1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Chính sách quản lý của NHNN đối với hoạt động mua bán vàng miếng của các doanh nghiệp kinh doanh vàng ở Việt Nam hiện nay

60 417 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 458 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu chung Qua nghiên cứu đề tài đưa ra được những luận cứ khoa học bao gồm cả lí luận,thực tiễn để đánh giá thực trạng chính sách quản lý của Ngân hàng Nhà nước đối vớihoạt động mua

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG SƠ BỘ

Đề tài: Chính sách quản lý Nhà nước đối với hoạt động

kinh doanh vàng ở Việt Nam giai đoạn hiện nay

Giáo viên hướng dẫn 1 Nghiên cứu

Giáo viên hướng dẫn 2

TS Đào Quang Thông

- Ngân hàng Nhà nước

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI

ở Việt Nam hiện nay

Người thực hiện: ThS Nguyễn Thanh Huyền

Bộ môn : Tài chính doanh nghiệp

Hà Nội, 2014

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ở mỗi quốc gia, trong nền KTTT, sự hình thành và phát triển thị trường vàng

có vai trò quan trọng, góp phần hình thanh một thị trường tài chính hoàn chỉnh, làm giatăng các kênh đầu tư và kinh doanh cho các nhà đầu tư và kinh doanh tài chính….Thực tế phát triển thị trường vàng của một số quốc gia cho thấy, để có một thị trườngvàng năng động, hiệu quả, rất cần có một cơ chế quản lý, giám sát hữu hiệu của Nhànước và sự tham gia của các tổ chức kinh doanh vàng

Ở Việt Nam, những năm gần đây,cùng với sự phát triển của thị trường chứngkhoán, thị trường bất động sản, thị trường vàng ngày càng trở nên sôi động Cùng với

sự gia tăng của số lượng nhà đầu tư và nhu cầu mua bán vàng, số lượng các sàn giaodịch vàng cũng tăng lên đáng kể Ngoài các giao dịch mua bán vàng dưới hình tháivật chất, loại hình kinh doanh vàng phi vật chất, kinh doanh vàng trên tài khoản cũngbắt đầu được triển khai Các nghiệp vụ kinh doanh vàng cũng ngày một đa dạng hơn.Tuy nhiên, bên cạnh những thành công, hoạt động của thị trường vàng nói chung, hoạtđộng kinh doanh vàng miếng của các doanh nghiệp kinh doanh vàng nói riêng vẫn cònchứa đựng nhiều bất cập, tiềm ẩn nhiều rủi ro và gây bất ổn cho nền kinh tế xã hội.Chất lượng vàng chưa đạt tới độ chuẩn hóa; việc giao dịch mua bán,chuyển nhượngvàng chưa thuận tiện Quy chế hoạt động kinh doanh vàng không nhất quán, thị trườngvàng trong nước và quốc tế chưa liên thông Điều này do nhiều nguyên nhân, trong đómột số nguyên nhân chính là: Cơ chế,chính sách quản lý kinh doanh vàng chậm đổimới, không theo kịp sự phát triển của thị trường Cơ chế quản lý đối với một số mảnghoạt động kinh doanh còn bị bỏ ngỏ (đặc biệt là mảng kinh doanh vàng trên tài khoản),

Trang 3

động mua bán vàng miếng của các doanh nghiệp kinh doanh vàng ở Việt Nam hiện naynhằm tìm ra giải pháp hoàn thiện chính sách quản lý của Ngân hàng Nhà nước đối vớihoạt động mua bán vàng miếng của các doanh nghiệp kinh doanh vàng ở Việt Nam đếnnăm 2020.

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

2.1.1 Mục tiêu chung

Qua nghiên cứu đề tài đưa ra được những luận cứ khoa học (bao gồm cả lí luận,thực tiễn) để đánh giá thực trạng chính sách quản lý của Ngân hàng Nhà nước đối vớihoạt động mua bán vàng miếng của các công ty kinh doanh vàng ở Việt Nam giai đoạnhiện nay đồng thời nghiên cứu hướng hoàn thiện chính sách quản lý của Ngân hàngNhà nước đối với hoạt động mua bán vàng miếng của các công ty kinh doanh vàng đếnnăm 2020

- Đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện chính sách quản lý của Ngânhàng Nhà nước đối với hoạt động mua bán vàng miếng của các doanh nghiệp kinhdoanh vàng ở Việt Nam đến năm 2020

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Trang 4

Đối tượng nghiên cứu của đề tài tập trung vào chính sách quản lý của Ngânhàng Nhà nước đối với hoạt động mua bán vàng miếng của các doanh nghiệp kinhdoanh vàng.

3.2 Phạm vi nghiên cứu

 Không gian nghiên cứu: Đề tài tiến hành khảo sát thực trạng chính sách quản lý của Ngân hàng Nhà nước đối với hoạt động mua bán vàng miếng của các doanh nghiệp kinh doanh vàng ở Việt Nam.

 Thời gian nghiên cứu:

+ Thời gian khảo sát thực tế: từ năm 2007 đến năm 03/2014.

+ Thời gian ứng dụng đề xuất giải pháp: đến năm 2020

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài, tác giả dự kiến sử dụng phương pháp nghiên cứu thống kê,tổng hợp, so sánh, phân tích: khảo sát hoạt động kinh doanh vàng miếng trong nước vàquốc tế để phân tích, đánh giá, so sánh, tham chiếu; đánh giá chính sách quản lý hoạtđộng mua bán vàng miếng của NHNN đối với các doanh nghiệp kinh doanh vàngnhằm rút ra các giải pháp hoàn thiện chính sách

5 Kết cấu đề tài

Ngoài lời mở đầu và kết luận, đề tài được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Một số lý luận về chính sách quản lý của Ngân hàng Nhà nước đốivới hoạt động mua bán vàng miếng của các doanh nghiệp kinh doanh vàng trong nềnKTTT

Chương 2: Thực trạng chính sách quản lý của NHNN đối với hoạt động muabán vàng miếng của các doanh nghiệp kinh doanh vàng ở Việt Nam hiện nay

Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách quản lý của NHNN đốivới hoạt động mua bán vàng miếng của các doanh nghiệp kinh doanh vàng ở Việt Namđến năm 2020

Trang 5

MỤC LỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ HÌNH VẼ

Biểu đồ 2.1 Giá vàng miếng giai đoạn từ 2000 đến 3/2014 27Biểu đồ 2.2 Tỷ giá hối đoái từ 11/2012 đến 03/2014 31

Trang 6

KẾT LUẬN

Thị trường vàng Việt Nam đang có những bước phát triển và hội nhập mạnh mẽ,

mở ra nhiều cơ hội mới và đa dạng hóa các công cụ đầu tư Song kinh doanh vàng nóichung và kinh doanh vàng miếng nói riêng luôn ẩn chứa những rủi ro khó dự báo, đòihỏi Nhà nước phải có chính sách quản lý phù hợp Vì vậy, nghiên cứu kỹ, đánh giáđúng tác động của chính sách quản lý của NHNN đối với hoạt động mua bán vàngmiếng của các doanh nghiệp kinh doanh vàng, từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiệnchính sách quản lý Nhà nước đối với hoat động kinh doanh vàng miếng của các doanhnghiệp đến năm 2020 để đảm bảo cho thị trường vàng Việt Nam từng bước phát triển

ổn định và bền vững, sánh vai với thị trường vàng quốc tế là một việc hết sức cần thiết

Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu, mặc dù đã hết sức cố gắng song vì kinhdoanh vàng miếng là một lĩnh vực kinh doanh có điều kiện và rất nhạy cảm với nhữngbiến động của nền kinh tế - xã hội; việc thu thập các thông tin, số liệu chi tiết về thịtrường vàng miếng và các hoạt động kinh doanh vàng miếng của các doanh nghiệp rấtkhó khăn, thời gian nghiên cứu lại hạn chế nên đề tài chắc chắn không tránh khỏinhững hạn chế và sai sót nhất định Tác giả rất mong nhận được sự đóng góp chânthành của các nhà khoa học và bạn đọc để đề tài được hoàn thiện hơn

Trang 7

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Đinh Nho Bảng (2001), “Đổi mới cơ chế quản lý hoạt động kinh doanh vàng ở Việt Nam”, Đề tài nghiên cứu khoa học, ngành Ngân hàng.

2 PGS.TS Nguyễn Thị Phương Liên (2009), “Hoạt động kinh doanh vàng của các NHTM Việt Nam”, Đề tài nghiên cứu khoa học, Bộ giáo dục và đào tạo.

3 Đặng Thị Tường Vân (2008), “Các giải pháp phát triển kinh doanh vàng tại Việt Nam”, Luận văn thạc sỹ kinh tế Tài chính Ngân hàng, Trường Đại học Kinh tế TP Hồ

Chí Minh

4 Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam - Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (2011),

Kỷ yếu hội thảo khoa học “Thị trường vàng Việt Nam - Những vấn đề đặt ra”.

5 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 01/1997/QH 10 và Luật sửa đổi, bổ sungmột số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 10/2003/QH 11

6 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 46/2010/QH 12 ngày 16/6/2010

7 Pháp lý ngoại hối năm 2005

8 Nghị định số 174/1999/NĐ-CP ngày 9/12/1999, Nghị định của Chính Phủ về quản lýhoạt động kinh doanh vàng

9 Nghị định số 64/2003/NĐ-CP ngày 11/6/2003, Nghị định của Chính phủ về việc sửađổi, bổ sung Nghị định số 174/1999/NĐ-CP của Chính Phủ về quản lý hoạt động kinhdoanh vàng

10 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Thông tư số 10/2003/TT-NHNN ngày 16/9/2003,Thông tư hướng dẫn thi hành Nghị định số 174/1999/NĐ-CP ngày 9/12/1999, Nghịđịnh của Chính phủ về quản lý hoạt động kinh doanh vàng và Nghị định số64/2003/NĐ-CP ngày 11/6/2003, Nghị định của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sungNghị định số 174/1999/NĐ-CP

Trang 8

11 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Quyết định số 1703/2004/QĐ-NHNN ngày28/12/2004, Quyết định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc sửa đổi, bổ sungThông tư số 10/2003/TT-NHNN ngày 16/9/2003 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nướchướng dẫn thi hành Nghị định số 174/1999/NĐ-CP ngày 9/12/1999, Nghị định củaChính phủ về quản lý hoạt động kinh doanh vàng và Nghị định số 64/2003/NĐ-CPngày 11/6/2003, Nghị định của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung Nghị định số174/1999/NĐ-CP.

12 Nghị định số 24/2012/NĐ-CP ngày 25/5/2012, Nghị định của Chính phủ về quản

lý hoạt động kinh doanh vàng thay thế Nghị định số 174/1999/NĐ-CP ngày 09 tháng

12 năm 1999 của Chính phủ về quản lý hoạt động kinh doanh vàng và Nghị định số64/2003/NĐ-CP ngày 11 tháng 6 năm 2003 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị định

số 174/1999/NĐ-CP ngày 09 tháng 12 năm 1999

13 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Thông tư số 16/2012/TT-NHNN ngày 25/5/2012,Thông tư hướng dẫn thi hành Nghị định số 24/2012/NĐ-CP ngày 25/5/2012, Nghị địnhcủa Chính phủ về quản lý hoạt động kinh doanh vàng

14 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Thông tư 06/2013/TT-NHNN ngày 12/03/2013,Thông tư hướng dẫn hoạt động mua bán vàng miếng trên thị trường trong nước củaNHNN Việt Nam

15 Website của: Ngân hàng Nhà nước, Thời báo kinh tế Việt Nam,…

Trang 9

Chương 1 MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG MUA BÁN VÀNG MIẾNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP KINH DOANH VÀNG TRONG NỀN KTTT

1.1 Những vấn đề lý luận chung về thị trường vàng miếng và hoạt động kinh doanh vàng miếng

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, cấu trúc và các chủ thể tham gia thị trường vàng miếng

a Khái niệm, đặcđiểm

Vàng là kim loại mềm, dễ uốn, dễ dát mỏng, màu vàng và chiếu sáng, vàngkhông phản ứng với hầu hết các hóa chất, có dạng quặng hoặc hạt trong đá và trong các

mỏ bồi tích Vàng được dùng làm 1 tiêu chuẩn tiền tệ ở nhiều nước, được sử dụngtrong các ngành nha khoa, điện tử, và trang sức

Vàng miếng - vàng tiền tệ là vàng được dập thành miếng, có đóng chữ, số chỉkhối lượng, chất lượng và ký mã hiệu của doanh nghiệp và tổ chức tín dụng được Ngânhàng Nhà nước Việt Nam (sau đây được gọi là Ngân hàng Nhà nước) cho phép sảnxuất hoặc vàng miếng do Ngân hàng Nhà nước tổ chức sản xuất trong từng thời kỳ

(Nghị định 24/2012/NĐ-CP).

Vàng được khai thác từ rất xa xưa, vào khoảng 4.000 năm trước công nguyên,

kể từ đó cho đến bây giờ, vàng đã và luôn chiếm một vị trí đặc biệt trong đời sống kinh

tế - xã hội Ở bất kỳ dân tộc nào, khu vực nào,thời đại nào, con người đều sử dụngvàng, say mê tìm kiếm vàng, chiếm đoạt và cất giữ vàng Đây chính là đặc điểm quyếtđịnh vai trò của vàng đối với đời sống kinh tế - xã hội của loài người Vàng mang một

ý nghĩa biểu tượng mạnh mẽ, liên kết chặt chẽ với các giá trị cao nhất trong xã hội Nóbiểu tượng cho quyền lực, sự giàu có, tâm huyết, hạnh phúc, tình yêu, hy vọng, lạcquan, thông minh, công lý, cân bằng, sự hoàn hảo,… Có thể khẳng định, vàng là mộttrong những giá trị đã liên kết con người với nhau không phân biệt sự khác biệt vềchủng tộc, tôn giáo và lịch sử Do đó, một câu hỏi lớn đước đặt ra là “Tại sao vàng lạiđược con người quý đến vậy? Tại sao vàng lại được sử dụng làm tiền tệ” Để trả lời chocâu hỏi này, ta đi nghiên cứu các đặc điểm của vàng:

Trang 10

(1) Vàng là một kim loại quý và tương đối hiếm

Trước hết vàng là một kim loại quý Vẻ đẹp nội tại, sự ấm áp, giá trị tinh thầntoát ra từ vàng đã đưa vàng trở thành niềm tự hào và là kim loại ưa thích của các nhàkim hoàn Vàng có tính bền vững hóa học rất cao, có vẻ đẹp rực rỡ ngay cả khi nungnóng chảy Vàng có độ dẻo cao, rất dễ dát mỏng và kéo sợi Vàng luôn giữ được sắcmầu trong mọi điều kiện và chỉ cần một ít vàng người ta đã có thể dễ dàng chế tạo ranhững đồ vật đẹp trang điểm cho cuộc sống Chính những đặc điểm đó làm cho vàng

đã hấp dẫn con người ngay từ đầu

Vàng không chỉ là kim loại quý mà nó còn là một thứ kim loại tương đối hiếm.Theo ước tính của Gold Field Mineral Services, tổng lượng vàng khai thác trên thế giới

từ xưa đến nay là khoảng 172.000 tấn (đến năm 2000 là 140.000 tấn và từ đó đến naymỗi năm tăng khoảng 2.600 tấn) Theo số liệu thống kê dến năm 2000, khai thác vàngchủ yếu diễn ra ở các khu vực là Nam Phi (44 nghìn tấn), Liên bang Nga và các nướcthuộc Liên Xô cũ (17 nghìn tấn), Mỹ (6 nghìn tấn), Braxin (2,5 nghìn tấn) và Columbia(2 nghìn tấn) Trữ lượng vàng đã được thăm dò còn khoảng 75 nghìn tấn Vì vậy, nếu

so sánh với các loại tài nguyên khoáng sản khác như sắt, dầu lửa có trữ lượng lớn vàsản lượng khai thác đến hàng triệu tấn/năm thì vàng quả là một kim loại hiếm Bêncạnh đó, việc khai thác vàng trong trong thực tế cũng không hề dễ dàng Hiện nay,nguồn cung vàng chủ yếu không phải được khai thác từ các mỏ quặng mà từ việc sanglọc đất Ở Nam Phi, để chiết xuất được sản lượng 500 tấn vàng/năm thì phải xaykhoảng 70 triệu tấn đất

(2) Vàng có tính chất xã hội đặc biệt vừa là hàng hóa, vừa là tiền tệ đặc biệt

Trang 11

lượng vàng hiện nay trên thế giới, người ta ước tính có khoảng 45% được dùng vàoviệc chế tác đồ trang sức, 25% vàng do các ngân hàng trung ương và các tổ chức tàichính -tiền tệ nắm giữ, 18% lượng vàng thuộc về tư nhân và các loại khác chiếmkhoảng 12%.

+ Giá trị: Giá trị của vàng là giá trị lao động kết tinh trong nó phát sinh quá trình khai

thác và sản xuất vàng Giá trị của vàng được đo bằng thời gian lao động xã hội cầnthiết để khai thác, sản xuất ra vàng

- Tính chất tiền tệ đặc biệt của vàng

Ngoài những giá trị không thể phủ nhận của vàng trong nghi lê tôn giáo, trongbiểu tượng quyền lực của giai cấp thống trị, trong sự ngưỡng mộ của con người vớinhững đồ trang sức mỹ nghệ thì trải qua nhiều thế kỷ vàng còn được sử dụng để đúctiền Vậy, vì sao vàng lại trở thành tiền?

Khi lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội phát triển làm cho trao đổihàng hóa phát triển mạnh đòi hỏi con người phải sử dụng những hàng hóa đặcbiệt đóngvai trò vật ngang giá chung Khi sản xuất và thị trường ngày càng mở rộng thì tìnhtrạng có nhiều vật ngang giá chung càng làm cho trao đổi khó khăn, đòi hỏi phải dùngmột vật ngang giá chung duy nhất, dẫn đến xuất hiện hình thái tiền tệ Lúc đầu, tiền lànhững thứ quý, hiếm đối với con người thời đó như mũi tên, vỏ sò, lông thú, gia súc,dần dần chỉ còn là vàng, bạc và cuối cùng là vàng

Đầu tiên, vàng chỉ là trung gian dự trữ, nhưng qua thời gian, người ta nhận thấytính chất quý hiếm của vàng nên vàng được sử dụng làm phương tiện để tích lũy giá trịcủa cải rất hiệu quả giữa những rủi ro thường xuyên của cuộc sống

Theo dòng lịch sử, dù xã hội có những biến động thăng trầm như thế nào thìvàng vẫn luôn giữ được giá trị và duy trì được thị trường riêng của mình Mặt khác,vàng lại còn dễ cất trữ, chưa kể những đồ cổ bằng vàng thì giá trị của nó lại còn caogấp nhiều lần so với giá trị của bản thân lượng vàng làm ra nó Điều này dẫn đến việcđến một lúc nào đó vàng sẽ được sử dụng làm đại diện của giá trị dưới góc độ là tiền-vật ngang giá chung trong trao đổi hàng hóa

Khi thương mại lớn mạnh, người ta nhận thấy tiền phải có một số tính chất tiệnlợi tối thiểu như: Phải có giá trị thực tế, dễ sử dụng, dễ vận chuyển, dễ chia nhỏ, tồn tại

Trang 12

lâu mà không hư hại Vì vậy, ban đầu có nhiều loại hàng hóa quý hiếm đóng vai tròtiền tệ, nhưng dần dần người ta nhận ra giá trị của vàng, vì ngoài yếu tố hiếm ra, vàngcòn có những đặc tính quý báu khác mà không có một thứ vật chất gì có thể thay thếđược khi thực hiện chức năng tiền tệ: đồng chất, dễ chia nhỏ, khó hư hỏng, giá trị cao,

dễ bảo quản, dễ vận chuyển Có thể nói vàng có đủ các chức năng của tiền tệ: thước đogiá trị, phương tiện lưu thông, phương tiện thanh toán, phương tiện cất trữ và tiền tệ thếgiới

Kể từ khi được sử dụng làm tiền, vàng được coi là một loại tiền tệ đặc biệt bởigiá trị thực của nó Khác với các loại tiền tệ quốc gia như USD, GBP, JPY,… đangđược sử dụng rộng rãi trong thanh toán quốc tế hiện nay thường bị kiểm soát bởiNHTW của nước phát hành ra đồng tiền đó, giá trị của những đồng tiền này chịu sự tácđộng trực tiếp bởi sự tăng trưởng hay suy thoái của nền kinh tế quốc gia thì vàng là loạitiền tệ đặc biệt bởi chúng vừa là hàng hóa, vừa là công cụ trao đổi (tiền), song chúngkhông chịu sự kiểm soát hay ảnh hưởng bởi nền kinh tế cụ thể nào Chính điều này làmcho giá trị của vàng được đảm bảo lâu dài hơn so với các đồng tiền khác

Vai trò tiền tệ của vàng được xem là một trong quá trình tự nhiên, là loại tiền tệthực đáng tin cậy của con người Trong đời sống xã hội ngày nay, vàng không còn thựchiện đầy đủ các chức năng của tiền tệ Mặc dù vậy, vai trò tiền tệ của vàng không hoàntoàn mất đi, đặc biệt là chức năng cất trữ giá trị và tiền tệ quốc tế Vàng là một phầnquan trọng trong dự trữ quốc gia, nó được sử dụng để giải quyết các khó khăn về cáncân thanh toán quốc tế và đối phó với khủng hoảng hay các sự cố đặc biệt như thiên tai,chiến tranh,…

Cần chú ý thêm, không phải bất cứ hình thức vàng nào cũng có thể thực hiệnchức năng tiền tệ quốc tế Theo hướng dẫn, trong cẩm nang thống kê tiền tệ củaIMF,chỉ có vàng đủ tiêu chuẩn quốc tế do NHTW nắm giữ mới được coi là tiền tệ,thuộc dự trữ ngoại hối của quốc gia, còn vàng được nắm giữ bởi các tổ chức kinh tếbao gồm cả tổ chức tín dụng, bởi cá nhân được coi là hàng hóa thông thường

(3) Vàng là công cụ tích trữ truyền thống của con người

Lịch sử phát triển nhân loại cho thấy việc lưu giữ tiền luôn ẩn chứa những bấttrắc, rủi ro, chỉ có vàng là loại tài sản được xem là có giá trị bất biến với thời gian,

Trang 13

thậm chí nó còn được sử dụng làn thước đo giá trị của những tài sản lớn khác Vì vậy,

từ xưa cho đến nay, nhiều người vẫn thích chọn lưu giữ vàng hơn là lưu giữ tiền giấy

(4) Vàng là một công cụ đầu tư có khả năng chống lạm phát và các bất ổn xã hội

Có được lợi thế này là do tính chất đặc thù của vàng như một loại hàng hóa đãđem lại cho nó một sức hấp dẫn trong vai trò là công cụ đầu tư chống lạm phát Khinền kinh tế càng phát triển, chỉ số lạm phát ngày càng tăng thì vàng sẽ là công cụ đầu

tư giữ được giá trị tốt nhất

Bên cạnh đó, trong bối cảnh tình hình chính trị bất ổn, vàng cũng là loại tài sảntích trữ duy nhất bởi giá trị của các đồng tiền có thể thay đổi theo diễn biến chính trị,còn vàng thì luôn giữ được giá trị trong bất cứ hoàn cảnh nào Điều đó khiến giá vàngluôn tăng cao khi chính trị - xã hội thế giới bất ổn, các NHTW của các quốc gia trênthế giới đã thực hiện việc tăng dự trữ bằng vàng, dần thay thế cho việc dự trữ bằngUSD truyền thống như trước đây

b Cấu trúc và các chủ thể tham gia thị trường vàng miếng

Tùy theo tiêu thức phân loại khác nhau, thị trường vàng miếng sẽ được cấu trúcthành nhiều bộ phận khác nhau

Căn cứ vào phạm vi hoạt động, thị trường vàng miếng gồm: thị trường vàngmiếng quốc tế và thị trường vàng miếng trong nước

Căn cứ vào tính chất pháp lý, thị trường vàng miếng gồm: thị trường có tổ chức(thị trường tập trung/sở giao dịch, thị trường bán tập trung/thị trường OTC) và thịtrường tự do

Căn cứ vào phương tiện thanh toán và giao nhận, thị trường vàng miếng baogồm: Thị trường vàng hữu hình (vàng vật chất) và thị trường “vàng ghi sổ” Trong đótrên thị trường vàng miếng hữu hình, vàng miếng được mua bán, chuyển nhượng Còntrên thị trường vàng miếng “ghi sổ” diễn ra các hoạt động mua bán các quyền về vàngmiếng hữu hình chứ không phải bản thân vàng miếng

- Thị trường vàng hữu hình:

Trang 14

Thị trường vàng miếng hữu hình chủ yếu là thị trường mua bán giao ngay,nhưng được hỗ trợ bằng việc sử dụng các giao dịch có kỳ hạn để phòng ngừa rủi ro vớicác trạng thái vàng hữu hình Việc mua bán được thực hiện với giá được yết bởi từngnhà giao dịch, trừ trường hợp định giá, khi các nhà giao dịch cùng thỏa thuận về mứcgiá.

Chủ thể tham gia thị trường vàng miếng hữu hình là: các nhà giao dịch vàngmiếng hoạt động chấp nhận trạng thái mở (chủ yếu là các ngân hàng thương mại); Cácnhà môi giới cân bằng trạng thái này bằng các giao dịch ngược lại để lấy phí hoặc mua

và bán ăn chênh lệch giá và các ngân hàng vàng tài trợ cho các giao dịch trên Ngoài

ra, để kết hợp toàn bộ các chức năng trên có các công ty kinh doanh vàng bạc đá quý.Thông thường, các nhà giao dịch có xưởng tinh luyện vàng riêng hoặc đi thuê

- Thị trường “vàng ghi sổ”

Thị trường này sử dụng các công cụ chứng từ về vàng miếng Các bên tham giagiao dịch mua bán không chuyển giao vàng miếng mà chỉ hạch toán trên tài khoản Dovậy, khi tham gia các giao dịch này, nhà đầu tư bắt buộc phải mở tài khoản giao dịchvàng Trường hợp mua bán qua Sở/Sàn giao dịch, nhà đầu tư phải đảm bảo các quyđịnh về ký quỹ ban đầu, ký quỹ bổ sung; khối lượng/quy mô giao dịch, bước giá vàđơnvị giao dịch; các loại lệnh và định chuẩn lệnh… Nhà đầu tư sẽ đặt lệnh mua/bánqua các thành viên giao dịch của Sở Nếu lệnh được thực hiện, Phòng/Trung tâm thanhtoán bù trừ sẽ thực hiện thanh toán cho các bên mua, bán

Công cụ chứng từ về vàng miếng đại diện cho các trái quyền với một khốilượng và hàm lượng vàng miếng nhất định Các giao dịch với công cụ này thườngnhằm mục đích đầu cơ và phòng ngừa rủi ro, và hiếm khi liên quan đến việc chuyểnnhượng thực sự vàng hữu hình Tuy nhiên, các giao dịch này là một phần của thịtrường vàng miếng, đặc biệt do vai trò công cụ đầu tư của vàng miếng Các công cụcủa thị trường “vàng ghi sổ” gồm: Hợp đồng kỳ hạn (Gold Forward), hợp đồng quyềnchọn (Gold Option), hợp đồng tương lai (Gold Future), giấy chứng nhận vàng (GoldWarrants), hợp đồng đòn bẩy vàng (Gold Leverage Contract) và các công cụ/chứng từgiao ngay về vàng Việc giao dịch các công cụ này chủ yếu nhằm mục đích đầu cơ vàphòng ngừa rủi ro, hiếm khi liên quan đến việc chuyển nhượng thực sự vàng miếng.Theo thời gian, các giao dịch vàng ghi sổ có xu hướng ngày càng chiếm tỷ trọng lớn

Trang 15

trong tổng giá trị giao dịch của thị trường vàng miếng, đặc biệt là giao dịch mang tínhđầu cơ.

Thị trường vàng miếng hữu hình và thị trường “vàng ghi sổ” có mối quan hệmật thiết với nhau, hỗ trợ và bổ sung cho nhau Thị trường vàng hữu hình chủ yếu thựchiện các nghiệp vụ mua bán giao ngay, tuy nhiên nó vẫn cần sử dụng các nghiệp vụ củathị trường vàng “ghi sổ” để phòng ngừa rủi ro với các trạng thái vàng miếng Có haiđiểm bất lợi trong hoạt động đầu tư và nắm giữ vàng miếng là chi phí an toàn và lưugiữ lớn; Và khi nắm giữ vàng miếng thì vàng miếng sẽ không sinh lợi Chính vì lí donày mà nhiều nhà nắm giữ một số lượng vàng miếng không muốn bán vàng miếng củamình đi mà muốn sử dụng các nghiệp vụ trên thị trường vàng “ghi sổ” để tạm thời từ

bỏ vàng của họ Tạm thời, những người đang nắm giữ vàng miếng có thể sử dụngnguồn vốn có được từ vàng để mua các công cụ tài chính có khả năng sinh lời Để thựchiện điều này, một trong những phương pháp mà họ có thể sử dụng là bán vàng miếngtrên thị trường giao ngay và sẽ mua lại vào một thời điểm trong tương lai Đây đượcđánh giá là một phương pháp tương đối mạo hiểm vì nó phụ thuộc vào giá vàng miếngtại thời điểm trong tương lai Vì vậy, người ta còn có thể sử dụng phương pháp thứ hai

là bán vàng miếng trên thị trường giao ngay và mua vàng kỳ hạn (giá đã được xác địnhvào thời điểm trong tương lai) Phương pháp này có ưu điểm là tránh được rủi ro về giávàng, tuy nhiên lại có nhược điểm là nó không cho phép kiếm lợi trong trường hợp giásụt giảm

Thực tế mô hình tổ chức thị trường ở nhiều nước cho thấy, thị trường vàngmiếng là một bộ phận cấu thành của thị trường hàng hóa tập trung Hầu hết các Sàngiao dịch hàng hóa trên thế giới hiện nay đều giao dịch nhiều loại hàng hóa khác nhaunhư dầu (dầu thô, xăng, dầu cặn), nông sản (đường, cà phê, cacao), các loại kim loạiquý (vàng, bạc, bạch kim…) và các kim loại màu khác (nhôm, kẽm, thiếc, uranium…).Một số sàn giao dịch hàng hóa nổi tiếng hiện nay trên thế giới là: Sàn giao dịch hànghóa Chicago, NewYork, Tokyo…

Trang 16

1.1.2 Hoạt động kinh doanh vàng miếng - Mô hình tổ chức và các nghiệp vụ kinh doanh

a Mô hình tổ chức của thị trường vàng miếng

Hiện nay, ở hầu hết các nước trên thế giới, hoạt động của thị trường vàng miếngđều do ngân hàng trung ương trực tiếp quản lý Hoạt động kinh doanh vàng miếng trênthị trường do các nhà giao dịch vàng thực hiện (gồm các NHTM và các công ty kinhdoanh vàng bạc đá quý) Trên thị trường còn có các nhà môi giới thực hiện giao dịch

để lấy phí hoặc mua bán vàng miếng để hưởng chênh lệch giá Hoạt động kinh doanhvàng miếng của các chủ thể hiện nay gồm có 2 mảng chính là kinh doanh vàng trên thịtrường quốc tế và kinh doanh vàng trên thị trường nội địa

Ngoài hoạt động kinh doanh, mua bán vàng miếng trên thị trường các NHTM vàcác công ty kinh doanh vàng bạc đá quý còn cung cấp các dịch vụ khác liên quan đếngiao dịch vàng miếng vừa để đa dạng hóa dịch vụ vừa nhằm hỗ trợ cho nghiệp vụ kinhdoanh vàng miếng trên trị trường Các dịch vụ mà các ngân hàng thương mại và cáccông ty kinh doanh vàng bạc đá quý được cung cấp có liên quan đến giao dịch vàngmiếng gồm: dịch vụ giữ hộ vàng, dịch vụ ngân quỹ vàng, dịch vụ tiết kiệm vàng, chovay vàng

(1) Dịch vụ giữ hộ vàng: NHTM và các công ty kinh doanh vàng bạc đá quýnhận giữ hộ vàng cho khách hàng nhằm mục đích an toàn Đây là dịch vụ đơn giản, cácNHTM có thể sử dụng uy tín và kho quỹ an toàn của mình để cung cấp dịch vụ này chokhách hàng và hưởng một mức phí giữ hộ vàng nhất định

(2) Dịch vụ ngân quỹ vàng: NHTM và các công ty kinh doanh vàng bạc đá quýnhận thu và chi vàng hộ cho khách hàng Bằng cách tận dụng kỹ năng chuyên môn củanhân viên ngân hàng trong việc thực hiện khâu kiểm đếm vàng và uy tín của ngân hàng(như làm trung gian giữa các bên giao dịch, địa điểm an toàn thực hiện giao dịch vàng),các NHTM có thể cung cấp dịch vụ này cho khách hàng với một mức phí nhất định

(3) Dịch vụ tiết kiệm vàng: NHTM và các công ty kinh doanh vàng bạc đá quý

mở tài khoản tiết kiệm vàng cho khách hàng gửi vàng nhằm mục đích an toàn và sinhlợi Dịch vụ tương tự như tiền gửi tiết kiệm Do vậy, thông qua dịch vụ này NHTM cóthêm một kênh huy động vốn bằng vàng lãi suất thấp hơn nhiều so với huy động bằng

Trang 17

tiền mặt, các quy định cũng gắt gao hơn, như khách hàng muốn rút vàng trước hạn sẽkhông được hưởng lãi; ngân hàng chỉ nhận loại vàng có đảm bảo về quy cách.

(4) Cho vay vàng: NHTM và các công ty kinh doanh vàng bạc đá quý sử dụngnguồn vốn bằng vàng huy động được từ các dịch vụ giữ hộ, tiết kiệm và chuyển ngânvàng để cung cấp tín dụng bằng vàng cho khách hàng

Cho vay vàng được thực hiện trong một số trường hợp sau:

- Nhà đầu tư có khoản phải thu bằng vàng trong tương lai dự đoán giá vànggiảm nên vay vàng của ngân hàng để bán ra theo nghiệp vụ giao ngay Khi nhận đượckhoản phải thu bằng vàng sẽ trả lại ngân hàng

- Ngân hàng cho nhà đầu tư vay vàng để thực hiện nghiệp vụ bán khống (sốvàng chênh lệch giữa khối lượng bán và tỷ lệ ký quỹ theo yêu cầu)

Mặt khác, trong các hoạt động mua/bán vàng trên tài khoản của khách hàng(giao ngay hoặc kỳ hạn), ngân hàng và các công ty kinh doanh vàng bạc, đá quý chỉyêu cầu khách hàng phải ký quỹ 1 tỷ lệ nhất định, số thiếu còn lại được ngân hàng vàcác công ty kinh doanh vàng bạc, đá quý cho vay Số tiền/vàng cho vay này được đảmbảo bằng tài sản (tiền/vàng) trên tài khoản của khách hàng

Ngoài ra, riêng các NHTM còn được phép cung cấp thêm các dịch vụ ngân hàngliên quan đến giao dịch vàng miếng như: dịch vụ thanh toán vàng, dịch vụ chuyển ngânvàng

(1) Dịch vụ thanh toán vàng: để thực hiện dịch vụ, trước hết NHTM nhận mởtài khoản tiền gửi vàng cho khách hàng ký gửi hoặc thu vàng ghi Có vào tài khoản Sau

đó, từ tài khoản này, NHTM có thể ghi Nợ để trích tài khoản chi trả vàng theo yêu cầucủa khách hàng Thực chất dịch vụ này tương tự như dịch vụ thanh toán trong nước,chỉ khác là tài khoản này là tài khoản vàng

(2) Dịch vụ chuyển ngân vàng: NHTM thực hiện việc chuyển ngân vàng từ nơinày sang nơi khác cho khách hàng nhằm mục tiêu di chuyển tài sản một cách an toàn,thuận lợi và nhanh chóng Khách hàng thực hiện mở tài khoản tiền gửi vàng tại chinhánh của ngân hàng nơi khách hàng chuyển đi và ký gửi lượng vàng cần chuyển vào

đó, hoặc có thể kết hợp với dịch vụ thanh toán vàng để nhập vàng từ đối tác thanh toántrực tiếp vào tài khoản Sau đó, khách hàng lập lệnh chuyển ngân vàng từ tài khoản của

Trang 18

mình vào tài khoản chỉ định của ngân hàng mở tại địa điểm đến Với lệnh chuyển ngânvàng, ngân hàng tiến hành ghi Nợ vào tài khoản tiền gửi vàng của khách hàng mở tạingân hàng nơi vàng chuyển đi và ghi Có vào tài khoản chỉ định tại ngân hàng nơi vàngchuyển đến.

b Các nghiệp vụ kinh doanh trên thị trường vàng miếng

Hoạt động kinh doanh vàng miếng trên thị trường bao gồm nhiều loại khác nhautùy theo tiêu thức phân chia Nếu căn cứ vào nghiệp vụ kinh doanh, hoạt động kinhdoanh vàng miếng gồm: giao dịch vàng giao ngay, giao dịch kỳ hạn, giao dịch hoánđổi, giao dịch quyền chọn và giao dịch hợp đồng tương lai Nếu căn cứ vào hình tháivật chất của vàng khi thanh toán, hoạt động kinh doanh vàng miếng gồm: kinh doanhvàng vật chất (xuất, nhập khẩu vàng, mua bán vàng trong nước) và kinh doanh vàngtrên tài khoản

Các nghiệp vụ kinh doanh vàng vật chất

Tham hoạt động kinh doanh này các nhà giao dịch vàng miếng (chủ yếu làcácNHTM và các công ty kinh doanh vàng bạc đá quý) đóng vai trò quan trọng tronghoạt động xuất, nhập khẩu và mua bán vàng trong nước Tại thị trường nội địa, các nhàgiao dịch mua vàng miếng từ khách hàng có nhu cầu bán để bán lại cho khách hàng cónhu cầu mua và kiếm lợi từ chênh lệch giữa giá bán ra và giá mua vào Hoạt động nàytương tự như hoạt động kinh doanh ngoại tệ tiền mặt

Các nghiệp vụ kinh doanh vàng tài khoản

Kinh doanh vàng tài khoản là hoạt động kinh doanh vàng vô hình, diễn ra trêntài khoản của nhà đầu tư kinh doanh vàng Hoạt động này được thực hiện giữa cácNHTM, các công ty kinh doanh vàng bạc đá quý với khách hàng ở trong nước, hoặcngân hàng và các công ty kinh doanh vàng bạc, đá quý làm môi giới đại lý nhận lệnhmua, bán vàng cho khách hàng trên thị trường nước ngoài, hoặc bản thân ngân hàng vàcác công ty kinh doanh vàng bạc đá quý thực hiện kinh doanh vàng qua tài khoản trênthị trường quốc tế Kinh doanh vàng qua tài khoản có một số thuận lợi hơn trong giaodịch như: nơi nào có Internet là nơi đó có giao dịch được; thị trường liên thông toàncầu (giao dịch 24/24 giờ trong ngày); khối lượng giao dịch lớn; sử dụng lực đòn bẩy(nhà đầu tư thường chỉ phải ký quỹ một tỷ lệ phần trăm nhất định trên tổng giá trị giaodịch, số còn lại do người cung cấp dịch vụ cho vay)… Do vậy, kinh doanh vàng trên tài

Trang 19

khoản giúp các tổ chức và cá nhân sử dụng vàng có hiệu quả, có thể phòng ngừa, kiểmsoát được rủi ro và tiết kiệm được chi phí vốn trong kinh doanh vàng, đồng thời giúpcác tổ chức tín dụng huy động có hiệu quả nguồn vốn bằng vàng trong nước, góp phầnlàm giảm bớt nhu cầu kinh doanh vàng vật chất… Tuy nhiên, nếu thiếu kiến thức,thiếu hệ thống pháp lý hoặc hệ thống pháp lý không đầy đủ và đồng bộ, cơ sở hạ tầngcủa hệ thống giao dịch yếu kém… thì hoạt động kinh doanh này cũng có thể gây nênnhững hậu quả không lường cho cả nhà đầu tư, người cung cấp dịch vụ và nền kinh tế.

Các nghiệp vụ kinh doanh vàng trên tài khoản bao gồm: hợp đồng giao ngay,hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng quyền chọn và hợp đòng tương lai

- Hợp đồng giao ngay vàng (Gold Spot)

Là nghiệp vụ mua bán vàng trong đó việc giao nhận vàng được thực hiện ngaytrong ngày giao dịch hoặc vào ngày thanh toán theo quy định của Sở giao dịch (T+1,hoặc T+2, hoặc T+3) Nghiệp vụ mua bán này được thực hiện theo giá giao ngay trênthị trường

- Hợp đồng kỳ hạn vàng (Gold Forward)

Giao dịch vàng kỳ hạn là giao dịch mua hoặc bán vàng giữa hai bên mua - bán,theo đó hai bên cam kết mua bán với nhau một lượng vàng nhất định, theo một mức giáxác định tại thời điểm ký kết hợp đồng nhưng việc chuyển giao và thanh toán được tiếnhành tại một thời điểm xác định trong tương lai

Mục đích của việc sử dụng giao dịch này là nhằm:

(i) Phòng ngừa rủi ro (do cố định được giá trị các khoản thu hoặc chi trongtương lai nhằm tránh những tổn thất khi giá vàng biến động mạnh);

(ii) Đầu cơ kiếm lợi nhuận (thực hiện giao dịch mang tính cá cược trên giá vàng

để thu lợi nhuận dựa trên sự phán đoán về xu hướng biến động giá trong tương lai)

- Hợp đồng hoán đổi vàng (Gold Swap)

Hoán đổi vàng là cam kết mua bán vàng tại một mức giá được xác định trước,trong đó việc mua và bán được thực hiện tại các thời điểm khác nhau Thực chất cácgiao dịch hoán đổi vàng là một nghiệp vụ kép của hai nghiệp vụ: giao ngay và kỳ hạnhoặc kỳ hạn và kỳ hạn với cùng một lượng vàng nhưng theo hai hướng ngược nhau

Trang 20

- Hợp đồng quyền chọn vàng (Gold Options): Là loại hợp đồng khác với hợp

đồng kỳ hạn ở chỗ người mua có quyền thực hiện hợp đồng chứ không phải có nghĩa

vụ thực hiện hợp đồng Hợp đồng quyền chọn mua/bán vàng là một hợp đồng tùythuộc đơn phương, với người bảo lãnh (người bán) bắt buộc phải thực hiện theo yêucầu của người mua hợp đồng Nói cách khác, theo hợp đồng này, người mua quyềnchọn có quyền nhưng không bắt buộc mua hoặc bán một số lượng vàng cụ thể trongmột thời gian xác định với mức giá được ấn định ngay tại thời điểm ký kết hợp đồng,sau khi đã trả một khoản phí (premium) cho người bán quyền chọn vào lúc ký hợpđồng

Có 2 loại quyền chọn:

+ Quyền chọn mua vàng (Call Option): cho phép người mua quyền chọn cóquyền mua hoặc không mua một khối lượng vàng trong một khoảng thời gian nhất địnhtheo mức giá đã thỏa thuận với người bán quyền

+ Quyền chọn bán vàng (Put Option): cho phép người mua quyền chọn cóquyền bán hoặc không bán vàng trong một khoảng thời gian nhất định theo mức giá đãthỏa thuận với người bán quyền

Sự khác biệt cơ bản giữa hợp đồng quyền chọn với hợp đồng kỳ hạn chính là ởtính bắt buộc của các bên tham gia hợp đồng Đối với hợp đồng quyền chọn, tính bắtbuộc chỉ áp dụng đối với bên bán quyền chứ không bắt buộc với bên mua quyền Songbên mua quyền phải trả một khoản chi phí nhất định cho bên bán quyền để có đượcquyền chọn trong một khoảng thời gian nhất định (đây là một khoản tiền mà người bánquyền chọn được hưởng cho dù người mua quyền thực hiện hoặc không thực hiện hợpđồng)

Mục đích của việc thực hiện giao dịch này là:

(i) Thỏa mãn nhu cầu phòng ngừa rủi ro biến động giá vàng (Khách hàng có nhucầu thanh toán bằng vàng khi dự báo giá vàng có thể tăng lên tại thời điểm thanh toántrong tương lai thì mua hợp đồng quyền chọn mua; khách hàng có nguồn thu bằngvàng trong tương lai, khi dự báo giá vàng xuống tại thời điểm thanh toán thì mua hợpđồng quyền chọn bán để phòng ngừa rủi ro)

(ii) Kiếm tiền nhờ hoạt động đầu cơ dựa trên cơ sở dự đoán giá vàng

Trang 21

Các kiểu hợp đồng quyền chọn để khách hàng lựa chọn:

+ Hợp đồng quyền chọn kiểu Châu Âu: với kiểu hợp đồng này khách hàng chỉ

có thể thực hiện quyền vào ngày hết hạn hợp đồng, còn những thời gian khác nếu muốnthanh lý hợp đồng phải bán lại cho ngân hàng

+ Hợp đồng quyền chọn kiểu Mỹ: với kiểu hợp đồng này khách hàng có thểthực hiện quyền trước hoặc vào ngày hết hạn hợp đồng

- Hợp đồng tương lai vàng (Gold Futures)

Hợp đồng tương lai vàng là hợp đồng mua, hoặc bán một khối lượng vàng nào

đó tại một thời điểm xác định trong tương lai Đây là loại hợp đồng đặc biệt được giaodịch theo tiêu chuẩn của Sở giao dịch

Đặc điểm của hợp đồng tương lai

+ Hoạt động mua bán được thực hiện theo các tiêu chuẩn mà Sở giao dịch quyđịnh.Ví dụ: loại vàng, thời gian đáo hạn, quy mô hợp đồng, mức ký quỹ,…

+ Giá vàng được hình thành theo nguyên tắc đấu giá, hoặc khớp lệnh Giá nàykhông cố định như hợp đồng kỳ hạn mà thay đổi hàng ngày theo giá thị trường

+ Việc thanh toán lỗ, lãi với nhà đầu tư được thực hiện hàng ngày căn cứ vàoquy mô hợp đồng và mức chênh lệch giá giữa giá đóng cửa ngày thanh toán với giákhớp lệnh (nếu là ngày thanh toán lãi, lỗ đầu tiên), với giá đóng cửa ngày hôm trước(nếu là các ngày thanh toán lãi, lỗ tiếp theo)

+ Phần lớn các hợp đồng tương lai không giao hàng mà thực hiện bằng một hợp đồng đảo

1.2 Chính sách quản lý của Ngân hàng Nhà nước đối với hoạt động mua bán vàng miếng của các doanh nghiệp kinh doanh vàng

1.2.1 Mục tiêu quản lý của Ngân hàng Nhà nước đối với hoạt động kinh doanh mua bán vàng miếng

Chính sách quản lý của Ngân hàng Nhà nước đối với hoạt động kinh doanhvàng miếng là công cụ đặc thù và không thể thiếu được mà Ngân hàng Nhà nước sửdụng để quản lý thị trường vàng nói chung và hoạt động mua bán vàng miếng nóiriêng Chúng có chức năng chung là tạo những kích thích đủ lớn cần thiết để biến

Trang 22

đường lối, chiến lược của Đảng về quản lý thị trường vàng miếng và hoạt động kinhdoanh vàng miếng thành hiện thực, góp phần thống nhất tư tưởng và hành động củamọi người trong xã hội, từ đó nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý Nhà nước đối vớihoạt động kinh doanh vàng miếng

Một chính sách quản lý đúng đắn sẽ giúp khắc phục tình trạng giá vàng biếnđộng khó kiểm soát; chống thất thoát ngoại tệ cho đất nước; tập trung được nguồn vốncủa xã hội cho đầu tư phát triển sản xuất; đảm bảo cho thị trường vàng Việt Nam pháttriển một cách ổn định, bền vững

1.2.2 Nội dung chính sách quản lý của Ngân hàng Nhà nước đối với hoạt động mua bán vàng miếng của các doanh nghiệp kinh doanh vàng

Chính sách quản lí của Ngân hàng Nhà nước đối với hoạt động mua bán vàngmiếng của các doanh nghiệp kinh doanh vàng phải đảm bảo một số nội dung chủ yếusau:

- Xây dựng và ban hành các cơ sở pháp lí cho hoạt động mua bán vàng miếng của các doanh nghiệp kinh doanh vàng

Trong phạm vi thẩm quyền của mình, Ngân hàng Nhà nước có thẩm quyền vàtrách nhiệm triển khai việc xây dựng và ban hành các văn bản pháp luật cần thiết cholĩnh vực mua bán vàng miếng của các doanh nghiệp kinh doanh vàng như các quy định

về các nghiệp vụ kinh doanh và hành vi kinh doanh bị cấm, cơ quan quản lý thị trường,

mô hình tổ chức thị trường, công bố thông tin, thanh tra và xử lý vi phạm, giải quyếttranh chấp, khiếu nại, tố cáo và bồi thường thiệt hại, Đây là những nội dung hết sứcquan trọng, bởi nó chính là nền tảng pháp lí để triển khai và quản lí các hoạt động muabán của thị trường vàng miếng Không có cơ sở pháp lí, các cơ quan quản lí Nhà nước

về hoạt động mua bán vàng miếng sẽ không thể triển khai thực hiện các chức năng vànhiệm vụ của mình Bởi vậy, trước khi một văn bản pháp lí được phê duyệt và banhành, Ngân hàng Nhà nước thường tranh thủ sự đóng góp ý kiến của đông đảo các nhàkhoa học, nhà nghiên cứu, nhà tổ chức quản lí thị trường và các chủ thể khác có liênquan đến thị trường vàng để đảm bảo một số yêu cầu cơ bản của việc ban hành cácchính sách pháp luật, đó là: tính đồng bộ, tính ổn định, tính khả thi, phù hợp với điềukiện thực tế của mỗi quốc gia và các thông lệ, chuẩn mực quốc tế

- Quản lí các chủ thể tham gia và có liên quan đến hoạt động mua bán vàng

Trang 23

miếng của các doanh nghiệp kinh doanh vàng trên thị trường

Mọi chủ thể tham gia và có liên quan đến hoạt động mua bán vàng miếng của cácdoanh nghiệp kinh doanh vàng trên thị trường đều thuộc đối tượng quản lí của Ngânhàng Nhà nước Ngân hàng Nhà nước, ngoài việc ban hành các chính sách đối với cácchủ thể tham gia thị trường vàng miếng, còn có trách nhiệm thực hiện những thủ tụchành chính cần thiết theo quy định của pháp luật (cấp phép hoạt động cho các doanhnghiệp kinh doanh vàng đủ điều kiện), đồng thời giám sát quá trình tuân thủ pháp luậtcủa các chủ thể tham gia và có liên quan đến thị trường để đảm bảo tính nghiêm minhcủa việc thực thi pháp luật; ngăn ngừa, phát hiện và xử lí kịp thời những trường hợp viphạm pháp luật

- Quản lí các hoạt động mua bán vàng miếng của các doanh nghiệp kinh doanh vàng trên thị trường.

Ngoài việc xây dựng và ban hành hệ thống các văn bản pháp luật, các chính sách

và biện pháp cụ thể để quản lý hoạt động mua bán vàng miếng của các doanh nghiệpkinh doanh vàng, các cơ quan quản lí Nhà nước về thị trường vàng nói chung và vàngmiếng nói riêng còn có chức năng thanh tra, giám sát các hoạt động mua bán vàngmiếng của các doanh nghiệp kinh doanh vàng Đây là hoạt động hết sức cần thiết đểngăn chặn và phát hiện kịp thời những trường hợp vi phạm, những tình huống có thểdẫn đến nguy cơ gây khủng hoảng thị trường; để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củamọi chủ thể tham gia, đồng thời đảm bảo cho thị trường vận hành trôi chảy Kết quảhoạt động thanh tra và giám sát còn là những minh chứng quan trọng để đánh giá tínhđúng, đủ, đồng bộ và hiệu quả của các văn bản pháp lí đã ban hành, làm cơ sở thực tiễn

để điều chỉnh, bổ sung chính sách pháp luật về thị trường vàng miếng

- Xây dựng chiến lược, kế hoạch, chương trình phát triển hoạt động mua bán vàng miếng của các doanh nghiệp kinh doanh vàng trên thị trường

Xây dựng chiến lược, kế hoạch, chương trình phát triển hoạt động mua bán vàngmiếng của các doanh nghiệp kinh doanh vàng là một trong những nội dung quan trọngcủa quản lí Nhà nước đối với thị trường vàng Để thực hiện tốt nội dung này, Chínhphủ các nước thường tổ chức những cơ quan, hoặc bộ phận chuyên trách, trong đó cóNgân hàng Nhà nước, đảm nhiệm chức năng quản lí và phát triển thị trường Trên cơ

sở chiến lược phát triển thị trường đã được Chính phủ phê duyệt, Ngân hàng Nhà nước

Trang 24

có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch với những lộ trình và bước đi thích hợp cho từng giaiđoạn phát triển của thị trường vàng, chủ động chuẩn bị các điều kiện cần thiết để thúcđẩy thị trường vàng phát triển theo hướng đi đã lựa chọn Thực hiện tốt nội dung quản

lí này cũng đồng nghĩa với việc Ngân hàng Nhà nước đã thực hiện tốt chức năng điềutiết và định hướng phát triển thị trường nói chung, thị trường vàng của mỗi quốc gianói riêng

Chính sách quản lý của Ngân hàng Nhà nước đối với hoạt động mua bán vàngmiếng của các doanh nghiệp kinh doanh vàng thường bao gồm các nội dung chủ yếusau:

- Quy định chung về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng,…

- Quy định về thiết lập quan hệ giao dịch mua, bán vàng miếng giữa cơ quan quản

lý và các doanh nghiệp kinh doanh vàng gồm: Hồ sơ, thủ tục thiết lập quan hệ giaodịch mua, bán vàng miếng với cơ quan quản lý; Người đại diện giao dịch của doanhnghiệp; Tạm ngừng giao dịch, hủy quan hệ giao dịch mua, bán vàng miếng,…

- Quy định về giao dịch mua bán vàng, gồm: Loại vàng miếng được giao dịchmua, bán; Hình thức mua, bán vàng miếng; Phương án mua, bán vàng miếng của Ngânhàng Nhà nước; Quy trình mua, bán vàng miếng; Sự kiện bất khả kháng, trở ngại kháchquan,…

- Quy định về trách nhiệm của các doanh nghiệp kinh doanh vàng

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách quản lý của Ngân hàng Nhà nước đối với hoạt động mua bán vàng miếng của các doanh nghiệp kinh doanh vàng

1.3.1 Nhóm nhân tố khách quan

Chính sách quản lý của Ngân hàng Nhà nước đối với hoạt động mua bán vàngmiếng của các doanh nghiệp kinh doanh vàng được ban hành dựa vào mức độ ảnhhưởng của vàng đến:

- Sự ổn định của giá trị đồng bản tệ và giá trị hối đoái của đồng bản tệ so với các loại ngoại tệ mạnh khác Nếu nước nào có nền tài chính ổn định, lạm phát được

kiểm soát chặt chẽ, sự biến động của giá vàng miếng sẽ không ảnh hưởng đến giá trịđồng bản tệ thì chính sách quản lý thị trường vàng miếng sẽ được tự do hóa, không có

Trang 25

cản trở trong các giao dịch vàng miếng Ngược lại, nếu lạm phát gia tăng sẽ khiến cácnhà đầu tư cũng như người dân trong nước và quốc tế đều hướng đến việc mua và tíchtrữ vàng, đẩy giá vàng miếng lên cao, tác động trực tiếp đến sự biến động của tỷ giá.Giá vàng miếng tăng làm cho nhu cầu mua ngoại tệ mạnh để nhập khẩu vàng lớn dẫnđến tỷ giá của đồng nội tệ so với các đồng ngoại tệ mạnh tăng vọt Khi đó, Ngân hàngNhà nước sẽ phải có chính sách quản lý chặt chẽ các hoạt động giao dịch mua bán vàngmiếng , thị trường vàng miếng sẽ không được tự do hóa.

- Sự ổn định kinh tế xã hội Một nền kinh tế ổn định hay không được đánh giá

dựa và các chỉ tiêu như: tỷ giá, lạm phát, thâm hụt cán cân thương mại, khả năng huyđộng vốn trên TTTC,… Nếu nền kinh tế không ổn định, các chỉ tiêu trên không đượckiểm soát chặt chẽ, đồng nội tệ mất giá thì vai trò của vàng nói chung và vàng miếngnói riêng sẽ tăng và chi phối mạnh đến việc ổn định nền kinh tế, ổn định tiền tệ và nhưvậy chính sách quản lý thị trường vàng miếng sẽ phải quy định chặt chẽ hơn nhằm hỗtrợ cho chính sách tiền tệ

- Thói quen tập quán tiêu dùng truyền thống của người dân đối với vàng: Ngày

nay tại nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, người dân có nhu cầu sử hữu, nắm giữvàng (chủ yếu là vàng miếng) do tập quán, thói quen sử dụng vàng làm phương tiện cấttrữ Xu hướng tích trữ và đầu tư vàng trên thị trường vàng quá lớn sẽ tác động tiêu cựcđến môi trường kinh tế vĩ mô trong nước Do đó, chính sách quản lý thị trường vàngmiếng phải hướng tới việc kiểm soát được việc kinh doanh, đầu tư vàng miếng của đốitượng đầu tư, tiêu dùng Từ đó, Ngân hàng Nhà nước không nhất thiết phải cấm ngườidân mua, bán và tích trữ vàng miếng mà vẫn quản lý được nguồn lực tài chính quốc gia

và công cụ để đưa ra các biện pháp cần thiết, kịp thời nhằm ổn định và điều tiết thịtrường khi cần

1.3.2 Nhóm nhân tố chủ quan

Ngoài các nhân tố khách quan nêu trên, ảnh hưởng đến chính sách quản lý củaNgân hàng Nhà nước đối với hoạt động kinh doanh mua bán vàng miếng của cácdoanh nghiệp còn có các nhân tố chủ quan, đó là:

- Sự thống nhất trong các quy định về chức năng quản lý của Ngân hàng Nhà nước đối với hoạt động hoạt động kinh doanh vàng miếng Nếu các qui định trong quản

lý mà có sự thống nhất thì sẽ giúp nâng cao hiệu quả của các chính sách, tạo những tác

Trang 26

động tích cực để phát triển thị trường theo đúng định hướng của Nhà nước Tuy nhiên,nếu các quy định thiếu thống nhất thì chính sự phân tán trong quản lý Nhà nước này sẽtạo nhiều kẽ hở trong quản lý, gây nên những tác động bất lợi khi thị trường có biếnđộng.

- Chất lượng nguồn nhân lực: Trong bất cứ hoạt động nào, yếu tố con người

cũng đóng vai trò quan trọng nhất Con người là chủ thể của mọi hoạt động Do đó, yếu

tố cốt lõi tác động đến các chính sách quản lý của Ngân hàng Nhà nước nói chung vàđối với hoạt động kinh doanh vàng miếng nói riêng chính là chất lượng nguồn nhân lựcbao gồm trình độ và năng lực của các nhà hoạch định chính sách Nếu các nhà hoạchđịnh chính sách đưa ra được các chính sách hợp lý, khoa học, đầy đủ, đồng bộ sẽ giúpthị trường phát triển bền vững Ngược lại, nếu các nhà hoạch định đưa ra những chínhsách không hợp lý sẽ kìm hãm sự phát triển của thị trường

- Khả năng thu thập và xử lý thông tin: Để hoạch định chính sách quản lý của

Ngân hàng Nhà nước đối với hoạt động kinh doanh vàng nói chung và kinh doanhvàng miếng nói riêng thì việc thu thập và xử lý thông tin là cở sở quan trọng để đưa racác chính sách phù hợp và hiệu quả đảm bảo cho thị trường phát triển ổn định và bềnvững Với những thông tin khách quan, chính xác, có độ tin cậy cao, kịp thời, có tínhpháp lý và phương pháp xử lý thông tin phù hợp thì chất lượng của các chính sách sẽđược nâng cao

Trang 27

Chương 2 THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ CỦA NHNN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG MUA BÁN VÀNG MIẾNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP KINH

DOANH VÀNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 2.1 Tổng quan về thị trường vàng và hoạt động kinh doanh vàng miếng của các doanh nghiệp kinh doanh vàng ở Việt Nam giai đoạn hiện nay

2.1.1 Tổng quan về thị trường vàng

Trải qua một quá trình phát triển lâu dài, thị trường vàng ở Việt Nam hiện nay

đã có những bước tiến vượt bậc so với cách đây vài chục năm Xu hướng mở thể hiện

rõ nét qua tính đa dạng về chủ thể tham gia giao dịch trên thị trường Bên cạnh cáccông ty kinh doanh vàng bạc, đá quý chiếm tỷ trọng lớn, có khả năng chi phối giá trênthị trường như Công ty TNHH một thành viên vàng bạc đá quý Sài Gòn SJC, công ty

cổ phần vàng bạc đá quý Phú Nhuận PNJ, tổng công ty vàng Agribank Việt Nam- công

ty cổ phần- AJC,… là sự góp mặt của nhiều ngân hàng thương mại, hàng nghìn tiệmvàng lớn nhỏ trên cả nước cùng mạng lưới các nhà đầu tư cá nhân ở khắp mọi miền đấtnước Các chủ thể tiếp cận thị trường này với nhiều mục đích khác nhau, có thể là đểkinh doanh, để tích trữ, để sản xuất, để thanh toán hay chỉ đơn giản là nhu cầu trangsức làm đẹp… Tuy nhiên, so với thị trường vàng thế giới thì thị trường vàng ViệtNam vẫn còn có một khoảng cách về sự phát triển Trong khi thị trường vàng thế giớiphát triển nhanh chóng với các hình thái đầu tư hiện đại, cho phép nhà đầu tư tiếp cận

dễ dàng, nhanh chóng với chi phí thấp hơn nhiều so với đầu tư vàng vật chất thì thịtrường vàng Việt Nam lại giới hạn chủ yếu ở các giao dịch vàng vật chất diễn ra trênthị trường tự do và một số hình thái huy động, chovay nhất định Việt Nam cũng đãbước đầu triển khai các hình thức đầu tư hiện đại trên thị trường như kinh doanh vàngtiền tệ (vàng hữu hình và “vàng ghi sổ”), đặc biệt là hoạt động kinh doanh vàng trênsàn vàng, nhưng chỉ sau một thời gian ngắn đã phải tạm dừng hoạt động do sự mất ổnđịnh và những tác động tiêu cực, khó kiểm soát có thể gây ra cho nền kinh tế

Thực tế ở thị trường vàng Việt Nam cho thấy, thị trường tự do là nơi diễn ranhiều giao dịch nhất và có khả năng ảnh hưởng, chi phối lên toàn thị trường vàng trongnước Điểm nổi bật của thị trường này là các giao dịch diễn ra rất đơn lẻ (không có sàn

Trang 28

giao dịch tập trung), các nhà đầu tư chủ yếu tìm đến các tiệm vàng tư nhân khắp mọinơi để tiến hành giao dịch vàng.

So với các thị trường vàng của các nước trên thế giới, thị trường vàng Việt Nam

có những điểm đặc trưng riêng khác biệt, đó là:

- Trong ngành kim hoàn ở Việt Nam, đơn vị đo lường khối lượng của vàng làcây (lượng hoặc lạng) hoặc chỉ Một cây vàng nặng 37,50 gram Một chỉ bằng 1/10 câyvàng Trong khi đó, trên thị trường thế giới, vàng thường được tính theo đơn vị làounce hay troy ounce 1 ounce tương đương 31,103476 gram Như vậy, có thể quy đổihai đơn vị đo lường này như sau:

1 ounce = 1 troy ounce = 0,83 lượng

1 lượng = 1,20556 ounce

- Về đơn vị yết giá, Việt Nam sử dụng đơnvị yết giá là đồng nội tệ:VNĐ/lượng;còn trên thị trường thế giới, giá vàng phổ biến được niêm yết bằng đô la Mỹ:USD/ounce Hiện nay, công thức chuyển đổi giá vàng thế giới sang giá vàng trongnước được tính như sau:

Giá vàng trong nước = (Giá vàng thế giới + Phí vận chuyển + Bảo hiểm)*1,20556* (1 + Thuế NK)* Tỷ giá USD/VNĐ + Phí gia công + Phí hải quan + Lợinhuận1

Trong đó: Phí vận chuyển là 0,75 USD/1 ounce; Phí bảo hiểm là 0,25 USD/1ounce; Thuế nhập khẩu: 0% từ ngày 12/11/2010; Phí gia công là 30.000VNĐ/1 lượng;Phí hải quan là 2.500 VNĐ/1 lượng; Lợi nhuận là 30.000 VNĐ/lượng

Tuy nhiên, công thức này chỉ mang tính chất tham chiếu, làm cơ sở định giávàng trên thị trường nội địa Thực tế cho thấy, giá vàng thực trên thị trường luôn cómột độ vênh nhất định so với giá vàng tính toán theo lý thuyết Bên cạnh cơ sở là giávàng thế giới, các yếu tố khác chi phối giá vàng trên thị trường vàng Việt Nam hiệnnay chính là cung cầu của các nhà đầu tư và thị trường trang sức; chính sách về vàngcủa NHTW, của các NHTM và của các công ty kinh doanh vàng bạc đá quý lớn

1Nguồn: http://www.forex-245.com/modules.php/name=News&op=viewst&sid=563

Trang 29

Theo quan sát thực tế cho thấy, do chịu sự chi phối của những yếu tố đặc thùnên diễn biến giá vàng trên thị trường vàng ở Việt Nam thường có sự thoát ly ra khỏigiá vàng thế giới Mức tăng giá vàng trong nước thường lớn hơn khá nhiều so với mứctăng giá trên thị trường thế giới Giá vàng đỉnh điểm trong nước năm 2010 tăng 44% sovới giá vàng đóng cửa năm 2009, trong khi đó con số đó của giá vàng London PM Fix

là 29% Nếu cộng cả sự mất giá của VNĐ so với USD trong cùng kỳ thì mức tăng giávàng trong nước cao hơn nhiều so với giá vàng thế giới Việt Nam là một thị trườngnhỏ, nhập khẩu vàng, tức là ở vị trí chấp nhận giá (thay vì làm giá) nhưng thời điểm giávàng lập kỷ lục lại sớm hơn thời điểm giá vàng lập kỷ lục trên thị trường thế giới tớigần 1 tháng (giá vàng thế giới lập kỳ lục vào ngày 07/12/2010, trong khi ở thị trườngViệt Nam là 09/11/2010) Nguyên nhân của thực tế này một phần là do sự thiếu liênthông giữ thị trường vàng Việt Nam với thị trường vàng thế giới Tháng 05/2008, Ngânhàng Nhà nước Việt Nam ngừng cấp phép nhập khẩu vàng, kênh nhập khẩu chính thức

bị cắt với nỗ lực kiềm chế thâm hụt thương mại, làm dịu áp lực lạm phát và bình ổnkinh tế Lệnh cấm nhập khẩu vàng cho phép Ngân hàng Nhà nước hạn chế lượng ngoạihối dùng để nhập vàng, tuy nhiên lại tạo ra tình trạng khan hiếm vàng hay ít nhất là có

ý niệm khan hiếm vàng Nguồn cung bị chặn đứng trong khi nhu cầu không ngừng tăng

đã đẩy giá vàng ngày càng đi xa hơn Kể từ đó cho đến nay, Ngân hàng Nhà nước đãvài lần nới lỏng hạn ngạch nhập khẩu vàng, cho phép doanh nghiệp nhập khẩu vàngkhi giá vàng trong nước tăng nhằm giảm nhiệt thị trường Bên cạnh đó, có thể khẳngđịnh yếu tố tâm lý cũng đang là một trong những nguyên nhân then chốt làm cho giávàng trong nước bị đẩy lên quá cao và trở nên khó kiểm soát tại thị trường Việt Nam

2.1.2 Tổng quan về hoạt động kinh doanh vàng miếng của các doanh nghiệp kinh doanh vàng

a Các loại hình tổ chức và nghiệp vụ kinh doanh vàng miếng của các doanh nghiệp kinh doanh vàng

Ðối với hoạt động sản xuất vàng miếng, trước đây có tám doanh nghiệp kinhdoanh vàng được NHNN cấp phép sản xuất vàng miếng Hoạt động sản xuất vàngmiếng của các doanh nghiệp đã tạo ra lượng vàng miếng cần thiết đáp ứng nhu cầumua bán của thị trường Tuy nhiên, trên thực tế đã xảy ra tình trạng khi nhu cầu mua,bán vàng miếng của thị trường tăng cao, có hiện tượng liên kết để làm giá, đầu cơ trênthị trường

Trang 30

Từ khi Nghị định 24/2012/NĐ-CP được ban hành, chỉ có NHNN được phép sảnxuất vàng miếng và không có tổ chức, cá nhân nào được quyền sản xuất mặt hàng này.

Do đó, hoạt động sản xuất vàng miếng được quản lý chặt chẽ, ngăn chặn việc nhập lậuvàng

Ðối với hoạt động mua, bán vàng miếng, trước đây có khoảng 12 nghìn doanhnghiệp và cửa hàng kinh doanh vàng kinh doanh mua, bán vàng miếng dẫn đến vàngmiếng dần trở thành phương tiện thanh toán, khó quản lý Từ khi Nghị định24/2012/NĐ-CP được ban hành, các tổ chức và cá nhân chỉ được mua bán vàng miếngtại các TCTD và doanh nghiệp đủ điều kiện được NHNN cấp phép kinh doanh muabán vàng miếng Do đó uy tín của các địa điểm, cửa hàng kinh doanh vàng, chất lượngvàng miếng và quyền lợi của người dân được bảo đảm tốt hơn

Trước đây, các doanh nghiệp được cấp phép thực hiện hoạt động xuất khẩu vàngnguyên liệu, nhập khẩu vàng nguyên liệu để sản xuất vàng miếng Nhằm nâng cao vaitrò quản lý, kiểm soát lượng vàng nguyên liệu cũng như điều tiết cung cầu trên thịtrường, hạn chế tình trạng xuất lậu vàng nguyên liệu, nhập lậu vàng nguyên liệu để sảnxuất vàng miếng và tránh tình trạng đầu cơ, lũng đoạn thị trường, Nghị định24/2012/NĐ-CP quy định NHNN tổ chức xuất khẩu vàng nguyên liệu, nhập khẩu vàngnguyên liệu để sản xuất vàng miếng

Những năm gần đây, theo xu hướng đa dạng các hoạt động kinh doanh vàngmiếng, các công ty kinh doanh vàng tham gia vào hoạt động kinh doanh vàng miếngthông qua các công ty trực thuộc, hoặc thành lập phòng kinh doanh vàng, và/hoặc mởsàn giao dịch vàng miếng Nhìn chung, hoạt động kinh doanh vàng miếng ở Việt Namcòn manh mún, không có khả năng tiếp cận thị trường nước ngoài Tổ chức kinh doanhvàng miếng không thống nhất, không được quản lý tập trung vào một cấp chủ quản nênthiếu sự phối hợp và hành động không nhất quán từ ngay khâu nhập vàng, định giávàng, phương thức bán, đối tượng bán, số lượng bán từng thời điểm…

Ngoài kinh doanh vàng vật chất, kinh doanh vàng miếng trên tài khoản nhữngnăm gần đây cũng đã bắt đầu phát triển ở Việt Nam Thực tế cho thấy, năm 2009, hoạtđộng kinh doanh vàng miếng trên tài khoản đã thu hút rất nhiều tổ chức và cá nhântham gia thị trường với tư cách là người cung cấp dịch vụ hoặc nhà đầu tư Bên cạnhnhững kết quả tích cực, thị trường này còn tiềm ẩn khá nhiều rủi ro cho cả người đầu

tư, người cung cấp dịch vụ và nền kinh tế - xã hội Vì vậy, ngày 30/12/2009, Chính phủ

Ngày đăng: 28/04/2017, 10:18

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w