ngày 13-12-2010 về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2015, định hướng đến năm 2020 với mục tiêu: kinh tế phát triển,đời sống vật chất và tinh thần của nông dân được nâng cao; nông
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA MÔI TRƯỜNG
-& -KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN TIÊU CHÍ 17
TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI XÃ VŨ THẮNG,
HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH
Người thực hiện : HOÀNG NGỌC THUẬN Lớp : MTB
Khóa : K57 Chuyên ngành : KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG Giáo viên hướng dẫn : TS NGUYỄN THẾ BÌNH
Trang 2Hà Nội - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Trong thời gian thực tập tại xã Vũ Thắng, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình, tôi đã chấp hành đầy đủ, nghiêm chỉnh mọi nội quy, quy định của cơ quan
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong đề tài : “Đánh giá tình hình thực hiện tiêu chí 17 trong xây dựng nông thôn mới tại xã Vũ Thắng, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình” đều được thu thập, kiểm tra, khảo sát thực tế
một cách trung thực, đánh giá đúng thực trạng của địa phương nơi nghiên cứu
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực tập và nghiên cứu tại xã Vũ Thắng, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình, tôi đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình Để có được kết quả như này, ngoài sự nỗ lực bản thân, tôi luôn được sự giúp đỡ chu đáo, tận tình của nhà trường, các cơ quan, thầy cô, gia đình và bạn bè Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới:
Ban giám hiệu học viện Nông nghiệp Việt Nam, ban quản lý đào tạo đại học cùng toàn thể các thầy cô đã tận tình dạy dỗ tôi trong suốt thời gian học tập Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo TS Nguyễn Thế Bình đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành khóa luận này
Cảm ơn lãnh đạo xã Vũ Thắng, nhân dân trong xã đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi về tư liệu, kinh nghiệm thực tế trong suốt thời gian thực tập
Trong quá trình nghiên cứu vì nhiều lý do chủ quan và khách quan cũng như là hạn chế về mặt thời gian cho nên không tránh khởi sai sót, tôi rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy cô giáo để đè tài này được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 5MỤC LỤC
Nhóm 1: Quy hoạch & Phát triển 65
Nhóm 2 Hạ tầng kinh tế - Xã hội .65
Điện 65
Trường học 66
Cơ sở vật chất văn hoá 66
Chợ NT 66
Bưu điện 66
Nhóm ba: Kinh tế và tổ chức sản xuất 66
Hộ nghèo 66
Giáo dục 67
Môi trường 67
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
BTBDHMT : Bắc trung bộ và Duyên hải miền trung
NTM : Nông thôn mới
PTNT : Phát triển nông thôn
SXKD : Sản xuất kinh doanh
TDMNPB : Trung du miền núi phía Bắc
TN : Tây nguyên
TM : Thương mại
TTCN : Tiểu thủ công nghiệp
VSMT : Vệ sinh môi trường
XD : Xây dựng
XH : Xã hội
Trang 8Hình 4.5 Các nguồn phát sinh rác thải sinh Error: Reference source not found
Trang 10PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Theo kết quả thống kê năm 2014 sản xuất nông nghiệp nước ta chỉ chiếm 18% GDP (2014), trong khi dân số sống tại khu vực nông thôn hiện chiếm gần
66,9% (Tổng cục thống kê, 2014), nhưng nông nghiệp-nông thôn vẫn đóng vai
trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội, đảm bảo an ninh lương thực, giữ vững an ninh quốc phòng và ổn định chính trị đất nước Hiện nay, đất nước
ta đang trong quá trình công nghiệp hóa-hiện đại hóa, điều đó đem lại những thành tựu kinh tế- xã hội to lớn, góp phần quan trọng trong phát triển lực lượng sản xuất, tăng năng suất lao động xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Bên cạnh đó, quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa cũng có những tác động tiêu cực như diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp, phân hóa giàu nghèo trong xã hội ngày càng sâu sắc, tình hình ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng Chính vì vậy, để phát triển một cách bền vững thì chúng ta cần phải có những chính sách và hành động thực tế trên mọi lĩnh vực, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn Xây dựng nông thôn là mối quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước, tại Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng về vấn đề xây dựng nông thôn mới, Đảng ta đã xác định:“Xây dựng nông thôn mới ngày càng giàu đẹp, dân chủ, công bằng, văn minh, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất phù hợp, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển ngày càng hiện đại”
Kiến Xương là một huyện nằm ở chính phía nam tỉnh Thái Bình, cách trung tâm thành phố 8 km Thực hiện nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, Nghị quyết số 02/NQ-TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về xây dựng nông thôn mới, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Kiến Xương đã ban hành Nghị quyết số 02/NQ-HU
Trang 11ngày 13-12-2010 về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2015, định hướng đến năm 2020 với mục tiêu: kinh tế phát triển,đời sống vật chất và tinh thần của nông dân được nâng cao; nông thôn được phát triển theo quy hoạch, có kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội hiện đại, môi trường sinh thái được bảo vệ; dân trí được nâng cao, bảo tồn những nét văn hóa tốt đẹp của làng,xã; an ninh chính trị được giữ vững, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo; dân chủ được mở rộng, hệ thống chính trị được củng cố vững mạnh Trên địa bàn huyện Kiến Xương có 14
xã đã hoàn thành xây dựng nông thôn mới, trong đó Vũ Thắng là 1 xã của huyện đang trong quá trình xây dựng nông thôn mới, tuy nhiên xã vẫn chưa hoàn thành
đủ 19/19 tiêu chí của của chương trình xây dựng nông thôn mới Bên cạnh các mục tiêu về giáo dục, y tế, cơ sở hạ tầng… tiêu chí môi trường là một tiêu chí quan trọng trong bộ tiêu chí của chương trình mà xã chưa đạt được Tiêu chí này không chỉ phản ánh được môi trường khái quát của một địa phương mà qua đó còn đánh giá được hiện trạng phát triển kinh tế, xã hội của địa phương đó Xuất phát từ thực tế, nhằm đánh giá tình hình mức độ hoàn thành tiêu chí môi trường của xã Vũ Thắng so với quy định của bộ tiêu chí về nông thôn mới, từ đó nghiên cứu đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện quá trình thực hiện tiêu chí 17 trong nông thôn mới tại xã Vũ Thắng, dưới sự giúp đỡ của thầy Nguyễn Thế
Bình, em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá tình hình thực hiện tiêu chí
17 trong xây dựng nông thôn mới tại xã Vũ Thắng, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình”
1.2 Mục tiêu và yêu cầu nghiên cứu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiểu tình hình thực hiện tiêu chí 17 trong quá trình xây dựng nông thôn mới tại xã Vũ Thắng
- Xác định những tồn tại, khó khăn trong quá trình thực hiện tiêu chí 17 trong xây dựng nông thôn mới
Trang 12- Đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện quá trình thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới tại xã Vũ Thắng.
1.2.2 Yêu cầu nghiên cứu
- Đánh giá được việc thực hiện tiêu chí 17 trong xây dựng nông thôn mới tại xã Vũ Thắng
- Các đề xuất để góp phần thực hiện tiêu chí 17 có tính thực tiễn với địa bàn nghiên cứu
Trang 13PHẦN 2 TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Nông thôn Việt Nam
2.1.1 Các khái niệm
- Nông nghiệp là quá trình sản xuất ra lương thực, thực phẩm cung cấp
cho con người và tạo ra của cải cho xã hội
- “ Nông dân là những người lao động cư trú ở nông thôn, tham gia sản xuất nông nghiệp, sống chủ yếu bằng ruộng vườn sau đó đến ngành nghề khác
và tư liệu chính là đất đai” ( Benedict J.tria kerrkvliet, Jamesscott Nguyễn Ngọc
- “Phát triển nông thôn
Phát triển nông thôn là phạm trù rộng được nhận thức với rất nhiều quan điểm khác nhau
Theo Ngân hàng Thế Giới (1975) đã đưa ra định nghĩa: “ Phát triển nông thôn là một chiến lược nhằm cải thiện các điều kiện sống kinh tế và xã hội của một nhóm người cụ thể - người nghèo ở vùng nông thôn Nó giúp những người nghèo nhất trong những người dân sống ở các vùng nông thôn được hưởng lợi ích từ sự phát triển”
Quan điểm khác lại cho rằng, phát triển nông thôn nhằm nâng cao về vị thế kinh tế và xã hội cho người dân nông thôn qua việc sử dụng có hiệu quả cao
các nguồn lực địa phương bao gồm nhân lực, vật lực và tài lực (Mai Thanh Cúc, Quyền Đình Hà, 2005).
Trang 14Phát triển nông thôn có tác động theo nhiều khía cạnh khác nhau Phát triển nông thôn là quá trình thực hiện hiện đại hóa nền văn hóa nông thôn, nhưng vẫn bảo tồn được những giá trị truyền thống thông qua việc ứng dụng khoa học và công nghệ Đồng thời đây là quá trình thu hút mọi người dân tham gia vào các chương trình phát triển, nhằm mục tiêu cải thiện chất lượng cuộc sống của các dân cư nông thôn.
Khái niệm phát triển nông thôn mang tính toàn diện, đảm bảo tính bền vững về môi trường Vì vậy trong điều kiện của Việt Nam, được tổng kết từ các chiến lược kinh tế xã hội của Chính phủ, thuật ngữ này được hiểu:
“Phát triển nông thôn là một quá trình cải thiện có chủ ý một cách bền vững về kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nông thôn và có sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước và các tổ
chức khác” (Mai Thanh Cúc, Quyền Đình Hà, 2005).
-Mô hình nông thôn mới
Xây dựng mô hình nông thôn mới là một chính sách về một mô hình phát triển cả về nông nghiệp và nông thôn, mô hình nông thôn mới là những kiểu mẫu cộng đồng theo tiêu chí mới, tiếp thu những thành tựu Khoa học kĩ thuật hiện đại mà vẫn giữ được nét đặc trưng, tinh hoa văn hóa người Việt Nam Nhìn chung: mô hình làng nông thôn theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa, hợp
tác hóa, dân chủ hóa và văn minh hóa (Phan Xuân Sơn, Nguyễn Cảnh, 2008).
Mô hình nông thôn mới được quy định bởi các tính chất: đáp ứng yêu cầu phát triển ( đổi mới về tổ chức, vận hành và cảnh quan môi trường), đạt hiệu quả cao nhất trên tất cả các mặt ( kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội), tiến bộ hơn so với mô hình cũ, chứa đựng các đặc điểm chung, có thể phổ biến và vận dụng trên các nước
Có thể khái niệm: “ Mô hình nông thôn mới là tổng thể những đặc điểm, cấu trúc tạo thành một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng yêu cầu mới đặt ra cho nông thôn trong điều kiện hiện nay, là kiểu nông thôn được
Trang 15xây dựng so với mô hình nông thôn cũ ( truyền thống, đã có ) ở tính tiên tiến về
mọi mặt” (Phan Xuân Sơn, Nguyễn Cảnh, 2008).
2.1.2 Hiện trạng nông thôn Việt Nam
- Đặc điểm chung của nông thôn:
+ Thứ nhất, ở vùng nông thôn, các cư dân chủ yếu là nông dân và làm nghề nông, đây là địa bàn hoạt động chủ yếu của các ngành sản xuất vật chất nông, lâm, ngư nghiệp và các ngành nghề kinh doanh, dịch vụ phi nông nghiệp
+ Thứ hai, nông thôn thể hiện tính chất đa dạng về điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái
+ Thứ ba, cư dân nông thôn có mối quan hệ họ tộc và gia đình khá chặt chẽ với những quy định cụ thể của từng họ tộc và gia đình
+ Thứ tư, nông dân lưu giữ và bảo tồn nhiều di sản văn hoá của quốc gia như các phong tục tập quán cổ truyền về đời sống, lễ hội, sản xuất nông nghiệp
và ngành nghề truyền thống, các di tích lịch sử, các danh lam thắng cảnh
(Nguyễn Thị Phương Hoa, 2012).
- Theo báo cáo đánh giá tổng quan về thực trạng nông thôn, nông nghiệp
từ kết quả tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2011, tính đến 01/7/2011, cả nước có 9.071 xã, hầu như không có sự thay đổi về số lượng đơn
vị hành chính cấp xã trong 5 năm qua Cả nước có 80.904 thôn, ấp, bản, tăng 0.35% so với số 80.620 thôn của năm 2006 Nông thôn nước ta có 15,3 triệu hộ với xấp xỉ 32 triệu người trong độ tuổi lao động, tăng 11,4% về số hộ và 4,5%
về lao động so với kỳ tổng điều tra năm 2006 (Tổng cục thống kê, 2011)
- Việt Nam là nước có nền kinh tế đang chuyển đổi từ nông nghiệp sang công nghiệp hóa, nông dân là lực lượng lao động xã hội chính chiếm hơn 70% dân số và trên 50% lực lượng lao động xã hội Do đó nông nghiệp được coi là yếu tố quan trọng trong việc xóa đói nghèo, tăng thu nhập cho nông dân và mở đường cho các chính sách đổi mới phát triển nông nghiệp nông thôn Thực hiện công cuộc đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, bằng tinh thần lao động cần cù,
Trang 16sáng tạo, giai cấp nông dân cùng với nhân dân cả nước tạo nên những thành tựu khá toàn diện và to lớn trên mặt trận sản xuất nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, góp phần quan trọng vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội, xoá đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống của nhân dân, làm thay đổi bộ mặt của nông thôn ngày nay được thể hiện ở những mặt sau:
+ Kết cấu hạ tầng nông thôn tiếp tục được xây dựng mới và nâng cấp cả
về chiều rộng và chiều sâu, tạo điều kiện cho sản xuất phát triển; bộ mặt nông thôn có nhiều đổi mới (Tổng cục thống kê, 2011)
•Phát triển nhanh mạng lưới điện ở nông thôn đã tạo điều kiện thuận lợi
để điện khí hoá NT, NN, phục vụ sản xuất và đời sống Đây là một trong những nội dung quan trọng hàng đầu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá NN, NT Dưới
sự triển khai của các cấp, các nghành và Chính phủ mang lại kết quả tốt, có bước phát triển mới
•Giao thông nông thôn đã phát triển cả về số lượng và chất lượng ở đường xã, đường liên thôn và đường nội đồng góp phần tích cực tạo điều kiện thuận lợi để thu hút các nhà đầu tư về khu vực NT, tạo công ăn, việc làm, xoá đói, giảm nghèo và là yếu tố cơ bản giải quyết được nhiều vấn đề KT-XH khác Tuy nhiên hệ thống đường giao thông NT ở vùng sâu, vùng núi cao, hải đảo vẫn nhiều khó khăn
•Hệ thống thuỷ lợi được chú trọng xây dựng mới và nâng cấp song chưa đồng đều Cụ thể như số trạm bơm nước phục vụ sản xuất NLTS trên địa bàn xã vùng nhiều nhất là ĐBSH (3,7 trạm/xã), ĐBSCL (2,5 trạm/xã), Bắc trung bộ duyên hải miền trung (1,4 trạm/xã); thấp nhất là vùng TN, ĐNB chỉ đạt mức 0,2 trạm/xã
•Hệ thống trường học các cấp ở khu vực NT được xây dựng mới, nâng cấp và cơ bản xoá xong tình trạng trường tạm, lớp tạm
Trang 17•Hệ thống cơ sở y tế nông thôn tiếp tục được tăng cường khá toàn diện, thực
sự trở thành tuyến chăm sóc sức khoẻ ban đầu, quan trọng của dân cư nông thôn
•Mạng lưới thông tin, văn hóa phát triển nhanh, góp phần cải thiện đời sống tinh thần của nhân dân
•Chợ nông thôn đã được kiên cố hoá hơn trước
•Hệ thống tín dụng nhân dân nông thôn tiếp tục tăng, tạo điều kiện thuận lợi cho dân cư tiếp cận nguồn vốn tín dụng phục vụ sản xuất, kinh doanh và đời sống
•Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn đã có bước cải thiện song vẫn là một vấn đề bức xúc ở nhiều vùng thôn quê, đặc biệt là các vùng sâu, vùng
xa Theo số liệu Tổng cục thống kê năm 2011 cho biết cả nước có 4.216 xã (chiếm 46,5% so với tổng số xã) có hệ thống cấp nước sinh hoạt tập trung, tăng 10% so với năm 2006, góp phần quan trọng trong nâng cao chất lượng cuộc sống và bảo vệ sức khỏe của dân cư NT Trong 6 vùng KT-XH, vùng ĐBSCL
có đến 81,1% xã có hệ thống cấp nước sinh hoạt tập trung; tiếp theo là Trung du miền núi phía bắc đạt 59,1% Các vùng còn lại dưới mức bình quân cả nước là
TN (45%); Bắc trung bộ duyên hải miền trung (33,8%) và thấp nhất là ĐBSH chỉ đạt 24,5% Tính đến 01/7/2011 cả nước có 1.674 xã và 6.891 thôn đã xây dựng hệ thống thoát nước thải chung, chiếm tỷ lệ 18,5% số xã và 8,5% số thôn (năm 2006 các tỷ lệ tương ứng là 12,2% và 5,6%) ĐBSH là vùng đạt tỷ lệ cao nhất với 37,6% số xã và 26,6% số thôn đã xây hệ thống thoát nước thải chung, trong khi TN đạt tỷ lệ thấp nhất (các tỷ lệ tương ứng là 3,9% và 1,3%) Tuy tỷ lệ
xã đã xây dựng được hệ thống thoát nước thải chung còn thấp ở hầu hết các vùng, nhưng đó là một tiến bộ bước đầu trong chuyển biến nhận thức và hành động của các cấp, các ngành cũng như các hộ gia đình NT về bảo vệ môi trường qua xử lý nước thải, nhất là các vùng có các làng nghề, khu công nghiệp, cụm công nghiệp tập trung, trang trại chăn nuôi Các hoạt động thu gom rác thải sinh hoạt trên địa bàn NT những năm gần đây cũng được nhiều địa phương quan tâm
Trang 18Đến năm 2011, cả nước có 3.996 xã có tổ chức (hoặc thuê) thu gom rác thải, chiếm tỷ lệ 44% (năm 2006 có 28,4%) và 25,8% số thôn có tổ chức (hoặc thuê) thu gom rác thải Tuy kết quả đạt được còn thấp và chưa đều giữa các vùng, các địa phương nhưng xu hướng chung là tăng dần so với các năm trước Đạt cao nhất về 2 chỉ tiêu trên là vùng ĐBSH (81,6% và 66,2%), thấp nhất là TDMNPB (chỉ 12,7% và 4,4%) Tỷ lệ hộ NT có hố xí tăng từ 88,8% năm 2006 lên 91,4% năm 2011, trong đó hố xí tự hoại/bán tự hoại tăng nhanh từ 16,9% lên 44,1%
Xử lý rác sinh hoạt khu vực NT tuy có nhiều khó khăn nhưng tỷ lệ hộ có người đến thu gom rác đạt gần 25% vào năm 2011 Dù có những bước tiến bộ so với 5 năm trước đây song môi trường ở NT vẫn là một trong ít những lĩnh vực có nhiều hạn chế, yếu kém nhất trong bức tranh toàn cảnh có nhiều khởi sắc về KT-
XH ở NT nước ta Những con số dưới 1/5 số xã và dưới 1/10 số thôn có hệ thống thoát nước thải chung; dưới 45% số xã và dưới 1/3 số thôn có tổ chức (hoặc thuê) thu gom rác thải và gần 1/4 hộ có người đến thu gom rác từ kết quả TĐT năm 2011 đã thể hiện điều đó Sự kém 26 phát triển về hạ tầng hệ thống nước thải và dịch vụ thu gom rác thải đặc biệt xảy ra ở các vùng TDMNPB và
1077 làng nghề của năm 2006 và 710 làng nghề của năm 2001 Tuy nhiên, mặt trái của các làng nghề NT cũng còn nhiều, nhất là tình trạng gây ô nhiễm môi trường NT: nước thải, chất thải do các làng nghề tạo ra tại các vùng quê gây ô
Trang 19nhiễm nguồn nước, không khí, đất đai ảnh hưởng đến cây trồng, vật nuôi và sức khỏe người dân còn rất phổ biến Theo kết quả TĐT năm 2011, tỷ lệ làng nghề
sử dụng thiết bị xử lý nước, chất thải độc hại chỉ đạt 4,1% và thực trạng này đang cho thấy rõ nguy cơ gây ô nhiễm môi trường rất cao của các làng nghề ở
NT nước ta (Tổng cục Thống Kê, 2011)
+ Cơ cấu ngành nghề của hộ nông thôn đã có sự chuyển dịch theo hướng tích cực, song vẫn chưa khắc phục được sự chênh lệch lớn giữa các vùng kinh tế- xã hội thể hiện ở các điểm sau :
•Chuyển dịch cơ cấu ngành nghề hộ NT có nhiều tiến bộ, giảm nhanh tỉ
lệ lao động trong ngành nông lâm thủy sản và tăng ở ngành công nghiệp xây dựng và dịch vụ
•Trình độ chuyên môn của lao động NT đã được nâng lên Trong những năm qua, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách và Chương trình đào tạo nghề cho nông dân Với sự hỗ trợ của Nhà nước trong việc đào tạo nghề miễn phí, trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động NT đã nâng lên Số người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật từ sơ cấp trở lên năm 2011 chiếm tỷ lệ 11,2% (năm 2006 đạt 8,2% và năm 2001 đạt 6,2%), trong đó: trình độ trung cấp lần lượt ở các năm 2011, 2006 và 2001 là 4,3%, 3% và 2,5 %; trình độ đại học là 2,2%, 1,1% và 0,7% trong 3 năm tương
ứng (Tổng Cục Thống Kê, 2011).
• Kinh tế NT tiếp tục phát triển, thu nhập và tích luỹ của hộ NT tăng Với mức tăng trưởng bình quân trong 5 năm qua đạt 7%, GDP bình quân đầu người
năm 2010 đạt 1.168 USD (Tổng Cục Thống kê, 2011).
- Tuy nhiên, trong quá trình phát triển nông thôn hiện nay còn một số tồn tại khi một số chính sách về nông nghiệp, nông dân, nông thôn chưa thực sự có hiệu quả và chưa mang lại lợi ích cho nông dân như mong muốn Nông dân chưa được hưởng lợi tương xứng với những thành quả lao động cũng như những chính sách mà Đảng và Nhà nước đề ra; còn gặp nhiều khó khăn trong đời sống
Trang 20và sản xuất Tại cuộc hội thảo "Công nghiệp hóa nông thôn và phát triển nông thôn Việt Nam - Đài Loan", do Viện Khoa học Xã hội Việt Nam và Viện Nghiên cứu Trung ương Đài Loan tổ chức ngày 17/12/2007, và cuộc hội thảo
“Nông dân Việt Nam trong quá trình hội nhập” do Viện Chính sách và Chiến lược phát triển Nông nghiệp nông thôn tổ chức ngày 18/12/2007, các chuyên gia
đã liệt kê ra những vấn đề xã hội bức xúc, nan giải trong 20 năm qua Đó là vấn
đề khoảng cách giàu - nghèo và bất bình đẳng xã hội; tình trạng thiếu việc làm,
di dân tự phát; xung đột xã hội gia tăng; dân trí và quan trí thấp; dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe yếu kém; đời sống văn hóa có nhiều biểu hiện tiêu cực, xuống cấp; năng lực quản lý xã hội, kết cấu hạ tầng thấp kém; môi trường bị ô nhiễm và suy thoái ở mức báo động
2.2 Giới thiệu chương trình mục tiêu xây dựng nông thôn mới
2.2.1 Khái niệm nông thôn mới
oKhái niệm nông thôn mới
+ Tiêu chuẩn “ Hộ nông thôn mới ”
Gương mẫu chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà Nước và quy định của địa phương; tích cực tham gia các phong trào thi đua của địa phương:
-Thực hiện tốt quyền, nghĩa vụ công dân; không vi phạm pháp luật nhà nước, quy định của địa phương và quy ước, hương ước cộng đồng
-Giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; vệ sinh môi trường; nếp sống văn hóa nơi công cộng; bảo vệ di tích lịch sử, văn hóa, cảnh quan của địa phương; tích cực tham gia các hoạt động đời sống văn hóa ở khu dân cư
-Không vi phạm các quy định về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội; không sử dụng và lưu hành văn hóa phẩm độc hại; không mắc các tệ nạn xã hội; tham gia tích cực bài trừ tệ nạn xã hội và phòng chống các loại tội phạm
Trang 21-Tham gia đầy đủ các phong trào thi đua; các sinh hoạt, hội họp ở cộng đồng.Gia đình hòa thuận, hạnh phúc, tiến bộ, tương trợ giúp đỡ mọi người trong cộng đồng:
-Vợ chồng bình đẳng, thương yêu, giúp đỡ nhau tiến bộ Không có bạo lực gia đình dưới mọi hình thức; thực hiện bình đẳng giới; sinh con đúng quy định, cùng có trách nhiệm nuôi con khỏe, dạy con ngoan
-Gia đình nề nếp; ông bà, cha mẹ gương mẫu, con cháu thảo hiền; giữ gìn các giá trị văn hóa gia đình truyền thống, đặc biệt tiếng nói, chữ viết, trang phục
và phong tục tập quán tốt của dân tộc mình, tiếp thu chon lọc các giá trị văn hóa mới về gia đình
-Giữ gìn vệ sinh phòng bệnh,có trên 50% số người trong hộ có bảo hiểm
y tế
-Nhà ở ngăn nắp, khuôn viên xanh-sạch-đẹp; sử dụng nước sạch, nhà tắm, nhà vệ sinh và chuồng nuôi gia súc hợp vệ sinh, được chỉnh trang xây dựng theo quy hoạch; các thành viên có nếp sống lành mạnh, thường xuyên luyện tập thể dục, thể thao
Tích cự tham gia chương trình xóa đói, giảm nghèo; đoàn kết tương trợ xóm giềng, giúp đỡ đồng bào hoạn nạn; hưởng ứng phong trào đền ơn đáp nghĩa, cuộc vận động “Ngày vì người nghèo” và các hoạt động nhân đạo khác ở cộng đồng
Tổ chức lao động, sản xuất, kinh doanh, công tác, học tập đạt năng suất, chất lượng, hiệu quả:
-Trẻ em trong độ tuổi đi học đều đựơc đến trường, chăm ngoan, hiếu học; người lớn trong độ tuổi lao động có việc làm thường xuyên, thu nhập ổn định,hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Trên 50% lao động trong hộ được đào tạo nghề
-Có kế hoạch phát triển kinh tế gia đình, chủ động xóa đói giảm nghèo, làm giàu chính đáng
Trang 22-Kinh tế gia đình ổn định, thực hiện tiết kiệm, đời sống vật chất,tinh thần
của các thành viên trong gia đình ngày càng cao (Diễn Phước quê mình, nhiều tác giả, 2013)
+ Tiêu chuẩn “ Xóm nông thôn mới ”
Có tối thiểu 70% số hộ đạt chuẩn “Hộ nông thôn mới”
(1) Thực hiện đúng quy định của xã về hạ tầng, sản xuất, dân cư
(2) Các công trình hạ tầng, kinh tế đạt chuẩn( giao thông : trên 50% số đường trục thôn được cứng hóa đạt chuẩn ; thủy lợi: hệ thống thủy lợi trên địa bàn đáp ứng cơ bản yêu cầu về sản xuất và dân sinh; điện: trên 70% số hộ
sử dụng điện an toàn, thường xuyên; cơ sở vật chất trường học trên địa bàn đạt chuẩn; có nhà văn hóa, khu thể thao theo quy định của Bộ văn hóa- thể thao và
du lịch; 60% nhà ở đạt chuẩn Bộ xây dựng, không còn nhà tạm
(3) Về thu nhập: 90% số hộ có đời sống ổn định; Tỷ lệ hộ nghèo <5%.(4) Đời sống văn hóa, tinh thần lành mạnh, phong phú:
-Có hương ước cộng đồng và thực hiện đầy đủ; các công trình lịch sử, văn hóa, cảnh quan được tôn tạo, bảo vệ; thực hiên nếp sống văn minh trong tiệc cưới, việc tang…không có người mắc tệ nạn xã hội (nghiện hút cờ bạc, mại dâm, vận chuyển, tàng rữ, mua bán ma túy và các văn hóa phẩm thuộc diện cấm lưu hành) Có phong trào giúp nhau giảm nghèo, cải thiện nâng cấp nơi ăn, ở phù hợ yêu cầu
-60% số hộ được sử dụng nước sạch, nhà tắm, nhà tiêu, chuông nuôi gia súc hợp vệ sinh; không có hoạt động suy giảm môi trường; nghĩa trang được quản lý theo kế hoạch; rác thải, chất thải được thu gom xử lý thích hợp; đường làng, ngõ xóm phong quang, sạch sẽ
(5) Trong năm chi bộ và các tổ chức đoàn thể xếp loại khá trở lên, không
có điểm nóng về an ninh, trật tự xã hội; không có khiếu kiện đông người vượt
cấp kéo dài (Diễn Phước quê mình, nhiều tác giả, 2013).
+ Tiêu chí “ Xã nông thôn mới”
Gồm 19 tiêu chí trên 5 lĩnh vực được quy định tại Quyết định số
Trang 23491/2009/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ.
-5 nhóm là: Quy hoạch; Hạ tầng kinh tế, xã hội; Kinh tế và tổ chức sản xuất; Văn hóa- xã hội- môi trường; hệ thống chính trị
-19 tiêu chí là: 1 Quy hoạch; 2 Giao thông; 3 Thủy lợi; 4 Điện; 5 Trường học; 6 Cơ sở vật chất văn hóa; 7 Chợ; 8 Bưu điện; 9 Nhà ở dân cư;
10 Thu nhập; 11 Tỷ lệ hộ nghèo; 12 Cơ cấu lao động; 13 Hình thức tổ chức sản xuất; 14 Giáo dục; 15 Y tế; 16 Văn hóa; 17 Môi trường; 18 Hệ thống tổ
chức chính trị xã hội vững mạnh; 19 An ninh, trật tự xã hội (Diễn Phước quê mình, nhiều tác giả, 2013).
oXây dựng nông thôn mới
Xây dựng nông thôn mới là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để cộng đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của mình khang trang, sạch đẹp; phát triển sản xuất toàn diện ( nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ); có nếp sống văn hóa, môi trường và an ninh nông thôn được đảm bảo; thu nhập, dời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao
Xây dựng nông thôn mới là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, của
cả hệ thống chính trị Nông thôn mới không chỉ là vấn đề kinh tế - xã hội mà còn cả vấn đề kinh tế - chính trị tổng hợp
Xây dựng nông thôn mới giúp cho nông dân có niềm tin, trở nên tích cực chăm chỉ, đoàn kết giúp đỡ nhau xây dựng nông thôn phát triển giàu đẹp, dân chủ,
văn minh (Tài liệu đào tạo, hướng dẫn cán bộ xây dựng nông thô mới – trường chính trị Trần phú, Hà tĩnh 2013)
2.2.2 Đặc trưng của nông thôn mới
Theo cuốn sổ tay “ Sổ tay hướng dẫn xây dựng nông thôn mới” ( Nhà
xuất bản lao động 2010), đặc trưng của NTM thời kỳ CNH – HĐH, giai đoạn
2010 – 2020, bao gồm:
- Kinh tế phát triển, đời sống vật chất và gia đình của cư dân nông thôn được nâng cao;
Trang 24- Nông thôn phát triển theo quy hoạch, có kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội hiện đại, môi trường sinh thái được bảo vệ;
- Dân trí được nâng cao, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát huy;
- An ninh tốt, quản lý dân chủ;
- Chất lượng hệ thống chính trị được nâng cao…
2.2.3 Mục tiêu và nhiệm vụ của chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới
nghĩa (Quyết định số 800/QĐ- TTg ngày 04 tháng 06 năm 2010 quyết định phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020).
o Mục tiêu chung của chương trình xây dựng nông thôn mới tỉnh Thái Bình.Xây dựng nông thôn mới theo hướng truyền thống, văn minh, hiện đại, có kết cấu hạ tầng phù hợp với quy hoạch không gian làng, xã, quy hoạch kinh tế - xã hội của ngành và địa phương; giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc; đảm bảo môi trường sinh thái… Nhanh chóng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân, rút ngắn khoảng cách giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng, miền, đặc biệt quan tâm vùng núi, vùng sâu, vùng tái định cư; nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, xây dựng giai cấp nông dân mới theo
ý thức tự vươn lên, có khả năng làm chủ nông thôn mới Đảm bảo an ninh chính
Trang 25trị và trật tự an toàn xã hội ( Quyết định số 491/QĐ/TTg ngày 16/4/2009 thủ tướng chính phủ)
Mục tiêu cụ thể
oMục tiêu cụ thể của chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới.Đến năm 2015: 20% số xã đạt tiêu chuẩn Nông thôn mới (theo bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới)
Đến năm 2020: 50% số xã đạt tiêu chuẩn Nông thôn mới (theo bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới)
oMục tiêu cụ thể của chương trình xây dựng nông thôn mới Thái Bình Đến năm 2020 Thái Bình trở thành tỉnh nông thôn mới có nền nông nghiệp và công nghiệp theo hướng hiện đại
- Từng bước nâng cao chất lượng giáo dục, y tế, văn hóa và đảm bảo an
ninh nông thôn (Quyết định số 800/QĐ- TTg ngày 04 tháng 06 năm 2010 quyết định phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010- 2020).
2.2.4 Thời gian và phạm vi thực hiện
- Thời gian thực hiện: từ năm 2010 đến năm 2020
- Phạm vi: Thực hiện trên địa bàn nông thôn của toàn quốc
Trang 262.2.5 Nội dung của chương trình
- Quy hoạch xây dựng nông thôn mới
- Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội
- Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập
- Giảm nghèo và an sinh xã hội
- Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở nông thôn
- Phát triển giáo dục, đào tạo ở nông thôn
- Phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe của cư dân nông thôn
- Xây dựng đời sống văn hóa, thông tin và truyền thông nông thôn
- Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
- Nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, chính quyền, đờn thể chính trị - xã hội trên địa bàn
- Giữ vững an ninh, trật tự xã hội nông thôn (Quyết định số 800/QĐ- TTg ngày 04 tháng 06 năm 2010 quyết định phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020).
2.2.6 Nguyên tắc và nguồn lực xây dựng nông thôn
a Nguyên tắc
- Nội dung xây dựng nông thôn mới hướng tới thực hiện Bộ tiêu chí Quốc gia được quy định tại Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ
- Xây dựng nông thôn mới theo phương châm phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa phương là chính, Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các tiêu chí, quy chuẩn, đặt ra các chính sách, cơ chế hỗ trợ và hướng dẫn Các hoạt động cụ thể do chính cộng đồng ở thôn, xã bàn bạc dân chủ để quyết định và tổ chức thực hiện
- Được thực hiện trên cơ sở kế thừa và lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình hỗ trợ có mục tiêu, các chương trình, dự án khác
Trang 27đang triển khai ở nông thôn; có cơ chế, chính sách khuyến khích mạnh mẽ đầu
tư của các thành phần kinh tế; huy động đóng góp của các tầng lớp dân cư
- Được thực hiện gắn với quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng của mỗi địa phương (xã, huyện, tỉnh); có quy hoạch và cơ chế đảm bảo cho phát triển theo quy hoạch ( trên cơ sở các tiêu chuẩn kinh tế, kĩ thuật do các Bộ chuyên ngành ban hành)
- Là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; cấp ủy Đảng, chính quyền đóng vai trò chỉ đạo, điều hành quá trình xây dựng quy hoạch, kế hoạch, tổ chức thực hiện; hình thành cuộc vận động “ Toàn dân xây dựng nông thôn mới” do mặt trận Tổ quốc chủ trì cùng các tổ chức chính trị - xã hội vận động mọi tầng lớp nhân dân phát huy vai trò chủ thể trong việc xây dựng nông thôn mới
- Huy động đóng góp của cộng đồng dân cư: Khoảng 10%
2.2.7 Tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020
Căn cứ vào quyết định 491/QĐ-TTg được ban hành kèm theo bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới
Bộ tiêu chí là căn cứ để xây dựng nội dung chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới; chỉ đạo thí điểm xây dựng mô hình nông thôn mới trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; kiểm tra đánh giá công nhận xã, huyện, tỉnh đạt nông thôn mới
Bộ tiêu chí 5 nhóm với 19 tiêu chí - là cụ thể hóa các định tính của nông thôn mới Việt Nam giai đoạn 2010 – 2020
Trang 28+ Nhóm 1: Quy hoạch - 1 tiêu chí.
+ Nhóm 2: Hạ tầng kinh tế - xã hội - 8 tiêu chí
+ Nhóm 3: Kinh tế và tổ chức sản xuất - 4 tiêu chí
+ Nhóm 4: văn hóa – xã hội – môi trường - 4 tiêu chí
+ Nhóm 5: Hệ thống chính trị - 2 tiêu chí
Một xã đạt đủ 19 tiêu chí là đạt chuẩn nông thôn mới
- Căn cứ vào bộ tiêu chí quốc gia và các Bộ ngành liên quan đều xây dựng quy chuẩn cho ngành, chủ yếu là các tiêu chuẩn kĩ thuật cho các công trình hạ tầng, để áp dụng khi xây dựng nông thôn mới
- Tuy nhiên đến ngày 20/2/2013 Thủ tướng chính phủ đã ban hành quyết định 342/QĐ-TTg sửa đổi 5 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới ban hành tại quyết định 491/QĐ-TTg Theo đó 5 tiêu chí của bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới gồm: tiêu chí số 7 về chợ nông thôn, tiêu chí số 10 về thu nhập, tiêu chí số 12 về cơ cấu lao động, tiêu chí só 14 về giáo dục và tiêu chí số
15 về y tế (Tài liệu đào tạo, hướng dẫn cán bộ xây dựng nông thô mới – trường chính trị Trần phú, Hà tĩnh 2013)
2.2.8 Tiêu chí môi trường và mục tiêu thực hiện tiêu chí môi trường
a Tiêu chí môi trường là một trong những tiêu chí của bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới được các cấp, các ngành hết sức quan tâm Theo Quyết định 800/QĐ-TTg ngày 4/6/2010 về “Phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020”
Xã được công nhận đạt tiêu chí môi trường khi đạt được 05 yêu cầu:
+ Tỷ lệ hộ được sử dụng nước sạch hợp vệ sinh theo quy định đạt mức quy định của vùng;
+ 90% cơ sở sản xuất - kinh doanh trên địa bàn đạt chuẩn về môi trường ( 10% còn lại tuy có vi phạm nhưng đang khắc phục);
+ Đường làng, ngõ xóm,cảnh quan từng hộ xanh – sạch – đẹp, không có hoạt động làm suy giảm môi trường;
Trang 29+ Nghĩa trang có quy hoạch và quản lý theo quy hoạch;
+ Chất thải, nước thải được thu gom và xử lý theo quy định
b Giải thích
+ Tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch hợp vệ sinh theo quy định:
- Nước sạch theo Quy chuẩn Quốc gia là nước đáp ứng các chỉ tiêu theo quy định của Quy chuẩn kĩ thuật Quốc gia ( QCVN: 02: 2009/BYT) về chất lượng nước sinh hoạt do bộ trưởng bộ y tế ban hành tại thông tư số 05/2009/TT-BYT ngày 17/6/2009
- Nước hợp vệ sinh là nước sử dụng trực tiếp hoặc sau khi lọc thỏa mãn yêu cầu chất lượng: không màu, không mùi, không vị lạ, không chứa thành phần gây ảnh hưởng tới sức khỏe con người, có thể dùng để ăn uống sau khi đun sôi
- Tỷ lệ hộ sử dụng nước hợp vệ sinh và nước theo quy chuẩn quốc gia theo vùng quy định như sau:
Trung du miền núi phía bắc và Tây nguyên : 80% số hộ sử dụng nước hợp vệ sinh, trong đó có 45% số hộ sử dụng nước sạch đáp ứng quy chuẩn Quốc gia
Đồng bằng sông Hồng, Đông nam bộ, và Đồng bằng sông Cửu long: 90%
số hộ sử dụng nước hợp vệ sinh, trong đó có 50% số hộ sử dụng nước sạch đáp ứng quy chuẩn Quốc gia
Bắc trung bộ và Duyên hải nam trung bộ: 85% số hộ sử dụng nước hợp vệ sinh, trong đó có 50% số hộ sử dụng nước sạch đáp ứng quy chuẩn Quốc gia + Các cơ sở sản xuất kinh doanh đạt tiêu chuẩn môi trường nếu trong quá trình sản xuất, chế biến có xả nước thải, chất thải rắn, mùi, khói bụi, tiếng ồn nằm trong giới hạn theo quy định của Bộ trưởng Bộ tài nguyên và môi trường theo Thông
tư số 46/2011/TT-BTNMT ngày 26-12-2011 quy định về bảo vệ môi trường làng nghề, Thông tư số 47/2011/TT-BTNMT ngày 28/12/2011 quy định quy chuẩn kĩ thuật quốc gia về môi trường và các văn bản khác có liên quan
Trang 30- Chuồng trại chăn nuôi hợp vệ sinh là các chuông trại đáp ứng nhu cầu: nằm cách biệt với nhà ở; chất thải chăn nuôi (phân, nước tiểu) được thu gom xử
lý, không xả trần lan trên bề mặt đất, không gây ô nhiễm nguồn nước và môi trường xung quanh
+ Đạt tiêu chí đường làng, ngõ xóm, cảnh quan từng hộ xanh – sạch – đẹp, không có hoạt động làm suy giảm môi trường khi đáp ứng các yêu cầu:
+ Nghĩa trang có quy hoạch và quản lý theo quy hoạch:
- Mỗi thôn hoặc liên thôn hoặc xã, liên xã có quy hoạch đất làm nghĩa trang lâu dài phù hợp với tập quán của địa phương ( trừ nơi có tập quán an táng không ở nghĩa trang);
- Có quy chế quản lý nghĩa trang;
- Việc tang người chết phải phù hợp với tín ngưỡng, phong tục, tập quán tốt, truyền thống văn hóa và nếp sống văn minh hiện đại
+ Rác thải, chất thải, nước thải được xử lý và thu gom là:
- Hộ gia đình có nhà vệ sinh, nhà tắm đạt tiêu chuẩn quy định; có hệ thống tiêu thoát ( nước thải, chất thải sinh hoạt ) đảm bảo vệ sinh, không gây ô nhiễm không khí và nguồn nước xung quanh;
- Mỗi khu dân cư tập trung của thôn, xã phải có hệ thống tiêu thoát nước thải thông thoáng, hợp vệ sinh
- Thôn xã có tổ dịch vụ thu gom rác thải và xử lý tại bãi rác tập trung
( Thông tư số 41/2013/TT-BNNPTNT)
Trang 312.3 Hiện trạng thực hiện chương trình mục tiêu xây dựng nông thôn mới
2.3.1 Kinh nghiệm từ một số nước trên thế giới
a Trung Quốc
Nông thôn Việt Nam và Trung Quốc có nhiều nét tương đồng Trung Quốc đã thực hiện nhiều chính sách cải cách ở nông thôn Đến năm 2009, Trung Quốc đầu tư làm mới và sửa chữa khoảng 300.000 km đường bộ nông thôn; hỗ trợ trên 46 triệu người nghèo đảm bảo đời sống tối thiểu; triển khai thí điểm ở
320 huyện về bảo hiểm dưỡng lão xã hội nông thôn (Phạm Anh, Văn Lợi,2011).
Nhà nước đầu tư nhiều hơn vào nông nghiệp Đầu tiên là năm 2006 Trung Quốc đã xóa bỏ thuế nông nghiệp tồn tại hơn 2600 năm, cắt gần 15 tỷ USD gánh nặng thuế của nông dân Việc xóa bỏ thuế làm cho ngân sách các xã giảm nhiều, nhất là ở các vùng không có hoạt động phi nông nghiệp Ngân sách cho phát triển nông thôn tăng lên Xây dựng một cơ chế để công nghiệp và đô thị thúc đẩy phát triển nông thôn Sự phân phối thu nhập quốc dân sẽ được điều chỉnh để cho việc tiêu thụ thuế và đầu tư ngân sách, tài sản cố định, tín dụng sẽ tăng cho nông nghiệp và nông thôn Đặc biệt đầu tư để cải tiến sản xuất và điều kiện sống sẽ trở thành một luồng ổn định để tăng vốn cho xây dựng Năm 2005 Nhà nước đã chi khoảng 33 tỷ USD cho Tam nông; năm 2206 là 43 tỷ; năm
2007 là 47 tỷ
Công cuộc cải cách nông thôn Trung Quốc qua nhiều dấu mốc Trong đó những dấu mốc quan trọng là xóa bỏ công xã nhân dân; xã lập thể chế kinh doanh hai tầng lớp, lấy kinh doanh bao thầu gia đình làm cơ sở; mở cửa toàn diện thị trường nông sản; xóa bỏ thuế nông nghiệp, và thực hiện trợ cấp trực tiếp cho nông dân Trung Quốc thực hiện nội dung hai mở, một điều chỉnh, là mở cửa giá thu mua, thị trường mua bán lương thực; một điều chỉnh là chuyển trợ cấp gián tiếp qua lưu thông thành trợ cấp trực tiếp cho nông dân trồng lương thực
Trang 32Định hướng phát triển tài chính hỗ trợ Tam nông ở Trung Quốc là nông nghiệp hiện đại, nông thôn đô thị hóa và nông dân chuyên nghiệp hóa Trong chính sách tài chính để tăng thu nhập cho nông dân Trung Quốc tăng đầu tư hỗ trợ về giá mua giống, hỗ trợ thu mua lương thực không thấp hơn giá thị trường, mua máy móc thiết bị nông nghiệp và vốn Cùng đó Trung Quốc cũng tập trung
cơ chế hướng nghiệp, đào tạo kĩ năng làm việc, đặc biệt là lao động trẻ, ngoài ra, bên cạnh giảm thu phí và thuế đối với nông dân, Trung Quốc còn chủ trương đảm bảo trong vòng 3 năm xóa bỏ tình trạng các xã, thị trấn không có dịch vụ tài chính tiền tệ cơ bản Đồng thời thúc đẩy mua đồ gia dụng, ô tô, xe máy tại các
xã bằng cách nhà nước trợ cấp 13% trên tổng giá trị hang hóa khi nông dân mua
sản phẩm (do nhà nước định hướng) (Phạm Anh, Văn Lợi,2011).
b Hàn Quốc
Sau trận lụt lớn năm 1969, người dân Hàn Quốc phải tu sửa lại nhà cửa, đường sá, ruộng vườn mà không có sự trợ giúp của chính phủ Trong khi đi thị sát tình hình dân chúng, Tổng thống Hàn Quốc lúc bấy giờ là Park Chung Hy nhận ra rằng viện trợ của chính phủ là vô nghĩa nếu người dân không nghĩ cách
tự cứu lấy mình Hơn thế nữa, khuyến khích người dân tự hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau là điểm mấu chốt để phát triển nông thôn
Những ý tưởng này chính là nền tảng của phong trào “ Saemaulundong” được đích thân Tổng thống Park phát động vào ngày 22/4/1970 “Saemaul” theo tiếng Hàn có nghĩa là “ sự đổi mới của cộng đồng” được ghép với “undong” có nghĩa là một phong trào “ Saemaulundong” có nghĩa là phong trào đổi mới của cộng đồng Vì phong trào bắt đầu từ nông thôn nên “ Saemaulundong” được hiểu là “Phong trào đổi mới nông thôn” Sự ra đời kịp thời của “ Saemaulundong” đúng lúc nông thôn Hàn Quốc đang trì trệ trong đói nghèo cần
có sự bứt phá mạnh mẽ và những kết quả khả quan đạt được ngay sau đó đã làm
nức lòng nông dân cả nước.( Phan đình hà,2011).
Trang 33Bộ mặt nông thôn Hàn Quốc đã có thay đổi hết sức kì diệu Trong 8 năm
từ 1971 – 1978, Hàn Quốc đã cứng hóa được 43.631 km đường làng nối với đường của xã, trung bình mỗi làng nâng cấp được 1.322 m đường; cứng hóa đường ngõ xóm 42.220km, trung bình mỗi làng là 1.280m; xây dựng được 68.797 cầu ( Hàn Quốc là đất nước có nhiều sông suối), kiên cố hóa 7.839 Km
đê, kè; xây 24.140 hồ chứa nước và 98% hộ có điện thắp sáng Đặc biệt vì không có quỹ bồi thường dất và các tài sản khác nên việc hiến đất, tháo dỡ công trình, cây cối đều do đân tự giác, bàn bạc, thỏa thuận, ghi công lao đóng góp và
hy sinh của các hộ cho phong trào
Nhờ phát triển giao thông nông thôn nên các hộ có điều kiện mua sắm phương tiện sản xuất Cụ thể là năm 1971 cứ cứ 3 làng mới có một máy cày thì đến năm 1975 trung bình mỗi làng có 2,6 máy cày, rồi nâng lên 20 máy vào năm
1980 Từ đó tạo phong trào cơ khí hóa trong sản xuất nông nghiệp, áp dụng công nghệ cao, giống mới lai tạo đột biến công nghệ nhà lưới, nhà kính, trồng rau, hoa quả đã thúc đẩy năng suốt, giá trị sản phẩm nông nghiệp tăng nhanh
Năm 1979 Hàn Quốc đã có 98% số làng tự chủ về kinh tế (Tuấn Anh, 2012).
c Mỹ
Mỹ là nước có điều kiện tự nhiên cực kì thuận lợi để phát triển nông nghiệp Vùng Trung tây của nước này có đất đai màu mỡ nhất thế giới Lượng mưa vừa đủ cho hầu hết các vùng của đât nước; nước sông và nước nguồn cho phép tưới rộng khắp cho những nơi thiếu mưa
Bên cạnh đó các khoản đầu tư lớn và việc tăng cường sử dụng lao động có trình độ cao cũng góp phần vào thành công của ngành nông nghiệp Mỹ Điều kiện làm việc của người nông dân trên đồng rất thuận lợi: máy kéo với các ca bin lắp điều hòa nhiệt độ, gắn kèm với những máy cày, máy xới, máy gặt với tốc
độ nhanh và đắt tiền Công nghệ sinh học giúp phát triển những loại giống chống được bệnh và chịu hạn Phân hóa học và thuốc trừ sâu được sử dụng phổ biến, thậm chí theo các nhà môi trường quá phổ biến Công nghệ vũ trụ được sử
Trang 34dụng để giúp tìm ra những nơi tốt nhất cho việc gieo trồng và thâm canh mùa màng Định kỳ, các nhà nghiên cứu lại giới thiệu các sản phẩm mới và những phương pháp mới phục vụ nuôi trồng thủy sản, hải sản, chẳng hạn tạo các hồ
nhân tạo nuôi cá (Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam, 2009).
Ngành nông nghiệp Mỹ đã phát triển thành một ngành “kinh doanh nông nghiệp”, một khái niệm đặt ra để phản ánh bản chất của tập đoàn lớn của nhiều doanh nghiệp, nông nghiệp trong nền kinh tế Mỹ hiện đại Kinh doanh nông nghiệp bao gồm rất nhiều doanh nghiệp nông nghiệp và các cơ cấu trang trại đa dạng, từ các doanh nghiệp nhỏ một hộ gia đình cho đến các tôt hợp rất lớn hoặc các công ty đa quốc gia sở hữu những vùng đất đâi lớn hoặc sản xuất hang hóa
và nguyên vật liệu cho nông dân sử dụng Sự ra đời ngành kinh doanh nông nghiệp vào cuối thế kỉ XX đã tạo ra ít trang trại hơn nhưng quy mô lại lớn hơn nhiều Đôi khi được sở hữu bởi những cổ đông vắng mặt, các trang tại mang tính tập đoàn này sử dụng nhiều máy móc hơn và ít bàn tay nông dân hơn Vào năm
1940, có 6 triệu trang trại và mỗi trang trại rộng khoảng 67ha Đến cuối thập kỉ
1990, có khoảng 2,2 triệu trang trại nhưng trung bình mỗi trang trại có diện tích 190ha Cũng chính giai đoạn này số lao động nông nghiệp giảm rất mạnh từ 12,5 triệu người năm 1930 xuống 1,2 triệu người vào cuối thập kỉ 1990 dù cho dân số Mỹ tăng lên gấp đôi Vào năm 1900 một nửa lao động là nông dân nhưng đến cuối thế kỉ này chỉ còn 2% lao động trong các trang trại Và gần 60% trong
số nông dân còn lại đó đến cuối thế kỉ này chỉ làm việc một phần thời gian trên trang trại, thời gian còn lại họ làm những việc khác không thuộc tranh trại để bù đắp thêm thu nhập cho mình Chi phí đầu tư vốn cao, cho đất đai và trang thiết
bị khiến cho việc dành toàn bộ thời gian làm việc trên trang trại là cực kì khó khăn cho hầu hết mọi người
Hiện nay trong cuộc sống hiện đại ồn ào, đầy sức ép, người Mỹ ở vùng đô thị hay ven đô hướng về ngôi nhà thô sơ, ngăn nắp và những cánh đồng, phong cảnh miền quê truyền thống yên tĩnh Tuy nhiên để duy trì “trang trại gia đình”
Trang 35và phong cảnh làng quê đó thực sự là một thách thức (Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam, 2009).
2.3.2 Công tác thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới ở nước ta
oToàn quốc
Ở Việt Nam, Chương trình xây dựng thí điểm mô hình NTM trong thời kì CNH-HĐH được triển khai thực hiện theo kết luận số 32 - KL/TW ngày 20/11/2008 của Bộ chính trị và thông báo kết luận số 238 – KL/TW ngày 7/4/2009 của Ban bí thư về đề án: “ Xây dựng thí điểm mô hình NTM” nhằm tổ chức thực hiện nghị quyết số 26 – NQ/TW ngày 5/8/2008 của Hội nghị lần thứ
7, BCH Trung ương Đảng (Khóa X) về “nông nghiệp, nông dân, nông thôn” Chương trình đã thành công bước đầu và đạt được một số kết quả quan trọng
Ngay trong những năm đầu triển khai, chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM đã trở thành phong trảo của cả nước, các nhiệm vụ về xây dựng NTM được xác định rõ trong nghị quyết Đại hội Đảng các cấp từ tỉnh đến huyện
và xã Ban bí thư trung ương khóa X đã trực tiếp chỉ đạo chương trình thí điểm xây dựng mô hình NTM cấp xã tại 11 xã điểm ở 11 tỉnh, thành phố đại diện cho các vùng miền Các xã được chọn thí điểm bao gồm Thanh Chăn ( Điện Biên), Tân Thịnh (Bắc Giang), Hải Đường (Nam Định), Thụy Hương (Hà Nội), Tam phước (Quảng Nam), Tân Lập (Bình Phước), Gia Phố (Hà Tĩnh), Tân Hội (Lâm Đồng), Tân Thông Hội ( TP Hồ Chí Minh), Mỹ Long Nam (Trà Vinh), Đình
Hòa (Kiên Giang) (Nguyên Lý, 2012).
oThái Bình
Thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước về xây dựng NTM, nhất là nghị quyết số 02-NQ/TU ngày 28/4/2011 của ban chấp hành Đảng bộ tỉnh về xây dựng NTM giai đoạn 2011 – 2015, định hướng đến năm 2020, những năm qua Thái bình
đã tích cực huy động các nguồn lực để xây dựng NTM hướng đến mục tiêu: Sản xuất phát triển, cuộc sống sung túc, diện mạo sạch sẽ, thôn xã văn minh, quản lý dân chủ và lấy mục tiêu sản xuất phát triển là bước đột phá đầu tiên
Trang 36Với tinh thần: “ Đồng thuận cao – thi đua giỏi – về đích sớm” phong trào NTM ở Thái Bình đã nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, sự vào cuộc của các cấp, các ngành, đặc biệt là sự đồng thuận, hưởng ứng của các tầng lớp nhân dân, từ đó góp phần tích cực thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng NTM.
Đến hết 12/2014 toàn tỉnh đã có 100% số xã được phê duyệt quy hoạch chung xây dựng NTM, quy hoạch chi tiết hệ thống thủy lợi và giao thông nội đồng, quy hoạch chi tiết khu trung tâm xã; 100% số xã hoàn thành lập đề án xây dựng NTM được cấp có thẩm quyền phê duyệt; 99,6% số xã hoàn thành dồn điền đổi thửa Các địa phương đã đào đắp được 17.622.511m3 bờ vùng, bờ thửa; cứng hóa 939km kênh mương cấp 1 loại 3 và nạo vét hàng nghìn Km sông ngòi; xây mới, chỉnh trang, cải tạo, nâng cấp 4.713,8 km đường giao thông nội đồng
và giao thông nông thôn; 28 trạm bơm, 248 cống đập, 20 trạm cấp nước sạch, 43 trường THCS, tiểu học, 51 trương mầm non, 27 nhà văn hóa xã, 867 nhà văn hóa thôn, 171 trạm y tế, 22 bãi xử lý rác thải, 44 chợ nông thôn, 14 trụ sở xã, 99
xã hoàn thành mạng lưới cấp điện nông thôn ( Báo điện tử Thái Bình, 2015)
Hết năm 2015 toàn tỉnh có 165/263 xã đạt chuẩn quốc gia về NTM, trong
đó 85 xã đã được ủy ban nhân dân tỉnh cấp bằng công nhận năm 2014 , 80 xã và
1 huyện đang hoàn thành các thủ tục câng thiết để công nhận đạt chuẩn quốc gia
về NTM ( Báo điện tử Thái Bình, 2015).
o Kiến Xương
Ban chấp hành Đảng bộ huyện Kiến Xương đã ban hành nghị quyết số 02/NQ-HU ngày 13/12/10 về xây dựng NTM gian đoạn 2010 – 2015, định hướng đến năm 2020 với mục tiêu: kinh tế phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng cao, nông thôn được phát triển theo quy hoạch, có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, môi trường sinh thái được bảo vệ, dân trí được nâng cao, bảo tồn những nét văn hóa tốt đẹp của các làng xã, an ninh chính trị được giữ vững, an toàn xã hội được đảm bảo, dân chủ được mở rộng
Trang 37Mục tiêu cụ thể được xác định: năm 2010 tất cả các xã hoàn thành quy hoạch NTM được huyện phê duyệt đến năm 2015 có 10 xã trở lên đạt chuẩn NTM, đến năm 2020 đạt huyện NTM.
Tính đến hết tháng 12/2015 đã có 23 xã đạt chuẩn NTM, toàn huyện có 578/665 tiêu chí NTM đạt chuẩn, bình quân đạt 16,5 tiêu chí/ xã Phấn đấu đến năm 2017 toàn huyện có trên 85% xã đạt chuẩn NTM (Báo điện tử Kiến Xương- Thái Bình)
2.2.3 Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực hiện chương trình
Công nghiệp, dịch vụ phát triển chậm, chưa đủ sức thúc đẩy chuyển dịch
cơ cấu kinh tế và lao động ở nông thôn
Kết cấu hạ tầng, kinh tế - xã hội ở nông thôn còn yếu kém, năng lực thích ứng đối phó với thiên tai chưa đủ mạnh
Đời sống vật chất, tinh thần của người dân nông thôn còn thấp, chênh lệch giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng còn lớn, tỷ lệ hộ nghèo còn cao
Nhận thức về xây dựng NTM của một bộ phận nông dân còn hạn chế, còn
tư tưởng ỷ nại, trông chờ sự hỗ trợ của nhà nước
Nguồn vốn đầu tư cho chương trình xây dựng NTM chưa đáp ứng yêu cầu
Trang 38PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng nghiên cứu
Tiêu chí 17 trong bộ tiêu chí xây dựng nông thôn mới
3.2 Phạm vi nghiên cứu
• Phạm vi không gian: địa bàn xã Vũ Thắng huyện Kiến Xương
• Phạm vi thời gian: T1/2016 - T5/2016
• Phạm vi chương trình nghiên cứu: Giai đoạn 2010- T3/2016
3.3 Nội dung nghiên cứu
• Đánh giá điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của xã Vũ Thắng và huyện Kiến Xương
• Nghiên cứu tình hình thực hiện 19 tiêu chí xây dựng NTM trên địa bàn xã
• Đề suất các giải pháp biện pháp nâng cao hiệu quả/hoàn thiện
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp lựa chọn điểm nghiên cứu
Mức độ hoàn thành tiêu chí môi trường: Bên cạnh các tiêu chí đã hoàn thành tốt vẫn còn một số tiêu chí chưa hoàn thiện, trong đó có tiêu chí 17 về môi trường Do các hộ dân phân bố đồng đều hết các thôn xóm nên tiến hành điều tra trên toàn xã
Trang 393.4.2 phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
3.4.2.1.Phương pháp điều tra thông qua bảng hỏi
Phỏng vấn 3 cán bộ chủ chốt phụ trách chương trình xây dựng nông thôn mới tại xã, thôn trên địa bàn nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến tiêu chí môi trường trong bộ tiêu chí của chương trình xây dựng nông thôn mới
Lập bộ câu hỏi phỏng vấn sau đó tiến hành phát phiếu điều tra đối với các
hộ gia đình: 160 phiếu, phỏng vấn ngẫu nhiên 20 hộ/ 1 thôn
3.4.2.2 Phương pháp phỏng vấn chuyên gia
Phương pháp phỏng vấn chuyên gia dùng để thu thập các số liệu sơ cấp từ chuyên viên môi trường của phòng tài nguyên môi trường huyện Kiến Xương, chuyên gia phân tích về các chính sách, cán bộ địa phương phụ trách về chương trình xây dựng nông thôn mới, nhằm tìm ra các khó khăn đồng thời đề ra các giải pháp thực hiện
3.4.2.3.Phương pháp khảo sát thực địa
Phương pháp khảo sát thực địa nhằm đánh giá một cách cảm quan về địa bàn nghiên cứu để đưa ra các phát hiện mới
3.4.3 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
- Thu thập các tài liệu, số liệu từ sách, các báo cáo nghiên cứu và mạng internet về chương trình mục tiêu quốc gia trong xây dựng nông thôn mới
- Các tài liệu về điều kiện tự nhiên và xã hội xã Vũ Thắng
- Mục đích:
•Tìm hiểu mục tiêu của chương trình, các văn bản hướng dẫn việc thực hiện chương Các tiêu chí chí đánh giá chất lượng của chương trình xây dựng nông thôn mới nhằm so sánh, đánh giá mức độ hoàn thiện của chương trình tại địa phương
•Tìm hiểu điều kiện tự nhiên- kinh tế xã hội của địa phương: Diện tích đất tự nhiên, dân số, thu nhập bình quân… Nhằm hiểu rõ những đặc điểm chính của khu vực nghiên cứu
Trang 40•Các báo cáo nghiên cứu về quá trình thực hiện xây dựng nông thôn mới trong nước và thế giới Từ đó, vận dụng vào địa phương đề ra các giải pháp góp phần đẩy nhanh tiến độ hoàn thành chương trình xây dựng.
3.4.4 Phương pháp so sánh với các tiêu chuẩn
Bộ tiêu chí quốc gia trong xây dựng nông thôn mớivề nội dung trong tiêu chí 17 và tiêu chuẩn xây dựng có liên quan
3.4.5 Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu điều tra, thu thập được tổng hợp và xử lý thống kê bằng phần mềm Excel