Thuốc diệt cỏ là những hóa chất có khả năng giết chết hoặc ức chế sự phát triển của cỏ, được dùng để diệt trừ các loại thực vật hoang dại cỏ dại, cây dại mọc lẫn với cây trồng, tranh ch
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA MÔI TRƯỜNG
Trang 2HÀ NỘI – 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp, ngoài sự cố gắng của bản thân tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn với những sự giúp đỡ đó
Với tình cảm và lòng kính trọng sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo Học viện Nông nghiệp Việt Nam nói chung và các thầy cô giáo trong khoa Môi Trường nói riêng, những người đã truyền đạt cho tôi những kiến thức bổ ích trong quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo TS Phạm Văn Hội đã nhiệt tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin trân trọng cảm ơn ban lãnh đạo UBND xã Tam Giang, các ban ngành và bà con nhân dân xã Tam Giang– huyện Yên Phong đã tận tình giúp đỡ
và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực tập tại địa phương
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới gia đình, bạn bè và người thân đã động viên, khích lệ,giúp đỡ cho tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 23 tháng 5 năm 2016
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC HÌNH vi
Phần I 1
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
1.3 Yêu cầu của đề tài 2
Phần II 3
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Giới thiệu chung về thuốc BVTV 3
2.1.1 Phân loại thuốc BVTV 3
2.1.2 Vai trò, ý nghĩa của thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp 7 2.2 Lịch sử phát triển, tình hình sản xuất và sử dụng thuốc BVTV trên thế giới và tại Việt Nam 9
2.2.1 Lịch sử phát triển thuốc BVTV trên thế giới 9
2.2.2 Tình hình sản xuất và sử dụng thuốc BVTV trên thế giới 11
2.2.3 Lịch sử phát triển, tình hình sản xuất và sử dụng thuốc BVTV ở Việt Nam 12
2.3 Các vấn đề phát sinh do sử dụng thuốc BVTV 14
2.3.1 Sinh học 14
2.3.2 Kinh tế 18
2.3.3 Xã hội 18
2.4 Tổng quan sách quản lý thuốc BVTV của Việt Nam trong những năm qua 24
2.5 RAT và vai trò của BVTV 26
Phần III 31
Trang 5ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ 31
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
3.1 Đối tượng nghiên cứu .31
3.2 Phạm vi nghiên cứu .31
3.4 Phương pháp nghiên cứu 31
3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 31
3.4.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 31
3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 32
Phần IV 33
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33
4.1 Điều kiện tự nhiên xã Tam Giang 33
4.1.1 Vị trí địa lý 33
4.1.2 Địa hình 33
4.1.3 Khí hậu 34
4.1.4 Thủy văn 34
4.2 Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội năm 2015 xã Tam Giang 34
4.2.1 Đặc điểm kinh tế 34
4.2.2 Văn hóa, xã hội 37
4.2.3 Giới thiệu chung về việc sản xuất RAT trên địa bàn xã 40
4.3 Thực trạng lựa chọn và sử dụng thuốc BVTV và sự khác biệt so với chính sách 42
4.3.1 Lựa chọn sử dụng thuốc BVTV của người dân 42
4.3.2 Thực trạng sử dụng thuốc BVTV 46
4.4 Nguyên nhân gây ra khác biệt giữa thực tế sử dụng thuốc BVTV so với quy định trong sản xuất RAT 51
4.5 Đề suất giải pháp 54
PHẦN V 55
KẾT LUẬN 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 57
Trang 6LD50 Lượng chất độc gây chết 50% số cá thể (Lethal Dose 50)
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 – Phân loại thuốc BVTV theo tính độc 3
Bảng 2.2 – Phân loại thuốc diệt cỏ 5
Bảng 4.1: Danh sách một số loại thuốc được sử dụng phổ biến 42
Bảng 4.2: Lý do lựa chọn loại thuốc của người nông dân 44
Bảng 4.3: Đợt tập huấn lớn mà người nông dân tham gia 45
Bảng 4.4: Cách sử dụng thuốc của người nông dân 46
Bảng 4.5: Thời điểm và số lần phun thuốc BVTV 46
Bảng 4.6: Thuốc BVTV được hỗn hợp sử dụng 48
Bảng 4.7: Cách sử lý thuốc BVTV dư thừa 50
Bảng 4.8: Đồ bảo hộ không chọn sử dụng thường xuyên 51
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Con đường di chuyển của thuốc BVTV trong đất 20
Hình 2.2: Tác hại của thuốc BVTV đối với con người 22
Hình 4.1: Vị trí địa lý xã Tam Giang 33
Hình 4.2: Vùng sản xuất rau an toàn tại Tam Giang – Yên Phong 40
Trang 9Phần I ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Theo thống kê của Tổ chức Lương thực Thế giới (FAO) hàng năm, thiệt hại mùa màng do sâu, bệnh gây ra trung bình mất khoảng 20 - 30% tổng sản lượng Việc sử dụng các hoá chất bảo vệ thực vật đã trở thành một trong những phương tiện hữu hiệu nhất trong công tác phòng trừ dịch hại và bảo quản nông sản, đảm bảo an ninh lương thực Ngành hóa chất bảo vệ thực vật (BVTV) ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của ngành nông nghiệp Việt Nam
Với điều kiện khí hậu tự nhiên và đa dạng, Việt Nam là nước có lợi thế lớn trong canh tác và phát triển nhiều loại giống rau quả khác nhau phục vụ cho nhu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu Trên cả nước đã hình thành nên các vùng chuyên canh rau lớn ở Đồng bằng sông Hồng, Đồng bằng Sông Cửu Long và Đông Nam Bộ Tuy nhiên nước ta có khí hậu nhiệt đới ẩm nên sâu, bệnh và cỏ dại xuất hiện quanh năm Do đó để phòng trừ dịch hại và bảo
vệ cây trồng thì việc sử dụng thuốc BVTV vẫn là một biện pháp quan trọng
và chủ yếu Nhưng thực trạng sử dụng cho thấy, bà con nông dân thường có kiến thức hạn chế về các loại hoạt chất trong thuốc BVTV, dẫn tới tình trạng
sử dụng thuốc BVTV thiếu hiệu quả và an toàn, làm tăng chi phí sản xuất và nguy cơ mất an toàn thực phẩm (ATTP), ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và môi trường, đặc biệt là ở các khu vực nghèo nơi nông dân chủ yếu dựa vào thuốc trừ sâu giá rẻ nhưng thường lạc hậu và độc hơn Mặc dù các chính sách và quy định về thuốc trừ sâu đã tăng lên nhưng nhà nước vẫn không thể điều tiết thị trường thuốc trừ sâu Các nguyên nhân chính đằng sau sự thất bại nhà nước trong điều tiết thị trường thuốc trừ sâu là ở cách thức quản lý, tham nhũng lớn, thông tin méo mó và một hệ thống pháp luật lỏng lẻo
Trang 10Xuất phát từ thực tế trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Từ chính sách đến thực tiễn: Thực trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật tại vùng trồng rau an toàn trên địa bàn xã Tam Giang, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh" Nhằm tìm hiểu sự khác biệt va nguyên nhân gây ra sự khác biệt giữa
các qui định hiện hành về sản xuất rau an toàn (RAT) và thực tiễn sản xuất
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Đánh giá hiện trạng sử dụng thuốc BVTV trong sản xuất rau an toàn tại xã Tam Giang, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh
- Tìm hiểu sự khác biệt & nguyên nhân giữa các quy định hiện hành
về sản xuất rau an toàn (RAT) và thực tiễn sản xuất
- Đề xuất một số giải pháp pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng thực hiện các qui định về sản xuất RAT trong lĩnh vực sử dụng thuốc BVTV
1.3 Yêu cầu của đề tài
- Xác định những thuận lợi, khó khăn của điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội trong phát triển sản xuất RAT
- Đánh giá thực trạng sử dụng thuốc BVTV tại vùng sản xuất RAT ở
xã Tam Giang, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh
- Chỉ rõ những khác biệt, khó khăn dữa thực tế sản xuất RAT với các quy định chính sách hiện hành
- Đề xuất một số giải pháp pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng và hạn chế ảnh hưởng của thuốc BVTV tại một số vùng trồng rau sạch tại xã Tam Giang, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh
Trang 11Phần II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Giới thiệu chung về thuốc BVTV
2.1.1 Phân loại thuốc BVTV
a Phân loại theo tính độc
Các nhà sản xuất thuốc BVTV luôn ghi rõ độc tính của từng loại Đơn vị đo lường được biểu thị dưới dạng LD50 (Lethal Dose 50 là liều lượng chất độc gây chết 50% số cá thể dùng trong nghiên cứu) và tính bằng mg/kg cơ thể Các loại thuốc BVTV được chia mức độ độc như sau:
• Vạch màu đỏ trờn nhón là thuốc độc nhóm I, rất nguy hiểm
• Vạch màu vàng là thuốc độc nhóm II, cảnh báo có hại
• Vạch màu xanh da trời là thuốc độc nhóm III, lưu ý cẩn thận
• Vạch màu xanh lá cây là thuốc độc nhóm IV, ít độc
Nhà sản xuất dùng kí hiệu đầu lâu gạch chéo là vô cùng nguy hiểm, rất độc, có thể gây chết người
Bảng 2.1 – Phân loại thuốc BVTV theo tính độc.
Mức độ độc
LD50 với chuột (mg/kg)
Thuốc rắn Thuốc nước Thuốc rắn Thuốc nước
Nhóm III 50 - 500 200 - 2000 100 - 1000 400 - 4000Nhóm IV > 500 > 2000 > 1000 > 4000
(Nguồn: Cách phân nhóm độc của tổ chức WHO)
Nói chung, thuốc BVTV có LD50 thấp thì có độ độc cao và ngược lại Cho nên, trong khi sử dụng nhiều loại có cùng tác dụng như nhau, nên chọn loại thuốc có LD50 cao, vì an toàn hơn
b Phân loại theo công dụng
Thuốc BVTV được chia thành từng nhóm tuỳ theo công dụng của chúng và thường được chia làm 2 loại chính là thuốc trừ sâu, thuốc diệt
Trang 12cỏ; ngoài ra cũng có thuốc trừ bệnh, thuốc diệt chuột và chất điều hoà sinh trưởng cây trồng.
Thuốc trừ sâu là chất hay hỗn hợp các chất có tác dụng tiêu diệt,
xua đuổi hay di chuyển bất kỳ loại côn trùng nào có mặt trong môi trường Chúng được dùng để diệt trừ hoặc ngăn ngừa tác hại của côn trùng đến cây trồng, cây rừng, nông lâm sản, gia súc và con người Bao gồm các thuốc diệt trứng và thuốc diệt ấu trùng để diệt trứng và ấu trùng của côn trùng Các loại thuốc trừ sâu thường gặp:
• Các loại thuốc trừ sâu ngấm vào cơ thể : được kết hợp vào trong các loại cây được xử lý Các loại côn trùng ăn vào thuốc trừ sâu khi ăn cây
• Các loại thuốc trừ sâu tiếp xúc độc hại với côn trùng: có tiếp xúc
trực tiếp với chúng Tính hiệu quả thường liên quan tới số lượng sử dụng , với các giọt nhỏ (như sương ) thường cải thiện tính năng
• Các loại thuốc trừ sâu tự nhiên: như các chiết xuất nicotine , pyrethrum và neem do các loại cây tạo ra để bảo vệ chống lại côn trùng Các loại thuốc trừ sâu dựa trên nicotine đã bị cấm tại Hoa Kỳ từ năm
2001 để ngăn chặn dư lượng làm nhiễm độc thực phẩm
• Các loại thuốc trừ sâu vô cơ: được sản xuất bằng các kim loại
bao gồm các hợp chất arsenate đồng - và fluorine , hiện ít được sử dụng, và sulfur , thường được sử dụng
• Các loại thuốc trừ sâu hữu cơ: là các hóa chất tổng hợp chiếm
phần lớn lượng thuốc trừ sâu sử dụng ngày nay
Thuốc diệt cỏ là những hóa chất có khả năng giết chết hoặc ức chế
sự phát triển của cỏ, được dùng để diệt trừ các loại thực vật hoang dại (cỏ dại, cây dại) mọc lẫn với cây trồng, tranh chấp nước, chất dinh dưỡng, ánh sáng với cây trồng, khiến cho cây sinh trưởng và phát triển kém, ảnh hưởng xấu đến năng suất cây trồng và phẩm chất nông sản Đây là nhóm thuốc dễ gây hại cho cây trồng nhất Vì vậy khi dựng các thuốc trong
Trang 13và các loài cỏ dại khác.
Thuốc trừ cỏ không chọn lọc
Những thuốc trừ cỏ khi dùng gây độc cho mọi loại cỏ và cây trồng
Theo phương
thức tác động
Thuốc trừ cỏtiếp xúc
Chỉ gây hại cho thực vật ở những nơi thuốc có tiếp xúc với cỏ và thường chỉ diệt những phần trên mặt đất của cỏ dại
Thuốc trừ cỏnội hấp
Xâm nhập qua lá hoặc qua rễ và thuốc dịch chuyển khắp trong cây và gây độc cho cỏ dại
Theo thời gian
sử dụng
Thuốc trừ cỏ dùng khi chưa làm đất
Dùng trên ruộng chưa gieo trồng có nhiều cỏ dại, sau một thời gian thuốc bị phân huỷ, không hại cây trồng
Thuốc trừ cỏ dùng sau khi gieo hạt
Những thuốc trừ cỏ xử lý đất, chỉ diệt
cỏ dại mới nảy mầm (còn gọi là thuốc trừ cỏ tiền nẩy mầm)
Thuốc trừ cỏ trên ruộng có cây trồng đang sinh trưởng
Những thuốc trừ cỏ chọn lọc và phải dùng vào thời kỳ mà cây có sức chống chịu cao, còn cỏ dại có sức chống chịu yếu đối với thuốc
(Nguồn: Giáo trình sử dụng thuốc BVTV – Trường ĐH Nông nghiệp HN)
Thuốc trừ bệnh: bao gồm các hợp chất có nguồn gốc hoá học (vô
cơ và hữu cơ), sinh học (vi sinh vật và các sản phẩm của chúng, nguồn gốc thực vật), có tác dụng ngăn ngừa hay diệt trừ các loài vi sinh vật gây hại cho cây trồng và nông sản (nấm ký sinh, vi khuẩn, xạ khuẩn) bằng cách phun lên bề mặt cây, xử lý giống và xử lý đất Thuốc trừ bệnh dùng
để bảo vệ cây trồng trước khi bị các loài vi sinh vật gây hại tấn công tốt hơn là diệt nguồn bệnh và không có tác dụng chữa trị những bệnh do
Trang 14những yếu tố phi sinh vật gây ra (thời tiết, đất úng, hạn ) Thuốc trừ bệnh bao gồm cả thuốc trừ nấm (Fungicides) và trừ vi khuẩn (Bactericides) Thường thuốc trừ vi khuẩn có khả năng trừ được cả nấm; còn thuốc trừ nấm thường ít có khả năng trừ vi khuẩn
Dựa theo tác động của thuốc đến vi sinh vật, có thể phân các thuốc trừ bệnh thành 2 nhóm:
• Thuốc có tác dụng phòng bệnh (còn gọi là thuốc có tác dụng bảo
vệ cây): Thuốc được phun xịt lên cây hoặc trộn - ngâm hạt giống, có tác dụng ngăn ngừa vi sinh vật gây bệnh có thể xâm nhập vào bên trong mô thực vật để phát triển rồi gây hại cho cây Những thuốc này phải được dùng sớm, khi dự báo bệnh có khả năng xuất hiện và gây hại cho thực vật Nếu dùng chậm thuốc không thể ngăn chặn được bệnh phát triển Ví dụ: Boocđô, Đồng oxyclorua, Monceren, Mancozeb…
• Thuốc có tác dụng trừ bệnh: Khi phun lên cây, thuốc có khả năng
xâm nhập dịch chuyển bên trong mô thực vật và diệt được vi sinh vật gây bệnh đang phát triển ở bên trong mô thực vật Nhiều loại thuốc trừ bệnh thông dụng ở nước ta là những thuốc có tác dụng trị bệnh như Aliette, Anvil, Kitazin, Validacin, …
Muốn đạt hiệu quả phòng trừ bệnh cao những thuốc có tác dụng trừ bệnh cũng cần được phun sớm, khi bệnh chớm phát hiện Phun muộn thì cho dù có diệt được nấm bệnh ở bên trong mô thực vật, nhưng cây sẽ khó hồi phục và điều này sẽ ảnh hưởng đến năng suất cây trồng, chất lượng nông sản
Thuốc diệt chuột: là những hợp chất vô cơ, hữu cơ; hoặc có nguồn
gốc sinh học có hoạt tính sinh học và phương thức tác động rất khác nhau, được dùng để diệt chuột gây hại trên ruộng, trong nhà và kho tàng Chúng tác động đến chuột chủ yếu 2 con đường vị độc và xông hơi (ở nơi kín đáo)
Trang 15Chất điều hoà sinh trưởng cây trồng: còn được gọi là chất (thuốc)
kích thích sinh trưởng cây trồng Ở nồng độ thích hợp, các hợp chất này kích thích cây sinh trưởng và phát triển, tăng tỷ lệ nảy mầm, tăng sức sống của mầm, giúp cây nhanh ra rễ, lá, hoa, quả, rút ngắn thời gian sinh trưởng tăng năng suất và chất lượng nông sản Ở nồng độ cao thuốc dễ gây hại cho thực vật Thuốc ít độc với động vật có vú, môi sinh và môi trường
Các nhóm thuốc BVTV chỉ diệt trừ được một số loài dịch hại nhất định, chỉ phát huy hiệu quả tối ưu trong những điều kiện nhất định về thời tiết, đất đai, cây trồng, canh tác…
c Phân loại theo nguồn gốc
Thuốc có nguồn gốc thảo mộc: bao gồm các thuốc BVTV làm từ cây cỏ
hay các sản phẩm chiết xuất từ cây cỏ có khả năng tiêu diệt dịch hại
Thuốc có nguồn gốc sinh học: gồm các loài sinh vật (các loài ký sinh
thiên địch), các sản phẩm có nguồn gốc sinh vật ( như các loài kháng sinh )
có khả năng tiêu diệt dịch hại
Thuốc có nguồn gốc vô cơ: bao gồm các hợp chất vô cơ ( như dung
dịch boocđô, lưu huỳnh và lưu huỳnh vôi ) có khả năng tiêu diệt dịch hại
Thuốc có nguồn gốc hữu cơ: Gồm các hợp chất hữu cơ tổng hợp có khả
năng tiêu diệt dịch hại (như các hợp chất clo hữu cơ, lân hữu cơ, cacbamat )
2.1.2 Vai trò, ý nghĩa của thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp
Để đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng do việc bùng nổ dân số, cùng với xu hướng đô thị hoá và công nghiệp hoá ngày càng mạnh, con người chỉ còn một cách duy nhất: thâm canh để tăng sản lượng cây trồng
Khi thâm canh cây trồng, một hậu quả tất yếu không thể tránh được là gây mất cân bằng sinh thái, kéo theo sự phá hoại của dịch hại ngày càng tăng
Để giảm thiệt hại do dịch hại gây ra, con người ta phải đầu tư thêm kinh phí
Trang 16để tiến hành các biện pháp phòng trừ, trong đó biện pháp hoá học được coi là quan trọng.
Biện pháp hoá học BVTV đóng một vai trò quan trọng trong sản
xuất nông nghiệp với nhiều ưu điểm nổi trội
• Thuốc hoá học có thể diệt dịch hại nhanh, triệt để, đồng loạt trên diện rộng và chặn đứng những trận dịch trong thời gian ngắn mà các biện pháp khác không thể thực hiện được
• Biện pháp hoá học đem lại hiệu quả phòng trừ rõ rệt, kinh tế, bảo vệ được năng suất cây trồng, cải thiện chất lượng nông sản và mang lại hiệu quả kinh tế, đồng thời cũng giúp giảm được diện tích canh tác
• Biện pháp hoá học dễ dùng, có thể áp dụng ở nhiều vùng khác nhau, đem lại hiệu quả ổn định và nhiều khi là biện pháp phòng trừ duy nhất
Đến nay, thuốc BVTV đã để lại những dấu ấn quan trọng trong hầu hết các lĩnh vực của nền nông nghiệp hiện đại Nhưng loài người vẫn tiếp tục tìm kiếm các dạng sản phẩm mới dễ sử dụng hơn, có hiệu lực trừ dịch hại cao hơn, thân thiện hơn với môi sinh và môi trường
Thuốc BVTV cũng là một trong những nhân tố gây mất ổn định môi trường Do bị lạm dụng, thiếu kiểm soát, dùng sai, nên nhiều mặt tiêu cực của thuốc BVTV đã bộc lộ như: Gây ô nhiễm nguồn nước và đất; để lại dư
lượng trên nông sản, gây độc cho người và nhiều loài động vật máu nóng; gây mất sự cân bằng trong tự nhiên, làm suy giảm tính đa dạng của sinh quần, xuất hiện các loài dich hại mới, tạo tính chống thuốc của dịch hại và làm đảo lộn các mối quan hệ phong phú giữa các loài sinh vật trong hệ sinh thái, gây bùng phát và tái phát dịch hại, dẫn đến hiệu lực phòng trừ của thuốc bị giảm sút hoặc mất hẳn
Để sử dụng thuốc BVTV được hiệu quả và an toàn, chúng ta phải hiểu đúng và thực hiện đúng nguyên tắc “bốn ñúng”: đúng thuốc; đúng lúc; đúng nồng độ liều lượng và đúng cách
Muốn thực hiện tốt được các nguyên tắc trên, chúng ta phải hiểu thấu đáo mối quan hệ qua lại giữa chất độc, dịch hại và điều kiện ngoại cảnh.; phải
Trang 17kết hợp hài hoà giữa biện pháp hoá học với các biện pháp BVTV khác trong
hệ thống phòng trừ tổng hợp
2.2 Lịch sử phát triển, tình hình sản xuất và sử dụng thuốc BVTV trên thế giới và tại Việt Nam
2.2.1 Lịch sử phát triển thuốc BVTV trên thế giới
Hoá chất bảo vệ thực vật được sử dụng từ thời thượng cổ Theo một số triết gia cổ đại cho biết thì việc sử dụng hoá chất bảo vệ thực vật đã có từ xa xưa qua việc dùng một số lá cây dải xuống chỗ nằm để tránh côn trùng đốt Theo tài liệu của Hassall (1982) thì việc sử dụng các chất vô cơ để tiêu diệt các loại côn trùng đã có từ thời Hy Lạp cổ đại
Loại thuốc trừ sâu DDT đã được Zeidler tìm ra tại Thụy Sỹ năm 1924, hợp chất phối pho hữu cơ trừ sâu HETP đã được phát minh và sử dụng ở Đức năm 1942 do Cshoender Cùng thời gian đó các chất hoá học này đã được sử dụng rất nhiều ở Vương quốc Anh và một loại thương phẩm thuốc diệt cỏ thuộc nhóm axit
Theo Nguyễn Trần Oánh và CS (2007) Quá trình phát triển của thuốc BVTV trên thế giới chia thành các giai đoạn như sau:
Giai đoạn 1 (Trước thế kỷ 20): Với trình độ canh tác lạc hậu, các
giống cây trồng có năng suất thấp, tác hại của dịch hại còn chưa lớn Để bảo vệ cây, người ta dựa vào các biện pháp canh tác, giống sẵn có Sự phát triển nông nghiệp trông chờ vào sự may rủi Tuy con người đã phát hiện ra cách sử dụng một số chất hóa học để diệt trừ sâu bệnh như:
• 1848, lưu huỳnh trừ bệnh phấn trắng Erysipphacea hại nho
• Dung dịch boocđô ra đời năm 1879; lưu huỳnh vôi dùng để trừ rệp sáp Aspidiotus perniciosus hại cam (1881)
• Mở đầu cho việc dùng các chất xông hơi trong BVTV là sự kiện dùng HCN trừ rệp vảy Aonidiella aurantii hại cam (1887)
• 1889, aseto asenat đồng dùng trừ sâu Leptinotarsa decemeatas hại
Trang 18khoai tây
• 1892, asenat chì trừ sâu rừng Porthetria despr, sâu ăn quả
• Nửa cuối thế kỷ 19, dùng cacbon disulfua (CS2) để chống chuột đồng và các ổ rệp Pluylloxera hại nho Nhưng những biện pháp hoá học lúc này vẫn chưa có một vai trò đáng kể trong sản xuất nông nghiệp
Giai đoạn 2 ( Từ đầu thế kỷ 20 đến năm 1960): Các thuốc trừ dịch
hại hữu cơ ra đời, làm thay đổi vai trò của biện pháp hoá học trong sản xuất nông nghiệp Lúc này người ta cho rằng: Mọi vấn đề BVTV đều có thể giải quyết bằng thuốc hoá học Biện pháp hoá học bị khai thác ở mức tối đa, thậm chí người ta còn hy vọng, nhờ thuốc hoá học để loại trừ hẳn một loài dịch hại trong một vùng rộng lớn Từ cuối những năm 1950, những hậu quả xấu của thuốc BVTV gây ra cho con người, môi sinh và môi trường được phát hiện Khái niệm phòng trừ tổng hợp sâu bệnh ra đời
Giai đoạn 3 (những năm 1960- 1980): Việc lạm dụng thuốc BVTV
đã để lại những hậu quả rất xấu cho môi sinh môi trường dẫn đến tình trạng, nhiều chương trình phòng chống dịch hại của nhiều quốc gia và các
tổ chức quốc tế dựa vào thuốc hoá học đã bị sụp đổ; tư tưởng sợ hãi, không dám dùng thuốc BVTV xuất hiện; thậm chí có người cho rằng, cần loại bỏ không dùng thuốc BVTV trong sản xuất nông nghiệp
Tuy vậy, các loại thuốc BVTV mới có nhiều ưu điểm, an toàn hơn đối với môi sinh môi trường, như thuốc trừ cỏ mới, các thuốc trừ sâu bệnh
có nguồn gốc sinh học hay tác động sinh học, các chất điều tiết sinh trưởng côn trùng và cây trồng vẫn liên tục ra đời Lượng thuốc BVTV được dựng trờn thế giới không những không giảm mà còn tăng lên không ngừng
Giai đoạn 4 (từ những năm 1980 đến nay): Vấn đề bảo vệ môi
trường được quan tâm hơn bao giờ hết Nhiều loại thuốc BVTV mới, trong đó có nhiều thuốc trừ sâu bệnh sinh học, có hiệu quả cao với dịch
Trang 19hại, nhưng an toàn với môi trường ra đời Vai trò của biện pháp hoá học
đã được thừa nhận Tư tưởng sợ thuốc BVTV cũng bớt dần Quan điểm phòng trừ tổng hợp được phổ biến rộng rãi
2.2.2 Tình hình sản xuất và sử dụng thuốc BVTV trên thế giới
Mặc dù sự phát triển của biện pháp hoá học có nhiều lúc thăng trầm, song tổng giá trị tiêu thụ thuốc BVTV trên thế giới và số hoạt chất tăng lên không ngừng, số chủng loại ngày càng phong phú Nhiều thuốc mới và dạng thuốc mới an toàn hơn với môi sinh môi trường liên tục xuất hiện bất chấp các quy định quản lý ngày càng chặt chẽ của các quốc gia đối với thuốc BVTV và kinh phí đầu tư cho nghiên cứu để một loại thuốc mới
Tuy vậy, mức đầu tư về thuốc BVTV và cơ cấu tiêu thụ các nhóm thuốc tuỳ thuộc trình độ phát triển và đặc điểm canh tác của từng nước Ngày nay, biện pháp hoá học BVTV được phát triển theo các xu hướng chính sau:
• Nghiên cứu tìm ra các hoạt chất mới có cơ chế tác động mới, có tính chọn lọc và hiệu lực trừ dịch hại cao hơn, lượng dùng nhỏ hơn, tồn lưu ngắn, ít độc và dễ dùng hơn Thuốc trừ sâu tác dụng chậm (điều khiển sinh trưởng côn trùng, pheromon, các chất phản di truyền, chất triệt sản)
là những ví dụ điển hình Thuốc sinh học được chú ý dùng nhiều hơn
• Tìm hiểu các phương pháp và nguyên liệu để gia công thành các dạng thuốc mới ít ô nhiễm, hiệu lực dài, dễ dùng, loại dần dạng thuốc gây
ô nhiễm môi trường
Trang 20• Nghiên cứu công cụ phun rải tiên tiến và cải tiến các loại công cụ hiện có để tăng khả năng trang trải, tăng độ bám dính, giảm đến mức tối thiểu sự rửa trôi của thuốc Chú ý các phương pháp sử dụng thuốc khác bên cạnh phun thuốc còn đang phổ biến Thay phun thuốc sớm, đại trà và định kỳ bằng phun thuốc khi dịch hại đạt đến ngưỡng.
2.2.3 Lịch sử phát triển, tình hình sản xuất và sử dụng thuốc BVTV ở Việt Nam
Theo Nguyễn Trần Oánh và cộng sự (2007), chia thành ba giai đoạn:
Giai đoạn trước năm 1957: Biện pháp hoá học hầu như không có vị
trí trong sản xuất nông nghiệp Một lượng rất nhỏ sunfat đồng được dùng
ở một số đồn điền do Pháp quản lý để trừ bệnh gỉ sắt cà phê và bệnh thối
gốc chảy mủ cao su và một ít DDT được dùng để trừ sâu hại rau.
Việc thành lập Tổ Hoá Bảo vệ thực vật (1/1956) của Viện Khảo cứu trồng trọt đã đánh dấu sự ra đời của ngành Hoá Bảo vệ thực vật ở Việt nam Thuốc BVTV được dùng lần đầu trong sản xuất nông nghiệp ở miền Bắc là trừ sâu gai, sâu cuốn lá lớn bùng phát ở Hưng yên (vụ đông xuân 1956-1957) Ở miền Nam, thuốc BVTV được sử dụng từ 1962
Giai đoạn từ 1957 - 1990: Thời kỳ bao cấp Việc nhập khẩu, quản
lý và phân phối thuốc do nhà nước độc quyền thực hiện Nhà nước nhập rồi trực tiếp phân phối thuốc cho các tỉnh theo giá bao cấp Bằng màng lưới vật tư nông nghiệp địa phương, thuốc BVTV được phân phối thẳng xuống HTX nông nghiệp Ban Quản trị HTX quản lý và giao cho tổ BVTV hướng dẫn xã viên phòng trị dịch hại trên đồng ruộng Lượng thuốc BVTV dùng không nhiều, khoảng 15000 tấn thành phẩm/ năm với khoảng 20 chủng loại thuốc trừ sâu (chủ yếu) và thuốc trừ bệnh Đa phần
là các thuốc có độ tồn lưu lâu trong môi trường hay có độ độc cao Việc quản lý thuốc lúc này khá dễ dàng, thuốc giả thuốc kém chất lượng không
Trang 21có điều kiện phát triển Song tình trạng phân phối thuốc không kịp thời; đáp ứng không đúng chủng loại, nơi thừa, nơi thiếu, gây tình trạng khan hiếm giả tạo, dẫn đến hiệu quả sử dụng thuốc thấp Mặt khác, người nông dân không có điều kiện lựa chọn thuốc, thiếu tính chủ động và ỷ lại nhà nước
Tuy lượng thuốc dùng ít, nhưng tình trạng lạm dụng thuốc BVTV vẫn nảy sinh Để phòng trừ sâu bệnh, người ta chỉ biết dựa vào thuốc BVTV Thuốc dùng tràn lan, phun phòng là phổ biến, khuynh hướng phun sớm, phun định kỳ ra đời, thậm chí dùng thuốc cả vào những thời điểm không cần thiết; tình trạng dùng thuốc sai kỹ thuật nảy sinh khắp nơi; thậm chí người ta còn hy vọng dùng thuốc BVTV để loại trừ hẳn một loài dịch hại ra khỏi một vùng rộng lớn Thuốc đã để lại những hậu quả rất xấu đối với môi trường và sức khoẻ con người
Khi nhận ra những hậu quả của thuốc BVTV, cộng với tuyên truyền quá mức về tác hại của chúng đã gây nên tâm lý sợ thuốc Từ cuối những năm 80 của thế kỷ 20, đã có nhiều ý kiến đề xuất nên hạn chế, thậm chí loại bỏ hẳn thuốc BVTV; dùng biện pháp sinh học để thay thế
biện pháp hoá học trong phòng trừ dịch hại nông nghiệp
Giai đoạn từ 1990 đến nay: Thị trường thuốc BVTV đã thay đổi cơ
bản: nền kinh tế từ tập trung bao cấp chuyển sang kinh tế thị trường Năm thành phần kinh tế, đều được phép kinh doanh thuốc BVTV Nguồn hàng phong phú, nhiều chủng loại được cung ứng kịp thời, nông dân có điều kiện lựa chọn thuốc, giá cả khá ổn định có lợi cho nông dân Lượng thuốc BVTV tiêu thụ qua các năm đều tăng Nhiều loại thuốc mới và các dạng thuốc mới, hiệu quả hơn, an toàn hơn với môi trường được nhập Một mạng lưới phân phối thuốc BVTV rộng khắp cả nước đã hình thành, việc cung ứng thuốc đến nông dân rất thuận lợi Công tác quản lý thuốc BVTV được chú ý đặc biệt và đạt ñược hiệu quả khích lệ
Trang 22Nhưng do nhiều nguồn hàng, mạng lưới lưu thông quá rộng đã gây khó cho công tác quản lý; quá nhiều tên thuốc đẩy người sử dụng khó lựa chọn được thuốc tốt và việc hướng dẫn kỹ thuật dùng thuốc cũng gặp không ít khó khăn Tình trạng lạm dụng thuốc, tư tưởng ỷ lại biện pháp hoá học đã để lại những hậu quả xấu cho sản xuất và sức khoẻ con người Ngược lại, có nhiều người “bài xích” thuốc BVTV, tìm cách hạn chế, thậm chí đòi loại bỏ thuốc BVTV trong sản xuất nông nghiệp và tìm cách thay thế bằng các biện pháp phòng trừ khác
2.3 Các vấn đề phát sinh do sử dụng thuốc BVTV
2.3.1 Sinh học
a Tác động tiêu cực đến thiên địch và các sinh vật khác
Tính đa dạng trong hệ sinh thái nông nghiệp tuy không phong phú bằng
hệ sinh thái tự nhiên, nhưng cũng rất phức tạp và luôn thay đổi dưới tác động của con người Thuốc BVTV là một trong nhưng yếu tố quan trọng do con người tạo ra làm mất tính ổn định của quần thể sinh vật
Theo Pimetel (1971), để chống lại 1000 loài sâu hại, thuốc trừ sâu đã tác động đến khoảng 200 ngàn loài động thực vật khác nhau, trong đó có nhiều loài không những không phải là đối tượng phòng trừ mà còn rất cần cho
sự tồn tại và phát triển của con người
Thuốc BVTV dùng trên qui mô càng lớn, thời gian dùng càng dài, số lần phun thuốc càng nhiều, sẽ làm giảm càng mạnh số cá thể trong loài và giảm số loài trong quần thể Các thuốc trừ sâu trước tiên làm giảm số lượng các loài côn trùng và nhện có ích (Crofts và Brown, 1975) Sau 8 năm dùng
thuốc DDT và Wofatox tỷ lệ ong ký sinh trên sâu non sâu loang Earias fabia
hại bông đã giảm từ 38.4% xuống còn 0.32% Ở Định Tường, khi dùng càng
nhiều hỗn hợp DDT và Wofatox đã làm cho mật độ sâu xanh Heliothis
armigera càng tăng và ngược lại mật độ ong ký sinh lưng cong càng giảm (Lê
Trường, 1965)
Trang 23Các loài ký sinh thiên địch thường mẫn cảm với thuốc trừ sâu hơn sâu
và nhện gây hại vì: Sau mỗi lần dùng thuốc, số côn trùng và nhện gây hại bị chết nhiều, làm cho ký sinh thiếu thức ăn, bị đói mà chết; phần còn sống, lại
bị ngộ độc bởi các con mồi đã trúng thuốc (Ahmed 1954), nên khả năng hồi phục số lượng quần thể chậm hơn dịch hại Các thuốc trừ nấm trừ cỏ cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của côn trùng và nhện, trong một số trường hợp thuốc tỏ ra rất độc với một số loài côn trùng có ích Nhưng những tác động này không mạnh bằng tác động của các thuốc trừ sâu
b Xuất hiện dịch hại mới hay bùng phát dịch hại thứ cấp
Sau một thời gian dùng thuốc, một số loài dịch hại chủ yếu trước đây, chỉ còn gây hại không đáng kể Ngược lại, một số loài dịch hại trước đây không được coi trọng, lại trở nên rất nguy hiểm, gây những tổn thất to lớn Việc phòng trừ những loài dịch hại mới nổi lên này thường phức tạp và khó khăn hơn trước nhiều
Hậu quả của việc sử dụng các loại dầu và các thuốc trừ sâu tổng hợp
hữu cơ trên vườn cây ăn quả đã làm nhện đỏ Malatetranychus ulmi từ chỗ
không phải là dịch hại đáng quan tâm vào những năm 20 đã trở thành đối tượng gây hại chủ yếu của những năm 50 của thế kỷ 20 (Jacob,1958)
Ở Việt nam, sau 6-7 năm dùng thuốc DDT, Wofatox để trừ sâu hại chính trên chè, cam quít và bông đã làm cho nhện hại cây từ chỗ là dịch hại không đáng quan tâm trở thành một loài dịch hại nguy hiểm gây khô lá trên diện rộng Các loài rệp sáp theo đó cũng phát triển mạnh (Vũ Công Hậu, 1969; Hồ Khắc Tín, 1982) Trên bông, ngoài nhện, còn có nhiều đối tượng
mới, mới phát sinh như rầy xanh Chlorita bigutula (hậu quả dùng DDT và 666); sâu xanh Heliothis spp (hậu quả dùng các thuốc clo và lân hữu cơ); sâu
ăn lá Spodoptera erigra mới xuất hiện nhiều ở vùng bông Nha hố từ khi dùng
nhiều thuốc trừ sâu để trừ sâu loang và sâu xanh (Nguyễn Thị Toàn, 1983)
Năm 1942, sâu xanh bướm trắng Pieris rapae là sâu hại chủ yếu trên rau họ
Trang 24thập tự ở nước ta Sau một thời gian dùng thuốc để trừ sâu này, đén nay, sâu
xanh bướm trắng đã gây hại không đáng kể; thay vào đó, sâu tơ Pluttella
xylostella trước kia không phải là loài sâu hại quan trọng, thì nay đã trở thành
đối tượng gây hại nguy hiểm, khó phòng trừ nhất trong các loài sâu hại hiện nay
Việc thay đổi thành phàn các thuốc trừ cỏ trên ruộng lúa Nhật Bản cũng là một ví dụ lý thú Những thuốc trừ cỏ clofenoxi (như 2,4-D, MCPA) được dùng để trừ cỏ lá rộng và cói lác vào những năm 50, được thay thế dần bằng các loại thuốc có hiệu lực trừ cỏ lồng vực như DCPA và Saturn vào những năm 60 (Nassas, 1966) Đến những năm 70 của thế kỷ 20, người ta đã phải dùng các thuốc trừ cỏ mới để trừ các loại cỏ lâu năm, thân ngầm, ngày càng lan rộng (Nakayama, 1970)
Việc dùng lâu dài các thuốc trừ nấm Benomyl và Benzimidazole đã làm
cho bệnh thối thân đậu đũa Pythium aphanidermatum gây hại nặng hơn
(Smith, 1970; Williams, 1975) Bón Heptaclo để trừ sâu đất đã làm tăng nhanh bệnh thối rễ đại mạch ( Richard, 1975) Thuốc trừ cỏ Trifluralid đã làm
cho bệnh lở cổ rễ bông Rhizoctonia solani hay 2,4-D làm cho bệnh virus
TMV trên dưa chuột, thuốc lá, bông gây hại nặng hơn (Kantan và Eshel, 1972)
Như vậy, dịch hại mới không phải là những dịch hại từ nơi khác di chuyển đến, mà là dịch hại thứ yếu có ngay tại địa phương đó mới bùng phát
mà thành
Sự hình thành loài dịch hại mới là kết quả của sự sai khác về độ mẫn cảm giữa các loài và khả năng hình thành tính chống thuốc sớm hơn các loài khác
c Sự tái phát của dịch hại:
Ngay sau khi dùng thuốc trừ sâu hay trừ nhện, số lượng dịch hại giảm
đi nhanh chóng Sau một thời gian ngắn, chúng lại hồi phục số lượng nhưng
Trang 25nhiều hơn trước Để chống lại, người ta lại dùng thuốc, quá trình đó cứ lặp lại
Để khắc phục, người ta lại tăng nồng độ/liều lượng, tăng số lần dùng thuốc, khoảng cách giữa các lần dùng thuốc ngắn lại Kết quả thời gian dịch hại hồi phục lại số lượng quần thể càng ngắn dần, số lần tái phát càng nhanh và năng thêm, dịch hại dễ chống thuốc, đời sống các sinh vật có ích càng bị đe doạ,
môi trường sinh sống càng bị ô nhiễm Hiện tượng này được gọi là sự tái phát
của dịch hại và được nghiên cứu nhiều trên nhện và côn trùng.
Hiện tượng tái phát rầy nâu Nilaparvata lugens ở vùng Đông Nam A
cũng là một ví dụ điển hình Để chống rầy nâu trên lúa nương, Viện lúa Quốc
tế (IRRI) đã phun Decamethrin, Wofatox và Diazinon ở dạng lỏng với lượng 0.75kga.i./ha vào những ngày thứ 49-72 và 94 sau gieo Trước khi phun thuốc lần thứ 3, mật độ rầy nâu của ô phun thuốc cao hơn đối chứng theo thứ tự thuốc là 16.4-6.0 và 4.7 lần Diện tích cháy rầy ở 117 ngày sau gieo cũng ở ô đối chứng là 4%; nhưng ở các công thức phun thuốc lần lượt là 100-75 và 55%.Trên ô phun Bassa và Pertan không có hiện tượng tái phát của rầy ( Heinrichs,1978)
Theo Lê Thị Nhung (2000), sau khi phun Sherpa 25EC 14 ngày cho
chè đã có hệ số tái phát với bọ cánh tơ Physothrips stiventris 37 lần; rẫy xanh
Empoasca flavescens 26 lần
Hiện tượng tái phát của dịch hại phổ biến cả trên cạn, dưới nước; cả vùng ôn đới và nhiệt đới Riêng ở châu Âu đã có 50 loài côn trùng và nhện gây hại trên các giống cây trồng chính đã có hiện tượng này (Rud, 1970) Ông
đã tổng kết các nguyên nhân gây ra hiện tượng tái phát của dịch hại là: Thuốc hoá học ở liều thấp đã kích thích những cá thể sống sót phát triển mạnh hơn
do chúng được hưởng nguồn dinh dưỡng phong phú dồi dào hơn (số lượng cá thể dịch hại giảm do dùng thuốc); chất lượng thức ăn cao hơn (do cây không
bị dịch hại gây hại) nên tăng sức sống, tăng khả năng sinh sản, mật độ quần thể mau hồi phục
Trang 26Theo Maggi và Leigh (1983), khi phun thuốc trừ sâu Wofatox (Methyl
parathion) cho bông, đã làm tăng lượng trứng đẻ của nhện đỏ Tetranychus
urticae Những cá thể sống sót hình thành tính chống thuốc và đã làm thay đổi
đặc tính sinh học của loài Thuốc BVTV làm giảm số loài và số lượng cá thể sinh vật có ích (do số lượng cá thể dịch hại giảm, sinh vật có ích thiếu thức ăn
mà chết) Mặt khác, dịch hại có khả năng hồi phục quần thể nhanh hơn sinh vật có ích, dễ gây thành dịch trước khi sinh vật có ích hồi phục đủ số lượng để kìm hãm dich hại (Brown, 1978)
2.3.2 Kinh tế
Liên tục phụ thuộc vào thuốc BVTV trong nông nghiệp đã đe dọa một cách nghiêm trọng cho cả hệ sinh thái và sức khỏe con người Là một nước dựa trên nông nghiệp, Việt Nam hiện nay phải trả chi phí cao cho sự phụ thuộc vào thuốc BVTV Chỉ với một vài cơ sở hoạt động sản xuất trong nước,
từ năm 2006 đến nay, Việt Nam nhập khẩu bình quân trên 70.000 tấn thành phẩm hàng năm với trị giá từ 210 - 774 triệu USD Trên 90% thuốc BVTV được nhập khẩu từ Trung Quốc Bên cạnh đó, còn có một lượng lớn thuốc BVTV nhập lậu chưa kiểm soát được Tuy nhiên, các chi phí khác là cao hơn nhiều: chi phí xã hội và môi trường liên quan đến việc sử dụng thuốc BVTV, mất cơ hội xuất khẩu do dư lượng thuốc BVTV cao trên sản phẩm, và năng suất nông nghiệp không ổn định cùng một hệ sinh thái nông nghiệp bị suy thoái
Chi phí hàng năm cho sức khỏe con người trong nước và mất cơ hội xuất khẩu các loại rau quả và trái cây có liên quan đến thuốc BVTV ở Việt Nam ước tính khoảng 700 triệu $ Điều này ước tính bằng với giá trị thu nhập
từ xuất khẩu rau quả trong năm 2010, trong đó chi phí về môi trường của thuốc BVTV chưa được bao gồm
2.3.3 Xã hội
a Dư lượng thuốc BVTV gây ô nhiễm môi trường
Trang 27Dư lượng là phần còn lại của hoạt chất, các sản phẩm chuyển hoá và
các thành phần khác có trong thuốc, tồn tại trên cây trồng, nông sản, đất, nước sau một thời gian dưới tác động của các hệ sống (living systems) và điều kiện ngoại cảnh ( ánh sáng, nhiệt độ, ẩm độ v.v ) Dư lượng của thuốc được tính bằng mg (miligam) thuốc có trong 1 kg nông sản, đất hay nước (mg/kg)
Như vậy, dư lượng thuốc BVTV bao gồm bất kỳ dẫn xuất nào của thuốc cũng như các sản phẩm chuyển hoá của chúng có thể gây độc cho môi sinh, môi trường
Ô nhiễm không khí
Không khí có thể dễ dàng bị ô nhiễm bởi thuốc BVTV dễ bay hơi, thậm chí không bay hơi như DDT sẽ bay hơi rất nhanh vào không khí trong điều kiện khí hậu thời tiết nóng Ở các vùng nhiệt đới, khoảng 90 % thuốc BVTV phốt pho hữu cơ có thể bay hơi nhanh hơn Các thuốc diệt cỏ cũng bị bay hơi nhất là trong quá trình phun thuốc Tuy nhiên theo Ewards có rất ít bằng chứng về tiếp xúc với thuốc BVTV trong không khí gây ảnh hưởng nghiêm trọng lên sức khỏe con người trừ những nơi mà thuốc BVTV được sử dụng trong những khu vực bị quây kín, thông khí không được thông thoáng (Đỗ Hàm và CS, 2007)
Ô nhiễm đất và nước
Trang 28Hình 2.1: Con đường di chuyển của thuốc BVTV trong đất
Dù xử lý bằng phương pháp nào, cuối cùng thuốc BVTV cũng đi vào đất, tồn tại ở các lớp đất khác nhau, trong các khoảng thời gian không giống nhau Trong đất thuốc BVTV thường bị VSV đất phân giải hay bị đất hấp phụ (bị sét và mùn hút) Nhưng có nhiều loại thuốc có thời gian phân huỷ dài, khi dùng liên tục và lâu dài, chúng có thể tích luỹ trong đất một lượng rất lớn.Tính riêng ở vùng lúa An Giang, mỗi năm người dân ở đây sử dụng hơn 247.000 tấn phân bón các loại và hơn 1.000 tấn thuốc BVTV Ngoài số lượng phân bón, thuốc trừ sâu được cây trồng hấp thu, số còn lại sẽ chảy tràn trên đồng ruộng, kênh rạch hay ngấm vào đất, các mạch nước ngầm Chưa kể hầu hết các loại bao bì chai lọ thuốc BVTV được nông dân vứt bỏ bừa bãi trên đồng ruộng cũng là nguyên nhân khiến cho tình trạng ô nhiễm môi trường đất ngày càng trầm trọng, đe dọa nghiêm trọng đến sức khỏe con người
Dư lượng thuốc BVTV trong đất tồn tại dưới 2 dạng:
Dư lượng liên kết: Thuốc BVTV không thể tách chiết bằng các dung
môi thông thường trong phân tích hoá học Ở dạng liên kết, thuốc BVTV ít
Trang 29được cây hấp thu; không hay ít ảnh hưởng đến điều kiện sinh thái, nên ít có ý nghĩa trong thực tiễn
Dư lượng tự do: Thuốc BVTV có thể tách chiết dễ dàng bằng dung môi
thông thường trong phân tích dư lượng Thuốc BVTV ở dạng tự do trong đất tác động đến môi sinh thể hiện ở: Các thuốc BVTV, đặc biệt là thuốc trừ cỏ
có thời gian tồn tại lâu, có thể gây hại cho cây trồng nối tiếp (thậm chí 1-2 năm sau), hoặc làm cho cây trồng vụ sau trở nên mẫn cảm hơn với thuốc, dẫn đến năng suất và chất lượng cây bị ảnh hưởng
Thuốc BVTV dư thừa chảy tràn trên đồng ruộng ra sông, ngòi, kênh, mương hoặc ngấm vào mạch nước ngầm, một phần do ý thức người sử dụng
đã xục, rửa, đổ thuốc BVTV dư thừa ra nguồn nước mặt gần đó gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của người sử dụng nguồn nước cũng như sinh vật sống trong nước
Cây trồng và nông sản
Thuốc BVTV tồn tại trên cây và nông sản một thời gian là điều cần thiết để bảo vệ cây trồng và nông sản chống lại sự gây hại của dịch hại ở trên ruộng, trong quá trình vận chuyển và bảo quản Nhưng dư lượng của thuốc có trên nông sản, sẽ là nguồn gây hại cho người tiêu dùng Dư lượng thuốc thường có trên cây trồng nông sản và chỉ gây hại khi chúng vượt ngưỡng cho phép
Ô nhiễm môi trường do thuốc BVTV ở Việt Nam.
Theo ông Hồ Kiên Trung, Phó Cục trưởng Cục Quản lý chất thải và Cải thiện môi trường Tổng Cục Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường cho biết, với lượng thuốc BVTV sử dụng rất lớn, ô nhiễm môi trường do hóa chất BVTV tồn lưu gây ra tại Việt Nam đang trở nên ngày một nghiêm trọng hơn Kết quả điều tra, thống kê về các điểm tồn lưu hóa chất BVTV từ năm 2007 đến năm 2009 đã phát hiện 1.153 khu vực gây ô nhiễm môi trường trên địa bàn 35 tỉnh, thành phố
Trang 30Trong số này, có khoảng 864 khu vực môi trường đất bị ô nhiễm do hóa chất BVTV tồn lưu trên địa bàn 17 tỉnh, thành phố và 289 kho hóa chất bảo
vệ thực vật tồn lưu trên địa bàn 35 tỉnh, thành phố
Trong đó, 189 khu vực bị ô nhiễm đặc biệt nghiêm trọng và ô nhiễm nghiêm trọng, 87 khu vực bị ô nhiễm và 588 khu vực đất có ô nhiễm hóa chất BVTV tồn lưu nhưng vẫn chưa đánh giá chi tiết mức độ ô nhiễm
Kết quả điều tra mới đây nhất của các tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương đã phát hiện thêm 409 khu vực bị ô nhiễm môi trường do hóa chất BVTV tồn lưu Hầu hết nằm ở địa bàn các tỉnh miền Bắc và miền Trung
b Ảnh hưởng của thuốc BVTV đến sức khỏe con người
Khi trực tiếp tiếp xúc (công nhân sản xuất thuốc, thủ kho thuốc BVTV ) và sử dụng ( người đi phun thuốc ), thuốc BVTV dễ xâm nhập vào
cơ thể người qua đường tiếp xúc, vị độc, xông hơi, gây nhiễm độc và ngộ độc thuốc BVTV Những người ít hay không tiếp xúc với thuốc BVTV cũng có thể bị nhiễm độc do ăn, uống những nông sản, nước nguồn, nước mưa có dư lượng thuốc BVTV
Hình 2.2: Tác hại của thuốc BVTV đối với con người
Tuỳ theo mức độ ngộ độc, chúng có thể gây:
Trang 31Ngộ độc cấp tính (acute poisoning): Xảy ra khi chất độc xâm nhập
vào cơ thể với liều lượng lớn, phá huỷ mạnh các chức năng sống, được thể hiện bằng các triệu chứng rõ ràng, quyết liệt, đặc trưng của mỗi loại chất độc, thậm chí gây chết sinh vật
Ngộ độc mãn tính (chronic poisoning): Xảy ra khi chất độc xâm nhập
vào cơ thể với liều lượng nhỏ, nhiều lần, trong thời gian dài, được tích luỹ lại trong cơ thể sinh vật( tích luỹ hoá học hay chức năng), những triệu chứng thể hiện chậm, lâu dài, gây tổn thương cho các cơ quan của cơ thể, làm cho sinh vật bị ốm, yếu ( ảnh hưởng đến sức khoẻ của sinh vật, gây đột biến, ung thư, quái thai, thậm chí ảnh hưởng đến sự phát triển của thế hệ sau) và có thể dẫn đến tử vong
Biểu hiện của việc ngộ độc thuốc BVTV ở người:
• Trường hợp nhiễm độc nhẹ: Có thể gặp một hoặc nhiều biểu hiện
trong các triệu chứng như: Nhức đầu, chóng mặt, mệt mỏi, chảy nước miếng, chảy nước mắt
• Ngộ độc ở mức độ trung bình: Buồn nôn, nôn, mờ mắt, đánh trống
ngực, tức ngực, đau thắt dạ dày, run rẩy, vã mồ hôi, co đồng tử, mạch chậm,
do thuốc BVTV gây ra có thể ảnh hưởng đến 2 triệu nông dân Việt Nam
Trang 322.4 Tổng quan sách quản lý thuốc BVTV của Việt Nam trong những năm qua
Trước những năm 1980, Việt Nam đã sử dụng một hệ thống quản lý tập trung cho nông nghiệp Thuốc BVTV được nhập khẩu, phân phối và hướng dẫn sử dụng cho các cán bộ nhà nước ở các cấp chính quyền khác nhau Tuy nhiên, kể từ khi Việt Nam phát triển hướng tới một nền kinh tế thị trường, bắt đầu từ các chính sách đổi mới được thông qua vào năm 1986, ngành thuốc BVTV được tư nhân hóa nhiều hơn, đặc biệt là đối với việc nhập khẩu thuốc BVTV, sản xuất, xây dựng và phân phối (bán lẻ) Các dịch vụ khuyến nông tư vấn nông nghiệp trong sản xuất nông nghiệp được giới thiệu bởi các công ty sản xuất và kinh doanh thuốc BVTV và các nhà bán lẻ tư nhân, cũng là người
tư vấn và thông báo cho nông dân sử dụng thuốc BVTV cho sản xuất rau
Để cung cấp một cơ sở pháp lý cho các tư nhân nhập khẩu thuốc BVTV, sản xuất, đóng gói và phân phối, Bộ NN & PTNT hàng năm (từ năm
1986 trở đi) đã ra một danh sách các loại thuốc BVTV đã được phê duyệt cho nhập khẩu, sản xuất, phân phối và sử dụng tại Việt Nam Từ năm 1992 trở đi, danh sách này đã được bao gồm ba loại: loại thuốc BVTV được phép, thuốc BVTV hạn chế sử dụng, và thuốc BVTV bị cấm Thuốc BVTV loại thứ hai chỉ có thể được sử dụng tại địa điểm cụ thể, đối với các loại cây trồng cụ thể, với các phương pháp ứng dụng yêu cầu nghiêm ngặt Danh sách các loại thuốc BVTV hàng năm được cập nhật là các loại thuốc BVTV mới đăng ký cũng như phân loại lại thuốc BVTV, giới hạn hoặc cấm sử dụng Danh sách này rất quan trọng cho các cơ quan quản lý thuốc BVTV của nhà nước ở tất
cả các cấp để thực hiện các chính sách quốc gia Nó cũng quan trọng đối với
tư nhân trong việc nhập khẩu thuốc BVTV, sản xuất và phân phối
Pháp lệnh số 8-L/CTN ban hành vào năm 1993, là văn bản pháp lý toàn diện đầu tiên về quản lý thuốc trừ sâu tại Việt Nam, phác thảo các mục tiêu bảo vệ thực vật; các yêu cầu cho sản xuất thuốc BVTV, phân phối và sử dụng;
Trang 33trách nhiệm và quyền hạn của các cơ quan nhà nước có liên quan trong việc theo dõi và kiểm tra các hoạt động liên quan đến nhập khẩu, sản xuất, phân phối và sử dụng thuốc BVTV; thiết lập một hệ thống bảo vệ thực vật từ Trung ương đến cấp huyện Pháp lệnh số 8-L/CTN đã được sửa đổi vào năm 2001, cùng việc sử dụng quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) để kiểm soát sâu bệnh trong nông nghiệp Việt Nam đã được nhấn mạnh hơn nữa (CHXHCN Việt Nam, 2002 )
Thương mại thuốc BVTV đã đạt được rất nhiều lợi nhuận tại Việt Nam, với một sự gia tăng đáng kể về số lượng của các hoạt chất trong nhiều thập kỷ qua Trong năm 2012, Cục Bảo vệ thực vật (một cơ quan của Bộ NN & PTNT) đã ban hành văn bản số 310/BVTV-TTra thắt chặt kiểm soát đối với các chương trình không hạn chế sử dụng thuốc BVTV của các công ty thuốc BVTV, ví dụ các tuyên bố về tác dụng phụ tích cực của thuốc BVTV như kích thích tăng trưởng cây trồng và ra quả thành công (Cục Bảo vệ thực vật,
2012 )
Trong thập kỷ qua, chính phủ Việt Nam đã nỗ lực đáng kể ủng hộ và thực hiện các chiến dịch giảm thuốc BVTV khác nhau như “3 Giảm, 3 Tăng”,
"1 Phải, 5 Giảm" (nhắm mục tiêu giảm thuốc trừ sâu trong sản xuất lúa gạo),
và “4 Đúng” (nhắm mục tiêu vào tất cả các loại cây trồng) Chiến dịch "4 Đúng" đã chính thức được thể chế hoá vào năm 2013 trong Luật Bảo vệ và Kiểm dịch thực vật Luật này bao gồm các phần tương tự như Pháp lệnh sửa đổi số 8-L/CTN năm 2002, quy định đặc biệt về đăng ký thuốc BVTV, nhưng tập trung vào hiệu quả sinh học là tiêu chí quan trọng nhất đối với đăng ký thuốc BVTV Trong đó tác động (tiêu cực) của thuốc BVTV đối với sức khỏe
và môi trường vẫn là trách nhiệm của các công ty thuốc BVTV, thông qua hồ
sơ đăng ký thuốc BVTV mà họ cung cấp cho Bộ NN&PTNT, dự kiến Luật sẽ
có tác động hành chính mạnh hơn về thuốc BVTV, như nguồn nhân lực và tài