Các loại cây ngắn ngày như mía, lạc,đậu nành, bông, rau củ..chiếm 6%, còn lại là cà phê, tiêu, điều..chiếm 20%.Trong sản xuất nông nghiệp nói chung, việc sử dụng phân vô cơ nói chungphân
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA MÔI TRƯỜNG
-KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
-TRÊN CÂY CẢI NGỒNG TẠI XÃ NGA THÁI,
HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA VỤ XUÂN 2016
Sinh viên thực hiện : TRẦN THỊ LAN
Chuyên ngành : KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Giáo viên hướng dẫn : GS.TS TRẦN ĐỨC VIÊN
HÀ NỘI – 2016
Trang 2HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA MÔI TRƯỜNG
-KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
-TRÊN CÂY CẢI NGỒNG TẠI XÃ NGA THÁI,
HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA VỤ XUÂN 2016
Sinh viên thực hiện : TRẦN THỊ LAN
Chuyên ngành : KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Giáo viên hướng dẫn : GS.TS TRẦN ĐỨC VIÊN
Địa điểm thực tập : Xã Nga Thái, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa
HÀ NỘI - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận
huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa vụ xuân 2016” là trung thực và chưa được
sử dụng trong bất kì tài liệu, khóa luận nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận đãđược cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong khóa luận đều được chỉ rõnguồn gốc
Hà Nội, ngày….tháng ……năm 2016
Sinh viên thực hiện
Trần Thị Lan
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực tập tốt nghiệp, ngoài sự nỗ lực, phấn đấu củabản thân, em đã nhận được sự giúp đỡ, động viên nhiệt tình của gia đình,bạn bè và sự chỉ bảo tận tình của các thầy các cô
Trang 4Với sự biết ơn chân thành nhất của mình, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắctới GS.TS Trần Đức Viên và TS Nguyễn Đình Thi đã luôn tận tình, hướngdẫn, chỉ bảo và giúp đỡ cho em trong quá trình thực hiện khóa luận này.
Bên cạnh đó, em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy côgiáo, cán bộ trong bộ môn Sinh Thái nói riêng và các thầy cô trong khoaMôi trường nói chung đã luôn giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất giúp emhoàn thành đề tài tốt nghiệp của mình
Em xin chân thành cảm ơn các cán bộ UBND xã Nga Thái cùngtoàn thể nhân dân trong xã Nga Thái đã giúp đỡ cho em thực hiện khóaluận
Em xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn bên cạnh, động viên vàgiúp đỡ em trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu trên giảng đường đạihọc và thời gian nghiên cứu vừa qua
Mặc dù đã rất cố gắng nhưng bài khóa luận vẫn không thể tránhkhỏi những thiếu sót, em rất mong được sự góp ý, chỉ bảo của các thầy côcùng các bạn sinh viên để khóa luận được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Sinh viên
Trần Thị Lan
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Tình hình sản xuất rau trên thế giới từ 2001 – 2009
Bảng 1.2: Tình hình sản xuất một số loại rau ở Việt Nam 2010 – 2012
Bảng 1.3: Diện tích gieo trồng rau năm 2011-2012 các tỉnh
Bảng 2.1: Công thức thí nghiệm và lượng phân bón tại mỗi công thức
Bảng 3.1: Tình hình phân bổ và sử dụng đất đai của xã Nga Thái (2013 – 2015)
Bảng 3.2: Tình hình dân số và lao động của xã Nga Thái giai đoạn (2013 – 2015)
Bảng 3.3: Tình hình sản xuất kinh doanh của xã Nga Thái
Đơn vị: tỉ đồng
Bảng 3.4: Đặc điểm của chủ hộ điều tra (n=30)
Bảng 3.5: Diện tích, năng suất các loại cây trồng chính của các hộ điều tra (n=30)
Trang 6Bảng 3.6: Chi phí sản xuất nông nghiệp của các hộ điều tra (n =
30)
Bảng 3.7: Diện tích, năng suất các loại rau chính của các hộ điều tra (n=30)
Bảng 3.8: Động thái tăng trưởng số lá của rau cải ngồng ở các mức phân bón khác nhau
Bảng 3.9: Động thái tăng trưởng chiều cao của rau cải ngồng ở các mức phân bón khác nhau
Bảng 3.10: Động thái tăng trưởng đường kính tán lá của rau cải ngồng ở các mức phân bón khác nhau
Bảng 3.11: Năng suất thực thu của rau cải ngồng
Bảng 3.12: Ảnh hưởng của các mức phân bón tới hàm lượng nitrat trong rau cải ngồng sau khi thu hoạch xã Nga Thái
Bảng 3.13: Ảnh hưởng của phân bón tới đặc tính lý hóa cả đất trước và sau khi bón phân hữu cơ
DANH MỤC HÌNH Hình 1.1: Quy trình xử lý phế thải đồng ruộng thành phân bón hữu cơ - ĐTB2004 - 32- 6632- 66 , HVNN
Hình 2.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm trên đồng ruộng
Hình 2.2: Sơ đồ chỉ tiêu sinh trưởng cây cải ngồng
Hình 2.3: Sơ đồ lấy mẫu đất lần 1
Hình 3.1: Sơ đồ Nga Sơn – Thanh Hóa
Hình 3.2: Đồ thị theo dõi sự thay đổi của đống ủ trong 35 ngày (oC)
Trang 7Hình 3.3: Động thái tăng trưởng số lá cải ngồng Hình 3.4: Động thái tăng trưởng chiều cao của cải ngồng Hình 3.5: Động thái tăng trưởng đường kính tán lá của cải ngồng
DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC
phẩm nông nghiệp
Trang 8Phụ lục 9 Hướng dẫn chương trình lấy mẫu đất
Trang 10MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp vốn là ngành thế mạnh của Việt Nam, đặc biệt là ngànhsản xuất lúa nước Với những điều kiện tự nhiên thuận lợi như: 9 triệu ha đấtnông nghiệp, trong đó có hai vùng đồng bằng phì nhiêu là vùng đồng bằngsông Cửu Long, đồng bằng sông Hồng, là những vùng trồng lúa được xếp vàoloại tốt nhất của thế giới; với mạng lưới sông ngòi dày đặc, cộng với hàngchục triệu nông dân vừa cần cù, vừa thông minh, lại có học vấn khá và năngđộng, tạo nên hai nguồn lực “trời cho” hiếm có so với nhiều nước trên thếgiới (Báo Nông nghiệp Việt Nam, 2015) tạo điều kiện thuận lợi cho việc sảnxuất lúa nước đưa Việt Nam là nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai sau TháiLan Nhờ sự phát triển của khoa học - công nghệ, hàng năm lúa gạo của cảnước ngày càng tăng về cả chất lượng và trữ lượng Theo Tổng cục thống kê
2014, sản lượng lúa gạo của cả năm 2014 ước tính đạt 45 triệu rấn, tăng 955,2nghìn tấn so với năm 2013 Do đó, lượng rơm rạ được thải bỏ sau mỗi vụ thuhoạch là tương đối lớn, đốt rơm rạ trên đồng ruộng là một sự lãng phí tàinguyên lớn, bỏ đi nguồn dinh dưỡng lớn có trong đất, làm cho đất bị biến chất
và trở nên chai cứng, khô cằn Mặt khác việc đốt rơm rạ còn gây ô nhiễm môitrường và làm ảnh hưởng tới sức khỏe của con người, tuy nhiên con ngườichưa nhận thức cao về việc làm của mình Nhằm nâng cao năng suất lúa vàtăng thu nhập, phân bón đã phần nào đi vào đời sống sản xuất của bà connông dân Theo Niên giám thống kê 2013, loại cây trồng chính cần sử dụngnhiều phân vô cơ nhất tại Việt Nam là cây lúa, ước tính chiếm 65% nhu cầuphân vô cơ, tiếp theo là ngô chiếm 9% Các loại cây ngắn ngày như mía, lạc,đậu nành, bông, rau củ chiếm 6%, còn lại là cà phê, tiêu, điều chiếm 20%.Trong sản xuất nông nghiệp nói chung, việc sử dụng phân vô cơ nói chung(phân đạm nói riêng) quá mức không những làm chai hóa đất, làm cho hệ sinh
Trang 11vật trong đất bị chết, đất trở lên chua hóa, làm giảm độ phì nhiêu của đất , sửdụng quá mức hoặc không cân đối NPK hoặc sử dụng không đúng thời điểmtrong canh tác rau sẽ dẫn đến hiện tượng tích lũy một lượng lớn hàm lượng
tới sức khỏe con người và gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Chính vì
các lý do trên tôi đã tiến hành đề tài: “Nghiên cứu giảm thiểu hàm lượng
NO 3 - trên cây cải ngồng tại xã Nga Thái, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa
- Xác định quy trình kĩ thuật trong canh tác rau bằng việc sử dụng phân
-trong cây rau cải ngồng
xã Nga Thái, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa
Yêu cầu nghiên cứu
- Đánh giá đặc điểm thuận lợi và khó khăn về điều kiện tự nhiên, kinh
tế, xã hội tại xã Nga Thái, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa
- Tìm hiểu tình hình nông nghiệp và sản xuất rau tại xã Nga Thái,
huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa
- Đưa ra được quy trình xử lý phụ phẩm nông nghiệp bằng chế phẩmFito-Biomix-RR
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Thực trạng sử dụng, quản lý và xử lý phụ phẩm nông nghiệp
1.1.1 Khái niệm phụ phẩm nông nghiệp trên đồng ruộng
Phế phụ phẩm nông nghiệp trồng trọt trên đồng ruộng gồm các vật chấtloại bỏ từ hoạt động trồng trọt của sản xuất nông nghiệp chủ yếu là tàn dưthực vật hay vật chất sau thu hoạch (Nguyễn Xuân Thành và cộng sự, 2011)
Phế phụ phẩm nông nghiệp là những chất hữu cơ, có thể còn non, xanh;
có thể đã xơ cứng vì silic hóa như trấu hay lignin hóa như gỗ Chúng có thểđược xem như là một dạng tích trữ năng lượng từ mặt trời nhờ quá trìnhquang hợp và các quá trình sinh học khác trong sản xuất nông nghiệp Lànhững sản phẩm phụ thu được từ cây trồng như rơm rạ, thân ngô, thân lạc,ngọn mía (Cục thông tin KH & CN Quốc gia, 2010)
1.1.2 Thực trạng sử dụng, quản lý và xử lý phụ phẩm nông nghiệp trên thế giới
1.1.2.1 Các phương pháp tận dụng cổ truyền
Theo các dữ liệu thu thập được, rơm rạ theo truyền thống chủ yếu được
sử dụng để làm chất đốt, làm vật liệu xây dựng, nuôi gia súc, làm chất độnchuồng và trồng nấm Dựa theo thông tin của Cục Thông Tin KH&CN Quốcgia, 2010 ta có:
a Lợp nhà
Ở nông thôn, trước đây người nông dân hay sử dụng rơm rạ để làm tấmlợp mái nhà nhẹ và không thấm nước
b Làm mũ, dép, xăng đan, bện dây thừng
Người ta có thể tạo ra nhiều kiểu mũ được bện từ rơm rạ Tại Anh, vàitrăm năm trước đây, các mũ được bện từ rơm rạ đã rất phổ biến Người Nhật,Triều Tiên có truyền thống sử dụng rơm rạ làm dép, xăng đan Tại một số nơithuộc Đức như vùng BlacFoest và Hunsruck, người ta thường đi dép rơmtrong nhà hoặc tại các lễ hội
c Làm đệm giường nằm
Trang 13Tại nhiều nước trên thế giới, rơm rạ cho đến nay vẫn được sử dụng đểlàm đệm giường nằm cho con người và làm ổ cho vật nuôi Nó thường được
sử dụng để làm ổ cho gia súc như trâu bò (tức là loại động vật nhai lại) và cảngười Nó cũng có thể dùng để làm ổ cho các loại động vật nhỏ, nhưng điềunày thường dẫn đến gây tổn thương cho các con vật ở mắt, mũi, miệng donhững sợi rơm rất sắc dễ cứa
d Làm thức ăn cho động vật
Rơm rạ có thể được sử dụng như một thành phần thức ăn thô nuôi giasúc để đảm bảo một lượng trong thời gian ngắn Việc sử dụng rơm rạ có hàmlượng năng lượng và dinh dưỡng có thể tiêu hóa được Lượng nhiệt được sinh
ra trong ruột các con vật ăn cỏ vì vậy tiêu hóa rơm rạ có thể hữu ích trongviệc duy trì nhiệt độ cơ thể trong thời tiết mùa đông lạnh
e Trồng nấm
Việc trồng các loại nấm ăn được bằng các phụ phẩm nông nghiệp nhưrơm rạ là một quá trình có giá rị gia tăng nhằm chuyển hóa loại nguyên liệunày từ chỗ được coi là phế thải thải thành thức ăn cho con người
Ngoài ra, rơm rạ còn được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, ví
dụ như trong ngành hóa chất rơm rạ được sử dụng làm nguyên liệu thô để sảnxuất các sản phẩm hóa chất
1.1.2.2 Các phương pháp tận dụng công nghiệp
Cục thông tin KH&CN Quốc gia (2010) cho biết: các phụ phẩm nôngnghiệp có thể tận dụng chế biến thành các sản phẩm hữu ích cho con người ví
dụ như:
a Giấy và bột giấy hòa tan
Bột giấy được sử dụng làm giấy và các sản phẩm xenlulo có nhiều ứngdụng công nghiệp Dự án nghiên cứu làm giấy và bột giấy từ rơm rạ của Mỹ
đã sản xuất ra được giấy và bột giấy hòa tan có độ dai cao bất thường nhưnglực chịu xé không tốt Bột giấy được làm từ rơm rạ có hàm lượng anphacellulose và mức polyme hóa tương đương với bột giấy Bột giấy hòa tan
Trang 14thường được làm từ gỗ và có nhiều ứng dụng khác nhau trong công nghiệp,gồm sợi nhân tạo và các dẫn xuất xelulo
b Thức ăn công nghiệp chăn nuôi gia súc
Những thử nghiệm để xác định giá trị của rơm rạ làm thức ăn chăn nuôiđược tiến hành bởi Cục khoa học Động vật của Mỹ Những nghiên cứu nàytập trung vào giá trị của rơm trong hỗn hợp thức ăn cho bò và cừu và liệu giátrị thức ăn có cải thiện được bằng cách xử lý rơm rạ bằng amonia và xúthydroxit natri Các kết quả cho thấy rơm rạ nhất thiết phải được bổ sung vớithúc ăn khác, ngay cả khi sử dụng với tỷ lệ thấp nhất cho gia súc
c Sản xuất nhiên liệu sinh học
Hiện nay nguồn nguyên liệu đang ngày càng cạn kiệt, giá xăng dầutăng cao do đó người ta đã biết tận dụng rơm rạ để sản xuất nhiên liệu sinhhọc để thay thế cho xăng dầu vừa tận dụng nguồn nhiên liệu có sẵn vừa giảmthiểu ô nhiễm môi trường
1.1.3 Thực trạng sử dụng, quản lý và xử lý phụ phẩm nông nghiệp tại Việt Nam
Theo nguồn của Cục thông tin KH&CN Quốc gia (2010) các hình thức
sử dụng, quản lý và xử lý rơm rạ nước ta như sau:
a Xử lý rơm rạ bằng kĩ thuật sinh học
Đây là một phương pháp hữu hiệu nhằm bảo vệ môi trường Đã cónhiều lo ngại của một số địa phương trên cả nước khi mùa gặt về đối với phụphẩm rơm rạ Các nhà khoa học cũng đã chuyển giao các kĩ thuật xử lý rơm rạnhanh trên đồng ruộng bằng xử lý chế phẩm Trichoderma cho ruộng rạ trướckhi phay lồng đất 2 ngày, bổ sung thêm vôi bột, vùi dập rạ, sau 7 - 10 ngàyrơm rạ sẽ mục có thể cấy (xạ) lúc an toàn Bên cạnh đó, việc xử lý chế phẩmTrichoderma lúc lúa vào chắc để tránh lép hạt và giúp cho lá già, gốc rạ phânhủy dần Khi chuẩn bị gặt lá già úa bắt đầu phân hủy, nhờ đó máy gặt vừaxong phun rạ là Trichoderma đã được trộn đều vào chất ủ, dùng cây trà gạcrải đều rơm rạ ra mặt ruộng, tháo nước vừa đủ ẩm thì chỉ trong vòng mươingày rơm rạ đã ải ra, dùng bánh lồng trục lăn hoặc máy băm vặn rạ Sau một
Trang 15vài ngày, bùn lắng, ruộng sẵn sàng để sa lan hoặc sa hàng, rút ngắn thời vụ,tận dụng nguồn phân xanh gây ngộ độc rễ lúa và ô nhiễm không khí Cáchlàm này không những tiết kiệm chi phí, tận dụng nguồn tài nguyên sẵn có làrơm rạ vào mục đích tăng gia sản xuất mà còn giảm được hiện tượng ô nhiễmmôi trường do giảm lượng khói bụi, mùi hôi thối do rơm rạ bị mục nát (ViệnKhoa học và Công nghệ Việt Nam, 2011) Ngoài xử lý rơm rạ bằng chế phẩmTritrodema thì người ta còn sử dụng chế phẩm Fito-Biomix-RR.
b Sản xuất viên năng lượng sinh học pellet
Theo kết quả nghiên cứu, nhiệt trị của phế thải nông nghiệp như rơm,trấu là 3600-3800 kcal, tương đương 0,8 kg than nâu hoặc 4 kWh điện Từ
ấm thay gas hay dầu, sản xuất ra điện năng và nhiệt năng thay thế 1 phầnthan, dầu trong các nhà máy nhiệt điện và sử dụng cho các bếp không khóithay bếp ga mà giảm 50% chi phí (Phạm Thị Kiều, 2015)
c Trồng nấm rơm
Nấm ăn, nấm dược liệu không những có giá trị về mặt dinh dưỡng (rấtgiàu protein – đạm thực vật, chiếm 30- 40% chất khô, glucid, lipid, các axitamin, vitamin, các chất khoáng…), nấm còn có các hoạt chất sinh học(polysaccharide – chất đa đường, axit nucleic…) Vì vậy, có thể coi nấm nhưmột loại rau sạch, thịt sạch, thực phẩm chức năng, thuốc trong y dược Mỗinăm nước ta sản xuất được khoảng trên 25.000 tấn nấm tươi các loại, chủ
yế là nấm rơm, nấm sò, nấm mỡ (Đinh Xuân Linh, 2015)
Trang 161.2 Ứng dụng chế phẩm Fito-Biomix-RR để xử lý phụ phẩm nông nghiệp
1.2.1 Khái niệm chế phẩm vi sinh vật
Chế phẩm sinh học (CPSH) là tập hợp các loài vi sinh vật gồm: Vikhuẩn quang hợp, vi khuẩn Lactic, nấm men, xạ khuẩn, nấm mốc sống cộngsinh trong cùng môi trường, chúng là các chủng vi sinh vật (VSV) có ích nhằmmục đích cải thiện môi trường, sức khỏe con người và cây trồng vật nuôi,không gây hại và tác dụng phụ xấu khi sử dụng (Trần Thanh Loan và cs, 2012)
1.2.2 Giới thiệu chế phẩm vi sinh Fito-Biomix-RR
Theo công ty cổ phần công nghệ sinh học (2006):
Định nghĩa: Chế phẩm Fito- Biomix RR là chế phẩm sinh học bao gồm
các chủng vi sinh vật phân giải hữu cơ, vi sinh vật kháng bệnh cho cây trồng,các nguyên tố khoáng, vi lượng có tác dụng: phân giải nhanh và triệt để rơm,
rạ sau thu hoạch thành phân bón hữu cơ vi sinh giàu dinh dưỡng phục vụ sảnxuất nông nghiệp
Công dụng: Bổ sung các chủng vi sinh vật phân giải hữu cơ có khả
năng phân giải nhanh và triệt để rơm rạ thành phân bón hữu cơ giàu sinhdưỡng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp Phân bón hữu cơ vi sinh là sảnphẩm an toàn với con người và động vật
Thành phần:
+ Bacillus polyfermenticus ≥ 108 CFU/g
+ Trichoderma virens ≥ 108CFU/g
+ Đậu tương, cám gạo, các khoáng chất
1.2.3 Quy trình ứng dụng chế phẩm vi sinh để xử lý phế phụ phẩm nông nghiệp
Dẫn theo Nguyễn Xuân Thành và cộng sự (2011):
Rơm rạ sau vụ thu hoạch được thu gom thành từng đống trên đồngruộng hoặc có thể mang đánh đống tại nhà để tiện cho việc xử lý rơm rạ, sau
đó rơm rạ được vận chuyển về chỗ quy hoạch dành cho việc xử lý, xử lý rơm
rạ bằng chế phẩm vi sinh vật Sau đó rải rơm đều với độ dày là 30cm sau đó
Trang 17phun chế phẩm đều lên đống ủ, cho tới khi hết số rơm cần ủ Trong quá trình
ủ rơm rạ điều quan trọng là phải đảm bảo độ ẩm trong đống ủ luôn đạt 50 60% độ ẩm đảm bảo thì vi sinh vật sẽ hoạt động mạnh dẫn đến nhiệt độ tăng
ẩm tăng > 80% mùn hóa đem tái chế thành phân bón hữu cơ
Hình 1.1: Quy trình xử lý phế thải đồng ruộng thành phân bón hữu cơ
Kiểm tra nhiệt độ, độ ẩm của đống ủ hàng tuần, đo theo giờ quy định
Ủ 4 - 6 tuần có thể đem ra bón cho cây trồng
Bổ sung phụ gia
Theo dõi nhiệt độ đống ủ (to,mùn hóa)
Bổ sung nước đảm bảo độ ẩm 60-70%
Trang 181.2.4 Kết quả ứng dụng Fito-Biomix-RR trong xử lý phụ phẩm nông nghiệp làm phân hữu cơ ở Việt Nam
Tại Bắc Giang:
Dựa vào kết quả của mô hình triển khai ứng dụng chế phẩm sinh họcFito - Biomix - RR xử lý rơm rạ làm phân bón hữu cơ của những năm trước.Năm 2012, Trung tâm ứng dụng tiến bộ Khoa học và Công Nghệ Bắc Giang
đã đề xuất và được UBND tỉnh phê duyệt thực hiện dự án “Sản xuất chế phẩmFito-Biomix- RR để xử lý rơm rạ làm phân bón hữu cơ phục vụ sản xuất nôngnghiệp góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường nông thôn tại tỉnh BắcGiang” Tại trung tâm Ứng dụng tiến bộ KHCN Bắc Giang Kết hợp với HộiLiên hiệp Phụ nữ 12 xã của 04 huyện, thành phố diễn ra việc đốt rơm rạ sauthu hoạch phổ biến nhất là trên địa bàn tỉnh như: Tân Yên, Việt Yên, YênDũng và Thành phố Bắc Giang xử lý quy mô 1.000 tấn rơm rạ vụ mùa 2013(Busa, Liên hiệp các hội khoa học và kĩ thuật Bắc Giang, 2013 )
Tại Hải Dương:
Thực hiện Công văn số 255/ UBND-VP ngày 19/9/2014 của UBNDtỉnh Hải Dương về việc cấp chế phẩm sinh học Fito-Biomix-RR phục vụ xử
lý rơm rạ Kết quả ứng dụng trên 12 huyện, thị xã và thành phố các địaphương đã sử dụng 4.417,4 kg xử lý được trên 20.000 tấn rơm rạ Cán bộ củađơn vị chuyển giao, nhiệt tình, tận tâm truyền đạt quy trình công nghệ vàhướng dẫn kỹ năng thực hành, bám sát cơ sở trong quá trình sản xuất Sửdụng chế phẩm Fito-Biomix-RR không những có giá thành thấp gần 40% sonhững năm trước sẽ góp phần giảm chi tiêu ngân sách, giảm chi phí mua chếphẩm của người dân từ đó giúp giảm giá thành xử lý, góp phần kích thíchchính quyền và người dân tích cực hưởng ứng Việc sử dụng chế phẩm Fito-Biomix-RR không những khắc phục tình trạng đốt rơm rạ hàng vụ sau thuhoạch, hạn chế vứt bừa bãi rơm rạ ra đường giao thông mà còn chế biến rơm
rạ thành phân hữu cơ bón cho cây trồng sẽ làm giảm nguy cơ gây ô nhiễmmôi trường nông nghiệp, nông thôn, tăng hiệu quả kinh tế trên một đơn vị
Trang 19diện tích theo hướng phát triển sản xuất sạch, bền vững (Cổng thông tin điện
tử Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hải Dương, 2015)
1.3 Vai trò của phân bón hữu cơ trong sản xuất nông nghiệp
1.3.1 Khái niệm phân hữu cơ
Phân hữu cơ là phân chứa những chất dinh dưỡng ở dạng hợp chất hữu cơnhư phân chuồng, phân xanh, phân than bùn, phân rác, phụ phẩm nông nghiệp…Dựa theo mức độ khoáng hóa chất hữu cơ hay khả năng tạo mùn của chất hữu
cơ thì chất hữu cơ có tỷ lệ C/N cao được vùi trực tiếp vào đất không qua chếbiến, chức năng chủ yếu là cải tạo đất thì được gọi là chất hữu cơ cải tạo đất,chất hữu cơ qua chế biến hay không thông qua chế biến có tỷ lệ C/N thấp gọi
là phân hữu cơ ( Bộ NN&PTNT, 2014)
1.3.2 Vai trò của phân hữu cơ trong sản xuất nông nghiệp
+ Chất hữu cơ tồn tại xen kẽ với các thành phần kết cấu của đất, tạo tạo
ra sự thông thoáng giúp rễ phát triển mạnh nên có cường độ hô hấp tối đa và
dễ dàng hấp thu các nguồn dinh dưỡng
+ Chất hữu cơ sẽ lưu giữ các khoáng chất đa, trung, vi lượng từ cácloại phân bón hóa học và cung cấp dần cho cây hạn chế được hiện tượng thấtthoát phân bón trong quá trình sử dụng, giảm chi phí đáng kể trong sản xuấtnông nghiệp, giúp đất giữ ẩm làm cây chống chịu khô hạn tốt hơn
+ Sự hiện diện của chất hữu cơ làm môi trường sống cho các hệ vi sinh cóích, các hệ vi sinh này cân bằng môi trường của hệ sinh thái vì vậy sẽ hạn chếmột số đối tượng gây bệnh, góp phần tăng năng suất và chất lượng nông sản
+ Sử dụng phân bón hữu cơ vi sinh sẽ thay thế dần việc bón phân hoáhọc trên đồng ruộng, đất trồng trọt mà vẫn đảm bảo được nâng cao năng suấtthu hoạch tuy nhiên không thể thay thế hoàn toàn phân hữu cơ trong sản xuấtnông nghiệp (Trung tâm Thông tin KH&CN Thành phố Hải Phòng, 2015)
1.4 Khái quát về rau an toàn
1.4.1 Khái niệm rau an toàn
Trang 20Theo Bộ NN&PTNT (2008) về khái niệm rau an toàn: “RAT là những sản phẩm rau tươi (bao gồm tất cả các loại rau ăn lá, thân, củ , quả, hạt, các loại nấm thực phẩm ) được sản xuất, thu hoạch, sơ chế, bao gói, bảo quản theo quy trình kĩ thuật đảm bảo tồn dư về vi sinh vật, hóa chất độc hại dưới mức cho phép”
Nguyễn Mạnh Chinh (2011), những sản phẩm không chứa hoặc cóchứa dư lượng các yếu tố độc hại nhưng dưới mức dư lượng cho phépđược coi là rau an toàn với sức khỏe người, nếu trên mức dư lượng chophép là rau không an toàn
1.4.2 Yêu cầu chất lượng của rau an toàn
1.4.2.1 Chỉ tiêu hình thái
Sản phẩm thu hoạch đúng thời điểm, đúng yêu cầu của loại rau, đúng
độ chín kỹ thuật, không dập nát hư thối, không lẫn tạp, không sâu bệnh và cóbao gói thích hợp
1.4.2.2 Về nội chất
Chỉ tiêu nội chất được quy định cho rau tươi bao gồm:
+ Hàm lượng nitrat (NO3-)
+ Hàm lượng một số kim loại nặng chủ yếu: Cu, Pb, Hg, Cd, As…+ Mức độ nhiễm các vi sinh vật gây bệnh (E.coli, Samonella…) và kýsinh trùng đường ruột (trứng giun đũa, Ascaris…)
+ Dư lượng TBVTV
Tóm lại theo quan điểm của hầu hết các nhà khoa học cho rằng “rau antoàn” là rau không dập nát, hư hỏng, không có đất, bụi bám quanh, khôngchứa các sản phẩm hoá học độc hại, hàm lượng nitrat, kim loại nặng, dưlượng thuốc bảo vệ thực vật cũng như các vi sinh vật gây hại phải được hạnchế theo các tiêu chuẩn an toàn và được trồng trên các vùng đất không bịnhiễm kim loại nặng, canh tác theo những quy trình kỹ thuật được gọi là quy
Trang 21trình tổng hợp, hạn chế sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật ở mức độtối thiểu cho phép (Nguyễn Thị Tuyết Mai, 2010).
1.4.3 Điều kiện để sản xuất rau an toàn
Theo Bộ NN&PTNT (2008) thì điều kiện sản xuất rau an toàn như sau:
a Nhân lực
Tổ chức sản xuất RAT phải có cán bộ kĩ thuật chuyên ngành hoặc hợpđồng thuê cán bộ chuyên ngành về trồng trọt hoặc BVTV từ trung cấp trở lên
để hướng dẫn kĩ thuật sản xuất RAT
Người sản xuất RAT phải qua lớp huấn luyện kĩ thuật sản xuất RAT
b Đất trồng
Đất quy hoạch để trồng RAT phải đảm bảo các điều kiện sau:
+ Có đặc điểm lý, hóa, sinh học phù hợp với sự sinh trưởng của cây rau+ Không bị ảnh hưởng trực tiếp bởi các chất thải công nghiệp, chất thảisinh hoạt từ các khu dân cư, bệnh viện, các lò mổ gia súc tập trung và từ cácnghĩa trang, đường giao thông lớn
+ Đảm bảo tiêu chuẩn môi trương đất trồng trọt theo Tiêu chuẩn TCVN5941:1995, TCVN 7209:2000 nêu tại Phụ lục 5,6 của quy định
Đất ở các vùng sản xuất RAT phải được kiểm tra mức độ ô nhiễm định
kì hoặc đột xuất
c Phân bón
Chỉ sử dụng các loại phân bón có trong danh mục phân bón được phépsản xuất, kinh doanh ở Việt Nam, phân hữu cơ đã qua xử lý đảm bảo khôngcòn nguy cơ ô nhiễm hóa chất và vi sinh vật có hại
Không sử dụng các loại phân vô cơ có nguy cơ ô nhiễm môi trường caonhư: phân chuồng tươi, nước giải, phân chế biến từ rác thải sinh hoạt, rác thảicông nghiệp để bón trực tiếp cho rau
d Nước tưới
Trang 22Nước tưới cho rau lấy từ nguồn không bị ô nhiễm bởi các vi sinh vật vàcác hóa chất độc hại, phải đảm bảo chất lượng tưới theo Tiêu chuẩn TCVN6773:2000
Không sử dụng nước thải công nghiệp chưa qua xử lý, nước thải từ cácbệnh viện, các khu dân cư tập trung, các trang trại chăn nuôi, các lò mổ giasúc, nước phân tươi, nước giải, nước ao tù đọng để tưới trực triếp cho rau
Nguồn nước tưới cho vùng RAT phải được kiểm tra định kì và đột xuất
e Kĩ thuật canh tác RAT
Luân canh: Khuyến khích bố trí công thức luân canh hợp lý giữa cácloại rau, giữa rau với cây trồng khác
Xen canh: Việc trồng xen canh giữa các loại rau với các cây trồng kháckhông tạo điều kiện cho sâu bệnh phát sinh, phát triển
Trang 231.5 Yếu tố tồn dư NO 3 - trong rau
Dẫn theo Phan Thị Thu Hằng (2008), nguyên nhân gây tồn dư hàm
lượng nitrat trong rau xanh:
1.5.1 Phân bón
1.5.1.1 Phân đạm
a) Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến năng suất và tồn dư NO 3 - trong rau
Theo kết quả nghiên cứu của Ngô Hồng Bình và cs (2011), đối vớigiống cải làn 8RA02 ở các liều lượng đạm (40 kg N, 60 kg N, 80 kg N) trên
trưởng của các công thức bón đạm không có sự sai khác đạt 49 ngày, côngthức không bón đạm thời gian sinh trưởng ngắn hơn đạt 46 ngày Ở công thứcphân bón 60 kg N và 80 kg N cải làn có khối lượng cây trung bình cao nhấtlần lượt là 70 và 73 g/cây Đây cũng là hai công thức đạt năng suất thực thucao nhất tương ứng với 16,52 và 17,32 tấn/ha Tuy nhiên xét hiệu quả kinh tế
và an toàn chất lượng thì công thức 60 kg N hơn mức bón 80 kg N
b) Ảnh hưởng của thời gian bón đạm lần cuối tới mức độ tích lũy NO 3
-trong rau
liên quan chặt chẽ tới sự cung cấp đạm và quá trình quang hợp trước lúc thuhoạch Nếu có đủ thời gian và điều kiện để cây quang hợp mạnh tạo ra gluxid
độc Do đó thời gian bón đạm trước khi thu hoạch quyết định đến tồn dưnitrat trong rau
c) Ảnh hưởng của dạng đạm bón đến tồn dư nitrat trong rau
nhau tới sự tích lũy nitrat trong cây Trong các nguyên nhân làm cho dư lượng
gần ngày thu hoạch (Nguyễn Mạnh Chinh, 2011) Hầu hết các loại rau có hàm
Trang 24lượng NO3- đạt cao nhất sau khi bón thúc đạm lần cuối từ 3 - 10 ngày.
1.5.1.2 Phân lân
Bón phân lân có tác dụng tăng cường chuyển hóa đạm khoáng thành
rau hiện nay lượng phân lân sử dụng là rất ít thường chỉ dạt 50% so với quy
nên dẫn đến sự tích lũy nitrat trong sản phẩm
1.5.1.3 Phân kali
Các nghiên cứu đã khẳng định cùng với phân lân, phân kali được bónkết hợp với phân đạm cũng có tác dụng làm giảm sự tích lũy nitrat trongthương phẩm Bón đạm kết hợp với kali sẽ làm giảm hàm lượng nitrat rõ rệt
so với khi bón chỉ riêng mình đạm
1.5.1.4 Phân hữu cơ
Việc bón phân hóa học là lợi nhuận trước mắt, tức thời, nếu chỉ nónphân hóa học thì về lâu dài đất sẽ bị chai cứng, bị bạc màu, sức sản xuất kém.Bón phân hữu cơ nhằm cân đối dinh dưỡng và cơ chất cho đất, tăng cường độmàu mỡ tự nhiên của đất Hướng tới mục tiêu “nông nghiệp bền vững” thìbiện pháp ổn định hàm lượng hữu cơ trong đất là rất quan trọng Phân hữu cơ
là nguồn cung cấp dinh dưỡng tổng hợp đa, trung, vi lượng, các vitamin, kíchthích tố sinh trưởng làm tăng chất lượng nông sản
1.5.1.5 Phân vi lượng
Sự tích lũy NO3- gắn liền với quá trình khử NO3- và quá trình đồng hóađạm trong cây Các quá trình này liên quan chặt chẽ đến các quá trình khácnhư quang hợp, hô hấp và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của hệ enzim và các hợp
Trang 25tới quang hợp, quá trình phosphoril hóa và quá trình khử CO2 làm tích lũy
trúc của enzim nitratredutaza Cu có vai trò thúc đẩy quang hợp của cây Như vậythiếu các nguyên tố vi lượng cũng là nguyên nhân gây tồn dư nitrat trong rau
1.5.2 Khí hậu, thời tiết, ánh sáng, thu hoạch và bảo quản
tiết Khi chuẩn bị thu hoạch nếu gặp thời tiết lạnh, trời âm u thì khả năng tích
-thấp hơn cây trồng trong nhà kính từ 2 - 12 lần, nhất là cây ăn lá Mật độ câytrồng cao, lượng nitrat sẽ tăng lên do điều kiện chiếu sáng yếu Thời gianchiếu sáng trong ngày dài thì hàm lượng nitrat trong cây sẽ giảm Nhiệt độ
-trong rau sẽ cao
1.5.3 Đất trồng và nước tưới bị ô nhiễm
Dẫn theo Phan Thị Thu Hằng (2008):
a) Ảnh hưởng của nguồn đất bị ô nhiễm tới mức độ tích lũy nitrat trong rau
Trong vùng đất trồng rau, đất thoáng khí, độ ẩm thích hợp cho quá trìnhoxyhoa, nitrat được hình thành, rau dễ hấp thụ Sự hấp thụ đạm ở dạng nitratkhông chuyển hóa thành protein là nguyên nhân làm giảm chất lượng rau qủa.Mặt khác do sử dụng phân vô cơ không hợp lý sẽ làm đất bị ô nhiễm: trai đất,
ô nhiễm môi trường, tích lũy trong nông sản
b) Ảnh hưởng của nguồn nước bị ô nhiễm tới mức độ tích lũy nitrat trong rau
Trong các loại rau, lượng nước chứa 90% trở lên do vậy chất lượngnước tưới ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng sản phẩm Các con sông hồ là
Trang 26nguồn tiềm tàng các chất độc hại trong đó có N - NO3- nhưng đã và đang đượcngười dân sử dụng hàng ngày tưới cho rau và hậu quả để lại là chúng sẽ dầnđược tích lũy trong sản phẩm.
1.6 Thực trạng tồn dư NO 3 - trong rau
1.6.1 Thực trạng sản xuất rau thế giới
Theo số liệu thống kê của FAO (2010) năng suất, diện tích, sản lượng rautrên thế giới trong các năm gần đây được thể hiện qua bảng 1.1:
Bảng 1.1: Tình hình sản xuất rau trên thế giới từ 2001 – 2009
Cũng theo FAO (2012), tổng diện tích trồng rau trên thế giới là 19 triệu
ha tập trung chủ yếu ở khu vực Châu Á với diện tích 15,1 triệu ha, chiếm gần80% tổng diện tích trồng rau trên thế giới, một số khu vực như Châu ĐạiDương, Châu Mỹ chiếm tỷ lệ thấp so với tổng diện tích trồng FAO (2012)trong 10 nước dẫn đầu về diện tích trồng rau trong khu vực Châu Á, ViệtNam đứng thứ 4 với diện tích 0,68 triệu ha, đứng sau Nigeria là 0,75 triệu ha,
Ấn Độ là 2,10 triệu ha và đứng thứ nhất là Trung Quốc là 9,71 triệu ha
1.6.2 Thực trạng sản xuất rau tại Việt Nam
Việt Nam có vị trí địa lý trải dài nhiều vĩ độ, khí hậu nhiệt đới gió mùa
và có một số vùng tiền khí hậu đặc biệt như Sa Pa, Tam Đảo, Đà Lạt , cóđiều kiện tự nhiên khá thuận lợi cho sản xuất rau Việt Nam có thể trồng đượctrên 120 loại rau có nguồn gốc nhiệt đới, á nhiệt đới, ôn đới và cùng với cáctiến bộ KHCN các loại rau trái vụ được sản xuất nhằm đáp ứng mở rộng vềnhu cầu tiêu dùng và phục vụ chế biến xuất khẩu Sản xuất rau có xu hướngngày càng mở rộng về diện tích và sản lượng tăng đồng thuận
Bảng 1.2: Tình hình sản xuất một số loại rau ở Việt Nam 2010 – 2012 Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012
Trang 27Diện tích (ha)
Sản lượng (tấn)
Diện tích (ha)
Sản lượng (tấn)
Diện tích (ha)
Sản lượng (tấn)
so với năm 2011); trong đó miền Bắc diện tích ước đạt 357,5 nghìn ha, năng suấtước đạt 160 tạ/ha, sản lượng dự kiến đạt 5,7 triệu tấn; miền Nam diện tích ước đạt466,2 nghìn ha, năng suất dự kiến đạt 178 tạ/ha, sản lượng dự kiến đạt 8,3triệu tấn Theo báo cáo của Bộ Công Thương (2015), cả nước hiện có khoảng
845 ngàn ha rau các loại, cho sản lượng hàng năm khoảng 14,5 triệu tấn.Trong đó, Đồng bằng Sông Hồng và Sông Cửu Long là hai vùng sản xuất raulớn nhất nước (Sở NN&PTNT tỉnh Vĩnh Long, 2015)
1.6.3 Các mô hình sản xuất rau an toàn tại Việt Nam
Trang 28Một số mô hình sản xuất rau an toàn tại Việt Nam:
+ Tổ sản xuất RAT Thị trấn Uyên Hưng, huyện Tân Uyên: diện tích: 5
ha (sản xuất 3 vụ); sản lượng: 234 tấn (hành lá, khổ qua, dưa leo, )
Từ dự án “Xây dựng vùng sản xuất rau an toàn tỉnh Bình Dương, giaiđoạn 2010 - 2012” đã thành lập 02 tổ hợp tác sản xuất rau an toàn tại 02 địa
Trang 29điểm nêu trên Tổ hợp tác được hoạt động dưới sự quản lý và điều hành sảnxuất từ 02 tổ trưởng tổ hợp tác, có sự hướng dẫn quy trình sản xuất rau an toàn,phòng trừ sâu bệnh, sử dụng phân bón và thuốc BVTV, của cán bộ kỹ thuậtChi cục BVTV Bình Dương Định kỳ mỗi tháng 02 lần, Chi cục BVTV lấymẫu rau từ 02 tổ rau phân tích dư lượng thuốc trừ sâu trên rau bằng phươngpháp phân tích nhanh (GT Testkit), khi mẫu rau có dư lượng (ở mức an toàn)Chi cục tiếp tục phân tích định lượng để phân tích rõ gốc thuốc nông dân sửdụng Khi 02 tổ rau sản xuất có sản phẩm, nhờ sự tác động và hỗ trợ của SởNông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Công thương và Chi cục BVTV làmđầu mối đã giúp cho sản phẩm của 02 tổ rau được đưa vào siêu thị.
Tp.Hồ Chí Minh
Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp Phước An: Là mô hình thí điểm của dự
án xây dựng và kiểm soát chất lượng nông sản thực phẩm, là tổ chức tích cựctrong phong trào thi đua áp dụng VietGap trong sản xuất, sơ chế rau Hợp tác
xã bắt đầu áp dụng theo quy trình VietGap trong sản xuất rau từ năm 2009 vớidiện tích 7 ha, đến năm 2012 diện tích sản xuất rau an toàn tăng lên 17 ha, sảnlượng đạt 298 tấn/tháng Đến nay, tổng diện tích được chứng nhận ViêtGap là4,06 ha (13 hộ sản xuất và nhà sơ chế)
Hợp tác xã Ngã Ba Giòng (địa chỉ: ấp 4, xã Xuân Thới Thượng, huyệnHóc Môn): Hiện nay, tổng diện tích sản xuất rau an toàn theo quy trìnhVietGap là 15 ha, trong đó diện tích được chứng nhận VietGap là 3,25 ha.Hình thức tiêu thụ chủ yếu thông qua các hợp đồng nguyên tắc, trung bình 04tấn/ngày
1.6.4 Ảnh huởng của hàm lượng NO 3 - trong rau đến sức khỏe con người
Theo Hoàng Xuân Đại (2015):
Nitrat là dạng chất đạm hiện diện trong cây rau, củ, quả Nếu chúng tabiết cách sử dụng lượng nitrat hợp lý (ít hoặc vừa đủ), nó sẽ giúp cho cây rau
có màu xanh; củ, quả đẹp mắt đồng thời không gây hại cho sức khỏe con
Trang 30người Tuy nhiên nếu lạm dụng, sự có mặt của nitrat trong nông sản sẽ ảnhhưởng xấu đến sức khỏe và đặc biệt, dư lượng nitrat trong mô hình thực vậtvượt quá ngưỡng an toàn được xem như một chất độc gây hại cho sức khỏecon người
chất tồn dư trong nông sản, gây hại sức khỏe con người vào năm 1945 Mặc
nitrosamin, là chất gây ung thư dạ dày, ảnh hưởng nghiêm trọng tới sửc khỏe
oxy trong máu, đồng thời hạ huyết áp và ở nồng độ cao cũng có thể gián tiếpảnh hưởng đến sức khỏe sinh sản và tăng nguy cơ sảy thai ở người Vì vậy,nitrat trong rau, củ, quả có thể gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của conngười, do đó nó luôn được xem là một trong những tiêu chuẩn để đáng giáchất lượng rau quả
1.6.5 Ảnh hưởng của hàm lượng NO 3 - trong rau xanh đến môi trường
Phân là một trong các nhân tố không thể thiếu đối với cây trồng đặcbiệt là phân hóa học Tuy nhiên, sử dụng phân bón hóa học như thế nào làđiều hầu như ít người quan tâm tới Phân hóa học thông thường được bón chocây trồng chủ yếu là phân đạm, khi bón đạm cho cây trồng đặc biệt cây raucây chỉ sử dụng được 40 - 60% phần còn lại nằm trong đất và gây ô nhiễmmôi trường đất Các nhà khoa học đã nghiên cứu việc bón thúc đạm sẽ làmcho hàm lượng nitrat tích lũy trên mặt đất và làm giảm chất lượng nước Khitrong sản phẩm có chứa nhiều đạm, nhất là không cân đối thì đạm sẽ chuyển
từ NH4+ sang NO3-
Trang 31Đặc biệt hàm lượng NO3- tồn dư trong các loại rau rất cao, nguyên nhân
là do sử dụng không hợp lý liều lượng và tỷ lệ phân đạm vô cơ và hữu cơ bóncho cây, phương thức bón không đúng do chạy theo lợi nhuận, bón thúc trễ,
trôi cao gây ra ô nhiễm môi trường đất và môi trường nước Ngoài ra, hiện
bộ phận của cây, nhất là các cơ quan sinh trưởng sẽ phát triển mạnh, tạo thêmnguồn thức ăn cho nhiều loài vi sinh vật gây hại Đạm thừa làm cho vỏ tế bàocây trở nên mỏng, tạo điều kiện dễ dàng cho một số loài vi sinh vật gây bệnhxâm nhập, kích thích một số loài vi sinh vật trong đất xâm nhập vào rễ và gâyhại cho cây Sâu bệnh xuất hiện nhiều làm số lần phun thuốc tăng theo cũnglàm ô nhiễm môi trường (Trần Văn Hiển, 2014 )
Trang 32CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
+ Ảnh hưởng của phân bón tới hàm lượng nitrat trong rau cải ngồng tại
xã Nga Thái, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa
2.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của xã Nga Thái, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa
2.3.2 Tình hình sản xuất nông nghiệp và sản xuất rau tại xã Nga Thái, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa
2.2.3 Ứng dụng chế phẩm Fito- Biomix- RR xử lý rơm rạ thành phân hữu
cơ tại xã Nga Thái, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa
2.2.4 Nghiên cứu giải pháp kĩ thuật trong canh tác rau nhằm giảm thiểu hàm lượng NO 3 - trong rau cải ngồng tại xã Nga Thái, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa
2.2.5 Xác định hàm lượng NO 3 - trong rau và đề xuất giải pháp canh tác rau cải ngồng nhằm giảm hàm lượng NO 3 -
Trang 332.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp
- Thông tin thứ cấp là các nguồn thông tin sẵn có, đã được thu thập từtrước và đã được công nhận:
- Trong nghiên cứu này, nguồn dữ liệu thông tin thứ cấp được thu thậpbao gồm:
+ Sơ đồ xã Nga Thái, tài liệu thống kê của ban kế hoạch xã, phòng địachính xã, ban thống kê xã về: tình hình sử dụng đất đai, tình hình dân số, laođộng và kinh doanh xã Nga Thái trong giai đoạn 2013 – 2015
+ Dữ liệu thông tin còn được thu thập từ mạng internet, báo khoa học,trang thông tin điện tử, sách giáo trình, các bài luận án, khóa luận tốt nghiệp
2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
- Là dữ liệu do chính người nghiên cứu điều tra thu thập trong xuất quá trình nghiên cứu
- Hiện trạng sản xuất nông nghiệp và sản xuất rau tại xã Nga Thái đượcthu thập thông qua phiếu điều tra nông hộ, khảo sát thực địa
- Số phiếu điều tra:
+ Trên địa bàn toàn xã có 9 xóm, trong 9 xóm tôi tiến hành chọn theophương pháp ngẫu nhiên: chọn ngẫu nhiên 5 xóm, trong 5 xóm mỗi xóm chọn
6 hộ bất kỳ đại diện (6 hộ được chọn là các hộ trồng rau trên quy mô lớn đểphân phối ra ngoài thị trường) tổng số phiếu điều tra 30 phiếu
- Nội dung phỏng vấn: diện tích các loại cây trồng chính trong năm;tình hình chăn nuôi của hộ gia đình: loại vật nuôi, số con ; tình hình sử dụngphân bón, thuốc BVTV: loại, liều lượng; cách sử dụng, chi phí, thời gian cách
lý trước khi thu hoạch ; các loại rau được canh tác chính; phương thức canhtác rau theo kiểu truyền thống hay an toàn
- Thời gian phỏng vấn: 04/04/2016 – 06/04/2016
Trang 342.4.3 Phương pháp nghiên cứu ứng dụng chế phẩm sinh học xử lý rơm rạ
+ Doa tưới nước
- Trên cơ sở quy trình cơ bản xử lý phụ phẩm nông nghiệp bằng chếphẩm Fito-Biomix-RR của Công ty cổ phần Công nghệ sinh học, tôi tiến hànhdùng chế phẩm này xử lý rơm rạ sau thu hoạch chuyển chúng thành phân bónhữu cơ tại xã Nga Thái, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa:
+ Cân 810kg lượng rơm khô Sau khi cân rơm, trải đều rơm thành từnglớp mỏng cao khoảng 20 – 30cm, sau đó tưới một lượt dung dịch chế phẩmFito-Biomix-RR và phân NPK đã hòa tan lên bề mặt rơm Bổ sung thêm nướcsao cho độ ẩm của rơm duy trì ở mức 50 - 60%, kiểm tra độ ẩm bằng cáchnắm chặt rơm nếu thấy nước rỉ ra ở kẽ tay thì đã đạt yêu cầu
+ Tiếp tục làm như thế cho tới khi hết lượng rơm cần ủ lúc này chiềucao của đống ủ là 1,6m, sau đó dùng nilong che kín toàn bộ đống ủ đảm bảoduy trì nhiệt độ 45 – 65oC
+ Sau 15 ngày, tiến hành đảo trộn đống ủ, bổ sung thêm nước tại nhữngđiểm chưa đạt độ ẩm yêu cầu và che đậy kín lại Đo nhiệt độ đống ủ hàngngày trong tuần sau 35 ngày tạo thành phân hữu cơ, phân hữu cơ có màu đen
đã hoai mục hoàn toàn
+ Khối lượng phân hữu cơ sau ủ: Xác định khối lượng phân hữu cơ sau
khi ủ bằng cách chia nhỏ đống ủ thành 8 phần bằng nhau biết rằng đống ủ có
c) Theo dõi nhiệt độ đống ủ:
Trang 35+ Vị trí: Tiến hành đo nhiệt độ tại 3 vị trí: điểm 1 (cách chân đống20cm); điểm 2 (giữa đống); điểm 3 (cách đỉnh đống 50cm) rồi lấy số liệutrung bình
+ Tiến hành: Mở đống ủ, chọc lỗ sâu khoảng 0,5 - 1m, đặt nhiệt kế vàotrong đống ủ khoảng 5 - 10 phút, sau đó đọc nhiệt độ của đống ủ hiện trênvạch màu đỏ của nhiệt kế, tiến hành làm như vậy trên 3 vị trí của đống ủ.Theo dõi nhiệt độ của đống ủ trong một thời điểm nhất định 10h sáng, đotrong 35 ngày liên tiếp để thấy được sự thay đổi nhiệt độ của đống ủ trongxuất quá trình ủ
2.4.4 Nghiên cứu kĩ thuật gieo trồng rau cải ngồng vụ xuân tại xã Nga Thái huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa
a) Bố trí thí nghiệm:
Thử nghiệm mô hình ứng dụng phân hữu cơ trong canh tác rau an toàn.Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp ngẫu nhiên đầy đủ RCB gồm 5công thức với 3 lần nhắc lại, ứng với 5 mức phân bón Diện tích mỗi công
tích 63,4 m2, các rãnh cách nhau 0,2m Tổng diện tích thí nghiệm: 198,4 m2
b) Tính toán lượng phân bón cho công thức thí nghiệm
Dựa theo Trần Khắc Thi (2003) về lượng phân bón cần dùng cho 1 harau cải và Quy trình công nghệ ủ rơm rạ bằng chế phẩm Fito- Biomix- RRcủa Sở KHCN tỉnh Cà Mau (2012) ta tính toán được lượng phân bón cầndùng cho các công thức như sau:
Bảng 2.1: Công thức thí nghiệm và lượng phân bón tại mỗi công thức Công
thức
Lượng phân bón
Ghi chú Hữu cơ Ure Lân Kali
Trang 36Nguồn: Số liệu tính toán, 2016
- Mỗi ô thí nghiệm bón lót 100% phân hữu cơ và phân lân + 30% phânđạm + 5% phân kali Bón làm 2 đợt:
+ Lần 1: sau 7 – 10 ngày bón 40% đạm + 30% kali
+ Lần 2: sau 15 – 20 ngày bón 30% đạm + 20%kali
Hình 2.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm trên đồng ruộng
- Cách tính toán các mức phân bón cho các công thức thí nghiệm (chi tiết tại phụ lục 8)
c) Quy trình kỹ thuật trồng rau cải ngồng vụ xuân
Trên quy trình kĩ thuật trồng rau cải an toàn của Sở NN&PTNT Hà Nội (2011) tôi tiến hành vận dụng quy trình kĩ thuật này vào trong canh tác rau cải
ngồng vụ xuân tại xã Nga Thái, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa: