1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Ứng Dụng Chế Phẩm FITO – BIOMIX – RR Xử Lý Phụ Phẩm Nông Nghiệp Thành Phần Hữu Cơ Và Áp Dụng Trong Canh Tác Rau Nhằm Giảm Hàm Lượng No3- Tại Tỉnh Bắc Ninh

101 384 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 10,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc sử dụng phổ biến các loại phânhóa học cũng như các điều kiện sản xuất không đảm bảo đã làm gia tăng tình trạngtồn dư nitrat NO3-, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng các loại nô

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

KHOA MÔI TRƯỜNG

Người thực hiện : NGHIÊM THỊ HÀ

Giáo viên hướng dẫn : TS NGUYỄN ĐÌNH THI

Địa điểm thực tập : Thị trấn Chờ, huyện Yên Phong,

tỉnh Bắc Ninh

Hà Nội – 2015

Trang 2

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

KHOA MÔI TRƯỜNG

Người thực hiện : NGHIÊM THỊ HÀ

Giáo viên hướng dẫn : TS NGUYỄN ĐÌNH THI

Địa điểm thực tập : Thị trấn Chờ, huyện Yên Phong,

tỉnh Bắc Ninh

Hà Nội – 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Em xin cam đoan rằng, đã thực hiện quá trình làm đề tài tốt nghiệp một cáchkhoa học, chính xác và đã được chứng thực

Em xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận này đãđược cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong khóa luận đều được chỉ rõ nguồn gốc

Sinh viên

NGHIÊM THỊ HÀ

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để có được kết quả nghiên cứu này, ngoài sự cố gắng và nỗ lực của bản thân,

em đã nhận được sự giúp đỡ từ rất nhiều đơn vị và cá nhân Em xin ghi nhận và bày

tỏ lòng biết ơn tới những tập thể, cá nhân đã dành cho em sự giúp đỡ quý báu đó

Đầu tiên em xin cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Môi trường Học việnNông Nghiệp Việt Nam, các thầy cô giáo Bộ môn Sinh thái nông nghiệp đã tạo điềukiện giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kính trọng sự giúp đỡ nhiệt tình củaThày giáo TS.Nguyễn Đình Thi, người đã trực tiếp hướng dẫn đề tài này

Em xin chân thành cảm ơn các cán bộ trong phòng TNMT huyện Yên Phong,cán bộ UBND, cán bộ và người dân các thôn ở thị trấn Chờ đã tận tình giúp đỡ, cungcấp thông tin, số liệu để em thực hiện khóa luận

Cám ơn sự cổ vũ, động viên và giúp đỡ của gia đình, bạn bè trong quá trìnhhọc tập và thực hiện khóa luận

Hà Nội, ngày tháng năm 2015

Sinh viên

NGHIÊM THỊ HÀ

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH vii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 Những khái niệm chung về phụ phẩm nông nghiệp 3

1.1.1 Khái niệm về phụ phẩm nông nghiệp 3

1.1.2 Các phương thức sử dụng phế phụ phẩm nông nghiệp ở Việt Nam 3

1.2 Tổng quan chế phẩm FITO - BIOMIX - RR 6

1.3 Tình hình xử lý phụ phẩm trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam 9

1.3.1 Ứng dụng các chế phẩm xử lý rơm, rạ ở Việt Nam 9

1.3.2 Ứng dụng chế phẩm FITO - BIOMIX - RR xử lý rơm rạ ở Việt Nam 11

1.3.3 Ứng dụng chế phẩm FITO - BIOMIX - RR xử lý rơm rạ ở Bắc Ninh 15

1.4 Thực trạng sản xuất rau an toàn 17

1.4.1 Thực trạng sản xuất rau an toàn trên thế giới 17

1.4.1 Thực trạng sản xuất rau an toàn ở Việt Nam 18

1.5 Tổng quan về phân bón hữu cơ 20

1.5.1 Định nghĩa, và phân loại 20

1.5.2 Một số quy định tiêu chuẩn phân bón hữu cơ 22

1.6 Thực trạng, cơ sở giảm ô nhiễm NO3- trong rau ăn lá 23

1.6.1 Thực trạng ô nhiễm NO3- trong rau ăn lá 23

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30

2.1 Đối tượng nghiên cứu 30

2.2 Phạm vi nghiên cứu 30

Trang 6

2.4 Nội dung nghiên cứu 30

2.4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hôi thị trấn Chờ, huyện Yên Phong, Bắc Ninh30 2.4.2 Thực trạng sản xuất nông nghiệp và sử dụng phân bón trong canh tác rau ở thị trấn Chờ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh 30

2.4.3 Nghiên cứu quy trình kĩ thuật sử dụng chế phẩm FITO - BIOMIX - RR để xử lý rơm rạ thành phân hữu cơ nhằm giảm thiểu sử dụng phân bón hóa học.30 2.4.4 Nghiên cứu quy trình kĩ thuật trong canh tác rau cải xanh nhằm giảm thiểu hàm lượng NO3- tại thị trấn Chờ 30

2.4.5 Xác định hàm lương lượng NO3- trong rau cải xanh tại thị trấn Chờ 30

2.4.6 Đề xuất giải pháp canh tác rau phù hợp nhằm giảm thiểu hàm lượng NO3 -trong rau cải xanh 30

2.5 Phương pháp nghiên cứu 31

2.5.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 31

2.5.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 31

2.5.4 Phương pháp tổng hợp và xử lí số liệu 37

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 38

3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội thị trấn Chờ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.38 3.1.1 Điều kiện tự nhiên 38

3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội 40

3.2 Thực trạng sản xuất nông nghiệp và quy trình canh tác rau màu tại thị trấn Chờ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh 43

3.2.1 Tình hình chung về sản xuất nông nghiệp, nông thôn thị trấn Chờ 43

3.2.2 Tình hình sản xuất rau và tiêu thụ rau ở thị trấn Chờ, huyện Yên Phong 49

3.3 Kết quả nghiên cứu quy trình kĩ thuật sử dụng chế phẩm FITO - BIOMIX - RR xử lý rơm rạ thành phân bón hữu cơ nhằm giảm thiểu sử dụng phân bón hóa học 58 3.3.1 Diễn biến nhiệt độ đống ủ 58 3.4 Kết quả nghiên cứu ứng dụng phân bón hữu cơ từ xử lý rơm rạ bằng chế phẩm FITO - BIOMIX - RR trong canh tác rau cải xanh tại thị trấn Chờ, huyện Yên

Trang 7

phong, tỉnh Bắc Ninh 60

3.4.1 Quy trình kĩ thuật xử lý rơm rạ bằng chế phẩm FITO - BIOMIX - RR thành phân hữu cơ nhằm giảm dư lượng nitrat trong canh tác rau cải 60

3.4.2 Kết quả chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển của rau cải xanh thí nghiệm 60

3.4.3 Động thái tăng trưởng chiều cao cây của rau cải xanh qua các giai đoạn 62

3.4.4 Động thái tăng trưởng đường kính tán của rau cải xanh qua các giai đoạn 63

3.5 Kết quả phân tích hàm lượng NO3-, các chỉ tiêu đất, từ sử dụng phân bón hữu cơ xử lý rơm rạ bằng chế phẩm FITO - BIOMIX - RR trong canh tác rau cải xanh tại thị trấn Chờ, huyện Yên phong, tỉnh Bắc Ninh 66

3.5.1 Kết quả phân tích lượng phân bón đến dư lượng NO3- trong rau thí nghiệm.66 3.5.2 Kết quả phân tích một số chỉ tiêu đất ở các công thức thí nghiệm 70

3.6 Đề xuất quy trình kĩ thuật canh tác rau cải xanh để giảm thiểu NO3- 72

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 74

5.1 Kết luận 74

5.2 Kiến nghị 75

TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

PHỤ LỤC 80

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 8

BVMT : Bảo vệ môi trường

BTNMT : Bộ tài nguyên môi trường

TTCN : Tiểu thủ công nghiệp

TM – DV : Thương mại - Dịch vụ

NĐ-CP : Nghị định - chính phủ

NN & PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thônQCVN : Quy chuẩn Việt Nam

TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam

HDND : Hội đồng nông dân

FAO : Tổ chức Nông lương Liên Hợp quốc.HCBVTV : Hóa chất bảo vệ thực vật

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH

Trang

Bảng 1.1: Kết quả phân tích một số chỉ tiêu hóa sinh để đánh giá đống ủ 12Bảng 1.2: Tình hình sản xuất rau trên thế giới từ 2001 - 2009 17Bảng 1.3: Diện tích, năng suất gieo trồng tại các vùng rau Việt Nam (2014) 18Bảng 1.4: Mức giới hạn tối đa cho phép của một số vi sinh vật trong rau 20Bảng 2.1: Bố trí các công thức thí nghiệm 31Bảng 2.2: Lượng rơm rạ và phân bón sử dụng trong các công thức thí nghiệm34Bảng 3.1: Hiện trạng sử dụng đất thị trấn Chờ 41Bảng 3.2: Tổng hợp diện tích đơn vị sản xuất lúa mùa thị trấn Chờ, 2015 46Bảng 3.3: Tổng hợp diện tích các đơn vị sản xuất rau màu vụ đông năm 201547Bảng 3.4: Lượng phân bón sản xuất 1 ha rau màu chính vụ đông 2014 – 2015thị trấn Chờ, huyện Yên phong, tỉnh Bắc Ninh 52Bảng 3.5: Một số loại sâu bệnh hại chủ yếu và thuốc BVTV dùng phổ biếntrên cây rau của các hộ sản xuất tại thị trấn Chờ, huyện Yên Phong, tỉnhBắc Ninh 55Bảng 3.6: Các hình thức tiêu thụ chính của nông dân 57Bảng 3.7: Kết quả phân hữu cơ được tạo sau ủ tại thị trấn Chờ, huyện YênPhong, tỉnh Bắc Ninh năm 2015 59Bảng 3.8: Động thái tăng trưởng số lá rau cải xanh thí nghiệm qua các giaiđoạn ( ngày) trồng 60Bảng 3.9: Động thái tăng trưởng chiều cao cây rau cải xanh (cm/cây) qua cácgiai đoạn 62Bảng 3.10: Động thái tăng trưởng đường kính tán lá rau cải xanh qua các giai đoạn.64Bảng 3.11: Ảnh hưởng của một số sâu bệnh hại rau cải xanh qua các giai đoạn65Bảng 3.12: Kết quả phân tích hàm lương nitrat trong mẫu rau cải xanh 67

Trang 10

Bảng 3.13: Ảnh hưởng của lượng phân bón đến năng suất của rau cải xanh

qua các công thức thí nghiệm 68

Bảng 3.14: Kết quả phân tích một số chỉ tiêu đất ở các công thức thí nghiệm.70 Trang Hình 1.1: Quy trình kĩ thuật xử lý phụ phẩm nông nghiệp hiện nay 7

Hình 2.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm đồng ruộng gieo trồng rau cải xanh tại thị trấn Chờ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh 32

Hình 2.2: Sơ đồ thu thập lấy mẫu rau tại các công thức thí nghiệm 35

Hình 2.3: Sơ đồ thu thập mẫu đất tại các công thức thí nghiệm 36

Hình 3.1: Giống rau hộ sử dụng tại sản xuất rau ở thị trấn Chờ 51

Hình 3.2: Loại phân hữu cơ sử dụng sản xuất rau của thị trấn Chờ 53

Hình 3.3: Thời gian cách ly sau khi bón đạm lần cuối 54

Hình 3.4: Thời gian cách ly thuốc BVTV trên 1 số rau chính 56

Hình 3.5: Biểu diễn nhiệt độ đống ủ 58

Hình 3.6: Động thái tăng trưởng số lá rau cải xanh thí nghiệm qua các giai đoạn ( ngày) trồng 61

Hình 3.7: Động thái tăng trưởng chiều cao cây của rau cải xanh qua các giai đoạn sau trồng 63

Hình 3.8: Động thái tăng trưởng đường kính tán rau cải xanh qua các giai đoạn 65

Hình 3.9: Ảnh hưởng lượng phân bón đến năng suất lí thuyết và năng suất thực thu của rau cải xanh 69

Trang 11

MỞ ĐẦU Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay phụ phẩm nông nghiệp là một thảm họa khó lường trong sự pháttriển mạnh mẽ của quá trình sản xuất, chế biến nông công nghiệp và hoạt động củatoàn xã hội Việt Nam là nước nông nghiệp có nguồn phụ phẩm sau thu hoạch rất lớntrên đồng ruộng, nương rẫy Theo Nguyễn Xuân Thành (2006) cho thấy trên đồngruộng, nương rẫy hàng năm để lại hàng triệu tấn phụ phẩm Tất cả các nguồn phế phụphẩm nông nghiệp như rơm, rạ, bẹ ngô, bã sắn, bã mía một phần được tái sử dụnglàm chất đốt trong gia đình gây ô nhiễm không khí và tạo ra hiệu ứng nhà kính, phầncòn lại gây ô nhiễm nghiêm trọng môi trường đất, nguồn nước và là ổ dịch bệnh lâylan rất nguy hiểm trên đồng ruộng Trong khi đó đất lại thiếu trầm trọng nguồn dinhdưỡng cho cây, hàng năm nước ta nhập khẩu một lượng lớn phân bón

Theo Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2011), diện tích gieo trồng lúa

cả năm ước đạt hơn 7.651,4 nghìn ha, đạt sản lượng 42,3 triệu tấn Tương ứng vớidiện tích gieo trồng đó, lượng rơm rạ sản xuất ra hàng năm ít nhất 45,6 triệu tấn Vớilượng rơm rạ lớn cần thiết phải có hướng xử lý thích hợp để vừa tránh ô nhiễm môitrường, vừa đem lại lợi ích kinh tế Trong nhiều biện pháp xử lý đã được áp dụng thìxử lý rơm rạ làm phân bón hữu cơ là một biện pháp có nhiều ưu điểm hơn cả

Yên Phong là một huyện nông nghiệp với diện tích đất sản xuất nông nghiệp

là 621.1,69 ha Trong những năm vừa qua, Yên Phong đã đạt được nhiều thành tựunhất định trong sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế Tuy nhiên sự phát triểnnền sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất rau nói riêng đang đi vào mức thâmcanh cao với việc sử dụng phân bón đã mang lại hiệu quả to lớn trong việc nâng caonăng suất cây trồng, đặc biệt đối với cây rau Việc sử dụng phổ biến các loại phânhóa học cũng như các điều kiện sản xuất không đảm bảo đã làm gia tăng tình trạngtồn dư nitrat (NO3-), ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng các loại nông sản sauthu hoạch, gây mất an toàn vệ sinh thực phẩm đối với các sản phẩm rau quả và đang

là mối hiểm họa thường trực đối với cuộc sống của chúng ta

Trang 12

Xuất phát từ những thực tế trên, việc xử lý phế phụ phẩm đồng ruộng là việc

làm rất cấp bách hiện nay Do đó tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Ứng dụng chế

phẩm FITO – BIOMIX - RR xử lý phụ phẩm nông nghiệp thành phân hữu cơ và áp dụng trong tác rau nhằm giảm thiểu hàm lượng NO 3 - tại thị trấn Chờ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh”.

Mục đích và yêu cầu

- Xác định hàm lượng NO3- trong rau cải xanh ở các mức sử dụng phân bónkhác nhau tại thị trấn Chờ, huyện Yên Phong

- Đề xuất giải pháp canh tác phù hợp nhằm giảm thiểu hàm lượng nitrat trongrau cải xanh

Trang 13

-CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Những khái niệm chung về phụ phẩm nông nghiệp

1.1.1 Khái niệm về phụ phẩm nông nghiệp.

Phụ phẩm nông nghiệp là những sản phẩm nông nghiệp không đạt tiêu chuẩn

về kích thước, phẩm chất, giá trị sử dụng đã quy định phải loại bỏ nhằm đảm bảoyêu cầu sử dụng hoặc chế biến (Nguyễn Xuân Thành, 2009)

Theo Tổng cục môi trường (2011), phụ phẩm nông nghiệp là chất rắn phátsinh từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp như: trồng trọt (thực vật chết, tỉa cành,làm cỏ ), thu hoạch nông sản (rơm rạ, trấu, cám, lõi ngô, thân ngô, ) Đây là loạiphế thải có khả năng phân hủy sinh học do nó có chứa thành phần hữu cơ, vi sinh vật

có khả năng phân hủy sử dụng làm dinh dưỡng trong quá trình sinh trưởng và pháttriển của mình Nguồn gốc phát sinh phế phụ phẩm nông nghiệp từ quá trình chế biếncác loại cây công nghiệp, cây lương thực, sản xuất hoa quả, thực phẩm Đây cũng lànguồn nguyên liệu khổng lồ luôn luôn tồn tại và ngày càng gia tăng

Theo Huỳnh Ngọc Điền (2014), thì phụ phẩm nông nghiệp đều là những chấthữu cơ, còn non, hoặc còn xanh; có thể sơ cứng vì silic hóa như trấu hay lignin hóanhư gỗ, có thể được xem như là một dạng tích trữ năng lượng từ mặt trời nhờ quátrình tổng hợp, quá trình sinh học khác trong sản xuất nông nghiệp

1.1.2 Các phương thức sử dụng phế phụ phẩm nông nghiệp ở Việt Nam

Việt Nam là một nước nông nghiệp, gạo là mặt hàng xuất khẩu thế mạnh Vớitổng diện tích gieo trồng năm 2013 đạt 7,9 triệu ha, tương ứng với diện tích gieotrồng đó thì lượng phụ phẩm nông nghiệp chủ yếu là rơm rạ ước tính khoảng 46 triệutấn Ngoài ra chưa kể đến lượng phát sinh phế thải từ các loại cây trồng khác như rau,ngô, khoai, sắn, đậu tương, mía, các loại cây cho quả khác

Theo Viện Môi trường Nông nghiệp (Bộ NN và PTNT Việt Nam), riêng 7 loạicây trồng là ngô, lúa, khoai lang, lạc, đậu tương, mía, sắn năm 2011 đã phát thải ramôi trường sản xuất khoảng 84,5 triệu tấn chất thải (Bộ NN và PTNN, 2013)

Trang 14

Theo Nguyễn Xuân Thành và cs (2003) thành phần chính của rơm rạ làxenluloza Tính theo sản lượng khô thì trong rơm có: 3 - 4,5% chất đạm; 1,2 - 2%chất béo; 30% các dẫn xuất không chứa đạm; 35 - 36% xenluloza; 14-15% chấtkhoáng Rơm rạ là nhóm phụ phẩm giàu chất sơ và nghèo chất đạm, do đó rất khóphân hủy tự nhiên và có giá trị dinh dưỡng thấp Vì vậy, việc sử dụng các chủng visinh vật có khả năng phân giải các chất sơ sợi để phân hủy rơm rạ thành mủn và táichế thành phân hữu cơ bón trả lại cho cây trồng sẽ nâng cao hiệu quả sử dụng rơm rạ.Rơm rạ là nguồn phụ phẩm chính từ sản xuất lúa gạo Mặc dù nguồn phụ phẩmnày có chứa các vật chất có thể mang lại lợi ích cho xã hội, song giá trị thực của nóthường bị bỏ qua do chi phí quá lớn cho các công đoạn thu thập, vận chuyển và cáccông nghệ xử lý để có thể sử dụng một cách hữu ích (Cục thông tin và KHCN Quốcgia, 2010)

Theo “Khuyến cáo của các nhà khoa học” ngày nay: để xử lý lượng rơm rạtrên đồng sau mỗi vụ lúa một cách hợp lý, thì giải pháp đầu tiên là nên mang hết rơm

rạ khỏi ruộng, sau đó tận dụng lượng rơm này trồng nấm, để tăng thêm nguồn thunhập Ngoài ra những bã rơm mục sau khi thu hoạch nấm xong, có thể dùng làmphân bón hữu cơ cung cấp lại cho đồng ruộng, sẽ tạo cho đất tơi xốp và duy trì được

độ màu mỡ cho đất Giúp tiết kiệm một lượng lớn phân hóa học bón cho đồng ruộng

Sử dụng nguồn phụ phẩm rơm để làm thức ăn chăn nuôi trâu, bò Rơm lúa lànguồn thức ăn xơ rất tốt để phối hợp với thức ăn nhuyễn Có thể cho gia súc ăn rơmkhô hoặc ủ với 4 - 5% urê sẽ làm tăng khả năng tiêu hóa Sau đó sử dụng nguồn phânchuồng ủ hoai mục bón lại cho đồng ruộng là rất tốt

Theo Sở nông nghiệp và PTNT Đăk Nông (2013), thì việc tận dụng các phụphẩm nông nghiệp để chăn nuôi, trồng trọt, tái tạo năng lượng đã mang lại lợi íchnhiều mặt, không những ở phương diện kinh tế mà còn bảo vệ môi trường Hiện tại,

từ các chương trình khuyến nông, các đề tài khoa học của ngành nông nghiệp và một

số cơ quan khoa học khác, nông dân đã ứng dụng rộng rãi các mô hình tận dụng cácphụ phẩm nông nghiệp như: xây dựng hầm biogas để làm khí đốt; xử lý phế thải

Trang 15

nông nghiệp, chất thải chăn nuôi kết hợp với chế phẩm sinh học tạo ra phân bón visinh Phụ phẩm nông nghiệp đều là dạng dự trữ năng lượng nên có thể được dùng

để sản xuất năng lượng sinh học: phân gia súc, dư thừa thực vật có thể được dùng sảnxuất khí sinh học (biogas), biogas có thể dùng để đốt trực tiếp để nấu nướng hoặc làmgas đốt cho máy phát điện Các kỹ sư cơ khí đã điều chỉnh được động cơ diesel

Lượng phế thải rơm rạ hàng năm thải ra lên đến hàng chục triệu tấn Đốt làbiện pháp được người dân sử dụng nhiều nhất trong xử lý phế thải này do có thểnhanh chóng lấy lại mặt bằng cho sản xuất vụ sau và có thể sử dụng tro cung cấpdinh dưỡng cho đất canh tác Tuy nhiên, biện pháp này gây ô nhiễm môi trườngnghiêm trọng, ảnh hưởng tới sức khỏe người dân xung quanh bởi lượng khói, bụi thải

ra Không những vậy, đốt làm mất phần lớn chất dinh dưỡng trong rơm rạ Dùng chếphẩm vi sinh vật để phân giải các chất hữu cơ trong rơm rạ thành phân hữu cơ có thểgiải quyết hầu hết các vấn đề nêu trên, giảm thiểu sử dụng các loại phân bón hóa học,cải tạo đất, tận dụng tối đa nguồn rơm, rạ dồi dào Nhờ đó, một lượng lớn các phếthải từ nông nghiệp đã được tận dụng hiệu quả, giảm được tình trạng phát thải khínhà kính do quá trình đốt phế phẩm nông nghiệp gây ra Đây là những cách làm hay,hiệu quả mà nông dân cần áp dụng trong quá trình sản xuất

Nếu không có điều kiện đem rơm rạ khỏi đồng ruộng thì nên xử lý rơm rạbằng cách cày vùi, để duy trì lượng đạm trong đất Khi rơm rạ được cày vùi trong đấtlâu ngày sẽ bị phân hủy thành phân hữu cơ Tuy nhiên để cho rơm rạ phân hủy tốthơn, nhanh hơn, không gây ngộ độc hữu cơ cho ruộng lúa, có thể dùng chế phẩmFITO - BIOMIX - RR phun lên rơm rạ, hoặc dùng vôi bột rải vào ruộng trước khicày xới, để làm cho rơm phân hủy nhanh với thời gian khoảng 12 - 15 ngày, trướckhi dọn đất để sản xuất Việc cày vùi rơm rạ vào đất sẽ tạo cho đất có nhiều chất hữu

cơ, giúp cho cây trồng bén rễ tốt hơn

Trong thực tế, người ta từ lâu đã dùng các loại phụ phẩm để làm chất đốt ở cácnhà bếp thông thường; phụ phẩm từ các nhà bếp này là tro, cũng như được tiếp tụclàm phân bón Cuối cùng, các loại phụ phẩm nông nghiệp là nguồn nguyên liệu để

Trang 16

sản xuất phân hữu cơ, loại phân bón truyền thống rất quan trọng trong nông nghiệp,đặc biệt nông nghiệp hữu cơ trong xu hướng hiện nay.

Mặc dù ngành nông nghiệp đã có nhiều giải pháp xử lý phế phụ phẩm nôngnghiệp thành phân hữu cơ phục vụ sản xuất, sản xuất nấm nhưng ước tính có tới80% chất thải rắn trong số này chưa được xử lý hoặc được xử lý bằng những phươngpháp đơn giản, truyền thống của nông dân chưa mang lại hiệu quả cao Đây là mộttrong những nguyên nhân cơ bản gây ô nhiễm môi trường Ở Việt Nam, phụ phẩmnông nghiệp hữu cơ được tái sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau Tuy nhiên, tínhchất và phương thức của việc xử lý, tái sử dụng phế thải các vùng không giống nhau

1.2 Tổng quan chế phẩm FITO - BIOMIX - RR.

*Nguồn gốc chế phẩm:

Theo Lê Văn Tri (2012), chế phẩm FITO - BIOMIX - RR là chế phẩm sinhhọc gồm các chủng VSV hữu ích: nấm men, nấm mốc, vi khuẩn, xạ khuẩn , phângiải hữu cơ, vi sinh vật kháng bệnh cây trồng, có mật độ ≥ 107CFU/g, do Công ty cổphần Công nghệ sinh học Hà Nội sản xuất Quy trình kĩ thuật xử lý rơm, rạ làm phânbón hữu cơ vi sinh bằng chế phẩm FITO - BIOMIX - RR đã được cấp Bằng độcquyền giải pháp hữu ích số 956 và Chứng nhận Nhãn hiệu hàng hóa số 19058 củaCục Sở hữu trí tuệ - Bộ khoa học và công nghệ

* Thành phần chế phẩm FITO - BIOMIX - RR:

+ Bacilluspolyfermenticus :≥ 108CFU/g

+ Strepfomyces thermocoprophilus : ≥ 108CFU/g

+ Trichoderma virens :≥ 108CFU/g

+ Đậu tương, cám gạo, các khoáng chất…

* Công dụng chế phẩm FITO - BIOMIX - RR: bổ sung các chủng giống vi

sinh vật phân giải hữu cơ có khả năng phân giải nhanh và triệt để rơm, rạ sau thuhoạch thành phân bón hữu cơ vi sinh giàu dinh dưỡng phục vụ sản xuất nông nghiệp.Phân bón hữu cơ từ chế phẩm FITO - BIOMIX - RR là sản phẩm an toàn đối với conngười và động vật

Trang 17

Kiểm tra dụng cụ che đậy

Theo dõi diễn biến nhiệt độ

Hình 1.1: Quy trình kĩ thuật xử lý phụ phẩm nông nghiệp hiện nay.

(Nguồn: Công ty cổ phần Công nghệ sinh học, 2012)

* Các bước thực hiện

- Lựa chọn địa điểm: nên chọn địa điểm ủ xử lý gần nguồn nguyên liệu (rơm, rạ),

thuận tiện nguồn nước và hợp lý khi bảo quản và sử dụng, việc xử lý theo quy mô hộgia đình nhưng nên bố trí theo hướng tập trung theo khu xử lý để tiện quản lý kỹthuật Nếu ủ tại đồng ruộng phải đảm bảo không ảnh hưởng tới giao thông nội đồng

- Nguyên vật liệu dùng trong quá trình ủ:

+  Rơm, rạ tươi (hoặc khô): 1 tấn

+ Chế phẩm FITO - BIOMIX - RR: Lượng dùng 1gói 200g xử lý 1 tấn rơm rạ

+ Phân NPK 1kg/tấn rơm rạ, hoặc có thể bổ sung thêm phân chuồng

+ Nilon, bạt rách, hoặc trát bùn… để che đậy

Đống ủ sau 25 – 30 ngàyPhân bón hữu cơ

Bón ngay trong vụ kế

Đảo ủ sau 10-12 ngày

Chế phẩm Fito -

biomix-RR (0,2 kg/tấn rơm,rạ)Phân NPK:1kg/1 tấn

Trang 18

* Các bước tiến hành

- Bước 1: Thu gom rơm rạ, vun đống tùy theo hướng dẫn và mặt bằng ủ

- Bước 2: Ủ rơm rạ với chế phẩm FITO - BIOMIX - RR, bổ sung dinh dưỡng NPK

+ Nguyên liệu sau khi thu gom được chất đống với chiều rộng khoảng 2m, cứmỗi lớp 30cm rơm rạ thì tưới một lượt dung dịch chế phẩm FITO - BIOMIX - RR(độ đậm đặc của dung dịch tùy thuộc vào độ ẩm của rơm rạ sao cho khi ủ rơm rạ có

độ ẩm 80%) Bổ sung NPK và phân chuồng nếu có

+ Cách kiểm tra độ ẩm khi ủ: Cầm nắm rơm rạ vắt thấy nước rỉ ra kẽ tay là đạt

độ ẩm cần thiết Tiếp tục rải cho đến khi chiều cao đạt 1,5 - 1,6m

+ Dùng các loại vật liệu đã chuẩn bị để che đậy Phải che kín cả trên nóc lẫn ởcạnh Đảm bảo duy trì nhiệt độ đống ủ ở mức 45 oC  - 50oC, sẽ thuận lợi cho sự hoạtđộng phân giải rơm, nhiệt độ thấp hơn 400C thì sự phân giải chất hữu cơ bị kìm hãm

do hoạt động của vi sinh vật giảm

+ Sau 10 - 15 ngày kiểm tra và đảo trộn Công việc này có ý nghĩa quan trọng:đảo trộn sẽ làm cho rơm rạ vụn thêm do tác động cơ học và làm cho các loại vi sinhvật phân bố đều hơn Đảm bảo độ ẩm cũng như nhiệt độ của đống ủ luôn trong mứctối ưu, tạo điều kiện cho quá trình phân hủy rơm rạ diễn ra nhanh chóng và triệt để.Nếu chỗ nào chưa đảm bảo độ ẩm thì tưới bổ sung thêm nước để cho nguyên liệuhoại hoàn toàn

+ Sau 25 - 30 ngày rơm rạ phân hủy tốt thành phân ủ hữu cơ

Phân ủ hữu cơ giúp cải thiện tính chất đất làm cho đất tơi xốp, tăng độ phì nhiêu,tăng dinh dưỡng cho cây, là phương tiện tốt nhất để tăng sản lượng và cải thiện chấtlượng của cây trồng Tăng đáng kể hàm lượng mùn, chất dinh dưỡng tổng số và dễtiêu điều tăng nhẹ và lần lượt dao động từ 0,001 - 0,004%, 0,15 - 0,215mg Hàmlượng cacbon tổng số giảm, hàm lượng đạm và lân hữu cơ hữu hiệu đều tăng, lượngkali lại giảm nhẹ so với thời kì trước (không được bổ sung và 1 phần do vi sinh vật sửdụng) Mật độ VSV tăng và đạt được 106 - 108 CFU/g, (Công ty cổ phần Công nghệ

sinh học năm 2012).

Trang 19

1.3 Tình hình xử lý phụ phẩm trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam

1.3.1 Ứng dụng các chế phẩm xử lý rơm, rạ ở Việt Nam

Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn (2012) cho thấy:

Ở nước ta sản xuất lúa hàng năm đã tạo ra vài chục triệu tấn rơm rạ Riêng tạikhu vực Đồng bằng sông Cửu Long mỗi năm cũng có tới 15 triệu tấn rơm Tuynhiên, loại phế thải nông nghiệp này thường được nông dân đốt gây lãng phí và làm ônhiễm môi trường

Lý Kim Bảng và cs (2001) đã nghiên cứu thành công chế phẩm VIXURA vàcông nghệ xử lý rơm, rạ đem lại hiệu quả kinh tế xã hội rất cao Chế phẩm VIXURAchứa 12 - 15 chủng vi sinh vật được phân lập tại Việt Nam, có khả năng sinh ra cácenzim khác nhau để phân hủy chất hữu cơ trong rác thải và rơm rạ Phương pháp xử

lý rơm rạ thành phân bón hữu cơ như sau: sau vụ gặt, nông dân chỉ cần thu gom rơm

rạ vào một góc ruộng, hòa chế phẩm vi sinh (sản phẩm vi sinh do Viện Công nghệsinh học cung cấp) cùng với nước và phân NPK rồi tưới lên rơm rạ Sau khi tưới chếphẩm sinh học che phủ rơm rạ bằng nilon hoặc lấy bùn trát kín thành đống lớn, chỉsau 17 - 25 ngày rơm rạ sẽ mủn ra và trở thành một loại phân bón rất tốt cho câytrồng Số phân này chúng ta chỉ cần san ra tại ruộng để tăng độ phì cho diện tíchruộng đó, không cần phải vận chuyển xa Dùng bón lót trước khi trồng cây bằng cáchvùi vào đất trong quá trình làm luống, phân này giúp giảm từ 20-30% lượng phân hóahọc và tăng năng suất cây trồng từ 5-7%

Nguyễn Xuân Thành và cs (2006) đã phân lập được 8 chủng VSV để làmgiống sản xuất chế phẩm vi sinh vật, chế phẩm vi sinh đạt tiêu chuẩn Việt Nam(TCVN 134B -1996) Đã xây dựng được quy trình xử lý tàn dư thực vật bằng chếphẩm VSV tại nông hộ với thòi gian từ 30 - 60 ngày ủ phụ thuộc vào từng nhóm câytrồng khác nhau, phế thải sau khi ủ có hàm lượng mùn, hàm lượng dinh dưỡngtăng…có thể làm phân bón tại chỗ cho các loại cây trồng

Trong năm 2012, Lê Văn Tri đã triển khai đề tài: Công nghệ sử dụng chếphẩm FITO - BIOMIX - RR xử lý nguồn rơm rạ và phế thải nông nghiệp thành phân

Trang 20

bón hữu cơ tại Hoà Bình, giúp tăng hiệu quả kinh tế từ 2,9 - 4,9 triệu đồng/ha Đề tàiđang được nghiên cứu thử nghiệm thành công tại Thái Bình, Nam Định, Thanh Hóa,Hưng Yên, Hà Nội… Kết quả cho thấy, bón phân hữu cơ chế biến từ rơm rạ giúp câylúa sinh trưởng phát triển cân đối, giảm sâu bệnh, năng suất lúa được bón phân ủ hữu

cơ tăng từ 3,49 - 7,49 tạ/ha (tương ứng với 4,94 - 13,3%) và hiệu quả kinh tế tăng từkhoảng 2,6 – 5,6 triệu/ha  Sau khi thu hoạch, bình quân 1ha thu được 6 tấn rơm rạtrong đó bao gồm 51,5 kg N -  25,4 kg P2O5 -  137,4 kg K2O. Theo tính toán, lượngCO2 phát thải vào môi trường do đốt rơm rạ tại Đồng bằng Sông Hồng là 1,2 đến 4,7triệu tấn/năm, lượng khí nhà kính phát thải vào môi trường do việc đốt rơm rạ nàygây thiệt hại về môi trường tương đương với 19,05 - 200,3 triệu USD/năm Bên cạnh

đó, việc lấy đi rơm rạ khỏi đồng ruộng đã làm giảm cacbon hữu cơ một cách đáng kể.Nếu hàm lượng cacbon ban đầu là 3,56%, sau 10 năm canh tác 2 vụ lúa/năm, hàmlượng cacbon chỉ còn 3,03%, sau 50 năm là 1,59% và sau 100 năm là 0,71%, nhưvậy độ phì nhiêu cũng như hàm lượng dinh dưỡng trong đất sẽ giảm đi rất nhiều.Việc ứng dụng chế phẩm sinh học FITO - BIOMIX - RR xử lý rơm rạ thành phân ủhữu cơ bón cho cây trồng ngoài việc tận dụng sản phẩm dư thừa sau thu hoạch nhằm

bổ sung phân hữu cơ tại chỗ, tiết kiệm chi phí và tạo thói quen cho người dân khôngđốt rơm rạ mà còn là biện pháp bảo vệ môi trường, tăng độ phì cho đất, cân bằng sinhthái đồng ruộng và nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng Nếu sử dụng sản phẩmphụ nông nghiệp, hàng năm sẽ có hàng nghìn tấn phân bón hữu cơ thay thế nguồnphân bón khác Đây sẽ là nguồn sản xuất sạch trong nông nghiệp, nông thôn Có thểnhìn thấy rõ ràng hiệu quả kinh tế mang lại khi khai thác theo phương pháp này,người dân sẽ tiết kiệm được các khoản chi phí thay vì mua phân bón hóa học

1.3.2 Ứng dụng chế phẩm FITO - BIOMIX - RR xử lý rơm rạ ở Việt Nam

Theo Bộ NN và PTNT (2012), nước ta có 70% dân số làm nông nghiệp và lúa

là cây trồng chính, do vậy lượng rơm rạ sau thu hoạch rất lớn, ước khoảng gần 46triệu tấn/năm Lượng rơm rạ dư thừa được nông dân xử lý bằng biện pháp đốt ngaytrên đồng ruộng đã làm ô nhiễm môi trường sống và hệ sinh thái đồng ruộng, đặc biệt

Trang 21

ở các vùng nông thôn Để góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường, Bộ KH và CN

đã cho phép ứng dụng chế phẩm vi sinh Fito - Biomix - RR để xử lý rơm rạ Phươngpháp xử lý rơm rạ bằng chế phẩm sinh học thành phân bón hữu cơ phục vụ sản xuấtđược tiến hành dựa trên nguyên tắc bổ sung các chủng giống VSV phân giải hữu cơ

có khả năng phân giải nhanh và triệt để rơm, rạ sau thu hoạch thành phân bón hữu cơ

vi sinh giàu dinh dưỡng, là sản phẩm tuyệt đối an toàn với người và động vật Chếphẩm sinh học được sử dụng là FITO - BIOMIX - RR do Công ty cổ phần công nghệsinh học Hà Nội sản xuất đã được cấp Bằng độc quyền giải pháp hữu ích số HI-2010của Cục Sở hữu trí tuệ - Bộ Khoa học công nghệ nhằm khắc phục tình trạng này.(Báo diễn đàn lao động, 2010)

Bảng 1.1: Kết quả phân tích một số chỉ tiêu hóa sinh để đánh giá đống ủ

7 Vi sinh vât cố định đạm CFU/g Không tìm thấy 5,1 x 106

8 Vi sinh vật phân giải lân CFU/g Không tìm thấy 4,2 x 106

9 Xạ khuẩn phân giải CFU/g 1,9 x 102 3,5 x 107

10 Vi khuẩn phân giải xenlulo CFU/g 1,7 x 102 1,5 x 107

11 Vi khuẩn hiếu khí tổng số CFU/g 1,6 x 103 3,1 x 107

(Công ty cổ phần công nghệ sinh học 2012)

Kết quả phân tích rơm rạ trước khi ủ cho thấy: pH = 7,3 phản ứng hơi kiềm,chất hữu cơ là 49,02%, hàm lượng đạm và lân đều ở mức trung bình, riêng Kali ở

Trang 22

CFU/g, riêng vi sinh vật cố định đạm và phân giải lân là không tìm thấy Như vậycho thấy tỷ lệ vi sinh vật trước khi ủ và sau khi ủ luôn thay đổi, nhờ bổ sung chếphẩm vi sinh vật đều cao hơn trước khi ủ.

Theo Lê Văn Tri (2012), chế phẩm này đã được cấp bằng độc quyền sáng chế.Phương pháp này giúp người nông dân xử lý rơm rạ nhanh, gọn, hiệu quả, không cótác hại tới môi trường, đồng thời còn giúp tạo ra nguồn phân bón hữu cơ chất lượngcao, bổ sung chất dinh dưỡng cho đất trồng, góp phần xây dựng một nền nông nghiệpbền vững và an toàn Chế phẩm sinh học xử lý rơm rạ FITO - BIOMIX - RR đã vàđang được ứng dụng khá rộng rãi trong cả nước việc xử lý rơm rạ thành phân bónbằng chế phẩm sinh học rất dễ thực hiện Trung bình 1 tấn rơm rạ khô thu được từ

600 - 700kg phân hữu cơ Theo Lê Văn Tri (2012) cho biết kết quả tính toán 1 tấnphân hữu cơ từ rơm rạ có 10kg đạm, 9,5kg lân và 21kg kali, nếu xử lý 50% lượngrơm rạ sau thu hoạch của các tỉnh và thành phố trong cả nước được xử lý bằng chếphẩm sinh học FITO - BIOMIX - RR thì lợi nhuận thu được gần 5 nghìn tỷđồng/năm Ở Việt Nam lượng rơm rạ cần xử lý là gần 45 triệu tấn, nếu xử lý hếtlượng rơm rạ trên sẽ thu được 20 triệu tấn phân bón hữu cơ, với con số này bà connông dân hàng năm không phải bỏ tiền ra mua: 200 ngàn tấn đạm, 190 ngàn tấn lân

và 460 ngàn tấn kali, quy ra tiết kiệm gần 11 ngàn tỷ đồng Việc dùng phân bón hữu

cơ đã giúp giảm lượng đáng kể phân bón hóa học, lại tăng độ phì nhiêu cho đất, do

đó tăng năng suất cây trồng và mang lại hiệu quả kinh tế

Dựa trên kết quả của các mô hình triển khai thử nghiệm ứng dụng chế phẩmsinh học FITO - BIOMIX - RR xử lý rơm rạ làm phân hữu cơ của những dự án, côngtrình nghiên cứu Theo trung tâm ứng dụng tiến bộ Khoa học và Công nghệ BắcGiang (2012) thì đơn vị này đã đề xuất và được UBND tỉnh phê duyệt thực hiện dự

án “Sản xuất chế phẩm FITO - BIOMIX - RR xử lý rơm rạ làm phân hữu cơ phục vụsản xuất nông nghiệp góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường nông thôn tại tỉnhBắc Giang” Sau thời gian triển khai, đến nay, dự án đã tiếp nhận chuyển giao, hoànthiện công nghệ sản xuất chế phẩm sinh học Fito - Biomix - RR xử lý rơm, rạ sau thu

Trang 23

hoạch thành phân bón hữu cơ Kết quả thu được từ dự án này Trung tâm đã đưa vàotriển khai thử nghiệm năm 2009 tại các huyện Lạng Giang, Tân Yên, Việt Yên và TPBắc Giang cho thấy việc xử lý rơm rạ sau thu hoạch làm phân bón ngoài tác dụnggiảm thiểu ô nhiễm môi trường do khói bụi đốt rơm còn góp phần hạn chế việc lạmdụng phân hoá học và thuốc hoá học trên đồng ruộng mà vẫn đảm bảo được năngsuất và nâng cao chất lượng nông sản, dần lấy lại độ phì nhiêu cho đất, làm tăng hàmlượng các chất khoáng, tăng độ tơi xốp của đất, tăng hàm lượng vi sinh vật hữu hiệutrong đất, giảm tối thiểu các loại vi sinh vật có hại, các loại mầm mống sâu bệnh hại.

Do đó giảm chi phí đầu tư phân bón và tăng thêm thu nhập từ sản xuất nông nghiệp

Giải pháp xử lý rơm, rạ sau thu hoạch bằng chế phẩm sinh học Fito biomix

-RR đã đáp ứng được nhiều mục tiêu đề ra là nâng cao nhận thức của người dân về táchại của việc đốt hoặc thải bừa bãi rơm, rạ sau thu hoạch dẫn đến lãng phí tài nguyên,

ô nhiễm môi trường, đồng thời giúp các hộ dân tiếp cận với công nghệ mới trong việcxử lý rơm, rạ thành phân bón hữu cơ vi sinh phục vụ sản xuất nông nghiệp, góp phầngiảm thiểu ô nhiễm môi trường, tránh thoái hóa và tăng độ phì nhiêu của đất (Trungtâm ứng dụng tiến bộ KH - CN tỉnh Bắc Giang, 2012)

Mô hình sản xuất phân hữu cơ vi sinh từ phụ phẩm nông nghiệp nhờ chế phẩmFITO - BIOMIX - RR đưa lại hiệu quả cả về kinh tế và môi trường Ngoài việc tậndụng sản phẩm dư thừa sau thu hoạch nhằm bổ sung phân hữu cơ tại chỗ, tiết kiệmkinh phí và tạo thói quen cho người dân không đốt rơm rạ mà còn là biện pháp bảo

vệ môi trường, tăng độ phì nhiêu cho đất, cân bằng sinh thái đồng ruộng và nâng caonăng suất, chất lượng cây trồng Nếu sử dụng sản phẩm phụ nông nghiệp, hàng nămsẽ có hàng nghìn tấn phân bón hữu cơ thay thế nguồn phân bón khác Đây là nguồnsản xuất sạch trong nông nghiệp, nông thôn, cho thấy rõ ràng hiệu quả kinh tế manglại khi khai thác theo phương pháp này, người dân sẽ tiết kiệm được khoản chi phíthay vì mua phân bón hóa học Hàng năm, nông dân đổ xuống đồng ruộng lượng lớnphân hoá học, thuốc bảo vệ thực vật làm cho cấu trúc đất bị thay đổi Nếu cứ tiếp tụcnhư vậy, đồng ruộng sẽ mất dần độ phì nhiêu, môi trường ô nhiễm, sức khoẻ con

Trang 24

người bị ảnh hưởng Việc sử dụng chế phẩm sinh học FITO - BIOMIX - RR canh táccây trồng đang là xu hướng của Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung nhằm bảođảm an toàn sinh học, an toàn thực phẩm và an toàn môi trường (Lê Văn Tri, 2012).

Tóm lại nhờ có những sự thay đổi trong nhận thức về môi trường và những kếtquả khả quan trong nghiên cứu mà việc xây dựng các cơ sở xử lý, tái chế phế thảingày càng tăng lên Các nghiên cứu và ứng dụng VSV trong xử lý phế thải và tái chếphế thải hữu cơ đã bước đầu góp phần làm giảm thiểu ô nhiễm đồng thời mở rahướng đi mới trong việc khắc phục hậu quả của thời đại công nghiệp, dẫn thay đổiphương thức sản xuất nông nghiệp nay để hướng tới nền nông nghiệp bền vững - nềnnông nghiệp hữu cơ Tuy nhiên chế phẩm VSV hiện nay vẫn chưa rút ngắn thời gian

ủ xuống như mong muốn của con người Vì vậy công tác phân lập tuyển chọn cácchủng VSV có khả năng xử lý các chất hữu cơ vẫn là hướng đi mới và ở nước ta đã

có nhiều nghiên cứu về phân bón sử dụng chế phẩm có khả năng giảm bớt đượclượng phân hóa học mà năng suất vẫn đảm bảo, chất lượng rau đạt theo tiêu chuẩnRAT (Lê Văn Tri, 2012)

1.3.3 Ứng dụng chế phẩm FITO - BIOMIX - RR xử lý rơm rạ ở Bắc Ninh.

Theo Sở KH&CN Tỉnh Bắc Ninh (2013) cho thấy: 8 hộ đầu tiên ở thôn NgangNội đã thử nghiệm dùng men vi sinh FITO - BIOMIX - RR để xử lý rơm rạ thànhphân bón, bước đầu giảm một phần lượng rơm đốt trong làng Đánh giá từ các hộtham gia mô hình cho thấy, thông thường, ủ rơm rạ phải mất 6- 8 tháng mới tơi mục,nhưng với chế phẩm này, chỉ cần khoảng 25 ngày trong mọi điều kiện thời tiết, rơm

đã phân hủy Ngoài rơm có thể sử dụng chế phẩm ủ bèo tây, thân cây lạc, đỗ để tạo

ra nguồn phân bón có đặc điểm là không mùi và thân thiện với môi trường Phân ủtrực tiếp tại ruộng bón cho lúa hoặc bón cho các loại cây màu như cà chua, khoai tây,chuối tiêu đều cho kết quả rất tốt

Theo ước tính, bình quân 1 ha lúa sau khi thu hoạch được 6 tấn rơm, rạ Thay

vì lãng phí rơm theo cách đốt bỏ như nông dân vẫn làm hiện nay, việc biến rơmthành phân hữu cơ có thể giúp họ tiết kiệm được nguồn nguyên liệu lớn để tái tạo

Trang 25

phân bón giàu dinh dưỡng phục vụ sản xuất nông nghiệp Năm 2011, Sở Khoa học

và Công nghệ tỉnh Bắc Ninh phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh xâydựng đề án khung tổ chức xử lý rơm rạ dư thừa sau thu hoạch thành phân bón hữu cơbằng chế phẩm sinh học phục vụ nông nghiệp giai đoạn 2011-2015 Vụ xuân năm

2014, Trung tâm phối hợp với phòng Công Thương các huyện Thuận Thành, Tiên

Du, Yên Phong, Gia Bình chuyển giao quy trình công nghệ xử lý rơm rạ sau thuhoạch bằng chế phẩm FITO - BIOMIX - RR cho nông dân Dự kiến, đến hết năm, sẽ

có khoảng 500 tấn rơm rạ được ủ thành phân hữu cơ từ chế phẩm sinh học này, vớimục tiêu bước đầu là tạo ra nguồn phân ủ tốt có khả năng cải tạo đất, góp phần khôngnhỏ trong việc giảm thiểu tình trạng đốt rơm rạ gây ô nhiễm môi trường Tình trạngđốt rơm hầu như không còn, đường làng quang đãng và người dân không phải đi lạitrong mù mịt khói rơm như trước

Mô hình xử lý rơm rạ bằng chế phẩm vi sinh FITO - BIOMIX - RR và quytrình xử lý rơm rạ thành phân bón hữu cơ ngày càng được phổ biến rộng rãi ở tỉnhBắc Ninh và được Cục Sở hữu trí tuệ - Bộ KH&CN cấp bằng độc quyền giải pháphữu ích Chế phẩm được nghiên cứu, thử nghiệm thành công tại nhiều địa phươngkhác nhau và được cả giới chuyên gia cũng như nông dân đánh giá cao Trong thờigian tới, Sở Khoa học và Công nghệ Bắc Ninh tiếp tục nghiên cứu, hướng dẫn cán bộ

và nhân dân sử dụng chế phẩm sinh học một cách hiệu quả hơn để tiến tới năm 2015,trên địa bàn tỉnh cơ bản không còn hiện tượng đốt, xả rơm bừa bãi trên đường giaothông, công trình thủy lợi gây mất mỹ quan và ảnh hưởng môi trường (Báo điện tửBắc Ninh, 5/2015)

Vụ mùa năm 2015, Trung tâm thông tin và ứng dụng tiến bộ KHCN (sở KH

và CN) tỉnh Bắc Ninh tổ chức nhân rộng kết quả ứng dụng chế phẩm FITO BIOMIX - RR trong xử lý rơm rạ sau thu hoạch Từ năm 2013, chế phẩm vi sinhFITO - BIOMIX - RR để xử lý rơm rạ bắt đầu ứng dụng trên địa bàn tỉnh và cho thấyhiệu quả trong việc tạo ra nguồn phân ủ tốt có khả năng cải tạo đất, góp phần giảmthiểu tình trạng đốt rơm rạ gây ô nhiễm môi trường và chính là một bước đi đúng

Trang 26

-đắn trong chiến lược vận dụng hệ thống dinh dưỡng cây trồng tổng hợp Bêncạnh việc hỗ trợ 100% kinh phí mua chế phẩm, trung tâm còn tổ chức nhiều buổichuyển giao quy trình công nghệ xử lý rơm rạ cho nông dân, các hộ dân ở 5 địaphương là thành phố Bắc Ninh, Tiên Du, Thuận Thành, Gia Bình và Quế Võ đăng ký

ủ 2500 tấn rơm ứng với 500kg chế phẩm (Báo điện tử Bắc Ninh, tháng 10/ 2015)

1.4 Thực trạng sản xuất rau an toàn.

1.4.1 Thực trạng sản xuất rau an toàn trên thế giới.

Theo FAO (2008) nhu cầu sử dụng rau xanh hằng năm tăng 5%, nhu cầu tiêuthụ rau quả trên thị trường thế giới hàng năm tăng khoảng 3,6%, trong khi đó thì khảnăng tăng trưởng sản xuất chỉ là 2,6% nên thị trường thế giới đối với mặt hàng rauquả luôn ở tình trạng cung không đủ cầu, dễ tiêu thụ và giá cả luôn trong tình trạngtăng Các nước càng phát triển công nghiệp thì nhu cầu nhập khẩu rau lại càng tăng,đời sống càng được nâng cao thì nhu cầu đối với các loại rau, quả tươi càng tăng Cóthể khẳng định rằng thị trường thế giới đối với rau, quả là rất có triển vọng Việt Nam

là nước đứng thứ 3 về diện tích rau trên thế giới sau Trung Quốc và Ấn Độ

Theo số liệu thống kê của FAO (2010) năng suất, diện tích, sản lượng rau trênthế giới trong các năm gần đây được thể hiện qua bảng sau :

Bảng 1.2: Tình hình sản xuất rau an toàn trên thế giới từ 2001 - 2009

Diện tích (nghìn ha) 15.392 17.120 16.679 17.263 17.873Năng suất (tấn/ha) 149.243 140.038 140.331 142.570 139.085Sản lượng (triệu tấn) 229.717 239.749 234.065 246.114 2485.912

(Nguồn: FAOSTAT, 2010)

Theo tổ chức Nông nghiệp quốc tế FAO (2011) giá trị sản lượng của sản xuấtrau an toàn thế giới tăng trưởng mạnh mẽ, bình quân hàng năm tăng 11,7% Do tácđộng của sự thay đổi yếu tố như: cơ cấu dân số, thị hiếu tiêu dùng và thu nhập dâncư…tiêu thụ nhiều loại rau sẽ tăng mạnh trong giai đoạn 2000 - 2010, đặc biệt là cácloại rau ăn lá

Trang 27

Theo USDA (2011) nếu như nhu cầu các loại rau diếp, rau xanh khác tăngkhoảng 22-23% thì tiêu thụ khoai tây và các loại rau củ khác tăng sẽ chỉ tăng khoảng7-8%, giá rau tươi các loại sẽ tiếp tục tăng cùng với tốc độ tăng nhu cầu tiêu thụ.Nhu cầu nhập khẩu dự báo sẽ tăng 1,8%.năm Các nước phát triển như Đức,Pháp, Canada vẫn là những nước nhập khẩu rau an toàn Các nước đang phát triểnđặc biệt Trung Quốc, Thái Lan và các nước Nam bán cầu vẫn là các nước cung cấprau tươi trái vụ chính Do nhu cầu thị trường thế giới những năm tới sẽ rất lớn vì vậysẽ tạo động lực cho các nước phát triển sản xuất rau an toàn đồng thời phải tăng caoviệc đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm Để đảm bảo lương thực thờiđiểm hiện nay đòi hỏi các quốc gia trên thế giới không ngừng mở rộng diện tích sảnxuất, cải tiến khoa học công nghệ trong sản xuất nông nghiệp để năng cao năng suất

và chất lượng nông sản

1.4.2 Thực trạng sản xuất rau an toàn ở Việt Nam.

Việt Nam có điều kiện về đất đai và khí hậu thích hợp trồng các loại rau antoàn nhiệt đới và ôn đới Ở miền Bắc khí hậu chia làm hai mùa rõ rệt là mùa nóng vàmùa lạnh Mùa lạnh thích hợp gieo trồng các loại rau như: bắp cải, su hào, súp lơ…

Ở miền Nam có nhiệt độ trung bình khá cao nên thích hợp trồng một số loại rau Sảnxuất rau an toàn ở Việt Nam những năm qua có những bước tiến đáng kể về quy mô,

cơ cấu sản phẩm, nhiều loại rau an toàn đặc sản có chất lượng cao được quyhoạch thành vùng chuyên canh (diện tích rau an toàn hàng năm tăng 5,6%) Khuvực sản xuất rau an toàn chủ yếu là vùng Đồng Bằng Sông Hồng chiếm 26,25%diện tích

Đặc biệt là chất lượng RAT khi phân tích vẫn còn dư lượng Nitrate, thuốc trừsâu và các vi sinh vật gây hại còn khá cao Việc quản lý, sản xuất RAT cần phải đượcquan tâm đặc biệt và cũng là những vấn đề cần được giải quyết ngay trong thời gianhiện nay và những năm tiếp theo. Sản xuất rau an toàn vừa là nhu cầu vừa là mục tiêu

và định hướng của sản xuất rau cả nước Vì vậy rau được coi là loại cây trồng chủlực trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp của nhiều quốc gia

Theo Tổng cục Thống kê (2014), diện tích gieo trồng rau trên cả nước đạt

Trang 28

873 ngàn ha, năng suất bình quân đạt xấp xỉ 175 tạ/ha, sản lượng ước đạt 15,3triệu tấn; so với năm trước diện tích tăng 25,8 ngàn ha (tương đương 3%); năngsuất tăng 2,3 tạ/ha (1,3%), sản lượng tăng gần 650 ngàn tấn (4,4%)

Bảng 1.3: Diện tích, năng suất gieo trồng tại các vùng rau an toàn

hỗ trợ giải quyết thỏa đáng; thị trường, xúc tiến thương mại, khuyến khích hỗ trợ hoạtđộng xuất khẩu chưa được quan tâm đúng mức

Trang 29

Theo Mai Văn Minh (2013): rau ăn lá rất dễ bị nhiễm một số độc chất về dưlượng thuốc bảo vệ thực vật, kim loại nặng, nitrate, các vi trùng và ký sinh trùng Dưlượng NO3- làm ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng về bệnh cấp tính và mãn tính.Nguyên nhân làm cho sự tích luỹ lượng nitrat trong rau cao chủ yếu do sử dụnglượng phân đạm dạng hóa học quá nhiều và bón gần thời gian thu hoạch NO3- làlượng chất đạm hiện diện trong cây trồng, sử dụng lượng NO3- vừa đủ, giúp cho câysinh trưởng phát triển cân đối, đảm bảo chất lượng nông sản Dư lượng NO3- trong

mô thực vật vượt quá ngưỡng an toàn được xem như một độc chất và tồn dư NO3trong nông sản sẽ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của người sử dụng

-Bên cạnh đó mức độ ô nhiễm các loại vi sinh vật gây bệnh (E.coli, Salmonellasp ) và kí sinh trừng đường ruột (trứng giun đũa Ascaris sp ) cũng rất được quantâm với các loại rau ăn lá

Bảng 1.4: Mức giới hạn tối đa cho phép của một số vi sinh vật trong rau.

TT Chỉ tiêu Mức giới hạn tối đa cho

phép ( CFU) Phương Pháp thử

1.5 Tổng quan về phân bón hữu cơ

Trong quá phát triển nông nghiệp bền vững, phân bón hữu cơ được coi như làmột nhân tố đi đầu giúp nâng cao chất lượng sản phẩm cũng như cải tạo độ màu mỡđất đai Hơn nữa xu hướng chăn nuôi nhỏ lẻ trong nông hộ gần như không còn, vì

Trang 30

vậy nhu cầu về phân bón hữu cơ từ rơm rạ là rất lớn Thực tế trong sản xuất nôngnghiệp hiện nay, khi nông dân được tiếp cận với việc chuyển giao công nghệ củachương trình VietGap họ mới nắm bắt và hiểu rõ về vấn đề này Việc chọn lọc phânbón, chất bổ sung, xử lý phân hữu cơ và sử dụng phân bón an toàn cũng như tuân thủthời gian cách ly tối thiểu đối với phân hữu cơ, phân đạm là bao lâu nông dân đềuchưa hiểu rõ Vì thế, việc đưa quy định tiêu chuẩn phân bón hữu cơ cho rau an toàn

về dư lượng đạm, vi sinh vật càng phổ cập

1.5.1 Định nghĩa, và phân loại

- Tác dụng của phân hữu cơ:

+ Cải tạo lý tính đất: độ xốp, tăng khả năng giữ nước

+ Cải tạo hóa tính đất: tăng khả năng cố định dinh dưỡng

+ Cải tạo tính chất đất: kích thích các hoạt động của VSV có ích trong đất

1.5.1.2 Phân loại

Theo Bộ NN và PTNT (2014) phân loại phân bón hữu cơ sau:

- Nhóm phân hữu cơ truyền thống là loại phân có nguồn gốc từ chất thải của

người, động vật hoặc từ các phế phụ phẩm trồng trọt, chăn nuôi, chế biến nông, lâm,thuỷ sản, phân xanh, rác thải hữu cơ, các loại than bùn được chế biến theo phươngpháp ủ truyền thống đảm bảo các chỉ tiêu chất lượng và vệ sinh an toàn toàn thựcphẩm, môi trường theo quy định

Ví dụ, trong phân bò tươi có chứa chất đạm khoảng 0,341%, phân trâu cóchứa 0,306% còn trong phân lợn có 0,669% chất Hàm lượng dinh dưỡng trong phân

Trang 31

chuồng có nhiều hay ít tùy theo lượng chất độn như rơm, rác, lá cây, cỏ cho thêmvào, nhưng chắc chắn là ít hơn phân nguyên chất rất nhiều.

- Nhóm phân hữu cơ chế biến công nghiệp, bao gồm:

+ Phân hữu cơ khoáng: Có hàm lượng hữu cơ phải chiếm từ 15% trở lên và

tổng số N+P+K phải được 8% trở lên (8 – 18%)

+ Phân hữu cơ: Có hàm lượng hữu cơ khoảng 20%, chứa chất đạm từ 2% trở

lên, tỷ lệ C/N khoảng 12 (chất hữu cơ so với chất đạm)

+ Phân hữu cơ sinh học: Hàm lượng axit Humic, Fulvic hay Humin hoặc tổng

các axit amin, vitamin hay hợp chất sinh học khác phải đạt từ 5% trở lên

+ Phân hữu cơ vi sinh: Chất hữu cơ trên 15%, có ít nhất 1 vi sinh vật hữu ích

có mật số bào từ ít nhất là 1,5 x 106/gr hoặc ml

+ Phân vi sinh vật: Trong phân chứa ít nhất 1 chủng vi sinh hữu ích, có số bào

tử sống tối thiểu 1,5 x 108

1.5.2 Một số quy định tiêu chuẩn phân bón hữu cơ.

Tiêu chuẩn chất lượng phân bón là bản liệt kê quy định về mức giới hạn các

chỉ tiêu chất lượng đối với từng loại phân bón hoặc nhóm phân bón được phép sảnxuất, nhập khẩu và kinh doanh tại Việt Nam

Tiêu chuẩn chất lượng phân bón giúp thể hiện, cho biết hàm lượng carbon cao

và có chất lượng trong phân hữu cơ sinh học còn giúp cải thiện tính bền vật lý đất vàhấp phụ một số nguyên tố gây bất lợi cho cây trồng Vì thế nông dân cần chịu khó tự

ủ phân hữu cơ kết hợp thêm các dòng vi khuẩn, nấm có lợi để bón vào đất trong canhtác hướng tới nông nghiệp bền sạch và bền vững

Theo hướng dẫn có trong VietGap (thực hành sản xuất nông nghiệp tốt chorau quả tươi của Việt Nam) thì việc đảm bảo cho rau quả được an toàn đối với phân:

+ Chỉ bón phân hữu cơ đã được xử lý triệt để và dừng bón trước thời điểm thuhoạch tối thiểu là 2 tuần

+ Sử dụng phân bón hữu cơ an toàn: bón cho các cây rau có thời gian sinhtrưởng trong vòng 60 ngày cần bón lót cho cây 100% (vùi phân vào đất) nhằm giảm

Trang 32

thiểu nguy cơ tiếp xúc của các sản phẩm hữu cơ với phần ăn được của cây rau Đồngthời, đảm bảo khi phân đem bón phải mục (phân tơi xốp và không thấy mùi thối).

+ Không bón phân hữu cơ vào những ngày có gió, nhất là ở những ruộng gầnnơi cây rau sắp sửa được thu hoạch

+ Tuân thủ thời gian cách ly phân bón: Khoa học đã chỉ ra, hàm lượng nitơrattồn dư trong nông sản là yếu tố chính gây nên bệnh ung thư cho con người Vì vậy,

để rau quả được an toàn cho người sử dụng, không nguy hại đến tính mạng của conngười, trước hết, người làm ra những sản phẩm này cần phải biết rõ thời gian cách lyđối với từng loại phân bón Cụ thể là phân hữu cơ và phân đạm

+ Phân hữu cơ nên trộn với phân lân và phân kali bón lót cho ruộng rau, bónxong rồi cày đất hoặc bón theo luống Bón một lần hoặc chia làm hai lần trong nămvào lúc thuận tiện nhất, làm như vậy đất sẽ tơi xốp và có dự trữ lân, kali, lưu huỳnh,magie và các chất dinh dưỡng khác

1.6 Thực trạng, cơ sở giảm ô nhiễm NO 3 - trong rau ăn lá

1.6.1 Thực trạng ô nhiễm NO 3 - trong rau ăn lá

Rau là loại thực phẩm không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày của con người.Hiện nay trong sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất rau nói riêng, việc sửdụng phân bón đã mang lại hiệu quả to lớn trong việc nâng cao năng suất cây trồng.Tuy nhiên, việc sử dụng phổ biến các loại phân hóa học trong sản xuất, cũng như cácđiều kiện sản xuất không đảm bảo đã làm gia tăng tình trạng tồn dư Nitrat (NO- 3),ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng các loại nông sản sau thu hoạch, đó chính làmột trong những nguyên nhân chủ yếu gây mất an toàn vệ sinh thực phẩm đối vớicác sản phẩm rau quả và đang là mối hiểm họa thường trực đối với cuộc sống

Theo cẩm nang rau ăn lá an toàn năm 2012 cho biết: Rau ăn lá rất dễ bị nhiễmmột số độc chất về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, kim loại nặng, nitrate, các vitrùng và ký sinh trùng Dư lượng NO3- làm ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng vềbệnh cấp tính và mãn tính Nguyên nhân làm cho sự tích luỹ lượng nitrat trong rau

Trang 33

cao chủ yếu do sử dụng lượng phân đạm dạng hóa học quá nhiều và bón gần thờigian thu hoạch.

Nitrat NO3- là lượng chất đạm hiện diện trong cây trồng, sử dụng lượng NO3vừa đủ, giúp cho cây sinh trưởng phát triển cân đối, đảm bảo chất lượng nông sản

-Dư lượng NO3- trong mô thực vật vượt quá ngưỡng an toàn được xem như một độcchất và tồn dư NO3- trong nông sản sẽ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của người sửdụng Dư lượng NO3- là một trong những tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá chấtlượng rau (Mai Văn Minh, 2013)

Ở Việt Nam do chạy theo năng suất và lợi nhuận, người sản xuất đã lạm dụngphân đạm Trong khi sử dụng phân đạm theo chiều hướng gia tăng thì việc sử dụngphân lân và phân kaly rất ít, phối hợp theo tỷ lệ không hợp lý điều đó đã làm cho hàmlượng nitrat trong thương phẩm rất cao Lượng nitrat có thể tích lũy trong mỗi loạirau, phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó liều lượng phân đạm sử dụng cho cây trồngđược đặc biệt quan tâm

Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Đình Thi và Lê Thị Quyên (2011), đốivới liều lượng đạm (0 kg N, 30 kg N, 60 kg N, 120 kg N, 150 kg N) trên 31 giống cảixanh trong điều kiện có lưới che tại thành phố Huế, khi tăng liều lượng đạm đã làmtăng các chỉ tiêu thân lá cải xanh Giữa các công thức bón 60 – 150 kg N/ha không có

sự sai khác thống kê về các chỉ tiêu sinh trưởng thân lá Từ mức bón 30 - 150 kgN/ha năng suất lý thuyết và năng suất thực thu cải xanh không có sự sai khác thống

kê Tuy nhiên công thức 60 kg N/ha cho hiệu quả kinh tế cao nhất với VCR đạt tới9,61

Bản thân lượng NO3- dư thừa trong cây trồng là một hiện tượng bình thườngcho sự dinh dưỡng của cây Tuy nhiên, để đảm bảo năng suất cao, người sản xuuấtthường dùng một lượng thừa phân bón hóa học, nhất là phân đạm Sự tích tụ NO3-trong nông phụ phẩm phụ thuộc vào số lượng và phương pháp bón phân đạm, bêncạnh đó còn phụ thuộc vào dặc điểm sinh học của cây trồng, kĩ thuật canh tác vànhiều yếu tố môi trường khác Sản xuất nông nghiệp hiện nay đang tiến dần đến việc

Trang 34

sử dụng các giống lai với đặc điểm di truyền cho phép không tích lũy nitrat với lượngcao Việc tích lũy NO3- trong cây trồng do nhiều yếu tố tác động Người ta đã nhậnthấy có gần 20 yếu tố ảnh hưởng tới việc tích lũy NO3- trong cây trồng Khi trời râm

và độ ẩm cao, lượng nitat tích lũy trong cây gấp 3 lần bình thường Lượng nitrat cũngtăng cao khi trời nắng và nhiệt độ cao Nhưng trong điều kiện trời nắng và nhiệt độthấp thì lượng tích lũy nitrat trong cây giảm đi rất nhiều

Trong hoạt động thương mại quốc tế, các nước nhập khẩu rau tươi đều phảikiểm tra lượng nitrat trước khi cho nhập Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và cộng đồngkinh tế châu Âu (EC) giới hạn hàm lượng nitrat trong nước uống là 50 mg/l, trong rau

là không quá 300 mg/kg rau tươi

Theo kết quả đánh giá thực trạng tồn dư NO3- trong rau tại tỉnh Quảng Bình củachi cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản và Thuỷ sản Quảng Bình năm 2013, kếtquả phân tích dư lượng NO3- của 50 mẫu rau các loại (gồm 40 mẫu rau cải, 10 mẫumướp đắng) trên địa bàn tỉnh Quảng Bình cho thấy, số mẫu rau phát hiện dư lượngNitrat chiếm tỷ lệ lên đến 36% (18/50 mẫu), trong số đó có 5 mẫu (chiếm 10%) chứa

dư lượng Nitrat vượt quá ngưỡng cho phép Mức dư lượng NO3- trong các mẫu rauphân tích biến động từ 16 - 530 mg/kg Với mức dư lượng này, nhiều mẫu rau phântích đã vượt mức dư lượng tối đa cho phép theo quy định của WHO và EC

Một số kết quả thử nghiệm cho thấy có sự tương quan giữa việc sử dụngphân đạm và lượng nitrat tích tụ trong sản phẩm Khi cây trồng không đạt đượcmức phát triển tối ưu, nếu bón thêm phân đạm sẽ làm tăng năng suất, cũng vì thếlàm cho cây trồng tích lũy thêm một lượng nitrat không cần thiết Như vậy ngườisản xuất chỉ cần giảm một lượng đạm nhất đinh thì có khả năng khống chế đượclượng NO3- trong rau, đồng thời thay bón phân đạm bằng bón các loại phân bónhữu cơ có tác dụng làm giảm lượng tích tụ nitrat Do đó bón phân với các loại N,P,K

là rất quan trọng cho phép giảm hàm lượng nitrat trong nông phẩm

Để đảm bảo quyền lợi cho người tiêu dùng thì người sản xuất cần thực hiệntheo tiêu chuẩn vệ sinh với rau như sau:

Trang 35

- Cây rau không hư hại, rập, nát, héo úa, vàng lá.

- Dư lượng thuốc BVTV theo quy định của quốc tế

- Dư lượng NO3- theo quy định của quốc tế

- Hạn chế tối đa vi sinh vật gây hại cho người và gia súc

Hàm lượng NO3- trong rau là một trong những tiêu chí quan trọng liên quanđến chất lượng rau an toàn.Theo Quyết định số 99/2008/QĐ-BNN, mức giới hạn tối

đa cho phép hàm lượng NO3- đối với rau cải nói riêng là 500mg/kg Nhiều nhà khoahọc cho rằng, có tới 20 yếu tố làm tăng hàm lượng NO3- trong sản phẩm rau nhưgiống cải (Tạ Thu Cúc, 2005; Nguyễn Cẩm Long và đồng tác giả 2012), phân bón(Hoàng Thị Thái Hòa, 2009)…

Theo kết quả kiểm tra thực hiện các quy định về quản lý và chứng nhận rau antoàn tại Hà Nội của Cục Bảo vệ thực vật, 2007 rau cải xanh và cải ngọt là hai loại rau

có dư lượng NO3- vượt mức khá cao: rau cải xanh 559,59 mg/kg, rau cải ngọt 655,92

mg/kg (Cao Thị Làn, 2011) Khi khảo sát chất lượng rau ở các chợ nội thành Hà Nội

cho thấy 30 trong 35 loại rau phổ biến có tồn dư NO3- vượt trên 500 mg/kg Các loạirau như cải xanh, cải Đông Dư, rau đay, rau dền, củ cải…không có mẫu nào có tồn

dư NO3- dưới 500 mg/kg (Trần Khắc Thi, 2011)

Theo số liệu điều tra của Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội các năm 2003,

2004 tại các chợ Hà Nội và tại một số cơ sở sản xuất cho thấy tồn dư nitrat trong cảibắp, su hào, hành tây đều vượt ngưỡng cho phép từ 16 - 580 mg/kg sản phẩm (LêHồng Chiến, 2010)

Trong quá trình sinh trưởng và phát triển, đạm là một trong những yếu tố dinhdưỡng cơ bản cần thiết cho cây trồng, nếu không cung cấp đủ hàm lượng đạm cầnthiết thì quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng sẽ bị hạn chế và ngưng hoàntoàn Là một dạng của đạm trong đất, được tạo thành do quá trình nitrat hóa có sựtham gia của vi sinh vật nên có mặt trong đất Đạm (N) là yếu tố đóng vai trò chủ đạotrong sản xuất rau, được người trồng ưu tiên sử dụng hơn lân (P) và kali (K) Khi bónđạm (N) vào đất chúng bị nitrat hóa thành amoniac (NH3) NH3 là nguồn nguyên liệu

Trang 36

được cây sử dụng để tổng hợp các hợp chất quan trọng như: axit amin, protein và cácvật chất có đạm khác Vì vậy, có thể nói không có đạm thì không có sự sống Quátrình khử nitrat (dư NO3-) được thực hiện chủ yếu tại hệ rễ thực vật Do nhiều nguyênnhân dẫn đến làm cho quá trình này không thực hiện được một cách triệt để làm chonitrat và sản phẩm của nó (NO2) tồn tại ở môi trường xung quanh: đất, nước, khíquyển và thực vật (Tạ Thu Cúc, Trần Khắc Thi và cs, 2007, 2009 ).

1.6.2 Cơ sở giảm thiểu NO 3 - trong rau ăn lá

Lượng phân bón hữu cơ sử dụng cho các loại cây trồng trong những năm gầnđây giảm đáng kể, đặc biệt là bón cho lạc và lúa Tuy nhiên, phân chuồng hoai mụcđược người dân bón với lượng lớn cho tất cả các loại rau (trung bình từ 3 - 4,5tạ/sào), nhằm giảm lượng đạm bón cho rau, từ đó hạn chế được dư lượng nitrat trênrau, cũng như tránh được sự sinh trưởng mất cân đối, đồng thời hạn chế được sâubệnh xâm nhiễm, từ đó đảm bảo được phẩm chất của rau (Bộ NN và PTNT, 2013) Các kết quả nghiên cứu của viện công nghệ sinh học về việc sử dụng các chếphẩm sinh học nhằm nâng cao độ phì của đất và chất lượng của sản phẩm trong năm

2004 - 2005 đã cho những kết quả tốt, có khả năng triển khai trên diện rộng Việc sửdụng chế phẩm vi sinh và phân bón tạo bởi chế phẩm vi sinh đã giúp giảm được từ

30 - 50% lượng phân bón hóa học, sản lượng rau tăng từ 15 - 20%, hàm lượng nitrattrong rau giảm 10 lần, thấp hơn nhiều so với tiêu chuẩn cho phép (Phạm Xuân Lân, 2007)

Chủng loại phân bón (phân hữu cơ và phân vô cơ), liều lượng dùng, bón phânkhông cân đối giữa các nguyên tố N, P, K; phương pháp bón Đặc biệt quá lạm dụngphân đạm vô cơ trong sản xuất rau, bón dạng đạm gốc NO3- sẽ làm cho dư lượngNO3- tăng lên rõ rệt Để giảm dư lượng nitrat trong rau, theo Tạ Thị Cúc (2005),những yếu tố gây trở ngại cho quá trình nitrat hóa có thể điều chỉnh thông qua:

+ Điều kiện thời tiết khí hậu ảnh hưởng đến quá trình nitrat hóa: nhiệt độ daođộng quá lớn, thời gian chiếu sáng trong ngày ngắn, ánh sáng yếu làm tăng trong cây

+ Phân bón là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến dư lượng NO3- tăng cao

+ Độ ẩm thừa hoặc thiếu ảnh hưởng không tốt đến quá trình nitrat hóa

Trang 37

+ Đất đai: gieo trồng trên đất nhẹ, tơi xốp (đất cát pha, đất thịt nhẹ) thì sẽ làmgiảm dư lượng nitrat trong cây.

+ Giống: chủng loại khác nhau thì sự tích tụ dư lượng NO3- trong cây cũngkhác nhau và phụ thuộc chủ yếu vào đặc tính giống Ví dụ: những cây rau trong họthập tự, họ hòa thảo, họ cà, họ rau dền và thân lá quả họ bầu bí thường tích lũy nhiềuNO3- Vì vậy, khi đưa ra giống mới cần phải đánh giá dư lượng NO3-

+ Diện tích dinh dưỡng: khi tăng khoảng cách hàng, khoảng cách cây và diệntích dinh dưỡng cho mỗi cá thể và giảm mật độ gieo trồng trên đơn vị diện tích sẽ hạnchế sự tích tụ dư lượng NO3- trong cây

+ Phương pháp thu hoạch: muối độc hại thường tích tụ nhiều ở gốc cây, khithu hoạch phải cắt cao, cắt xa gốc thì dư lượng NO3- sẽ ít hơn

+ Phương pháp bảo quản và chế biến: bảo quản và chế biến ở nhiệt độ 0 0Cđến 1 oC, dư lượng NO3- giảm đi từ 30 - 67% so với thời gian đầu bảo quản

+ Vệ sinh thực phẩm và kỹ thuật nấu nướng: rau rửa sạch trước khi chế biến,thức ăn nấu nướng bằng áp suất cao thì dư lượng nitrat giảm 3 lần

+ Xây dựng mô hình sản xuất rau an toàn dựa trên phương pháp canh tác hữu cơ

có sự tham gia ý kiến và giám sát của người tiêu dùng

Như vậy, canh tác nông nghiệp đặc biệt trong canh tác RAT cần chú trọngviệc sử dụng phân hữu cơ vi sinh hạn chế hoá chất bảo vệ thực vật và phân bón hoáhọc góp phần cải thiện chất lượng nông sản, độ phì nhiêu của đất, đảm bảo nhu cầuphát triển bền vững trong khi vẫn đảm bảo khả năng duy trì năng suất cây rau vàgiảm hàm lượng NO3- tồn dư trong rau Việc sử dụng chế phẩm FITO - BIOMIX -

RR chế biến rơm, rạ thành phân hữu cơ vi sinh giúp hỗ trợ cây trồng trong việcphòng trừ bệnh hại, cho thương phẩm sạch, chất lượng cao Ngoài ra, các chủng visinh vật có ích khác khi được bổ sung vào phân hữu cơ sinh học còn giúp cải thiện độphì tự nhiên của đất, giảm chi phí do phân bón vô cơ Hàm lượng cacbon cao và cóchất lượng trong phân hữu cơ sinh học còn giúp cải thiện tính bền vật lý đất và hấpphụ một số nguyên tố gây bất lợi cho cây trồng Vì thế nông dân cần chịu khó tự ủ

Trang 38

phân hữu cơ kết hợp thêm các dòng vi khuẩn, nấm có lợi để bón vào đất trong canhtác Hiệu quả lâu dài của phân hữu cơ sinh học sẽ được tiếp tục nghiên cứu và ứngdụng nhằm hướng tới một nền nông nghiệp, bền vững đáp ứng yêu cầu bảo vệ môitrường và an toàn cho con người Do đó, trong canh tác rau, phân hữu cơ chiếm mộtvai trò rất quan trọng Ngoài việc chúng cung cấp các chất dinh dưỡng đa lượng NPKcho cây, phân bón ủ từ rơm rạ nhờ chế phẩm FITO - BIOMIX - RR còn là nguồncung cấp các nguyên tố vi lượng mà chúng không thể thiếu trong quá trình phát triển

và tạo năng suất như bo, mangan, kẽm, molipden…Phân ủ rơm rạ còn một vai trò rấtquan trọng khác là làm đất tơi xốp, tăng độ mùn, góp phần cải tạo đất, giữ ẩm cho đấttrong mùa khô Khi gia tăng hàm lượng mùn chúng kết hợp với các loại phân hoáhọc khi bón vào đất chống làm trôi phân tăng hiệu suất sử dụng phân

Sử dụng phân bón hữu cơ từ rơm rạ sử dụng chế phẩm FITO - BIOMIX - RRsẽ thay thế một phần phân bón hóa học trên đồng ruộng, nhờ đó đất trồng trọt không

bị suy thoái mà vẫn đảm bảo nâng cao năng suất thu hoạch Sử dụng phân bón hữu

cơ về lâu dài sẽ dần trả lại độ phì nhiêu cho đất như làm tăng lượng photpho và kali

dễ tan trong đất canh tác, cải tạo độ bền vững của đất đối với cây trồng nhờ khả năngcung cấp hàng loạt các chuyển hóa chất khác nhau liên tục do nhiều quần thể sinh vậtkhác nhau tạo ra Việc sử dụng phân bón hữu cơ còn có ý nghĩa rất lớn là tăng cườngbảo vệ môi trường sống, giảm tính độc hại do hóa chất trong các loại nông sản thựcphẩm do lạm dụng phân bón hóa học Hướng tới mục tiêu “nông nghiệp bền vững”thì biện pháp ổn định hàm lượng hữu cơ trong đất là rất quan trọng

Trang 39

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Phụ phẩm nông nghiệp (rơm, rạ);

- Hàm lượng NO3- trong rau cải xanh

2.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian: thị trấn Chờ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.

2.3 Vật liệu nghiên cứu:

Rơm rạ đã phơi khô, chế phẩm FITO - BIOMIX - RR, giống rau cải xanh tên

khoa học là Brassicajuncea L, thuộc họ thập tự Cruciferae.

2.4 Nội dung nghiên cứu.

2.4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hôi thị trấn Chờ, huyện Yên Phong, Bắc Ninh2.4.2 Thực trạng sản xuất nông nghiệp và sử dụng phân bón trong canh tác rau ở thịtrấn Chờ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh

2.4.3 Nghiên cứu quy trình kĩ thuật sử dụng chế phẩm FITO - BIOMIX - RR để xử

lý rơm rạ thành phân hữu cơ nhằm giảm thiểu sử dụng phân bón hóa học

2.4.4 Nghiên cứu quy trình kĩ thuật trong canh tác rau cải xanh nhằm giảm thiểu hàmlượng NO3- tại thị trấn Chờ

2.4.5 Xác định hàm lương lượng NO3- trong rau cải xanh tại thị trấn Chờ

2.4.6 Đề xuất giải pháp canh tác rau phù hợp nhằm giảm thiểu hàm lượng NO3trong rau cải xanh

Trang 40

-2.5 Phương pháp nghiên cứu

2.5.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp.

- Thu thập các tài liệu, báo cáo, nghiên cứu có liên quan đến trồng rau ở ViệtNam cũng như trên thế giới

- Các thông tin về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội thị trấn Chờ, huyện YênPhong, tỉnh Bắc Ninh

2.5.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp

2.5.1.1 Khảo sát tình hình canh tác sản xuất rau thị trấn Chờ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.

Thị trấn Chờ có 5 thôn: Phú Mẫn, Nghiêm Xá, Trác Bút, Trung Bạn, NgânCầu, trong đó thôn có diện tích sản xuất rau chiếm tỷ trọng cao nhất và đó cũng là 3thôn chúng tôi lựa chọn là điểm nghiên cứu của đề tài Mỗi thôn chúng tôi tiến hànhphỏng vấn 40 hộ theo phương pháp lựa chọn ngẫu nhiên theo danh sách của trưởngthôn Trong mỗi hộ chúng tôi tập trung vào các nội dung chủ yếu sau: diện tích gieotrồng các loại rau, biện pháp kĩ thuật áp dụng, tình hình tiêu thụ rau trên địa bànnghiên cứu

2 5.1.2 Nghiên cứu qui trình kĩ thuật gieo trồng rau cải xanh nhằm giảm hàm lượng nitrat tại thị trấn Chờ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.

a, Bố trí thí nghiệm

Bảng 2.1: Bố trí các công thức thí nghiệm

Công thức 1 CT 1 Đối chứng (theo qui trình kĩ thuật *)Công thức 2 CT 2 Giảm 30% phân vô cơ, tăng phân hữu cơ tương ứngCông thức 3 CT 3 Giảm 50% phân vô cơ, tăng phân hữu cơ tương ứngCông thức 4 CT 4 Giảm 70% phân vô cơ, tăng phân hữu cơ tương ứng

Ghi chú: * là qui trình kĩ thuật gieo trồng rau cải xanh của Trần Khắc Thi, 2005

Ngày đăng: 27/04/2017, 20:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ KH và CN (2011) “Báo cáo tổng kết dự án xây dựng mô hình thực hành nông nghiệp tốt (VietGap) để sản xuất rau an toàn tại Nghệ An” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết dự án xây dựng mô hình thực hànhnông nghiệp tốt (VietGap) để sản xuất rau an toàn tại Nghệ An
6. Công ty cổ phần Công Nghệ Sinh Học (2012): “Nghiên cứu thử nghiệm ứng dụng chế phẩm FITO - BIOMIX - RR xử lý rơm rạ” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thử nghiệm ứngdụng chế phẩm FITO - BIOMIX - RR xử lý rơm rạ
Tác giả: Công ty cổ phần Công Nghệ Sinh Học
Năm: 2012
7. Cao Thị Làn (2011): “Nghiên cứu xây dựng quy trình sản xuất xà lách, dưa leo, cà chua sạch trên giá thể trong nhà che phủ tại Đà Lạt”. Trường Đại học Đà Lạt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xây dựng quy trình sản xuất xà lách, dưa leo,cà chua sạch trên giá thể trong nhà che phủ tại Đà Lạt
Tác giả: Cao Thị Làn
Năm: 2011
8. Hoàng Hà (2009), “Thực trạng dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong một số loại rau trên địa bàn Hà Nội và đề xuất một số giải pháp quản lý thuốc bảo vệ thực vật”. Luận văn thạc sĩ Nông nghiệp - Đại học Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong một sốloại rau trên địa bàn Hà Nội và đề xuất một số giải pháp quản lý thuốc bảo vệ thựcvật
Tác giả: Hoàng Hà
Năm: 2009
9. Hoàng Thị Thái Hòa, 2009, “Nghiên cứu ảnh hưởng của sử dụng các loại phân bón đến hàm lượng nitrat trong đất và trong một số loại rau ăn lá chính trên đất phù sa huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế”. Báo cáo đề tài cấp Bộ, Đại học nông lâm Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ảnh hưởng của sử dụng các loại phânbón đến hàm lượng nitrat trong đất và trong một số loại rau ăn lá chính trên đấtphù sa huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế
11. Nguyễn Đình Dũng (2009), “Nghiên cứu tình hình sản xuất rau theo tiêu chuẩn thực hành nông nghiệp tốt (VIETGAP) ở huyện An Dương - Hải Phòng”.Luận án thạc sĩ kinh tế nông nghiệp. Đại học Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tình hình sản xuất rau theo tiêuchuẩn thực hành nông nghiệp tốt (VIETGAP) ở huyện An Dương - Hải Phòng
Tác giả: Nguyễn Đình Dũng
Năm: 2009
13. Nguyễn Xuân Thành, Vũ Thị Hoàn, Đinh Hồng Duyên (2005), “Xây dựng quy trình sản xuất chế phẩm vi sinh vật xử lý tàn dư thực vật trên đồng ruộng thành phân hữu cơ tại chỗ bón cho cây trồng”, Báo cáo tổng kết NC Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựngquy trình sản xuất chế phẩm vi sinh vật xử lý tàn dư thực vật trên đồng ruộngthành phân hữu cơ tại chỗ bón cho cây trồng
Tác giả: Nguyễn Xuân Thành, Vũ Thị Hoàn, Đinh Hồng Duyên
Năm: 2005
14. Lê Hồng Chiến (2010), “Phân tích chi phí - lợi ích mở rộng dự án Rau Sinh Thái giai đoạn trồng thử nghiệm tại xã Thọ Xuân - Đan Phượng”, Khóa luận tốt nghiệp khoa Môi Trường, Trường Đại Học Khoa học Tự nhiên Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích chi phí - lợi ích mở rộng dự án Rau SinhThái giai đoạn trồng thử nghiệm tại xã Thọ Xuân - Đan Phượng
Tác giả: Lê Hồng Chiến
Năm: 2010
15. Lý Kim Bảng (2001), “Xử lý tàn dư thực vật bằng chế phẩm vi sinh vật”, Báo cáo tổng kết nghiên cứu, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xử lý tàn dư thực vật bằng chế phẩm vi sinh vật
Tác giả: Lý Kim Bảng
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2001
19. Quyết định số 106/2007/QĐ – BNN của Bộ trưởng Bộ NN và PTNT về quy định quản lý sản xuất và kinh doanh rau an toàn) ngày 28 tháng 12 năm 2007 20. FAOSTAT, 200721. FAOSTAT, 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ngày
27. Nguyễn Cẩm Long, Nguyễn Minh Hiếu, Trần Đăng Khoa, Trần Đăng Hòa,“Khảo nghiệm một số giống cải xanh (Brasica juncea L.) phục vụ sản xuất rau tại tỉnh Quảng Bình”,Tạp chí Nông nghiệp & PTNT, 03/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo nghiệm một số giống cải xanh (Brasica juncea L.) phục vụ sản xuất rau tạitỉnh Quảng Bình”
28. Nguyễn Đình Thi, Lê Thị Quyên (2011), “Nghiên cứu xác định liều lượng đạm, lân và kali hợp lý cho cải xanh (Brassica juncea) trồng trong điều kiện có lưới che tại thành phố Huế”, Tạp chí khoa học, Đại học Huê, số 64, trang:149 – 158* Tài liệu Internet Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xác định liều lượng đạm,lân và kali hợp lý cho cải xanh (Brassica juncea) trồng trong điều kiện có lưới chetại thành phố Huế”, "Tạp chí khoa học, Đại học Huê", số 64, trang:149 – 158
Tác giả: Nguyễn Đình Thi, Lê Thị Quyên
Năm: 2011
2. Công ty rau sạch Sông Hồng: “Ảnh hưởng nitrat trong rau đến sức khỏe con người” trên trang: http://www.rausachsonghong.vn/suc-khoe/anh-huong-luong-nitrat-no3-trong-rau-xanh-toi-suc-khoe-con-nguoi.html tháng 4 / 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng nitrat trong rau đến sức khỏe conngười
1. Các nhà Báo Khoa Học Việt Nam(http://www.vfej.vn/vn/chi_tiet/21560/phan_huu_co_tu_rom_ra) Link
4. Ngô Thị Thúy - Chuyên đề luận văn thạc sĩ “khảo sát dư lượng nitrat (NO3-) trên một số sản phẩm rau vụ đông-xuân tại địa bàn huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh trên trang: http://text.123doc.org/document/2296880-khao-sat-du-luong-nitrat-no3-tren-mot-so-san-pham-rau-vu-dong-xuan-tai-dia-ban-huyen-yen-phong-bac-ninh.htm Link
5. Nguồn phế thải nông nghiệp rơm rạ và kinh nghiệm thế giới về xử lý và tận dụng - Cục thông tin KH_CN quốc gia trên tranghttp://vst.vista.gov.vn/home/database/an_pham_dien_tu/MagazineName.2004-05-21.4429/2010/2010_00003/MArticle.2012-10-18.1937/view Link
6. Mai Văn Minh (2013), Tồn dư nitrat hiểm họa trong rau trên trang:http://baoquangbinh.vn/kinh-te/201311/ton-du-nitrat-hiem-hoa-trong-san-xuat-rau-2111357/, ngày 25/11/2013./ Link
7. Trung tâm ứng dụng tiến bộ KH và CN tỉnh Bắc Giang, trên trang:http://ungdungkhcn.com.vn/chi-tiet-san-pham/691 Link
8. Thư viện tài liệu trực tuyến: http://tai-lieu.com/tai-lieu/nitrat-nitrit-839/ Link
10. khoahoc.tv, Biến rơm thành phân bón, tiết kiệm cả ngàn tỷ đồng – trên trang http://khoahoc.tv/doisong/ung-dung/42039_bien-rom-thanh-phan-bon-tiet-kiem-ca-ngan-ty-dong.asp Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w