DANH MỤC BẢNGBảng 1.1 Phân nhóm thuốc bảo vệ thực vật theo tính độc của WHO...Error: Reference source not found Bảng 1.2 Phân nhóm thuốc bảo vệ thực vật theo tính độc của nước ta...Error
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA MÔI TRƯỜNG
Giáo viên hướng dẫn : TS PHAN THỊ THÚY
Trang 2HÀ NỘI - 2016
Trang 3HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA MÔI TRƯỜNG
Giáo viên hướng dẫn : TS PHAN THỊ THÚY
Địa điểm thực tập : XÃ ĐÔNG MỸ, TP THÁI BÌNH
Trang 4HÀ NỘI - 2016
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chính bản thân tôi Toàn bộ số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận này là hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng trong bất kì một luận văn, một khóa luận được sử dụng bảo vệ bất kỳ một học hàm, học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong khóa luận đều được ghi
rõ ràng nguồn gốc
Hà Nội, ngày 09 tháng 05 năm 2016
Tác giả
Phạm Thị Minh Phượng
Trang 6LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn T.S Phan Thị Thúy người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn để tôi có thể thực hiện tốt khóa luận này Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc, quý phòng ban cùng toàn thể các thầy cô giáo trong Khoa Môi trường, Học viện nông nghiệp Việt Nam đã trực tiếp giảng dạy, truyền thụ kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập
Xin chân thành cảm ơn Trạm bảo vệ thực vật Thành phố Thái Bình và UBND xã Đông Mỹ, Ban Nông nghiệp xã Đông Mỹ đã nhiệt tình cộng tác và giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu, phỏng vấn
Xin chân thành cảm ơn các hộ nông dân đã giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra phỏng vấn
Cuối cùng, tôi xin tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè những người đã quan tâm ủng hộ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu này
Hà Nội, ngày 09 tháng 05 năm 2016
Tác giả
Phạm Thị Minh Phượng
Trang 7MỤC LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Phân nhóm thuốc bảo vệ thực vật theo tính độc của WHO Error:
Reference source not found
Bảng 1.2 Phân nhóm thuốc bảo vệ thực vật theo tính độc của nước ta Error:
Reference source not found
Bảng 1.3 Phân loại thuốc bảo vệ thực vật theo thời gian phân hủy Error:
Reference source not found
Bảng 3.1 Diện tích gieo trồng các loại cây trồng tại xã Đông Mỹ Error:
Reference source not found
Bảng 3.2 Cơ cấu bố trí mùa vụ một số loại cây trồng tại xã Đông Mỹ
(từ tháng 1 năm 2015 đến tháng 12 năm 2015) Error: Referencesource not found
Bảng 3.3 Danh mục các loại thuốc BVTV thường xuyên sử dụng và giá cả
tính đến ngày 5/4/2016 Error: Reference source not foundBảng 3.4 Liều lượng sử dụng một số loại thuốc BVTV của các hộ điều tra
Error: Reference source not foundBảng 3.5 Số lần phun và khoảng cách giữa các lần phun thuốc BVTV Error:
Reference source not found
Bảng 3.6 Tình hình quản lý bình phun thuốc của các hộ điều tra Error:
Reference source not found
Bảng 3.7 Cách xử lý dụng cụ pha và bình phun thuốc của nông dân Error:
Reference source not found
Trang 10Hình 1.5 Sơ đồ tổ chức quản lý thuốc bảo vệ thực vật Error: Reference
source not found
Hình 3.1 Ranh giới hành chính xã Đông Mỹ Error: Reference source not
found
Hình 3.2 Biểu đồ cơ cấu kinh tế xã Đông Mỹ Error: Reference source not
found
Hình 3.3 Hệ thổng tổ chức QLNN về thuốc BVTV tại tỉnh Thái Bình .Error:
Reference source not found
Hình 3.4 Biểu đồ trình độ văn hóa của cán bộ trạm BVTV thành phố Error:
Reference source not found
Hình 3.5 Kênh phân phối thuốc BVTV trên địa bàn thành phố Error:
Reference source not found
Hình 3.6 Biểu đồ cách thức lựa chọn thuốc BVTV của người dân Error:
Reference source not found
Hình 3.7 Biểu đồ nguồn cung ứng thuốc BVTV cho các hộ điều tra Error:
Reference source not found
Hình 3.8 Biểu đồ tỷ lệ hộ sử dụng hỗn hợp thuốc BVTV cho cây trồng Error:
Reference source not found
Hình 3.9 Biểu đồ thời điểm phun thuốc BVTV cho các loại cây trồng .Error:
Reference source not found
Trang 11Hình 3.10 Biểu đồ tình hình trang bị dụng cụ bảo hộ lao động khi phun thuốc
BVTV của nông dân 57Hình 3.11 Biểu đồ tỷ lệ người dân mắc các triệu chứng ngộ độc thuốc BVTV
Error: Reference source not foundHình 3.12 Biểu đồ cách xử lý lượng thuốc BVTV dư trong bình phun Error:
Reference source not found
Hình 3.13 Biểu đồ cách xử lý bao bì thuốc BVTV của nông dân Error:
Reference source not found
Trang 12ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một nước có nền nông nghiệp phát triển lâu đời, khí hậu nóng ẩm mưa nhiều thuận lợi cho sự phát triển các loại cây trồng nhưng cũng thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của các loài sâu bệnh, cỏ dại gây hại cho mùa màng, ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng nông sản Do vậy, việc sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) nhằm phòng trừ các loại sâu bệnh hại sinh trưởng và phát triển để bảo vệ mùa màng, giữ vững an ninh lương thực quốc gia vẫn là biện pháp quan trọng chủ yếu
Xã Đông Mỹ nằm trong khu vực thành phố Thái Bình nhưng có diện tích đất đai dùng trong sản xuất nông nghiệp lớn, chủ yếu là sản xuất các loại lương thực, thực phẩm, các loại cây hoa màu khác Tuy nhiên, trong những năm gần đây việc phát triển các khu công nghiệp, việc mở rộng tuyến đường
208 và quốc lộ 39 đã thu hẹp diện tích đất nông nghiệp của xã một cách đáng
kể Vì vậy, những người nông dân phải thâm canh tăng vụ, thay đổi cơ cấu mùa vụ và kéo theo đó cũng tăng cường sử dụng các loại hóa chất bảo vệ thực vật Bên cạnh đó, do sự biến đổi khí hậu dẫn đến sự bùng phát các loại dịch bệnh, sâu bệnh hại khác nhau nên việc sử dụng các loại thuốc BVTV cũng tăng theo Việc sử dụng thuốc BVTV là việc mà bà con nông dân nghĩ tới đầu tiên khi dịch bệnh bùng phát Nhưng sử dụng thuốc BVTV là con dao hai lưỡi Nếu biết sử dụng một cách hợp lý, với khả năng diệt trừ dịch hại nhanh, dễ sử dụng, có thể ngăn chặn các đợt dịch bệnh trong thời gian ngắn, có hiệu quả và giúp cây trồng tươi tốt hơn Tuy nhiên, nếu sử dụng một cách bừa bãi, thiếu ý thức, thiếu trách nhiệm, thiếu các biện pháp an toàn thì tai họa thật khôn lường, nhất là xu thế lạm dụng thuốc BVTV đã gây ra những hệ lụy xấu đối với sản xuất, môi trường, hệ sinh thái, sức khỏe cộng đồng và phát triển bền vững
Việc đảm bảo phát triển sản xuất nông nghiệp (SXNN) theo hướng phát triển bền vững đi đôi với bảo vệ môi trường là một đòi hỏi và là thách thức
Trang 13lớn đối với cơ quan quản lý nhà nước về BVTV, xuất phát từ thực trạng nêu trên tôi nghiên cứu đề tài:
“Đánh giá hiện trạng quản lý, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp tại xã Đông Mỹ - Thành phố Thái Bình”.
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá hiệu quả thực trạng quản lý, sử dụng thuốc BVTV tại xã Đông Mỹ góp phần nâng cao chất lượng nông sản, hiệu quả sản xuất và giảm thiểu ô nhiễm môi trường
Trang 14Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Khái niệm và phân loại thuốc bảo vệ thực vật
1.1.1 Khái niệm thuốc bảo vệ thực vật
Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) là những hợp chất hóa học, những chế phẩm sinh học, những chất độc có nguồn gốc tự nhiên hoặc được tổng hợp bằng con đường công nghiệp; được sử dụng để bảo vệ cây trồng và nông sản, chống lại sự phát hại của những sinh vật (SV) gây hại (côn trùng, nhện, chuột, nấm, rong rêu, cỏ dại…)
Theo quy định tại điều 1, chương 1, điều lệ quản lý thuốc BVTV (ban hành theo Nghị định số 58/2002/ND-CP ngày 03/6/2002 của chỉnh phủ:
“Ngoài tác dụng phòng trừ sinh vật gây hại tài nguyên thực vật, thuốc BVTV còn bao gồm cả những chế phẩm có tác dụng điều hòa sinh trưởng thực vật, các chất làm rụng lá, làm khô cây, giúp cho việc thu hoạch mùa màng bằng cơ giới được thận tiện (thu hoạch bông vải, khoai tây bằng máy móc…) Những chế phẩm có tác dụng xua đuổi hoặc thu hút các loài sinh vật gây hại tài nguyên thực vật đến để tiêu diệt
Ở nhiều nước trên thế giới thuốc BVTV có tên gọi là thuốc trừ dịch hại
Sở dĩ gọi là thuốc trừ dịch hại là vì những sinh vật gây hại cho cây trồng và nông sản (côn trùng, nhện, tuyến trùng, chuột, chim, nấm, vi khuẩn, cỏ dại…)
có một tên chung là những dịch hại, do vậy những chất dùng để diệt trừ chúng được gọi là thuốc trừ dịch hại [PGS.TS Trần Văn Hai, 25/4/2016]
1.1.2 Phân loại thuốc BVTV
1.1.2.1 Phân loại dựa trên đối tượng sinh vật hại
Thuốc trừ sâu: là chất hay hồn hợp các chất có tác dụng tiêu diệt,
xua đuổi hay di chuyển bất kỳ loại côn trùng nào có mặt trong môi trường để ngăn ngừa tác hại của chúng đến cây trồng, nông sản, gia súc và con người Gần như tất cả các loại thuốc trừ sâu đều có nguy cơ làm thay đổi các hệ sinh thái; nhiều loại thuốc trừ sâu độc hại với con người và tích tụ lại trong chuỗi thức ăn
Thuốc trừ cỏ: được dùng để diệt trừ các loại thực vật hoang dại, cỏ
dại, cây dại mọc lẫn với cây trồng; tranh chấp nước, chất dinh dưỡng, ánh sáng với cây trồng khiến cho chúng sinh trưởng và phát triển kém, ảnh hưởng
Trang 15đến năng suất và phẩm chất nông sản Đây là nhóm thuốc dễ gây hại cho cây trồng nhất Vì vậy, khi sử dụng cần đặc biệt thận trọng.
Thuốc trừ bệnh (TTB): bao gồm các hợp chất có nguồn gốc hóa
học, sinh học, có tác dụng ngăn ngừa hay diệt trừ các loài sinh vật gây hại cho cây trồng và nông sản bằng cách phun lên bề mặt cây, xử lý giống và xử lý đất TTB dùng để bảo vệ cây trồng tốt hơn là diệt nguồn bệnh và không có tác dụng chữa trị bệnh do những yếu tố phi SV gây ra (thời tiết, đất úng, hạn…) TTB bao gồm cả thuốc trừ nấm và thuốc trừ vi khuẩn
Thuốc diệt chuột: là những hợp chất vô cơ, hữu cơ hoặc có nguồn
gốc sinh học, có hoạt tính và phương thức tác động rất khác nhau, được dùng
để diệt chuột và các loài gặm nhấm gây hại trên ruộng, trong nhà kho Chúng tác động đến chuột chủ yếu qua 2 con đường vị độc và xông hơi (nơi ở kín đáo)
Chất điều hòa sinh trưởng: Ở nồng độ thích hợp, các hợp chất này
kích thích cây sinh trưởng và phát triển, tăng tỷ lệ nảy mầm, tăng sức sống, giúp cây nhanh ra rễ, lá, hoa, quả, rút ngắn thời gian sinh trưởng, tăng năng suất và chất lượng nông sản Ở nồng độ cao thuốc dễ gây hại cho thực vật [Chi cục BVTV Phú Thọ, 2009]
1.1.2.2 Phân loại theo nguồn gốc hóa học
Ngoài ra còn có nhiều chất có nguồn gốc hóa học khác [Nguyễn Thị Đào, K54-MTB, 2013]
1.1.2.3 Phân loại dựa vào con đường xâm nhập
thuốc có thể gây độc cho cơ thể SV khi chúng xâm nhập qua da, biểu bì; thường dùng để diệt các côn trùng sống không ẩn náu, các SV gây hại, trừ cỏ…
Trang 16• Thuốc có tác dụng vi độc (thuốc nội tác động): là những thuốc xâm nhập vào cơ thể cùng với thức ăn qua con đường tiêu hóa; thường dùng để diệt các côn trùng nhai, gặm, liếm, hút…
không khí xung quanh dịch hại và xâm nhập vào cơ thể SV qua đường hô hấp
vào cây qua thân, lá hoặc rễ…; được dịch chuyển ở trong cây; diệt được dịch hại ở những nơi xa vùng tiếp xúc với thuốc
qua biểu bì thực vật, thấm vào các tế bào phía trong, diệt dịch hại sống trong cây và các bộ phận của cây [Nguyễn Trần Oánh, 2007]
1.1.2.4 Phân loại theo tính độc
Căn cứ vào chỉ số LD50 (độ độc cấp tính), tổ chức Y tế Thế giới (WHO) phân chia các loại thuốc BVTV ra thành 5 nhóm khác nhau
Trang 17Bảng 1.1: Phân nhóm thuốc bảo vệ thực vật theo tính độc của WHO
Nhóm thuốc BVTV Vạch
màu
LD50 với chuột (mg/kg) Qua miệng Qua da Thể rắn Thể lỏng Thể
rắn
Thể lỏng
Nhóm Ia: rất độc Đỏ < 5 < 20 < 10 < 40
Nhóm Ib: độc cao Vàng 5 - 50 20 -200 10 -
2000
100 - 1000
400 - 4000
Nhóm III: độc ít Xanh lá
cây
500 - 2000
2000 – 3000
Nhóm IV: rất ít độc >2000 >3000
Nhóm IV: rất ít độc >2000 >3000
Nguồn: Cách phân loại nhóm độc của tổ chức WHO
Để nhận biết, người ta in băng màu trên nhãn thuốc biểu thị cấp độc Trong khi sử dụng nhiều loại có cùng tác dụng như nhau, nên chọn loại thuốc
có LD50 cao, vì an toàn hơn Ở nước ta, tuân theo cách phân nhóm độc của WHO và lấy căn cứ chính là LD50 qua miệng, phân chia thành 4 nhóm độc
Bảng 1.2: Phân nhóm thuốc bảo vệ thực vật theo tính độc của nước ta
Nhóm I: Rất độc Chữ đen trên dải đỏ Đầu lâu xương chéo trên nền trắng
Nhóm II:
Độc trung bình
Chữ đen trên dải vàng Chữ thập đen trên nền trắng
Nhóm III: Ít độc Chữ đen trên dải
xanh nước biển
Vạch đen không liên tục trên
Trang 18Mỗi loại thuốc BVTV có thời gian phân hủy rất khác nhau Nhiều chất
có thể tồn lưu trong đất, nước, không khí và trong cơ thể động, thực vật nhưng cũng có những chất dễ bị phân hủy trong môi trường
Bảng 1.3: Phân loại thuốc bảo vệ thực vật theo thời gian phân hủy
2 Nhóm khó
phân hủy 2 – 5 năm
DDT, 666 (HCH) - đã bị cấm sử dụng và các hợp chất clo khó phân hủy
3 Nhóm phân hủy
trung bình
1 - 18 tháng
Thuốc loại hợp chất hữu cơ có chứa clo (điển hình là thuốc diệt cỏ 2,4 – D)
4 Nhóm dễ
phân hủy
1 – 12
Nguồn: Phan Thị Phẩm, 2010.
Trên đây là các cách phân loại thuốc BVTV thông dụng nhất Ngoài ra, tuỳ mục đích nghiên cứu và sử dụng, người ta còn phân loại theo nhiều cách khác nữa Không có sự phân loại thuốc BVTV nào mang tính tuyệt đối
1.2 Vai trò của thuốc bảo vệ thực vật
Đến nay, thuốc BVTV đã để lại những dấu ấn quan trọng trong hầu hết các lĩnh vực của nền nông nghiệp hiện đại do có nhiều ưu điểm nổi trội:
• Có thể diệt dịch hại nhanh, triệt để, đồng loạt trên diện rộng và chặn đứng những trận dịch trong thời gian ngắn Đem lại hiệu quả phòng trừ rõ rệt, bảo vệ được năng suất cây trồng, cải thiện chất lượng nông sản và mang lại hiệu quả kinh tế [TS.Đặng Quốc Nam, 2014]
• Dễ dùng, có thể áp dụng ở nhiều vùng khác nhau, đem lại hiệu quả ổn định và nhiều khi là biện pháp phòng trừ duy nhất
Trang 19Thuốc BVTV là một trong những nhân tố đảm bảo cho tăng vụ thành công Năm 1993, Việt Nam từ một nước nhập khẩu gạo đã trở thành nước đứng thứ hai trên thế giới về xuất khẩu gạo - sau Thái Lan, năm 2010 Trong
5 năm (2006 – 2010) đã cứu được 2.312.177 ha tương đương với 12 triệu tấn lúa khỏi sự phá hoại của rầy nâu trên toàn quốc.[Sĩ Thị Ngọc Anh, 2014]
- Nhóm lân hữu cơ và carbamate: ức chế hoạt tính của men ChE, làm
tê liệt quá trình dẫn truyền kích thích thần kinh Với lân hữu cơ là quá trình Phosphorin hóa, với carbamate là quá trình cabamil hóa men ChE Khi dẫn truyền kích thích thần kinh, ở đầu mút dây thần kinh sản sinh ra chất acetin cholin để dẫn truyền kích thích Sau khi làm xong nhiệm vụ dẫn truyền qua các đầu mút thần kinh, acetin cholin được phân thủy phân nhờ men ChE Men này lại dễ bị ức chế bởi thuốc lân hữu cơ và carbamte Khi ChE bị ức chế, acetin cholin không bị thủy phân sẽ bị tích lũy lại với lượng lớn làm cho dây thần kinh bị tổn thương với đứt đoạn, sự kích thích thần kinh bị rối loạn và tê liệt, côn trùng sẽ chết Đối với người và động vật khác thuốc lân hữu cơ và carbamte cũng tác động theo cơ chế này
- Thuốc lân hữu cơ kiểu cấu trúc P=S có ái lực liên kiết men ChE yếu hơn cấu trúc P=O vì vậy hiệu lực khởi điểm với sâu cũng thể hiện chậm hơn
- Chất Cartap không ức chế men ChE Trong tế bào thần kinh Cartap chuyển thành Nereistoxin có ái lực yếu hơn ChE nhưng lại ức chế hoạt tính
Trang 20màng sau xinap của tế bào thần kinh trung ương làm tê liệt sự dẫn truyền kích thích thích thần kinh, cơ chế này cũng là cơ chế gây độc của thuốc Nicotin (thảo mộc ).
- Các nhóm Clo hữu cơ, Pyrethroid và Oxyhydro Carbon (Trebon ) là những chất độc với tế bào thần kinh Các chất này liên kiết với các chất thành phần của màng sợi trục thần kinh (là Protein và Lipid ), cản trở sự vận chuyển của ion (chủ yếu là Na+ và K+) qua màng, làm mất điện thế tạo nên sự dẫn truyền xung động thần kinh, dẫn đến thần kinh bị tê liệt, sâu chết
- Các hợp chất Clo hữu cơ còn ức chế hoạt tính của men ATP aze và một số men khác, làm các tế bào thần kinh bị nhiễm độc Thuốc còn ức chế phân chia tế bào ở trung kỳ, dẫn đến hiện tượng đa bội thể, làm xuất hiện những tế bào nhiều nhân không đồng nhất Côn trùng bị nhiễm độc thần kinh, lúc đầu có biểu hiện kích động, sau đó co giật do kích động mạnh lên và cuối cùng là tê liệt rồi chết
b Ức chế sự chuyển hóa năng lượng trong quá trình trao đổi chất:
Sự chuyển hóa năng lượng là cơ sở tạo nên quá trình trao đổi chất trong
cơ thể sống Không có chuyển hóa năng lượng thì không có trao đổi chất, cơ thể sẽ chết Năng lượng bị tiêu hao trong các hoạt động sẽ được lấy lại từ các chất hữu cơ có trong thức ăn, thông qua sự hô hấp dưới nhiều chặng với sự tham gia của các men Các hợp chất Asen, Rotenone và Cyanua ức chế hoạt tính của các men hô hấp Oxydaza, Hydrogenaza, Xitocrom làm tích lũy axit Xetonic, ngăn cản chu trình Kreb trong quá trình hô hấp
c Ức chế quá trình lột xác của côn trùng:
Là cơ chế tác động chính của các chất điều tiết sinh trưởng côn trùng
Trang 21- Thể tích vỏ cơ thể côn trùng không thay đổi sau khi đã hình thành
Vỏ này rất chắc nên khi côn trùng phát triển lớn lên phải thay vỏ mới lớn được Sự thay vỏ này gọi là sự lột xác Chất kitin là thành phần cơ bản của vỏ
cơ thể, nên quá trình tổng hợp kitin quyết định sự lột xác của côn trùng Không tổng hợp kitin sẽ không hình thành được lớp vỏ mới, ấu trùng không lột xác được sẽ chết Quá trình tổng hợp kitin xảy ra nhờ men kitin - UDPN –Acetyl glycoaminyl transferaze Các hợp chất ĐTSTCT làm mất hoạt tính của men này, do đó ức chế quá trình tổng hợp kitin Từ đó không hình thành được lớp vở mới, ấu trùng không lột xác được mà chết
- Một số chất ĐTSTCT lại kích thích hoạt động của các men Phenoloxydaze và kitinnaze Các men này được kích thích sẽ ngăn cản quá trình hình thành và tích tụ chất kitin
- Khi lột xác, trong cơ thể côn trùng còn sinh ra hoocmon lột xác Có 2 loại hoocmon lột xác chính là Ecdizon va Ecdisteron Một số chất ĐTSTCT
có tác động ức chế hoạt tính của các hoocmon lột xác làm cho côn trùng không lột xác mà chết
- Ngược lại có chất ĐTSTCT như Methoxyfenozide lại kích thích hoạt tính của men Ecdizon làm cho côn trùng lột xác sớm mà chết
- Ngoài ra có người còn cho rằng các chất ĐTSTCT ức chế sinh tổng hợp ADN (Axit deoxyribonucleic) trong tế bào mô non của lớp biểu bì phần bụng cũng làm ấu trùng không lột xác được mà chết
d Hoocmon trẻ:
Là các chất có trong cơ thể côn trùng, giữ vai trò điều hòa sinh trưởng
và phát triển của côn trùng cùng với các hoocmon lột xác Các hoocmon này nếu được tích lũy trong cơ thể côn trùng ở nồng độ cao sẽ làm cho trứng không hình thành hoặc không nở được, sâu non bị chết sau khi nở, không hóa
Trang 22nhộng hoặc không trưởng thành được Một số thuốc ĐTSTCT như: Fenoxycarb, Prodone, Methoprene, Kinoprene, Hydroprene có tác động như các hoomon trẻ Chất Buprofezin (Applaud) ngoài tác dụng chống lột xác còn
có tác dụng như một hoocmon trẻ
e Triệt sản:
Là những chất phá hủy khả năng sinh sản của côn trùng Cơ chế tác động của những thuốc này là kìm hãm sự phát triển hoặc diệt trứng, diệt tinh trùng, khống chế sự thụ tinh, phá vỡ nhiễm sắc thể của trứng hay tinh trùng Những thuốc này không làm giảm tuổi thọ và hoạt động của giao phối của con trưởng thành mà chỉ làm cho con cái không đẻ hoặc đẻ ít, trứng không nở hoặc nở ít Các thuốc triệt sản có độc tính cao và cũng ảnh hưởng đến người, động vật máu nóng nên ít được sử dụng trong nông nghiệp
f Cơ chế tác động của thuốc vi sinh trừ sâu:
Các thuốc trừ sâu từ vi khuẩn Bacillus thuringiensis gây bệnh cho sâu bởi các độc tố do vi sinh vật sản sinh ra Sâu ăn phải thuốc xó chứa các bào tử
vi khuẩn, ở ruột sâu, vi khuẩn phát triển và sinh ra độc tố
1.2.1.2 Thuốc trừ bệnh
Có 2 cơ chế tác động chính:
a Tác động trực tiếp: ức chế các phản ứng sinh tổng hợp trong tế bào
của vi sinh vật gây bệnh Hầu hết các thuốc trừ bệnh hiện nay kể cả các chất kháng sinh chủ yếu là tác động theo hướng này Các chất như Tricylazole ức chế tổng hợp Melamin làm cho sợi nấm không xâm nhập hoặc không phát triển được trong tế bào cây kí chủ
b Tác động gián tiếp: thuốc làm tăng sức đề kháng của cây kí chủ đối
với kí sinh Chất Probenazole khi phun lên cây lúa sẽ kích thích sự hoạt động của các men chống lại sự xâm nhập của các sợi nấm gây bệnh đạo ôn (các men Peroxidaze, Lopoxidaze ) Những chất này làm tăng khả năng khả năng
Trang 23miễn dịch của cây, có tác dụng phòng chống bệnh một cách cơ bản Đây là một hướng nghiên cứu nhiều hy vọng trong tương lai gần.
1.2.1.3 Thuốc trừ cỏ
Có thể tóm tắt các cơ chế tác động chính của thuốc trừ cỏ như sau:
a Hình thành các hoocmon kích thích sinh trưởng giả:
- Nhóm thuốc: Phenoxy, Benzoic axit
- Thuốc đặc trưng: 2.4D, Dicamba
b Ức chế quá trình quang hợp:
- Nhóm thuốc: Phenyl urea, Triazine, Bipyridium
- Thuốc đặc trưng: Diuron, Atrazine, Paraquat
c Ức chế tổng hợp sắc tố (chlorophyl và carotenoid):
- Nhóm thuốc: Diphenyl ether, Imide, Pyridazin
- Thuốc đặc trưng: Oxyfuofen, Oxadiazona, Norfluazon, Chlomazon
d Ức chế phân chia tế bào (phá vỡ quá trình phân bào nguyên nhiễm):
- Nhóm thuốc: Dinitroanillnes
- Thuốc đặc trưng: Trifluralin, Pendimethalin
e Ức chế tông hợp vitamin (tổng hợp Folate)
- Thuốc đặc trưng: Asulam
Trang 24- Nhóm thuốc: Sulfonyl urea, Imidazolinone, Sulfonanilide, Pyrimidylbenzoate
- Thuốc đặc trưng: Pyrazosulfuron, Bensulfuron Methyl, Pyribenzoxim, Bispyribac Sodium, Glyphosate, Glufosinate,
1.2.1.4 Thuốc trừ chuột
Có 3 tác động chính:
a Gây chết nhanh: là những chất phá hủy hệ thống thần kinh của chuột,
điển hình là các chất Stricnin, kẽm phosphur Chất Stricnin (có trong cây mã tiền) trực tiếp kích thích và làm rối loạn hoạt động của hệ thần kinh trung ương Chất kẽm phosphur ăn vào trong dạ dày, dưới tác động của dịch vị sinh
ra chất PH3, rất độc với thần kinh
b Gây chết chậm: là những chất ức chế tổng hợp vitamin K làm máu
không đông lại được (gọi là chất chống đông máu), cơ thể thiếu vitamin K làm máu bị loãng, khi bị xuất huyết máu sẽ không đông lại được, con vật bị xuất huyết nội tạng hoặc dưới da và chết dần Thuốc chống đông máu thế hệ 1
có nhược điểm là chỉ gây chết cho chuột khi chúng ăn phải bả nhiều ngày liên tiếp Thuốc chống đông máu thế hệ 2 có ưu điểm là chỉ cần chuột ăn phải 1 lần là có thể chết, điển hình cho cơ thể này là các chất nhóm Coumarine
c Gây bệnh cho chuột: vi khuẩn Salmonella gây bệnh đường tiêu hóa
cho chuột
1.2.1.5 Chất điều hòa sinh trưởng
Các chất này chủ yếu là kích thích sinh trưởng cây trồng theo cơ chế chính là:
- Kích thích tăng trưởng thể tích tế bào ở lá, thân, quả
- Kích thích hình thành tế bào mới, làm tăng trưởng sự nảy chồi, đâm
rễ, ra hoa
Trang 25- Bổ sung và tăng cường hoạt động của các men trong quá trình sinh tổng hợp của cây bằng cung cấp thêm các chất vi lượng (Fe, Mn, Cu, Bo, Zn, )
- Ngược lại có những chất ức chế sinh trưởng của cây, làm cho cây phát triển chậm lại, dùng chống lốp đổ và kích thích cây ra hoa Những chất này hạn chế sự hình thành Auxin và Gibberellin trong cây [Cơ chế tác động của thuốc BVTV, 24/4/2016]
1.2.2 Kỹ thuật sử dụng thuốc BVTV
Thuốc BVTV có vai trò rất quan trọng trong lĩnh vực SXNN vì nó giúp cho nông dân bảo vệ được cây trồng tránh được sự phá hoại của các loại dịch hại Tuy nhiên, việc sử dụng thuốc BVTV phải đảm bảo đúng nguyên tắc và cần phải kết hợp với các biện pháp khác, chỉ nên sử dụng thuốc BVTV khi thật cần thiết thì mới mang lại hiệu cao Nếu sử dụng thuốc BVTV không đúng kĩ thuật, không đúng thời điểm cần thiết thì chẳng những sẽ không mang lại hiệu quả mà đôi khi còn làm ảnh hưởng xấu cho cây trồng, cho con người
và môi trường sống của cộng đồng [Đỗ Văn Hòe, 2005]
1.2.2.1 Sử dụng thuốc BVTV theo nguyên tắc 4 đúng
• Cần hiểu rõ tác động của thuốc để có cách sử dụng đúng
• Lưu ý đến hiệu quả kinh tế khi dùng thuốc Không nên sử dụng cùng một loại thuốc trong suốt vụ hoặc từ năm này qua năm khác
Trang 26 Đúng lúc:
Chỉ sử dụng thuốc BVTV khi thực sự cần thiết Nên sử dụng thuốc khi
SV phát triển đến ngưỡng gây hại và vượt ngưỡng kinh tế; còn ở diện hẹp và
ở các giai đoạn dễ mẫn cảm với thuốc, thời kỳ sâu non, bệnh chớm xuất hiện,
Không phun thuốc khi thiên địch còn ít, thời điểm SV có ích hoạt động mạnh
Đúng liều lượng, nồng độ:
Nếu dùng nồng độ, liều lượng quá cao thì dịch hại chết nhanh nhưng làm tăng tính chịu đựng, tính kháng thuốc; tốn kém, ảnh hưởng đến môi trường và gây ngộ độc cho người sử dụng Ngược lại nếu dùng nồng độ, liều lượng quá thấp so với khuyến cáo sẽ không diệt được dịch hại mà còn nhanh chóng gây kháng thuốc Do vậy, cần đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trên nhãn thuốc để đảm bảo thuốc trải đều và tiếp xúc với dịch hại nhiều nhất, hiệu quả phòng trừ cao
Trang 27 Đúng cách:
Pha chế thuốc đúng cách theo dạng chế phẩm và theo hướng dẫn ghi trên nhãn thuốc Cần phun rải đều và đúng vào vị trí SV tập trung gây hại Nên phun thuốc vào sáng sớm hoặc chiều mát Không phun ngược hoặc ngang chiều gió
Ngoài ra, cần phải bảo hộ và an toàn lao động, giữ đúng thời gian cách ly; bảo quản, cất giữ thuốc, dụng cụ pha chế, phun, rải thuốc ở gia đình; xử lý thuốc thừa, mất phẩm chất và vỏ bao bì hết thuốc đúng cách
Thuốc phát huy được tác dụng (tồn tại thời gian đủ dài, nồng độ đủ độc)
Đúng liều lượng, nồng độĐúng cách
Đúng lúcĐúng thuốc
Nội dung nguyên tắc “bốn đúng”
Thuốc tiếp xúc được với
dịch hại
Trang 281.2.2.2 Sử dụng luân phiên thuốc
Sử dụng luân phiên thuốc là thay đổi loại thuốc giữa các lần phun khi phòng trừ cùng một một đối tượng dịch hại Mục đích chính là ngăn ngừa sự hình thành tính kháng thuốc, giữ được hiệu quả lâu dài
1.2.2.3 Dùng hỗn hợp thuốc
Hỗn hợp thuốc là pha hai hay nhiều loại thuốc nhằm trừ cùng một lúc
pha các loại thuốc theo sự hướng dẫn ghi trong nhãn thuốc, bảng hướng dẫn pha thuốc hoặc sự hướng dẫn của cán bộ kỹ thuật Nên hỗn hợp tối đa hai loại thuốc khác cách tác động hoặc khác đối tượng phòng trừ trong một bình phun
1.2.2.4 Kết hợp dùng thuốc với các biện pháp khác trong hệ thống biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM)
Trong điều kiện áp lực dịch hại cây trồng ngày càng phức tạp, việc quản lý dịch hại cây trồng phải tổng hợp bằng nhiều biện pháp: gieo trồng các giống cây kháng sâu bệnh, bảo đảm yêu cầu phân bón và nước tưới, tận dụng các biện pháp thủ công (bắt tay, bẫy); chú ý bảo vệ thiên địch [Nguyễn Trần Oánh, 2007]
1.3 Ảnh hưởng của thuốc BVTV
1.3.2 Ảnh hưởng tới hệ sinh thái nông nghiệp
Các loại thuốc BVTV sau khi phun, ngoài việc tiêu diệt được sâu bệnh thì còn ảnh hưởng xấu đến các loài thiên địch, côn trùng thụ phấn cho cây trồng Nếu côn trùng đối tượng quay trở lại thì dịch rất dễ xảy ra do không còn thiên địch khống chế Thuốc BVTV làm tăng loài này và giảm loài kia, song nhìn chung làm mất cân bằng sinh thái (loài gia tăng đa số là loài gây hại) Một số côn trùng không quan trọng bỗng dưng gây thiệt hại đáng kể cho cây trồng do nó có tính kháng thuốc mạnh hơn côn trùng đối tượng, các thiên địch của chúng bị tiêu diệt hết [Nguyễn Đức Khiển, 2003] Trên đồng ruộng còn xuất hiện những loài SV gây hại mới bởi chúng bị đột biến gen, thích nghi với môi trường độc hại đã càng làm xấu đi tình trạng SV gây hại mùa màng [Nguyễn Đình Mạnh, 2000]
1.3.3 Ảnh hưởng tới môi trường
Không khí
17
Trang 29Hình 1.2: Tác động của thuốc BVTV đến môi trường và con đường mất
đi của thuốc
Nguồn: Nguyễn Trần Oánh và cộng sự, 2007.
Môi trường đất
Đất canh tác là nơi tập trung nhiều dư lượng thuốc BVTV Thuốc BVTV đi vào trong đất do các nguồn: phun xử lý đất, các hạt thuốc BVTV rơi vào đất, theo mưa lũ, theo xác sinh vật vào đất
Khi vào trong đất, một phần của thuốc được cây hấp thụ, phần còn lại
được keo đất giữ lại, làm cho cơ, lý, hoá tính đất giảm sút Mặt khác, chúng tồn tại một thời gian dài trong các dạng cấu trúc sinh hoá khác nhau hoặc tạo các dạng hợp chất liên kết trong đất Các hợp chất mới này thường có độc tính cao hơn bản thân nó [Hóa học và đời sống, 29/12/2013] Thí dụ: DDT sau một thời gian sử dụng tạo ra DDE, độc hơn DDT gấp 2-3 lần Khi nồng độ độc tố trong đất quá cao gây một số vùng đất bị nhiễm bệnh, bạc màu, khô cằn, tạo mầm bệnh trong đất; về lâu dài làm ảnh hưởng tới năng suất cây trồng, mất cân bằng sinh thái; gây ngộ độc Các thuốc BVTV thường chứa nhiều kim loại nặng như: As, Pb, Hg sử dụng nhiều và lâu dài sẽ tồn lưu trong đất, gây ô nhiễm đất
Môi trường nước
Thuốc BVTV có thể đi vào môi trường nước bằng nhiều con đường khác nhau như: lắng đọng từ không khí, rửa trôi từ môi trường đất, trực di và thấm ngang Có chất có thể trở thành trầm tích đáy, để rồi có thể tái hoạt động
Thuốc BVTV
Thực phẩm
Con người
Trang 30khi lớp trầm tích bị xáo trộn Có chất có thể tích tụ trong cơ thể SV tại các mô khác nhau, qua quá trình trao đổi chất và thải lại môi trường nước qua con đường bài tiết Thuốc BVTV đi vào cơ thể động vật thủy sinh như tôm, cua, cá… làm cho chúng mắc bệnh hoặc dẫn đến chết, hệ sinh thái dưới nước bị hủy hoại đồng thời còn ảnh hưởng tới mạch nước ngầm Khi nước ngầm ô nhiễm thì chính nguồn nước con người đang sử dụng cũng bị nhiễm độc và ô nhiễm Làm thay đổi cả một hệ sinh thái lớn.
Môi trường không khí
Không khí có thể dễ dàng bị ô nhiễm bởi thuốc BVTV dễ bay hơi Thậm chí, thuốc BVTV không bay hơi như DDT sẽ dễ bay hơi rất nhanh vào không khí trong điều kiện khí hậu thời tiết nóng Ở các vùng nhiệt đới, khoảng 90% thuốc BVTV photpho hữu cơ có thể bay hơi nhanh Người ta đã tìm thấy nhóm photpho hữu cơ trong không khí ở độ cao 50 – 200m từ 3 – 8 ngày sau khi phun thuốc bằng máy bay Các TTC cũng bị bay hơi nhất là trong quá trình phun thuốc Một số khí độc từ thuốc BVTV ảnh hưởng tới quá trình hô hấp của nhiều loài SV trên thế giới, kể cả con người [Nguyễn Phúc Hưng, K54-MTA, 2013]
1.3.4 Ảnh hưởng tới con người
Phần lớn nông dân Việt Nam đều phải tiếp xúc với thuốc BVTV để bảo
vệ mùa màng, nông sản, Tuy nhiên hầu hết các loại thuốc BVTV đều gây độc hại đối với sức khỏe con người, có tác động xấu đến môi trường và hệ sinh thái
Khi trực tiếp tiếp xúc và sử dụng thuốc BVTV dễ xâm nhập vào cơ thể qua đường tiếp xúc, vị độc, xông hơi, gây nhiễm độc và ngộ độc thuốc BVTV Những người ít hay không tiếp xúc với thuốc BVTV có thể bị nhiễm độc do ăn, uống nông sản, nguồn nước, nước mưa có dư lượng thuốc BVTV
Ảnh hưởng của thuốc BVTV đến sức khỏe con người bao gồm:
Trang 31- Nhiễm độc cấp thường gặp là các vụ tự tử, các vụ nhiễm độc hàng loạt do thức ăn bị nhiễm độc thuốc BVTV, các vụ tai nạn hóa chất trong công nghiệp và sự tiếp xúc nghề nghiệp trong nông nghiệp là các nguyên nhân phần lớn các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng liên quan đến thuốc BVTV (Lowa, 2007).
- Các ảnh hưởng mãn tính do tiếp xúc với thuốc BVTV với liều lượng trong thời gian dài có liên quan tới sự rối loạn và các bệnh khác nhau Các nghiên cứu khoa học đã tìm thấy những bằng chứng về mối liên quan giữa thuốc BVTV với bệnh ung thư (ung thư vú, ung thư gan, dạ dày, bàng quang, thận ) Các hậu quả sinh sản: đẻ non, vô sinh, thai dị dạng
Cho đến nay chúng ta vẫn chưa có những con số chính xác về ngộ độc thuốc BVTV trên phạm vi toàn cầu Theo tổ chức y tế liên Mỹ ước tính khoảng 3% người lao động tiếp xúc với thuốc BVTV bị ngộ độc cấp tính, với khoảng 1,3 tỷ người lao động trong nông nghiệp trên toàn thế giới có nghĩa là khoảng 3,9 triệu người có thể bị ngộ độc cấp tính hàng năm Ở Việt Nam, đến những năm 80 mới có công trình nghiên cứu về ô nhiễm môi trường và tác dụng độc hại của thuốc BVTV đối với sức khỏe con người
Nói tóm lại, thuốc BVTV có tác dụng tích cức bảo vệ mùa màng, tuy nhiên nó gây nên nhiều hậu quả môi trường nghiêm trọng ảnh hưởng tới HST
và con người Do vậy, cần phải thận trọng khi dùng thuốc và phải tuân theo chỉ dẫn của cán bộ kĩ thuật
1.4 Thực trạng quản lý thuốc BVTV trên Thế giới và Việt Nam
1.4.1 Thực trạng quản lý thuốc BVTV trên Thế giới
Ở tất cả các quốc gia, việc sử dụng và buôn bán thuốc BVTV được đặt dưới sự kiểm soát của cơ quan quản lí Nhà nước, về thực chất đây được hiểu
là quản lí các nguy cơ gây hại cho sức khỏe con người và sự ô nhiễm môi trường Chính vì thế, Chính phủ các quốc gia trên thế giới đã ban hành những quy định riêng về quản lí thuốc BVTV cho nước mình Các cơ quan quản lí
Trang 32nhà nước có chức năng kiểm soát đối với các nhà sản xuất, những người buôn bán, những người sử dụng thuốc BVTV và các chủ thể sản xuất kinh doanh lương thực và các hàng hóa có sử dụng thuốc BVTV Các Chính phủ có xu hướng thiết lập cơ chế quản lí nhằm mục đích sử dụng an toàn và hiệu quả thuốc BVTV, đồng thời bảo vệ được môi trường, duy trì được kỉ cương trong hoạt động kinh doanh thuốc BVTV, bảo vệ được quyền lợi của người sử dụng thuốc BVTV lẫn người tiêu dùng nông sản, thực phẩm có dùng thuốc BVTV.
1.4.1.1 Quản lý thuốc BVTV ở Thái Lan
Tại Thái Lan, năm 1967, Chính phủ đã ban hành Đạo luật về chất độc B.E 2510 nhằm kiểm soát toàn bộ các loại chất độc, bao gồm cả thuốc BVTV
Về sau Đạo luật không còn thích hợp để áp dụng cho tất cả các loại chất độc
và không có các điều khoản thực thi hiệu quả đối với thành phần nhà nước và
tư nhân Chính vì thế, Đạo luật về các loại chất độc hại B E 2535 (1992) đã được ra đời và thay thế khá hiệu quả từ ngày 4 tháng 7 năm 1992 Tất cả các hóa chất độc hại và toàn bộ hệ thống kiểm soát phạm vi sử dụng chúng trong nông nghiệp, công nghiệp, y tế và nhiều lĩnh vực khác đều được áp dụng theo Đạo luật này [Nguyễn Thị Thu Hiền, 2010]
Cục Nông nghiệp (DOA) – Bộ Nông nghiệp Thái Lan, là các cơ quan chịu trách nhiệm pháp lí về kiểm soát các loại hóa chất độc hại nguy hiểm được sử dụng trong nông nghiệp như thuốc BVTV và chất điều hòa sinh trưởng thực vật Thái Lan thành lập thêm các Tiểu Ban đăng kí thuốc BVTV (gồm 17 thành viên); Tiểu Ban đánh giá số liệu dư lượng và độc tính (gồm 15 thành viên); Tiểu Ban Giám sát ảnh hưởng của thuốc BVTV đối với nông sản thực phẩm ( gồm 15 thành viên) Mô hình xét duyệt các loại thuốc BVTV ở Thái Lan được thực hiện những bước đi như sơ đồ sau:
Tiếp nhận hồ sơ kỹ thuật
Trang 33Hình 1.3: Hệ thống quản lý thuốc BVTV ở Thái Lan
1.4.1.2 Quản lý thuốc BVTV ở Malaysia
Malayxia ban hành Đạo luật thuốc BVTV từ 1974 Và trên cơ sở của Đạo luật này có Luật về thuốc BVTV (1976), Luật về thuốc BVTV trong giáo dục và nghiên cứu (1981), qui định về nhãn mác hàng hóa (1984), Luật Ban hành về giấy phép kinh doanh và bảo quản thuốc BVTV trong buôn bán (1988), Đạo luật về quảng cáo thuốc BVTV (1996), Qui định về quản lí thuốc BVTV có độc tính cao (1996)
Ở Malayxia, Phòng kiểm soát thuốc BVTV nằm trong Cục Nông nghiệp là Bộ phận theo dõi việc đăng kí và sử dụng thuốc hóa học BVTV Các ủy Ban kĩ thuật và Thanh tra là những bộ phận trực thuộc có trách nhiệm
về quản lí thuốc hóa học BVTV:
Cấp giấy phép sử dụng
Hội đồng thuốc BVTVCục Nông nghiệp (Phòng
Kiểm soát thuốc BVTV)
Trang 34Hình 1.4: Hệ thống quản lý thuốc BVTV ở Malaysia
Hội đồng thuốc BVTV bao gồm những người đứng đầu các Cục có liên quan Là cơ quan quyết định chính sách về thuốc BVTV Hội đồng này tổ chức họp 6 tháng một lần Ủy ban kĩ thuật thuốc BVTV bao gồm các đại diện của các Cục có liên quan chịu trách nhiệm về các vấn đề có liên quan đến thuốc hóa học BVTV
1.4.2 Thực trạng quản lý thuốc BVTV ở Việt Nam
Tình hình sử dụng thuốc BVTV ở Việt Nam
Việc sử dụng thuốc BVTV chỉ phổ biến ở thế kỉ thứ XIX Trước đó, việc diệt trừ sâu bệnh chủ yếu bằng phương pháp bắt sâu hay biện pháp mê tín, bùa phép
Đầu thế kỷ XX, khi nền nông nghiệp Việt Nam bắt đầu phát triển đến một mức nhất định, hình thành nên các đồn điền, trang trại nông nghiệp lớn thì việc sử dụng thuốc BVTV bắt đầu gia tăng Trong thời kỳ này, Việt Nam
sử dụng chủ yếu các hợp chất hóa học vô cơ như các nước trên thế giới
Tình hình sử dụng thuốc BVTV ở Việt Nam có những bước chậm hơn
so với nước phát triển Thập niên 70 và 80 Việt Nam còn sử dụng hợp chất hóa học gốc Clo hay gốc phosphor hữu cơ (DDT thuộc nhóm Clo hữu cơ, Metyl Parathion, Monocrophos thuộc nhóm lân hữu cơ, Furadan thuộc nhóm Carbamate) thì các nước phát triển đã ngưng sử dụng các loại hợp chất này Ở
Mỹ đã cấm sử dụng DDT từ năm 1992, mãi đến năm 1993 Việt Nam mới có lệnh cấm sử dụng thuốc BVTV có chứa nhóm Clo hữu cơ [Vũ Nhung, 2013]
Thực trạng công tác quản lý thuốc BVTV ở Việt Nam
- Giai đoạn 1957 – 1990
Trong hơn 3 thập kỉ của thời kì kinh tế bao cấp, việc nhập khẩu và phân phối thuốc BVTV hàng năm để phục vụ SXNN là do Nhà nước độc quyền mà thực hiện Hàng năm, Nhà nước giao cho các cơ quan chức năng (Cục BVTV)
có nhiệm vụ lên kế hoạch nhập thuốc BVTV rồi phân phối trực tiếp cho các tỉnh theo giá bao cấp (có trợ giá của Nhà nước) Từ tỉnh, mạng lưới vật tư nông nghiệp địa phương phân phối cho các hợp tác xã nông nghiệp Tại các
Trang 35hợp tác xã, Ban quản trị chịu trách nhiệm quản lí số thuốc được phân và giao cho tổ BVTV hướng dẫn xã viên dùng thuốc để phòng trị sâu hại trên đồng ruộng của mình [Nguyễn Bình, 2015]
- Giai đoạn 1990 đến nay
Để thực hiện tốt chức năng quản lí nhà nước về thuốc BVTV, nước ta cũng đã duy trì và từng bước củng cổ hoạt động của mạng lưới BVTV theo 2 cấp (tỉnh, huyện) đã được hình thành từ những năm 60-70 và tiếp tục phát triển và định hình vào những năm 80-90 của thế kỉ 20
Ở Trung ương có Cục Bảo vệ thực vật (bao gồm các phòng chức năng
và các Trung tâm Bảo vệ thực vật vùng) Ở địa phương có các Chi cục BVTV tỉnh và các Trạm BVTV huyện trực thuộc
Có thể nói hệ thống này là nơi triển khai một cách có hiệu quả các chủ trương, chính sách của Nhà nước về BVTV (trong đó có cả quản lí thuốc BVTV) Đồng thời đây là hệ thống trực tiếp kiểm tra việc thực hiện các chủ trương, chính sách trên ở các cấp
Bên cạnh mạng lưới BVTV, sự ra đời của lực lượng thanh tra chuyên ngành cũng đã tạo ra được một công cụ hữu hiệu, giúp cho việc quản lí thuốc BVTV từng bước có hiệu quả và đi vào nề nếp hơn [Đánh giá thực trạng quản lý thuốc BVTV, 31/01/2016]
1.5 Hệ thống quản lý thuốc BVTV ở Việt Nam
Để phát huy mặt tích cực của thuốc BVTV trong bảo vệ mùa màng và nông sản, hạn chế những hậu quả xấu do thuốc BVTV gây ra, không những cần tăng cường nghiên cứu sử dụng hợp lý thuốc BVTV, mà còn cần có những quy định chặt chẽ của nhà nước trong việc thống nhất quản lý các khâu: sản xuất, kinh doanh, lưu thông và sử dụng thuốc BVTV
1.5.1 Các quy định của Nhà nước
khẩu, phân phối, lưu thông và sử dụng Các Bộ có trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ trên như Bộ NN&PTNT, Bộ Công an, Bộ Y tế, Bộ Giao thông, Bộ
Trang 36Lao động đã ra thông tư liên Bộ, quy định chặt chẽ những điều khoản phải thực hiện nhằm đảm bảo an toàn trong mọi khâu.
• Sau chiến tranh, nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, nhà
nước không còn độc quyền trong việc cung ứng thuốc BVTV
- Để đảm bảo cho việc cung ứng và sử dụng có hiệu quả thuốc BVTV,
nước ta đã ban hành Pháp lệnh về Bảo vệ và Kiểm dịch thực vật (BV&KDTV) của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, công bố lần đầu tháng 2/1993 và Pháp lệnh thay thế vào tháng 08/2001 để phù hợp với tình hình thực tế mới Kèm theo là hệ thống văn bản phục vụ cho các Pháp lệnh này Trong pháp lệnh về BV&KDTV có một chương riêng (chương IV) chuyên về quản lý thuốc BVTV Trong văn bản này, thuốc BVTV được liệt vào loại hàng hoá hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện; nhà nước thống nhất quản lý mọi khâu từ sản xuất, xuất nhập khẩu, bảo quản, dự trù, vận chuyển buôn bán và sử dụng thuốc BVTV; có chính sách ưu đãi với việc sử dụng thuốc BVTV có nguồn gốc sinh học, ít độc
Nhà nước cũng quy định trách nhiệm cụ thể của Bộ NN&PTNT bảo đảm an toàn khi xảy ra các sự cố thuốc BVTV, điều kiện sản xuất kinh doanh
và sử dụng thuốc BVTV; những quy định về việc tiêu huỷ, dự trữ thuốc BVTV
- Nghị định 58 ban hành năm 2002 “Hướng dẫn thi hành pháp lệnh về
BV&KDTV” trong đó có “Điều lệ BVTV” và “Điều lệ quản lý thuốc BVTV” Điều lệ quy định các tổ chức cá nhân có hoạt động sản xuất, kinh doanh và sử dụng thuốc BVTV ở Việt Nam phải tuân theo pháp luật về quản
lý thuốc BVTV ở Việt Nam và những Điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia Điều lệ còn quy định cụ thể điều kiện, tiêu chuẩn trách nhiệm của những
tổ chức, cá nhân và trách nhiệm của nhà nước trong các lĩnh vực: sản xuất, gia công, sang chai, đóng gói thuốc BVTV; xuất nhập khẩu thuốc và nguyên liệu làm thuốc; sử dụng thuốc; đăng ký, kiểm định, khảo nghiệm thuốc thuốc BVTV
Trang 37- Nghị định số 26/2003/NĐ-CP “Quy định xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực BV&KDTV” Riêng mục C trong chương II, quy định cụ thể hình thức xử phạt và mức phạt về quản lý thuốc BVTV
1.5.2 Các quy định của Bộ NN&PTNT
Kèm theo Pháp lệnh, điều lệ và các quy định trên của nhà nước, Bộ NN&PTNT đã ban hành những quy định về công tác quản lý thuốc BVTV:
• Quyết định 145/2003/QĐ-BNN-BVTV về quy định thủ tục thẩm định sản xuất, gia công, đăng ký, xuất nhập khẩu, buôn bán, lưu trữ, tiêu huỷ, nhãn thuốc, bao bì đóng gói, hội thảo, quảng cáo thuốc BVTV Đặc biệt mục
IV quy định về việc sử dụng thuốc BVTV, trong đó quy định rõ trách nhiệm của người trực tiếp sử dụng, trách nhiệm của các cơ quan quản lý và đơn vị kinh doanh thuốc BVTV
nghề sản xuất, gia công, sang chai, đóng gói buôn bán thuốc BVTV
lượng và khảo nghiệm thuốc BVTV Để kiểm soát chặt chẽ hơn nữa, Bộ NN&PTNT ngày 08/08/2003 ra Quyết định 79/2003/QĐ sửa đổi khoản 2&3 điều 11 trong 50/2003/QĐ-BNN quy định “Kiểm định chất lượng, dư lượng thuốc BVTV” nhằm mục đích đăng ký ở Việt Nam
hướng dẫn sử dụng các loại thuốc BVTV bị hạn chế ở Việt Nam, để quản lý chặt chẽ hơn các loại thuốc hạn chế sử dụng,
NN&PTNT về việc Ban hành quy định về quản lý thuốc BVTV
bổ sung một số điều của Quyết định 89/2006/QĐ-BNN
kiểm tra nhà nước chất lượng thuốc BVTV nhập khẩu
Trang 38• Thông tư số 38/2010/TT-BNNPTNT ngày 28/06/2001: Quy định về quản lý thuốc BVTV và Công văn số 1538/BVTV-QLT ngày 8/9/2010 hướng dẫn thi hành Thông tư số 38/2010/TT-BNNPTNT
Hàng năm Bộ NN&PTNT sẽ ra danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng, hạn chế sử dụng, cấm sử dụng; những điều nghiêm cấm trong việc sản xuất, gia công, sang chai, đóng gói, nhập khẩu, tàng trữ, buôn bán, vận chuyển và sử dụng thuốc BVTV
Để bảo đảm cho việc thi hành hệ thống pháp lý về quản lý thuốc BVTV, ngày 18/12/1993, Bộ NN&PTNT đã ra Quyết định số 703/NN-BVTV/QĐ về quy chế tổ chức và hoạt động của Thanh tra chuyên ngành về công tác BV&KDTV Một trong những nhiệm vụ quan trọng của thanh tra chuyên ngành BVTV là thanh tra thuốc BVTV
Những văn bản nói trên đã chứng tỏ nhà nước ta rất coi trọng việc quản
lý thuốc BVTV, đồng thời cũng đòi hỏi các nhà sản xuất, kinh doanh và người sử dụng thuốc BVTV phải quán triệt để nghiêm chỉnh thực hiện
1.5.3 Cơ quan chịu trách nhiệm
Theo chức năng, nhiệm vụ đã được Nhà nước phân công, thuốc BVTV được tổ chức quản lý bởi các cơ quan quản lý nhà nước theo sơ đồ dưới đây
- Cơ quan chủ quản là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
- Cơ quan chịu trách nhiệm quản lý là Cục Bảo vệ thực vật, thực hiện chức năng tham mưu giúp Bộ trưởng quản lý nhà nước chuyên ngành và thực thi nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với ngành, lĩnh vực BVTV, phòng trừ sinh vật gây hại rừng, kiểm dịch thực vật thuốc hóa học BVTV, thanh tra chuyên ngành về BV&KDTV thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ
Bộ Nông Nghiệp và
PTNTCục Bảo vệ Thực vật
Trang 39Hình 1.5: Sơ đồ tổ chức quản lý thuốc bảo vệ thực vật
Công tác tổ chức quản lí sử dụng thuốc BVTV ở Việt Nam được diễn
ra theo ngành dọc, có sự chỉ đạo, phối hợp của các cơ quan từ Trung ương tới địa phương
- Đứng đầu là Bộ NN&PTNN có nhiệm vụ điều hành sự hoạt động của các cơ quan cấp dưới, ban hành các văn bản quy phạm cấp Nhà nước phục vụ công tác quản lí Nhà nước về thuốc BVTV
- Dưới Bộ NN&PTNN là Cục Bảo vệ thực vật Cục bảo vệ thục vật là
cơ quan trực thuộc Bộ NN&PTNN, thực hiện chức năng tham mưu giúp Bộ trưởng quản lí Nhà nước chuyên ngành và thực thi nhiệm vụ quản lí Nhà nước đối với ngành lĩnh vực BVTV, thuốc BVTV, thanh tra chuyên nghành
về BV&KDTV thuộc phạm vi quản lí nhà nước của Bộ Cục BVTV có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng, có kinh phí hoạt động theo quy định của pháp luật Trong việc quản lí Nhà nước về thuốc BVTV được nêu rõ trong quyết định số 17/2008-QĐBNN
Trung tâm BVTV vùng
Chi cục BVTV tỉnh
Trạm BVTV huyện
Các ngành liên quan
Trang 40+ Đề xuất, xây dựng chương trình Bộ cơ chế, chính sách về quản lí thuốc BVTV Hàng năm, trình Bộ công bố danh mục thuốc BVTV được pháp
sử dụng, hạn chế sử dụng , cấm sử dụng ở Việt Nam
+ Quy định thủ tục cấp và thu hồi chứng chỉ hành nghề và buôn bán, sản xuất, gia công, sang chai, đóng gói thuốc BVTV; quy định điều kiện và thủ tục cấp giấy phép nhập khẩu thuốc BVTV theo ủy quyền của Bộ trưởng
+ Cấp giấy và thu hồi giấy phép nhập khẩu thuốc BVTV ngoài danh mục hoặc chưa có trong danh mục được phép sử dụng để gia công, đóng gói tại Việt Nam nhằm mục đích tái xuất, hoặc để khảo nghiệm, sử dụng trong các dự án đầu tư nước ngoài tại Việt Nam; giấy phép khảo nghiệm thuốc BVTV, giấy chứng nhận đăng kí (bao gồm giấy chứng nhận gia hạn đăng kí, cấp lại giấy chứng nhận đăng kí) thuốc BVTV ở Việt Nam
+ Tổ chức thực hiện đăng kí thuốc BVTV
+ Hướng dẫn, quản lí và tổ chức thực hiện khảo nghiệm thuốc BVTV mới
+ Quản lí, tổ chức thực hiện kiểm định chất lượng nguyên liệu và thành phần thuốc BVTV xuất khẩu, nhập khẩu; thành phần thuốc BVTV tại kho, xưởng sản xuất, gia công, sang chai, đóng gói, buôn bán và sử dụng; kiểm định dư lượng thuốc BVTV trong nông- lâm sản
+ Hướng dẫn thực hiện công tác quản lí thuốc BVTV ở địa phương; hướng dẫn việc thu gom và tiêu hủy thuốc, bao bì thuốc BVTV
+ Trình Bộ việc lập quỹ và sử dụng dự trữ quốc gia về thuốc BVTV+ Hướng dẫn việc lập dự trữ địa phương về thuốc BVTV, chế độ quản
lí, phương thức sử dụng dự trữ về thuốc BVTV ở cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
+ Hướng dẫn các địa phương kiểm tra việc sử dụng thuốc BVTV trên cây trồng để đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm
- Trung tâm bảo vệ thực vật phía Bắc: là đơn vị trực thuộc Cục BVTV, phụ trách về công tác BVTV nói chung ở các vùng trên cả nước
- Sở NN&PTNT tỉnh Thái Bình: giữ vai trò là cơ quan chủ quản trọng lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn tại tỉnh Thái Bình Trong việc quản lí thuốc BVTV Sở trực tiếp ban hành các văn bản chỉ đạo các cơ quan