làm tăng khả năng chống bệnh mốc sương của cây dưa chuột Nhóm tác giả còn cho thấy: Một trong những đối tượng bệnh nguy hiểm nhất đối với dưa chuột
là bệnh sương mai (Pseudoperonospora cubensis Berk và Curt), trong số các
giống nghiên cứu thì các giống Gy4, Clinton, galay, M21, M27, Poisett có khả năng chống chịu sương mai tốt
Trang 20- Wehner T.C., Shetty N.V (2012)., [54] dùng các tests để đánh giá khả năng kháng nấm mốc của tập đoàn các dòng, giống dưa chuột tại Carolina và
đã xác định một số giống dưa chuột có khả năng kháng nấm mốc tốt dùng làm vật liệu cho chọn tạo giống Theo kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả Ngoài bệnh sương mai, phấn trắng cũng là bệnh gây nguy hiểm không ít cho sinh trưởng, phát triển của cây dưa chuột Có nhiều ý kiến của các nhà khoa học về bản chất di truyền khả năng chống chịu bệnh phấn trắng của cây dưa chuột, đặc tính này mang tính lặn đa gen và đã đưa ra khẳng định rằng tính chống chịu này ít nhất có hai gen lặn sph và e quyết định, trong nhiều trường hợp có các gen bổ sung như sph-1, sph-2, l-1, l-2 [55]
Hướng tạo chọn tạo giống đơn tính và thực hiện lai giống tạo ra các con lai F1 dùng cho sản xuất đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu như: Galun E., (1961) [41]; Kubicki B.,[42][43]; More T A (2001), [47]
và Saito T (1981) [51] Tất các các kết quả đều khẳng định bằng các phép lai hay các tác nhân vật lí phối hợp lai giống có thể tạo ra các dòng/giống dưa chuột chỉ có hoa cái hay tỷ lệ hoa cái lớn, những dòng/giống này có tiềm năng cho năng suất cao Các con lai F1 ở cây dưa chuột có nhiều ưu thế về sinh trưởng vì vậy có năng suất từ trung bình đến cao
Hướng bảo quản quả và thời gian bảo quản quả dưa chuột
Hướng nghiên cứu cách bảo quản và thời gian bảo quản quả dưa chuột cũng được nhiều tác giả nghiên cứu Theo Lin W.C., P.A Jolliffe (1997) [44], dưa chuột có thể bảo quản trong kho lạnh, thời gian bảo quản không ảnh hưởng đến chất lượng quả còn tùy thuộc cách sản xuất
*Việt Nam
Việt Nam là quốc gia có truyền thống trồng dưa chuột lâu đời Tuy nhiên số lượng các công trình nghiên cứu còn ít và tản mạn
Trang 21Trước năm 1975 ở miền Nam, đoàn chuyên gia Nam Triều Tiên đã khảo sát tính thích nghi của 24 giống dưa chuột có nguồn gốc từ Nhật Bản, Đài Loan, Mỹ, Nam Triều Tiên tại trại giống rau Thủ Đức trong các năm
1967 - 1968 Các kết quả khảo nghiệm ở đây cho thấy: giống dưa chuột gốc Đài Loan Fonguan Grun skin tương đối thích nghi trong điều kiện Miền Nam Việt Nam [6][34]
Từ năm 1973-1976 Tại trại giống rau Hải Phòng thuộc Công ty Rau Quả trung ương đã thử nghiệm một tập đoàn giống của công ty Marusa và kết luận 2 giống TK và TO đủ tiêu chuẩn trồng suất khẩu dạng muối mặn
Năm 1976 tại Viện Cây Lương Thực - Cây Thực Phẩm một tập đoàn lớn cây dưa chuột đã được nghiên cứu với nhiều khía cạnh Đặc tính sinh học, sinh lý, giới tính, di truyền và chọn giống thực nghiệm Đã tìm ra được giống dưa chuột 27 quả dài, giống Hữu nghị được Bộ nông nghiệp và Công Nghiệp thực phẩm công nhận đưa ra sản xuất là một phần kết quả ứng dụng những nghiên cứu này
Theo Vũ Tuyên Hoàng và CS [19], cho thấy các dạng cây dưa chuột dại, quả rất nhỏ, mọc tự nhiên ở các vùng đồng Bằng Bắc bộ và các dạng dưa chuột quả to, đắng mọc hoang dại ở các vùng núi cao phía Bắc Việt Nam là nguồn gốc phát sinh của loài cây trồng này
Vũ Tuyên Hoàng và CS (1999) [20], Nghiên cứu khả năng chịu lạnh của các giống dưa chuột Việt Nam trong nhà ấm tại Matxcơva năm 1974 cho thấy ở các giống dưa chuột chịu giảm nhiệt độ là do mối liên kết giữa diệp lục
và thành phần protit - lipit trong lá không bị phá vỡ Nghiên cứu này phù hợp với các nhận xét cho rằng nhiệt độ thấp đủ cho cây dưa chuột tạo quả là xấp
xỉ 100C đối với các giống dưa chuột Việt Nam trong điều kiện xuân lạnh năm
1975 ở Matxcơva
Trang 22Giống H1 được bắt đầu nghiên cứu từ năm 1989, từ tổ hợp lai (HN1 x 1572) và áp dụng phương pháp chọn dòng của Guliaev kết hợp với phương pháp thụ phấn đồng dạng, đến năm 1993 giống H1 đã được công nhận là giống quốc gia có thời gian sinh trưởng trung bình 90 - 100 ngày, năng suất
25 - 30 tấn/ ha, trồng 2 vụ/năm là vụ xuân hè (gieo trồng 15/2 - 20/3) và vụ thu đông (Gieo 20/8 - 25 /9), quả dài 18-22 cm, vỏ quả màu xanh sáng, đường kính quả 3,5-4,5 cm, hạt ít bị bong khi chế biến, tỷ lệ quả vàng sau thu hoạch thấp [19]
Tại Viện nghiên cứu Rau Quả, từ năm 1993 đến năm 1995 đã thử nghiệm một số giống dưa chuột quả nhỏ của công ty Royal Sluis (Hà Lan) Trong số này giống F1 Marinda có thời gian sinh trưởng ngắn (55 - 80 ngày),
ra hoa sớm, từ mọc đến thu quả đợt đầu là 32 - 35 ngày Quả có gai màu trắng, tạo hình dáng sần sùi, màu xanh đậm, chất lượng tốt, chống bệnh vius
và sương mai khá, năng suất 4 - 5 tấn/ha Tại các tỉnh phía Nam, những năm gần đây, các công ty giống Đông Tây, Hoa Sen, Trang Nông, công ty giống cây trồng Miền Nam đã nhập và khảo nghiệm nhiều giống dưa chuột từ các nguồn nhập khác nhau và kết luận giống F1 Happy 14, các giồng của công ty Know - you - seed (Đài Loan) như Fi DN-3, F1 DN6 cho năng suất và chất lượng cao trong điều kiện trồng ở phía Nam [38]
Từ năm 2003 - 2004 tại Viện CLT - CTP thực hiện đề tài “Hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất cà chua lai số 1, C95, dưa chuột lai Sao xanh, PC1 phục vụ cho chế biến xuất khẩu” Kết quả đó sản xuất được 200 kg hạt dưa chuột lai Sao xanh và PC1, xây dựng mô hình 50 ha dưa chuột tại Hà Nam [32] Hai giống dưa chuột lai F1 NH815 và NH184 do công ty giống cây trồng Nông Hữu (Đài Loan) lai tạo thành công và mới được nhập vào nước ta vài năm trước đây [32]
Trang 23Giống dưa chuột lai Sao xanh (do Vũ Tuyên Hoàng, Đào Xuân Thảng
và các cộng sự): là con lai F1 của cặp lai DL15 x CP1583, được tạo ra bằng phương pháp sử dụng ưu thế lai, có thời gian sinh trưởng là 85 - 90 ngày, cây sinh trưởng khoẻ, năng suất 45 -55 tấn/ha, quả to dài 23-25 cm, cùi dày 1,2-1,5 cm đường kính quả 3,7-4,2 cm, chất lượng quả tốt hàm lượng đường và vitamin C cao, quả giòn, thơm, có mùi hấp dẫn, quả có hình dạng đẹp, thích hợp cho ăn tươi, xa lát, quả có thể xuất khẩu tươi [18]
Theo Trần Văn Lài và CS (2004) [21] đã đưa ra qui trình phục tráng giống dưa chuột Phú Thịnh phục vụ cho chế biến công nghiệp, đồng thời các tác giả còn mô tả một số đặc điểm sinh lý và hình thái của các giống trong thí nghiệm Các giống dưa chuột có nguồn gốc vùng núi cao như: Cao Bằng, Thanh Hoá có khả năng phân cành trong mọi vụ trồng và có thể đặc tính này mang tính đa gen
Theo Đào Xuân Thảng và CS [29] [30] Giống PC4 là con lai F1 của tổ hợp lai TL1 x C95 Cây sinh trưởng khoẻ, phân nhánh tốt, chống chịu sâu bệnh khá thích hợp cho trồng cả 2 vụ xuân hè và thu đông, cho năng suất cao
ở mức 40 - 45 tấn/ha Quả có hình dạng đẹp vỏ màu xanh sáng, cùi dày, ít hạt, quả ngắn ( 9-12 cm) dùng chế biến đóng lọ muối chua rất tốt Trần Khắc Thi (1985) [35], Ngoài chế biến đóng lọ thì quả các giống dưa chuột trên cũng có thể dùng ăn tươi, khi cần thu hoạch sớm dùng chế biến theo kiểu dưa chuột bao tử cũng được
Nguyễn Văn Hiển và CS (2002) [14], đã tiến hành khảo nghiệm và chọn lọc một số giống dưa chuột từ tập đoàn dưa chuột của Hunggari, Việt Nam, Nhật Bản, Hà Lan, Pháp Kết qủa thu được như sau: Các giống của Hunggari và Pháp trồng trong vụ xuân - hè không thích nghi, sinh trưởng kém, ra nhiều hoa đực, không đậu quả Tỷ lệ đậu quả chỉ đạt 10% - 16%, ngọn bị thui và lụi dần Trong khi đó các giống dưa chuột của Việt Nam có tỉ
Trang 24lệ đậu quả cao, đạt 78,1 - 80,5%, chiều dài quả đạt khoảng 10 cm, đường kính quả 3,8-3,9 cm, trọng lượng quả đạt 55,5 - 60,4 g/quả Giống Hữu Nghị cho năng suất 685,2 tạ/ha Giống Thuỷ Nguyên cho năng suất 467,4 tạ/ha
Ở Việt Nam việc trồng thử các giống lai F1 tiến hành từ những năm bảy mươi đã chứng tỏ ưu thế của việc sử dụng giống lai F1 Các giống, dòng được sử dụng làm vật liệu cho con lai F1 không những cần phải có những biểu hiện tốt về các đặc tính kinh tế mà còn cần phải có khả năng cho ưu thế lai ở các đời sau
Theo tác giả Võ Văn Chi [8], hiện nay các nhà khoa học chọn giống chú ý theo hai hướng:
- Chọn giống cho tiêu dùng trong nước: quả dài 15-25 cm, vỏ quả thường là màu xanh, gai trắng chất khô 5,5 % trở lên, có khả năng chống chịu bệnh sương mai, phấn trắng và héo rũ
- Chọn giống cho chế biến gồm các dạng: dạng muối chua, đóng lọ nguyên quả, quả dài nhỏ hơn 10 cm, ruột đặc màu xanh nhạt, năng suất trên
20 tấn/ha Dạng chẻ thanh đóng lọ, quả dài 13-18 cm, màu xanh nhạt, ruột đặc, năng suất trên 30 tấn /ha Dạng dưa chuột cho chế biến muối mặn, đường
kính quả 3-4 cm, quả dài 30 cm, màu xanh đậm, gai trắng, cùi dày
Hai tác giả Phạm Tiến Dũng và Đỗ Thị Hường [9], nghiên cứu “Ảnh hưởng của liều lượng phân bón compost và một số loại phân hữu cơ vi sinh đến sinh trưởng, phát triển và năng suất dưa chuột sản xuất theo hướng hữu
cơ trên đất Gia Lâm – Hà Nội” đã cho thấy phân compost và phân hữu cơ vi sinh có ảnh hưởng tốt đến sinh trưởng và năng suất cây dưa chuột
Tác giả Trần Thị Minh Hằng và CS [16] nghiên cứu “ Ảnh hưởng của tỉa nhánh với khoảng cách trồng khác nhau đến sinh trương, phát triển và năng suất dưa chuột bản địa H’Mông trồng tại Mộc Châu, Sơn La” Các tác giả đi phân tích những ảnh hưởng của khoảng cách trồng kết hợp với bón
Trang 25phân tỉa nhánh đến khả năng sinh trưởng phát triển của dưa chuột bản địa H’ Mông Trong đó nêu cụ thể thời gian sinh trưởng, cũng như chỉ ra đặc điểm sinh trưởng thân lá, đặc điểm tình hình sâu hại Tất cả đều có những đánh giá chi tiết thông qua các thí nghiệm cụ thể Từ đó chỉ ra các yếu tố cấu thành năng suất, chất lượng cây dưa chuột
1.3.2 Tình hình sản suất và tiêu thụ dưa chuột trên thế giới và ở Việt Nam
1.3.2.1 Trên thế giới
Dưa chuột là cây rau ăn quả có giá trị, thời gian sinh trưởng ngắn lại cho năng suất cao, hơn thế nữa sản phẩm dưa chuột vừa sử dụng ăn tươi, vừa chế biến xuất khẩu Trong những năm gần đây diện tích trồng dưa chuột trên thế giới ngày càng tăng nhưng năng suất lại giảm và sản lượng cũng giảm theo
Theo số liệu thống kê của FAO, năm 2006, tổng diện tích dưa chuột của thế giới là 2,52 triệu ha, năng suất trung bình đạt 172,3 tạ/ha và sản lượng đạt 44,065 triệu tấn quả; diện tích, năng suất và sản lượng dưa chuột được tiếp tục tăng trong năm 2007 Nhưng năm 2008, năng suất bình quân trên toàn thế giới lại bị giảm, do vậy diện tích trồng dưa chuột tiếp tục được tăng lên nhưng tổng sản lượng thu được tăng không đáng kể, với các số liệu tương ứng là 2,64 triệu ha, 168,2 tạ/ha và tổng sản lượng đạt 44,321 triệu tấn quả Trung Quốc là nước có diện tích trồng dưa chuột lớn nhất thế giới, năm 2008 diện tích chiếm 64,6% so với toàn thế giới và sản lượng chiếm 63,7% Tiếp theo là các nước Nga, Iran, Mỹ và Thổ Nhĩ Kỳ
Dưa chuột là sản phẩm rau quả có giá trị và thị trường xuất nhập khẩu rất sôi động Mỹ là nước có lượng nhập khẩu lớn nhất thế giới khoảng 2 triệu tấn với giá trị khoảng 1,7- 2 tỷ USD Mặc dù lượng nhập khẩu và giá trị nhập khẩu rất lớn nhưng lượng xuất khẩu và giá trị xuất khẩu tương đương với xuất khẩu Nga là nước nhập khẩu rất nhiều khoảng 90 triệu USD năm
Trang 26Nhu cầu tiêu dùng dưa chuột và các dạng sản phẩm chế biến từ dưa chuột đang tăng mạnh kể từ cuối năm 2008 đến nay Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, kim ngạch xuất khẩu dưa chuột và các sản phẩm chế biến từ dưa chuột 5 tháng đầu năm 2009 đạt hơn 22,2 triệu USD, tăng 155,6%
so với cùng kỳ 2008 Tháng 6 năm 2009, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm này đạt gần 1,9 triệu USD, nâng tổng kim ngạch xuất khẩu dưa chuột nửa đầu năm 2009 lên 24,1 triệu USD Trong đó, tỷ trọng xuất khẩu sang 3 thị trường
là Nga, Nhật Bản và Rumani chiếm ưu thế vượt trội (chiếm 77,5% tổng kim ngạch) Có 33 thị trường nhập khẩu dưa chuột từ Việt Nam, trong đó Liên bang Nga đạt kim ngạch cao nhất với 12,3 triệu USD, tăng 155% so với cùng
kỳ Đây cũng là thị trường đạt kim ngạch cao nhất kể từ đầu năm 2008 đến nay Sản phẩm dưa chuột và các sản phẩm chế biến từ dưa chuột được người tiêu dùng Nga rất ưa chuộng
* Tình hình sản xuất và tiêu thụ dưa chuột ở Vĩnh Phúc
Diện tích cây dưa chuột chiếm 35% tổng diện tích cây rau và được trồng ở hầu hết các địa phương trong tỉnh Trong đó diện tích lớn và được trồng tập trung ở các huyện: Tam Dương, Bình Xuyên, Vĩnh Tường, Phúc Yên
Tam Dương là huyện có diện tích và sản lượng dưa chuột đứng đầu toàn tỉnh với diện tích là 437,5 ha, sản lượng 13.937,5 tấn, sau đó là huyện
Trang 27Bình Xuyên và thị xã Phúc Yên Huyện Vĩnh Tường mặc dù diện tích đứng thứ tư toàn tỉnh, nhưng do năng suất cao nhất tỉnh vì vậy sản lượng đứng thứ hai tỉnh Cũng từ các kết quả điều tra cho thấy, hiện nay trên địa bàn tỉnh vẫn chưa có số liệu chính thức về diện tích sản xuất cây dưa chuột an toàn
* Tình hình sản xuất và tiêu thụ dưa chuột ở huyện Tam Dương
Diện tích dưa chuột là 437,5 ha bằng 45,7% tổng diện tích cây rau của huyện và được trồng rải rác ở các xã trong huyện Trong đó diện tích lớn và được trồng tập trung ở các xã: xã An Hòa, thị trấn Hợp Hòa, xã Thanh Vân,
xã Đồng Tĩnh, xã Hoàng Lâu và xã Vân Hội Theo kết quả điều tra cho thấy, dưa chuột của huyện được trồng rải rác ở hầu hết ở các xã, thị trấn trong huyện Tuy nhiên, diện tích dưa chuột lớn nhất là xã An Hòa, thị trấn Hợp Hòa, xã Thanh Vân, xã Đồng Tĩnh, xã Hoàng Lâu và xã Vân Hội Năng suất năm 2010, cao nhất là thị trấn Hợp Hòa là 322 tạ/ha, tiếp đến là các xã Vân Hội, xã Đạo Tú, xã Duy Phiên, xã An Hòa có năng suất dao động từ 320- 321 tạ/ha; các xã còn lại dao động từ 268- 314 tạ/ha Về sản lượng, xã có sản lượng cao nhất là An Hòa 6.316,8 tấn bằng 45,95% sản lượng dưa chuột của huyện, tiếp đến là thị trấn Hợp Hòa, xã Thanh Vân và xã Đồng Tĩnh
1.4 Điều kiện tự nhiên của huyện Tam Dương
* Vị trí địa lý
Tam Dương là 1 trong 9 huyện, thị xã và thành phố của tỉnh Vĩnh Phúc
- Phía Bắc giáp huyện Tam Đảo và huyện Lập Thạch
- Phía Nam giáp thành phố Vĩnh Yên và huyện Yên Lạc
- Phía Đông giáp huyện Bình Xuyên
- Phía Tây giáp huyện Lập Thạch và huyện Vĩnh Tường
Huyện Tam Dương nằm liền kề với thành phố Vĩnh Yên, trung tâm chính trị, kinh tế - xã hội của tỉnh Vĩnh Phúc Có hệ thống đường Quốc lộ 2A, 2B và 2C; tuyến đường sắt Hà Nội - Lào Cai và các tuyến đường tỉnh lộ 310,
Trang 28305, 314, 302 chạy qua Đồng thời, Tam Dương là vùng chuyển tiếp giữa đồng bằng, trung du và miền núi, là cầu nối giao lưu phát triển kinh tế, văn hoá giữa các tỉnh miền núi phía Bắc với thủ đô Hà Nội và các tỉnh khác trong cả nước Những thuận lợi này là động lực thúc đẩy kinh tế Tam Dương phát triển
Trang 293000C/năm Tổng số ngày có nhiệt độ trung bình < 210C là 102 - 105 ngày, Với chế độ nhiệt như trên Tam Dương có thể trồng 3 vụ cây ngắn ngày/năm (Tương ứng với 2 vụ cây ưa nóng, 1 vụ cây chịu lạnh)
+ Mùa khô (từ tháng 11 đến tháng 4): Đặc điểm chung của chế độ nhiệt trong mùa khô ở Tam Dương là lạnh, ít mưa, và ẩm độ thấp Tháng lạnh nhất thường là tháng 1, nhiệt độ trung bình là 15,60C, nhiệt độ tối thấp trung bình đạt 12 – 140C, tối thấp tuyệt đối có những năm xuống đến 4 – 60C
+ Mùa khô nhiệt độ tuy thấp nhưng vẫn có thể phù hợp với khả năng chịu đựng với một số cây trồng vụ đông như ngô, đậu tương, khoai tây, khoai lang, các loại rau cao cấp… có nguồn gốc ôn đới
+ Mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10): Khác với mùa khô khắc nghiệt, thời tiết mùa mưa khá thuận lợi cho cây trồng phát triển Nhiệt độ trung bình ngày là 290C, tháng nóng nhất là tháng 6 nhiệt độ tối cao trung bình lên đến 32,50C Trong mùa mưa, bình quân mỗi năm có khoảng 16 - 18 ngày có nhiệt
độ trung bình trên 300C, chủ yếu tập trung vào tháng 6, 7, 8 Vì vậy người dân thường gọi mùa mưa là mùa nóng hay mùa hè
* Chế độ ánh sáng
Tổng số giờ nắng trung bình trong 10 năm từ năm 2001 - 2010 là 1461,4 giờ/năm, bình quân đạt 121,8 giờ/tháng Số giờ nắng thấp nhất là các tháng 2, 3 (khoảng 40 giờ/tháng) Giai đoạn này thời tiết lạnh, ẩm độ không khí cao, ánh sáng yếu, cây trồng sinh trưởng không thuận lợi, sâu bệnh, dịch hại dễ phát sinh gây hại Các tháng mùa hè (tháng 5 đến tháng 9) có số giờ nắng khá cao thuận lợi cho sinh trưởng phát triển của cây trồng
* Chế độ mưa
Tam Dương có tổng lượng mưa trung bình của cả năm 1.345 mm Tuy nhiên, biên độ dao động lượng mưa giữa các năm (2001-2010) rõ lớn, năm
Trang 30mưa nhiều nhất tới 2.487 mm, năm mưa ít nhất chỉ từ 1.200 - 1.300 mm Với tổng lượng mưa bình quân năm như vậy là đủ cho sản xuất nông nghiệp
Lượng mưa phân bố không đều giữa các tháng trong năm, các tháng mùa mưa (tháng 5 đến tháng 10) lượng mưa đạt 1.077 mm (chiếm khoảng 80% tổng lượng mưa cả năm), với lượng nước này là điều kiện thuận lợi cho nhiều loại cây trồng nhiệt đới phát triển Còn các tháng mùa khô, do lượng mưa
ít, chỉ khoảng 20% của cả năm nên không đủ nước cho cây trồng vụ đông
Để khắc phục những khó khăn này, bên cạnh dầu tư cải tạo, nâng cấp
hệ thống thuỷ lợi thì việc vận động nhân dân tích cực chuyển đổi cơ cấu cây trồng ở những chân đất không chủ động nước là rất quan trọng, cần khuyến cáo người dân trồng những cây có nhu cầu nước thấp để tăng thu nhập và nâng cao hiệu quả sản xuất
* Độ ẩm không khí
Độ ẩm không khí trung bình năm của Tam Dương là 81% Các tháng cuối mùa xuân (tháng 2, 3) thời tiết ẩm ướt, độ ẩm trung bình 85 - 86% Các tháng đầu mùa đông (tháng 11, 12) độ ẩm không khí trung bình từ 77 - 80% phù hợp cho cây trồng có nguồn gốc ôn đới
Như vậy, qua đối chiếu với các điều kiện về nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng của huyện Tam Dương cho thấy, có thể trồng dưa chuột nhiều vụ trong năm Ở vụ xuân có thể gieo hạt từ đầu tháng 2 đến tháng 4; vụ hè thu gieo hạt
từ tháng 5 đến tháng 7; vụ thu đông gieo hạt từ tháng 8 đến đầu tháng 10
Qua tổng quan các tài liệu trong nước và ngoài nước cho thấy các kết quả nghiên cứu về đặc điểm đặc sinh lí, hóa sinh và năng suất một số giống dưa chuột lai F1 còn rất ít và chưa có hệ thống, đặc biệt là các kết quả nghiên cứu đặc điểm sinh lí, hóa sinh và năng suất một số giống dưa chuột lai F1 trồng trên vùng sinh thái như huyện Tam Dương - Vĩnh Phúc chưa có tài liệu nào bàn đến
Trang 31CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Trong thí nghiệm này chúng tôi sử dụng 4 giống dưa chuột lai: VL103 F1; VL 106 F1; VL 116 F1; VL 118 F1 đây là những giống đang được các cửa hàng vật tư ở Tam Dương bán nhiều cho người sản xuất
- Giống dưa chuột VL103 F1 được lai tạo và sản xuất tại Nhật Bản do Công ty TNHH và Thương mại Hoa Sen nhập khẩu và cung ứng VL103 F1
có đặc điểm sinh trưởng phát triển khoẻ, thân lá to, màu xanh đậm, nhiều nhánh, nhiều hoa cái, dễ đậu quả Vỏ quả màu xanh tươi, thịt quả dày, ít ruột,
ăn giòn, ngon, đặc biệt là không bị đắng đầu như một số giống dưa khác, bảo quản được lâu, phù hợp với người tiêu dùng VL103 F1 có ưu điểm chịu nhiệt trong điều kiện thời tiết nắng nóng nhiệt độ trên 300C vẫn ra hoa, đậu quả và cho năng suất cao
- Giống dưa chuột VL 106 F1; VL 116 F1; Giống dưa VL 118 F1 do Công ty TNHH và Thương mại Hoa Sen nhập khẩu và cung ứng:
+ Độ sạch > 99%; Nảy mầm > 75%; Thời gian cho thu hoạch 38-40 ngày;
+ Khoảng cách trồng: cây cách cây 35 - 40 cm, hàng cách hàng 1,2 -1,3
m Số lượng hạt cần trồng cho 1000 m2 là 50 - 60g
2.2 Phạm vi nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 2 năm 2016 đến tháng 7 năm 2016
- Địa điểm nghiên cứu:
+ Thí nghiệm đồng ruộng được bố trí trên nền đất Huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc
Trang 32+ Phân tích một số chỉ tiêu sinh lí, hóa sinh tại phòng thí nghiệm Sinh
lý thực vật và Trung tâm hỗ trợ NCKH và Chuyển giao công nghệ trường ĐHSP Hà Nội 2
- Nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu một số đặc điểm sinh lí, hóa sinh
và năng suất một số giống dưa chuột lai F1 (Cucumis sativus L) trồng tại Tam
Dương - Vĩnh Phúc
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Bố trí thí nghiệm, kỹ thuật trồng và chăm sóc
* Thí nghiệm ngoài đồng ruộng được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh với 3 lần nhắc lại, diện tích mỗi ô thí nghiệm 30 m2 gồm các công thức sau:
- Đối chứng: Giống VL103 F1, vì là giống được trồng phổ biến ở địa phương, sinh trưởng phát triển khỏe mạnh, nhiều hoa cái, dễ đậu quả, khả năng chịu nhiệt tốt
- Công thức thí nghiệm 1 (TN1): Giống VL 106 F1
- Công thức thí nghiệm 2 (TN2): Giống VL 116 F1
- Công thức thí nghiệm 3 (TN3): Giống VL 118 F1
* Kỹ thuật trồng và chăm sóc dưa chuột: kỹ thuật trồng theo khuyến cáo của Bộ Nông nghiệp và PTNT [1] [4]
- Thời vụ trồng: Thí nghiệm được bố trí ở vụ hè thu
- Làm đất: Đất được làm kỹ, lên luống rộng 1,2 m
- Mật độ: 34.000 cây/ha: Khoảng cách trồng: Cây cách cây 40 cm; Hàng cách hàng 70 cm
- Phân bón cho 1 ha cần: 20 tấn phân chuồng mục + 150kg N + 160 kg
P2O5 + 150 kg K2O
- Chế độ chăm sóc: Đảm bảo sự đồng đều giữa các ô thí nghiệm
Trang 332.3.2 Các chỉ tiêu nghiên cứu
* Thời gian sinh trưởng của 4 giống dưa chuột lai F1 trồng tại Tam Dương - Vĩnh Phúc : được đánh xác định qua các giai đoạn của dưa chuột được
theo dõi trực tiếp từ khi gieo đến thi thu lứa quả cuối cùng gồm các chỉ tiêu:
Gieo - mọc mầm (50% số hạt nảy mầm)
Mọc mầm - 3 lá thật(50% số cây ra 3 lá)
Mọc mầm - ra tua cuốn(50% số cây ra tua cuốn)
Mọc mầm - phân cành(50% số cây phân cành)
Mọc mầm - ra hoa cái đầu tiên (50% số cây ra hoa cái)
Mọc mầm - bắt đầu cho thu quả lần đầu (50% số cây cho thu hoạch) Mọc mầm - đến khi thu quả cuối cùng (50% số cây có các lá ở gốc bị vàng úa)
* Khả năng nảy mầm của 4 giống dưa chuột lai F1 trồng tại Tam Dương - Vĩnh Phúc
- Khả năng nảy mầm được đếm trực tiếp số hạt nảy mầm vảo các thời điểm 3; 5 và 7 ngày sau khi trồng, sau đó tính tỷ lệ nảy mầm ở mỗi giống
- Các chi tiêu động thái tăng trưởng chiều cao; đường kính thân; động thái ra lá được xác định vào các giai đoạn: 3- 4 lá thực; Ra hoa đầu tiên; cho thu quả lần đầu
+ Động thái tăng trưởng chiều cao thân chính: Đo trực tiếp 10 cây ngẫu nhiên ở mỗi ô thí nghiệm, đo từ cổ rễ đến đỉnh ngọn thân chính
+ Động thái ra lá của các giống ở thân chính và cành cấp 1, cấp 2 trên cây: Đếm trực tiếp 10 cây ngẫu nhiên ở mỗi ô thí nghiệm
+ Đường kính thân: Đo trực tiếp 10 cây ngẫu nhiên ở mỗi ô thí nghiệm bằng thước kỹ thuật tại cổ rễ thân chính
* Nghiên cứu khả năng quang hợp của 4 giống dưa chuột lai F1 trồng tại Tam Dương - Vĩnh Phúc