LUẬT TỔ CHỨC TÒA ÁN NHÂN DÂN NĂM 2014 - NHỮNG ĐIỂM MỚI VÀYÊU CẦU ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆC THỰC THI Luật Tổ chức tòa án được Quốc hội thông qua vào cuối năm 2014 vừa qua là một trong văn bản
Trang 1LUẬT TỔ CHỨC TÒA ÁN NHÂN DÂN NĂM 2014 - NHỮNG ĐIỂM MỚI VÀ
YÊU CẦU ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆC THỰC THI
Luật Tổ chức tòa án được Quốc hội thông qua vào cuối năm 2014 vừa qua
là một trong văn bản Luật được ban hành sớm nhất để cụ thể hóa các nguyêntắc, các qui định của Hiến pháp năm 2013, trong đó có nguyên tắc “Quyền lựcnhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quannhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” Nguyêntắc này thể hiện một tư duy đột phá của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong việc
tổ chức bộ máy nhà nước theo các yêu cầu của Nhà nước pháp quyền XHCN.Nguyên tắc này cho thấy quyền lực nhà nước ở Việt Nam được phân chia giữacác cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp, có sự kiểm soát chế ước lẫn nhau.Đây là nguyên tắc xuyên suốt để xây dựng và ban hành các luật về tổ chức bộmáy nhà nước Luật tổ chức tòa án năm 2014 được ban hành trên nền tảng củanguyên tắc này và cũng nhằm để chi tiết hóa nó trong tổ chức và hoạt động của
Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2014 có khá nhiều điểm mới và đặt trong bốicảnh hiện tại cũng có thể được coi là những bước đột phá đầu tiên hướng đếnmột hệ thống tòa án độc lập theo tinh thần của Hiến pháp 2013
- Điểm mới đầu tiên là sự xuất hiện của Tòa án nhân dân cấp cao trong hệ
thống tòa án của đất nước Với sự xuất hiện của tòa án cấp cao, hệ thống tòa án
đã bước đầu tách khỏi việc đặt tổ chức tòa án trong sự phụ thuộc vào địa giớihành chính Sự xuất hiện của tòa án cấp cao là cố gằng hiện thực hóa một trongnhững mục tiêu cụ thể của Chiến lược cải cách tư pháp được khởi xướng cáchđây gần tròn 10 năm Theo qui định của Luật tổ chức tòa án năm 2014, Tòa ánnhân dân cấp cao sẽ thực hiện chức năng phúc thẩm bản án, quyết định sơthẩm của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thuộc phạm vithẩm quyền theo lãnh thổ chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị;Giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa ánnhân dân cấp tỉnh và tương đương thuộc địa hạt pháp lý bị kháng nghị Tuychưa hoàn toàn độc lập với chính quyền địa phương do các tòa án có chức năngxét xử sơ thẩm đều được bố trí theo địa giới hành chính, nhưng Luật Tổ chứctòa án đang tạo những bước đi ban đầu tiến dần đến sự độc lập của cơ quan tưpháp đối với cơ quan hành pháp Hiện tại hệ thống tòa án theo Điều 3 của Luậtquy định về tổ chức Tòa án nhân dân bao gồm TANDTC; TAND cấp cao; TANDtỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; TAND huyện, quận, thị xã, thành phốthuộc tỉnh (và tương đương) và Tòa án quân sự
Thứ hai, thẩm phán được phân định theo ngạch gồm (i) thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao; (ii) thẩm phán cao cấp; (iii) thẩm phán trung cấp và (iv) thẩmphán sơ cấp Việc phân định này thực sự sẽ có ý nghĩa rất lớn trong việc thayđổi cách hiểu máy móc về vai trò và vị trí của thẩm phán Cách gọi và cách hiểu
có phần mặc định như trước đây là thẩm phán tỉnh, thẩm phán huyện vô hìnhtrung đã địa phương hóa chức danh này Thẩm phán dù ở địa phương nào,thẩm phán cấp nào đều là những người nhân danh nhà nước, phán quyết của
họ đều phải được mọi cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và công dân tôn trọng
và nếu có liên quan thì phải có nghĩa vụ thi hành Họ là những người được bổ
Trang 2nhiệm để thực hiện quyền lực tư pháp và không thể là viên chức của chínhquyền tỉnh, huyện và tuyệt nhiên không thể áp dụng các chế độ đãi ngộ, khenthưởng, kỷ luật áp dụng dành cho công chức nhà nước thông thường Việc phânđịnh cấp thẩm phán là quy định tiến bộ, song việc triển khai thực hiện nó cần cónhững bước tiếp cận mới, với sự đoạn tuyệt đối với tư duy và cách hành xử theo
đó thẩm phán tòa án tối cao có quyền lực cao hơn thẩm phán tòa án, thẩm phántòa án tỉnh có quyền lực và ảnh hưởng cao hơn tòa án huyện Cần bố trí đểtrong tòa án huyện cũng có thể thẩm phán cao cấp, thẩm phán trung cấp thẩmphán sơ cấp Toà án cấp nào cũng cần Thẩm phán có trình độ tinh thông, dạngchuyên gia luật pháp để hiểu đúng luật và áp dụng đúng luật ở cấp của mình.Bỡi vì đa số bản án có hiệu lực thi hành là bản sơ thẩm, ở cấp xét xử đầu tiên.Việc bổ nhiệm thẩm phán theo ngạch cao cấp, trung cấp hay sơ cấp không nêngắn với nơi làm việc mà gắn với trình độ chuyên môn, thâm niên nghề nghiệp,bản lĩnh chuyên môn thông qua những cuộc sát hạch khách quan, qua đánh giácủa dư luận xã hội Trong thực tiễn những năm vừa qua, có những Thẩm phán
có thâm niên xét xử gần 40 nhưng do là thẩm phán huyện nên lương của họcũng chỉ đóng khung trong ngạch lương thẩm phán huyện Vì thế, không ít thẩmphán quan ngại việc làm việc ở huyện do cơ hội trở thành thẩm phán ngạch cao
Thứ ba, Luật Tổ chức tòa án 2014 thể hiện sự thay đổi quan trọng đối với
nhiệm kỳ của thẩm phán Rất nhiều nhà khoa học khi góp ý dự thảo Luật Tổchức tòa án cho rằng cần qui định nhiệm kỳ của thẩm phán là 10 năm hoặc trọnđời, tránh cho thẩm phán đầu phải chịu áp lực của việc tái bổ nhiệm Qui địnhmới của Luật Tổ chức tòa án có sự dung hòa giữa những đề xuất mới và quiđịnh của Luật Tổ chức tòa án năm 2002 Việc bổ nhiệm thẩm phán với nhiệm kỳđầu tiên là 5 năm và các nhiệm kỳ sau nếu được tái bổ nhiệm là 10 năm cũngchứa đựng sự hợp lý nhất định Mặc dù chưa giống như nhiều quốc gia trên thếgiới thẩm phán được bổ nhiệm suốt đời, qui định tái bổ nhiệm với nhiệm kỳ 10năm cũng giải tỏa phần nào áp lực của thẩm phán trước vị trí của mình, giúp họtrở nên bản lĩnh hơn trong xét xử Thực tế cho thấy việc bổ nhiệm thẩm phántheo Luật Tổ chức TAND năm 2002 khiến cho rất nhiều thẩm phán trước thời tái
bổ nhiệm gần như trở nên thiếu tự tin, lo lắng Việc bổ nhiệm suốt đời hoặc bổ nhiệm với nhiệm kỳ dài bắt nguồn từ tínhchất hoạt động của thẩm phán Lao động của Thẩm phán là lao động đặc biệt,lao động được nhà nước trực tiếp phân công (Chủ tịch nước bổ nhiệm) Khi xét
xử, thẩm phán nhân danh công lý, nhân danh quốc gia, thực thi công lý theo sự
ủy thác của nhân dân Khi xét xử, người Thẩm phán phải tuân thủ nghiêm ngặtnhững nguyên tắc nhất định, trong đó nguyên tắc cơ bản và quan trọng nhất làđộc lập, chỉ tuân theo pháp luật Thẩm phán cùng lúc phải tuân thủ các ngyêntắc hết sức khắt khe như: "Không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm"hay "xét xử tập thể và tuân theo đa số" nhưng lại phải "độc lập xét xử và chỉ tuântheo pháp luật" Thẩm phán chỉ làm tốt những điều này nếu có những điều kiệnphù hợp với tính chất của nghề nghiệp mà họ đảm nhiệm Việc tích lũy kiếnthức, kinh nghiệm, bản lĩnh theo thời gian cũng là một trong những điều kiện
Thứ tư, Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của TAND trong lĩnh vực tố tụng
Trang 3hình sự được mở rộng và phản ánh tốt hơn bản chất của quyền lực tư pháp Một
số điểm mới liên quan đến chức năng, quyền hạn của thẩm phán được thể hiệnkhá rõ nét trong Điều 2 của Luật Tổ chức tòa án năm 2014 Đáng chú ý là nhữngđiểm mới sau: (i) xem xét, kết luận về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định
tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Luật sư trong quá trình điều tra, truy tố,xét xử; (ii) Xem xét, kết luận về tính hợp pháp của các chứng cứ, tài liệu do Cơquan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập, do Luật sư, bịcan, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác cung cấp; (iii) Khi xét thấy cầnthiết, trả hồ sơ yêu cầu Viện kiểm sát điều tra bổ sung; yêu cầu Viện kiểm sát bổsung tài liệu, chứng cứ hoặc Tòa án kiểm tra, xác minh, thu thập, bổ sung chứng
cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; (iv) Yêu cầu Điều tra viên, Kiểmsát viên và những người khác trình bày về các vấn đề có liên quan đến vụ án tạiphiên tòa; (vi) khởi tố vụ án hình sự nếu phát hiện có việc bỏ lọt tội phạm Những điểm mới trên có ý nghĩa rất lớn đối với việc nâng cao vai trò của tòa
án, biến tòa án thành một biểu tượng của quyền lực nhà nước và công lý Cácqui định mới này hướng tới sự kiểm soát của tòa án đối với hoạt động điều tra,tuy tố Quyền lực của cơ quan điều tra, công tố cần được kiểm soát và không ai
có thể kiểm soát tốt hơn so với thẩm phán thông qua thủ tục tố tụng công khai,dân chủ tại phiên toà, nơi tập trung những người tiến hành và người tham gia tốtụng và nơi mà các thành tố này chỉ được phép tìm tới sự thật khách quan của
vụ việc bằng công cụ pháp luật Tuy nhiên, để những qui định mới phát huyđược tác dụng rất cần đến những giải pháp cụ thể và toàn diện, đặc biệt là việc
Đầu tiên, có thể thấy việc giao cho tòa án xem xét kết luận tính hợp pháp củacác hành vi, quyết định tố tụng của kiểm sát viên, điều tra viên, xem xét tính hợppháp của chứng cứ, tài liệu do cơ quan điều tra, truy tố thu thập, luật sư, bị can,
bị cáo và những người khác cung cấp là hết sức đúng đắn Tố tụng hình sự làmột chuỗi các hành động, quyết định của cơ quan điều tra, công tố Muốn manglại công lý cho người dân, thẩm phán phải trước hết phải chắc chắn việc đưa bịcáo đưa ra trước tòa là kết quả của những hành vi, quyết định tố tụng đúng đắn,phù hợp với pháp luật Tuy nhiên, thẩm phán, tòa án phải thực hiện việc xem xétcác hành vi, quyết định tố tụng tại phiên tòa một cách độc lập, khách quan Vìvậy, cần hoàn thiện pháp luật tố tụng để thẩm phán, hội đồng xét xử có thể thựchiện việc này mà không có sự phối hợp hoặc với cơ quan điều tra, công tố Phốihợp cần ở các cơ quan nhà nước khác song không nên tồn tại trong hoạt độngxét xử của tòa án Vì vậy, luật tố tụng hình sự cần có những qui định chặt chẽnhằm loại trừ dần những cuộc họp bàn án giữa các cơ quan điều tra, truy tố vàtòa án Tương tự, thẩm phán phải dựa trên những chứng cứ hợp pháp, có độ tincậy cao Việc trao cho thẩm phán xem xét tính hợp pháp của chứng cứ, tài liệu
do có quan điều tra, truy tố thu thập, do luật sư và bị cáo cung cấp thông qua thủtục tố tụng rất phù hợp với yêu cầu của thực tiễn tư pháp ở nước ta Việc giaoquyền đánh giá chứng cứ cho Thẩm phán là điều kiện cần, điều kiện đủ là phảihình thành các quy định để đảm bảo cho việc thẩm phán hoàn toàn độc lập vàbình đẳng trong việc đánh giá chứng cứ cho dù đó là chứng cứ của cơ quan nhànước hay của luật sư, bị can hay người khác đưa ra Quyền của thẩm phán trả hồ sơ yêu cầu Viện kiểm sát điều tra bổ sung; yêu
Trang 4cầu Viện kiểm sát bổ sung tài liệu, chứng cứ hoặc Tòa án kiểm tra, xác minh, thuthập, bổ sung chứng cứ cũng là một điểm gây tranh luận về học thuật Một số ýkiến cho rằng việc trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung, yêu cầu bổ sung tài liệutrong quá trình xét xử về bản chất không khác gì sự phối hợp giữa cơ quan truy
tố và thẩm phán để buộc tội cho bằng được bị cáo Thực tiễn hoạt động xét xửcho thấy không ít trường hợp khi tòa án yêu cầu điều tra lại, cơ quan công tố, cơquan điều tra không thực hiện và yêu cầu tòa án xử theo những chứng cứ đã có.Trong trường hợp này, thẩm phán phải xử mặc dù thấy chứng cứ không thỏađáng Thẩm phán cũng chỉ có thể xử theo tội danh khác bằng hoặc nhẹ hơn chứkhông được xử theo tội danh nặng hơn so với truy tố của cáo trạng Trường hợpnày thực tiễn còn tồn tại hướng dẫn là toà án phải trã hồ sơ cho Viện kiểm sát
để đề nghị truy tố về tội nặng hơn, nếu Viện kiểm sát không truy tố theo tội danhnặng hơn thì toà vẫn xét xử theo tội danh đã truy tố và báo cáo lên toà án cấptrên Quy định này rõ ràng là không nhất quán nguyên tắc Hiến định là khi xét xửThẩm phán độc lập và chỉ tuân theo pháp luật Việc trả hồ sơ yêu cầu bổ sungthực sự sẽ trở thành vấn đề nếu trong Bộ luật tố tụng hình sự sắp tới không cónhững điều chỉnh thích hợp Quan điểm cần ủng hộ là Bộ luật tố tụng hình sựcần qui định việc trả hồ sơ yêu cầu bổ sung chỉ trong những trường hợp rất hạnchế và với những điều kiện chặt chẽ Nhìn chung, cần trao cho thẩm phán quyềntuyên bố bị cáo vô tội nếu hội đồng xét xử thấy chứng cứ không đủ để buộc tội bịcáo Qui định này sẽ buộc cơ quan điều tra, truy tố đặc biệt cẩn trọng khi chuẩn
bị hồ sơ, chứng cứ và giúp tránh được những vụ án oan Đồng thời, quy địnhnày cũng hạn chế được việc thẩm phán thiếu bản lĩnh, sợ trách nhiệm, khôngdám phán quyết theo đúng tình trạng hồ sơ và kết quả tranh tụng, trã hồ sơ cho
an toàn, làm kéo dài vụ án, ảnh hưởng quyền lợi của người tham gia tố tụng Việc qui định cho tòa án được xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ cũng làđiểm mới nhằm nâng cao vai trò của tòa án trong thực thi quyền lực tư pháp.Tuy nhiên, điểm mới này rất đáng quan ngại về mặt lý luận, về mặt tổ chứcquyền lực tư pháp và tính khả thi trong tương lai Giao cho tòa án quyền thu thập
bổ sung chứng cứ dễ biến tòa án thành cơ quan điều tra và như vậy xóa mờranh giới giữa quyền lực tư pháp và quyền lực hành pháp, điều mà Hiến pháp
2014 đã xác định rõ ràng hơn Một khía cạnh lý luận nữa tòa án bổ sung chứng
cứ để làm rõ vấn đề cho bên nào? Liệu điều này có làm mất đi vị thế “trọng tài”giữa cơ quan truy tố và bị cáo hay không? Ai sẽ tiến hành thu thập, bổ sungchứng cứ? thành viên của hội đồng xét xử hay cán bộ của tòa án? Liệu việc thuthập chứng cứ này có dẫn tới những mối quan hệ thân hữu hay sự thiếu thiệncảm với bị cáo, luật sư? Những vấn đề nêu trên đặt ra cho Bộ luật tố tụng hình
sự những yêu cầu đối với việc tòa án thực hiện việc thu thập, bổ sung chứng cứ
Bộ luật tố tụng hình sự cần qui định rõ trong trường hợp nào thì tòa án có thể thuthập, bổ sung chứng cứ Hơn nữa, việc thu thập, bổ sung chứng cứ được thựchiện như thế nào? phạm vi, giới hạn và những công cụ pháp lý nào để toà án
Thứ năm, Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Hội đồng Thẩm phán
TANDTC là quyết định cao nhất, không bị kháng nghị là là qui định rất phù hợpvới yêu cầu thực tiễn hoạt động xét xử Về mặt lý luận, tòa án thực hiện quyền
tư pháp và chỉ có bản án của tòa án mới được coi là nhân danh công lý Nếu
Trang 5bản án của tòa án bị bất cứ cơ quan nào xem xét lại thì quyền lực tư pháp khôngcòn ý nghĩa Điểm mới này của Luật Tổ chức tòa án sẽ mang lại nhiều giá trịthực tiễn, chấm dứt tình trạng các vụ án vòng đi vòng lại nhiều lần, mất hàngchục năm vẫn chưa có điểm dừng Không một quốc gia nào huy động cả hệthống tòa án để xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, sau đó giám đốc thẩm, tái thẩm vàđưa trở lại vòng thứ hai, thứ ba đối với vụ án giá trị không lớn Ngay cả những
vụ án lớn, cũng cần có điểm dừng trong phạm vi cơ quan tư pháp Việc xử ánqua nhiều vòng đối với những vụ án giá trị không lớn, không đáng kể chính là sựlãng phí nguồn lực xã hội Chính vì vậy, Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật tố tụngdân sự, Luật tố tụng hành chính cần phải được sửa đổi để đảm bảo việc giámđốc thẩm, tái thẩm các bản án đã có hiệu lực phải đáp ứng các yêu cầu luật địnhhết sức nghiêm ngặt Ngay cả kháng nghị phúc thẩm cũng cần phải cân nhắcxem liệu có cần huy động hệ thống tư pháp để phúc thẩm những bản án mà giátrị của nó chỉ là thỏa mãn sự hiếu thắng, sự cố chấp của một bên trong vụ án.Đặc biệt, các vụ án đã có hiệu lực, được các bên thoả thuận thi hảnh hoặc cơquan có thẩm quyên tổ chức thi hành xong, về mặt nội dung không có sai lầmlớn, song thủ tục tố tụng có vi phạm thì cũng không nên quy định giám đốc thẩmnhững trường hợp này bỡi vì ý nghĩa chính trị, pháp lý, kinh tế, xã hội không lớn Tóm lại, Luật Tổ chức tòa án năm 2014 tuy có những điểm mới nhất định thểhiện trong các qui định Tuy nhiên, để có thể phát huy giá trị của những qui địnhmới này thì các văn bản pháp luật tố tụng cần được hoàn thiện một cách tươngthích Nếu các cơ quan được giao soạn thảo các văn bản pháp luật này khôngtính đến triết lý, chính sách bên trong các điểm mới này thì chắc chắn hệ thốngtòa án khó có thể mang lại những đột phá cần thiết mà Hiến pháp năm 2013 đãđặt nền tảng và người dân đang kỳ vọng
1 Chức năng, nhiệm vụ và tổ chức Toà án nhân dân trong Hiến pháp năm 2013
Quy định của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Hiến pháp năm 2013) về Tòa án nhân dân được thực hiện trên cơ sở quán triệt quan điểm của Đảng về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và Cải cách tư pháp ở nước ta trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước.
Thứ nhất, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân là tư tưởng
xuyên suốt được thể hiện trong các Văn kiện của Đảng ta nhiều năm nay Từ góc độ tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mang những đặc điểm chính sau đây:
Một là, bảo đảm dân chủ xã hội chủ nghĩa; tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công
dân Tổ chức và hoạt động của cơ quan tư pháp phải nhằm mục đích bảo vệ công lý, bảo đảm quyền con người theo quy định của pháp luật
Hoạt động tư pháp là hoạt động giải quyết các tranh chấp trong xã hội, xử lý các vi phạm pháp luật Hoạt động đó liên quan trực tiếp đến các quyền và lợi ích của con người, của công dân Vì
Trang 6vậy, trong hoạt động Tư pháp, vi phạm quyền con người, quyền công dân và lợi ích chính đáng
có nguy cơ xảy ra rất cao Do đó, tổ chức và hoạt động tư pháp, nhất là của Tòa án một mặt phải hiệu quả, bảo vệ quyền con người, lợi ích nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; nhưng trước hết, Tòa án phải là biểu tượng của Công lý, là nơi công dân gửi gắm niềm tin rằng bất kỳ vi phạm pháp luật nào cũng bị xử lý nghiêm minh; bất kỳ quyền hoặc lợi ích hợp pháp nào của con người, của công dân bị xâm phạm đều được bảo vệ theo đúng pháp luật Do vậy, mỗi khi con người có tranh chấp và khởi kiện đến Toà án thì Toà án không được từ chối giải quyết vì bất cứ một lý do gì.
Hai là, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ
quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp
Quyền lực nhà nước (cũng là quyền lực của nhân dân) là thống nhất, không thể phân chia Tuy nhiên, việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp phải được phân công rõ ràng theo chức năng cơ bản của mỗi loại cơ quan: Quyền lập pháp phải do cơ quan lập pháp - Quốc hội - thực hiện; quyền hành pháp phải do cơ quan hành pháp - Chính phủ - thực hiện; quyền tư pháp phải do cơ quan tư pháp - Toà án - thực hiện Ví dụ, không thể để tình trạng giao cho cơ quan hành pháp thẩm quyền xét xử, giải quyết tranh chấp, xử lý vi phạm pháp luật (thuộc chức năng tư pháp) và ngược lại Bởi vì điều đó trái với nguyên tắc phân công thực hiện quyền lực của Nhà nước pháp quyền, dẫn đến tình trạng chồng chéo nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan và vì vậy làm giảm hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước.
Khi đã có sự phân công thực hiện quyền lực nhà nước thì không thể thiếu sự giám sát, kiểm soát việc thực hiện quyền lực giữa các cơ quan để tránh lạm quyền Đây là điểm mới rất quan trọng trong quan điểm xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta Do đó, việc xây dựng các cơ chế (giám sát ngoài hệ thống, giám sát trong từng hệ thống; giám sát nhà nước và giám sát xã hội…) để hoạt động giám sát phù hợp với từng loại cơ quan, tránh chồng chéo, trùng lắp, bảo đảm khách quan, hiệu quả là rất cần thiết Đối với Tòa án nhân dân, do xuất phát từ chức năng (xét xử, áp dụng pháp luật để xử lý các vi phạm, tranh chấp pháp luật), tổ chức (theo cấp xét xử, không theo đơn vị hành chính) và các nguyên tắc hoạt động cơ bản (như nguyên tắc xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nguyên tắc hai cấp xét xử; nguyên tắc Tòa án cấp trên giám đốc hoạt động xét xử Tòa án cấp dưới)… đòi hỏi cơ chế kiểm soát, giám sát phải có tính đặc thù, tránh trường hợp "vừa đá bóng, vừa thổi còi", ảnh hưởng đến tính đúng đắn, khách quan của hoạt động tư pháp; đảm bảo thực hiện nguyên tắc độc lập xét xử của Tòa án
Thứ hai, việc thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp ở nước ta nhằm mục đích xây dựng hệ
thống tư pháp trong sạch, vững mạnh, hiệu quả, bảo vệ công lý, tôn trọng và bảo vệ quyền con người.
Làm rõ quyền tư pháp và từ đó xác định cơ quan có chức năng thực hiện quyền tư pháp là rất quan trọng Quyền tư pháp là quyền xét xử, tức quyền áp dụng pháp luật để ra phán quyết về các vi phạm pháp luật và các tranh chấp xảy ra trong xã hội Tòa án là cơ quan duy nhất thực hiện quyền tư pháp, là cơ quan xét xử duy nhất của Nhà nước Vì vậy, xử lý các vi phạm pháp luật bằng chế tài Nhà nước, giải quyết các tranh chấp bằng quyền lực Nhà nước đều phải thuộc thẩm quyền của Tòa án Các cơ quan nhà nước khác tham gia vào việc xử lý, giải quyết đó không phải là cơ quan tư pháp, không có chức năng thực hiện quyền tư pháp mà các cơ quan này chỉ thực hiện các hoạt động tư pháp Từ đó, mở rộng thẩm quyền của Tòa án trong xét xử các loại vụ án, giao cho Tòa án bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật là xu thế tất yếu của nhà nước pháp quyền Điều đó thể hiện vị trí trung tâm của Tòa án trong hệ thống tư pháp, khẳng định vị trí trọng tâm của hoạt động xét xử trong các hoạt động tư pháp.
Hiến pháp năm 2013 kế thừa những nội dung hợp lý, phù hợp của Hiến pháp năm 1992 về Tòa
án nhân dân, đồng thời có những sửa đổi, bổ sung quan trọng đáp ứng yêu cầu Cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay.
Tại Điều 102 của Hiến pháp quy định chức năng, hệ thống tổ chức và nhiệm vụ của Tòa án nhân dân như sau:
1 Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp.
Trang 72 Tòa án nhân dân gồm Tòa án nhân dân tối cao và các Tòa án khác do luật định
3 Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo
vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức,
cá nhân
Như vậy, cũng như Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013 khẳng định chỉ Tòa án nhân dân tối cao, các Tòa án khác do luật định là những cơ quan duy nhất thực hiện quyền tư pháp, tức có chức năng xét xử các vụ án, giải quyết các việc có tranh chấp theo thẩm quyền quy định Ngoài Tòa án nhân dân không có cơ quan nào khác được giao phán xử về các vi phạm pháp luật, các tranh chấp trong xã hội Quy định này phù hợp với việc phân công thực hiện quyền lực trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định bản chất nhân dân của Tòa án nước ta thông qua tên gọi và các nguyên tắc tổ chức, hoạt động Tuy nhiên, khác với Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013 có quy định mới về hệ thống tổ chức và nhiệm vụ của Tòa án nhân dân Khoản 2 Điều
102 quy định khái quát, theo nguyên tắc mở về hệ thống Tòa án nhân dân Ngoài Tòa án nhân dân tối cao, Hiến pháp năm 2013 không liệt kê cụ thể các Tòa án khác, mà giao cho luật định Điều này bảo đảm tính khái quát, ổn định lâu dài của Hiến pháp và tính linh hoạt của luật phù hợp nhu cầu phát triển của đất nước trong từng thời khác nhau Cụ thể hoá Hiến pháp, Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 2014 quy định Toà án nhân dân ở nước ta gồm Toà án nhân dân tối cao, các Toà án nhân dân cấp cao, Toà án nhân dân cấp tỉnh và Toà án nhân dân cấp huyện Hiến pháp năm 2013 không quy định về Tòa án đặc biệt để phù hợp với bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, với yêu cầu bảo vệ quyền con người, hội nhập quốc tế hiện nay, đồng thời bỏ quy định về tổ chức hòa giải ở cơ sở Bởi vì, dù việc thành lập các tổ chức ở cơ sở
để giải quyết những việc vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong nhân dân là cần thiết, nhưng lại không thuộc chức năng tư pháp của Tòa án nhân dân, không thuộc hệ thống Tòa án nhân dân
và không cần thiết ở mức hiến định.
Quy định của Hiến pháp năm 2013 về nhiệm vụ của Tòa án nhân dân cũng là một điểm mới cần ghi nhận Thay cho việc quy định chung nhiệm vụ của Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân với nội dung không thể hiện tính đặc thù trong hoạt động của Tòa án, Hiến pháp năm 2013 quy định riêng nhiệm vụ của Tòa án nhân dân.
Hiến pháp nhấn mạnh rằng bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân là những nhiệm vụ đầu tiên của Tòa án nhân dân, sau đó mới là nhiệm vụ bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân Tòa án phải là nơi mà mọi người, mọi công dân tìm đến lẽ phải, sự thật; có nhiệm vụ bảo vệ công lý khi quyền, lợi ích của cá nhân, cơ quan, tổ chức bị xâm hại; khi công dân yêu cầu Toà án giải quyết mọi tranh chấp thì Toà án có trách nhiệm thụ lý giải quyết mà không có quyền từ chối
2 Các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân
Điều 103 Hiến pháp năm 2013 quy định các nguyên tắc cơ bản tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân Đó là:
1 Việc xét xử sơ thẩm của Toà án nhân dân có Hội thẩm tham gia, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn.
2 Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức,
cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm.
3 Toà án nhân dân xét xử công khai Trong trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, thuần phong, mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người chưa thành niên hoặc giữ bí mật đời tư theo yêu cầu chính đáng của đương sự, Tòa án nhân dân có thể xét xử kín.
4 Toà án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa số, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn.
5 Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm.
6 Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm.
Trang 87 Quyền bào chữa của bị can, bị cáo, quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của đương sự được bảo đảm.
Theo quy định trên thì Hiến pháp năm 2013 đã kế thừa và có bổ sung cho chính xác, phù hợp với thực tiễn và tinh thần cải cách tư pháp một số nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân - cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp ở nước ta Đó là:
- Nguyên tắc xét xử có hội thẩm tham gia
Theo Hiến pháp năm 2013 thì Hội thẩm chỉ tham gia trong xét xử ở cấp sơ thẩm; còn việc xét xử
ở cấp phúc thẩm là không bắt buộc Sự sửa đổi này cũng xuất phát từ thực tiễn xét xử những năm qua.
- Nguyên tắc thẩm phán và hội thẩm xét xử độc lập
Nguyên tắc này có một bổ sung quan trọng trong Hiến pháp năm 2013 Đó là “Cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm” Bổ sung này nhấn mạnh tầm quan trọng cũng như thái độ dứt khoát của Nhà nước ta đối với việc can thiệp vào hoạt động xét
xử của Tòa án, bảo đảm quan trọng cho việc thực hiện nguyên tắc này trên thực tế
- Nguyên tắc xét xử tập thể
Để thực hiện cải cách tư pháp, nâng cao hiệu quả của việc xét xử, bảo đảm cho việc xét xử nhanh chóng, kịp thời, tiết kiệm, Hiến pháp năm 2013 quy định ngoại lệ cho phép Tòa án xét xử bằng một Thẩm phán trong trường hợp áp dụng thủ tục rút gọn
- Nguyên tắc xét xử công khai
Thay cho quy định trường hợp ngoại lệ do luật định trong Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm
2013 quy định cụ thể điều kiện cho phép Tòa án xét xử kín Đó là “Trong trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, thuần phong, mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người chưa thành niên hoặc giữ
bí mật đời tư theo yêu cầu chính đáng của đương sự” thì Toà án phải xét xử kín;
- Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo, quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của đương sự
Để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ quyền con người một cách toàn diện, công bằng, Hiến pháp năm
2003 ngoài việc quy định quyền bào chữa của bị can, bị cáo, còn bổ sung việc bảo đảm quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của các đương sự khác như người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong hoạt động xét xử của Tòa án.
Đồng thời, Hiến pháp năm 2013 bổ sung một số nguyên tắc quan trọng, bảo đảm sự phù hợp với tinh thần Cải cách tư pháp, bảo vệ quyền con người và thông lệ quốc tế Các nguyên tắc được
bổ sung là:
- Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm
Đây là nguyên tắc thể hiện nội dung rất quan trọng trong Cải cách tư pháp ở nước ta Sự thật chỉ được xác định, công lý chỉ được thiết lập khi có sự tranh tụng giữa các bên trong tố tụng tư pháp, nhất là trong xét xử các vụ án;
- Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm
Nguyên tắc hai cấp xét xử là nguyên tắc xuyên suốt của hệ thống tư pháp của bất kỳ một quốc gia nào; được ghi nhận trong các văn kiện quốc tế về quyền con người và pháp luật của mọi quốc gia Thực hiện hai cấp xét xử là một trong những biện pháp bảo vệ quyền con người hữu hiệu; đồng thời bảo đảm cho hoạt động tư pháp thận trọng nhưng có điểm dừng, tránh kéo dài, chậm trễ.
Khác với Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013 không quy định nguyên tắc Toà án nhân dân bảo đảm cho công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc các dân tộc quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình trước Toà án Đây là một quy định rất quan trọng, nhưng không chỉ trong lĩnh vực tư pháp, mà cả trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Tinh thần quan trọng này đã được Hiến pháp năm 2013 quy định tại khoản 3 Điều 5 “Các dân tộc có quyền
Trang 9dùng tiến nói, chữ viết… của mình”, nên không cần quy định lặp lại ở chương về Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân nữa
Hiến pháp năm 2013 không quy định nguyên tắc xét xử trực tiếp, nguyên tắc xét xử liên tục vì không đặc trưng cho hoạt động xét xử và phù hợp với thực tiễn hoạt động tư pháp ngày càng phức tạp, thường xuyên kéo dài hiện nay Đồng thời, tạo điều kiện để Toà án hoạt động có hiệu quả về mặt thời gian, chi phí vật chất; sử dụng công nghệ kỹ thuật số hiện đại; bảo đảm an toàn cho những người tham gia tố tụng khi cần thiết.
3 Chế độ bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức và nhiệm kỳ các chức danh trong Tòa án nhân dân, chế độ trách nhiệm của Chánh án
Các Điều 104, Điều 105, Hiến pháp năm 2013 cơ bản vẫn giữ lại các quy định của Hiến pháp năm 1992 về Tòa án nhân dân tối cao cũng như Chánh án, Thẩm phán Tòa án nhân dân và có những bổ sung cần thiết
Ngoài việc giữ lại quy định Tòa án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Tòa án nhân dân tối cao giám đốc việc xét xử của các Tòa án khác, trừ trường hợp do luật định, Hiến pháp năm 2013 bổ sung nhiệm vụ của Tòa án nhân dân tối cao là thực hiện việc tổng kết thực tiễn xét xử, bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử Như vậy, Hiến pháp năm 2013 giao cho Tòa án nhân dân tối cao bằng các biện pháp khác nhau như hướng dẫn áp dụng pháp luật bằng các nghị quyết; ban hành án lệ… để bảo đảm
áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử của các Tòa án nhân dân.
Hiến pháp năm 2013 bổ sung quy định về Chánh án, Thẩm phán các cấp Theo đó, nhiệm kỳ của Chánh án Toà án nhân dân tối cao theo nhiệm kỳ của Quốc hội; việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức và nhiệm kỳ của Chánh án Tòa án khác, của Thẩm phán, nhiệm kỳ của Hội thẩm do luật định Đây là những căn cứ hiến định cho việc cụ thể hóa quy định của Hiến pháp trong Luật tổ chức Tòa án nhân dân.
Hiến pháp năm 2013 có bổ sung quan trọng về việc bổ nhiệm Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Theo khoản 7 Điều 70, Khoản 3 Điều 88 thì Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao do Chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức theo phê chuẩn của Quốc hội Thẩm phán các cấp khác
do Chủ tịch nước bổ nhiệm theo đề nghị của Hội đồng tuyển chọn và giám sát Thẩm phán quốc gia Quy định này thể hiện nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước trong Nhà nước pháp quyền, nâng cao vị thế của cơ quan tư pháp (Toà án) tương xứng với cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp; bảo đảm nguyên tắc phân công, phối hợp và kiểm soát lẫn nhau giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Về chế độ báo cáo và chế độ trách nhiệm, Chánh án Toà án nhân dân tối cao chịu trách nhiệm
và báo cáo công tác trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước.
Một điều đáng lưu ý là Hiến pháp năm 2013 chỉ quy định về chế độ báo cáo của các Tòa án khác, mà không quy định chế độ trách nhiệm như Hiến pháp năm 1992 Đây cũng là sửa đổi quan trọng của Hiến pháp năm 2013, nhằm hướng tới xây dựng hệ thống Tòa án không quá phụ thuộc vào các đơn vị hành chính lãnh thổ; bảo đảm nguyên tắc độc lập xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm.
Hiến pháp năm 2013 giữ lại quy định của Hiến pháp năm 1992 về hiệu lực của phán quyết mà Tòa đưa ra, nhưng được diễn đạt lại cho gọn Điều 106 quy định “Bản án, quyết định của Toà án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức,
cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành”.
PGS TS Trần Văn Độ Phó Chánh án – Tòa án nhân dân tối cao
ột số điểm mới của luật tổ chức Toà án nhân dân năm 2014
Trang 10Ngày 24/11/2014, tại kỳ họp thứ 8 (Quốc hội khóa XIII) Quốc hội đã thông qua Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2014 Luật sẽ chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/6/2015 và thay thế cho Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2002 Với 11 chương, 98 điều, luật cơ bản thay đổi một số nội dung như quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và
tổ chức bộ máy của TAND; về Thẩm phán, Hội thẩm và các chức danh khác trong TAND; về bảo đảm hoạt động của TAND…cụ thể:
Thứ nhất, về chức năng, nhiệm vụ của Tòa án nhân dân
Điều 2 của Luật quy định:
- Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp.
Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Bằng hoạt động của mình, Tòa án góp phần giáo dục công dân trung thành với Tổ quốc, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, tôn trọng những quy tắc của cuộc sống xã hội, ý thức đấu tranh phòng, chống tội phạm, các vi phạm pháp luật khác.
- Tòa án nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xét xử các
vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính và giải quyết các việc khác theo quy định của pháp luật; xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình tố tụng; căn cứ vào kết quả tranh tụng ra bản án, quyết định việc có tội hoặc không có tội, áp dụng hoặc không áp dụng hình phạt, biện pháp tư pháp, quyết định về quyền và nghĩa vụ về tài sản, quyền nhân thân.
Bản án, quyết định của Tòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được
cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành.
- Khi thực hiện nhiệm vụ xét xử vụ án hình sự, Tòa án có quyền:
+ Xem xét, kết luận về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Luật sư trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử; xem xét việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án;
+ Xem xét, kết luận về tính hợp pháp của các chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; do Luật sư,
bị can, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác cung cấp;
Trang 11+ Khi xét thấy cần thiết, trả hồ sơ yêu cầu Viện kiểm sát điều tra bổ sung; yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung tài liệu, chứng cứ hoặc Tòa án kiểm tra, xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; + Yêu cầu Điều tra viên, Kiểm sát viên và những người khác trình bày về các vấn đề có liên quan đến vụ án tại phiên tòa; khởi tố vụ án hình sự nếu phát hiện có việc bỏ lọt tội phạm;
+ Ra quyết định để thực hiện các quyền hạn khác theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Trong quá trình xét xử vụ án, Tòa án phát hiện và kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ văn bản pháp luật trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức; cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm trả lời Tòa án kết quả xử
lý văn bản pháp luật bị kiến nghị theo quy định của pháp luật làm cơ sở để Tòa
án giải quyết vụ án.
Với những quy định mới về chức năng nhiệm vụ của Toà án, Luật tổ chức TAND năm 2014 đã cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013, bảo đảm Tòa án là cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp; có nhiệm vụ bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân ; bảo đảm nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; thể chế hóa những định hướng của Đảng về cải cách tư pháp.
Thứ hai, Về tổ chức bộ máy TAND gồm 4 cấp theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính.
Theo đó, tổ chức Tòa án nhân dân gồm: Tòa án nhân dân tối cao; các Tòa
án nhân dân cấp cao; các Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; các Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương; các Toà án quân sự (Điều 3).
Về thẩm quyền của các Toà án Luật quy định:
- Đối với Tòa án nhân dân cấp cao có nhiệm vụ xét xử phúc thẩm các bản
án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị; giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định của Toà án thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị bằng Hội đồng 3 Thẩm phán hoặc Hội đồng toàn thể Uỷ ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao.
Trang 12- Về Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, theo quy định của Luật, Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xét xử phúc thẩm các bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án nhân dân sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị và xét xử sơ thẩm một số vụ án không thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; không thực hiện nhiệm vụ giám đốc thẩm, tái thẩm.
- Về Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương, theo quy định của Luật, Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương có nhiệm vụ, quyền hạn xét xử sơ thẩm hầu hết các vụ, việc thuộc thẩm quyền của Toà án và giải quyết các loại việc khác theo quy định của pháp luật.
- Về Toà án quân sự, theo quy định tại Điều 49 của Luật, các Toà án quân
sự được tổ chức trong Quân đội nhân dân Việt Nam để xét xử những vụ án mà
bị cáo là quân nhân tại ngũ và những vụ án khác theo quy định của luật.
Với quy định trên luật Tổ chức toà án nhân dân năm 2014 thì Tổ chức bộ máy của các Toà án được quy định theo hướng chuyên môn hoá nhưng linh hoạt, tránh cồng kềnh, gây tốn kém, lãng phí, bảo đảm phù hợp với các nguyên tắc về
tổ chức và hoạt động của cơ quan thực hiện quyền tư pháp, đó là tổ chức theo thẩm quyền xét xử, bảo đảm độc lập xét xử , góp phần khắc phục những hạn chế, bất cập trong tổ chức và hoạt động của Tòa án hiện nay Đây cũng là phương thức để nâng cao vị trí, vai trò của Tòa án trong Nhà nước pháp quyền XHCN.
Thứ ba, về nhiệm kỳ làm việc, chế độ, chính sách của Thẩm phán
Theo quy định tại Điều 74 của Luật mới thì nhiệm kỳ đầu của các Thẩm phán là 5 năm; trường hợp được bổ nhiệm lại hoặc được bổ nhiệm vào ngạch Thẩm phán khác thì nhiệm kỳ tiếp theo là 10 năm.
Luật quy định có 4 ngạch Thẩm phán (Điều 66) gồm: Thẩm phán TANDTC, Thẩm phán cao cấp, Thẩm phán trung cấp và Thẩm phán sơ cấp Điểm mới nữa là Luật quy định thành lập Hội đồng tuyển chọn, giám sát Thẩm phán quốc gia.
Điều 75 của Luật quy định về chế độ, chính sách đối với Thẩm phán, theo đó: Nhà nước có chính sách ưu tiên về tiền lương, phụ cấp đối với Thẩm phán; Thẩm phán được cấp trang phục, Giấy chứng minh Thẩm phán để làm nhiệm vụ; Thẩm phán được bảo đảm tôn trọng danh dự, uy tín; được bảo vệ khi thi hành công vụ và trong trường hợp cần thiết; Thẩm phán được đào tạo, bồi
Trang 13dưỡng để nâng cao trình độ và nghiệp vụ Tòa án; nghiêm cấm các hành vi cản trở, đe dọa, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của Thẩm phán và thân nhân của Thẩm phán; Thẩm phán được tôn vinh và khen thưởng theo quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng.
Thứ 4 quy định về Hội thẩm.
Các quy định về Hội thẩm cũng có những bổ sung quan trọng nhằm khắc phục những tồn tại, bất cập hiện nay trong tổ chức và hoạt động của Hội thẩm Tòa án nhân dân; bảo đảm việc tham gia của Hội thẩm vào công tác xét xử là phương thức để nhân dân thực hiện quyền tư pháp; đồng thời, thực hiện quyền giám sát của nhân dân đối với hoạt động xét xử cụ thể Điều 91 của luật quy định
- Hội thẩm được tổ chức thành Đoàn Hội thẩm.
- Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trì phối hợp với
Bộ Nội vụ và Tòa án nhân dân tối cao trình Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Đoàn Hội thẩm.
- Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Tòa
án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương, Tòa án quân sự quân khu và tương đương, Tòa án quân sự khu vực phân công Hội thẩm tham gia xét xử, bảo đảm phù hợp với yêu cầu xét xử vụ án.
- Cơ quan, tổ chức, đơn vị vũ trang nhân dân có người được bầu hoặc cử làm Hội thẩm có trách nhiệm tạo điều kiện để Hội thẩm làm nhiệm vụ.
- Trong thời gian Hội thẩm làm nhiệm vụ theo sự phân công của Chánh
án Tòa án thì cơ quan, tổ chức, đơn vị vũ trang nhân dân có Hội thẩm đó không được điều động, phân công Hội thẩm làm việc khác, trừ trường hợp đặc biệt và phải thông báo cho Chánh án Tòa án biết.
Ngoài các nội dung nêu trên, trong Luật tổ chức Tòa án nhân dân còn có các quy định cụ thể về các chức danh Thư ký Tòa án, Thẩm tra viên; quy định
về bảo đảm hoạt động của Tòa án nhân dân và hiệu lực thi hành của Luật tổ chức Tòa án nhân dân.
Tóm lại Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 2014 đã thể chế hóa các chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng về cải cách tư pháp, đặc biệt là Nghị quyết số 49-NQ/TW, Kết luận số 79-KL/TW, Kết luận số 92-KL/TW, Thông báo số 181-TB/TW của Bộ Chính trị và Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI; trong đó đã thể chế hóa được những định hướng về cải cách tư pháp, đó là xác
Trang 14định Tòa án có vị trí trung tâm và xét xử là trọng tâm của hoạt động tư pháp; tổ chức Tòa án theo thẩm quyền xét xử, bảo đảm nguyên tắc độc lập trong hoạt động xét xử; tạo cơ sở pháp lý để nâng cao chất lượng đội ngũ Thẩm phán, cán
bộ, công chức Tòa án; xây dựng cơ sở vật chất, phương tiện làm việc của Tòa
án từng bước hiện đại, khoa học; bảo đảm chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức Tòa án, qua đó nâng cao chất lượng xét xử, thực hiện có hiệu quả quyền tư pháp, đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; xây dựng cơ chế kiểm soát chặt chẽ giữa các cơ quan trong việc thực hiện các hoạt động tư pháp.
Thạc sỹ: Nguyễn Thọ Hoà Trưởng khoa nhà nước và pháp luật
Những điểm mới của Hiến pháp năm 2013 quy định về Tòa án nhân dân
Ngày 28/11/2013, với tuyệt đại đa số đại biểu Quốc hội tán thành, Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 6 đã thông qua Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Đây được coi là một sự kiện chính trị - pháp lý đặc biệt quan trọng, đánh dấu một bước tiến mới trong lịch sử lập hiến của nước ta.
Là đạo luật cơ bản của đất nước đang chuyển sang giai đoạn phát triển mới, Hiến pháp năm 2013 đã phản ánh một cách biện chứng những bước tiến trong nhận thức lý luận và kết quả thực tiễn của quá trình cải cách bộ máy nhà nước nói chung và cải cách tư pháp nói riêng Trong đó, Hiến pháp năm 2013 đã dành 05 điều để quy định về Tòa án nhân dân, được thể hiện từ điều 102 đến điều 106 Trong đó có những điểm mới, nổi bật như sau:
1 Về chức năng, nhiệm vụ của Tòa án nhân dân
Để thể hiện nguyên tắc tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước với đủ
ba yếu tố phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp Hiến pháp năm 2013, lần đầu tiên kể từ sau Hiến pháp năm
1946 đã xác định rành mạch: Quốc hội là cơ quan thực hiện quyền lập pháp,
Trang 15Chính phủ là cơ quan thực hiện quyền hành pháp, Tòa án nhân dân là cơ quan thực hiện quyền tư pháp.
Trong đó, Khoản 1 Điều 102 quy định: “Tòa án nhân dân là cơ quan
xét xử của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp”
Chức năng xét xử của Tòa án là một chức năng đã được thể hiện xuyên suốt trong các bản Hiến pháp trước đây Tuy nhiên đây là lần đầu tiên Tòa án được trao một sứ mệnh cao quý, riêng có của Tòa án đó là “thực hiện quyền tư pháp” Đây là quy định rất mới của Hiến pháp năm 2013 Thực hiện quyền tư pháp ở đây là “bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”
Đây là định hướng nhằm hoàn thiện bộ máy nhà nước ta theo kiểu nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Nội dung mới nêu trên về Tòa án nhân dân còn mang ý nghĩa thực tiễn, là cơ sở pháp lý để giao cho Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết những loại vụ việc liên quan đến việc hạn chế quyền nhân thân của công dân, mà những loại việc đó hiện nay do các cơ quan hành chính đang thực hiện, ví dụ như việc ra các quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh hoặc quyết định đưa người vào các trung tâm giáo dưỡng, cai nghiện… Hiện nay, ngành Tòa án nhân dân đã và đang chuẩn bị hoàn thiện cơ sở pháp lý để thực hiện chức năng đó
Thực hiện nguyên tắc hiến định trên, ngày 24 tháng 11 vừa qua Luật
Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 đã được Quốc hội thông qua và nội dung này được thể hiện tại Điều 2 của Luật.
2 Về hệ thống Tòa án nhân dân
Về hệ thống Tòa án nhân dân, Hiến pháp năm 1992 quy định hệ thống tòa án gồm: “Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân địa phương, các Tòa
Trang 16án quân sự và các Tòa án khác do luật định” Quy định này là nhằm xác định Tòa án được tổ chức theo địa giới hành chính địa phương từ cấp huyện đến cấp tỉnh Nghĩa là, có đơn vị hành chính cấp huyện hoặc cấp tỉnh thì đồng thời có Tòa án cấp huyện hoặc Tòa án cấp tỉnh Nghị quyết 49 của Bộ Chính trị về cải cách tư pháp đã xác định tổ chức hệ thống Tòa án theo cấp xét xử không phụ thuộc vào địa giới hành chính Hiến pháp năm 2013 đã thể chế quan điểm này về tổ chức Tòa án nhân dân, cụ thể là: Khoản 2 Điều 102
Hiến pháp sửa đổi quy định “Tòa án nhân dân gồm Tòa án nhân dân tối cao
và các Tòa án khác do Luật định”.
Căn cứ quy định trên, Điều 3 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm
2014 đã quy định Tổ chức Tòa án nhân dân gồm có: Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân cấp cao, Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương; Tòa án quân sự
Như vậy so với quy định trước đây, có bổ sung thêm quy định về Tòa
án nhân dân cấp cao Tuy nhiên vấn đề xác định tổ chức hệ thống Tòa án
theo cấp xét xử không phụ thuộc vào địa giới hành chính vẫn chưa được giải quyết.
3 Về các nguyên tắc hoạt động của Tòa án nhân dân
Hiến pháp năm 2013 có một số nội dung quy định mới, nhằm đảm bảo nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác xét xử của Tòa án nhân dân các cấp Cụ thể là:
- Đối với nguyên tắc Tòa án xét xử độc lập, Hiến pháp năm 1992 quy định “Khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”, còn Hiến pháp năm 2013 quy định: “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc
lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can
Trang 17thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm” Với quy định này của Hiến
pháp năm 2013 thì nguyên tắc độc lập xét xử có nội dung mới là:
+ Tiến trình Thẩm phán, Hội thẩm độc lập xét xử là độc lập trong mọi hoạt động của mình theo quy định của pháp luật tố tụng kể từ khi thụ lý vụ
án cho đến khi kết thúc phiên tòa xét xử chứ không chỉ giới hạn bởi “khi xét xử” như quy định của Hiến pháp năm 1992.
+ Cụm từ “nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm” trong công tác xét xử và cũng là
đảm bảo cho nguyên tắc này phải được thực thi trong thực tiễn xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm.
- Đối với nguyên tắc xét xử tập thể, Hiến pháp năm 2013 quy
định: “Tòa án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa số trừ trường
hợp xét xử theo thủ tục rút gọn” Cụm từ “trừ trường hợp xét xử theo thủ tục
rút gọn” là nội dung mới của nguyên tắc này Còn thủ tục rút gọn được quy định trong pháp luật tố tụng theo hướng những vụ việc đơn giản, rõ ràng thì chỉ cần 1 Thẩm phán xem xét giải quyết chứ không cần Hội đồng xét xử như hiện nay, nhằm những vụ việc đó được giải quyết nhanh chóng, kịp thời nhưng vẫn đảm bảo đúng pháp luật và đạt hiệu quả, tiết kiệm về thời gian cho những người tham gia tố tụng.
- Hiến pháp năm 2013 có bổ sung nguyên tắc mới về hoạt động của
Tòa án, đó là nguyên tắc: “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được đảm
bảo” Nội dung này được thể hiện tại Điều 13 Luật Tổ chức Tòa án nhân
dân năm 2014 Thực tiễn xét xử trong thời gian vừa qua cho thấy mô hình tố tụng tại phiên tòa của Việt Nam theo hướng thẩm vấn kết hợp với tranh tụng, các chứng cứ, tình tiết của vụ án đã được những người tham gia tố tụng trình bày khách quan tại phiên tòa và trên cơ sở đó, Hội đồng xét xử ra các phán quyết nhằm đảm bảo các phán quyết đó chính xác, đúng pháp luật.
Trang 18Vì vậy, chất lượng xét xử của Tòa án các cấp trong thời gian vừa qua cũng
đã được nâng lên, giảm các vụ, việc oan, sai Từ cơ sở thực tiễn đó và nhằm thể chế các quan điểm của Đảng về xác định mô hình tố tụng Việt Nam, Hiến pháp sửa đổi đã quy định nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được đảm bảo Xuất phát từ quy định này của Hiến pháp, pháp luật tố tụng phải quy định chi tiết, cụ thể về tranh tụng tại phiên tòa của tất cả các lĩnh vực xét xử.
- Hiến pháp năm 2013 bổ sung nguyên tắc mới là “Chế độ xét xử sơ
thẩm, phúc thẩm được đảm bảo” Về bản chất thì cách thể hiện của nguyên
tắc nêu trên của Hiến pháp sửa đổi có kế thừa song có bao hàm những nội dung mới đó là khẳng định hai cấp xét xử là cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm Hoạt động giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án không phải là cấp xét xử.
Có như vậy thì những vụ việc được Tòa án giải quyết xét xử đã có hiệu lực pháp luật (đã qua giải quyết xét xử ở cấp phúc thẩm) phải được thi hành, tránh khiếu nại kéo dài Đương nhiên, nguyên tắc này nhằm xác định trách nhiệm của ngành Tòa án trong công tác xét xử sơ thẩm và phúc thẩm của Tòa án các cấp có thẩm quyền đó phải đảm bảo chất lượng xét xử cao nhất Nội dung này đã được thể hiện tại Điều 6 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2104.
4 Về Thẩm phán Tòa án nhân dân
Khoản 3 Điều 105 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Việc bổ nhiệm, phê chuẩn, miễn nhiệm, cách chức, nhiệm kỳ của Thẩm phán và việc bầu, nhiệm kỳ của Hội thẩm do luật định” Quy định này của Hiến pháp năm
2013 sẽ bao hàm những nội dung mới về Thẩm phán, là định hướng để Luật
Tổ chức Tòa án nhân dân, sửa đổi bổ sung theo những nội dung mới so với Hiến pháp năm 1992:
- Về thẩm quyền bổ nhiệm Thẩm phán, Hiến pháp năm 2013 quy định việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao,
Trang 19Thẩm phán khác thuộc thẩm quyền của Chủ tịch nước; đối với việc bổ nhiệm, miễn nhiệm hoặc cách chức Thẩm phán TAND tối cao có sự phê chuẩn của Quốc hội Ý nghĩa lý luận của quy định này nhằm đề cao địa vị pháp lý của Thẩm phán, đặc biệt là địa vị pháp lý của Thẩm phán TAND tối cao Bởi vì, chính đội ngũ Thẩm phán là những người trực tiếp giải quyết, xét xử các loại vụ án và thực hiện quyền tư pháp Chất lượng giải quyết, xét
xử và thực hiện quyền tư pháp của các Thẩm phán là biểu hiện của nền công
lý của quốc gia Do đó, họ được xã hội thừa nhận có địa vị pháp lý cao và được tôn trọng là phù hợp với tiến bộ xã hội và phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế Ý nghĩa thực tiễn của quy định này là nhằm xác định Thẩm phán là Thẩm phán của quốc gia, không phụ thuộc vào địa phương nào, đó là đảm bảo hoạt động của Thẩm phán là nhân danh Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Đối với Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì với quy định của Hiến pháp nêu trên bao hàm ý nghĩa đặc biệt quan trọng Bởi vì, Thẩm phán TAND tối cao sẽ có số lượng hạn chế so với số lượng Thẩm phán TAND tối cao hiện nay (có thể khoảng không được 17 người, thay vì
số lượng 120 người như hiện nay) Thẩm phán TAND tối cao do Chủ tịch nước bổ nhiệm và được Quốc hội phê chuẩn Thủ tục này tương tự như thủ tục bổ nhiệm, phê chuẩn các thành viên Chính phủ (Bộ trưởng ) Do vậy, Thẩm phán TAND tối cao phải là những người ưu tú nhất trong hệ thống Tòa án và cơ quan tư pháp, có nhiều kinh nghiệm trong công tác giải quyết xét xử các loại vụ án, có uy tín cao trong các cơ quan tư pháp và trong xã hội, họ thực sự là biểu tượng của công lý của Nhà nước.
- Đối với các quy định về ngạch Thẩm phán, tiêu chuẩn Thẩm phán, quy trình tuyển chọn, nhiệm kỳ Thẩm phán, mặc dù Hiến pháp năm 2013 không nêu cụ thể nhưng Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 quy định như sau:
Trang 20+ Về ngạch Thẩm phán, trước đây theo quy định thì có 3 ngạch Thẩm phán là Thẩm phán TAND tối cao, Thẩm phán trung cấp, Thẩm phán sơ cấp Nay bổ sung thêm ngạch Thẩm phán cao cấp.
+ Về quy trình tuyển chọn Thẩm phán, xuất phát từ ý nghĩa Thẩm phán là của quốc gia, không phụ thuộc vào địa phương, do đó việc thi tuyển, tuyển chọn phải do Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán quốc gia, thay thế các Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán 63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương như hiện nay Thể chế hóa nội dung này, Điều 70 Luật Tổ chức Tòa án nhân
dân năm 2014 đã bổ sung quy định hoàn toàn mới là Hội đồng tuyển chọn,
giám sát thẩm phán quốc gia Hội đồng thẩm phán quốc gia có nhiệm vụ
xem xét tuyển chọn người đủ tiêu chuẩn, điều kiện làm Thẩm phán.
+ Về nhiệm kỳ Thẩm phán, Thẩm phán là chức danh nghiệp vụ, không phải là chức vụ lãnh đạo quản lý, nên việc gắn nhiệm kỳ cho chức danh Thẩm phán phát sinh rất nhiều bất cập trong thực tiễn hoạt động của Thẩm phán Tuy nhiên theo Điều 74 của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm
2014 quy định: Nhiệm kỳ đầu của thẩm phán là 05 năm; trường hợp được
bổ nhiệm lại hoặc bổ nhiệm vào ngạch thẩm phán khác thì nhiệm kỳ tiếp theo là 10 năm;
Linh Nhâm (tổng hợp)
Cơ cấu tổ chức
Toà án nhân dân tối cao
Gồm có:[2]
Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao
Toà án quân sự trung ương, Toà hình sự, Toà dân sự, Toà kinh tế, Toà lao động, Toà hành chính và các Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao trong trường hợp