1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Đánh Giá Ảnh Hưởng Của Phân Bón Và Thuốc Bảo Vệ Thực Vật Đến Số Lượng Giun Đát Trên Cây Rau Tại Xã Đặng Xá, Gia Lâm, Hà Nội

95 355 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 14,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠNĐược sự phân công của khoa Môi trường Học viện Nông nghiệp ViệtNam, và được sự đồng ý của thầy GS.TS Trần Đức Viên tôi đã thực hiện đề tài “Đánh giá ảnh hưởng của phân bón và t

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

KHOA MÔI TRƯỜNG

PHỐ HÀ NỘI

Giáo viên hướng dẫn : GS.TS TRẦN ĐỨC VIÊN Địa điểm thực tập : ĐẶNG XÁ,GIA LÂM, HÀ NỘI

Hà Nội - 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong khóaluận này là trung thực được thực hiện dựa trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết,kiến thức chuyên ngành, nghiên cứu khảo sát tình hình thực tiễn và dưới sựhướng dẫn khoa học của GS.TS Trần Đức Viên

Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận này đãđược cám ơn và các thông tin trích dẫn trong khóa luận đều đã được chỉ rõnguồn gốc

Người thực hiện

Võ Thị Nhi

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Được sự phân công của khoa Môi trường Học viện Nông nghiệp ViệtNam, và được sự đồng ý của thầy GS.TS Trần Đức Viên tôi đã thực hiện đề

tài “Đánh giá ảnh hưởng của phân bón và thuốc bảo vệ thực vật đến số

lượng giun đất trên cây rau tại xã Đặng Xá, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội”

Để hoàn thành khóa luận này tôi xin chân thành cảm ơn các thầy côgiáo đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu

và rèn luyện ở Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Xin chân thành cảm ơn thầy giáo hướng dẫn GS.TS Trần Đức Viên đãtận tình, chu đáo hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận này

Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnhnhất Song do thời gian và những hạn chế về kiến thức, kinh nghiệm nênkhông thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Tôi rất mong được sự góp ýcủa quý thầy cô giáo và các bạn để bài khóa luận được hoàn chỉnh hơn

Tôi xin ghi nhận và chân thành cảm ơn!

Hà nội, ngày 11 tháng 5 năm 2016

Người thực hiện

Võ Thị Nhi

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG vii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 Khái quát chung về cây rau 3

1.1.1 Khái niệm về cây rau 3

1.1.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau trên thế giới và ở Việt Nam 3

1.2 Tình hình sử dụng phân bón 6

1.2.1 Khái quát chung về phân bón 6

1.2.2 Tình hình sản xuất và sử dụng phân bón trên thế giới và ở Việt Nam 7

1.2.3 Vai trò của phân bón trong sản xuất nông nghiệp 10

1.2.4 Ảnh hưởng của phân bón tới môi trường sinh thái và sức khỏe con người 12

1.3 Tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật 14

1.3.1 Khái quát về thuốc BVTV 14

1.3.2 Tình hình sản xuất và sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật trên thế giới và ở Việt nam 17

1.3.3 Vai trò của thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp 20

1.3.4 Ảnh hưởng của thuốc bảo vệ thực vật tới môi trường sinh thái và sức khỏe con người 21

1.4 Vai trò của giun đất trong sản xuất rau 22

1.4.1 Vai trò của giun đất 22

1.4.2 Mối quan hệ giữa các chỉ số sinh học của giun đất với đặc tính lý hóa môi trường đất 23

1.4.3 Ảnh hưởng của các yếu tố sản xuất đến giun đất trong sản xuất rau ở nước ta 25

Trang 5

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

2.1 Đối tượng nghiên cứu 27

2.2 Phạm vi nghiên cứu 27

2.2.1 Về không gian: 27

2.2.2 Về thời gian: 27

2.2.3 Về nội dung: 27

2.3 Nội dung nghiên cứu 27

2.3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội xã Đặng Xá, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội 27

2.3.2 Tình hình sản xuất nông nghiệp và sản xuất rau tại xã Đặng Xá, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội 27

2.3.3 Thực trạng sử dụng phân bón trong sản xuất rau ở xã Đặng Xá, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội 27

2.3.4 Thực trạng sử dụng thuốc BVTV trong sản xuất rau ở xã Đặng Xá, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội 27

2.3.5 Xác định một số tính chất đất và số lượng giun đất trong vùng sản xuất rau tại xã Đặng Xá, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội 28

2.3.6 Nhận thức của người dân trong việc sử dụng phân bón và thuốc BVTV ảnh hưởng đến môi trường và sức khỏe con người 28

2.3.7 Đề xuất giải pháp canh tác rau phù hợp tại xã Đặng Xá, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội 28

2.4 Phương pháp nghiên cứu 28

2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: 28

2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 28

2.4.3 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu 33

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 34

3.1 Đặc điểm chung về xã Đặng xá, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội 34

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 34

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 35

3.1.3 Đánh giá những thuận lợi và khó khăn của xã Đặng Xá 39

Trang 6

3.2 Hiện trạng sản xuất nông nghiệp của xã Đặng Xá, huyện Gia Lâm, thành phố

Hà Nội 40

3.2 Hiện trạng sản xuất rau trên địa bàn xã Đặng Xá, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội 41

3.4 Thực trạng sử dụng phân bón trong sản xuất rau tại xã Đặng Xá, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội 44

3.4 Thực trạng sử dụng thuốc BVTV trong sản xuất rau ở xã Đặng Xá, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội 49

3.5 Ảnh hưởng của phân bón và thuốc bảo vệ thực vật đến số lượng giun đất trong sản xuất rau tại xã Đặng Xá 51

3.5.1 Một số chỉ tiêu chất lượng đất tại mô hình sản xuất rau truyền thống và an toàn tại xã Đặng Xá 51

3.5.2 Ảnh hưởng của phân bón và thuốc BVTV đến số lượng giun đất trên cả hai mô hình truyền thống và an toàn 53

3.6 Nhận thức của người dân về ảnh hưởng của phân bón và thuốc BVTV tới môi trường đất, nước, nông sản 55

3.7 Đề xuất giải pháp sử dụng phân bón và thuốc BVTV hiệu quả trong sản xuất rau tại xã Đặng Xá, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội 58

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 59

TÀI LIỆU THAM KHẢO 61

PHỤ LỤC 1

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BVTV : Thuốc bảo vệ thực vật

CN-XD : Công nghiệp – Xây dựng

IPNP : Viện dinh dưỡng cây trồng quốc tế IFA : Hiệp hội công nghiệp phân bón quốc tế HCBVTV : Hóa chất bảo vệ thực vật

MHTT : Mô hình an toàn

MHAT : Mô hình truyền thống

NN & PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn THCS : Trung học cơ sở

TTCN : Tiểu thủ công nghiệp

WHO : Tổ chức y tế thế giới

UBND : Ủy ban nhân dân

RAT : Rau an toàn

VSV : Vi sinh vật

VSATTP : Vệ sinh an toàn thực phẩm

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Tình hình sản xuất rau của thế giới năm 2008 4

Bảng 1.2: Diện tích gieo trồng rau năm 2011-2012 5

Bảng 1.3: Nhóm 10 nước tiêu thụ phân bón lớn nhất toàn cầu năm 2010/2011 8

Bảng 1.4: Nhu cầu phân bón thương phẩm ở Việt Nam đến năm 2020 10

Bảng 1.5: Đóng góp của các nhân tố đối với tăng sản lượng trồng trọt 11

Bảng 1.6: Bón phân đạm làm tăng năng suất và hàm lượng protein trong hạt ngô 11

Bảng 1.7: Hàm lượng các kim loại nặng trong một số phân bón 13

Bảng 1.8: Thống kê hoạt chất và tên thương mại của các nhóm thuốc 19

Bảng 3.1: Phân bố diện tích đất sử dụng ở xã Đặng Xá năm 2015 40

Bảng 3.2: Diện tích, năng suất, sản lượng các loại cây rau chính của xã Đặng Xá năm 2015-2016 42

Bảng 3.3: Tình hình tiêu thụ các loại cây rau ở xã Đặng Xá 43

Bảng 3.4: Các loại phân bón sử dụng trong sản xuất rau tại xã Đặng Xá 44

Bảng 3.5: Lượng phân hữu cơ/phân chuồng sử dụng trong canh tác 45

Bảng 3.6 : Lượng phân vô cơ bón cho các loại rau ở xã Đặng Xá đối 47

Bảng 3.7: Lượng phân vô cơ bón cho các loại rau ở xã Đặng Xá đối với 47

Bảng 3.8: Chủng loại thuốc BVTV được người dân sử dụng trên 49

Bảng 3.9: Chủng loại thuốc BVTV được người dân sử dụng trên MHAT .50

Bảng 3.10: Kết quả phân tích mẫu đất trên MHTT và MHAT tại 52

Bảng 3.11: Số lượng giun đất khảo sát qua 3 đợt tại xã Đặng Xá 53

Bảng 3.12: Nhận thức của người dân về việc ảnh hưởng phân bón và 55

Bảng 3.13: Mức độ tiếp cận thông tin về vấn đề sử dụng phân bón và thuốc BVTV tại xã Đặng Xá 56

Trang 9

Bảng 3.14: Mức độ tham gia hoạt động tuyên truyền về môi trường và sử

57

Trang 10

MỞ ĐẦU

Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm đang là vấn đề mà cả xã hộiquan tâm Rau là thành phần không thể thiếu trong bữa ăn của người ViệtNam Tuy nhiên hiện nay, rau sạch- rau an toàn không nhiều và chưa đáp úng

đủ nhu cầu của người tiêu dùng

Sản xuất rau ở nước ta, trong thời gian qua đã có những bước tiến đáng

kể về năng suất và chất lượng Nhiều vùng sản xuất rau chuyên canh, tậptrung đã được hình thành, góp phần vào việc giải quyết nhu cầu trong nướccũng như xuất khẩu Tuy nhiên, diện tích sản xuất rau thực hiện theo tiêu chírau an toàn vẫn còn khá khiêm tốn (chỉ chiếm khoảng dưới 10%) Đa phầncác vùng sản xuất rau chuyên canh hiện nay đều quản lý sản xuất theo kinhnghiệm Phân bón vô cơ và hóa chất BVTV được tăng cường cho việc thâmcanh rau Theo Phùng Minh Phong (2002): nhờ sử dụng hóa chất bảo vệ thựcvật mà ít nhất 20% sản phẩm nông nghiệp ở các nước phát triển và 40-50% ởcác nước chậm phát triển không bị phá hoại bởi các loại côn trùng, vi sinh vậtgây bệnh và cỏ dại

Thuốc BVTV đã góp phần hạn chế sự phát sinh, phát triển của sâu bệnh,ngăn chặn và dập tắt các đợt dịch bệnh trên phạm vi lớn, bảo đảm được năngsuất cây trồng, giảm thiểu thiệt hại cho nông dân Về phân bón theo đánh giácủa Viện Dinh Dưỡng Cây Trồng Quốc Tế (IPNI), phân bón đóng góp khoảng30-35% tổng sản lượng cây trồng Như vậy cho thấy vai trò của phân bón đếnsản lượng, năng suất quốc gia và thu nhập của nông dân là rất lớn

Bên cạnh mặt tích cực thì phân bón và thuốc BVTV cũng gây nhiềuhậu quả nghiêm trọng như: phá vỡ cân bằng hệ sinh thái đồng ruộng, gây ônhiễm nguồn nước, ô nhiễm môi trường sống và ảnh hưởng xấu đến sức khỏengười tiêu dùng và cho cả người sản xuất

Trang 11

Đặng Xá là một xã nằm trong vành đai thực phẩm của Thành Phố HàNội Với lợi thế về vị trí địa lý, cơ sở hạ tầng, điều kiện tự nhiên thuận lợi chosản xuất rau Tuy nhiên, trong quá trình canh tác người dân chưa chú ý đếnviệc sử dụng vật tư phân bón, thuốc BVTV một cách hợp lý, đúng kĩ thuật.Điều đó đã làm cho sản phẩm sản xuất ra có tồn dư chất hóa học và ảnhhưởng đến môi trường xung quanh Xuất phát từ vấn đề đó tôi tiến hành

nghiên cứu đề tài: “Đánh giá ảnh hưởng của phân bón và thuốc BVTV đến

số lượng giun đất tại xã Đặng Xá, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội”

Yêu cầu nghiên cứu

- Đánh giá thực trạng sử dụng phân bón và thuốc BVTV trong sản xuấtrau tại xã Đặng Xá

- Đánh giá ảnh hưởng của phân bón và thuốc BVTV đến số lượng giunđất trong sản xuất rau tại xã Đặng Xá

- Đề xuất một số giải pháp sử dụng hợp lý phân bón và thuốc BVTVnhằm bảo vệ môi trường ở địa phương

Trang 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Khái quát chung về cây rau và một số mô hình canh tác rau an toàn

1.1.1 Khái niệm về cây rau

Theo Lê Thị Khánh (2009), rau là cây hoặc phần có thể ăn được vàthường là mọng nước, ngon và bổ được sử dụng như là món ăn chính hoặc đồphụ gia để nấu hoặc ăn sống Rau rất đa dạng và phong phú, do vậy khi kháiniệm về “rau” chỉ có thể dựa trên công dụng của nó Rau xanh là loại thựcphẩm không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày của mỗi người trên khắp hànhtinh, đặc biệt khi lương thực và các loại thức ăn giàu đạm đã được đảm bảothì nhu cầu về rau xanh lại càng gia tăng Vai trò của cây rau đã được khẳngđịnh qua câu tục ngữ “cơm không rau như đau không thuốc” Giá trị của rauđược thể hiện nhiều mặt trong cuộc sống

1.1.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau trên thế giới và ở Việt Nam

 Trên thế giới

Theo thống kê của FAO (2008), năm 1980, toàn thế giới sản xuất được

375 triệu tấn rau, năm 1990 là 441 triệu tấn, năm 1997 là 59,6 triệu tấn vànăm 2001 lên tới 678 triệu tấn Chỉ riêng cải bắp và cà chua sản lượng tươngứng là 50,7 triệu tấn và 88,2 triệu tấn với năng suất tương ứng là 24,4 tấn/ha.Lượng tiêu thụ rau bình quân theo đầu người là 110kg/người/năm Tuynhiên, trình độ phát triển nghề trồng rau của các nước không giống nhau

Trang 13

Bảng 1.1: Tình hình sản xuất rau của thế giới năm 2008

Trung bình trên thế giới mỗi người tiêu thụ 154-172g/ngày TheoFAO (2006) tiêu thụ rau và quả tươi của Anh là 79,6kg/người/năm Theo BộNông Nghiệp Hoa Kỳ do tác động của các yếu tố như sự thay đổi cơ cấu dân

số, thị hiếu tiêu dùng và thu nhập dân cư, tiêu thụ nhiều loại rau đã tăng mạnhtrong nhưng năm qua

 Ở Việt Nam

Rau là ngành hàng sản xuất đa chủng loại có địa bàn phân bố trên hầuhết khắp lãnh thổ của cả nước với đa dạng các giống rau có khả năng thíchnghi với điều kiện nóng ẩm mùa hè hoặc lạnh khô mùa đông hoặc những

Trang 14

giống rau trái vụ, rau nhập nội có nguồn gốc ôn đới.

Theo số liệu từ Bộ NN & PTNT (2012) diện tích trồng rau cả nước ướcđạt khoảng 823.728 ha (tăng 103,7% so với năm 2011), năng suất ước đạt

170 tạ/ha (tăng 102% so với năm 2011), sản lượng ước đạt 14,0 triệu tấn (tăng106% so với năm 2011); trong đó miền Bắc diện tích ước đạt 357,5 nghìn ha,năng suất ước đạt 160 tạ/ha, sản lượng dự kiến đạt 5,7 triệu tấn; miền Namdiện tích ước đạt 466,2 nghìn ha, năng suất dự kiến đạt 178 tạ/ha, sản lượng

Trang 15

Hiện nay, sản xuất rau theo hướng nông nghiệp công nghệ cao đã bướcđầu được hình thành, các phương thức áp dụng như sản xuất trong nhà màn,nhà lưới chống côn trùng, sản xuất trong nhà plastic không cố định để hạn chếcác yếu tố môi trường bất lợi, trồng rau bằng kỹ thuật thủy canh, màng dinhdưỡng, nhân giống và sản xuất các loại cây quý hiếm, năng suất cao bằngcông nghệ nhà kính của Israel có kiểm soát các điều kiện môi trường (MaiVăn Quyền, 1996).

Theo Chu Thị Thơm (2006) thì phân bón là các chất vô cơ hoặc hữu cơ

có chứa các nguyên tố dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng, được bón vào đấthay hòa nước phun, xử lý hạt giống, rễ và cây con

1.2.1.2 Phân loại phân bón

Phân bón hiện nay rất đa dạng, ngày càng phát triển Có nhiều cáchphân loại phân bón như theo hợp chất cấu tạo, theo thành phần nguyên tố dinhdưỡng trong phân bón

Theo Nguyễn Thanh Bình (2008) tùy thể rắn hay lỏng mà có loại phânbón rắn, loại phân bón lỏng còn gọi là dung dịch Các loại dạng lỏng thườngdùng để phun lên lá nên còn gọi là phân bón lá

Tùy theo loại hợp chất mà chia ra phân hữu cơ và phân vô cơ

Phân vô cơ: Phân vô cơ hay phân hóa học là các loại phân có chứa yếu

tố dinh dưỡng dưới dạng muối khoáng ( vô cơ) thu được nhờ các quá trình vật

lý, hóa học

Trang 16

Một số phân bón vô cơ thông dụng hiện nay:

Phân đạm vô cơ:

- Phân Urea [CO(NH2)2] có 46% N

- Phân đạm sunfat còn gọi là đạm SA [(NH4)2SO4] chưa 21% N

- Phân clorua amon [NH4Cl] chứa 24 – 25 % N

- Phân nitrat canxi [Ca(NO3)2] chứa khoảng 13 - 15% N

- Phân nitrat amon [NH4NO3] chứa khoảng 35% N

- Phân nitrat natri [NaNO3] chứa khoảng 15 – 16% N

- Phân cyanamit canxi [CaCN2] chưa khoảng 20 – 21% N

Phân lân:

- Phân super lân [Ca(H2PO4)] có chứa 16 – 20% P2O5.

- Phân lân nung chảy Văn Điển Thermophosphat chứa 16% P2O5

Phân Kali:

- Phân Kali clorua [KCl] có chứa 60% K2O

- Phân Kali sunfat [K2SO4] có chứa 48 – 50 % K2O

Ngoài các loại phân trên, trên thị trường còn có các loại phân NPK hỗn hợp

Phân hữu cơ: phân hữu cơ gồm các chất hữu cơ khi vùi vào đất được vi

sinh vật phân giải và có khả năng cung cấp chất dinh dưỡng cho cây

Phân vi lượng: gồm các nguyên tố: Cu, Zn, Mn, B, Mo, Fe, Co…chúng

được bón ở dạng đơn hoặc hỗn hợp

Phân phức hợp vi sinh: gồm chế phẩm vi sinh, phân vi sinh, phân hữu

cơ vi sinh và phân phức hợp hữu cơ vi sinh

Phân bón lá: là hỗn hợp của một số phân đa lượng, vi lượng và chất

điều hòa sinh trưởng Loại phân này dùng để phun lên lá, hoa quả và thân cây

1.2.2 Tình hình sản xuất và sử dụng phân bón trên thế giới và ở Việt Nam

1.2.2.1 Trên thế giới

Theo Nguyễn Hạc Thúy (2012), trên thế giới lượng sử dụng phân bón

cứ tăng dần, từ đầu năm 1991 so với năm 2010 phân đạm ure tăng 18 lần,

Trang 17

phân chứa lân tăng 8,5 lần, phân kali tăng 7,5 lần, phân hữu cơ chế biến côngnghiệp tăng 3,5 lần.

Bảng 1.3: Nhóm 10 nước tiêu thụ phân bón lớn nhất toàn cầu năm

Nguồn: Nguyễn Như Hà, 2013

Theo Hiệp hội Công nghiệp Phân bón Quốc tế IFA (2014), nhu cầuphân bón thế giới niên vụ 2013 – 2014 đã tăng 3,1% so với cùng kỳ nămtrước và ước đạt 184 triệu tấn (tính theo lượng dinh dưỡng)

Tỷ trọng nhu cầu phân đạm, phân lân và phân kali của thế giới không cónhiều biến động trong năm 2014 nhu cầu phân bón các loại giữ quanh mức60% (phân đạm), 23% (phân lân) và 16% (phân kali)

Đối với quy mô quốc gia, sản lượng tiêu thụ tại Trung Quốc, Ấn Độ và

Mỹ là 3 quốc gia tiêu thụ phân bón lớn nhất thế giới với tỷ trọng lần lượt là28%, 14% và 11%

Theo ước tính của IFA (2014), sản lượng phân bón các loại năm 2014đạt 243 triệu tấn, tăng 2,6% so với năm 2013 và đạt 85% tổng năng lực cungứng (công suất) của các nhà máy toàn cầu

Trong niên vụ 2014 - 2015, nhu cầu phân bón các loại của thế giớitiếp tục tăng trưởng 2-2,1%, đạt 187,9 triệu tấn và nguồn cung tăng lên

Trang 18

khoảng 4,9% đạt mức 212,7 triệu tấn.

1.2.2.2 Ở Việt Nam

Theo Trương Hợp Tác (2009), từ năm 1985 tới 2009, diện tích gieotrồng của nước ta chỉ tăng 57,7%, nhưng lượng phân bón sử dụng tăng tới51,7% Theo tính toán, lượng phân vô cơ sử dụng tăng mạnh trong vòng 20năm qua, tổng các yếu tố dinh dưỡng đa lượng N+P2O5+K2O năm 2007 đạttrên 2,4 triệu tấn, tăng gấp hơn 5 lần so với lượng sử dụng của năm 1985

Xuất khẩu phân bón của Việt Nam trong năm 2014 đạt khoảng 1,078triệu tấn các loại, kim ngạch 383,7 triệu USD, tăng nhẹ 0,51% về lượngnhưng giảm 8,06% về giá trị so với cùng kỳ năm 2013

Theo Đào Minh Tin (2015) từ lâu đời nông dân nước ta có thói quendùng phân hữu cơ để bón cho cây trồng (cây phân xanh, bộ đậu, điền thanh,

cố khí, bèo dâu và phân chuồng) Khi công nghệ supephosphate ra đời, nềncông nghiệp hóa học phân bón xuất hiện làm thay đổi bộ mặt sản xuất nôngnghiệp, năng xuất và sản lượng cây trồng tăng Từ năm 1960 nông dân nước

ta mới thực sự chuyển hướng kết hợp dụng phân bón hóa học chứa “N-P-K”với phân hữu cơ để cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng

Theo Nguyễn Như Hà (2013) nhu cầu phân bón dự báo năm 2015 là3.020.000 tấn và năm 2020 là 3.351.000 tấn

Trang 19

Bảng 1.4: Nhu cầu phân bón thương phẩm ở Việt Nam đến năm 2020

Nguồn: Nguyễn Như Hà,2013

1.2.3 Vai trò của phân bón trong sản xuất nông nghiệp

Vai trò của phân bón đối với năng suất cây trồng:

Nông dân Việt Nam sử dụng phân hữu cơ từ lâu Trước giải phóng miền Bắc nền nông nghiệp nước ta chủ yếu là nền nông nghiệp hữu cơ Bìnhquân mỗi vụ bón cho 1 ha cây trồng khoảng 5 – 6 tấn phân hữu cơ Hiện nayước tính cũng chỉ bón được 5 – 6 tấn, trừ một số vùng thâm canh cao lượngbón đạt trên 10 tấn/ha Ở một số vùng do chăn nuôi giảm sút nên lượng bónthấp hơn nhiều hoặc cấy chay không phân chuồng (Phạm Đình Quyền, 1995)

Theo Lê Văn Chi (2001) phân bón là những chất cung cấp dinh dưỡngcho cây, là phương tiện tốt nhất để tăng sản lượng và cải thiện chất lượng củalương thực, thực phẩm Dùng phân bón sẽ cho hiệu quả sản xuất cao nhất trêncác loại đất, bổ sung dinh dưỡng cho đất nhằm thoả mãn đòi hỏi của các câytrồng có tiềm năng về năng suất, bù đắp chất dinh dưỡng mà cây dùng để sinhlợi hoặc đã bị rửa trôi, khắc phục các điều kiện bất lợi hoặc duy trì các điềukiện thuận lợi cho cây trồng không nhữn đối với loại đất phì nhiêu hoặc đãđược cải tạo mà ngay cả với đất kém màu mỡ, cây trồng cũng đượng tăngtrưởng tốt hơn

Bảng 1.5: Đóng góp của các nhân tố đối với tăng sản lượng trồng trọt

Trang 20

(%) Tăng năng xuất

- Phân lân: làm tăng phẩm chất các loại rau, cỏ làm thức ăn gia súc vàchất lượng hạt giống

- Phân đạm làm tăng rõ hàm lượng protein và caroten trong sản phẩm,

và làm hàm lượng xenlulo giảm xuống

Bảng 1.6: Bón phân đạm làm tăng năng suất và hàm lượng protein trong

hạt ngô

Lượng đạm bón

(kg/ha)

Năng suất hạt (tấn/ha)

Hàm lượng protein trong hạt (%)

Nguồn: Nguyễn Như Hà và cs, 2010

Bón phân cân đối và hợp lý cho cây trồng không chỉ làm tăng năng suất

mà còn làm tăng chất lượng sản phẩm về hàm lượng các chất khoáng, protein,đường và vitamin

Trang 21

1.2.4 Ảnh hưởng của phân bón tới môi trường sinh thái và sức khỏe con người

Theo Nguyễn Đình Mạnh (1996), khoảng 50-60% số lượng N bón vàođất dưới dạng vô cơ được cây sử dụng, một số không lớn chuyển thành dạnghữu cơ hoặc keo đất hấp thụ, một số bị rửa trôi tuỳ theo lượng mưa, cách tướinước và lý tính đất khoảng 30% lượng lân và kali bón vào đất được cây sửdụng do lân và kali sau khi hoà tan vào đất có khả năng chuyển từ dạng hoàtan trong nươc sang dạng ít hoà tan hoặc khó hoà tan nên lượng lân và kaly bịrửa trôi đi cũng không đáng kể, thường dưới 10 % Kali khi bón vào đấtthường tồn tại linh động, ngoài lượng được cây sử dụng, phần lớn kaly tồn dưtrong đất, nước mặt và nước ngầm, nồng độ kali dư thừa trong đất gây hạicho đất, K+ dẫn đến tăng áp suất thẩm thấu của đất, khả năng cung cấp nước

từ đất kém đi, làm cây trồng bị mất nước, chống hạn yếu, khả năng cung cấpdinh dưỡng từ đất cũng kém đi

Trong thuốc BVTV và phân bón NPK có chứa một số kim loại nặng.Trong quá trình tưới tiêu, các kim loại nặng này bị rửa trôi xuống ao hồ, sôngrạch, thâm nhập vào mạch nước ngầm gây ô nhiễm nguồn nước tưới Nguồnnước thải của thành phố và các khu công nghiệp chứa nhiều kim loại nặngchuyển trực tiếp vào rau tươi

Trang 22

Bảng 1.7: Hàm lượng các kim loại nặng trong một số phân bón thông thường

Theo Nguyễn Văn Bộ (1999) không những việc sử dụng quá nhiềuphân bón gây ô nhiễm môi trường mà sử dụng không cân đối các loại phâncũng ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường đất, nước ngần và nước tưới Bónphân không đúng kỹ thuật còn làm đất bị thoái hoá nhanh Liều lượng phânđạm làm tằng nitrat trong nước uống, trong rau quả, tuy nhiên nitrat có thể tạo

ra từ hữu cơ đất, phân chuồng, phế phụ phẩm nông nghiệp, quá trình tích luỹlân và đạm trong ao hồ gây phú dưỡng nguồn nước Việc phú dưỡng làmrong, rêu trong ao hồ phát triển và gây ra sự suy giảm nghiêm trọng oxi hoàtan trong nước khi tảo chết, quá trình phân huỷ càng làm nước thiếu ôxi, gâymùi hôi thối khó chịu

Đồng thời bón phân qua nhiều năm thường gây những ảnh hưởng tốthay xấu đến độ phì của đât, do đó ảnh hưởng đến năn suất và kết quả trồngtrọt không những một vụ mà cả nhiều năm về sau Khi đất đã xấu đi, việckhôi phục lại đất tốn kém và khó lòng trở lại như cũ Phân bón có ảnh hưởng

Trang 23

đến độ dầy tầng đất, kết cấu khả năng giữ chất dinh dưỡng và vi sinh vậttrong đất Phân vô cơ ảnh hưởng xấu đến lý tính của đất do sử dụng khônghợp lý Khi sử dụng phân vô cơ năng suất tăng, tàn dư thực vật tăng, số tàn

dư đó không được trả lại trong đất mà bị đốt đi hoặc mang đi nơi khác Khibón nhiều đạm, hoạt động cố định N của vi sinh vật cố định đạm tự do có thể

bị ức chế (Chu Thị Thơm, Phạm Thị Lài, Nguyễn Văn Tó, 2006)

Ảnh hưởng của phân bón đến con người:

Theo Lê Thái Hà (2014), thực ra NO3- không độc nhưng khi nó bị khửthành NO2- trong cơ thể nó trở nên rất độc Trong hệ thống tiêu hóa NO3- bị khửthành NO2-, là một chất chuyển biến oxyheamo - globin thành chất không hoạtđộng được gọi là Methaemoglobin Ở mức cao NO2- sẽ làm giảm hô hấp của tếbào, ảnh hưởng tới họat động của tuyến giáp gây ra đột biến và phát triển cáckhối u Đây là những hậu quả vô cùng nghiêm trọng đối với con người

Phân bón hữu cơ có phân chuồng và bã thải vệ sinh, nước thải từ khudân cư luôn mang theo những VSV, vi trùng, siêu vi trùng, trứng và ấu trùnggiun, sán Tất cả các loài đó cùng với sự phân hủy các loại phân hữu cơ kháctrong môi trường sẽ tạo điều kiện cho chúng phát triển hơn nếu không có biệnpháp xử lý triệt để Các sinh vật như giun đũa, giun móc, vi khuẩn E.Coli vàSamonella khi thâm nhập vào cơ thể sẽ gây các bệnh đường ruột, ngoài ra còncác triệu chứng thiếu máu, bệnh ngoài da Nguyên nhân, dùng nước phân tươihoặc nguồn nước bẩn tưới cho rau làm rau nhiễm các sinh vật gây bệnh

1.3 Tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật

1.3.1 Khái quát về thuốc BVTV

1.3.1.1 Khái niệm về thuốc BVTV

Để đáp ứng nhu cầu lương thực ngày càng tăng do việc bùng nổ dân số,cùng với xu hướng đô thị hóa và công nghiệp hóa ngày càng mạnh, con ngườichỉ có cách duy nhất: thâm canh để tăng sản lượng cây trồng Khi thâm canhcây trồng, một hậu quả tất yếu không thể tránh được là mất cân bằng sinh

Trang 24

thái, kéo theo sự phá hoại cua dịch hại ngày càng tăng Để giảm thiệt hại dodịch hại gây ra, con người phải đầu tư thêm kinh phí để tiến hành các biệnpháp phòng trừ, trong đó biện pháp sử dụng thuốc bảo vệ thực vật đực coi làquan trọng (Nguyễn Trần Oánh, 2007).

Theo Trần Văn Hai (2013) thì thuốc bảo vệ thực vật hay nông dược lànhững chất độc có nguồn gốc từ tự nhiên hay hóa chất tổng hợp được dùng đểbảo vệ cây trồng và nông sản, chống lại sự phá hoại của những sinh vật gây hạiđến tài nguyên thực vật Những sinh vật gây hại chính gồm sâu hại, bệnh hại, cỏdại, chuột và các tác nhân khác

1.3.1.2 Phân loại thuốc BVTV

Việc phân loại thuốc BVTV có thể được thực hiện theo nhiều cách khácnhau như phân loại theo đối tượng phòng trừ hoặc theo gốc hóa học Các thuốc

có nguồn gốc khác nhau thì tính độc và khả năng gây độc cũng theo đó mà khácnhau Theo Nguyễn Trần Oánh (2007), phân loại thuốc BVTV như sau:

Phân loại theo nguồn gốc

- Thuốc có nguồn gốc thảo mộc: Bao gồm các thuốc BVTV làm từ cây

cỏ hay các sản phẩm chiết xuất từ cây cỏ có khả năng tiêu diệt dịch hại

Thuốc có nguồn gốc sinh học: Gồm các loài sinh vật (các loài ký sinh thiênđịch), các sản phẩm có nguồn gốc sinh vật (các loại kháng sinh) có khả năngtiêu diệt dịch hại

- Thuốc có nguồn gốc vô cơ: Bao gồm các hợp chất vô cơ: boocdo, lưuhuỳnh, lưu huỳnh vôi…có khả năng tiêu diệt dịch hại

- Thuốc có nguồn gốc hữu cơ: Bao gồm các hợp chất hữu cơ tổng hợp

có khả năng tiêu diệt dịch hại như: các hợp chất clo hữu cơ, lân hữu cơ,cacbamat…

Phân loại theo con đường xâm nhập

- Các thuốc lưu dẫn: Furadan, Aliette…

- Các thuốc tiếp xúc: Sherpa, Cypermethrin, Sumialpha…

Trang 25

- Các thuốc vị độc: Trichlorfon, Decamethrin…

- Các thuốc xông hơi: Methyl Bromide, Chloropicrin…

Phân loại theo đối tượng phòng trừ

- Thuốc trừ sâu: gồm các chất hay hỗn hợp các chất có tác dụng tiêudiệt, xua đuổi hay di chuyển bất kỳ loại côn trùng nào có mặt trong môitrường Chúng được dùng để diệt trừ hoặc ngăn ngừa tác hại của côn trùngđến cây trồng, cây rừng, nông lâm sản, gia súc và con người

- Thuốc trừ bệnh: bao gồm các hợp chất có nguồn gốc hóa học (vô cơ vàhữu cơ), sinh học (vi sinh vật và các sản phẩm của chúng, nguồn gốc thực vật),

có tác dụng ngăn ngừa hay diệt trừ các loài vi sinh vật gây hại cho cây trồng vànông sản (nấm ký sinh, vi khuẩn, xạ khuẩn) bằng cách phun lên bề mặt cây, xử

lý giống và xử lý đất…Thuốc trừ bệnh dùng để bảo vệ cây trồng trước khi bị cácloài vi sinh vật gây hại tốt hơn là diệt nguồn bệnh và không có tác dụng chữa trịnhững bệnh do những yếu tố phi sinh vật gây ra (đất úng, hạn, thời tiết…).Thuốc trừ bệnh bao gồm cả thuốc trừ nấm và thuốc trừ vi khuẩn

- Thuốc trừ chuột: là những hợp chất vô cơ, hữu cơ; hoặc có nguồn gốcsinh học có hoạt tính sinh học và phương thức tác động rất khác nhau, đượcdùng để diệt chuột gây hại trên ruộng, trong nhà, kho tàng… và các loài gặmnhấm Chúng tác động đến chuột chủ yếu bằng con đường vị độc và xông hơi

- Thuốc trừ nhện: những chất được dùng chủ yếu để trừ nhện hại câytrồng và các loài thực vật khác, đặc biệt là nhện đỏ Hầu hết thuốc trừ nhệnthông dụng hiện nay đều có tác dụng tiếp xúc Đại đa số thuốc trong nhóm lànhững thuốc đặc biệt có tác dụng diệt nhện, có khả năng chọn lọc cao, ít gâyhại cho côn trùng có ích và thiên địch Nhiều loại trong chúng còn có tác dụngtrừ trứng và nhện mới nở, một số khác còn diệt nhện trưởng thành Nhiều loạithuốc trừ nhện có thời gian hữu hiệu dài, ít độc với động vật máu nóng Một

số thuốc trừ nhện nhưng cũng có tác dụng trừ sâu, một số thuốc trừ sâu, trừnấm cũng có tác dụng trừ nhện

Trang 26

- Thuốc trừ tuyến trùng: các chất xông hơi và nội hấp được dùng để xử lýđất trước tiên, trừ tuyến trùng rễ cây trồng, trong đất, hạt giống và cả trong cây.

- Thuốc trừ cỏ: các chất được dùng để trừ các loài thực vật cản trở sựsinh trưởng của cây trồng, các loài thực vật mọc hoang dại trên đồng ruộng,quanh các công trình kiến trúc, sân bay, đường sắt…và gồm cả các thuốc trừrong rêu trên ruộng, kênh mương Đây là nhóm thuốc dễ gây hại cho câytrồng nhất Vì vậy khi dùng các thuốc trong nhóm này phải đặc biệt cẩn trọng

1.3.2 Tình hình sản xuất và sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật trên thế giới

và ở Việt nam

1.3.2.1 Trên thế giới

Theo Nguyễn Trần Oánh (2007) mặc dù sự phát triển của biện pháphóa học có nhiều lúc thăng trầm, song tổng giá trị tiêu thụ thuốc BVTV trênthế giới và số hoạt chất tăng lên không ngừng, số chủng loại ngày càng phongphú Nhiều thuốc mới và dạng thuốc mới an toàn hơn với môi sinh môitrường liên tục xuất hiện bất chấp các qui định quản lý ngày càng chặt chẽ củacác quốc gia đối với thuốc BVTV và kinh phí đầu tư cho nghiên cứu để mộtloại thuốc mới ra đời ngày càng lớn.Trong 10 năm gần đây tổng lượng thuốcBVTV tiêu thụ có xu hướng giảm, nhưng giá trị của thuốc tăng không ngừng.Nguyên nhân là cơ cấu thuốc thay đổi Nhiều loại thuốc cũ, giá rẻ, dùng vớilượng lớn, độc với môi sinh môi trường được thay thế dần bằng các loại thuốcmới hiệu quả, an toàn và dùng với lượng ít hơn, nhưng lại có giá thành cao.Tuy vậy, mức đầu tư về thuốc BVTV và cơ cấu tiêu thụ các nhóm thuốc tùythuộc trình độ phát triển và đặc điểm canh tác của từng quốc gia

Theo Nguyễn Đình Mạnh (2000), thống kê điều tra 1990-1991, thế giới

có khoảng 900-1000 loại chính với khoảng 5.000 chế phẩm, dẫn xuất khácnhau Sản lượng thuốc BVTV trên toàn cầu đạt tới hàng triệu tấn Gần đây,những hóa chất độc hại dần bị loại bỏ khỏi thị trường và thay vào đó là cácloại ít độc hơn với môi trường và con người

Trang 27

1.3.2.2 Ở Việt Nam

Ở Việt Nam, thuốc BVTV thực sự có ý nghĩa trong sản xuất nôngnghiệp trong hơn 40 năm qua (miền Bắc từ năm 1956, miền Nam từ năm1962) Tuy lịch sử sử dụng thuốc BVTV ở nước ta chưa dài song bước đicũng giống như nhiều nước khác (Hải Yến, 2006)

Việc thành lập Tổ Hóa BVTV (1/1956) của Viện Khảo cứu trồng trọt

đã đánh dấu sự ra đời của ngành Hóa BVTV ở Việt Nam Thuốc BVTV được

dùng lần đầu trong sản xuất nông nghiệp ở miền Bắc là trừ Dicladispa armigera (bọ gai hại lúa), Pelopidas mathias (sâu cuốn lá lớn hại lúa) bùng

phát ở Hưng Yên (vụ Đông Xuân 1956 - 1957) Ở miền Nam, thuốc BVTVđược sử dụng từ 1962 Và sau này lượng thuốc BVTV tiêu thụ qua các nămđều tăng Nhiều loại thuốc mới và các dạng thuốc mới, hiệu quả hơn, an toànhơn với môi trường được nhập Một mạng lưới phân phối thuốc BVTV rộngkhắp cả nước đã hình thành, việc cung ứng thuốc đến nông dân rất thuận lợi Giai đoạn từ 1990 đến nay, nhờ chính sách đổi mới năm 1986, thị trường hóachất BVTV có thay đổi, nên kinh tế thị trường phát triển, nguồn hàng hóaphong phú Năm 1991 tỉ lệ hóa chất trừ sâu chiếm 83,3% hóa chất trừ nấmchiếm 9,5%, hóa chất diệt cỏ 4,1% và những loại khác 3,1% (Đỗ VănHòa,2005)

Bộ NN & PTNT năm 2015 đã ký Thông Tư 03/2015/TT-BNNPTNT(29/01/2015) về Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng, cấm sửdụng và công bố mã HS đối với thuốc BVTV được phép sử dụng, cấm sửdụng ở Việt Nam Thống kê sơ bộ qua Thông Tư vừa nêu trên cho thấy, trongdanh mục sử dụng thuốc BVTV cho phép sử dụng ở Việt Nam có đến 13nhóm thuốc, 2.281 hoạt chất và 4.665 tên thương mại Trong đó, tên thươngmại thuốc trừ sâu (1.690), thuốc trừ bệnh (1.295), thuốc trừ cỏ (678), thuốcđiều hòa sinh trưởng (143), và thuốc trừ ốc (141) chiếm tỷ trọng lớn Bêncạnh đó, thị trường thuốc BVTV ở Việt Nam rất đa dạng về sản phẩm, từ mẫu

Trang 28

mã đến chất lượng sản phẩm Sản phẩm từ nhiều nguồn cung cấp như: Mỹ,Thụy Sĩ, Nhật Bản, Ấn Độ, Trung Quốc, Đức, và kể cả các loại thuốc giả donhững người ham lợi nhuận sản xuất Do quá nhiều nguồn hàng, mạng lướilưu thông quá rộng đã gây khó khăn cho công tác quản lý; số lượng và tênhoạt chất quá nhiều (4.665 tên thành phẩm), kiến thức của người dân về thuốcBVTV còn hạn chế, thông tin về sử dụng thuốc BVTV đến người dân chủ yếubằng đường quảng cáo, hội thảo giới thiệu sản phẩm của công ty, và từ cácđại lý bán lẻ thuốc BVTV Do đó khó tránh khỏi tình trạng sử dụng thuốckhông đúng cách, lạm dụng thuốc, tư tưởng ỷ lại vào biện pháp hóa học ởngười dân, và hậu quả là đã để lại những tác động xấu cho sản xuất, môitrường và sức khoẻ con người.

Bảng 1.8: Thống kê hoạt chất và tên thương mại của các nhóm thuốc

BVTV đươc phép sử dụng tại Việt Nam 2015

1.3.3 Vai trò của thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp

Theo Lê Thị Phương Thảo (2011), thuốc BVTV đóng một vai trò quantrọng trong sản xuất nông nghiệp với nhiều ưu điểm nổi trội: Có thể diệt dịchbệnh nhanh, triệt để, đồng loạt trên diện tích rộng và chặn đứng những chận

Trang 29

dịch trong thời gian ngắn mà biện pháp khác không thể thực hiện; đem lạihiệu quả phòng trừ rõ rệt, kinh tế, bảo vệ năng suất cây trồng, cải thiện chấtlượng nông sản và mang lại hiệu quả kinh tế, đồng thời giảm được diện tíchcanh tác; đây là biện pháp dễ dùng, có thể áp dụng ở nhiều vùng khác nhauđem lại hiệu quả ổn định và nhiều khi biện pháp phòng trừ là duy nhất; làmtăng năng suất và chỉ tiêu cấu thành năng suất; làm tăng sức chống chịu củacây với những điều kiện bất lợi như chống rét, chống hạn, chống lốp đổ, tăngkhả năng hút chất dinh dưỡng và tăng khả năng chống chịu sâu bệnh.

Thuốc BVTV xâm nhập, dịch chuyển và tồn tại trên các bộ phận củacây, tác động đến sinh trưởng và phát triển của cây

Những tác động tốt của thuốc đến cây như:

-Rút ngắn thời gian sinh trưởng, làm cây ra hoa sớm, làm quả chín sớm.-Tăng chất lượng nông sản

-Làm tăng năng suất và các chỉ tiêu cấu thành năng suất

-Làm tăng sức chống chịu của cây với những điều kiện bất lợi: nhưchống rét, chống hạn, chống lốp đổ, tăng khả năng hút chất dinh dưỡng vàtăng khả năng chống sâu bệnh

Thuốc trừ nấm Edifenphos (Hinosan) ngoài tác dụng trừ đạo ôn trênlúa, còn làm cho các đốt gốc lúa ngắn lại, cây chống được lốp đổ

Thuốc trừ bệnh oxolinic acid (Starner) trừ được bệnh vi khuẩn do thuốc làmtăng sức chống chịu của cây đối với sự gây hại của các loài vi khuẩn

Thuốc kháng sinh trừ bệnh Ningnanmycin cũng làm tăng sức chốngbệnh của cây thông qua việc giảm thời gian tồn tại của các tinh thể virus cótrong cây, nên giảm sự lây lan của vi rút

-Làm tăng hoạt động của vi sinh vật và có tác động cải tạo đất tốt

1.3.4 Ảnh hưởng của thuốc bảo vệ thực vật tới môi trường sinh thái và sức khỏe con người

Theo Nguyễn Trần Oánh (2007), thuốc BVTV cũng là một trong những

Trang 30

nhân tố gây mất ổn định môi trường Do bị lạm dụng, thiếu kiểm soát, dùng saigây lên nhiều mặt tiêu cực của thuốc BVTV đã được bộc lộ: phun nhiều làmtăng lượng thuốc thừa tích đọng trong đất, sau nhiều lần sử dụng, lượng tích luỹnày có thể cao đên mức gây độc cho môi trường đất, nước, không khí.

Dư lượng thuốc trong quá trình tiêu diệt sâu, côn trùng, nấm, bệnh vàcác loại gặm nhấm phá hoại mùa màng cũng như quá trình tiêu diệt cỏdại đồng thời gây ra các hiệu ứng khác Môt khía cạnh quan trọng nhất cóthể nhận thấy là khi tiêu diệt côn trùng phá hoại mùa màng, các HCBVTV đãtiêu diệt thiên địch Những loài côn trùng có lợi (thiên địch) này đều thuộcbậc dinh dưỡng từ bậc 2 trở lên Sau khi phun thuốc, các quần thể sâu hạiphục hồi nhanh hơn vì chúng đều là sinh vật tiêu thụ bậc 1, lấy năng lượngdinh dưỡng từ thức vật Còn côn trùng và các sinh vật có ích khác phục hồimật độ của mình chậm hơn, vì phải chờ cho sâu hại tăng lên thì mới đủ thức

ăn cho cho sự tăng trưởng quần thể Điều này sẽ dẫn đến sự mất cân bằng sinhthái giữa sâu hại và thiên địch sau mỗi lần phun thuốc, từ đó tạo cơ hội chocác quần thể sâu hại bùng nổ thành dịch Điểm thứ hai là khả năng khángthuốc của côn trùng Khi một nhóm hoặc một loại côn trùng quen với một loạiHCBVTV, chúng sẽ trơ dần và kết quả là con người phải tăng lượng thuốc sửdụng Qúa trình tăng thêm lượng thuốc đồng thời cũng làm tăng tồn dư củathuốc trong môi trường Hiện tượng thứ ba xảy ra là thuốc BVTV trong quátrình tồn tại lại tác động vào hệ VSV đất, giun đất làm một số loài bị chếthoặc yếu đi từ đó làm cân bằng trong hệ sinh thái đất bị phá vỡ, ảnh hưởng tớitính chất đất lâu dài Thứ tư là ảnh hưởng của thuốc BVTV đến hệ thủy sinh ,

sự tích đọng thuốc BVTV vào nước mặt (sông ngòi, ao hồ ) đã trực tiếp ảnhhưởng đến động vật thủy sinh, làm nhiều loài đã bị tiêu diệt Thứ năm là ảnhhưởng gián tiếp của tồn dư thuốc BVTV trong sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi

và thủy sản Ảnh hưởng đó làm cho tính chất tự nhiên, tính chất cân đối và độsạch của chuỗi thức ăn bị mất đi, hệ quả cuối cùng là chính con người phải

Trang 31

tiếp nhận: con người bị tích đọng dần dư lượng thuốc BVTV qua chuỗi thức

ăn sẽ dẫn đến nhiều đột biến nguy hiểm

1.4 Vai trò của giun đất trong sản xuất rau

1.4.1 Vai trò của giun đất

Giun đất (Oligochaeta), là nhóm động vật hoại sinh, giữ vai trò đặc biệtquan trọng trong quá trình phân hủy xác vụn thực vật và chuyển hóa vật chấthữu cơ trong đất Trong ống tiêu hóa của chúng, xác vụn thực vật và hữu cơtrước hết được nghiền cơ học, sau đó lại tiếp tục được phân giải hóa học nhờnhiều loại dịch và men tiêu hóa

Theo Nguyễn Văn Khánh (2012), giám sát chất lượng môi trường đất làhết sức cần thiết trong việc đánh giá và đảm bảo sự bền vững trong hoạt độngcanh tác nông nghiệp Trong những thập niên gần đây, các loài giun đất đãđược nghiên cứu sử dụng như đối tượng quan trắc chất lượng môi trường đất

bổ trợ cho phương pháp lý hóa mang lại hiệu quả cao Nếu xét về thành phầnloài và sự biểu hiện về số lượng thì giun đất là nhóm động vật không xươngsống có khả năng chỉ thị rất tốt cho chất lượng của môi trường đất, cho độ phìnhiêu đất,cho nguồn gốc phát sinh và mức độ biến đổi của cảnh quan bởi giunđất đóng vai trò quan trọng trong việc cấu thành và duy trì độ phì của đất

Theo Saclơ Đacuyn ông đã phát hiện giun đất có thể ăn hàng ngày bằngchính khối lượng của nó, ước tính cứ 10 năm lượng đất do giun xáo trộn cóthể rải một lớp dày 5cm lên khắp diện tích bề mặt trái đất Một số tác giả chorằng khi có giun đất, chúng đào hang có khả năng ngấm nước vào sâu tronglòng đất tránh xói mòn, giữ được độ ẩm làm cho đất tơi xốp, giúp vi khuẩn,nấm đất hoạt động tốt hơn, đồng thời giun đất tham gia phân giải mùn đưavào đất làm đất ngày càng màu mỡ hơn Trong phân giun chứa lượng lớnPhotpho trao đổi, đạm amon (NH4), mùn, axit canxi C.Darwin đã nhận xétmột cách rất hình tượng và chính xác “cái cày là một trong số những phátminh cổ nhất và có ý nghĩa nhất của con người, nhưng trước đó rất lâu, đất

Trang 32

được giun đất cày xới và sẽ còn mãi được giun đất cày xới”.

Ở Việt Nam, giun đất được sử dụng làm nguồn đạm vỗ béo gà, vịt,lợn… dùng chữa bệnh sốt rét, suy nhược cơ thể… Bên cạnh đó, nó còn đượcxem là sinh vật chỉ thị cho các thay đổi trong môi trường đất

Theo Huỳnh Thị Kim Hối (2000) cho rằng giun đất như yếu tố chỉ thịmôi trường (thành phần cơ giới, pH, thay đổi cảnh quan theo hướng thuận haynghịch do can thiệp của con người, chỉ thị nguồn gốc của một vùng đất) Nếu

sử dụng thuốc trừ sâu ở nồng độ cao sẽ giết chết hoặc xua đuổi giun xuốnglớp đất sâu, làm ảnh hưởng đến hệ sinh thái đất và gây thoái hóa cây trồng

Ngoài ra dựa trên cơ sở thành phần loài và các biểu hiện về số lượng,người ta còn dùng giun đất như một nhóm động vật chỉ thị cho các vùng đấthoặc mức độ thay đổi của cảnh quan, còn nếu dựa vào phân bố của từng loàigiun đất có thể chỉ thị cho tính chất của đất như Pheretima posthuma thườnggặp ở đất cát pha, Pheretima elongata ở đất nặng, Pontoscolex corethrurus ởđất nghèo mùn và chua Giun đất cũng là những mắt xích vật chất quan trọngtrong các chuỗi và lưới thức ăn góp phần khép kín chu trình tự nhiên

1.4.2 Mối quan hệ giữa các chỉ số sinh học của giun đất với đặc tính lý hóa môi trường đất

Mức độ tương quan giữa các chỉ tiêu lý hóa và các chỉ số sinh học làtiêu chí quan trọng nhằm đánh giá khả năng phản ánh chất lượng môi trườngcủa giun đất Kết quả phân tích tương quan giữa hàm lượng OM với sinh khốigiun đất và các chỉ số đa dạng loài (H’, DMg, J) cho thấy, hàm lượng chấthữu cơ trong đất có tương quan thuận ở mức trung bình với sinh khối giun đất(r = 0,35, pvalue = 0,06) và chỉ số H’ (r = 0,36, pvalue = 0,05); ở mức tươngquan yếu với chỉ số DMg, (r = 0,25, pvalue = 0,18) và chỉ số J (r = 0,26,pvalue = 0,16) Kết quả phân tích tương quan cũng cho thấy, hàm lượng Ntstrong đất tương quan thuận với sinh khối giun đất, chỉ số H’, DMg và J, tuynhiên hệ số tương quan thấp Cụ thể, hệ số tương quan giữa hàm lượng Nts

Trang 33

với sinh khối giun đất với hệ số r = 0,09, pvalue = 0,647 với H’, DMg và J với

hệ số tương quan lần lượt là r = 0,283, pvalue = 0,129; r = 0,279, pvalue =0,136 và r = 0,265, pvalue = 0,15 Hàm lượng Pts tương quan thuận tương đốichặt với sinh khối của giun đất với hệ số tương quan là r = 0,54, pvalue =0,02, trong khi đó lại có tương quan nghịch ở mức trung bình với các chỉ sốH’, DMg và J (r = -0,38, pvalue = 0,038; r = -0,396, pvalue = 0,03 và r = -0,43, pvalue = 0,017) (Tạp chí sinh học, 2012)

Kết quả nghiên cứu của Huỳnh Thị Kim Hối và nnk (2007) tại vườn quốcgia Tam Đảo, cho thấy, hàm lượng %OM ảnh hưởng đến sự phân bố theo tầng đấtkhác nhau của giun đất và có mối tương quan thuận với giun đất Pts tỷ lệ thuậnvới sự biến động về số lượng loài, mật độ và sinh khối của giun đất

Theo kết quả nghiên cứu của Buckerfield et al (1996) tại Australia,giun đất được sử dụng như một chỉ số tiềm năng của tính bền vững dựa vào kếtquả điều tra trên 95 mảnh đất gieo lúa mì, lúa mạch và đậu Hà Lan với diệntích khoảng 3500 km2 Nghiên cứu trên cũng khẳng định, sự phong phú về giunđất và cường độ canh tác trên đất tương quan nghịch với nhau (r = - 0,69).Đồng thời cho thấy, có sự tương quan thuận giữa việc bón phân N với số lượnggiun đất (r = 0,48) và sinh khối của giun đất (r = 0,43) Lượng chất hữu cơ tănglên, tỷ lệ với việc việc bổ sung phân bón N (r = 0,48), nhưng không tương quanvới việc bổ sung phân bón P Kết quả phân tích tương quan trong nghiên cứunày tại khu vực Cẩm Lệ, Đa Mặn và Hồ Bứa cho thấy, chỉ số sinh khối giun đất

có tương quan ở mức trung bình đến tương đối chặt với các chỉ tiêu %OM vàPts, điều này cho thấy có thể sử dụng chỉ số sinh khối giun đất để đánh giá vềhàm lượng dinh dưỡng P và chất hữu cơ trong đất trồng rau

1.4.3 Ảnh hưởng của các yếu tố sản xuất đến giun đất trong sản xuất rau ở nước ta

Theo thông tư số 48/2012/TT-BNNPTNT quy định về chứng nhận sảnphẩm thủy sản, trồng trọt, chăn nuôi được sản xuất, sơ chế phù hợp với Quy

Trang 34

trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt Các yếu tố đầu vào trong sản xuấtrau bao gồm: Giống, đất và giá thể, phân bón và chất phụ gia, nước tưới,thuốc BVTV và hóa chất khác Trong các yếu tố đầu vào này, phân bón vàthuốc BVTV là những yếu tố khó kiểm soát nhất và ảnh hưởng tới số lượnggiun đất nhiều nhất.

Các loại thuốc BVTV và phân bón đã và đang là những nguyên nhânđóng góp vào công việc làm giảm số lượng nhiều loài sinh vật có ích, làmgiảm tính đa dạng sinh học

Theo báo cáo của một nhóm nghiên cứu Đan Mạch/Pháp sau khi thựchiện nghiên cứu những con giun đất đã bị tiếp xúc với thuốc trừ sâu qua nhiềuthế hệ cho biết: Thuốc trừ sâu có tác động trực tiếp đến đặc tính sinh lý vàhành vi của giun đất Nhóm nghiên cứu nhận thấy rằng, những con giun đãtriển khai các biện pháp để tự giải độc, để chúng có thể sống được trong đấtphun thuốc diệt nấm Chúng dành rất nhiều năng lượng vào việc giải độc, vàchính vì vậy những con giun này không đạt được kích thước giống như cáccon khác, và có rất ít giun đất trong đất trồng được phun thuốc Một giải thích

có thể là chúng ít thành công trong sinh sản, bởi vì chúng sử dụng năng lượngcủa mình vào việc giải thuốc trừ sâu (Nicolas Givaudan và Claudia Wiegand,2014) Thuốc BVTV khi sử dụng được phun vào cây rau mục đích là tiêu diệtnhững vi sinh vật gây hại cho cây, nhưng số lượng thuốc vi sinh vật tiêu diệtchỉ khoảng 50% lượng thuốc sử dụng, 50% còn lại rơi vãi trên mặt đất, sau đóthuốc sẽ hòa tan vào đất gây ô nhiễm môi trường đất, nước và đặc biệt ảnhhưởng đến những sinh vật sống trong môi trường đó Lượng dư thuốc BVTVtồn dư trong đất, gây hại đến các sinh vật có ích trong đất, chúng làm nhiệm

vụ phân hủy, chuyển hóa các hóa chất bảo vệ thực vật, các chất hữu cơ thànhkhoáng chất đơn giản, thành các dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng Trongđất canh tác, tập đoàn những động vật không xương sống đã góp phần đáng

kể vào việc duy trì độ màu mỡ của đất Đáng quan tâm nhất là loài giun đất

Trang 35

sống trong đất với số lượng lớn Ngoài tác dụng là đất tơi xốp, thóng, giun đấtcòn cùng với các loài động vật khác tạo nên một sinh khối lớn trong đất, gópphần đáng kể trong việc duy trì màu mỡ của đất Việc sử dụng thuốc BVTVquá mức đã làm cho tập đoàn giun đất trong đất canh tác rau suy giảm mộtcách đáng kể, đó cũng là nguyên nhân làm cho chất lượng rau giảm đi.

Chúng ta biết rằng cây chỉ sử dụng hữu hiệu tối đa 30% lượng phânbón vào đất Còn lại, phần thì bị rửa trôi, phần thì nằm lại trong đất và gây ônhiễm môi trường đất tại chỗ, ảnh hưởng đến hệ sinh thái trong đất Ngàynay, để đảm bảo giá thành sản phẩm nên đa số phân bón đều chứa tạp chấtkhông thể loại bỏ hết (các kim loại và các hóa chất như: As, Cd, Co, Cu, Pb,Zn ) Do vậy khi sử dụng phân bón trong thời gian dài các chất này sẽ tíchlũy trong đất gây ảnh hưởng xấu đến môi trường đất và sinh vật trong đất, đặcbiệt là loài giun đất Việc bón phân không đúng kĩ thuật cũng làm cho sốlượng loài giun đất giảm rõ rệt

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

Trang 36

Phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất rau tại xã Đặng Xá,huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội

Giun đất trong sản xuất rau tại xã Đặng Xá, huyện Gia Lâm, thành phố

Đề tài tập trung nghiên cứu hiện trạng sử dụng phân bón và thuốc bảo

về thực vật tại mô hình sản xuất rau truyền thống và mô hình sản xuất rau antoàn tại xã Đặng xá, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội Đồng thời, nghiêncứu so sánh ảnh hưởng của chúng đến số lượng giun đất giữa hai mô hình sảnxuất rau trên địa bàn xã

2.3 Nội dung nghiên cứu

2.3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội xã Đặng Xá, huyện Gia Lâm, thànhphố Hà Nội

2.3.2 Tình hình sản xuất nông nghiệp và sản xuất rau tại xã Đặng Xá, huyệnGia Lâm, thành phố Hà Nội

2.3.3 Thực trạng sử dụng phân bón trong sản xuất rau ở xã Đặng Xá, huyệnGia Lâm, thành phố Hà Nội

2.3.4 Thực trạng sử dụng thuốc BVTV trong sản xuất rau ở xã Đặng Xá,huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội

2.3.5 Xác định một số tính chất đất và số lượng giun đất trong vùng sản xuấtrau tại xã Đặng Xá, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội

2.3.6 Nhận thức của người dân trong việc sử dụng phân bón và thuốc BVTVảnh hưởng đến môi trường và sức khỏe con người

Trang 37

2.3.7 Đề xuất giải pháp canh tác rau phù hợp tại xã Đặng Xá, huyện Gia Lâm,thành phố Hà Nội

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp:

Thông tin thứ cấp là các nguồn thông tin có sẵn, đã được thu thập từcác cơ quan nông nghiệp, cơ quan nghiên cứu, tạp chí, sách

Trong nghiên cứu này, nguồn dữ liệu thông tin thứ cấp được thu thập thôngqua các báo cáo thống kê của xã bao gồm:

- Báo cáo của UBND xã về tình hình kinh tế - xã hội năm 2012, 2013,

2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp

Thông tin sơ cấp là các nguồn thông tin, dữ liệu được thu thập qua việctriển khai khảo sát điều tra, thí nghiệm thực địa

Trang 38

2.4.2.1 Điều tra, nghiên cứu tình hình sản xuất nông nghiệp, thực trạng sản xuất rau, phân bón, thuốc BVTV tại xã Đặng Xá, huyện Gia Lâm, tp Hà Nội

a Phương pháp và các thông tin thu thập

Phương pháp thông tin trong nghiên cứu bao gồm:

i) Sử dụng công cụ là bảng câu hỏi mở

Bảng câu hỏi là công cụ chủ yếu để thu thập thông tin, bảng câu hỏi tậptrung chủ yếu vào các vấn đề liên quan đến nội dung nghiên cứu: tình hìnhsản xuất nông nghiệp, tình hình sản xuất rau, thực trạng sử dụng phân bón vàthuốc bảo vệ thực vật, ảnh hưởng của phân bón và thuốc bảo vệ thực vật đếnsản xuất rau trên đại bàn nghiên cứu, ý thức của người dân về việc sử dụngphân bón và thuốc BVTV

ii) Tham vấn ý kiến cán bộ xã, thôn tại địa bàn nghiên cứu

Trực tiếp gặp các cán bộ xã,thôn để lấy thông tin bằng cách đặt các câuhỏi liên quan đến đề tài nghiên cứu

iii) Tham quan thực địa, chụp ảnh ghi lại những vấn đề liên quan đến

đề tài nghiên cứu để đối chiếu, so sánh với những thông tin thu thập được từ

bà con nông dân

b Chọn địa điểm nghiên cứu:

Các điểm nghiên cứu phải đảm bảo các tiêu chí sau:

+ Đại diện về điều kiện tự nhiên: địa hình, đất đai, khí hậu, thủy văn + Đại diện về điều kiện kinh tế - xã hội: trình độ dân trí, tập quán canhtác, cơ sở hạ tầng, điều kiện kinh tế của hộ gia đình;

+ Là địa bàn sản xuất rau truyền thống, có nhiều kinh nghiệm, thị trường

Xã Đặng Xá có diện tích đất tự nhiên 587 ha, trong đó diện tích đấtcanh tác 486 ha Đây là xã có truyền thống trồng rau sạch cung cấp một lượnglớn rau xanh cho Hà Nội

Dựa vào các tiêu chí trên, chúng tôi lựa chọn 2 thôn điển hình là: thônĐổng Xuyên và thôn Hoàng long là những thôn trọng điểm điển hình cho sảnxuất rau theo mô hình truyền thống và sản xuất rau an toàn

Trang 39

c Phương pháp lựa chọn mẫu khảo sát thu thập thông tin

Tổ chức điều tra được chọn theo mẫu ngẫu nhiên, sử dụng công cụ làphiếu câu hỏi in sẵn Bảng hỏi chủ yếu tập trung vào các vấn đề liên quan đếnnội dung nghiên cứu: tình hình sản xuất nông nghiệp, tình hình sản xuất rau,thực trạng sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật, ảnh hưởng của phânbón và thuốc bảo vệ thực vật đến sản xuất rau trên đại bàn nghiên cứu

Xã Đặng Xá có 2 thôn sản xuất rau điển hình là thôn Hoàng Long và thônĐổng Xuyên Trong đó thôn hoàng Hoàng Long có 260 hộ, thông Đổng Xuyên có

520 hộ chủ yếu sản xuất các loại rau như bắp cải, mồng tơi, cải xanh…

Do hạn chế về thời gian và khuôn khổ nghiên cứu của đề tài nên tôi lựachọn khảo sát tổng số là 40 hộ Mỗi thôn sẽ khảo sát 20 hộ trong đó mỗi một

mô hình sản xuất RAT là 10 hộ và sản xuất rau truyền thống là 10 hộ

Dựa trên danh sách cán bộ thôn cung cấp, tiến hành loại bỏ các hộkhông trồng rau và không đại diện cho sản xuất nông nghiệp Sau đó tiếnhành phỏng vấn chuyên sâu ngẫu nhiên các hộ trồng rau

2.4.2.2 Phương pháp lấy mẫu và phân tích các chỉ tiêu đất: pH, OM, Nts, Pts và Kts

Trong nghiên cứu này ở cả hai mô hình truyền thống và an toàn chúngtôi vận dụng phương pháp lấy mẫu theo TCVN 4046-85 (Bộ NN&PTNT,1985) đã được trình bày ở phụ lục IV, cụ thể như sau:

Chúng tôi xác định 5 điểm lấy mẫu đất để nghiên cứu Mỗi một điểmlấy mẫu, tôi tiến hành như sau:

+ Lấy mẫu với diện tích 20 x 20 x 20 (dài x rộng x sâu)

+Trên mỗi một điểm thu thập mẫu, đất tầng trên và đất tầng dưới đậpnhỏ, trộn đều Tiến hành tương tự với điểm thứ 2, 3, 4, 5 Sau khi trộn đều đất

ở 5 điểm với nhau, lấy ra 1 kg đất (mẫu hỗn hợp) cho vào túi nilon dùng đểphân tích

+ Đánh dấu mẫu hỗn hợp; Sử dụng bút dạ không xóa được ghi lên vỏ bao bì(nilong) các thông tin sau: (1) nhãn sản phẩm, (2) ghi rõ ngày tháng lấy mẫu

Trang 40

Đợt 1:

- Ngày lấy mẫu: 22/03/2016

- Địa điểm và vị trí: Tại thôn Đổng Xuyên và thôn Hoàng Long thuộc xãĐặng Xá, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội Vị trí lấy (mẫu mô tảtrong phụ lục 3)

- Thời kì sinh trưởng của rau: Chưa gieo trồng rau

Đợt 2:

- Ngày lấy mẫu: 10/04/2016

- Địa điểm và vị trí: Tại thôn Đổng Xuyên và thôn Hoàng Long thuộc xãĐặng Xá, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội

Vị trí lấy mẫu đất lần 2 cách vị trí lẫy mẫu đất lần 1: 2m về phía bênphải (mô tả trong phụ lục 3)

- Thời kì sinh trưởng của rau: Cây đang sinh trưởng phát triển,đã bónlót và bón thúc lần 1-2

Đợt 3:

- Ngày lấy mẫu: 21/04/2016

- Địa điểm và vị trí: Tại thôn Đổng Xuyên và thôn Hoàng Long thuộc xãĐặng Xá, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội

Vị trí lấy mẫu đất lần 3 cách vị trí lẫy mẫu đất lần 1: 2m về phía bêntrái (mô tả trong phụ lục 3)

- Thời kì sinh trưởng của rau: Cây đã thu hoạch hoặc vào giai đoạn thuhoạch (không sử dụng phân bón)

+ Các chỉ tiêu phân tích của 3 đợt: PH, OM, Kts, Nts, Pts

Kết quả phân tích các chỉ tiêu là sự tích lũy hàm lượng OM, Nts, Pts,Kts qua các mùa vụ sản xuất rau tại xã Đặng Xá, huyện Gia Lâm, thành phố

Hà Nội

+ Đơn vị phân tích: Các mẫu đất được phân tích xác định các chỉ tiêunghiên cứu tại bộ môn KNCL - Viện Nghiên Cứu Rau Quả

Ngày đăng: 27/04/2017, 20:45

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.4: Nhu cầu phân bón thương phẩm ở Việt Nam đến năm 2020 - Đánh Giá Ảnh Hưởng Của Phân Bón Và Thuốc Bảo Vệ Thực Vật Đến Số Lượng Giun Đát Trên Cây Rau Tại Xã Đặng Xá, Gia Lâm, Hà Nội
Bảng 1.4 Nhu cầu phân bón thương phẩm ở Việt Nam đến năm 2020 (Trang 17)
Bảng 1.7: Hàm lượng các kim loại nặng trong một số phân bón thông - Đánh Giá Ảnh Hưởng Của Phân Bón Và Thuốc Bảo Vệ Thực Vật Đến Số Lượng Giun Đát Trên Cây Rau Tại Xã Đặng Xá, Gia Lâm, Hà Nội
Bảng 1.7 Hàm lượng các kim loại nặng trong một số phân bón thông (Trang 20)
Bảng 3.4: Các loại phân bón sử dụng trong sản xuất rau tại xã Đặng Xá - Đánh Giá Ảnh Hưởng Của Phân Bón Và Thuốc Bảo Vệ Thực Vật Đến Số Lượng Giun Đát Trên Cây Rau Tại Xã Đặng Xá, Gia Lâm, Hà Nội
Bảng 3.4 Các loại phân bón sử dụng trong sản xuất rau tại xã Đặng Xá (Trang 51)
Bảng 3.5: Lượng phân hữu cơ/phân chuồng sử dụng trong canh tác rau - Đánh Giá Ảnh Hưởng Của Phân Bón Và Thuốc Bảo Vệ Thực Vật Đến Số Lượng Giun Đát Trên Cây Rau Tại Xã Đặng Xá, Gia Lâm, Hà Nội
Bảng 3.5 Lượng phân hữu cơ/phân chuồng sử dụng trong canh tác rau (Trang 52)
Bảng 3.10:  Kết quả phân tích mẫu đất trên MHTT và MHAT tại  xã Đặng Xá - Đánh Giá Ảnh Hưởng Của Phân Bón Và Thuốc Bảo Vệ Thực Vật Đến Số Lượng Giun Đát Trên Cây Rau Tại Xã Đặng Xá, Gia Lâm, Hà Nội
Bảng 3.10 Kết quả phân tích mẫu đất trên MHTT và MHAT tại xã Đặng Xá (Trang 58)
Bảng 3.12: Nhận thức của người dân về việc ảnh hưởng phân bón và - Đánh Giá Ảnh Hưởng Của Phân Bón Và Thuốc Bảo Vệ Thực Vật Đến Số Lượng Giun Đát Trên Cây Rau Tại Xã Đặng Xá, Gia Lâm, Hà Nội
Bảng 3.12 Nhận thức của người dân về việc ảnh hưởng phân bón và (Trang 62)
PHỤ LỤC 2: SƠ ĐỒ LẤY MẪU ĐẤT - Đánh Giá Ảnh Hưởng Của Phân Bón Và Thuốc Bảo Vệ Thực Vật Đến Số Lượng Giun Đát Trên Cây Rau Tại Xã Đặng Xá, Gia Lâm, Hà Nội
2 SƠ ĐỒ LẤY MẪU ĐẤT (Trang 74)
Hình ảnh lấy mẫu đất mô hình truyền thống - Đánh Giá Ảnh Hưởng Của Phân Bón Và Thuốc Bảo Vệ Thực Vật Đến Số Lượng Giun Đát Trên Cây Rau Tại Xã Đặng Xá, Gia Lâm, Hà Nội
nh ảnh lấy mẫu đất mô hình truyền thống (Trang 75)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w