Hệ thống tưới – tiêu là một công trình nhân tạo, sử dụng chủ yếu cho nông nghiệp, nhằm mục đích giúp cho con người chủ động cung cấp nướcđầy đủ theo nhu cầu phát triển của cây trồng; đồn
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA MÔI TRƯỜNG
VÀ LỆ CHI – HUYỆN GIA LÂM – HÀ NỘI”
Trang 2HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA MÔI TRƯỜNG
Người thực hiện: Kiều Hồng Anh
Khóa:
Giáo viên hướng dẫn: Ths Ngô Thị Dung
Địa điểm thực tập: Phòng Tài nguyên & Môi trường
huyện Gia Lâm – Hà Nội
Hà Nội – 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu vàkết quả nghiên cứu nêu trong này là trung thực và chưa từng được ai công bốtrong bất kỳ đề tài nào khác
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận này
đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn, tham khảo trong khóa luận đềuđược chỉ rõ nguồn gốc
Sinh viên thực hiện đề tài
(ký và ghi rõ họ tên)
Kiều Hồng Anh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để có được kết quả nghiên cứu này, ngoài sự cố gắng và nỗ lực của bảnthân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ từ rất nhiều cơ quan, đơn vị, cá nhân Tôixin ghi nhận và bày tỏ lòng biết ơn tới những tập thể, cá nhân đã dành cho tôi
sự giúp đỡ quý báu đó
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kính trọng với sự giúp đỡ, hỗ trợkhoa học của Ths Ngô Thị Dung, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi hoànthành khóa luận này
Tôi xin trân trọng cám ơn các đồng chí lãnh đạo UBND huyện GiaLâm, các đồng chí lãnh đạo, chuyên viên Phòng Tài nguyên & Môi trường,Phòng Kinh tế, Xí nghiệp đầu tư và phát triển thủy lợi Gia Lâm, Xí nghiệpkhai thác công trình thủy lợi Như Quỳnh, Cụm thủy nông Ba Xã, UBND xãKim Sơn, UBND xã Lệ Chi đã tạo điều kiện về thời gian và cung cấp số liệugiúp tôi thực hiện khóa luận này
Tôi xin chân thành cám ơn sự động viên và giúp đỡ của gia đình, vàbạn bè trong quá trình học tập và thực hiện khóa luận này
Hà nội, ngày 2 tháng 5 năm 2016
Sinh viên thực hiện đề tài
(ký và ghi rõ họ tên)
Kiều Hồng Anh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ii
LỜI CẢM ƠN iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ viii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Cơ sở lý luận và pháp lý: 3
1.1.1 Cơ sở lý luận: 3
1.1.2 Cơ sở pháp lý: 6
1.2 Hiện trạng tài nguyên nước Việt Nam: 9
1.2.1 Đặc điểm chung tài nguyên nước Việt Nam: 9
1.2.2 Tài nguyên nước mặt ở Việt Nam: 10
1.2.3 Tài nguyên nước dưới đất ở Việt Nam: 14
1.3 Hiện trạng quản lý và sử dụng nước trong sản xuất nông nghiệp: 16
1.3.1 Hiện trạng quản lý và sử dụng nước trong sản xuất nông nghiệp trên thế giới: 16
1.3.2 Hiện trạng quản lý và sử dụng nguồn nước trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam: 19
Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Đối tượng nghiên cứu: 27
2.2 Phạm vi nghiên cứu: 27
2.3 Nội dung nghiên cứu: 27
2.4 Phương pháp nghiên cứu: 27
2.4.1 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp: 27
2.4.2 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp: 28
2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu và đánh giá: 28
Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 29
3.1 Điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu: 29
Trang 63.1.1 Điều kiện tự nhiên: 29
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội: 35
3.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu: 46
3.2 Hiện trạng nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp: 48
3.2.1 Nguồn nước mưa: 48
3.2.2 Nguồn nước mặt: 49
3.3.3 Nguồn nước ngầm: 53
3.3 Hiện trạng quản lý và sử dụng nước trong sản xuất nông nghiệp tại 2 xã Kim Sơn và Lệ Chi: 53
3.3.1 Hiện trạng hệ thống thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp: 53
3.3.2 Hệ thống tổ chức quản lý nguồn nước tưới phục vụ sản xuất nông nghiệp: .59 3.3.3.Tình hình quản lý nước tưới trong sản xuất lúa vụ xuân năm 2016 tại xã Kim Sơn và Lệ Chi: 64
3.3.4 Hiện trạng sử dụng nước tưới trong sản xuất lúa của các hộ nông dân 2 xã Kim Sơn và Lệ Chi: 66
3.3.5 Những tồn tại trong công tác quản lý và sử dụng nước tưới ở địa bàn nghiên cứu: 71
3.4 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp tại 2 xã Kim Sơn và Lệ Chi: 72
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
PHỤ LỤC 80
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
TN&MT Tài nguyên và môi trường
IWMI Viện quản lý nước quốc tế
BTNMT Bộ Tài nguyên và Môi trường
BĐKH Biến đổi khí hậu
NN&PTNN Nông nghiệp và phát triển nông thôn
EVN Tập đoàn Điện lực Việt Nam
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Phân cấp công trình của hệ thống kênh tưới 6Bảng 1.2 Các lưu vực sông chính của nước ta 10Bảng 1.3 Một số đặc trưng cơ bản của các hệ thống sông chính ở Việt Nam12Bảng 1.4 Tỉ trọng sử dụng nước dưới đất ở Việt Nam 15Bảng 1.5 Nhu cầu sử dụng nước cho sản xuất nông nghiệp qua các năm 20
Trang 8Bảng 2.1 Số phiếu điều tra từng thôn 2 xã Kim Sơn và Lệ Chi 28
Bảng 3.1 Hiện trạng dân số các thôn, xóm và khu dân cư xã Kim Sơn 35
Bảng 3.2 Hiện trạng dân số các thôn, xóm và khu dân cư xã Lệ Chi 36
Bảng 3.3 Hiện trạng dân số và lao động xã Kim Sơn 37
Bảng 3.4 Hiện trạng dân số và lao động xã Lệ Chi 38
Bảng 3.5 Tổng lượng mưa tháng qua các năm tại huyện Gia Lâm 48
Bảng 3.6 Hệ thống các kênh nhánh cấp II, III trên địa bàn 2 xã Kim Sơn và Lệ Chi 54
Bảng 3.7 Hệ thống các cống trên địa bàn xã Kim Sơn 55
Bảng 3.8 Hệ thống các cống trên địa bàn xã Lệ Chi 56
Bảng 3.9 Trạm bơm tại khu vực nghiên cứu do Xí nghiệp Thủy lợi quản lý 57
Bảng 3.10 Hệ thống trạm bơm xã Lệ Chi 57
Bảng 3.11 Hiện trạng hệ thống kênh mương nội đồng 2 xã Kim Sơn và Lệ Chi 59
Bảng 3.12 Chỉ tiêu tưới vụ đông xuân 2016 tại 2 xã Kim Sơn và Lệ Chi của trạm bơm Như Quỳnh 65
Bảng 3.13 Chỉ tiêu tưới vụ đông xuân 2016 tại 2 xã Kim Sơn và Lệ Chi của Cụm thủy nông Ba Xã 66
Bảng 3.14 Tình hình sử dụng nước tưới trong sản xuất lúa tại 2 xã Kim Sơn và Lệ Chi 67
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ Hình 1.1 Biểu đồ tỷ lệ phân bố tài nguyên nước theo các LVS 11
Hình 3.1 Diễn biến lượng mưa trung bình tháng tại huyện Gia Lâm 49
Hình 3.2 Đồ thị biểu diễn hàm lượng TSS của các kênh, ao, hồ trên địa bàn xã Lệ Chi, Kim Sơn, Cổ Bi, Dương Hà 52
Trang 9Hình 3.3 Đồ thị biểu diễn hàm lượng BOD5 của các kênh, ao, hồ trên địa bàn
xã Lệ Chi, Kim Sơn, Cổ Bi, Dương Hà 52Hình 3.4 Bản đồ tưới tiêu cụm thủy nông Ba Xã 62Hình 3.5 Sơ đồ cơ cấu quản lý hệ thống thủy nông huyện Gia Lâm 63Hình 3.6 Mức độ chủ động về nguồn nước tưới của các hộ nông dân 2 xãKim Sơn và Lệ Chi 69Hình 3.7 Tỷ lệ khả năng đáp ứng nhu cầu của đơn vị cung cấp nước tưới ởKim Sơn 70Hình 3.8 Tỷ lệ khả năng đáp ứng nhu cầu của đơn vị cung cấp nước tưới ở LệChi 70
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nước là nguồn tài nguyên hữu hạn và vô cùng quý giá đối với sự sống
và sản xuất, là thành phần thiết yếu của cuộc sống và môi trường, quyết định
sự tồn tại, phát triển bền vững của đất nước Những năm gần đây, do ảnhhưởng của biến đổi khí hậu, thời tiết diễn biến bất thường, ô nhiễm môitrường, dẫn đến nguồn nước suy giảm cả về chất lượng và trữ lượng Theo dựbáo, đến năm 2020 lượng nước tiêu thụ trên toàn cầu sẽ tăng khoảng 40%,
riêng nhu cầu nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp tăng 17% (WB, ADB, FAO, UNDP, NGO; 2006), sẽ có 2/3 dân số trên thế giới gặp khó khăn về
nước và 34 Quốc gia phải sống với tiềm năng nước dưới 1000m3/ người/năm
(Ngô Đình Tuấn, 2006).
Sự phát triển trong sản xuất nông nghiệp đòi hỏi một lượng nước ngàycàng cao Tính đến năm 2025, sẽ có 15 – 20 triệu hec – ta trong tổng số 79triệu hec – ta diện tích trồng lúa cần được tưới tiêu (cung cấp ¾ tổng nguồn
cung lúa gạo cho thế giới) sẽ bị khan hiếm về nguồn nước (IWMI, 2007).
Việt Nam là quốc gia có hệ thống sông ngòi dày đặc với tổng lượngdòng chảy nước mặt hàng năm khoảng 830 – 840 tỷ m3/năm Mặc dù tàinguyên nước ở Việt Nam có trữ lượng dồi dào nhưng trên thực tế nguồn nước
có thể sử dụng ngay là hạn hữu vì sự phân bố nước không đồng đều Đặc biệtvào mùa khô thì tình trạng thiếu nước, hạn hán xảy ra ở nhiều nơi trên cảnước
Xã Kim Sơn và Lệ Chi - Gia Lâm nằm phía đông nam ngoại ô thủ đô
Hà Nội, là các xã phát triển mạnh mẽ về nông nghiệpvà nằm trong vùng quyhoạch trồng lúa chất lượng cao của huyện Đây là nơi cung cấp nông sản chođịa phương và các vùng xung quanh với diện tích đất sản xuất nông nghiệptính đến năm 2011 lên đến 810,8ha; chiếm khoảng 13% diện tích đất sản xuất
nông nghiệp toàn huyện (Phòng TN&MT huyện Gia Lâm – Hà Nội, (2015)
Trang 11Vùng sản xuất nông nghiệp của 2 xã Kim Sơn và Lệ Chi hiện đang sửdụng nước tưới lấy từ trạm bơm Gia Thuận – Như Quỳnh và một số ao hồtrong khu vực Nhưng vài năm trở lại đây việc sản xuất nông nghiệp đảm bảochất lượng nông sản ở 2 xã trở nên khó khăn do thiếu nước và chất lượngnước tưới không đạt yêu cầu.
Vấn đề quản lý, sử dụng nguồn nước tưới để duy trì phát triển nôngnghiệp bền vững là rất cần thiết Xuất phát từ thực trạng trên, chúng tôi tiến
hành thực hiện đề tài: “Đánh giá hiện trạng quản lý và sử dụng nguồn nước
tưới phục vụ sản xuất nông nghiệp tại hai xã Kim Sơn và Lệ Chi - Gia Lâm – Hà Nội”.
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
˗ Đánh giá hiện trạng quản lý và sử dụng nguồn nước tưới phục vụ sảnxuất nông nghiệp tại hai xã Kim Sơn và Lệ Chi - Gia Lâm – Hà Nội
˗ Đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng có hiệuquả nguồn nước tưới phục vụ sản xuất nông nghiệp tại địa phương
Trang 12Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở lý luận và pháp lý:
1.1.1 Cơ sở lý luận:
Tài nguyên nước là lượng nước trong sông, ao hồ, đầm lầy, biển và đại
dương và trong khí quyển, sinh quyển Trong Luật Tài nguyên nước của nướcCộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, được Quốc hội thông qua năm 2012, đãquy định: “Tài nguyên nước bao gồm các nguồn nước mặt, nước mưa, nướcdưới đất, nước biển thuộc lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam” Trong đó, “nước mặt là nước tồn tại trên mặt đất liền hoặc hải đảo” và
“nước dưới đất là nước tồn tại trong các tầng chứa nước dưới đất” Nước có
hai thuộc tính cơ bản đó là gây lợi và gây hại Nước là nguồn động lực chomọi hoạt động kinh tế của con người, song nó cũng gây ra những hiểm hoạ tolớn không lường trước được đối với con người Những trận lũ lớn có thể gâythiệt hại về người và của thậm chí tới mức có thể phá huỷ cả một vùng sinhthái
Tuy mang đặc tính vĩnh cửu nhưng trữ lượng hàng năm không phải là
vô tận, tức là sức tái tạo của dòng chảy cũng nằm trong một giới hạn nào đókhông phụ thuộc vào mong muốn của con người Tài nguyên nước được đánhgiá bởi ba đặc trưng cơ bản là lượng, chất lượng và động thái của nó
Lượng nước là đặc trưng biểu thị mức độ phong phú của tài nguyên
nước trên một lãnh thổ
Chất lượng nước là các đặc trưng về hàm lượng các chất hoà tan trong
nước phục vụ yêu cầu dùng nước cụ thể về mức độ lợi và hại theo tiêu chuẩnđối tượng sử dụng nước
Động thái của nước được đánh giá bởi sự thay đổi của các đặc trưng
nước theo thời gian và không gian Đánh giá tài nguyên nước là nhằm mục
đích làm rõ các đặc trưng đã nêu đối với từng đơn vị lãnh thổ cụ thể (Nguyễn Thanh Sơn, 2005)
Trang 13Biết rõ các đặc trưng tài nguyên nước sẽ cho chúng ta phương hướng
cụ thể trong việc sử dụng, qui hoạch khai thác và bảo vệ nó Các quy định vềviệc quản lý, bảo vệ, khai thác và sử dụng tài nguyên nước đã được đưa ratrong “Luật tài nguyên nước” năm 2012 Điều này chứng tỏ nước có vai tròrất quan trọng trong đời sống và sản xuất
Cũng như các tài nguyên khác, Tài nguyên nước cần phải được quản lý
tổng hợp trên quan điểm phát triển bền vững Quản lý tài nguyên nước bền
vững có nghĩa là việc khai thác sử dụng nguồn nước trong giai đoạn hiện tại
phải hợp lý và tổng hợp, bảo vệ tài nguyên nước khỏi bị cạn kiệt và ô nhiễm
để duy trì nguồn nước cho thế hệ mai sau Quản lý tổng hợp tài nguyên nước
là sự kết hợp giữa sử dụng và bảo vệ, được xét đến trong tất cả các ngànhdùng nước, là sự kết hợp giữa môi trường nước và môi trường đất, môi trườngkinh tế và xã hội Quản lý tổng hợp về mặt địa lý, lấy đơn vị sông làm đơn vịquản lý tài nguyên nước, tức là quản lý tài nguyên nước theo lưu vực sông
(UNESCO và VNC – IHP, 2006).
Hệ thống tưới – tiêu là một công trình nhân tạo, sử dụng chủ yếu cho
nông nghiệp, nhằm mục đích giúp cho con người chủ động cung cấp nướcđầy đủ theo nhu cầu phát triển của cây trồng; đồng thời hệ thống cũng giúpcho việc tiêu thoát nước hợp lý giúp cho cây trồng không bị nguy hại do ngậpúng Hệ thống tưới – tiêu là một trong những cơ sở vật chất hạ tầng của nôngnghiệp và nông thôn Hệ thống giúp cho mùa màng phát triển ổn định, hạnchế những sự thất thường của thời tiết và điều kiện tự nhiên liên quan đếnnguồn nước, đất và cây trồng
Hệ thống cấp nước cho sản xuất nông nghiệp hay còn gọi là hệ thống thủy lợi (hệ thống thủy nông) là một hệ thống liên hoàn từ công trình
đầu mối (hồ chứa, đập dâng, trạm bơm…) đến công trình kênh mương cáccấp để dẫn nước tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp, đảm bảo cung cấpnước cho cây trồng khi thiếu nước và tiêu thoát nước kịp thời cho cây trồngkhi thừa nước nhằm thoả mãn yêu cầu nước cho cây trồng phát triển tốt và
Trang 14cho năng suất cao Thực tế hệ thống thuỷ lợi thường là hệ thống phải đáp ứngyêu cầu tổng hợp lợi dụng cho nhiều ngành khác nhau, không chỉ giải quyếtcấp thoát nước cho nông nghiệp mà còn phải giải quyết cấp thoát nước chonhiều ngành kinh tế quốc dân khác như cấp thoát nước cho sinh hoạt, côngnghiệp, phát điện, chăn nuôi, phát triển thuỷ sản, giao thông thuỷ, du lịch, cảitạo môi trường,…
Hệ thống thủy lợi bao gồm:
Nguồn nước là nơi cung cấp nước cho hệ thống, bao gồm dòng sông,
suối, ao hồ chứa hoặc nước ngầm,… Đặc điểm và chất lượng nước của nguồnnước có vai trò lớn trong chi phí xây dựng hệ thống tưới Nguồn nước dồi dào
và có chất lượng sẽ làm giảm tiền đầu tư xây dựng và xử lý nước hệ thống
Công trình đầu mối gồm: hồ chứa, đập dâng, trạm bơm tưới, tràn xả
lũ, cống lấy nước có nhiệm vụ phối hợp một cách hợp lý nhất yêu cầu cấpthoát nước của hệ thống với nguồn nước Tùy theo từng trường hợp cụ thể đểquyết định các hình thức, quy mô công trình
Mạng lưới kênh mương: mạng lưới kênh mương có nhiệm vụ dẫn
nước từ công trình đầu mối về ruộng, đây là hệ thống xương sống của hệ
thống tưới Kênh thường làm bằng đất hay xây đá, gạch,… (Phạm Ngọc Hải cùng cộng sự, 2006). Hệ thống kênh tưới có nhiều cấp, tuỳ thuộc quy mô hệthống mà số cấp nhiều hay ít, nhiều nhất có thể đến 5 cấp, ít nhất là 2 cấp.Theo Tiêu chuẩn Công trình thủy lợi – Hệ thống tưới tiêu – Yêu cầu thiết kếTCVN 4118 – 2012 thì kênh tưới được phân 4 cấp (cấp công trình, không tínhcấp đặc biệt) để xác định tiêu chuẩn thiết kế và các hạng mục liên quan:
Trang 15Bảng 1.1 Phân cấp công trình của hệ thống kênh tưới
Các công trình trên kênh bao gồm cống đầu kênh, bậc nước, dốc
nước, tràn bên, cống qua đường, cầu giao thông,
Hệ thống bờ bao là loại hệ thống công trình nhỏ có tác dụng quan
trọng trong việc ngăn nước, giữ nước, giữ màu Bờ vùng là bờ ven theomương cấp 2 hoặc cấp 3 có tác dụng ngăn nước ngoại lai, nước từ khu đồngcao dồn xuống khu đồi thấp Bờ khoảng là bờ ven theo mương cấp 3 hoặc cấp
4 có tác dụng điều chỉnh nước mưa tại chỗ trong vùng Bờ thửa là hệ thống bờven theo rãnh tưới có tác dụng giữ nước màu và làm đường đi lại khi chăm
bón (Phạm Ngọc Hải cùng cộng sự, 2006).
1.1.2 Cơ sở pháp lý:
Việt Nam có lịch sử lâu đời về quản lý nước Công tác quản lý TNNđược phát triển nhằm ứng phó với tình trạng thiếu nước vào mùa khô, lũ lụttàn phá nặng nề vào mùa mưa do khí hậu gió mùa và nhu cầu cao về cấp nướcnhằm thỏa mãn mong muốn thâm canh trong sản xuất nông nghiệp
Luật Tài nguyên nước đã được chính thức ban hành từ năm 1998 (Cục BVMT, 2006) và các văn bản pháp quy hướng dẫn tiếp theo đã cung cấp các
quy định về quản lý, điều hành, lưu trữ, khai thác và sử dụng tài nguyên nướctrên toàn quốc Sự thay đổi về thể chế trong quản lý tài nguyên nước đãkhuyến khích được quá trình phi tập trung hóa và đẩy mạnh sự tham gia rộngrãi của các thành phần ngoài nhà nước trong việc khai thác, sử dụng và bảo vệnguồn nước, đặc biệt là cung cấp nước sinh hoạt và nước tưới tiêu
Theo luật này, tài nguyên nước ở Việt nam thuộc sở hữu toàn dân vàđược nhà nước thống nhất quản lý nhằm đảm bảo tất cả mọi người có quyền
Diện tích tưới (103 ha) Cấp công trình kênh
Trang 16hưởng lợi từ các nguồn nước Hiện tại Bộ Tài nguyên và Môi trường đượcChính phủ giao trách nhiệm quản lý nhà nước về tài nguyên nước nói chung,trong khi Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Thủy sản và Bộ Côngnghiệp có trách nhiệm quản lý tài nguyên nước theo hoạt động của ngành, chocác mục đích tương ứng như thủy lợi, nuôi trồng thủy sản và sản xuất thủyđiện
Một số văn bản pháp luật chính liên quan đến quản lý TNN (UNESCO
và VNC – IHP,2006), (Lê Đức Năm, 2010):
- Chỉ thị số 200/TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 29/4/1994 về đảmbảo cung cấp nước sạch vệ sinh nông thôn
- Quyết định số 299/TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 13/5/1996hướng dẫn thành lập ủy ban lụt bão Trung ương
- Chỉ thị số 487/TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 30/7/1996 về tăngcường quản lý nhà nước đối với TNN
- Quyết định số 63/1998/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày18/3/1998 về định hướng quốc gia về phát triển cấp nước và phát triển thoátnước cho các khu đô thị đến năm 2020
- Quyết định số 155/1999/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày16/7/1999 về ban hành quy chế quản lý chất thải nguy hại (bao gồm cả nướcthải nguy hại)
- Quyết định số 67/2000/QĐ-TTg ngày 15-6-2000 của Thủ tướngChính phủ thành lập hội đồng Quốc gia về TNN
- Phát lệnh phòng chống lụt bão ngày 24/8/2000
- Quyết định số 104/2000/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày25/8/2000 về chiến lược quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường ViệtNam
- Quyết định số 37,38,39/2001/QĐ/BNN-TCCB của Bộ trưởng BộNNPTNT ngày 9/4/2001 về việc thành lập ban QLQH các LVS Cửu Long,Đồng Nai, Hồng-Thái Bình
Trang 17- Quyết định số 99/2001/QĐ-TTg ngày 28-6-2001 của Thủ tướngChính phủ về việc ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của hội đồng quốcgia về TNN.
- Quyết định số 82/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việcthành lập, tổ chức và hoạt động của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam
- Quyết định số 600/2003/QĐ-BTNMT ngày 8/5/2003 quy định chứcnăng, nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục quản lý TTN
- NĐ số 67/2003/NĐ-CP của Chính phủ ngày 13/6/2003 về phí bảo vệmôi trường đối với nước thải
- NĐ số 149/2004/NĐ-CP ngày 27/7/2004 của Chính phủ quy định việccấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng TNN, xả nước thải vào nguồn nước
- Chỉ thị 02/2004/CT-BTNMT- Về việc tăng cường công tác quản lýTNN dưới đất
- NĐ 34/2005/NĐ-CP, quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vựcTNN
- Thông tư 05/2005/TT-BTNMT, hướng dẫn thi hành nghị định số34/2005/NĐ-CP ngày 17/3/2005 của Chính phủ quy định về xử phạt hànhchính trong lĩnh vực TNN
- Quyết định 81/2006/QĐ-TTg, phê duyệt Chiến lược quốc gia về TNNđến năm 2020
- Nghị định số 112/2008/NĐ-CP của chính phủ về quản lý, bảo vệ, khaithác tổng hợp tài nguyên và môi trường các hồ chứa thủy điện, thủy lợi
- Luật tài nguyên nước 2012
Một số văn bản là cơ sở pháp lý quan trọng giúp triển khai đồng bộ các
cơ chế, chính sách trong lĩnh vực miễn thủy lợi phí, tăng cường công tác quản
lý, khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi; tạo điều kiện phát huy sự tham giacủa người dân, nâng cao đời sống cho cán bộ quản lý:
- Thông tư số 65/2009/TT-BNNPTNT ngày 12/10/2009 hướng dẫn tổchức hoạt động và phân cấp quản lý, khai thác công trình thủy lợi
Trang 18- Thông tư số 56/2010/TT-BNNPTNT ngày 01/10/2010 Quy định một
số nội dung trong hoạt động của các tổ chức quản lý, khai thác công trìnhthủy lợi
- Quyết định số 2891/QĐ-BNN-TL ngày 12/10/2009 hướng dẫn xâydựng định mức kinh tế kỹ thuật trong công tác quản lý, khai thác và bảo vệcông trình thủy lợi
- Quyết định số 2212/QĐ-BNN-TCTL ngày 30/9/2013 Ban hành Bộchỉ số đánh giá quản lý khai thác hệ thống công trình thủy lợi
1.2 Hiện trạng tài nguyên nước Việt Nam:
Việt Nam nằm ở phía Đông Nam, tận cùng của khối lục địa Á Âu, lụcđịa lớn nhất hành tinh, trước mặt là Thái Bình Dương nên có một nguồn hơi
ẩm lớn Chính nhờ có một chế độ khí hậu điều hoà, lượng mưa trung bìnhhàng năm từ 1500-2000mm đã tạo nên một hệ thống sông ngòi khá dày đặc(cứ hơn 10km bờ biển thì có một cửa sông) Sông ngòi là sản phẩm của khíhậu ở Việt Nam, tổng lượng nước đổ ra biển từ sông ngòi khoảng 800×109m3,
lượng nước này có thể tưới đủ cho 1/3 diện tích bề mặt hành tinh (Lê Huy Bá,
Vũ Chí Hiếu, Võ Đình Long; 2006)
1.2.1 Đặc điểm chung tài nguyên nước Việt Nam:
Việt Nam có nguồn nước mưa dồi dào hơn so với các vùng cùng vĩ độđịa lý Lượng mưa trung bình năm toàn lãnh thổ 1960 mm, gấp 2,6 lần lượngmưa trung bình lục địa, cung cấp 640 tỷ m3 /năm, từ đó tạo ra một lượng dòngchảy khoảng 320 tỷ m3 , hệ số dòng chảy là 0,5
Lượng mưa phân bố không đồng đều theo không gian và thời gian do bịđặc điểm địa lý, địa hình và loại hình thời tiết gây mưa chi phối Chênh lệchlượng mưa giữa các vùng lên tới 10 lần Mưa phân bố không đều theo thờigian, 20 - 30 % tổng mưa rơi trong một tháng cao điểm, 70 - 90 % mưa rơitrong mùa mưa, còn lượng mưa ba tháng nhỏ nhất chỉ chiếm 5 - 8% tổng mưa
và lượng mưa tháng ít mưa nhất chỉ có 1- 2%
Trang 19Lượng bốc hơi lớn, trên 900 mm/năm Bốc hơi nhỏ nhất 400 – 500 mm/năm quan sát thấy ở vùng núi cao Tây Bắc và đông Bắc Bắc Bộ do bị hạn chếbởi trường nhiệt và ở ven biển Ninh Thuận, Bình Thuận, do bị hạn chế bởitrường ẩm Tây Nam Bộ có lượng bốc hơi lớn nhất, trên 1.300 mm/năm do cảhai trường nhiệt ẩm đều phong phú Lãnh thổ Trung Bộ bốc hơi năm trung
bình là 900 - 1.200 mm, phần còn lại của lãnh thổ 800 - 1.000 mm (Nguyễn Thị Phương Loan, 2005).
1.2.2 Tài nguyên nước mặt ở Việt Nam:
1.2.2.1 Trữ lượng tài nguyên nước mặt ở Việt Nam:
Việt Nam có hơn 2.360 con sông có chiều dài từ 10 km trở lên, trong
đó có 109 sông chính Toàn quốc có 16 LVS với diện tích lưu vực lớn hơn2.500 km2, 10/16 lưu vực có diện tích trên 10.000 km2 Tổng diện tích cácLVS trên cả nước lên đến trên 1.167.000 km2 , trong đó, phần lưu vực nằmngoài diện tích lãnh thổ chiếm đến 72%
Bảng 1.2 Các lưu vực sông chính của nước ta
Lưu vực với diện tích trên 10.000
Nguồn: Cục Quản lý tài nguyên nước, Bộ TN&MT, 2012
Vị trí địa lý, đặc điểm điều kiện tự nhiên đặc thù nên khoảng 63%lượng nước của cả nước tập trung ở LVS Mê Công, 18% tập trung ở LVS
Trang 20Hồng - Thái Bình, khoảng 5% ở LVS Đồng Nai, các LVS lớn khác, tổnglượng nước chỉ chiếm phần nhỏ còn lại.
Cả Thu Bồn Ba
Sê San Srê Pôk Đồng Nai
Ở miền Bắc, mùa khô bắt đầu vào tháng 11 và tháng 12, ở miền Trung vàmiền Nam mùa khô bắt đầu muộn hơn, vào tháng 1 Mùa khô ở nước ta kéodài từ 6 đến 9 tháng và khắc nghiệt, lượng nước trong thời gian này chỉ bằngkhoảng 20 - 30% lượng nước của cả năm Vào thời điểm này, khoảng mộtnửa trong số 15 LVS chính bị thiếu nước - bất thường hoặc cục bộ
Tổng lượng nước mặt của các LVS trên lãnh thổ Việt Nam khoảng 830
- 840 tỷ m3 /năm, nhưng chỉ có khoảng 310 - 315 tỷ m3 (37%) là nước nộisinh, còn 520 - 525 tỷ m3 (63%) là nước chảy từ các nước láng giềng vào lãnhthổ Việt Nam Chẳng hạn, ở LVS Hồng nguồn nước ngoại lai chiếm 50%tổng khối lượng nước bề mặt Còn ở LVS Mê Công có đến 90% tổng khốilượng nước bề mặt có nguồn gốc ngoại lai
Trang 21Bảng 1.3 Một số đặc trưng cơ bản của các hệ thống sông chính
Trongnước Tổng
Ngoàinước
Trongnước Tổng
bị giảm xuống còn 3.100 m3 Đặc biệt, trong trường hợp các quốc gia thượngnguồn không có sự chia sẻ công bằng và sử dụng hợp lý nguồn nước trên cácdòng sông liên quốc gia, thì Việt Nam chắc chắn sẽ phải đối mặt với nguy cơkhan hiếm nước, có khả năng sẽ xảy ra khủng hoảng nước, đe dọa đến sự pháttriển ổn định về kinh tế, xã hội và an ninh lương thực
Trang 22Xét lượng nước vào mùa khô thì nước ta thuộc vào vùng phải đối mặtvới thiếu nước, một số khu vực thuộc loại khan hiếm nước Chưa bao giờ tàinguyên nước lại trở nên quý hiếm như những năm gần đây, khi nhu cầu nướckhông ngừng tăng lên mà nhiều dòng sông lại bị suy thoái, ô nhiễm, nướcsạch ngày một khan hiếm Hạn hán, thiếu nước diễn ra thường xuyên, nghiêmtrọng An ninh về nguồn nước cho thấy sự phát triển bền vững và bảo vệ môi
trường đang không được bảo đảm ở nhiều nơi, nhiều vùng ở nước ta (Báo cáo Môi trường Quốc gia 2012)
1.2.2.2 Chất lượng nước mặt ở Việt Nam:
Một trong những đặc điểm về chất lượng nước mặt của Việt Nam là độđục nước sông khá lớn Lượng cát bùn tập trung 80 - 90% tổng lượng cát bùnnăm vào mùa lũ Độ đục trung bình năm biến đổi từ 100 g/m3 đến 500 g/m3
Độ đục lớn nhất là các sông trên hệ thống sông Hồng, có nơi đạt tới trên 1000g/m3 Hàng năm, các sông ngòi Việt Nam vận chuyển ra biển 400 - 500 triệutấn cát bùn, riêng sông Hồng khoảng 120 triệu tấn/năm
Độ khoáng hoá sông Việt Nam thuộc loại trung bình, khoảng 25 - 250mg/l Nước thuộc loại mềm và rất mềm Nhiều vùng nước bị nhiễm mặn, đặcbiệt vào mùa kiệt, và chua phèn, điển hình ở đồng bằng sông Cửu Long
Theo kết quả quan trắc các hệ thống sông chính trên cả nước, nhiềuchất ô nhiễm trong nước có tổng nồng độ vượt quá quy chuẩn cho phép, daođộng từ 1,5 – 3 lần
Hiện nay, hầu hết các hồ, ao, kênh rạch và các sông trong khu vực nộithành các thành phố đều bị ô nhiễm nghiêm trọng vượt quá mức quy chuẩncho phép nhiều nơi đã trở thành kênh nước thải Vấn đề ô nhiễm chủ yếu là ônhiễm chủ yếu là ô nhiễm hữu cơ, nhiều hồ trong nội thành bị phú dưỡng,nước hồ có màu đen và bốc mùi hôi, gây mất mỹ quan đô thị Kết quả quantrắc cho thấy một số nơi các thông số còn vượt QCVN 08:2008/BTNMT loại
B2 (Báo cáo Môi trường Quốc gia 2010)
1.2.3 Tài nguyên nước dưới đất ở Việt Nam:
Trang 231.2.3.1 Trữ lượng tài nguyên nước dưới đất ở Việt Nam:
Theo Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước – Bộ TN&MT HoàngVăn Bảy (2014) cho biết, lãnh thổ Việt Nam có thể chia thành 26 đơn vị chứanước dưới đất, có đặc điểm phân bố, chất lượng, số lượng và khả năng khaithác, sử dụng khác nhau, tuỳ thuộc vào sự hiện diện của chúng ở các miền vàphụ miền địa chất thuỷ văn khác nhau Tài nguyên nước dưới đất ở Việt Nam
có tổng trữ lượng tiềm năng khoảng 63 tỷ m3/năm nhưng tập trung chủ yếu ởĐồng bằng Bắc Bộ, Nam Bộ và khu vực Tây Nguyên
Ở Việt Nam, tài nguyên dự báo nước dưới đất trong các thành tạo chứanước chính (thành tạo bở rời, đá vôi, lục nguyên, bazan…) ước tính khoảng172,6 triệu m3 /ngày, trong khi đó tỷ trọng sử dụng nước dưới đất chưa nhiều
(Cục Quản lý tài nguyên nước – Bộ TN&MT, 2013).
Trang 24Bảng 1.4 Tỉ trọng sử dụng nước dưới đất ở Việt Nam
STT Thành phố, vùng
Lượng nước đang khai thác, m3/ngày
Tài nguyên
dự báo, m3/ngày
% khai thác
so với tài nguyên
1 Đồng bằng Bắc bộ 2.264.898 17.191.102 13,17
Trong đó Hà Nội 1.779.398 8.362.000 21,272
Đồng bằng Nam bộ 3.602.447 23.843.731 15,11Trong đó TP Hồ Chí
Nguồn: Cục Quản lý tài nguyên nước – Bộ TN&MT, 2013 1.2.3.2 Chất lượng nước dưới đất:
Hiện tổng trữ lượng khai thác nước dưới đất trên toàn quốc đạt gần 20triệu m3, tổng công suất của hơn 300 nhà máy khai thác nguồn nước này vàokhoảng 1,47 triệu m3/ngày
Nhưng trên thực tế các nhà máy chỉ khai thác được 60-70% so với côngsuất thiết kế Vấn đề đáng báo động là nguồn nước dưới đất của Việt Namđang đối mặt với dấu hiệu ô nhiễm coliform vượt quy chuẩn cho phép từ hàngtrăm đến hàng nghìn lần Tình trạng ô nhiễm phốtphát (P-PO4) cũng có xuhướng tăng theo thời gian
Tại Hà Nội, số giếng khoan có hàm lượng P-PO4 cao hơn mức chophép (0,4mg/l) chiếm tới 71% Tại khu vực Hà Giang – Tuyên Quang, hàmlượng sắt tại một số địa điểm cao vượt mức cho phép trên 1mg/l, có nơi trên
15 – 20mg/l, tập trung chủ yếu quanh các mỏ khai thác sunphua
Trang 25Ngoài ra, việc khai thác nước quá mức ở tầng holocen cũng làm chohàm lượng asen trong nước dưới đất tăng lên rõ rệt, vượt mức giới hạn chophép 10mg/l
Đặc biệt, vùng ô nhiễm asen phân bố gần như trùng với diện tích phân
bố của vùng có hàm lượng amoni cao, tập trung chủ yếu ở khu vực Đồngbằng Bắc Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long
Kết quả quan trắc của Trung tâm Quan trắc và Dự báo tài nguyên nước(Bộ Tài nguyên Môi trường) cũng cho thấy mực nước ngầm đang sụt giảmmạnh, chất lượng nước ở nhiều nơi không đạt tiêu chuẩn Ở đồng bằng Bắc
bộ, mực nước ngầm hạ sâu, đặc biệt ở khu vực Mai Dịch (Cầu Giấy, Hà Nội)
Vào mùa khô, cả 7/7 mẫu đều có hàm lượng amoni cao hơn tiêu chuẩncho phép nhiều lần Riêng ở Tân Lập (Đan Phượng, Hà Nội), hàm lượngamoni lên đến 23,30mg/l (gấp 233 lần tiêu chuẩn cho phép)
Ngoài ra, còn có 17/32 mẫu có hàm lượng mangan (Mn) vượt quá hàmlượng tiêu chuẩn, 4/32 mẫu có hàm lượng asen (As) vượt tiêu chuẩn…
Tại Đồng bằng Nam bộ, tại một số điểm quan trắc, mực nước đã hạthấp sâu, đặc biệt ở khu vực quận 12, quận Bình Tân (Thành phố Hồ ChíMinh), hàm lượng mangan và metan cũng vượt quá tiêu chuẩn cho phép
Hiện nay, theo đánh giá của các nhà khoa học, chỉ có Tây Nguyên là
vùng có tầng nước ngầm khá an toàn (Lý Xuân Hương, 2013)
1.3 Hiện trạng quản lý và sử dụng nước trong sản xuất nông nghiệp:
1.3.1 Hiện trạng quản lý và sử dụng nước trong sản xuất nông nghiệp trên thế giới:
1.3.1.1 Nhu cầu sử dụng nước tưới cho nông nghiệp trên thế giới:
Trong tổng số khối lượng nước được khai thác sử dụng trên toàn thếgiới hiện nay là 3.800 tỷ m3 thì việc tưới nước trong nông nghiệp sử dụng70% (2.700 tỷ m3 )
Nhu cầu dùng nước tổng cộng của kinh tế nông nghiệp trên thế giớităng thường xuyên: vào đầu thế kỷ nó chiếm 350 km3/năm, vào năm 1970 –
Trang 261990 km3/năm và đến năm 2000 là 3400 km3/năm.
Năm 2005, cơ cấu sử dụng nước ngọt trên toàn thế giới như sau: nôngnghiệp 73%, công nghiệp21%, sinh hoạt dân dụng 6% Trong nông nghiệp,việc đẩy mạnh thâm canh đang làm mở rộng nhanh diện tích đất có tưới vàlượng nước dùng trong thuỷ lợi Từ năm 1950 – 1970, tổng diện tích đượctưới đã tăng gấp đôi là 260 triệu ha sử dụng khoảng 3500 km3 nước trong tổng
số 4400km3 nhân loại sử dụng cho các nhu cầu mỗi năm (Nguyễn Thị Phương Loan, 2005).
Theo đánh giá của Viện Quản lý Nguồn nước Quốc tế (IWMI, 2007),khoảng 24-30% các nguồn nước ngọt có thể tiếp cận được trên Trái Đất(sông, hồ, tầng nước ngầm) hiện đang được sử dụng phục vụ cho tưới tiêutrong nông nghiệp Trên Thế giới, khan hiếm nguồn nước hiện đã trở thànhmột thực trạng đe dọa khoảng 2 tỷ người Nước phục vụ nông nghiệp ngàycàng trở nên khan hiếm Nhiệt độ tăng cao do tác động của BĐKH sẽ làmtăng nhu cầu về nước cho hoạt động trồng trọt Vì thế, sự khan hiếm nướccàng trở nên nghiêm trọng hơn Tính đến năm 2025, sẽ có 15-20 triệu hec-tatrong tổng số 79 triệu hec-ta diện tích trồng lúa cần được tưới tiêu (cung cấp
¾ tổng nguồn cung lúa gạo cho thế giới) sẽ bị khan hiếm về nguồn nước
(IWMI, 2007).
Các nguồn nước ngọt chỉ chiếm khoảng 2,5% tổng lượng nước trênTrái Đất, trong đó chỉ một phần nhỏ được sử dụng phục vụ con người Phầnlớn được sử dụng phục vụ tưới tiêu trong nông nghiệp, đặc biệt là cây lúa.Lượng nước phục vụ tưới tiêu cây lúa lớn gấp 3-5 lần so với lượng nước tưới
tiêu lúa mì hoặc ngô (Lê Anh Đức, 2011)
1.3.1.2 Công tác quản lý nguồn nước trong nông nghiệp trên thế giới:
Dưới góc độ đánh giá của của Viện Quản lý nước Quốc tế (IWMI), từđầu những năm 60 của thế kỷ trước, thực hiện cuộc cách mạng xanh, nhiềunước Châu Á đặc biệt là Ấn Độ đã đẩy mạnh xây dựng hạ tầng thủy lợi, đưa
Trang 27diện tích tưới lúa tăng nhanh nhằm giải quyết tốt vấn đề lương thực đối vớimột nước đông dân
Theo FAO (1988), 17% diện tích đất canh tác đã được thuỷ lợi hoá,cung cấp cho nhân loại 36% sản lượng lương thực có mức đảm bảo ổn địnhcao Do đó tưới là giải pháp chính để giải quyết vấn đề lương thực trong điềukiện dân số gia tăng và nguy cơ đất canh tác giảm hiện nay 3/4 diện tích đấtđược tưới nằm ở các nước đang phát triển, nơi sản xuất ra 60% lượng gạo và40% lượng lúa mì của các nước này Nước cấp cho nông nghiệp hiện chiếm
>1/2 tổng lượng tiêu thụ, trong đó 30% lấy từ dưới đất
Theo FAO và WB (2006), nhìn chung trên toàn thế giới diện tích tưới
đã tăng 2 lần so với 1950, năm 2002 diện tích tưới đã đạt 276,719 triệu hatrong đó khu vực châu Á - Thái Bình Dương đạt 178,831 triệu ha và theonguồn tài liệu của WB và FAO do IWMI tập hợp phân tích và xuất bản năm
2007 thì diện tích tưới đã tăng trong các thập kỷ qua như sau:
Tổ chức IWMI cho biết, có một xu hướng đáng báo động là tình trạngkhan hiếm nước do con người gây ra, thậm chí ở những nơi có nguồn nướcdồi dào Nguyên nhân chủ yếu là do việc sử dụng nước quá mức Sản xuấtnông nghiệp sử dụng một lượng nước nhiều gấp 70 lần so với nhu cầu nước
Trang 28để sống và các nhu cầu khác như nấu ăn, giặt giũ và tắm rửa Kết quả là cáccon sông bị cạn kiệt và ô nhiễm, lượng nước ngầm giảm và tình trạng bất
công trong phân phối nước (Lê Anh Đức, 2011)
Theo ước tính vào năm 2015, để xóa đói và suy dinh dưỡng cho dân sốthế giới, cần có lượng nước ngọt bổ sung tương đương với lượng nước ngọthiện đang được sử dụng phục vụ ngành nông nghiệp, công nghiệp và sinh
hoạt hộ gia đình (SIWI, 2005) Cần phải tìm ra những giải pháp để tăng tính
hiệu quả sử dụng nguồn nước (bao gồm cả nước tưới tiêu và nước mưa) trongnông nghiệp
SRI (System of Rice Insentification) là phương pháp canh tác lúa sinhthái và hiệu quả, tăng năng suất nhưng lại giảm chi phí đầu vào như giống,phân bón, thuốc trừ sâu và nước tưới Nhưng nguyên tắc/kỹ thuật cơ bản củaphương pháp này bao gồm: cấy mạ non, cấy một dảnh, cấy thưa, quản lýnước, làm cỏ sục bùn và bón phân hữu cơ Khi áp dụng SRI, nước cho canhtác lúa tưới tiêu sẽ giảm từ 25-50%.Việc cắt giảm lượng nước trong sản xuấtlúa gạo có thể tiết kiệm nước cho việc trồng các loại cây lương thực khác,tăng đa dạng cây trồng và sử dụng cho các lĩnh vực khác như sinh hoạt giađình, công nghiệp và môi trường SRI đòi hỏi nhu cầu về nước ít hơn đồngnghĩa với việc người nông dân có thể tiếp tục trồng lúa tại các khu vực khanhiếm về nguồn nước Khi nhu cầu về nước tăng cao, SRI hiện đã trở thànhmột cơ hội đầy hứa hẹn trong việc giảm nhu cầu về nước trong nông nghiệp
(IWMI, 2007)
1.3.2 Hiện trạng quản lý và sử dụng nguồn nước trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam:
1.3.2.1 Nhu cầu sử dụng nước tưới cho nông nghiệp ở Việt Nam:
Nước dùng cho nông nghiệp ở nước ta chiếm 84% (năm 2000) tổng sốnước sử dụng Theo chiến lược cấp nước đến năm 2010 để tưới 10 – 12 triệu
ha cần khoảng 65 triệu m3, 10 – 15 triệu m3 cho chăn nuôi, 6 – 8 triệu m3 chosinh hoạt, 15 triệu m3 cho công nghiệp Tổng số nước cần sẽ tới 90 – 100 triệu
Trang 29m3 cho đến năm 2010 chiếm 30% nguồn nước sản sinh trên lãnh thổ ViệtNam.
Cho đến nay, nông nghiệp vẫn tiếp tục là ngành tiêu dùng nước nhiềunhất, trong khi sử dụng nước trong sinh hoạt và công nghiệp cũng đang ngàycàng tăng cùng với sự gia tăng của dân số và phát triển kinh tế Năm 2001,tiêu dùng nước của ngành nông nghiệp lớn gấp ba lần tổng lượng tiêu dùng
trong các ngành khác (Bộ TN&MT,WB và DANIDA, 2003) Tổng nhu cầu
nước tưới trong nông nghiệp năm 2000 là 76,6 tỷ m3, chiếm 84% của tổngnhu cầu Từ năm 1998, tổng diện tích được tưới tăng trung bình mỗi năm3,4%, nhưng các hệ thống thủy lợi chỉ đáp ứng được khoảng 7,4 triệu ha (haytương đương với 80% tổng diện tích đất trồng trọt) Chính phủ dự báo đếnnăm 2010 nhu cầu cần tưới sẽ tăng lên đến 88,8 tỷ m3 (ứng với diện tích được
tưới là 12 triệu ha) (Cục Bảo vệ Môi trường – Bộ TN&MT, 2007) Gần 84%
lượng nước khaithác từ nguồn nước dưới đất được sử dụng cho các mục đíchnông nghiệp.Tuy nhiên, vẫn đảm bảo dòng chảy môi trường thấp nhất của cácsông ngòi(30% dòng chảy thấp nhất)
Bảng 1.5 Nhu cầu sử dụng nước cho sản xuất nông nghiệp qua các năm
cho nông nghiệp (tỷ m 3 )
1.3.2.2 Công tác quản lý nguồn nước trong nông nghiệp ở Việt Nam:
Ở Việt Nam, thời kỳ 100 năm thực dân Pháp đô hộ, nước ta chỉ xâydựng được 12 hệ thống công trình thuỷ lợi lớn với mục đích chính là phục vụ
Trang 30tưới cho các đồn điền của tư bản Pháp, đồng thời cũng tạo ra những tuyến giaothông thuỷ để phục vụ cho mục đích quân sự và kinh tế của chúng, đó là: Hệthống công trình thuỷ lợi Thác Huống (Thái Nguyên) được xây dựng sau khởinghĩa Yên Thế Một số hệ thống tưới, tiêu khác: Đập Liễn Sơn (sông Phó Đáy– Vĩnh Phúc), đập Cầu Sơn (Bắc Giang), cống Liên Mạc (Hà Nội) thuộc hệthống sông Nhuệ (Hà Đông- Hà Tây), trạm bơm Phù Sa (Sơn Tây), hệ thốngtưới tiêu Bắc Thái Bình, hệ thống tưới tiêu Nam Thái Bình, hệ thống An KimHải (Hải Phòng), đập Bái Thượng (Sông Chu – Thanh Hoá), đập Đô Lương(sông Cả - Nghệ An), hệ thống Đồng Cam (Sông Ba – Phú Yên), hệ thống tướiNha Trinh (Ninh Thuận), công trình tiêu nước phòng lũ Đập Đáy (Hà Tây),…
Từ ngày hoà bình lặp lại ở miền Bắc (1954) và sau ngày đất nước hoàntoàn giải phóng (1975) cho đến nay cả nước có 75 hệ thống thuỷ lợi lớn, gần
800 hồ chứa các loại vừa, lớn và hơn 3.500 hồ chứa có dung tích trên 1triệu
m3 nước với chiều cao đập trên 10m để phục vụ tưới phòng lũ, phát điện, điềutiết dòng chảy, thay đổi cảnh quan môi trường Ví dụ như hồ chứa Đại Lải(Vĩnh Phúc), hồ Suối Hai, hồ Đồng Mô - Ngải Sơn (Hà Tây), hồ Núi Cốc(Thái Nguyên), hồ Kẻ Gỗ (Hà Tĩnh), hồ Phú Ninh (Quảng Ninh), hồ DầuTiếng (Tây Ninh), hồ Sông Quao (Bình Thuận),… Các hồ chứa Trị An, Thác
Bà, Hoà Bình là những hồ chứa phát điện vào loại lớn ở Đông Nam Á
Hơn 2.000 trạm bơm tưới, tiêu lớn như Trịnh Xá, Bạch Hác, Hồng Vân,Đan Hoài, La Khê, Vân Đình - Ngoại Độ, Cổ Đam, Hữu Bi, Như Trác, CốcThành… và hàng chục nghìn trạm bơm vừa và nhỏ với tổng công suất lên tới24,6 triệu m3/h
Hơn 5.000 cống lấy nước, công tiêu tự chảy, đập dâng hình thành các
hệ thống thuỷ lợi lớn như hệ thống Bắc Hưng Hải, Thạch Nham, Nam ThạchHãn, Nha Trinh – Lâm Cấm, Quản Lộ - Phụng Hiệp, Nam Măng Thít, ĐồngTháp Mười, Tứ giác Long Xuyên, kênh thoát lũ miền Tây… Đến nay cáccông trình thuỷ lợi đã tưới trực tiếp được 3,5 triệu ha, tạo nguồn cấp nước cho1,13 triệu ha, tiêu cho 1,4 triệu ha một cách hoàn toàn chủ động, ngăn mặn
Trang 310,87 triệu ha và cải tạo chua phèn cho 1,6 triệu ha, cung cấp 5 tỷ m3 nước mỗinăm cho sinh hoạt và công nghiệp, tổng công suất của các nhà máy thuỷ điện
lớn và vừa được xây dựng lên tới gần 5000MW (Phạm Ngọc Hải cùng cộng
sự, 2006) Tổng tài sản cố định phần Nhà nước đầu tư khoảng trên 60.000 tỷ
đồng (giá năm 1998) chưa kể tài sản cố định cho đê điều, công trình thủyđiện… Lượng nước cung cấp hàng năm cho nông nghiệp rất lớn và tăng lênhàng năm: 1985 sử dụng 40,65 tỷ m3 chiếm 89,8% tổng lượng nước tiêu thụ,
1990 là 51 tỷ m3 chiếm 91% tổng lượng nước tiêu thụ, năm 2000 là 76,6 tỷ
m3, chiếm 84% tổng nhu cầu về nước Từ năm 1998, diện tích được tưới tăngtrung bình mỗi năm khoảng 3,4%, nhưng các hệ thống tưới chỉ có thể đáp ứngcho 7,4 triệu ha (hay 80% tổng diện tích đất trồng trọt)
Tưới tiết kiệm nước và sử dụng nước tiết kiệm là những biện pháp cấpnước theo yêu cầu và khả năng hấp thụ nước theo từng thời đoạn sinh trưởngcủa cây trồng, hạn chế lượng nước dư thừa nhưng không ảnh hưởng đến năngsuất, chất lượng cây trồng Vụ 3 năm 2005, Chi cục bảo vệ thực vật tỉnh AnGiang đã thử nghiệm xây dựng mô hình tưới tiết kiệm nước cho lúa trên diệntích 17,3 ha của 19 hộ nông dân tại phường Mỹ Thới, thành phố Long Xuyên,tỉnh An Giang (trong đó: 8,3 ha của 9 hộ nông dân sử dụng biện pháp tưới tiếtkiệm nước; 9 ha của 10 hộ nông dân còn lại sử dụng biện pháp tưới truyềnthống để đối chứng) Bằng việc đặt ống theo dõi mực nước trong ruộng và ápdụng biện pháp tưới ướt khô xen kẽ của Viện Nghiên cứu Lúa quốc tế (IRRI),nông dân làm thí nghiệm đã giảm bình quân 4 lần bơm nước vào ruộng trong
1 vụ lúa, so với 8 lần bơm nước theo tập quán nông dân, tiết kiệm nước tưới,
ít sâu bệnh, giảm được 7,9% số diện tích bị đổ ngã, tỷ lệ chắc chiếm 78,2%,cho năng suất 5,8 tấn/ha, tăng 0,5 tấn/ha so với ruộng đối chứng Giá thànhsản xuất của ruộng "tưới tiết kiệm" chỉ 1.142 đồng/kg lúa, trong khi ruộng đốichứng tới 1.382 đồng/kg, mức chênh lệch 240 đồng/kg Như vậy, áp dụngbiện pháp tưới cổ truyền đã làm cho lượng nước tưới lãng phí rất lớn
Trang 32Theo số liệu thống kê đến năm 2006, các hệ thống công trình thuỷ lợiđảm bảo tưới cho 7,61 triệu ha lúa, nếu với mức tưới bình quân 4.500
m3/ha/vụ, chỉ cần tiết kiệm được 10% lượng nước tưới thì sẽ tiết kiệm khoảng
3 tỷ m3 nước Trong khi đó, để xây dựng hồ chứa Nước Trong thuộc tỉnhQuảng Ngãi chỉ có dung tích 258 triệu m3 đã phải tốn gần 1.642 tỷ đồng Nhưvậy, nếu chúng ta tiết kiệm được nước tưới sẽ tiết kiệm được chi phí đầu tư,
xây dựng công trình thuỷ lợi và chi phí xã hội rất lớn (Đỗ Hồng Quân, 2006).
Việt Nam bắt đầu áp dụng phương pháp quản lý thủy lợi có sự tham gia
từ đầu những năm 1990 sau khi Chính phủ chính thức quyết định chuyển giaoquyền sử dụng đất nông nghiệp cho các hộ gia đình thông qua chính sách
“Khoán 10” Quản lý thủy lợi có sự tham gia (PIM) là một phương pháp hiệuquả cho quản lý tài nguyên nước có sự tham của người dân, bởi vì các cộngđồng hưởng lợi sẽ cùng tham gia với tư cách là người sử dụng nước, ngườiquản lý và bảo vệ nguồn nước, nhất là đối với các hệ thống tưới tiêu quy mônhỏ Về mặt thể chế tổ chức, các đánh giá gần đây đã xác định có 3 mô hìnhquản lý thủy lợi có sự tham gia của cộng đồng, bao gồm:
1) Mô hình tổ chức nông dân và nhà nước cùng quản lý: Các công tythủy lợi có trách nhiệm cấp nước từ trạm đầu mối đến các kênh cấp 3 vàchuyển giao cho các hợp tác xã sử dụng nước Những hợp tác xã này có tráchnhiệm quản lý, bảo vệ và dẫn nước vào hệ thống kênh nội đồng do họ kiểmsoát Mỗi hộ gia đình có ruộng được tưới sẽ phải trả phí thuỷ lợi dưới sự giámsát của các hợp tác xã
2) Mô hình chia sẻ quản lý giữa tổ chức nông dân và một tổ chức cóliên quan đến nhà nước: Mặc dù hợp tác xã chịu trách nhiệm quản lý chungtất cả các công trình tưới tiêu nhưng các hộ gia đình sử dụng nước cũng đượcgiao thực hiện các nhiệm vụ quản lý cụ thể Họ được yêu cầu trông coi và bảo
vệ các công trình tưới tiêu nội đồng, dẫn nước ra vào theo lịch tưới mùa vụcủa địa phương Cách làm này đảm bảo các công trình tưới tiêu nội đồngđược duy tu, sửa chữa kịp thời, tránh lãng phí nước
Trang 333) Mô hình tổ chức cộng đồng tự quản lý: Người dân tham gia các cuộchọp để bầu ra một Ban quản lý cho hội những người sử dụng nước và cùngthống nhất về quy định cho hội Bà con cũng chọn ra những người vận hànhcông trình có trách nhiệm dẫn nước vào ruộng, sữa chữa nhỏ cho hệ thốngthuỷ lợi, và bảo vệ các công trình thuỷ lợi Ban quản lý hội và những ngườivận hành thường gặp nhau hàng tháng để xem xét lại tiến độ tưới tiêu và lập
kế hoạch hoạt động cho tháng tiếp theo Họ đều đã được đào tạo về quản lýthuỷ lợi và tài chính Như vậy, các hộ nông dân được giải phóng khỏi việc lấynước vào ruộng vì đã có nhóm vận hành thủy nông đảm nhận Do vậy, bà con
có nhiều thời gian hơn để làm các việc khác tăng thêm thu nhập và cải thiện
đời sống (Nguyễn Việt Dũng và Nguyễn Danh Tĩnh, 2006)
Trong thực tế, do tập quán canh tác, sự hiểu biết còn hạn chế về kỹthuật nông nghiệp, kỹ thuật tưới, tiêu theo yêu cầu của cây trồng trong từngthời đoạn sinh trưởng đã dẫn đến việc sử dụng nước rất lãng phí
Các hiện tượng chính gây lãng phí, thất thoát nước tưới phục vụ sảnxuất nông nghiệp, bao gồm:
- Tổn thất trong quá trình dẫn nước từ công trình đầu mối đến mặtruộng, do ngấm, kênh bị bồi lắng, sạt lở cản trở dòng chảy, thiếu các côngtrình điều tiết nước cho từng khu tưới
- Tưới ngập thường xuyên: Đây là biện pháp tưới truyền thống, phùhợp tưới cho lúa Tuy nhiên, theo kết quả nhiều công trình nghiên cứu, việctưới nước cho cây lúa theo quy trình “nông, lộ, phơi” sẽ mang lại hiệu quảkinh tế nhất, tức là có những thời kỳ chúng ta hạn chế cấp nước mà phải để lộruộng và phơi ruộng theo yêu cầu sinh trưởng của cây trồng Việc tưới ngậpthường xuyên suốt vụ theo tập quán của nông dân đã gây ra lãng phí nước rấtlớn, chưa kể tình trạng lượng nước dư thừa từ ruộng chảy xuống kênh tiêu
- Chưa có biện pháp tích cực hạn chế bốc hơi mặt thoáng: Đây là hiệntượng tự nhiên cũng gây tổn thất nước rất lớn Trước đây, người nông dân cóphong trào dùng bèo phủ lên mặt thoáng của ruộng, xung quanh gốc cây
Trang 34trồng, vừa hạn chế bốc thoát hơi nước và làm phân xanh, tăng cường độ đạmtrong đất Hiện nay, phong trào đó không còn, một vài địa phương, người dândùng ni lông để che phủ cho một số loại cây trồng, nhưng chi phí tốn kém.
-Tưới tràn, vượt quá khu vực cây trồng có khả năng sử dụng được nướctưới: Điều này xảy ra đối với việc cấp nước cho cây công nghiệp, cây ăn quả,khi chúng ta tưới nước để chảy tràn trên mặt đất
- Tưới quá nhiều làm nước thấm quá sâu so với chiều sâu bộ rễ câytrồng: Cây trồng chỉ có khả năng hấp thụ nước trong phạm vi của rễ cây, nếuchúng ta tưới nhiều, nước sẽ ngấm sâu hơn so với chiều sâu của bộ rễ, gâylãng phí
Để xảy ra hiện tượng lãng phí, thất thoát nước, ngoài nguyên nhân vềcông trình, trang thiết bị chưa được đầu tư xây dựng, nâng cấp sửa chữa, còn
do những hạn chế trong công tác quản lý Cụ thể:
- Công trình chưa có chủ thực sự: Theo Pháp lệnh khai thác
&BVCTTL, các công trình thuỷ lợi do các doanh nghiệp khai thác công trìnhthuỷ lợi và các hợp tác xã dùng nước quản lý, nhưng hầu hết các địa phươngđều chưa phân cấp rõ đâu là công trình do doanh nghiệp quản lý, công trình
do hợp tác xã dùng nước quản lý Tình trạng vi phạm phạm vi bảo vệ côngtrình diễn ra ngày một nghiêm trọng, ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả cấpnước của công trình Kể cả công trình đã được phân cấp nhưng quyền hạn vàtrách nhiệm chưa rõ ràng:
+ Đối với công trình do doanh nghiệp quản lý: Do không có hoặc thiếukinh phí quản lý, nâng cấp, sửa chữa nên doanh nghiệp quản lý theo kiểu cóđến đâu sửa đến đó, công trình còn đến đâu phục vụ đến đó, chỉ tập trung chủyếu vào sửa chữa máy móc thiết bị, còn phần công trình, kênh mương gầnnhư bỏ ngỏ Chủ của các công trình này là Nhà nước và giao cho Giám đốcdoanh nghiệp quản lý, nhưng do cơ chế, chính sách trong quản lý khai thácchưa đồng bộ, thiếu kính phí nên công trình xuống cấp, hư hỏng cũng không
ai chịu trách nhiệm
Trang 35+ Đối với công trình do hợp tác xã dùng nước quản lý (hiện nay chủyếu là hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp quản lý): Chủ nhiệm hợp tác xã do xãviên bầu, chế độ tiền lương thấp, nên hầu hết làm việc theo kiểu “được chănghay chớ”, còn bầu thì làm, không thì nghỉ, các chế tài quản lý chưa đầy đủ,nên trách nhiệm rất hạn chế Trình độ chuyên môn của cán bộ thuỷ nông hầunhư không có, chủ yếu là dựa vào kinh nghiệm và lòng nhiệt tình Chủ củacác công trình này là tập thể xã viên hợp tác xã nên không có ai chịu tráchnhiệm một cách cụ thể, công trình còn hoạt động được thì hợp tác xã quản lývận hành, khi công trình hư hỏng thì bàn giao trả Nhà nước.
- Các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lý khai tháccông trình thuỷ lợi còn thiếu và chưa đồng bộ như các văn bản về hướng dẫn
về tổ chức quản lý, chế độ tài chính, phân cấp công trình Bên cạnh đó, nhiềuđịa phương chưa triển khai thực thi đầy đủ các văn bản đã có
- Ý thức sử dụng nước của người nông dân chưa cao: Kiến thức sửdụng nước của hầu hết người dân còn nhiều hạn chế, họ không được trang bịkiến thức về yêu cầu nước tưới theo từng thời kỳ sinh trưởng của cây trồng dẫn đến tình trạng lấy nước quá nhiều, dư thừa
- Trách nhiệm giữa đơn vị cung cấp nước và người hưởng lợi được thựchiện thông qua hợp đồng kinh tế nhưng chưa rõ ràng và chưa nghiêm túc.Theo Pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi, đơn vị cung cấp nước
và đơn vị sử dụng nước có trách nhiệm ký kết hợp đồng kinh tế ngay từ đầu
vụ làm cơ sở để thực hiện và thanh quyết toán vào cuối vụ sản xuất Nhưngthực tế nhiều địa phương xảy ra tình trạng đơn vị sử dụng nước ký hợp đồngthấp hơn so với diện tích thực phục vụ và chây ỳ trong việc thanh toán thuỷlợi phí (từ năm 1999 đến năm 2003 cả nước nợ đọng thuỷ lợi phí 332,450 tỷđồng) Đây là hiện tượng vi phạm hợp đồng kinh tế nhưng Nhà nước cũngchưa có chế tài cụ thể Dẫn đến tình trạng các đơn vị cung cấp nước không cókinh phí tu bổ công trình đảm bảo dẫn nước
Trang 36Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu:
Nguồn nước tưới phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, tập trung vào sảnxuất lúa
2.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi không gian: Đề tài được thực hiện tại xã Kim Sơn và xã LệChi – huyện Gia Lâm – Hà Nội
- Phạm vi thời gian: 1/2016 – 5/2016
- Phạm vi về nội dung: Đánh giá hiện trạng quản lý và sử dụng nguồn
nước tưới phục vụ sản xuất nông nghiệp (tập trung vào sản xuất lúa)
2.3 Nội dung nghiên cứu:
- Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và nhu cầu sử dụng nướccho sản xuất nông nghiệp
- Đánh giá hiện trạng nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp tại khuvực nghiên cứu
- Đánh giá hiện trạng hệ thống thủy lợi, hệ thống tổ chức quản lý, tìnhhình quản lý, hiện trạng sử dụng và những tồn tại trong công tác quản lý và sửdụng nguồn nước tưới phục vụ sản xuất nông nghiệp tại khu vực nghiên cứu
- Đưa ra một số khuyến cáo và giải pháp trong việc sử dụng các nguồnnước trên cho sản xuất nông nghiệp
2.4 Phương pháp nghiên cứu:
2.4.1 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp:
Số liệu thứ cấp sử dụng cho nghiên cứu được thu thập thông qua nghiêncứu các tài liệu có sẵn từ các báo cáo tình hình sản xuất nông nghiệp và ảnhhưởng của suy giảm nguồn nước đến sản xuất và cuộc sống của cộng đồngdân cư Các báo cáo của các ngành, cơ quan quản lý các cấp, các nghiên cứutrước liên quan, các tạp chí chuyên ngành, tài liệu đã xuất bản
Trang 372.4.2 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp:
2.4.2.1 Phương pháp điều tra, phỏng vấn:
Sử dụng bảng hỏi để thu thập thông tin sơ cấp về tình hình sử dụngnước cho sản xuất nông nghiệp, tập quán sản xuất và thông tin phản hồi củangười dân về chất lượng nước Địa điểm phỏng vấn được chọn ở khu vực códiện tích đất lúa nhiều nhất Trong nghiên cứu này tôi tiến hành điều traphỏng vấn 60 hộ nông dân thuộc 9 thôn của 2 xã Kim Sơn và Lệ Chi (Bảng2.1)
Bảng 2.1 Số phiếu điều tra từng thôn 2 xã Kim Sơn và Lệ Chi
2.4.2.2 Phương pháp khảo sát thực địa:
Khảo sát thực tế tại các thôn nằm trong khu vực nghiên cứu có điềukiện phát triển mạnh về sản xuất lúa, vùng sản xuất lúa chất lượng cao
2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu và đánh giá:
Số liệu sau khi được thu thập sẽ được kiểm tra, làm sạch và xử lý bằngphần mềm Excel theo yêu cầu nghiên cứu
Trang 38Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu:
3.1.1 Điều kiện tự nhiên:
3.1.1.1 Vị trí địa lý:
Xã Kim Sơn nằm ở phía Đông Bắc huyện Gia Lâm ngoại thành Hà Nội
cách trung tâm Hà Nội 22 km, cách trung tâm huyện 7km
- Phía Bắc và phía Tây Bắc giáp sông Đuống Bên kia sông Đuống là
xã Phù Đổng, xã Kim Sơn
- Phía Nam và Tây Nam giáp xã Dương Quang
- Phía Đông và Đông Nam giáp huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh
- Phía Tây giáp xã Phú Thị
Xã Lệ Chi thuộc tiểu vùng Nam Đuống cách trung tâm huyện Gia Lâm
khoảng 8 km về phía đông, cách trung tâm hà nội khoảng 23km ranh giớihành chính xã được xác định như sau:
- Phía Bắc giáp huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh
- Phía Đông Bắc giáp xã Đình Tổ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh
- Phía Đông giáp xã Trí Quả huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh
- Phía Nam giáp xã Kim Sơn huyện Gia Lâm, TP Hà Nội
- Phía Tây giáp xã Trung Mầu, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội
3.1.1.2 Diện tích, địa hình, địa mạo:
Xã Kim Sơn có tổng diện tích đất tự nhiên 628,98ha, là một xã đồng
bằng, địa hình bằng phẳng Nhìn chung địa hình của xã tương đối đồng nhấtđặc trưng của vùng đồng bằng Bắc Bộ, diện tích đất nông nghiệp chiếm tỉ lệlớn so với diện tích tự nhiên
Xã Lệ Chi có tổng diện tích đất tự nhiên 810.11 ha, địa hình Lệ Chi khá
bằng phẳng thuận lợi cho việc phát triển các ngành kinh tế nông nghiệp vàxây dựng cơ sở hạ tầng nông nghiệp, công nghiệp Diện tích đất nông nghiệpchiếm tỉ lệ lớn 440.93 ha
Trang 39Đất đai 2 xã Kim Sơn và Lệ Chi màu mỡ có địa hình bằng phẳng vàđược chia làm 2 phần rõ rệt bởi trục đê sông Đuống thành đất trong đê và đấtngoài đê:
Đất trong đê sau nhiều năm đầu tư công trình thủy lợi và giao thông nộiđồng đã tạo thành những lô thửa ruộng rộng thích hợp cho khâu làm đất vàthu hoạch sản phẩm bằng cơ giới Đất rất thích hợp cho trồng lúa và trồng hoamàu
Đất ngoài đê được bồi đắp hàng năm, là loại đất thích hợp cho việctrong cây công nghiệp ngắn ngày và hoa màu, cây ăn quả khác
3.1.1.3 Đặc điểm khí hậu, thủy văn:
Xã Kim Sơn và Lệ Chi có khí hậu vùng đồng bằng Bắc Bộ, chịu ảnhhưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm có 4 mùa rõ rệt Mùa đôngkhô lạnh có gió mùa Đông Bắc, mùa hè nóng ẩm mưa nhiều
Nhiệt độ không khí trung bình năm 23,5oC, mùa nóng nhiệt độ trungbình tháng đạt 27,4oC
Số giờ nắng trung bình năm khoảng 1.500 giờ, thấp nhất 1.150 giờ, caonhất 1.970 giờ Mùa hạ có số giờ nắng cao nhất và cường độ nắng cũng caohơn các mùa khác Bình quân số giờ nắng/ngày trong năm khoảng 4,5 giờ, tối
đa 6,5 giờ (mùa hạ), thấp nhất 1,6 giờ/ngày (mùa Đông) Tổng lượng bức xạcao, trung bình khoảng 4.272 Kcal/m2/tháng Từ tháng 5 đến tháng 10 mặt đất
có thể thu nhận hàng tháng 4.696-5.788 Kcal/m2 Từ tháng 11 đến tháng 4lượng bức xạ tháng không dưới 2.877 Kcal/m2
Hướng gió thịnh hành là gió mùa Đông Nam và gió mùa Đông Bắc.Gió mùa Đông Nam bắt đầu vào tháng 5, kết thúc vào tháng 10 mang theonhiều hơi nước từ biển vào gây nên những trận mưa rào, đôi khi bị ảnh hưởngcủa gió bão, áp thấp nhiệt đới kèm theo mưa lớn gây thiệt hại cho sản xuất vàđời sống Gió mùa Đông Bắc từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, thường gây ralạnh và khô ở những tháng đầu mùa, lạnh và ẩm ướt vào tháng 2, tháng 3 do
Trang 40có mưa phùn Đôi khi có sương mù, rét đậm trong các tháng 12 và tháng 1gây ra những thiệt hại cho sản xuất.
Lượng mưa trung bình năm 1676 mm Mưa tập trung vào mùa nóng ẩm
từ tháng 5 đến tháng 9, mưa nhiều nhất vào tháng 7 và tháng 8
Cây trồng vụ đông thường thiếu nước vì lượng mưa trong thời kỳ nàychỉ chiếm 10% tổng lượng mưa trong cả năm Do vậy việc cấp nước tưới chocây trồng có ý nghĩa quyết định đến năng suất nhất là đối với lúa xuân
Nhìn chung, điều kiện khí hậu có ảnh hưởng tới sự sinh trưởng và pháttriển của cây trồng trên địa bàn và ảnh hưởng mạnh mẽ tới cơ cấu mùa vụ,năng suất cây trồng vật nuôi trong huyện
Các đặc điểm khí hậu, thời tiết cho phép huyện Gia Lâm phát triển mộtnền nông nghiệp đa dạng: nông sản nhiệt đới, cận nhiệt đới có thể sản xuấtvào mùa hạ, nông sản á nhiệt đới có thể sản xuất vào mùa xuân, mùa thu,nông sản ôn đới có thể sản xuất vào mùa đông, mùa xuân song cũng gây ranhững thiệt hại đáng kể cho sản xuất và đời sống khi thời tiết bất thuận
+ Đất trồng lúa: 261,86ha chiếm 41,58% diện tích đất tự nhiên
+ Đất trồng cây hàng năm khác: 96,95ha chiếm 15,38% diện tích đất tựnhiên
- Đất nuôi trồng thủy sản: 11,06ha chiếm 1,75% diện tích đất tự nhiên
Nhóm đất phi nông nghiệp: 260,11ha chiếm 41,28% diện tích đất tự